Trung Quốc: Từ phòng ngự tích cực sang tiến công?

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn
Tác giả: JAMES R. HOLMES, TOSHI YOSHIHARA
Bài đã được xuất bản.: 14/09/2011 06:00 GMT+7
Trong khi giới cầm quyền tại Bắc Kinh nổi lên từ “thế kỉ bị sỉ nhục” và họ đang hướng trọng tâm vào Ấn Độ Dương, lịch sử có thể cho ta thấy cách Trung Quốc sẽ cân nhắc các phương án chiến lược ngắn hạn tại Nam Á như thế nào.

Trung Quốc đang thu thập những kiến thức sơ đẳng về sự hiện diện hải quân tại Ấn Độ Dương, một nguồn cốt tử cho hoạt động nhập khẩu đường biển để nuôi dưỡng nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng. Để làm điều đó, họ đang mạo hiểm dấn thân vào những vùng lãnh thổ không ai để ý, thừa nhận một tình thế tiến công chưa từng có trong lịch sử Trung Quốc.

Giả định cơ bản thúc đẩy chiến lược Trung Quốc kể từ cuộc chiến tranh Thuốc phiện năm 1840 – nó đã cho thấy tình trạng lạc hậu của các lực lượng Trung Quốc trước những kẻ chinh phục phương Tây tới từ biển – là Trung Quốc sẽ bắt đầu bất kì cuộc xung đột nào nếu đối phương yếu hơn. Các lực lượng Trung Quốc lâm vào thế thủ, vì thế họ có thể có được thời gian chuẩn bị cần thiết để xoay chuyển tình thế và tiến hành một cuộc phản công mạnh mẽ. Thực vậy, chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc Mao Trạch Đông đã tìm ra chiến lược “phòng ngự tích cực” – khái niệm có tác dụng truyền cảm hứng và được dùng làm tên gọi cho chiến lược phòng vệ biển gần của Trung Quốc – và đó được coi là nghệ thuật lãnh đạo đất nước này hiện nay.

Hoàn cảnh thay đổi đã buộc chiến lược của Mao phải có những điều chỉnh. Trung Quốc không còn ở thế yếu khi đối đầu với các đối thủ thủ cạnh tranh nước ngoài. Dẫu vậy, tiến hành tiến công tầm xa vẫn chỉ mới ở giai đoạn khởi đầu cho Bắc Kinh khi họ có đang muốn xóa bỏ ký ức về “thế kỉ bị xỉ nhục”. Để xác lập sự hiện diện phía trước nghiêm túc tại Nam Á, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc phải tiếp cận khu vực này theo “các tuyến ngoài,” khắc phục đặc điểm địa lí phức tạp, cạnh tranh với các nhu cầu ở vùng “biển gần” của Trung Quốc, và sự đối địch của Ấn Độ, quốc gia chiếm “vị trí bên trong” tại Ấn Độ Dương, với tất cả những lợi thế nghiêng về Niu Đêli.

Tóm lại, việc giới cầm quyền Trung Quốc, lần đầu tiên kể từ thời Minh cách đây sáu thế kỉ, đã quyết định triển khai lực lượng sang Ấn Độ Dương là điều có thể hiểu được. Bắc Kinh hiểu tầm cỡ của một dự án như thế, cũng như mức độ liều lĩnh và tiềm năng bỏ lỡ các cơ hội tại Đông Á. Nếu giới lãnh đạo Trung Quốc chyển các lực lượng sang Ấn Độ Dương, thì họ phải chấp nhận những rủi ro tại những vùng biển có nhiều rắc rối trong khu vực, như biển Hoàng Hải, biển Hoa Đông, Eo biển Đài Loan, và Biển Đông. Những vùng nước này nằm sát đại lục, nơi thu hút sự chú ý của giới quan chức theo cách mà những vùng biển xa không có được. Và biển gần tạo thành vùng ngoại biên hàng hải lịch sử của Trung Quốc, liên quan đến danh dự và uy thế quốc gia.
Sự xa cách của Ấn Độ Dương, cộng với tình trạng bất ổn gần nhà khiến cho chiến lược của Trung Quốc bị cản trở. Mặt khác, những tiến triển trong lĩnh vực công nghệ quân sự – đặc biệt là một tên lửa đường đạn đối hạm (ASBM – Anti-ship ballistic Missile) nghe nói có khả năng công kích trên khắp các vùng biển Trung Quốc vào đến lòng chảo Ấn Độ Dương – đang hứa hẹn góp phần giảm bớt những hạn chế ấy. Nếu Hải quân Trung Quốc có thể dựa vào sự chi viện hỏa lực trên bờ ở những khoảng cách xa, thì các tư lệnh hải quân có thể xoay xở được với những nguồn lực ít hơn, không chỉ trên các biển gần của Trung Quốc mà cả trên những chiến trường xa như vùng Nam Á. Năng lực tiến hành một cuộc triển khai lực lượng có tính kinh tế cao được hỗ trợ bởi sự chi viện của hỏa lực tầm xa sẽ có tác dụng giảm bớt nguy cơ rủi ro trên biển gần – khiến Bắc Kinh dễ dàng hơn trong việc ra quyết định điều tàu đi chiến đấu. Trong khi công nghệ không phải là tất cả, nó vẫn có tầm quan trọng chiến lược.

Bên trong, bên ngoài

Địa chính trị góp phần phác họa triển vọng và sự mạo hiểm của việc hiện diện tại Ấn Độ Dương có thể đem lại cho Trung Quốc. Milan Vego đã liên hệ các khái niệm tuyến trong (nội tuyến) và tuyến ngoài (ngoại tuyến) – những khái niệm bắt nguồn từ tác chiến trên bộ – sang chiến tranh trên biển. Cách đây một thế kỷ, Alfred Thayer Mahan đã so sánh biển với một cánh đồng không có nét gồ ghề đặc biệt. Còn nơi nào áp dụng các khái niệm hình học tốt hơn so với một vùng biển mở rộng, một môi trường được nghiên cứu kĩ lưỡng với các hải đồ và tiêu đồ cơ động? Vego giải thích:

Trung Quốc đã quen với việc tác chiến dọc theo các đường tuyến trong. Trong những năm 1920, Hồng quân của Mao đã đương đầu với hàng loạt chiến dịch “bao vây và chế áp” qua đó Quân đội quốc gia của Tưởng Giới Thạch đã đẩy quân của Đảng Cộng sản tới bờ vực bị tiêu diệt. Nhật Bản xâm lược đại lục trong những năm 1930, cũng dọc theo các tuyến ngoài.

Mĩ và các đồng minh đã theo đuổi thành công một chiến lược “ngăn chặn” trong thời Chiến tranh Lạnh, sử dụng các lực lượng không quân và hải quân đóng căn cứ dọc theo chuỗi đảo xa để cản trở sự cơ động của Hải quân Liên Xô và Trung Quốc. Kể từ đó, Mĩ đã bảo toàn được vị thế chiến lược nhờ việc liên minh với Nhật và sự hiện diện của các căn cứ trên các đảo ở Thái Bình Dương như Guam và Hawaii.

Hiện tại, cũng như trước đây, Trung Quốc giữ vị trí trung tâm với tất cả những lợi thế mà quốc gia này có được, nhất là các căn cứ và lực lượng kề bên, sự cơ động linh hoạt trong không gian, các tuyến giao thông ngắn được hỗ trợ bởi các xa lộ và các tuyến đường sắt quốc gia đã được cải thiện đáng kể. Nếu địa vị bên trong đem lại lợi thế, thì sức mạnh tuyến ngoài sẽ có ý nghĩa như thế nào?

Chiến lược của Lincoln

Ngay những lời nói của Abraham Lincoln, vị tổng thống – nhà chiến lược tự học của nước Mĩ. Ông hiểu rõ rằng quân Miền Nam đã tổ chức các tuyến trong chống lại các lực lượng Miền Bắc khiến họ khó lòng phối hợp được các cuộc tiến công đánh vào các bang Miền Nam. Và ông hiểu rõ chiều hướng của cuộc xung đột này sớm hơn so với các tư lệnh trên chiến trường. Tổng thống Lincoln đã xây dựng nên tầm nhìn chiến lược thời chiến của mình về mặt các đường tuyến trong và đường tuyến ngoài. James McPherson, người nhận được giải Pulizer (giải báo chí quốc tế – ND), đã viết:

“Không ai có thể giải thích khái niệm chiến lược này hơn bản thân Lincoln… “Tôi tuyên bố tư tưởng chung của tôi về cuộc chiến tranh này,” vị tổng tư lệnh viết, “rằng chúng ta có lực lượng lớn hơn, và kẻ địch có điều kiện thuận lợi hơn trong việc tập trung tại những điểm xung đột.” Các lực lượng Liên minh không thể chiến thắng “trừ phi chúng ta tìm ra cách nào đó mang lại lợi thế cho chúng ta trước đối thủ; và điều này chỉ có thể thực hiện bằng cách đồng thời uy hiếp đối phương với một lực lượng ưu thế hơn tại những điểm khác; sao cho chúng ta có thể tiến công một cách an toàn, một hoặc cả hai, nếu đối phương không thay đổi; và nếu đối phương bỏ một nơi để tăng cường cho nơi khác, kiên trì không đánh vào chỗ mạnh, song chiếm giữ chỗ yếu, sẽ có lợi rất nhiều.”

Đối với Lincoln, phe Miền Nam có thể tập trung vào không gian dọc theo tuyến ngoài, lảng tránh các cuộc tiến công phối hợp của quân Miền Bắc. Song quân Miền Bắc có được ưu thế về quân số và nguồn lực. Họ chỉ cần sử dụng các nguồn lực này một cách đồng thời. Như McPherson nói, quân Miền Nam “tập trung vào không gian chỉ có thể bị đánh bại nếu quân Miền Bắc sử dụng một lực lượng đông hơn… để tiến công đồng thời trên trên hai hoặc nhiều mặt trận – tức là tập trung vào thời gian.” Sự tập trung đó rõ ràng đòi hỏi ưu thế về sức mạnh, khả năng tung lực lượng vào sân sau của đối phương, và khả năng phối hợp nhiều hành động trên nhiều điểm tiếp xúc – ngăn chặn và đập tan sự chống trả của lực lượng yếu hơn đang khai thác lợi thế sân nhà.

Đây là một tiêu chuẩn chính xác, song bên có thế mạnh phải đáp ứng để giành phần thắng trên các chiến trường xa. Hãy xem xét cuộc đột kích theo hai mũi qua Thái Bình Dương của các lực lượng Mĩ trong Chiến tranh thế giới II. Các đòn đánh đồng thời vào trung tâm và tây nam Thái Bình Dương đã buộc Tokyo phải phòng thủ trên hai mặt trận, ngăn không cho các lực lượng Nhật tập trung theo không gian.

Song kế hoạch chiến dịch này đòi hỏi đầu tư nhiều nguồn lực và mất nhiều thời gian, thậm chí đòi hỏi hi sinh sức mạnh công nghiệp của nước Mĩ. Trung Quốc sẽ gặp tình thế tương tự khi họ liều lĩnh xâm nhập vào một khu vực do người Ấn Độ sinh sống, nơi Ấn Độ đang chiếm vị trí trung tâm và đang ấp ủ tham vọng hàng hải của riêng mình. Một chiến lược tuyến ngoài mà Bắc Kinh có thể theo đuổi sẽ thành công đến đâu vẫn là một câu hỏi chưa có lời giải.

Cân đối giữa các chiến trường

Trung Quốc phải triển khai sức mạnh quân sự đáng kể trên Ấn Độ Dương để tạo lập sức thuyết phục hải quân. Họ phải tích tụ đủ sức mạnh trên biển trong khu vực – hiển nhiên là gồm các lực lượng trên biển và các căn cứ phía trước – để thuyết phục các nhà quan sát rằng Quân đội Trung Quốc đã chiếm ưu thế so với Ấn Độ ngay trong phạm vi vùng ảnh hưởng tự nhiên của quốc gia Nam Á này. Và để khiến cho vấn đề thêm phức tạp, Bắc Kinh phải đưa lực lượng này ra các vùng biển chiến lược xung quanh, nơi Mĩ đã tuyên bố sẽ duy trì “một sức mạnh chiến đấu đáng tin cậy”, cả ở Tây Thái Bình Dương lẫn Ấn Độ Dương. Hiểu rõ điều này, các nhà phân tích Trung Quốc đang tỏ ra thận trọng với sự hiện diện quân sự của Mĩ tại Diego Garcia (một đảo san hô ở trung tâm Ấn Độ Dương – ND), mà từ đó nước Mĩ có thể tung sức mạnh hải quân và không quân ra khắp khu vực.

Nhà lí luận quân sự Carl von Clausewitz đã phác họa một thuật toán súc tích về việc cân đối các ưu tiên giữa chiến trường chính với chiến trường phụ. Logic của ông dường như khiến cho Bắc Kinh lúng túng. Clausewitz chủ trương các nhà cầm quân phải liên tục đánh vào “trung tâm” của đối phương, tung ra “hết quả đấm này đến quả đấm khác” đánh vào “trung tâm của sức mạnh và sức cơ động, mà tất cả mọi thứ phụ thuộc vào” này. Trung tâm này đại diện cho “điểm mà toàn bộ nghị lực của ta phải tập trung vào….” Trọng tâm là vấn đề tối thượng. Tuy nhiên, giống như mọi quy luật, quy luật này cũng có một ngoại lệ:

“Nguyên tắc nhắm tất cả vào trọng tâm của đối phương chứa đựng một ngoại lệ – đó là khi các chiến dịch thứ hai dường như đặc biệt có lợi. Song ta cũng phải nhắc lại rằng chỉ khi chiếm được ưu thế quyết định mới có thể biện minh cho việc chuyển hướng sức mạnh mà không gặp phải quá nhiều nguy cơ trên chiến trường chính [ông nhấn mạnh].”

Trong khi nhà lí luận Trung Quốc Tôn Tử khuyến nghị chuyển các nguồn lực thành các chiến dịch không định hướng hoặc “hỗn mang” khiến đối phương mất cân đối, ông cũng chủ trương các nhà cầm quân phải biết tiết kiệm các nguồn lực. Chẳng nhà lí luận nào ủng hộ việc cố tình phân tán lực lượng. Song khi các nhà lãnh đạo Trung Quốc vẽ bản đồ các vùng xung quanh, vô số các sự kiện bất ngờ – chứ không phải một hai – khiến họ phân tán tư tưởng. Nếu các nhà cầm quân Trung Quốc cố làm mọi thứ với những nguồn lực có hạn, họ có thể tự thấy mình làm được rất ít tại bất kì điểm đã cho nào trên bản đồ.

Từ bắc xuống nam, một danh mục không hoàn chỉnh các vùng gây tranh cãi gồm một Bắc Triều Tiên hay thay đổi, một cuộc cạnh tranh với Nhật Bản vì các mỏ dầu trên biển Hoa Đông và quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, thế bế tắc trên Eo biển Đài Loan, tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông, và mối đe dọa cướp biển, các phần tử khủng bố trên biển, hoặc một đối thủ cường quốc nào đó sẽ chặn tàu thuyền qua lại Eo biển Malắcca. Tất cả những sự kiện bất ngờ này đều đòi hỏi nỗ lực ngoại giao và nguồn lực quân sự mạnh mẽ. Vì thế, vấn đề xác lập ưu tiên giữa các chiến trường đang được xếp vào một trong những thách thức nghiêm trọng nhất mà Bắc Kinh phải đương đầu.

Hãy thử suy nghĩ. Biển gần nào là chiến trường chính của Trung Quốc theo cách nói Clausewitz? Liệu Trung Quốc có chắc chắn giành được gì đó tại Ấn Độ Dương, xứng đáng với những gì họ đã bỏ ra không? Và liệu quân đội Trung Quốc có giữ được ưu thế quyết định trong bất kì – chứ đừng nói đến tất cả – chiến trường nào trong các chiến trường ở Đông Á? Việc Trung Quốc có thể còn lực lượng dành cho Nam Á hay không tùy thuộc vào cách họ trả lời những câu hỏi này.

Đã đến thời kỳ của “hạm đội pháo đài”

Các nhà chiến lược Trung Quốc luôn ám ảnh ý nghĩ cho rằng công nghệ có thể làm biến đổi tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Cuộc tranh luận về triển vọng đối với một loại tên lửa đường đạn đối hạm (ASBM) Trung Quốc đã diễn ra trên các trang báo. Ở đây, các tác giả vẫn giữ nguyên thuyết bất khả tri về ASBM với tầm bắn hiệu dụng chỉ dưới 1.250 dặm, với giả định bệ phóng cơ động được bố trí trên toàn bộ tuyến tiền duyên của lục địa Trung Quốc.

Vì thế, vòng cung xạ kích song song với biên giới Trung Quốc, vạch nên vùng bao quát xa nhất đối với khả năng chi viện hỏa lực của quân đội Trung Quốc. Từ các vị trí biên giới, xạ thủ tên lửa có thể nhắm mục tiêu là các tàu thuyền trên đường đi suốt toàn bộ Hoàng Hải, biển Hoa Đông, Biển Đông và Eo biển Malắcca. Chúng có thể vươn qua vịnh Bengal công kích dọc theo bờ biển phía đông Ấn Độ. Thậm chí, chúng có thể vươn tầm tới phía bắc Biển Arập. Đây là một cách nhìn nghiêm túc. Theo một nghĩa nào đó, các tỉnh khô cằn, nằm giữa lục địa như Tây Tạng và Tân Cương, hiện cũng tạo thành một bộ phận của mặt trận trên biển của Trung Quốc. Từ đó, quân đội Trung Quốc có thể bắn ASBM theo kiểu tâng bóng tới các hạm đội thù địch.

Ý kiến cho rằng các hàng rào phòng thủ trên bờ đó đem lại một lợi thế rõ ràng so với những tàu chiến liều lĩnh lọt trong tầm bắn không phải là điều gì mới. Những thuyền trưởng khôn ngoan thường giữ đúng cự li. Thuyền trưởng William Bainbridge đã chỉ huy chiến hạm USS George Washington tới thả neo dưới họng pháo của người Angiêri năm 1800, và rồi quốc trưởng nước này – đang khoe khoang về sức mạnh hỏa lực siêu hạng – đã đưa ra cho Bainbridge một đề nghị mà ông không thể chối từ. Các pháo thủ của ông đã áp đảo các khẩu đội pháo pháo đài, còn Bainbridge đóng vai một sứ thần bất đắc dĩ trước Ottoman Porte.

Tàu George Washington đã đến Constantinople (một thủ phủ của Thổ Nhĩ Kì-ND) dưới cờ Angiêri – một bằng chứng cho thấy sự yếu kém của pháo bờ biển. Một thế kỉ sau, đô đốc đáng gờm Tōgō Heihachirō đã không chịu rủi ro cho hạm đội Nhật của mình trong giai đoạn mở đầu chiến tranh Nga – Nhật 1904 – 1905, vì lo ngại quân Nga có thể pháo kích dữ dội từ Cảng Arthur.

Cái làm nên sự khác biệt ngày nay chính là khả năng chiến đấu chính xác mà ASBM có thể tạo ra. Nếu ASBM tốt như lời quảng cáo, thì quân đội Trung Quốc có thể sớm rêu rao về “hạm đội pháo đài” có hiệu quả đầu tiên, gỡ lại thể diện cho khái niệm đã bị điều tiếng từ lâu. Trong cuộc tổng kết về Chiến tranh Nga – Nhật, Mahan đã lấy làm tiếc về thói quen của các chỉ huy Nga, giữ cho các liên đội tàu được an toàn trong tầm hỏa lực chi viện của pháo ven bờ.

Nhìn bên ngoài, vết nhơ “hoàn toàn sai lầm” này có tác dụng bảo vệ thành phố khỏi hạm đội của Tōgō đang tuần tiễu ngoài xa. Trên thực tế, Mahan tuyên bố, nó đã rút ngắn bán kính chiến đấu của hải quân Nga xuống chỉ còn vài dặm xung quanh cảng Arthur. Và nó dung dưỡng tính rụt rè của các nhà cầm quân Nga, xui khiến họ chui xuống hầm dưới sự bảo vệ của hỏa lực pháo từ cảng.

Đây là ý kiến chỉ trích thời Mahan, song điều gì sẽ xảy ra nếu pháo của cảng Arthur có tầm bắn không chỉ là vài dặm mà là vài trăm dặm? Các pháo thủ Nga có thể đã quét rộng các biển có tàu chiến Nhật trong khi lại còn đe dọa Hải quân Nhật mạnh hơn tại các cảng nhà, như Sasebo. Trong khi đó, hải quân Nga rong ruổi trong các vùng nước sạch bóng quân thù mà không hề bị trừng phạt. Tầm bắn của pháo ven bờ không còn hạn chế lòng dũng cảm hay khả năng tự do hành động của người cầm quân. Tương tự, ASBM tác chiến sẽ tạo cho Lực lượng Pháo binh số 2 của quân đội Trung Quốc khả năng đưa hỏa lực chi viện trên một vùng biển rộng châu Á, tùy theo các lực lượng đặc nhiệm của Hải quân Trung Quốc – một hạm đội pháo đài của Trung Quốc – chống lại các đối thủ cạnh tranh mạnh hơn.

Hơn nữa, nếu Bắc Kinh chọn cách xây dựng một mạng lưới căn cứ ở Nam Á, thì các ASBM – đặc biệt nếu triển khai ở tuyến đầu trong khu vực, mở rộng phạm vi đe dọa của nó thậm chí còn xa hơn – sẽ cho phép quân đội Trung Quốc phòng vệ các căn cứ này chống lại Hải quân Ấn Độ, Hải quân Mĩ hoặc một đội thủ nào khác. Các lực lượng Hải quân Trung Quốc có thể trở nên mạnh hơn với ít lực lượng hơn, ngay cả khi tác chiến xa nhà trên các tuyến ngoài. Rồi, các khẩu đội ASBM cơ động đã được bố trí tại phía nam Trung Quốc sẽ cho phép Quân đội Trung Quốc thực hiện những hành động vu hồi đề bù lại tình trạng địa chiến lược khó khăn. Việc sử dụng ASBM theo cách đã hình dung với các tàu ngầm và tàu nổi triển khai phía trước sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho chiều hướng tung sức mạnh vào vùng Ấn Độ Dương, giúp Bắc Kinh hoàn thành mục tiêu xây dựng một sự thuyết phục hải quân có hiệu quả.

Nền tảng không cam kết

Dường như Bắc Kinh đang tạo dựng nền tảng cho một sự hiện diện hải quân thường trực tại Ấn Độ Dương mà không tự cam kết hoàn toàn – và có lẽ là vội vã – trước một sự hiện diện như vậy. Điều này thể hiện một chính sách ngoại giao cẩn trọng. Ở cấp chiến lược, ASBM có thể tạm thời giúp giảm nhu cầu đưa ra một chương trình xây dựng hạm đội lớn mà các nước láng giềng của họ tại Đông và Nam Á thấy là quá khiêu khích. Không có gì có thể thay thế sự hiện diện của tàu thuyền trên biển để thực thi quyền lãnh đạo. Tuy nhiên, một lực lượng tên lửa được hỗ trợ bởi một kiến trúc tình báo, giám sát và trinh sát khổng lồ có thể giúp Trung Quốc có được một phương tiện thu hẹp khoảng cách, một loại hiện diện ảo trong vùng lòng chảo Ấn Độ Dương.

Như thế, một ASBM hứa hẹn có tác dụng hạ thấp hàng rào tác chiến để xâm nhập vào Ấn Độ Dương, hạ thấp chi phí thấy được của hoạt động tác chiến tuyến ngoài ở đó và khiến cho sự hiện diện tại đó trở nên hợp lí theo cách dùng thuật ngữ của Clausewitz. Bắc Kinh không còn sợ phải hi sinh các lợi ích dọc theo đường chu vi của mình do những quyền lợi xa cách về địa lí – song nhạy cảm về kinh tế – tại Ấn Độ Dương.

Tuy nhiên, do việc triển khai phía trước như thế sẽ lệ thuộc quá nhiều vào một hệ thống với đầy đủ các công nghệ vũ khí tên lửa, nên nó sẽ trở nên rất dễ bị tổn thương trước những biện pháp đối phó của Ấn Độ hoặc của Mĩ khiến hiệu quả của ASBM bị giảm sút. Vẫn còn nhiều hoài nghi về năng lực phát hiện các hạm tàu từ xa của quân đội Trung Quốc, báo hiệu cho các bệ phóng ASBM, và dẫn chính xác đầu đạn tới các mục tiêu đang cơ động trên biển. Vì thế, với chúng ta vẫn là thuyết bất khả tri.

Hậu quả dễ thấy là sự giằng co giữa công và thủ, thách thức và đáp trả trong vùng biển châu Á. Clausewitz ví chiến tranh với sự va đập của các lực lượng sống, hay miếng móc hàm của đô vật nhằm giành lợi thế chiến dịch và chiến lược. Như tên lửa hành trình Tomahawk và hệ thống chiến đấu Aegis đã làm con lắc nghiêng về phía Hạm đội trong những năm 1980, vãn hồi tiềm năng của bên công, tiến bộ công nghệ hiện nay đang đe dọa cách mạng hóa hoạt động chi viện hỏa lực trên bờ có lợi cho bên phòng thủ. Đây chính là lúc các nhà khoa học, kĩ thuật và chiến thuật bắt đầu nên kéo con lắc đồng hồ về phía có lợi cho hải quân Mĩ và đồng minh

Hà Anh dịch từ Proceedings số 4/2011
====
Nguồn: http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-08-30-trung-quo-c-tu-pho-ng-ngu-ti-ch-cu-c-sang-tie-n-cong-

Advertisements

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
Bài này đã được đăng trong Archives, Articles, International relations và được gắn thẻ , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s