Lược khảo về sức mạnh Hải quân Ấn Độ

Lê Vĩnh Trương (Quỹ nghiên cứu biển Đông)

http://phapluattp.vn/20110905102343921p0c1112/suc-manh-hai-quan-an-do-bai-1-cac-tuong-tac-chien-luoc-bien.htm

http://phapluattp.vn/20110906112231406p0c1112/suc-manh-hai-quan-an-do-bai-2-hoc-thuyet-hai-chien-dien-tu.htm

1- Dẫn nhập

Ấn Độ có số dân đông thứ nhì thế giới, có diện tích thứ bảy thế giới và vị trí địa lý kết nối và giao thoa văn minh Trung Hoa, văn minh Hồi giáo, Ấn giáo và văn minh phương Tây. Là một trong sáu cái nôi của loài người, Ấn Độ là một quốc gia phát nguyên của bốn tôn giáo (Phật, Hindu, Shik, Jaini) và đã có quan hệ cũng như mối giao thương với toàn bộ thế giới từ cổ đại đến hiện nay. Từ những năm 1950 của thế kỷ 20, Ấn Độ đã xác lập vị thế lãnh đạo của phong trào không liên kết. Cùng với vị trí địa lý quan trọng vào bậc nhất kết nối châu Á với Châu Âu; châu Á với châu Phi, Trung Đông; Đông Nam á với Nam Á, Trung Quốc với Ấn Độ Dương, Ấn Độ còn là một cường quốc biển nằm giữa vịnh Bengal và Ấn Độ Dương. Đặc biệt hơn, nếu Việt Nam là nước đầu tiên bị vây hãm bởi chiến lược Chuỗi Ngọc Trai thì Ấn Độ là nước sau cùng chịu ảnh hưởng bởi chiến lược này.[1] Ấn Độ và Việt Nam có những cuộc trao đổi kinh nghiệm và thăm viếng của Hải quân, trong đó có chiến hạm INS Airavat với chuyến thăm hữu nghị Việt Nam từ 19/7-28/7/2011. Tiếp theo đó là cuộc hội đàm Nhật Mỹ Ấn về hợp tác an ninh hàng hải sẽ diễn ra tại Tokyo vào đầu tháng 10/2011[2]. Ấn Độ đã quan tâm hơn đến nâng cao vị thế của mình tại Biển Đông.

2- Ấn Độ và biển

Người Ấn đã từng phát triển thương mại với La Mã (200 TCN đến năm 250) trong suốt thời kỳ Andhra-Kushana, rồi thời Vương triều Gupta trong thế kỷ 5 và 6. Những nhà cai trị thời Mogul như Akba và Aurangzeb đã từng thành lập những công ty hàng hải và thiết lập giao thương với thế giới cổ đại như các vùng Phoenician, Hy Lạp, Ai Cập, La Mã, Ba Tư, Trung Quốc và sau này là Bồ Đào Nha, Hà Lan, Tây Ban Nha và Anh Quốc.

Trải dài tại vĩ tuyến 9 đến 37 độ Bắc và kinh tuyến 68 đến 76 độ Đông, nước này có bờ biển dài 7515 km bao gồm nhóm đảo Lakshadweep ở biển A rập kéo đến nhóm đảo Andaman và Nicobar trong vịnh Bengal. Biển Ấn Độ rộng 73,600,000 km2. Phía Tây bắc là biển Ả Rập (3, 86 triệu km2) với eo Hormuz hiểm trở chào đón 16 đến 17 triệu thùng dầu được chuyên chở ngang qua mỗi ngày. Còn phía Đông Nam Ấn Độ là vịnh Bengal (2,17 triệu km2) bao bọc bởi lục địa Ấn Độ, Bangladesh, Indonesia, Malaysia, Myanmar, Singapore và Thái Lan, không xa Việt Nam là bao.

Hơn 90% thương mại Ấn sử dụng vận tải biển và 80% lượng nhiên liệu phục vụ kinh tế dân sinh đi qua cửa ngõ đại dương[3]. Người Ấn Độ từ xưa đã quan tâm đến biển và ý thức đến sức mạnh trên biển. Nếu Trung Hoa tự giới hạn mình bằng việc cho mình là trung tâm thiên hạ, còn quyền lực, quân sự, thuật trị quốc là dựa trên Khổng giáo, binh pháp Tôn Tử, thì Ấn Độ cũng có triết lý gây dựng quốc lực là Mandala, theo kỳ thư Arthasasthra[4] do nhà chiến lược Ấn Độ Kautila- cố vấn quốc vương Chandragupta Maurya II đúc kết nên[5]. Trong đó sức mạnh của Ấn Độ nằm ở vòng tròn trung tâm, còn các sức mạnh tác động khác là những vòng tròn ngoại vi.

Dẫu vậy, cường quốc biển như Ấn Độ cũng đã từng loay hoay với biển. Điều 1 Hiến pháp Ấn Độ định nghĩa lãnh thổ nhưng không gắn kèm biển và sau một loạt tranh cãi thì Hiến pháp này mới có điều bổ sung 297 nói về cương vực bao gồm biển của Ấn Độ.

Nguồn: http://indiannavy.nic.in/

Là nền kinh tế thứ 4 thế giới, tổng GDP 3.63 nghìn tỷ USD mỗi năm, và là một trong 8 nước chính thức sở hữu võ khí nguyên tử, Ấn Độ đã từ nghèo khó đứng dậy và lớn lên trong thời gian hai cuộc thế chiến, rũ bỏ ách thực dân bằng cách thức rất độc đáo của Mahatma Gandhi, và sau đó trở thành một cực đặc biệt trong và sau chiến tranh lạnh. Hiện nay, Ấn Độ đóng vai trò quan trọng trong cán cân địa chính trị và hải dương của thế giới.

3- Các mối tương tác chiến lược biển của Ấn Độ

Trong thời gian trước 1991, Moscow và New Delhi kết chặt quan hệ chiến lược và quốc tế cùng phòng ngừa sức mạnh Trung Quốc và Pakistan- những đối thủ dai dẳng nhất của Ấn Độ. Sau 1991, bản thân Nga phải giải quyết hàng loạt vấn đề của chính mình nên Ấn Độ phải tự co cụm, tái định vị trong thời gian cấp bách và quan sát tình hình Nga hậu Sô Viết. Với nền kinh tế phát triển khá ổn định, với tư cách là một quốc gia hạt nhân và nhu cầu chiến lược vừa nêu, Ấn Độ đã phát triển quan hệ với Mỹ và tiến từ hậu trường chính trị thế giới ra sân khấu quốc tế cùng với sức mạnh kinh tế và quân sự của mình. Tuy nhiên 70% vũ khí Ấn Độ là có nguồn từ Liên Xô và Ấn cần nhập 40% vũ khí thông thường, chủ yếu là chiến đấu cơ và đại bác. Thêm nữa, nhu cầu trang bị Hải quân và thông thương biển (SLOC) nhằm đánh chặn các đối thủ tiềm ẩn trên Ấn Độ Dương buộc Ấn Độ phải duy trì hai hàng không mẫu hạm luôn trong tư thế sẵn sàng ở các vùng biển Ả Rập, vịnh Bengal…

Đến 1996, Nga chuyển hướng và quay lại châu Á Thái Bình Dương với các hợp đồng vũ khí và kỹ thuật hạt nhân với Trung Quốc, Ấn Độ, các nước Đông Nam Á song song với phát triển quan hệ kinh tế với Nam Hàn và Đài Loan- như một phương cách cứu vãn khả năng quốc phòng của mình. Do vậy Nga đã quan tâm nhiều hơn đến châu Á Thái Bình Dương như những bạn láng giềng chứ không còn tính chất quan hệ chính trị quân sự như trước đây. Nga và Ấn đã tái ký kết hiệp định quân sự và kỹ thuật vào tháng 10 năm 2000 với các nội dung chính: hiện đại hóa và chuyển giao cho Ấn hàng không mẫu hạm Admiral Gorshkov, chuyển giao thêm 2 tàu ngầm Project 625, ba khu trục hạm lớp Krivak III, 60 máy bay chiến đấu MiG-29K/-29KUB hải vận trong 2 đợt, và song song có lẽ là một hợp đồng cho thuê tàu ngầm chạy bằng năng lượng nguyên tử- mà Mỹ phản đối. Ấn Độ luôn hạ thấp các giao thương với Nga như một quan hệ buôn bán tầm thường song vẫn âm thầm tiến hành tích cực các quan hệ khác một cách thành công và trong một thời gian dài phương Tây đã không nhận ra. Ấn Độ hiện đang khéo léo chơi lá bài Nga để làm đối trọng với Bắc Kinh và Washington, và vượt trội hơn nữa, đó là sự ủng hộ mạnh mẽ của Nga cho ghế Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc.

Quan hệ quân sự Mỹ Ấn đã khởi động gần như ngay lập tức sau khi chấm dứt chiến tranh lạnh 1991. Vào 1992, các cuộc tập trận Malabar của hải quân Mỹ Ấn đã thống nhất diễn ra và đến nay (2011) đã có mười bốn cuộc tập trận. Đầu tiên là thao dượt cơ bản song sau đó là những diễn tập có hàng không mẫu hạm, tàu ngầm hạt nhân, phi cơ tuần duyên tầm xa.[6] Nối tiếp sau đó là các hoạt động phi quân sự như chống cướp biển, an toàn hàng hải, tuần tiễu chống buôn lậu khí giới và ma túy. Tuy nhiên khi Ấn Độ thử vũ khí nguyên tử vào 1998, quan hệ hải quân Mỹ Ấn đã bị đóng băng và chỉ được tiếp nối sau khi Hải quân Ấn cho trực thăng ra chiến hạm USS Hewitt trợ giúp y tế cho một thủy thủ Mỹ[7].

Quan hệ Ấn- Myanmar phát triển xoay quanh trục quan hệ Ấn Trung. Mặc dù Myanmar quan hệ khá mật thiết với Trung Quốc và là một đầu cầu cho Trung Quốc ra Ấn Độ Dương, Ấn Độ vẫn giữ quan hệ khá quân bình với Myanmar. Hiện Myanmar đang chủ động đa phương hóa các quan hệ ra ngoài Trung Quốc, và Ấn Độ cũng đã gạt ra ngoài các bất đồng với Myanmar về dân chủ hay nhân quyền để tranh thủ láng giềng. Ấn Độ đã cung cấp phi cơ trinh sát, vũ khí hải quân và các thiết bị tình báo cũng như súng cá nhân, pháo, cối, sung phóng lựu cho Myanmar. Đặc biệt và có ý nghĩa to lớn là Hải quân Ấn Độ đã đưa hai chiến hạm vận chuyển gạo và nhu yếu phẩm đến Myanmar vào năm 2008 sau cơn bão Nargis, trong khi tàu của Mỹ và Pháp đang sẵn sàng tại vịnh Bengal đã bị Myanmar từ chối. Myanmar cũng như các nước ASEAN khác, đang nỗ lực đi dây cân bằng giữa các cường quốc nhằm tối đa hóa lợi ích và tránh bước vào những tình thế nan giải.

Câu chuyện Ấn – Pakistan cũng dai dẳng: Hải lục không quân hai bên đã có bốn lần đụng độ lớn từ sau 1947 đến nay và Hải quân Ấn-Pakistan cũng thường xuyên giao chiến. Hơn nữa, cảng Karachi là điểm cuối của Chuỗi Ngọc Trai, thít chặt vòng vây giả định lên toàn bộ bán đảo Đông Dương, Thái Lan và toàn Ấn Độ. Không gian bao vây chiến lược này được hoạch định khởi đầu từ đảo Hải Nam của Trung Quốc, tiến ra đảo Phú Lâm (Hoàng Sa), và một số đảo tại quần đảo Trường Sa (của Việt Nam đang bị Trung Quốc chiếm), xuống eo Malacca, ghé vào cảng Sittwe (Myanmar), kéo lên cảng Chittagong (Bangladesh), nam tiến đến Hambantota (Sri Lanca) và đánh vòng qua Ấn Độ Dương rồi bắc tiến và dừng bước tại cảng Karachi của Pakistan. Chưa kể đến cảng Gwadar hiện đã có mặt Hải quân Trung Quốc trong công tác quan sát eo Hormuz và sẵn sàng tiến vào Vịnh Ba Tư. Con đường trên biển này sẽ bảo đảm về mặt tiếp liệu, vận tải nhiên liệu, sản phẩm và quân đội Trung Quốc. Ấn Độ sẽ là bãi chiến trường chính yếu và phải tìm đường thoát ra khỏi vòng vây tuyệt lộ này.

Chiến hạm INS Airavat của Ấn Độ đang cập quân cảng Nha Trang ngày 19-7. (Ảnh tư liệu)

Vấn đề then chốt của con đường tiếp vận này là ở chỗ Trung Quốc có khả năng dùng đường bộ của Pakistan và đường biển xuất phát từ Karachi để khép chặt vòng tròn tiếp vận đã nêu. Sau những va chạm dẫn đến việc bắn hạ phi cơ trinh sát của Pakistan, thỏa thuận Ấn- Pakistan 1991 đã hạ nhiệt tình hình. Thiết tưởng cũng cần nhắc lại một số sự kiện suốt cuộc chiến Ấn –Pakistan. Vào năm 1965, Indonesia đã phái một tàu ngầm đến Bengal và tuyên bố sẽ mở một mặt trận tấn công Ấn Độ tại biển Andaman và cụm đảo Nicobar để giải cứu Pakistan, đồng minh Hồi Giáo. Vào năm 1971, Mỹ đã điều mẫu hạm USS Enterprise và lực lượng tiếp trợ vào vịnh Bengal để “bảo đảm quyền lợi hàng hải” nhằm làm phân tâm chiến hạm Vikrant của Ấn, buộc nước thân Liên Xô này vào tư thế phải giữ lại gần như toàn không lực trên tàu và hạn chế ý định tấn công bộ vào Pakistan.[8]

Cả Pakistan và Ấn đều tích cực nâng cao năng lực tấn công hạt nhân từ tàu chiến. Ấn có tên lửa đạn đạo tầm trung AGNI II (tầm 2700km) thì Pakistan có hệ thống GHAURI (1900km) và SHAHEEN (tầm ngắn hơn) là hai chủng loại tên lửa đạn đạo mang đầu hạt nhân có khả năng phóng từ đất và từ phi cơ. Trung Quốc đã giúp Pakistan dựng dàn tên lửa tầm ngắn HATF (300km) để đối ứng với dàn PRITHIVI (200km) của Lục quân Ấn yểm trợ Hải quân. Hai nước cùng bác bỏ Hiệp ước cấm thử nghiệm vũ khí nguyên tử (CTBT) với nhiều lý do. Đặc biệt Ấn còn nhấn mạnh nhân tố bất ổn từ Trung Quốc. Tuy vậy, cả hai nước hiện nay đang để ngỏ vấn đề tranh chấp Kashmir và ưu tiên cho kinh tế và khoa kỹ.

Ấn và Bangladesh cùng tranh chấp chủ quyền đảo Talpatti (Ấn Độ gọi là New Moore). Giáo sư Sugata Hazra (Đại học Jadavpur – Calcutta) cho rằng mực nước biển dâng cao ở Vịnh Bengal đã nhấn chìm đảo Talpatti- ở hạ lưu sông Sundarbans, giữa hai nước- và có lẽ sẽ xóa nhòa việc tranh chấp chủ quyền. Ngoài ra, hiện nay Trung Quốc có quan hệ khá thân thiết với Bangladesh trong việc giúp xây cảng Chittagong và kết nối các hệ thống đường sắt của Bangladesh và Myanmar. Tuy nhiên Ấn và Bangladesh có quan tâm chung trong việc khai thác các thủy đạo (National waterway 1,2 và 3) bao trùm và hệ thống đường bộ.

Trên cơ sở các phân tích về quan hệ Ấn Độ với các đảo quốc Ấn Độ Dương, giáo sư Chandra Mitra đã có những nhận xét về các thách thức an ninh của Ấn Độ[9]. Những hiểm họa an ninh chính đối với lợi ích Ấn Độ tại Ấn Độ Dương xuất phát từ 3 yếu tố: sự giảm sút tầm ảnh hưởng của Ấn Độ, sự gia tăng có mặt của Trung Quốc, và các hoạt động của hải tặc Somali.

Sự giảm sút ảnh hưởng của Ấn Độ có thể thấy rõ sau những ủng hộ lớn của nước này đối với Sri Lanca chống lại lực lượng LTTE, trớ trêu là New Delhi hoàn toàn không bảo vệ được lợi ích của người Tamil gốc Ấn tại Sri Lanka! Sự xuống thấp trong quan hệ hiện nay của Ấn Độ với Sri Lanka có khả năng sẽ tái hiện với các quốc đảo Maldives, Mauritius và Seychelles trong tương lai nếu chính giới Ấn Độ cứ trù trừ không bảo vệ lợi ích của Ấn Độ tại những nước này.

Hiện tại, tầm ảnh hưởng của Ấn Độ vẫn chiếm ưu thế ở Maldives dù có những tiến triển chính trị và kinh tế giữa Trung Quốc và Maldives, nước vẫn dựa vào Ấn Độ trong việc đối phó với các nhóm như Jihad đóng tại Pakistan và cướp biển Somali. Seychelles cũng tương tự, mặc dù hoan nghênh đề nghị của Trung Quốc trong tăng cường khả năng chống hải tặc, Victoria vẫn giữ quan hệ tốt với Ấn Độ.

Ấn Độ dĩ nhiên không bỏ qua chuyến thăm tới Port Louis (Mauritius) của Hồ Cẩm Đào tháng 2/2009, theo đó các khoản tín dụng và viện trợ của Trung Quốc dành cho nước này đã đã vượt mốc 1 tỷ USD. Như tại Sri Lanka, ảnh hưởng của Ấn Độ tại Mauritius cũng đang suy giảm. Trước đây Mauritius chịu ảnh hưởng về văn hóa và kinh tế từ Ấn Độ nhưng hiện giờ, về kinh tế và chính trị, nước này đang chịu ảnh hưởng gia tăng của Trung Quốc.

Sự sa sút sức hút chính trị và kinh tế của Ấn Độ tại khu vực đi đôi với sự có mặt gia tăng và mạnh tay chi tiền của Trung Quốc đối với các nước nhỏ trong vùng thông qua phát triển cơ sở hạ tầng, phi trường, khu dân cư, cảng, xa lộ tại Mauritius, rồi Hambantota và Colombo (Sri Lanca), Kyaukpyu (Myanmar) (đường ống dẫn dầu, khí từ Kyaukpyu-Vân Nam để tránh con đường qua eo biển Malacca), đường sắt Rangoon- Vân Nam, cảng Chittagong, đường sắt Bangladesh- Myanmar.

Các lực lượng hải quân dù hùng mạnh cũng bị hạn chế tầm vóc nếu thiếu sức mạnh mềm văn hóa, kinh tế, chính trị. Hải quân Trung Quốc không thể so sánh với hải quân Ấn Độ trên Ấn Độ Dương, nhưng sự vận động trên lục địa của họ đang gia tăng thách thức. Ấn Độ với khả năng hải quân to lớn vẫn giữ vai trò cân bằng quyền lực ở khu vực Ấn Độ Dương và đã khởi xướng Hội nghị chuyên đề Hải quân cùng các quốc gia duyên hải Ấn Độ Dương năm 2008. Tuy nhiên, các lần gặp mặt mà gần đây nhất là tại Các tiểu vương quốc Ả-rập thống nhất, trọng tâm của sáng kiến có vẻ như thiếu tập trung. Với lý do chống cướp biển Somali ở vịnh Aden, Hải quân Trung Quốc đã có cơ hội làm quen với các điều kiện tác chiến, kết nối các quan hệ hải quân với các nước Đông Phi và các đảo quốc.

Ấn Độ và Việt Nam đang phát triển vững chắc quan hệ kinh tế và quân sự. Vào tháng tư năm 2000, Việt Ấn đã ký một thỏa thuận về trao đổi thiết bị và huấn luyện quân sự.[10] Quan hệ hữu nghị Việt Ấn cho phép Ấn tiếp cận các cảng biển Việt Nam và biển Đông với những chuyến tàu thể hiện năng lực đóng tàu và hải hành của Ấn Độ. Trong năm 2000, Việt Ấn đã có những cuộc tập dượt chung[11]. Trong tháng 8/2011, đã có chuyến viếng thăm hữu nghị Việt Nam của tàu INS Airavat từ 19/7-28/7. Khi ở Biển Đông, cách bờ biển Việt Nam chừng 45 hải lý, INS Airavat đã nhận điện đàm được xưng là Hải quân Trung Quốc cảnh báo tàu này đang tiến vào hải phận Trung Quốc. Sau đó, Ấn Độ đã khẳng định quan điểm ủng hộ tự do lưu thông trong các vùng biển quốc tế, bao gồm Biển Đông và cho rằng quyền tự do hải hành phải được tất cả các bên tôn trọng. (Tàu INS Airavat đã thăm Nha Trang và Hải Phòng- Việt Nam, sau khi tham dự Triển lãm Quốc phòng Bridex 2011 ở Brunei hồi đầu tháng Bảy 2011).[12] Trung Quốc càng tỏ ra mạnh bạo ở biển Đông thì quan hệ Việt Ấn càng có khuynh hướng phát triển tích cực.

Nguồn: http://indiannavy.nic.in/OverseasDeployment.htm

Chiến lược Hướng Đông và Ấn Trung ASEAN:

Trong hình vẽ thể hiện quan hệ đối kháng giữa các nền văn minh[13], văn minh Ấn Độ được định vị đối kháng quyết liệt với văn minh Trung Hoa và Hồi Giáo. Với chiến lược Hướng Đông, Ấn Độ vẫn phòng thủ mặt phía Bắc với Pakistan và Trung Quốc (Hoa Hồi liên hợp), giữ quan hệ với Nga, Âu, Mỹ và tìm cách hướng về Đông theo phong cách Mandala của triết lý Ấn cổ- với các vòng tròn đồng tâm co giãn.

Myanmar với bước đi cân bằng Ấn Trung như đã phân tích, với vị thế của mình trong ASEAN, lại là đầu cầu trong chiến lược Hướng Đông của Ấn Độ đến các nước Đông Nam Á và từ đó lan ra cả Đông Á.[14] Kể từ 1947 đến 1991, quan hệ Ấn Độ với hầu hết các nước Đông Nam Á chỉ ở dưới mức trung bình. Từ sau giai đoạn thế giới hai cực 1991, Ấn Độ đã tái định vị và nâng cấp quan hệ hợp tác an ninh hàng hải với Indonesia và Philippines, đang hoàn tất những thỏa thuận hợp tác phòng thủ[15] với Singapore, Việt Nam và Malaysia.

Việc Trung Quốc xây dựng các căn cứ Hải quân tại đảo Haingyi và Sittwe (Myanmar) sát bên các căn cứ hải quân Ấn Độ tại vịnh Bengal và lắp đặt các radar trinh sát trên đảo Coco (chỉ cách các đảo Andaman của Ấn có 150km) không ngoài ý định bao vây nước này làm tăng quan ngại của New Delhi- luôn xoay vần với trò chơi cân bằng của Myanmar. Như đã phân tích, Myanmar thầm lặng nhưng đóng vai trò quan trọng trong quan hệ Ấn-ASEAN, không chỉ trên các diễn đàn ngoại giao ASEAN + mà còn ở quan hệ phòng thủ biển bộ.

Sức mạnh mềm của Hải quân Ấn Độ đã được quan tâm với loạt chiến hạm viếng thăm hữu nghị đến các nước Đông Nam Á và Úc: Overseas Deployment (OSD). Các tàu INS Ranjit, INS Rana, INS Jyoti và INS Kulish đã liên tục viếng thăm khu vực này trong năm 2010. Những chiến hạm này đã ghé thăm Hải quân và hải cảng Úc, Indonesia, Singapore, Thái Lan, Brunei, Việt Nam, Philippines và Malaysia. Trong các cuộc viếng thăm này, Hải quân Ấn có chủ định thực hiện các tác vụ PSM (Presence-cum-Surveillance Mission), tức hiện diện và tuần thám ở eo Malacca, Biển Đông, eo Lombok và Sunda, Ấn Độ Dương và biển Philippines. Những chuyến hải hành này cũng là những cuộc thao dượt PASSEX (Passage Exercises) với hải quân Úc, Indonesia, Thái Lan, Philippines và Malaysia. Chiến hạm INS Jyoti đã tham gia vào sự kiện Queen’s Baton Relay tổ chức tại Muara, Brunei, cho đại hội thể thao Commonwealth Games 2010.

Hạm đội Tây cũng thường đi về và thực hiện các tác vụ OSD đến các cảng ở Seychelles, Kenya, Tanzania, Mozambique, Nam Phi, Đảo Reunion và Mauritius. Các chiến hạm có cơ hội tham gia các hoạt động với Hải quân Nam Phi và Brazil (IBSAMAR) ngoài ra, các lực lượng hải quân còn giao lưu và thao dượt với lực lượng các nước chủ nhà.[16]

4- Năng lực triển khai của Hải quân Ấn Độ

4.1- Chi phí quân sự Ấn Độ gia tăng liên tục tuy không thể sánh với láng giềng phía bắc và phía tây. Kinh tế phát triển thuận lợi gần đây (2011) đã củng cố niềm tin rằng Ấn Độ xứng đáng một trong các nước lãnh đạo Châu Á. Với tốc độ phát triển 8% hàng năm (chỉ sau Trung Quốc), trong hội nghị các Tư lệnh quân đội 2005, Thủ tướng Manmohan Singh đã khẳng định với các tướng lĩnh rằng Ấn sẽ chi 3% GDP cho quốc phòng nếu tăng trưởng kinh tế tiếp tục là 8% như mọi năm.[17] Chi phí quân sự Ấn Độ đã là 2.3 đến 2.6% GDP trong gần một thập kỷ nhưng vẫn không đủ cho hiện đại hóa và bổ sung khí giới cho cục diện mới.

Chính phủ Ấn đã dành ra Rs1,005,600 triệu (USD22.96 tỷ) với mức tăng hơn 10% cho ngân sách 2007-2008 (RS 960,000 triệu tức USD20.87 tỷ). Số liệu thực chi 2005-2006 là Rs 890,000 triệu (USD 19.3 tỷ), cao hơn dự kiến là Rs60,000 triệu (USD1.3 tỷ). Chiếu theo GDP thì Ấn chi trên dưới 2% trong khi Pakistan chi 5% và Trung Quốc chi 10%. Phân tích các khuynh hướng trong 15 năm qua, ngân sách quốc phòng Trung Quốc tăng 10 đến 11% hàng năm còn Pakistan thì 13%/năm. Trong khi Ấn Độ chỉ chi từ 2.5 đến 2.6% GDP trong mười năm qua. Tranh cãi về mức chi quá thấp của Ấn Độ so với Trung Quốc và Pakistan lại càng thêm gay gắt vì Ấn Độ phải duy trì một lực lượng khá lớn dọc theo biên giới Ấn Trung và Ấn Pakistan. Ngoài ra còn phải kể đến hiệp định hợp tác Trung- Pakistan về đạn đạo hạt nhân, các hiệp định quân sự giữa Trung Quốc và các nước Nam Á khác và các công tác trinh sát và triển khai thiết bị thăm dò của Trung Quốc tại Myanmar. Hơn nữa, các cuộc lấn chiếm của Trung Quốc vào lãnh thổ Ấn Độ hiện nay diễn ra thường xuyên hơn ở Arunachal Pradesh tại Đông Bắc Ấn.[18] Trong năm 2007, đã có tường trình về hơn 140 cuộc xâm nhập của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc vào lãnh thổ Ấn Độ. Ngoài ra còn phải kể đến sự thua sút của Ấn Độ với Trung Quốc trong khoa học kỹ thuật, nghiên cứu và phát triển đối với các nhu cầu về vũ khí, vũ trang.

4.2- Tầm hoạt động: Hải Quân Ấn Độ có nhiệm vụ bảo vệ hơn 7000 km bờ biển, hơn 300 hòn đảo và diện tích Khu vực đặc quyền kinh tế bao trùm 200 hải lý cách đường cơ sở lên đến 2.2 triệu km2.

Sau Chiến Tranh Lạnh, Ấn Độ hướng đến Mỹ như cường quốc bảo đảm an ninh ở khu vực Ấn Độ Dương, một khu vực tiềm ẩn nhiều nguy cơ xung đột. Dù hiện nay đã có thêm nhiều mối quan hệ song phương bổ sung, nhưng quan hệ Mỹ Ấn vẫn là nền tảng với các thỏa thuận tại Hội nghị Thượng đỉnh tháng 3/2000.

Trong tổng số 5027 đầu đạn hạt nhân đã triển khai và 15,500 ngàn đầu đạn chưa đưa vào biên chế tác chiến trên thế giới, Ấn Độ hiện sở hữu 110 đầu đạn đã triển khai (Trung Quốc là 175 đã triển khai và 65 dự trữ). Ấn Độ sở hữu trên dưới 150 chiến hạm và tiềm thủy đỉnh, 4 hàng không mẫu hạm (trong số đó có INS Viratt đang hoạt động, cùng Nga đóng mới một chiếc khác(có tài liệu cho là 32,00 tấn, dài 250 mét[19], có tài liệu cho rằng 37,500 tấn và dài 252m), và chiếc Admiral Gorshkov[20] mua từ Nga, INS Vikrant – nguyên là HMS Hercules- và triển khai tại phía Đông vịnh Bengal qua cuộc chiến Pakistan 1971 cho đến khi nằm bờ)[21] , ước tính có 80,000 nhân lực phục vụ trong hải quân (trên tổng số 2,400,000 nhân lực cho hải lục không quân, và 1,400,000 là trực tiếp chiến đấu).

Ấn Độ đã có những kinh nghiệm va chạm quân sự với Trung Quốc 1962, Pakistan-trong suốt thời gian kể từ khi Pakistan tách ra khỏi Ấn Độ đến nay. Ngoài ra, sự gắn kết về văn hóa và tôn giáo của Ấn Độ với chính quyền Tây Tạng lưu vong cũng tạo tiền đề cho Ấn Độ trở thành một thế lực phải tính đến của Trung Quốc, nước đang tìm cách thực hiện chiến lược vây hãm lục địa Ấn và bán đảo Đông Dưong cùng Thái và Myanmar… của mình[22] .

4.3- Năng lực triển khai:

Là cường quốc công nghệ thông tin, Ấn Độ tập trung vào chiến lược vận dụng tối đa thành quả công nghệ này như một cuộc cách mạng của Hải quân Ấn. Học thuyết hải chiến điện tử Ấn Độ (Indian Naval Doctrine for Information Warfare- INDIF) nhấn mạnh việc chuyển nhanh tận dụng tính ưu việt của công nghệ máy tính. Học thuyết này khuyến khích các tư lệnh chiến trường nắm vững khuynh hướng chuyển đổi và độ phức tạp của dạng thức chiến tranh này. Từ đó, lãnh đạo quốc phòng Ấn yêu cầu các tướng lĩnh hội đủ năng lực xử lý, tăng cường và ứng dụng vi tính trên chiến trường. Hải quân Ấn được cho là giới đầu tiên được ứng dụng Chiến tranh mạng trung tâm (Network Centric Warfare- NCW). Học thuyết cũng đề cập đến C4ISR (chỉ huy, kiểm soát, truyền tin, công nghệ thông tin, tình báo, tuần thám và trinh sát)[23]

Trong năm 1979, Ấn Độ đã triển khai kế hoạch xương sống cho vi tính hóa Hải quân kết nối 400 đơn vị hải quân (mặt biển, mặt đất, dưới mặt biển, trên không) bằng các mạng LAN, WAN và MAN do Hệ thống NEWN hỗ trợ[24]. Hê chuyển đổi thông tin tự động Sanchar (AMSS), hệ thông tin hành động số hóa (CAIS), ứng dụng kiểm soát và chỉ huy khí tài (EMCCA), hệ điều hành tàu ngầm Saransh, hệ sứ mệnh chiến thuật dành cho trực thăng nhẹ (ALH), hệ điều hành logistics tổng hợp (ILMS), Hệ thống kiểm soát không khí tổng thể (TACS) tạo điều kiện chiến đấu trong điều kiện bị nhiễm phóng xạ hay bị tấn công bởi vũ khí sinh học và hóa học…

Ngoài công nghệ thông tin, Ấn Độ còn chú trọng xây dựng công nghiệp nội địa để có thể đảm đương vận hành, sản xuất võ khí và nhân sự điều kiển khí tài trong nước. Kế hoạch COTS (Commercial Off-The -Shelf Technology) tập trung huấn luyện kỹ thuật viên dân sự. Hải quân Ấn Độ đã có thể dựa vào nguồn lực kỹ thuật và phát triển phần mềm của chính người Ấn. Các công ty máy tính như Satyam Technologies và Tata Consultancy Services đã được ủy nhiệm để phát triển các hệ thống chiến tranh điện tử do người Ấn đảm trách. Liên hiệp công nghiệp Ấn Độ (Confederation of Indian Industry-CII) làm hạt nhân để phát triển các đối tác công nghệ- hải quân dài hạn, đồng đầu tư, đồng sản xuất, chia sẻ ứng dụng, phát minh, chia sẻ nguồn lực và nhân lực. Cơ quan kỹ thuật về hệ thống điện tử và vũ khí (Weapons and Electronic System Engineering Establishment- WESEE) thuộc Hải quân Ấn và Học viện kỹ thuật Kanpur đã hợp tác phát triển hệ Trinetra, một hệ thống mật mã đặc biệt dành riêng phục vụ Hải quân. Ngày 20/8/2011, hải quân Ấn Độ đã đưa vào biên chế tàu hộ vệ tàng hình thứ hai do Ấn Độ tự đóng mang tên INS Satpura, tăng cường sức mạnh tác chiến của Hải quân Ấn Độ ở vùng biển nước sâu.

Tàu hộ vệ tàng hình INS Satpura.

Những thành tựu khoa học kỹ thuật, nghiên cứu phát triển cũng mang đến cơ hội hợp tác quốc tế làm phong phú thêm cho khoa học ứng dụng Hải quân. Đề đốc Sureesh Mehta cho biết Hải quân Ấn đang phát triển một phi cơ tàng hình không người lái (UAV) qua hợp tác nước ngoài. Lockheed Martin là một nhà thầu tiến hành các dự án C4ISR còn Boeing Ấn Độ cung ứng phi cơ chống tàu ngầm P-8I, một phiên bản của P-8A dựa trên kỹ thuật của B-737. Boeing cũng là nhà thầu cung cấp chiến đấu cơ đa năng 126 MRCA[25] cho Không lực Ấn Độ.

Từ sau cuộc chiến Pakistan 1971, Ấn Độ đã trang bị tên lửa Klub của NATO (SS-NX-27) cho tàu ngầm, cho máy bay và các khu trục hạm. Trên các tàu ngầm lớp kilo Sindushastra và các khu trục hạm Talwar đã trang bị tên lửa đối biển (anti-ship) và tám dàn phóng Klub N. Ngoài ra, Hải quân Ấn cũng đã thử tên lửa không đối không Dhanush (tầm bắn 250 km) từ tàu tuần duyên INS Subhadra. Vào tháng 3/2008, Ấn đã thử phiên bản tên lửa hành trình siêu âm đối đất và đối biển có vận tốc March 2.8 nhanh gấp ba lần Tomahawk. Khu trục hạm INS Rajput do Nga chế tạo đã được sử dụng làm bệ phóng cho cuộc thử tên lửa hành trình BrahMos. Các đầu đạn do Ấn Độ chế tạo tỏ ra lợi hại không thua kém các vũ khí phương Tây. Mười lăm cuộc thử nghiệm BrahMos đến nay đã thể hiện năng lực quốc phòng hiện đại của Ấn Độ.

Kể từ 2005, sự tham gia của các dàn tên lửa hành trình từ biển (SLCM) đã nâng cao năng lực chiến đấu dưới lòng biển cũng như khả năng chống tiềm thủy đỉnh (ASW) của Ấn Độ. Năng lực không chiến và trinh sát biển của Ấn Độ cũng đã gia tăng sau hợp đồng mua tiêm kích cơ MiG-29K (Nga) trang bị cho hàng không mẫu hạm-tên chương trình là Tàu phòng không (Air Defence Ship-ADS).

Khác Mỹ vốn có những cam kết và sẵn sàng xuất quân tầm mức thế giới, Hải quân Ấn Độ đã trong tình trạng tham chiến khu vực lân cận. Trong suốt cuộc chiến Kargil, các chiến đấu cơ Sea Harrier đã được triển khai ngay trên boong các tàu dầu cải tiến lại do hàng không mẫu hạm có lúc đã phải duy tu. Do vị trí địa lý trải dài ở các nhóm đảo Andaman, Nicobar và Lakshadweep, năng lực điều quân phản ứng nhanh của Ấn Độ là cần thiết để chống xâm nhập hoặc chống các nhóm ly khai.

Tạp chí Strategic Defence Review 1998 của Hải Quân Ấn xác định rằng hải quân các nước có quyền hoạt động tại các vùng biển chung quốc tế để thực hiện các tác vụ trong hòa bình và trong chiến tranh và Hải Quân Ấn Độ phải có đủ năng lực để thực hiện nhiệm vụ của mình tại khu vực. Tạp chí này cho biết Ấn Độ Dương là khu vực lợi ích và hoạt động trọng yếu của Hải Quân Ấn Độ, bao gồm các vùng eo biển Bab-el-Mandeb, eo Hormuz, eo Malacca và mũi Hảo Vọng[26]. Mặc dù Hồng Hải, biển Đông Nam Á, biển Nam Ấn Độ và khu vực Đông Thái Bình Dương được xếp thứ nhì về tầm quan trọng, song Hải Quân Ấn Độ cũng sẵn sàng kiểm soát tình hình một khi các sự cố xảy ra tại các nơi này làm ảnh hưởng đến lợi ích Ân Độ.

4.4- Khả năng viễn chinh với năng lực chiến đấu thủy bộ kết hợp của Ấn Độ đã gia tăng với chiến hạm INS Jalashwa (USS Trenton đổi tên), các chiến hạm lớp Magar, các giang vận hạm (LCU)…Chiến hạm INS Jalashwa và các tàu chiến lớp Magar có thể chuyên chở trực thăng và có khả năng đặc biệt: đổ quân biệt kích lên đất địch. Học thuyết quốc phòng Ấn Độ cho phép vận dụng các tàu thương mại trong các tình huống khẩn cấp để chuyên chở võ khí và binh sĩ (STUFT)[27].

Tóm lại, Ấn Độ khá sẵn sàng trong các hoạt động tại Ấn Độ Dương và vịnh Bengal cả trong triết lý quốc phòng và trong thực tiễn, trải dài từ eo Hormuz xuyên qua eo Malacca, bằng khả năng Hải quân vươn xa và thông qua những hoạt động tập trận của mình. Hải Quân Ấn Độ cũng có những lựa chọn hành động tại vùng Sừng Châu Phi, biển Nam Ấn Độ và Thái Bình Dương. Ngoài ra, sự cân nhắc trong ngân sách và áp lực thiếu hữu nghị từ phía Bắc có thể tác động đến sự tham gia của Ấn Độ ra xa hơn vùng biển chiến lược của quốc gia này.

5- Kết luận

Khó mà có thể tóm lược nhiều hơn về tình trạng của một đội quân trong bối cảnh địa chính trị có tính biến chuyển ở mức độ cao và không dễ tiếp cận. Song tất cả diễn tiến vẫn như trước mắt người Việt với sự kiện chiến hạm ISN Airavat bị thách thức tại Việt Nam ngày 22/07/2011 liên quan đến chủ quyền Việt Nam và quyền hàng hải quốc tế của Ấn Độ. Việt Nam trải qua những cuộc chiến giữ nước ít đồng minh và Ấn Độ có những điểm tương đồng với Việt Nam trong quá trình giữ gìn độc lập từ 1947. Việt Ấn đều cùng chịu áp lực từ phía Bắc, cùng là những đối tượng đầu và cuối trong Chuỗi Ngọc Trai của Trung Quốc và đều là những quốc gia đã từng khó khăn khi các thế lực lớn giải quyết ưu tiên lợi ích trong bàn cờ thế giới. Do vậy, quan hệ hữu nghị của Hải quân Việt Ấn là đáng quý trọng. Xét các tương quan và giá trị liên kết, Ấn Độ là nước có khả năng gắn kết cao vào bậc nhất với Việt Nam đồng minh trong kế sách hướng Đông phá thế Chuỗi ngọc trai. Quan hệ hữu nghị Ấn Việt có thể là quan hệ đầu mối trong liên hoàn kế mở ra bên ngoài của Việt Nam, không hề thua kém vai trò các mối quan hệ với Nga, Nhật, EU và Mỹ trong công cuộc bảo vệ hòa bình tại biển Đông hiện nay.

[1] http://www.marinebuzz.com/2008/01/23/china-garlands-india-with-string-of-pearls/

[2] http://www.thanhnien.com.vn/Pages/20110902/Nhat-An-My-se-hoi-dam-ve-hang-hai.aspx

[3] Hank Frank Seller-The security policy and maritime Strategy of India in the 21st century- Maritime strategy in Asia- White Lotus- 2002

[4] Luận về chính trị

[5] Vijay Sakhuja- Asian Maritime Power in the 21 st Century- Institute of South Esat Asian Studies- 2011, trg 265

[6] Mỹ đưa ra phi cơ tuần thám duyên hải P-3C và tiềm thủy đỉnh chạy bằng năng lượng hạt nhân Birmingham. Ấn triển khai tiềm thủy đỉnh do Đức chế tạo, Shankush

[7] Bài phỏng vấn Đề đốc Dennis C Blair, Tổng tư lệnh Hải Quân Mỹ ở Thái Bình Dương cho Times of India ngay25/10/2001

[8] Robert Jackson, South Asian Crisis, India-Pakistan-Bangladesh (London; Chatto & Windus, 1975) trg 231

[9] http://editorialsamarth.blogspot.com/2011/04/editorial-210411.html

[10] “India aims for influence in Southeast Asia” http://www.stratfor.com/

[11] Juli A. MacDonald, “South Asia and South East Asia in 2001”, National Strategy Forum Review (2001)

[12] http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/09/110901_indian_ship_update.shtml

[13] Samuel Huntington, The Clash of Civilizations and the Remaking of World Order, Touchstone Book, Simon & Schuster, 1997, trg 245

[14] Stratfor (Stratfor Intelligence Service Inc.): Myanmar equalizing Chinese, Indian Relations, Stratfor Commentary, Nov 2000

[15] Nguyên văn: ”concluding defense co-operation agreements..” Hank Frank Seller-The security policy and maritime Strategy of India in the 21st century- Maritime strategy in Asia- White Lotus- 2002, trang 478

[16] http://indiannavy.nic.in/OverseasDeployment.htm

[17] Press Information Bureau, Press Release, Prime Minister’s Office. “PM Addresses Combined Commanders’ Conference”, 20 october 2005 http://pib.nic.in/release.asp?relid=12801 (accessed 20 January 2006)

[18] http://www.indiadaily.com/editorial/2752.asp. “China does intrude into India, admits India”, Indian Express, 12 January 2008: Pushpita Das, “India has to be wary of Chinese instrusions”, IDSA Strategic Comments, 19 October 2007.

[19] Hank Frank Seller-The security policy and maritime Strategy of India in the 21st century- Maritime strategy in Asia- White Lotus- 2002, trg 484

[20] Hình ảnh: http://vnexpress.net/gl/the-gioi/2011/04/an-do-chuan-bi-cho-viec-tiep-nhan-tau-san-bay/

[21] http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A0u_s%C3%A2n_bay#H.E1.BA.A3i_qu.C3.A2n_.E1.BA.A4n_.C4.90.E1.BB.99

[22] http://www.seasfoundation.org/articles/from-members/1020-chin-lc-chui-ngc-trai-va-vic-bo-v-ch-quyn-vn-tren-bin-ong

[23] Command, control, communication, computer, intelligence, surveillance, and reconnaissance

[24] Local area network, Wide area network, Metropolitan Area Network và Navy Enterprise-Wide Network

[25] Multi-role combat aircraft

[26] Freedom to use the Sea: India’s Maritime Military Strategy (New Delhi: intergrated Headquarters ministry of Defence (Navy), 2007), trang 59

[27] Ships Taken Up From Trade: Tàu thương mại được trưng dụng trong khẩn cấp
—–
Nguồn: http://www.seasfoundation.org/articles/from-members/1272-lc-kho-v-sc-mnh-hi-quan-n-

Advertisements

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
Bài này đã được đăng trong Archives, Articles, India, International relations và được gắn thẻ , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s