VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC TRONG VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
Tài liệu tham khảo đặc biệt
Thứ Bảy, ngày 13/08/2011
(Đài Ôxtrâylia 22/7)

Trong lúc tình hình Biển Đông vẫn là đề tài được nhiều người quan tâm và được bàn luận tại các hội thảo quốc tế, Bay Vút đã có cuộc phỏng vấn với Giáo sư Mỹ Shawn F. McHale, chuyên gia về Lịch sử và Quan hệ Quốc tế xoay quanh vấn đề Biển Đông.

Một số cuộc hội thảo quốc tế đã diễn ra xoay quanh đề tài Biển Đông. Gần đây nhất, Biển Đông lại là chủ đề nổi bật nhất tại hội nghị ASEAN ở Bali với sự tham dự của ngoại trưởng 10 nước ASEAN và các đại diện Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Ôxtrâylia. Từ thủ đô Oasinhton của Mỹ, Giáo sư Shawn McHale đã dành cho Bay Vút cuộc phỏng vấn dưới đây.

– Thưa Giáo sư, liệu tình hình căng thẳng tại Biển Đông giữa Việt Nam với Trung Quốc sẽ dịu bớt sau khi Hội nghị Bali chấm dứt hay không?

+ Thật khó trả lời câu hỏi này. Trung Quốc đã đưa ra một số tuyên bố có tính hoà giải. Chẳng hạn như theo Tân Hoa Xã, Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì tuyên bố: ‘Thoả thuận mới đạt được về bản hướng dẫn thực hiện Tuyên bố chung về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) đặt nền móng vững chắc cho công cuộc hợp tác có tính thực tế tại vùng biển này và cho phép đưa tới việc giữ gìn hoà bình và ổn định tại Biển Đông. Tuy nhiên, đây là những lời nói hoa mỹ có tính cách ngoại giao. Trên thực tế vẫn chưa có thoả thuận có thực chất nào được ký kết. Trung Quốc vẫn chưa từ bỏ yêu sách đối với một vùng rộng lớn tại Biển Đông. Ngoài ra, họ cũng đang chỉ trích việc ngày 20/7 các nhà lập pháp Philippin thăm viếng một đảo mà cả Philippin lẫn Trung Quốc đều đang tranh chấp. Đảo này có tên là Đảo Pagasa, theo cách gọi của người Philippin và tên Zhonggye, theo như tên gọi chính thức của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Đảo này gần với Philippin hơn so với Trung Quốc. Tuy nhiên, khi đề cập tới sự việc nêu trên, Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Mã Triều Húc tuyên bố: “Trung Quốc rõ ràng có chủ quyền đối với các đảo và vùng lãnh hải bao quanh khu vực biển Nam Hải (Biển Đông)”’.

Nếu Trung Quốc vẫn tiếp tục lập trường cứng rắn như vậy đối với những đảo nằm cách rất xa bờ biển nước này thì không chắc Trung Quốc sẽ chịu nhượng bộ đối với những đảo vốn vẫn đang nằm trong vòng tranh chấp giữa Việt Nam với Trung Quốc. So với những đảo tranh chấp giữa Trung Quốc với Philippin, những đảo này nằm gần lãnh thổ Trung Quốc hơn rất nhiều. Điều quan trọng ở đây là sự khác biệt về quyền lực và sức mạnh giữa các bên liên quan. Năm 2010, Trung Quốc đã phản đối ầm ĩ khi Nhật Bản bắt giữ thuyền trưởn một tàu đánh cá Trung Quốc. Rất nhiều báo đài quốc tế tường thuật về phản ứng này của Trung Quốc. Tuy nhiên, cũng trong thời điểm xảy ra vụ việc này, ít khi người ta thấy tin tức về vụ ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc bắt giữ trong vùng Biển Đông trên các báo đài quốc tế.

– Tại hội nghị Bali, Việt Nam được ASEAN hỗ trợ sao trong việc giải quyết cuộc tranh chấp giữa Việt Nam với Trung Quốc tại vùng Biển Đông?

+ Như tôi đã đề cập ở trên, không phải mọi thành viên ASEAN đều có mối quan ngại như nhau trong vấn đề Biển Đông.

– Việt Nam được Mỹ hỗ trợ như thế nào trong việc giải quyết cuộc tranh chấp tại Biển Đông?

+ Đây là một vấn đề hết sức tế nhị. Cả Việt Nam lẫn Mỹ đều không muốn nhấn mạnh mối quan hệ mật thiết giữa hai nước vì như vậy có thể gây ra sự thù địch với Trung Quốc. Mỹ không muốn gây ra sự thù địch với Trung Quốc một cách quá đáng. Mặt khác, Mỹ cũng không muốn chấp nhận nguyên trạng hiện nay trong vùng Biển Đông như là một sự kiện đã rồi. Có vẻ như Mỹ muốn tiến bước một cách rất thận trọng giữa việc cho thấy thái độ cứng rắn khi nêu những quan ngại về vấn đề tự do lưu thông hàng hải cho mọi nước, với việc gây thù địch với Trung Quốc.

Có một vấn đề quan trọng cần ghi nhớ ở đây là sự tự do lưu thông hàng hải của Mỹ trong vùng Biển Đông hiện chưa bị đe doạ, chỉ có một số nước ASEAN bị đe doạ trong vấn đề này mà thôi. Một vấn đề quan trọng khác cũng cần ghi nhận là quyền lợi của Việt Nam và Mỹ không giống nhau. Điều này cũng giống như việc Mỹ không thực sự quan tâm tới việc ai nắm giữ chủ quyền đối với đảo Dokdo/Takeshima (hòn đảo mà cả Hàn Quốc lẫn Nhật Bản đều tuyên bố chủ quyền). Mỹ cũng không thực sự quan tâm tới việc nước nào kiểm soát một số đảo cá biệt tại Biển Đông. Mỹ chỉ không muốn thấy xung đột nổ ra trong vùng đồng thời muốn quyền tự do lưu thông hàng hải được duy trì và tôn trọng.

– Xin Giáo sư cho biết những thách thức trong việc giải quyết vấn đề Biển Đông là gì? Làm thế nào để vượt qua những thách thức này?

+ Vấn đề này sẽ được giải quyết nhưng rất khó khăn. Khó khăn nhất là Trung Quốc đã tuyên bố chủ quyền trên vùng lãnh hải rộng lớn bao trùm các đảo và đảo san hô vòng tại Biển Đông. Nước này khẳng định rằng những lời tuyên bố chủ quyền của họ là những điều không thể tranh cãi đồng thời không thể phủ nhận. Đây là chuyện vô lý. Tôi tập trung chú ý nhất vào sự kiện Trung Quốc nói rằng lời tuyên bố chủ quyền của họ được dựa trên những bằng chứng lịch sử. Điều này hoàn toàn không đúng.

Chúng ta phải hiểu rằng các thực thể chính trị tại Đông Nam Á cũng như tại Trung Quốc đều hiểu chủ quyền theo một phương cách khác nhau, đặc biệt về thời điểm trước năm 1850. (Đây là điểm quan trọng, một điểm vẫn thường xuyên bị bỏ qua, không được đề cập tới trong rất nhiều cuộc thảo luận về cuộc xung đột trong vấn đề chủ quyền). Tuy nhiên, những bằng chứng đó là gì? Trung Quốc tuyên bố chủ quyền dựa trên sự kiện ngư dân của họ trước đây đã sử dụng những đảo này. Ngoài ra, Trung Quốc nói rằng họ đã tìm thấy những đồng tiền trên đảo. Nhưng liệu đây có phải là những bằng chứng cho thấy họ có chủ quyền hay không? Không. Đây là những bằng chứng cho thấy có sự sử dụng có tính chất rời rạc, thất thường, chứ không phải là sự cư ngụ có tính liên tục. Việc khám phá ra các đồng tiền Trung Quốc tại các đảo trong vùng Biển Đông không phải là bằng chứng cho thấy nước này có chủ quyền ở những đảo đó.

Điều Trung Quốc cần cho thấy là qua các bằng chứng lịch sử, cư dân Trung Quốc quả đã định cư lâu dài trên những đảo họ đang tuyên bố chủ quyền. Ngoài ra, những đảo này phải được Đế quốc Trung Hoa trước đấy chính thức sáp nhập. Thêm vào đó, Trung Quốc cũng cần phải cho thấy rằng, xét về phương diện lịch sử, không một nước nào khác đã đưa người đến định cư tại những đảo này như những chính quyền trước đây của Trung Quốc đã đưa cư dân của họ đến cư trú.

Khi chúng ta áp dụng cũng những tiêu chí này đối với những lời tuyên bố chủ quyền của Việt Nam, tôi cho rằng bằng chứng trước thế kỷ 19 về việc sử dụng những đảo, đảo san hô vòng thì hầu hết không liên quan tới những lập luận đòi chủ quyền hiện đại. Tuy nhiên, Việt Nam quả đã tuyên bố chủ quyền hồi năm 1816, đây có lẽ là nước đầu tiên tuyên bố chủ quyền trong vấn đề này. Do đó, ngày nay Việt Nam đã có lời tuyên bố xác nhận chủ quyền và lời tuyên bố này mạnh hơn lời tuyên bố của Trung Quốc.

Tuy vậy không một quốc gia nào lại có thể nói rằng lời tuyên bố chủ quyền của họ đối với toàn thể khu vực là lời tuyên bố không thể tranh cãi. Đây là một sự trớ trêu của lịch sử. Lời tuyên bố chủ quyền dựa trên lịch sử của Việt Nam ngày nay được củng cố bởi sự kiện trước đây. Đó là đế quốc Pháp đã xử dụng nhiều phương thức khác nhau để khẳng định và hành xử chủ quyền tại nhiều nơi trong vùng Biển Đông. Do vậy ngày nay Việt Nam được thừa hưởng những lời tuyên bố chủ quyền có tính lịch sử này.

Người ta phải ghi nhận rằng miền Nam Việt Nam (Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà) cũng hành xử chủ quyền với Biển Đông, và lời tuyên bố chủ quyền này cũng được Chính phủ Việt Nam hiện nay thừa hưởng. Để xem thêm bối cảnh lịch sử về vấn đề này, chúng ta hãy xem công trình của học giả người Pháp, bà Monique Chemillier-Gendreau như là có quan điểm nghiêng về phía Việt Nam. Tuy nhiên, những người này phải đối diện trực tiếp với những bằng chứng có liên quan tới lịch sử và pháp lý mà bà đã trích dẫn.

Khi chúng ta tập trung chú ý vào bối cảnh lịch sử này, điều rõ ràng là lời tuyên bố xác nhận chủ quyền do Trung Quốc đưa ra khó có thể xem là những lời không thể tranh cãi. Do đó, lời xác nhận chủ quyền do nước này đưa ra là những lời thực sự dựa trên những hành động do Trung Quốc thực hiện sau năm 1945. Như vậy, đây là những lời rất đáng nghi ngờ. Ví dụ vào năm 1974, trong một trận hải chiến, Trung Quốc đã đánh bật quân Việt Nam Cộng hoà khỏi những hòn đảo mà Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền. Tuy nhiên, đây là lời tuyên bố chủ quyền dựa trên sự xâm chiếm. Lời tuyên bố này khó có thể được xem là lời tuyên bố “không thể tranh cãi”.

Sự kiện hiện nay là Trung Quốc và những nước khác đều tuyên bố rằng họ có chủ quyền “không thể tranh cãi”. Tuy nhiên, liệu những quốc gia này có thực sự chú tâm vào vấn đề chủ quyền? Hay họ chú tâm vào các nguồn tài nguyên nằm dưới lòng biển? Người ta cho rằng chính vấn đề tài nguyên mới là nguyên nhân đích thực. Giải pháp duy nhất cho vấn đề này sẽ xuất hiện nếu các bên liên quan khác nhau có thể thoả thuận về một kế hoạch nhằm chia sẻ các nguồn tài nguyên của Biển Đông.

– Giáo sư nghĩ thế nào về cách hành xử của Chính phủ Việt Nam (trong nước cũng như trên trường quốc tế) trong việc giải quyết tình trạng căng thẳng ở Biển Đông?

+ Theo một nghĩa nào đó, tôi không cho rằng Chính phủ Việt Nam đang cố gắng giải quyết tình trạng căng thẳng. Họ chỉ đơn giản cho Trung Quốc thấy rằng họ sẽ không bị áp lực từ phía Trung Quốc. Chính phủ Việt Nam đang muốn khẳng định quyền mà họ nghĩ rằng họ đúng. Những cuộc biểu tình gần đây tại Việt Nam để phản đối Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông chắc chắn phải có sự cho phép của Đảng Cộng sản Việt Nam và đây là một cách để gây áp lực với Trung Quốc.

Trung Quốc có thể phàn nàn về chiến lược này. Tuy nhiên, chính Bắc Kinh cũng sử dụng phương pháp này ở trong nước. Ví dụ khi Chính phủ Trung Quốc muốn gây áp lực với Nhật Bản về những vấn đề như chuyến viếng thăm của Thủ tướng Nhật Bản tại đền Yasukuni hoặc những chuyện gây xích mích trong mối quan hệ giữa Trung Quốc với Nhật Bản, Trung Quốc đã “cho phép” các cuộc biểu tình chống Nhật Bản bùng phát ở Trung Quốc. Trứoc đây, Bắc Kinh “cho phép” người dân được biểu tình chống Nhật Bản khi họ đối đầu với Tôkyô thì nay Chính phủ Việt Nam cũng “cho phép” người dân biểu tình chống Trung Quốc.

Việc Việt Nam đang cố gắng giải quyết vấn đề từ chối thoả thuận song phương với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Xét về lâu về dài, chỉ khi nào có thể cùng làm việc với nhau, các nước ASEAN và Trung Quốc mới có thể soạn thảo một thoả thuận có tính bền vững.

– Giáo sư nghĩ thế nào về các hoạt động gần đây của Mỹ, như tuyên bố của Ngoại trưởng Hillary Clinton?

+ Rõ ràng là những tuyên bố do Ngoại trưởng Clinton đưa ra đã khiến Trung Quốc tức giận. Việc bà Clinton phát biểu Biển Đông là ‘quyền lợi quốc gia’ của Mỹ là điều thú vị. Tôi không rõ phát biểu này có ý nghĩa gì. Liệu các quyền lợi của Mỹ có bị đe doạ hay không? Nếu có, thì việc đe doạ này như thế nào? Mỹ nên khuyến khích đối thoại hoà bình trong vấn đề Biển Đông và cuối đối thoại này phải đưa tới những kết quả cụ thể.

***

(Đài RFA 4 và 9/8)

Việt Nam đang nỗ lực lôi léo sự tham gia của các cường quốc trong khu vực nhằm làm đối trọng với Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông.

Quan hệ Ấn Độ – Việt Nam

Với những căng thẳng trên Biển Đông thời gian gần đây và thái độ rất cứng rắn của Trung Quốc trong tranh chấp chủ quyền trên biển với các nước láng giềng, Việt Nam đang nỗ lực lôi kéo sự tham gia của các cường quốc trong khu vực nhằm làm đối trọng với Trung Quốc. Ấn Độ có thể là một trong các cường quốc mà Việt Nam hướng tới với việc Chính phủ Việt Nam mới đây đã ngỏ lời mời tàu của hải quân Ấn Độ đậu tại cảng Nha Trang lâu dài. Lời mời này được đưa ra trong chuyến viếng thăm của Phó Đô đốc Nguyễn Văn Hiển tới Ấn Độ vào hồi cuối tháng 6. Việt Hà phỏng vấn cựu Đô đốc Uday Bhaskar, chuyên gia về chiến lược thuộc Quỹ hàng hải quốc gia Ấn Độ về vấn đề này.

– Xin ông cho biết Chính phủ Ấn Độ nhìn nhận những tranh chấp trên Biển Đông thời gian gần đây ra sao?

+ Tôi nhìn nhận những gì đang diễn ra trên Biển Đông sẽ liên quan đến việc nhìn nhận về Trung Quốc tại Đông Á và Đông Nam Á và nó cũng có liên quan đến cách đánh giá của Ấn Độ về sự nổi lên của Trung Quốc trong một bối cảnh châu Á rộng lớn hơn. Những gì đang diễn ra tại Biển Đông theo tôi có ảnh hưởng đối với toàn bộ châu Á, đặc biệt là đối với hồ sơ hàng hải của Trung Quốc. Ấn Độ không phải là một bên liên quan trong vấn đề tranh chấp tại Biển Đông, cho nên theo tôi thì Ấn Độ chỉ nên theo dõi những gì đang diễn ra trên Biển Đông một cách chặt chẽ mà không tham gia trực tiếp.

– Ấn Độ cũng có quan ngại đến sự bành trướng của Trung Quốc trên Ấn Độ Dương, vậy việc theo dõi chặt chẽ những gì đang diễn ra tại Biển Đông có thể giúp gì cho Ấn Độ liên quan đến Ấn Độ Dương?

+ Ấn Độ sẽ theo dõi vấn đề Biển Đông chặt chẽ, một mặt là về vấn đề lịch sử, Ấn Độ và Trung Quốc đã có tranh chấp biên giới trong quá khứ. Hai nước đã có chiến tranh biên giới năm 1962. Bây giờ Ấn Độ đang cố gắng tìm hiểu Trung Quốc, nhất là khi họ nói muốn giải quyết các tranh chấp theo con đường ngoại giao hoà bình, sự khác biệt giữa lời họ nó và thực tế họ làm ra sao.

Những gì đang diễn ra trên Biển Đông đã tạo ra những lo ngại. Việt Nam và Philippin đã có một quá trình phải đối mặt với Trung Quốc và Ấn Độ muốn tìm hiểu xem Trung Quốc sẽ có hành động giải quyết vấn đề như thế nào, sẽ sử dụng sức mạnh, khả năng kinh tế và quốc phòng trong mối liên quan đến các tranh chấp lãnh thổ ra sao. Điều này cho phép Ấn Độ hiểu được cách mà Trung Quốc sẽ áp dụng đối với Ấn Độ Dương. Dù không có liên hệ trực tiếp nhưng những tìm hiểu này cho phép Ấn Độ có được những thông tin đánh giá có giá trị liên quan đến việc Trung Quốc sẽ sử dụng khả năng quốc phòng mới của mình ra sao trong các tranh chấp.

– Ông đánh giá thế nào về mối quan hệ giữa Ấn Độ và Việt Nam và liệu Việt Nam và Ấn Độ có xem mối quan hệ hai nước này như một đối trọng với Trung Quốc?

+ Theo tôi, Việt Nam và Ấn Độ có mối quan hệ bền chặt lâu năm kể từ thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Ấn Độ luôn duy trì mối quan hệ với Việt Nam. Bây giờ Việt Nam là một nước đặc biệt trong khu vực bởi có vị trí chiến lược mà không nước nào khác có được. Nếu mối quan hệ giữa Việt Nam và Ấn Độ thêm khăng khít thì tôi tin là nó cũng có ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa Trung Quốc và Ấn Độ, không phải bởi Ấn Độ và Việt Nam sẽ trở thành đồng minh về quân sự chống lại Trung Quốc. Thực tế của mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước sẽ có ảnh hưởng đối với mối quan hệ Trung Quốc-Ấn Độ bởi tính chất ngoại giao chính trị mà mối quan hệ Việt Nam-Ấn Độ sẽ mang lại cho toàn khu vực Đông Nam Á.

Đối trọng với Trung Quốc

– Mới đây một tàu của hải quân Ấn Độ đã cập cảng Nha Trang, Việt Nam cũng đã ngỏ lời mời tàu của Ấn Độ cập cảng này lâu dài. Ông nghĩ thế nào về những diễn tiến này trong bối cảnh quan hệ hai nước và tình hình khu vực?

+ Mối quan hệ giữa Ấn Độ với Việt Nam mà thể hiện gần đây nhất là chuyến thăm của tàu Ấn Độ đến Việt Nam là một phần trong mối quan hệ rộng hơn giữa Ấn Độ và ASEAN. Ấn Độ có những cuộc tập trận thường niên với các nước khác ở châu Á. Tàu hải quân Ấn Độ viếng thăm thường xuyên các nước trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước Đông Nam Á. Theo tôi điều này cho thấy Ấn Độ đang gia tăng sự có mặt của mình cũng như hợp tác với các nước ở Đông Á. Chúng ta phải nói đến ở đây chính sách hướng Đông của Ấn Độ, mối quan hệ giữa Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc hay các nước ASEAN là một nhân tố quan trọng trong chính sách này. Chúng ta phải tìm được sự cân bằng giữa chính trị, kinh tế, thương mại trong mối quan hệ với quân sự. Với mỗi nước chúng tôi có một quan hệ ở mức khác nhau. Ví dụ với Philippin chúng tôi có mối quan hệ rất chặt chẽ, chúng tôi cũng có quan hệ rất đặc biệt với Xinhgapo và tương tự tôi tin rằng Ấn Độ và Việt Nam cũng sẽ có mối quan hệ đặc biệt như vậy.

– Theo ông, liệu Chính phủ Ấn Độ sẽ chấp nhận lời mời này của Việt Nam hay không và điều này có ý nghĩa thế nào với cả Ấn Độ và Việt Nam?

+ Tôi nghĩ, Ấn Độ sẽ chấp nhận lời mời cho tàu vào đậu tại cảng của Việt Nam. Ấn Độ sẽ chấp nhận lời mời này vì nó tạo điều kiện để có thể tiếp cận cơ sở sửa chữa khi ở xa và đây là điều cần thiết trong hải quân mà chúng tôi gọi là R&R (sửa chữa và tái tạo). Các tàu của hải quân cần một căn cứ để vào trong vài ngày rồi lại quay ra. Cho nên việc được sử dụng cảng của Việt Nam là một điều tốt cho Ấn Độ.

Ấn Độ bằng cách này cũng duy trì được sự có mặt của mình ở Biển Đông. Với việc tàu của Ấn Độ được quyền đến đây theo tôi sẽ tạo ra một đối trọng lên mối quan hệ giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Theo tôi, Trung Quốc cũng sẽ biết được là phản ứng như thế nào sẽ đến từ các nước láng giềng. Tôi có nói với các đồng nghiệp của tôi ở Bắc Kinh hay Thượng Hải rằng các anh cứ nói về sự trỗi dậy hoà bình nhưng các nước láng giềng không tin vào các anh, liệu láng giềng có lo lắng về các anh hay không khi việc các anh làm đi ngược lại điều các anh nói về sự trỗi dậy hoà bình. Sự lớn mạnh của Trung Quốc đã tạo lo ngại cho khu vực.

– Ông có nghĩ là hải quân Ấn Độ và Việt Nam sẽ có những cuộc tập trận trong tương lai?

+ Tôi hy vọng là hai bên sẽ có những diễn tập chung, vì Ấn Độ cũng đã có nhiều trao đổi diễn tập với các nước khác trong khu vực ASEAN.

***

Trong vấn đề giải quyết tranh chấp với các nước ở khu vực Biển Đông, từ trước đến nay Trung Quốc chỉ muốn giải quyết trong khuôn khổ song phương ngay cả khi Chính phủ Philippin lên tiếng đòi đưa vấn đề Trung Quốc xâm phạm vùng biển Tây Philippin ra trước Liên hợp quốc. Vì sao Trung Quốc không muốn đưa vấn đề Trường Sa ra trước Liên hợp quốc? Về vấn đề này Quỳnh Như có cuộc nói chuyện với Luật sư Ted Laguatan, đồng thời cũng là một chuyên gia nghiên cứu về Biển Đông và có nhiều bài viết trên báo Inquirer:

Luận cứ vô lý

– Chào Luật sư Ted Laguatan. Mặc dù luôn tuyên bố chủ quyền tại khu vực tranh chấp với các nước trong quần đảo Trường Sa, nhưng Trung Quốc không muốn đưa vấn đề này ra Liên hợp quốc giải quyết. Xin ông cho biết lý do vì sao Trung Quốc lại hành xử như vậy?

+ Nếu như Trung Quốc đưa vấn đề này ra trước Liên hợp quốc thì Toà án Quốc tế về Luật biển sẽ áp dụng Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển mà các nước trong đó có Trung Quốc đã tham gia ký kết. Và chiếu theo công ước này, bất kỳ khu vực nào trong phạm vi 200 hải lý tính từ lãnh hải của quốc gia nào thì thuộc chủ quyền của quốc gia đó. Cho nên phần lãnh thổ ở vùng biển phía Tây Philippin trong khu vực quần đảo Trường Sa nằm trong phạm vi 200 hải lý cách bờ biển Philippin. Do vậy nếu như Trung Quốc đưa vấn đề này ra Toà án Quốc tế thì chắc chắn họ sẽ thất bại. Lập luận chính mà Trung Quốc viện dẫn trong vấn đề tranh chấp ở khu vực quần đảo Trường Sa, là về mặt lịch sử khoảng 2000 năm trước đã có bản đồ định rõ ranh giới dưới thời triều đình nhà Hán, trong đó không chỉ có Trường Sa mà bao gồm cả vùng biển và Hoàng Sa mà ngày nay nhiều nước trong khu vực đều tuyên bố có chủ quyền.

– Ông đánh giá thế nào về lập luận vừa nêu của Trung Quốc trong vấn đề tuyên bố chủ quyền trong khu vực quần đảo Trường Sa, đứng về phương diện quốc tế, liệu luận cứ này có đứng vững không, thưa ông?

+ Đây thật là một điều hết sức lố bịch và vô lý. Nó cũng tương tự nếu như Chính phủ Italia tuyên bố phần lớn lãnh thổ châu Âu, một phần lãnh thổ châu Á và châu Phi bây giờ là thuộc Italia, vì những phần lãnh thổ này trước kia thuộc Đế chế La mã. Cho nên quay trở lại vấn đề Trung Quốc tuyên bố chủ quyền lãnh hải ở khu vực tranh chấp dựa vào yếu tố lịch sử là rất vô lý. Do đó, nếu như Trung Quốc mang vấn đề Trường Sa ra trước Liên hợp quốc, tôi cho rằng lập luận của Trung Quốc sẽ thất bại. Và do vậy tôi tin rằng Trung Quốc sẽ không bao giờ muốn đưa vấn đề này ra giải quyết trước công luận quốc tế. Thay vào đó Bắc Kinh muốn giải quyết vấn đề tranh chấp Biển Đông song phương với từng quốc gia, ví như Trung Quốc với Philippin, Trung Quốc với Việt Nam, hay với các nước khác. Tất nhiên, Philippin không đồng ý như vậy, nhưng quốc gia này lại không có đủ sức mạnh về mặt quân sự cũng như về kinh tế để có thể đối đầu với Trung Quốc, cho nên Chính quyền Manila muốn đưa vấn đề này ra Liên hợp quốc giải quyết. Trong vấn đề này tôi tin rằng Mỹ hoàn toàn ủng hộ Philippin. Oasinton cũng thừa biết Manila không đủ sức mạnh về kinh tế và quân sự để đương đầu với Bắc Kinh trong vấn đề tranh chấp lãnh hải, và sẽ không giải quyết được gì trong thoả thuận song phương với Bắc Kinh.

Nên theo công ước quốc tế

– Ai cũng biết từ trước đến nay Trung Quốc chỉ đặt vấn đề giải quyết song phương các tranh chấp Biển Đông. Vậy khi đặt vấn đề với Bắc Kinh đưa vấn đề xâm phạm vùng biển Tây Philippin ra Liên hợp quốc giải quyết. Liệu Manila có biết trước Bắc Kinh sẽ không đáp ứng yêu cầu này?

+ Tất nhiên là Philippin cũng tiên đoán được phản ứng của Trung Quốc. Nhưng Philippin thấy rằng nếu đưa vấn đề này ra Liên hợp quốc thì sẽ có lợi cho nước họ và hoàn toàn phù hợp vì Trung Quốc đã ký thông qua Công ước Liên hợp quốc về luật biển. Trung Quốc ký thoả thuận này ngày 6 tháng 7 năm 1996, lúc ấy những nguồn lợi về dầu khí và hải sản chưa được thăm dò và phát hiện nhiều như bây giờ.

– Gần đây Philippin đề nghị tách biệt vùng đang tranh chấp với những vùng không tranh chấp trong khu vực Biển Đông nhằm làm dịu bớt những căng thẳng do vấn đề tranh chấp chủ quyền tại khu vực Trường Sa, và chuyên gia pháp lý của các nước ASEAN sẽ họp tại thủ đô Manila để thảo luận về đề nghị này. Theo ông, đề nghị này có khả thi không?

+ Tôi nghĩ đây có thể là một sự nhân nhượng của Philippin nói chung, và cũng chỉ mới được đưa ra gần đây trong cuộc hội thảo của các nước ASEAN. Tôi nghĩ Chính quyền Manila cũng chỉ mới đưa ra đề nghị này đối với các nước ASEAN – tách biệt vùng tranh chấp với những vùng không tranh chấp ở Trường Sa để có thể cùng hợp tác khai thác, phát triển vùng tranh chấp, trong khi những khu vực không tranh chấp sẽ thuộc vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia có chủ quyền. Theo tôi, vấn đề sẽ được các chuyên gia pháp lý của 10 nước ASEAN đưa ra thảo luận tại cuộc họp ở Manila vào tháng 9 tới đây. Chúng ta hãy chờ xem kết quả cụ thể của các cuộc thảo luận này, còn bây giờ tôi nghĩ rằng đó chỉ mới là một đề nghị chung chung từ phía Philippin.

– Nhân đề cập tới ASEAN, và trong vấn đề tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc, chủ yếu là các quốc gia ASEAN, chỉ trừ Đài Loan. ASEAN và Trung Quốc đã ký Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002, và ngày 21 tháng 7 vừa qua hai bên cũng đã ký bản hướng dẫn thực hiện tuyên bố này. Theo ông, ASEAN có tiếp tục tham gia việc giải quyết các tranh chấp này thông qua đường lối hợp tác hoà bình?

+ Tôi tin rằng ASEAN đóng một vai trò quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp ở khu vực Biển Đông giữa Trung Quốc và các nước, chủ yếu thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, với vai trò sáng suốt của một cơ chế khu vực sẽ có những hoạt động nhằm đưa tới giải pháp ôn hoà để duy trì vấn đề hợp tác trong khu vực, và có lợi cho tất cả các nước. Ai cũng biết Trung Quốc có một tiềm năng về kinh tế và quốc phòng, nếu từng nước trong khu vực đương đầu với Bắc Kinh thì sẽ rất khó khăn, nhưng nếu đoàn kết thành một khối để giải quyết vấn đề này thì Trung Quốc sẽ phải nhìn nhận vấn đề một cách hợp lý hơn.

Tôi nghĩ Việt Nam vẫn còn nhớ việc xảy ra hồi năm 1988, khoảng 66 ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc giết hại ngay trong vùng biển của Việt Nam. Điều này quả thực người Việt Nam khó có thể quên. Nhưng hãy để đau thương nằm lại trong quá khứ, và cố gắng tìm một giải pháp ôn hoà để giải quyết vấn đề với sự đồng thuận của các bên. Tôi cho rằng ASEAN đóng một vai trò quan trọng trong việc tìm ra một giải pháp ôn hoà để giải quyết vấn đề tranh chấp ở Biển Đông, cụ thể là khu vực quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

***

TTXVN (Hồng Công 4/8)

Chuyên mục Quan sát của tạp chí Phượng Hoàng số tháng 8/2011 đăng bài của Giáo sư Tiến sĩ Trịnh Vĩnh Niên, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Đông Á, Đại học Quốc gia Xinhgapo cho biết gần đây mọi người rất ngạc nhiên khi phát hiện nhiều năm nay cùng với sự trỗi dậy, Trung Quốc lại liên tục có sự ‘thụt lùi’ trong vấn đề Biển Đông (Trung Quốc gọi là Nam Hải). Đặc biệt là từ năm 2010 tới nay, xu hướng này ngày càng trở nên rõ ràng. Trong vấn đề Biển Đông, Trung Quốc đề ra chủ trương “gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác”, về mặt lý luận cũng như thực tế đã góp phần hình thành đường lối và sách lược ngoại giao “giấu mình chờ thời” từ thời Đặng Tiểu Bình tới nay. Thế nhưng rất nhiều người đã có cảm giác rằng trong rất nhiều vấn đề, nếu Trung Quốc không thể đối mặt trực diện, hiệu quả chính sách đạt được sẽ bị đảo ngược.

Trên thực tế, nhiều năm lại đây, chính vì do Trung Quốc thường lựa chọn biện pháp đối phó bị động, cho nên vấn đề Biển Đông đã bị tích tụ lại, gây ra cục diện (khó khăn) hiện nay. Cho dù muốn hay không, vẫn có một thực tế không thể phủ nhận là Trung Quốc đang phải đối mặt với những thách thức chưa từng có trong vấn đề Biển Đông.

Thứ nhất, Trung Quốc sớm thất bại hoàn toàn trong cuộc chiến dư luận quốc tế. Nhiều năm lại đây, trong khi Trung Quốc chìm đắm trong mớ ngôn từ “trỗi dậy hoà bình” do chính mình nghĩ ra, các nước liên quan đã nỗ lực hết sức, chuẩn bị đầy đủ trên vũ đài quốc tế, chờ đợi vấn đề Biển Đông nổi lên như họ đã dự kiến. Hiện nay, Trung Quốc rất khó có thể tìm được bất cứ lực lượng ủng hộ hữu hiệu nào trong vấn đề Biển Đông về mặt luật pháp. Môi trường nhất biên đảo (ngả hoàn toàn sang một bên) đã hình thành và Trung Quốc không còn quyền phát ngôn của mình trong vấn đề Biển Đông nữa. Vì thế, có nhà bình luận đã nói rằng việc dùng cụm từ “chính sách cứng rắn” để miêu tả thái độ của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông là không đủ mà phải dùng cụm từ “có tính chất xâm lược”.

Thứ hai, Trung Quốc cũng đã thất bại trong cuộc chiến chiến lược. Trong vấn đề Biển Đông, các nước liên quan có chiến lược tương đối rõ ràng, bao gồm nhiều phương diện, từ việc theo đuổi đa phương hoá, quốc tế hoá đến đẩy mạnh chính trị hoá nước lớn trong thời gian gần đây. Còn Trung Quốc, ngoài việc không chịu đối mặt với hiện thực, nước này vẫn còn rất mơ hồ về chiến lược Biển Đông.

Thứ ba, nếu tình hình trên tiếp tục, Trung Quốc cuối cùng cũng sẽ mất luôn cả chiến trường chủ quyền. Từ năm 2010 tới nay, Trung Quốc không có sự thay đổi thực chất nào về chính sách Biển Đông mà chỉ là đưa ra một số động tác phản ứng nhỏ, nhưng hiện nay tất cả lại cho rằng Trung Quốc là căn nguyên gây ra vấn đề căng thẳng Biển Đông. Tình hình thực tế là các nước liên quan khác đã đẩy nhanh hoạt động và hành động tại vùng biển tranh chấp ở Biển Đông, đặc biệt là việc khai thác Biển Đông.

Vậy kết cục cuối cùng sẽ như thế nào? Liệu Trung Quốc có thể vứt bỏ chủ quyền ở Biển Đông? Vấn đề đã xuất hiện, yêu cầu đặt ra là phải giải quyết. Nhiệm vụ hàng đầu là phải lý giải xem tại sao lại xuất hiện tình hình như vậy. Ngoài một số vấn đề từ bản thân Trung Quốc nêu ở trên, còn có một số nguyên nhân quan trọng khác, đối với các quốc gia liên quan, đây chính là “môi trường lớn quốc tế” và “môi trường nhỏ trong nước”.

Đối với Trung Quốc, môi trường nước lớn chủ yếu là chỉ sự thay đổi về chính trị giữa các nước lớn, đặc biệt là sự thay đổi trong quan hệ với các nước lớn như Mỹ. Trong vấn đề Biển Đông, dù muốn hay không, Trung Quốc không thể tránh được việc phải đối mặt với Mỹ. Rất nhiều người cho rằng mục đích chủ yếu của việc Mỹ lưu lại châu Á là nhằm đối phó với Trung Quốc, mà còn vì nhân tố địa chính trị.

Tình hình căng thẳng Biển Đông hiện nay cũng liên quan tới “môi trường nhỏ trong nước” của các nước liên quan. Trước hết là liên quan tới môi trường chính trị nội bộ của các nước liên quan, đặc biệt là Việt Nam. Gần đây, Việt Nam phải đối mặt với tình hình lạm phát gia tăng, sự phản đối trong xã hội diễn ra liên tục. Trong khi đó, ban lãnh đạo mới vừa hình thành, quyền lực chưa được củng cố, vì thế cần phải tìm kiếm nhân tố bên ngoài để củng cố quyền lực. Ở đây cũng có sự tác động từ nhân tố trong nước của Trung Quốc. Năm 2012, Trung Quốc tiến hành Đại hội Đảng lần thứ 18, nên trong giai đoạn này, ổn định áp đảo tất cả.

Xem xét các vấn đề nêu trên, người ra khá dễ dàng để có được vế trả lời cho câu hỏi “Trung Quốc phải làm thế nào” để giành quyền chủ động trong vấn đề Biển Đông.

Thứ nhất, Trung Quốc phải xem xét vấn đề Biển Đông ở góc độ của các nước liên quan tới vấn đề này. Lâu nay, trên các phương diện liên quan, Trung Quốc chỉ giỏi cho bên ngoài biết được mong muốn tốt đẹp của mình như “trỗi dậy hoà bình”, “phát triển hoà bình”, “láng giềng thân thiện”… Điều này rất quan trọng, nhưng vẫn thiếu rất nhiều vì Trung Quốc đã coi nhẹ việc các nước xung quanh nhìn nhận như thế nào về sự trỗi dậy của Trung Quốc và việc các nước xung quanh có lo lắng gì về sự trỗi dậy của nước này. Chỉ khi hiểu được nỗi lo lắng của các nước xung quanh, Trung Quốc mới có thể đề ra được chính sách hữu hiệu.

Thứ hai, Trung Quốc phải tách biệt vấn đề an ninh hàng hải ở Biển Đông với vấn đề chủ quyền Biển Đông. Mối quan tâm của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là các nước như Mỹ là vấn đề an toàn hàng hải quốc tế. Đây cũng là lý do mà họ can dự vào vấn đề Biển Đông. Ở phương diện này, Trung Quốc cần xuất phát từ hiện thực, thừa nhận và nhấn mạnh rằng an ninh hàng hải là vấn đề được các bên quan tâm chú ý, cũng là trách nhiệm của các bên; Trung Quốc mong muốn cùng Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và các nước ASEAN chung vai gánh vác trách nhiệm này.

Thứ ba, ở tầng thấp hơn là quan hệ giữa Trung Quốc và toàn bộ ASEAN. Cho dù tới nay Trung Quốc không vui vẻ tiếp nhận chủ nghĩa đa phương, nhưng cuối cùng Trung Quốc sẽ không thể không chấp nhận nó và chấp nhận càng sớm thì Trung Quốc càng có lợi.

Thứ tư, ở tầng thấp hơn nữa là việc đối mặt với tranh chấp chủ quyền như thế nào. Đây là vấn đề then chốt. Trung Quốc cần phải vứt bỏ chủ nghĩa song phương truyền thống và chấp nhận chủ nghĩa đa phương. Điều đó có nghĩa Trung Quốc có thể cùng các nước liên quan tiến hành đàm phán song phương, thảo luận vấn đề Biển Đông trong khung đa phương Trung Quốc-ASEAN./.

Advertisements

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
Bài này đã được đăng trong Archives, Articles, India, International relations và được gắn thẻ , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s