Nền kinh tế Cuba – Những thành tựu và cải cách dưới thời Chủ tịch Fidel và Raul Castro – Phần 1

Thứ sáu, 28/08/2009 15:16:31
Ngày 13 tháng 8 năm 2009 vừa qua, nhân dân Cuba đã nô nức kỷ niệm sinh nhật lần thứ 83 của lãnh tụ Fidel Castro.

Với những điều kiện kinh tế xã hội như hiện nay, người dân Cuba hoàn tòan có quyền tự hào về gần 50 năm cầm quyền của chủ tịch Fidel và 3 năm dưới sự dẫn dắt của nhà lãnh đạo mới Raul Castro. Đây cũng là dịp đề nước này nhìn lại những cải cách kinh tế đã tiến hành dưới thời kỳ của 2 anh em nhà lãnh đạo lỗi lạc này.

Phần 1. Chủ tịch Fidel Castro – người định hướng cải cách kinh tế Cuba

Trong thời gian Chủ tịch Fidel Castro lãnh đạo đất nước, trong bối cảnh bị Mỹ cấm vận, Cuba đã trải qua một giai đoạn khó khăn đặc biệt. Đó là lúc Liên Xô sụp đổ vào những năm 1990.

Sau khi Liên Xô sụp đổ, Cuba không còn nhận được các khoản viện trợ trị giá khoảng 4 tỷ USD (tương đương 64.000 tỷ đồng VN). Trong thời kỳ từ năm 1989-1993, GDP của Cuba giảm xuống khoảng 35%. Thực phẩm, nhiên liệu và điện, đều thiếu hụt nghiêm trọng.

Năm 1990, nhận thấy những khó khăn chồng chất phía trước, Cuba đã tuyên bố “thời kỳ đặc biệt trong thời bình”, nhằm thực hiện chính sách thắt lưng buộc bụng, ưu tiên sản xuất thực phẩm, phát triển du lịch, công nghệ sinh học, đồng thời sử dụng tiết kiệm thực phẩm, nhiên liệu và điện.

Dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Fidel Castro, chính phủ Cuba đã thực hiện nhiều cải cách quan trọng để khuyến khích lao động, tăng sản lượng hàng hoá tiêu dùng, thực phẩm và các dịch vụ.

Một trong những cải cách quan trọng là cho phép các công ty nước ngoài đầu tư trực tiếp trong các ngành du lịch, khai khoáng, viễn thông, sản xuất và xây dựng dưới hình thức liên doanh, trong đó chính phủ Cuba giữ 50% cổ phần.

Chính sách mở cửa du lịch đã mang lại lợi ích kinh tế to lớn và là động lực giúp nền kinh tế Cuba tăng trưởng. Giữa những năm 1990, doanh thu ngành du lịch đã vượt qua ngành mía đường vốn là ngành kinh tế chủ lực trước nay.

Kể từ đó, ngành du lịch trở thành trọng tâm của nền kinh tế Cuba, mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn nhất cho quốc gia này. Cuba đã cho xây nhiều khu du lịch, tôn tạo các kiến trúc lịch sử. Năm 2003, có khoảng 1,9 triệu du khách quốc tế chủ yếu từ Canada và Liên minh Châu Âu đến Cuba, mang lại doanh thu cho ngành du lịch 2,1 tỷ USD (gần 34.000 tỷ đồng VN). Sang năm sau, số du khách tiếp tục tăng lên 2,05 triệu, trong đó có nhiều du khách ở các nước Mỹ La tinh đi du lịch chữa bệnh miễn phí tại các bệnh viện Cuba.

Chính phủ Cuba đã phát triển đáng kể khả năng du lịch y tế của họ, coi đó là một trong những phương tiện quan trọng mang lại thu nhập cho đất nước. Trong nhiều năm, Cuba đã phát triển các bệnh viện đặc biệt, điều trị bệnh riêng cho người ngoại quốc và các nhà ngoại giao nước ngoài. Mỗi năm, hàng ngàn người Châu Âu, người Mỹ Latinh, người Canada và người Mỹ đã tới đây để sử dụng các dịch vụ chăm sóc y tế có giá cả thấp hơn tới 80% so với tại Hoa Kỳ.

Ngành du lịch tăng trưởng nhanh đã tác động tích cực và sâu rộng trên các lĩnh vực kinh tế khác.

Trước đây, Cuba vốn phụ thuộc vào máy phát điện của Liên Xô, do đó sau khi Liên Xô sụp đổ, nhiều vùng ở Cuba không có điện trong thời gian dài. Để giải quyết vấn đề này, Chủ tịch Fidel Castro đã chỉ đạo thực hiện cách mạng năng lượng, với nhiệm vụ trọng tâm là sử dụng năng lượng điện tiết kiệm và hiệu quả, liên kết mạng lưới các máy phát điện nhỏ, tăng số lượng máy phát điện sử dụng năng lượng gió và năng lượng mặt trời.

Trong nhiều năm qua, Cuba đã thu hồi lại một số biện pháp định hướng kinh tế thị trường đã được đưa ra trong thập kỷ 1990. Năm 2004, các quan chức Cuba đã công khai ủng hộ đồng euro trở thành “đối trọng toàn cầu với đồng đôla Mỹ”, và hạn chế đồng đôla trong dự trữ, cũng như trong thanh toán thương mại. Những hạn chế ngày càng tăng của chính phủ Hoa Kỳ về đi lại của những người Mỹ gốc Cuba cũng như khoản tiền họ được phép mang về Cuba, càng khiến chính phủ Cuba tăng kiểm soát sự lưu chuyển đồng đôla trong nền kinh tế. Trong thập kỷ qua, người Cuba nhận được khoảng 600 triệu tới 1 tỷ đôla hàng năm, chủ yếu từ các thành viên gia đình đang sống tại Mỹ. Con số này bị ảnh hưởng bởi thực tế chính phủ Mỹ cấm các công dân của mình gửi quá 1.200 đôla về Cuba.

Năm 1993, Cuba thành lập mô hình hợp tác xã mới nhằm giải thể các nông trường lớn của nhà nước kém hiệu quả. Các hợp tác xã này có quyền sử dụng đất và đưa ra các quyết định liên quan đến sản xuất.
Bắt đầu từ năm 1994, Cuba bắt đầu mở cửa thị trường nông nghiệp, cho phép nhà nước và nông dân có thể bán sản phẩm vượt quá hạn ngạch với giá thị trường. Chính phủ cũng cắt giảm trợ cấp cho các công ty nhà nước làm ăn thua lỗ hoặc không có lợi nhuận.
Năm 2002, Cuba tuyên bố thực hiện chuyển đổi toàn diện ngành mía đường. Gần một nửa số lượng nhà máy đường phải đóng cửa. Hơn 100.000 công nhân nghỉ việc. Nhiều nông trại trồng mía được chuyển sang trồng các loại cây khác cho giá trị cao hơn. Chính phủ cam kết đào tạo lại các công nhân để họ có thể làm việc trong các ngành khác.

Đến năm 2005, sản lượng mía đường chỉ còn 1,3 triệu tấn/năm so với mức 1989 là tám triệu tấn.

Kể từ khi thực hiện các chính sách cải cách kinh tế, tốc độ tăng trưởng, mức tiêu thụ hàng hoá và sản lượng nhiều mặt hàng đã có dấu hiệu hồi phục và tăng trưởng.

Các mặt hàng xuất khẩu chính của Cuba là đường, nikel, thuốc lá, cá, sản phẩm y tế, chanh, cà phê và lao động có tay nghề. Cuba chiếm 6,4% thị trường thế giới về nicke, chiếm khoảng 25% tổng xuất khẩu. Các mặt hàng nhập khẩu gồm, thực phẩm, nhiên liệu, quần áo và máy móc. Cuba hiện có khoản nợ khoảng 13 tỷ đôla, chiếm xấp xỉ 38% GDP.

Năm 2005 Cuba xuất khẩu hàng hóa trị giá 2,4 tỷ đôla, xếp hạng 114 trên 226 quốc gia trên thế giới, và nhập khẩu 6,9 tỷ đôla, xếp hạng 87 trên 226 nước. Hiện nay, Cuba xuất khẩu 50% giá trị hàng hoá qua châu Âu, 25% sang Canada và Mỹ La tinh, 20% sang châu Á.

Gần đây, một trữ lượng dầu mỏ lớn đã được tìm thấy tại Châu thổ Bắc Cuba, dẫn tới việc các thành viên Jeff Flake và Larry Craig thuộc Quốc hội Hoa Kỳ kêu gọi bãi bỏ lệnh cấm vận với Cuba.

Hiến pháp sửa đổi của Cuba năm 1976 khẳng định mọi người dân có quyền được bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ. Nhà nước bảo đảm quyền này thông qua việc điều trị chữa bệnh miễn phí ở các trạm y tế nông thôn, bệnh viện, trung tâm điều trị chuyên khoa. Nhờ vậy, tuổi thọ trung bình của người dân Cuba vươn lên 80 tuổi, ngang với dân Mỹ. Chiến lược chăm sóc sức khoẻ của Cuba là phòng bệnh hơn chữa bệnh và phát hiện chẩn đoán bệnh sớm để điều trị.

Năm 2000, Tổng Thư ký LHQ Kofi Annan đã khuyên các nước nên học tập Cuba trong việc cung cấp các dịch vụ y tế, giáo dục cho người dân. Năm 2001, Uỷ ban Y tế Hạ viện của Anh đã đến Cuba để tìm hiểu về thành công của hệ thống chăm sóc y tế. Năm 2006, hãng tin BBC ca ngợi hệ thống chăm sóc y tế của Cuba là dịch vụ công tốt nhất thế giới.

Còn tiếp
Nga Huyền
VITV

Nguồn: http://vfinance.vn/m33/sm36/n9962/kinh_te_the_gioi/chau_my/nen_kinh_te_cuba_nhung_thanh_tuu_va_cai_cach_duoi_thoi_chu_tich_fidel_va_raul_castro_phan_1.htm

About these ads

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
This entry was posted in Archives, Articles, Teaching and tagged , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s