Tranh chấp vùng lãnh hải Nauy- Nga: bài học cho Việt Nam?

Những vùng biên giới, lãnh hải luôn là những vùng “nhạy cảm” dễ gây đến sự tranh chấp giữa các quốc gia.

Trong những năm gần đây người Việt trong cũng như ngoài nước vô cùng lo âu theo dõi tình trạng Trung Quốc chiếm dần hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhiều lần bắt bớ và đánh đập ngư dân Việt đánh cá trong vùng biển thuộc Việt Nam này. Nhưng không chỉ Trung Quốc và Việt Nam căng thẳng với tình trạng lãnh hải này, ở tận Bắc Âu xa xôi, trong suốt 40 năm, Nga và Na Uy cũng trong tình trạng tranh chấp về lãnh hải tại vùng biển Barent giữa hai nước, tuy không nghiêm trọng bằng tình trạng giữa Trung Quốc và Việt Nam, nhưng cũng căng thẳng không kém.

Sau 40 năm ròng rã với sự đôi co, ngày 27.4.2010 vừa qua, cả hai bên chính thức công bố một thỏa hiệp về đường biên giới tại vùng biển này. Đây là một sự vui mừng cho cả hai bên.

Chúng ta nhìn thấy gì và học được gì qua bài tóm lược sau đây (lưu ý: Bài viết này viết trước khi hiệp ước giữa Na Uy – Nga ký kết vào ngày 27.4.2010):

http://www.polarhistorie.no/artikler/2008/Delelinja

“Chia ranh tại vùng biển Barent – một vấn đề biên giới nan giải giữa Nga và Na Uy.

Vùng Tranh Chấp

Na Uy đã thương thảo với Nga, và trước đây là với Liên Xô, về lãnh hải tại vùng biển Barent kể từ đầu thập niên 70. Sự bất đồng về lằn ranh là đường này sẽ được kẽ từ đâu. Khởi thủy, đây là một vấn đề của luật quốc tế, trong đó Liên Xô và Na Uy đều có những lập luận riêng về những cách giải quyết khác nhau dựa vào những luận cứ của mình về các điều khoản phân ranh trong luật biển. Na Uy muốn có một giải pháp lằn ranh chia giữa, nghĩa là lãnh hải sẽ được vạch dài bằng nhau tính từ bờ biển của đôi bên. Liên Xô cho rằng vì có nhiều “hoàn cảnh đặc biệt”, nên lãnh hải phải vạch thêm về phía tây và đi theo lằn ranh chia khu, mà được vạch từ biên giới đất liền giữa 2 quốc gia cho đến Bắc Cực. Yêu sách của đôi bên cho ra hậu quả là một vùng trùng lấp. Đây là vùng tranh chấp rộng khoảng 155.000 km2, bằng phân nửa nước Na Uy. Khởi thủy thì các cuộc thương thuyết chỉ bao quanh về ranh giới của thềm lục địa, nhưng sau khi thành lập đặc khu kinh tế 200 hải lý, và dựa vào những tiến triển trong hội nghị luật biển lần ba (1973-1984), thì ranh giới khu vực kinh tế giữa 2 nước cũng phải được vạch thêm ra.

Các cuộc thương thuyết

Na Uy khởi xướng việc thương thuyết vào năm 1967. Năm 1970 thì đôi bên gặp gỡ không chính thức, và kể từ 1974 thì các cuộc đàm phán chính thức đã xảy ra gay gắt và đầy trở ngại. Phần lớn thời gian các cuộc thương thuyết phải dậm chân tại chỗ, nhưng cũng có lúc gây được sự tiến bộ đáng kể. Các vấn đề nhiều lần đã được đệ trình lên bậc chính trị gia cao cấp, nhưng thường chỉ được ghi nhận ở cấp hành chánh dưới.

Chính thức thì sự bất đồng là do việc biện giải khác nhau về các điều khoản trong luật biển, nhưng thực tế cho thấy là có những yếu tố khác hơn là luật quốc tế liên quan đến những cuộc đàm phán. Vùng tranh chấp là vùng nhiều cá, và một phần có thể có những tiềm năng to lớn về dầu khí. Thêm vào đó thì vùng này cũng có lợi điểm chiến lược về quân sự, mà có nhiều ảnh hưởng trong thời kỳ chiến tranh lạnh.

Không khí đàm phán trong những năm đầu đầy những nghi kỵ của đôi bên. Quyền lợi của mỗi bên cùng với quan điểm chính trị khác biệt đã khiến đôi bên không nhích lại được gần nhau. Trong khi Na Uy mong muốn có một ranh giới rõ ràng và giải quyết vấn đề lãnh hải nhanh chóng, thì Liên Xô trong những năm đầu không tỏ vẻ quan tâm. Dần dần Liên Xô lộ ra ý muốn có một sự quản trị chung tại vùng này. Na Uy không chịu vì lo Liên Xô sẽ lấn áp.

Khi xảy ra sự thay đổi quyền lực ở Mạc Tư Khoa (Moscow) và chiến tranh lạnh chấm dứt, thì không khí đàm phán trở nên thuận lợi hơn lên, và đã đạt được sự tiến triển rõ rệt. Đôi bên bắt đầu bằng việc giới hạn ở phía bắc và đi dần về phía nam. Người ta phỏng định rằng phần còn lại vào thời điểm hôm nay là vùng xa nhất về hướng nam. Đây là vùng nhiều tài nguyên nhất, cả về cá lẫn nguồn dầu khí, và quan trọng hơn cả là sự an ninh. Đây là loại vùng mà không ai trong song phương chịu nhường cả. Việc đàm phán tiếp tục, cả chính thức lẫn không chính thức, nhưng không thấy được thêm tiến triển nào đáng kể trong nhiều năm sau đó.

Các chính trị gia đôi bên đều đồng ý rằng “đây là vấn đề còn tồn lại quan trọng nhất cho 2 quốc gia” nhưng đồng thời “chưa có gì cấp bách” và “ta cứ từ từ để đi đến một thỏa hiệp”. Câu hỏi đặt ra là tại sao kéo dài lâu vậy? và, chúng ta có cần đi đến một giải pháp không?

Không cần là vì trong thời gian lãnh hải chưa ngã ngũ thì song phương đã có những hiệp ước tạm thời để giải quyết những trở ngại xảy ra trong vùng biển tranh chấp. Như hiệp ước vùng xám năm 1977 nhằm ngăn cấm những quốc gia khác đánh cá trong vùng biển này. Vấn đề dầu khí được hành xử qua lệnh cấm vào năm 1975, qua đó 2 quốc gia đồng ý không khai thác dầu khí cho đến khi lãnh hải được phân chia. Vấn đề môi trường cũng được giải quyết bởi một hiệp ước, trong đó tình trạng trách nhiệm đã được phân chia sẵn trong trường hợp xảy ra tai nạn trong vùng biển Barent này. Các hiệp ước tạm thời này đều được nghiêm chỉnh tôn trọng, nên mọi sinh hoạt trong vùng tranh chấp vẫn diễn tiến tốt đẹp. Chính vì vậy mà không thấy thật cần thiết phải có một thỏa hiệp trong thực tế.

Phần trên là bản phỏng dịch của anh TVT về bài viết của tác giả Ingrid Kvalvik thuộc đại học Tromsø.

Vào ngày 27.4.2010 vừa qua, sau 40 năm tranh chấp, Thủ Tướng Na Uy, ông Stoltenberg và Tổng Thống Nga, Medvedev đã công bố sự đồng thuận về đường ranh giới tại biển Barent trong cuộc viếng thăm của Tổng Thống Nga tại Na Uy (nhưng văn bản được chính thức ký vào ngày 15 tháng 9 năm 2010 tại Murmansk, Nga).

Đường chia ranh mới tại vùng tranh chấp “xám” này gần như là giải pháp trung dung giữa nguyên tắc “lằn giữa” của Na Uy và nguyên tắc “phân vùng” của Nga.

Rầt nhiều chính khách nặng ký của Na Uy ca ngợi việc ký hiệp ước lãnh hải này. Tuy Na Uy phải chịu “thiệt thòi” phần nào trong việc quản trị tài nguyên cá và dầu khí, nhưng điều quan trọng là lãnh hải này sẽ phòng ngừa được những cuộc tranh chấp lãnh hải về sau mà Na Uy sẽ khó được lợi thế khi đối đầu với một quốc gia láng giềng quá lớn như Nga.”

chú thích: đường màu đỏ là đường biên giới Liên Bang Nga đòi hỏi. Đường màu xanh là đường biên giới phía Na Uy yêu cầu. Đường màu xám nhạt là đường biên giới hiện nay cả hai bên đồng ý thoả hiệp.

Bài Học Kinh Nghiệm Cho Việt Nam?

Na Uy có diện tích tương đương Việt Nam, dân số lại rất ít, nhưng vì sao họ có thể kiên trì đối đầu với một cường quốc Liên Xô trước đây và một nước Nga không kém phần rộng lớn sau này? Phải chăng sức mạnh phụ thuộc vào ý chí? Vào sự kiên quyết bảo vệ lãnh thổ của những nhà lãnh đạo? Một nước nhỏ không có nghĩa là phải lùi bước trước một nước lớn mạnh. Một nước nhỏ không có nghĩa là không có đủ sức mạnh để đẩy lui mộng bá quyền của nước bên cạnh.

Vì sao Việt Nam trong bao ngàn năm qua vẫn có thể tồn tại và đứng vững trước bao nhiêu lòng tham xâm lăng của Trung Quốc và các đế quốc khác?

Và vì sao hiện nay tình trạng Trung Quốc ngang nhiên lộng hành trên vùng biển của chúng ta?

Có phải lòng yêu nước hiện nay không còn như ngày trước hay chúng ta thiếu quyết tâm hơn ngày xưa?

Chắc chắn là không vì những biểu ngữ yêu nước chống Trung Quốc xâm lược, và HS-TS-VN vẫn xuất hiện, sinh viên đã từng xuống đường, nhiều người đã thể hiện lòng yêu nước của mình qua tấm áo, qua con chữ viết vội đây đó.

Người dân đâm ra hoang mang khi chính những nhà lãnh đạo đất nước, thay vì đứng ra lãnh đạo dân chống xâm lăng, thì lại bắt người dân im tiếng, những khẩu hiệu chống Trung Quốc trở thành cái cớ cho người ta bị bắt giam, yêu nước trở thành một trọng tội…

Cùng là hai nước nhỏ như nhau, nhưng một bên chính quyền Na Uy làm hết sức mình để bảo vệ lãnh hải, một bên là nhà cầm quyền Việt Nam làm đủ mọi cách để đàn áp người dân đứng ra lên tiếng bảo vệ quê hương mình?

Nếu cứ như thế, sẽ không bao lâu bao nhiêu tài nguyên khoáng sản vào thẳng bàn tay vơ vét của Trung Quốc, sẽ không bao lâu, đất nước sẽ lâm nguy cái nguy ngoại bang.

Có ai đủ can tâm nhìn Quê Hương mình tan nát?

(nhiều tác giả:-))
Nguồn: http://www.pagewash.com/nph-index.cgi/000010A/uggc:/=2fgenazvauqnat.zhygvcyl.pbz/wbheany/vgrz/390

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
This entry was posted in Archives, Articles, International relations and tagged , , , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s