‘Học thuyết Hồ Cẩm Ðào’ đòi chủ quyền biển Ðông đầy tham vọng của Bắc Kinh (Beijing’s ambitious ‘Hu Doctrine’ claims the South China Sea)

The National
MD Nalapat
07-09-2011
Suốt một phần tư thế kỷ sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bắt đầu hành trình tăng trưởng cao từ năm 1982, châm ngôn ‘nói năng nhẹ nhàng’ của Ðặng Tiểu Bình đã được tuân thủ. Khác với Hoa Kỳ và các nước đồng minh NATO, Trung Quốc chưa hề dính líu đến một cuộc chiến nào kể từ khi cuộc xung đột ngắn ngủi với Việt Nam năm 1979. Biên giới mênh mông trên bộ tiếp giáp với nước Nga đã được giải quyết, mặc dù không khẩn cấp so với biên giới Trung – Ấn. Thực vậy, [trong vấn đề giàn xếp biên giới Trung – Ấn], đã hơn hai chục vòng đàm phán kể từ năm 2001 mà vẫn chưa đem lại một tiến bộ nào đáng kể.

Về các vấn đề song phương khác liên quan đến Ấn Độ, [chẳng hạn] như hành động của Liên Hiệp quốc chống lại các nhân viên Pakistan bị cáo buộc trong vụ tấn công ở Mumbai năm 2008, New Delhi không hề nhận được bất cứ một lời an ủi nào từ Bắc Kinh. Trong khi đó, Bắc Kinh đã thay thế Ấn Ðộ như một đối tác chính của cả hai nước Nepal và Sri Lanca, giống như họ đã làm với Pakistan và Bangladesh.

Kể từ khi Hồ Cẩm Ðào giữ quyền lãnh đạo Ðảng Cộng sản Trung Quốc năm 2002, Bắc Kinh đã từ bỏ sự dè dặt ban đầu. Những ngày gần đây, Bắc Kinh đã công khai các quyền lợi của họ như các cường quốc NATO. Thực vậy, đặc biệt trên biển Đông và biển Hoa Đông, ông Hồ Cẩm Đào, đã thúc đẩy một dạng như Học thuyết Monroe (*) trong đó, không chỉ cho Trung Quốc các quyền lợi cơ bản, mà còn thống trị các vùng biển đó đối với các nước khác cũng có tuyên bố chủ quyền.

Kể từ năm 2009, định nghĩa về “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc (các lợi ích mà vì chúng, Trung Quốc có thể tiến hành chiến tranh) đã mở rộng từ chuỗi đảo đầu tiên cho đến chuỗi đảo thứ hai trên biển [xung quanh] Trung Quốc, và vì vậy đưa Phillippines vào vùng “cốt lõi”, có khả năng bao gồm cả Malaysia, Indonesia và dĩ nhiên là cả Việt Nam. Với việc định nghĩa mở rộng về “lợi ích cốt lõi” như thế của Trung Quốc, không có gì phải ngạc nhiên khi gần đây hải quân Trung Quốc đã chặn một tàu hải quân Ấn Ðộ khi con tàu này đang rời khỏi bến cảng Việt Nam như tin tức đã đưa hồi tuần trước. Quả thực, năm 2011 cho thấy, có sự gia tăng các biến cố do Trung Quốc đòi vị thế đặc quyền trên biển Ðông (nguyên văn: biển Nam Trung Hoa). Hải quân của cả hai nước Việt Nam và Phillippines đã nhiều lần bị hải quân siêu việt hơn của Trung Quốc thách thức.

Ít nhất ông Hồ [Cẩm Đào] cũng đáng được khen ngợi về sự minh bạch trong các hành động của ông. Dưới sự chỉ đạo của ông ta, Trung Quốc đã chính thức báo cho Hội nghị Liên Hợp quốc về Luật Biển (cơ quan của Liên Hợp quốc giám sát các đường biên giới trên biển), rằng toàn bộ biển Đông là một phần của Trung Quốc và rằng Bắc Kinh “hoàn toàn có chủ quyền” đối với các đảo trên biển Ðông. Bằng cách sắp xếp vấn đề này là vấn đề nội bộ của Trung Quốc, Bắc Kinh giúp chủ thuyết mới này tránh khỏi một sự tranh cãi chính thức tại các diễn đàn như hội nghị các bộ trưởng quốc phòng ASEAN.

Tất cả điều đó đang được Ấn Ðộ quan sát với mức báo động gia tăng. Ấn Độ là nước xem chính mình liên tục bị đẩy sang một bên do năng lực tiềm tàng của quân đội Trung Quốc gia tăng nhanh. Nhưng thực tế là quân đội Trung Quốc, đặc biệt là hải quân, không tập trung vào Ấn Ðộ nhiều như Hoa Kỳ. Trung Quốc đang tăng cường sức mạnh hải quân, gồm cả việc hạ thuỷ một tàu sân bay cũ gần đây, để bảo vệ sự tiếp cận với các tuyến đường thủy, nối Trung Quốc với Châu Phi, châu Âu và vùng Trung Ðông.

Trung Quốc quan tâm đến tàu sân bay bắt đầu từ năm 1980, khi nhà chiến lược quân sự Lưu Hoa Thanh tham quan chiến hạm USS Kitty Hawk. Ấn tượng bởi những khả năng của nó, ông Lưu nói với ban tham mưu quân đội Trung Quốc rằng “tàu sân bay thích hợp cho các bệ phóng đổ bộ đất liền vì sự linh động của nó“. Kể từ đó, Trung Quốc đã mua bốn tàu sân bay không được trang bị, chiếc cuối cùng (Varyag của Liên xô) đã biến thành chiến tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc.

Một khi số lượng nhân sự thỏa đáng về phi đoàn và thủy thủ đoàn được huấn luyện cho tàu sân bay, hải quân Trung Quốc dự kiến sẽ đưa thêm ba tàu sân bay nữa vào hoạt động có thể sớm hơn hoặc đến năm 2020. Trung Quốc đã nắm vững cách chế tạo máy bay chuyên chở bằng tàu mà Ấn Ðộ chưa làm được. Thật vậy, Trung Quốc không ngừng gia tăng khả năng nội tại của quân đội, điều này trái ngược với tình trạng Ấn Ðộ, nơi mà hải quân, không quân và bộ binh với một mức độ ít hơn, vẫn còn dựa vào kỹ thuật và trang thiết bị nước ngoài.

Với một số giàn phóng tên lửa đang nhắm vào Ðài Loan, rõ ràng là vai trò của các tàu sân bay Trung Quốc sẽ không tham gia hoạt động trong eo biển Ðài Loan, mà vai trò [của các tàu sân bay này] là để thực thi đòi chủ quyền của Trung Quốc trên biển Đông như ông Hồ [Cẩm Đào] đã chỉ thị hồi năm 2003, khi ông kêu gọi “tăng cường bảo vệ chủ quyền và quyền lợi trên biển” của Trung Quốc.

Mặc dù Trung Quốc đã gia tăng chi tiêu quân sự rất nhiều, nhưng thực ra Hoa Kỳ vẫn chi tiêu nhiều hơn Trung Quốc gấp mười lần, trong khi đó ngân sách toàn bộ của NATO đã vượt xa chi tiêu [quốc phòng] của Trung Quốc. Nhưng [có] sự khác biệt là NATO ra trận với quân đội rất tốn kém.

Mỗi binh sỹ [NATO] tham gia chiến đấu, ước tính tốn khoảng một triệu đô la mỗi năm. Với cái giá đó, Trung Quốc có thể cho ít nhất chín người lính ra trận, thậm chí những người lính này được trang bị vũ khí, thiết bị tối tân hàng đầu. Dĩ nhiên, trang bị vũ khí tồi hơn thậm chí còn rẻ hơn. Một cuộc chiến có thể làm kiệt quệ ngân khố của NATO nhanh hơn nhiều so với Trung Quốc.

Ðó cũng chính là điều mà Ấn Ðộ tỏ ra lợi thế. Nước khổng lồ của châu Á có nền kinh tế với qui mô tương tự như nền kinh tế mà Trung Quốc đang có; liên minh giữa NATO và Ấn Ðộ sẽ gia tăng đáng kể toàn bộ khả năng [của liên minh đó]. Nhưng quan hệ đối tác đó dường như không nằm trong tầm mắt. Vì thế, Trung Quốc dường như có chỗ đứng cho học thuyết của ông Hồ Cẩm Đào rõ ràng, như James Monroe và Hoa Kỳ tận hưởng hồi năm 1823. (Ðiều lo ngại này của tác giả có vẻ như đã được trả lời khá đầy đủ trong bài phân tích về sự điều chỉnh cơ cấu an ninh của Mỹ ở Ấn Ðộ – Thái Bình dương).

MD Nalapat giữ chức Chủ tịch Ủy ban Hoà bình UNESCO tại Ðại học Manipal và là cựu biên tập viên của tờ Thời Báo Ấn Ðộ.

———

Ghi chú:

(*) Học thuyết Monroe là một chính sách của Hoa Kỳ từ năm 1823, trong đó tuyên bố rằng các nước châu Âu cố gắng hơn nữa, nhằm thuộc địa hóa đất đai hoặc xen vào các nước châu Mỹ, sẽ được coi là hành động xâm lược, đòi hỏi sự can thiệp của Hoa Kỳ.

Người dịch: Nguyễn Trùng Dương
———–
BẢN TIẾNG ANH
Beijing’s ambitious ‘Hu Doctrine’ claims the South China Sea
MD Nalapat
Sep 7, 2011
For the quarter-century after the People’s Republic of China began its high-growth trajectory in 1982, Deng Xiaoping’s maxim of “speaking softly” was obeyed. Unlike the US and its Nato allies, China has not been involved in a shooting war since the brief conflict with Vietnam in 1979. The huge land border with Russia has been settled, although less urgency has been shown in the case of the Sino-Indian border. Indeed, more than two dozen rounds of negotiations since 2001 have yet to register any substantive progress.

On other bilateral issues of concern to India, such as UN action against Pakistani agents blamed for the 2008 Mumbai attacks, New Delhi has received no comfort from Beijing. Meanwhile, China has displaced India as the primary partner of both Nepal and Sri Lanka, just as it already had with Pakistan and Bangladesh.

Since Hu Jintao took over the Chinese Communist Party in 2002, Beijing has shed its earlier reticence and these days is open about its interests, as are the Nato powers. In the East and South China Seas, in particular, Mr Hu has – in effect – embraced a version of the Monroe Doctrine that gives not just primacy but dominance to the PRC’s perceived interests in these regions over any other claimants.

Since 2009, the definition of China’s “core interests” (those for which it would go to war) has expanded from the first island chain in the China seas to the second, thus bringing the Philippines into the “core” zone, and potentially embracing Malaysia, Indonesia and of course Vietnam. Given such an expansive definition of “core interests”, it was no surprise when the Chinese navy recently challenged an Indian naval vessel as it was steaming away from a Vietnamese port, as was reported last week. Indeed, 2011 has seen increasing incidents of the PRC asserting its privileged position in the South China Sea. Vietnam and the Philippines have both had their navies challenged by the vastly superior Chinese navy on many occasions.
Mr Hu at least deserves credit for transparency in his actions. On his watch, China has formally told the UN Conference on the Law of the Sea (the UN body monitoring oceanic boundaries) that the entire South China Sea is part of China and that Beijing has “complete sovereignty” over South China Sea islands. By framing it as a domestic Chinese issue, Beijing has prevented the new doctrine from being formally discussed at forums such as the Asean defence ministers meetings.

All of this is being watched with increasing alarm by India, which sees itself being steadily pushed aside because of the Chinese military’s rapid increase in capabilities. But the reality is that the Chinese military, particularly the navy, is not focused on India as much as the United States. The PRC is expanding its naval power, including the recent launch of a secondhand aircraft carrier, to protect its access to the sea routes linking China with Africa, Europe and the Middle East.

Chinese interest in aircraft carriers began in 1980, when the military strategist Liu Huaquing toured the USS Kitty Hawk. Impressed with the carrier’s capabilities, Mr Liu told the Chinese military’s general staff that “carriers were preferable to land-based platforms because of the mobility of the former”. Since then, China has bought four decommissioned carriers, the latest of which (the Soviet Varyag) has metamorphosed into the Chinese navy’s first operational aircraft carrier.

Once an adequate number of flight personnel and other crew are trained on the carrier, the navy is expected to introduce three more carriers into service by 2020 if not earlier. China has already mastered the manufacture of ship-borne aircraft, which India has not. Indeed, the steady increase in the indigenous capabilities of the Chinese military is in contrast to the situation in India, where the navy, air force and, to a lesser extent, army still rely on foreign technology and materiel.

Given the number of missile batteries targeting Taiwan, it seems clear that the role of these Chinese carriers would not be to join action across the Taiwan Strait – the role will be to enforce China’s claims in the South China Sea as mandated by Mr Hu in 2003 when he called for “strengthening the defence of sea rights and interests” of China.
Although there is much being made about increased military spending in China, the fact remains that the US outspends China by a factor of more than 10, while the overall Nato budget far exceeds China’s spending. But the difference is that Nato fields a very expensive military.

It costs an estimated $1 million (Dh3.7 million) a year to sustain a single Nato soldier in combat operations. For that price, the Chinese could field at least nine times as many soldiers, even if they were supplied with top-end equipment. Fielding more poorly equipped units would of course be even cheaper. A war would drain Nato treasuries far faster than China’s.

It is here where India comes in. The other Asian giant has economies of scale similar to those enjoyed by China; an alliance between Nato and India would significantly boost overall capabilities. But that partnership does not seem to be visible on the horizon. China, therefore, seems to have as clear a field for the Hu Doctrine as James Monroe and the US enjoyed in 1823.


MD Nalapat holds the Unesco peace chair at Manipal University and is a former editor of The Times of India.
—-
Source: http://www.thenational.ae/thenationalconversation/comment/beijings-ambitious-hu-doctrine-claims-the-south-china-sea

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
This entry was posted in Archives, Articles, India, International relations and tagged , , , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s