TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG: THÁCH THỨC RẤT LỚN ĐỐI VỚI NỀN NGOẠI GIAO ASEAN

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
Tài liệu Tham khảo đặc biệt

Thứ hai, ngày 21/10/2011

TTXVN (Niu Đêli 17/10)

Tạp chí “Các vấn đề chiến lược” (Ấn Độ) số ra tháng 10 đăng bài của Tổng biên tập A.B Mahapatra khẳng định tranh chấp và căng thẳng tại Biển Đông (biển Nam Trung Hoa) đang đặt ra thách thức rất lớn đối với nền kinh tế ngoại giao ASEAN nhằm duy trì hòa bình và ổn định ở khu vực đang “nóng” lên này.

Theo bài báo, tranh chấp ở Biển Đông có thể gây ra nhiều diễn biến khó lường ở Đông Nam Á, và khu vực châu Á – Thái Bình Dương, và có thể leo thang thành một cuộc xung đột toàn diện nếu các biện pháp thích hợp không được tiến hành kịp thời. Tất nhiên, điều đó sẽ ảnh hưởng tới sự thống nhất của khối ASEAN bởi 4 thành viên trong tổ chức khu vực này liên quan tới tranh chấp và nhận chủ quyền đối với nguồn tài nguyên ở Biển Đông. Cuộc xung đột này chủ yếu không phải nhằm tranh chấp nguồn tài nguyên, mà là xác định ưu thế vượt trội của Trung Quốc. Cuộc xung đột này cũng sẽ xác định hướng phát triển tương lai của cán cân chiến lược và kinh tế ở khu vực. Cuối cùng nó sẽ đặt nền móng mới cho hợp tác, sự chấp nhận và trục quyền lực.

Trò chơi ma trận quyền lực hiện nay đã đạt tới hồi kết khó khăn. Hiện thời, Mỹ, từng có thời có nhiều lợi ích ở khu vực này, đang suy giảm sức mạnh. Quyền lực liên quan tới sự thay đổi ngôi vị và hiếm khi không diễn ra căng thẳng. Như vậy, sự thay đổi quyền lực thương đi kèm với xung đột. Vòng xoáy căng thẳng hiện nay sớm bắt đầu khi có sự thay đổi chủ ở Nhà Trắng. Những người của đảng Dân chủ thường cố gắng hành xử như thể một con lắc, động chạm tới những vấn đề nhạy cảm nhất mà không nhận thức được hậu quả tăng lên của nó. Khẩu hiệu G-2 (Mỹ và Trung Quốc) do Tổng thống Obama sớm đưa ra, trên thực tế đã củng cố thêm tham vọng của Trung Quốc trong việc phát động chiến dịch hung hăng được tính toán kỹ trong tranh chấp tại Biển Đông. Song Mỹ cũng không mất quá nhiều thời gian để nhận ra rằng họ đã mắc sai lầm khi nhử Trung Quốc như một đối tác hợp tác trong toàn bộ trò chơi đắt giá đối với cả hai.

Tại thời điểm hiện nay, châu Á đang là động lực đối với nền kinh tế toàn cầu. Cỗ xe tam mã Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ và sau đó là khu vực vùng Vịnh giầu dầu mỏ đóng góp phần khổng lồ vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Sự suy thoái không tác động mạnh tới kinh tế khu vực này như ở Bắc Mỹ và châu Âu. Đầu tư, công nghệ, thị trường năng động và tất cả các triển vọng khác sẽ đưa châu Á tới một mức độ phát triển tiếp theo, trong khi nền kinh tế toàn cầu suy giảm. Tuy nhiên, để điều đó trở thành thực tế, châu Á cần có hòa bình, ổn định cho tất cả các nước thuộc châu lục này. Xu hướng căng thẳng hiện nay sẽ tạo ra nhiều trở ngại hơn là có khả năng mang tới bất kỳ một giải pháp nào. Buôn bán và thương mại sẽ bị ảnh hưởng khủng khiếp ngay cả khi sự thù địch xảy ra ở một góc của khu vực Biển Đông. Ví dụ đơn giản như vấn đề của châu Âu ảnh hưởng tới một nước nhỏ như Hy Lạp hiện đang gây bất ổn cho cả các nền kinh tế ở châu Á và châu Phi. Tranh chấp ở Biển Đông có nguồn gốc từ tranh giành nguồn tài nguyên giữa các nước láng giềng song có khả năng lôi kéo toàn bộ khu vực cuốn vào bạo lực một khi cơ chế xây dựng lòng tin không được thực hiện hiệu quả. Có thể có những giải pháp khác nhau nhằm ngăn chặn xung đột. Các nước ASEAN và Trung Quốc cần phải bắt đầu sử dụng các khả năng và thử nghiệm các ý tưởng mới để nhìn lại vấn đề này với những suy nghĩ cởi mở. Điều đó sẽ mang lại kết quả hơn là chỉ thương lượng đơn thuần. Đã tới lúc Tuyên bố về cách ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC) cần phải được chuyển thành một hiệp định quốc tế cùng với một khung pháp lý để tất cả các bên hành động trong khuôn khổ giới hạn chặt chẽ.

Trung Quốc có một thị trường xuất khẩu và thương mại mạnh mẽ bằng đường biển, chiếm 60% tổng lượng các hoạt động kinh tế của nước này. Bất kỳ bất ổn nào ở khu vực đều không có lợi cho lợi ích cơ bản của chính Trung Quốc. Phương pháp cho và nhận sẽ giúp làm tăng cơ chế giải pháp với nhịp độ lớn hơn. Nếu Trung Quốc sử dụng biện pháp quân sự hóa khu vực Biển Đông thì các nước khác cũng sẽ đáp trả bằng cách này hoặc cách khác. Hiện Nhật Bản và Hàn Quốc, hầu như không có tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông đang ngày càng nói nhiều về tranh chấp và các diễn biến tại khu vực này. Một phần này của đại dương là tuyến đường biển có tầm quan trọng sống còn đối với nhiều nước. Những cuộc thương lượng liên quan tới Mỹ và nhiều nước khác ở khu vực đang diễn ra nhằm tăng cường ổn định chiến lược ở khu vực này. Một khi xảy ra xung đột, lợi ích của các nước láng giềng ở xa cũng sẽ bị tổn thương. Điều đó sẽ lôi kéo các bên cho đến nay vẫn giữ thái độ trung lập tham gia cuộc tranh chấp khi đó có thể tới hậu quả không mong muốn ở quy mô lớn hơn nhiều. Ý tưởng của Nhật Bản về thiết lập một Diễn đàn giao thông hàng hải ở Đông Bắc Á là một bước có thể đảm bảo hòa bình và ổn định trong khi thúc đẩy việc hiểu biết tốt hơn vấn đề này. Mọi vấn đề đều có giải pháp của nó, sẽ là tốt hơn nếu thử nghiệm những ý tưởng mới và thảo luận các vấn đề lo ngại chung. Một số nhà sử học cho rằng Chiến tranh thế giới lần thứ II xảy ra đơn giản là do người châu Âu sợ thảo luận vấn đề này với nước Đức và tránh thảo luận công khai về sự nổi lên của Đức. Điều đó đã khiến nước Đức vững tin rằng chương trình quân sự hóa của họ đã có tác động mạnh mẽ. Trước đây, đại đa số các nước ASEAN đều suy nghĩ theo cách tương tự về Trung Quốc. Hiện nay, ASEAN không có một lập trường cụ thể về sự can dự với Trung Quốc. Khi có một nửa số thành viên liên quan đến tranh chấp ở Biển Đông, ASEAN không thể rũ bỏ trách nhiệm của tổ chức này. Một ASEAN đoàn kết sẽ mở ra khả năng đối thoại hiệu quả với Trung Quốc. Mặt khác, Trung Quốc sẽ tôn trọng ASEAN như một khối đáng tin cậy nếu ASEAN thể hiện được sự thống nhất của mình. Không thể chỉ vì một số giếng dầu mà Trung Quốc có thể phả hỏng toàn bộ các mối quan hệ của họ. Nếu thất bại trong việc giải quyết vấn đề Biển Đông, ASEAN có thể mất đi tính thích hợp về sự tồn tại của mình. Bởi vậy, nói một cách khác, đây là thách thức rất lớn đối với nền ngoại giao của ASEAN.

*

* *

(Đài BBC 15 và 19/10)

Trước chuyến thăm Manila của Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang, một chính trị gia lâu năm của Philíppin kêu gọi Việt Nam chọn thương lượng đa phương trong khuôn khổ ASEAN về Biển Đông, chứ không đàm phán song phương với Trung Quốc.

Philippin, một trong 6 nước có tuyên bố chủ quyền ở quần đảo Trường Sa. Tổng thống Philíppin Benigno Aquino III đã nói ông dự định nêu vấn đề Biển Đông khi gặp ông Trương Tấn Sang cuối tháng này ở Manila. Trong cuộc phỏng vấn với BBC Việt ngữ tại Manila, Thượng nghị sĩ Edgardo J. Angara, từng là Chủ tịch Thượng viện (1993-1995), nhấn mạnh thế đàm phán của Manila và Hà Nội sẽ “mạnh hơn” nếu hai nước đàm phán với Bắc Kinh về Biển Đông trong khuôn khổ ASEAN và Công ước Liên hợp quốc về Luật biển. Trong lúc đó, truyền thống Philíppin đã bình luận về những tuyên bố từ Trung Quốc và Việt Nam sau chuyến thăm Bắc Kinh của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng.

Thượng nghị sĩ Edgardo J. Angara, người đang phục vụ nhiệm kỳ thứ tư ở Thượng viện Philíppin và từng là Chủ tịch sáng lập của Hiệp hội Luật ASEAN (1980), cho biết suy nghĩ về đề xuất mới nhất của chính phủ Tổng thống Benigno Aquino III liên quan tranh chấp Biển Đông. Ông nói: “Theo tôi, đề xuất của Chính phủ Philíppin mới chỉ là bước đầu tiên. Chúng tôi vẫn chưa nghe thấy phản ứng của Trung Quốc, nhưng đây là sự khởi đầu đầy hứa hẹn. Theo tôi, theo đề xuất này, chúng ta cần tách riêng những khu vực biển không tranh chấp chủ quyền. Với chúng tôi, bãi Cỏ Rong (Reed Bank), chừng 80 hải lý tính từ đảo Palawan, chắc chắn là một phần lãnh thổ của chúng tôi. Vì Trung Quốc có vẻ đòi chủ quyền đối với vùng đó, chúng tôi nói ‘Không, hãy tách riêng những nơi rõ ràng thuộc về anh và những nơi rõ ràng thuộc về tôi, tách chúng ra khỏi những vùng đang tranh chấp’. Trường Sa là vùng đang tranh chấp, không chỉ giữa Philíppin và Trung Quốc mà còn giữa nhiều nước khác như Việt Nam. Một khi đã tách những nơi không có tranh chấp, chủ đề thảo luận sẽ là liệu chúng ta có khai thác chung, hay tiến hành hoạt động trên biển chung hay không.

Philíppin khẳng định mọi hoạt động cần thực hiện theo tinh thần thoả thuận Trung Quốc-ASEAN, tức là trên nền tảng đa phương. Tôi nghĩ Trung Quốc và Việt Nam vừa có thoả thuận song phương. Nó có vẻ đi ngược lại thoả thuận Trung Quốc-ASEAN làm việc theo cả khối chứ không phải theo từng nước, trong khi Trung Quốc chỉ muốn các bên tranh chấp Trường Sa thương lượng song phương với họ. Tôi nghĩ thương lượng song phương với Trung Quốc sẽ chỉ đem lại thiệt thòi cho các nước trong ASEAN, vì sức mạnh trên biển của Trung Quốc”.

– Theo ông, điều gì mà lẽ ra Chính phủ Philíppin cần đưa vào đề xuất của mình?

+ Philíppin lẽ ra cần nói rõ là các bên cần tìm cách giải quyết vấn đề theo Công ước LHQ về luật biển (UNCLOS). Chúng ta không nên đi chệch khỏi UNCLOS vì khi đó, Philíppin và các nước ASEAN có tranh chấp sẽ bị thiệt thòi với Trung Quốc. Là một nước nhỏ và không có sức mạnh quân sự, sự bảo vệ duy nhất của chúng tôi là luật quốc tế.

– Ông lo ngại là Chính phủ Philíppin sẽ phải có nhượng bộ đáng kể để có thể giải quyêta bất đồng với Trung Quốc?

+ Không. Điều đó chỉ có thể xảy ra nếu ban lãnh đạo chính trị của đất nước chia rẽ, như chúng tôi đã chia rẽ trong tranh chấp đất Sabah với Malaixia. Vì thế đến nay tranh chấp này vẫn chưa thể giải quyết vì các lãnh đạo nước tôi không thể làm việc với nhau. Nhưng với Trường Sa, có sự đoàn kết chính trị giữa các lãnh đạo trong mọi lĩnh vực trong chính trường nước tôi.

– Cuối tháng này, Chủ tịch nước Việt Nam, Trương Tấn Sang, sẽ thăm Philíppin. Nếu gặp Chủ tịch nước Việt Nam, ông sẽ nói gì về tranh chấp Biển Đông?

+ Tôi muốn nói với ngài Chủ tịch là đừng quên hành động trong nền tảng ASEAN. Vì chúng ta chỉ mạnh khi cùng hành động. Vì thế mới có ASEAN. Điểm yếu của một nước có thể được bổ trợ bằng sức mạnh của một nước khác.

– Có ý kiến nói là dù sao Trung Quốc và Việt Nam vẫn có chung ý thức hệ Cộng sản. Thượng nghị sĩ có xem đây là trở ngại cho hợp tác bên trong ASEAN?

+ Tôi không tin như thế. Cao hơn ý thức hệ chính trị là quyền lợi chung của các dân tộc trong ASEAN. Trong 35 năm qua của ASEAN, đã có sự phát triển nhỏ nhưng chắc chắn để dẫn tới đoàn kết và cuối cùng là sự hoà nhập của các dân tộc trong ASEAN. Sẽ thật tiếc nếu đến bây giờ một quốc gia lại hành động khác với các nước còn lại.

– Ông có lo ngại trong cuộc đời mình sẽ chứng kiến một cuộc chiến tranh vì Biển Đông?

+ Philíppin chúng tôi yếu về quân sự, nên chúng tôi sẽ không thể gây chiến với Trung Quốc hay nước khổng lồ nào. Nhưng vấn đề có thể thu hút chú ý của các siêu cường, trở thành vật cạnh tranh giữa các siêu cường, đó là điều chúng tôi không muốn. Chúng ta đã xây dựng hợp tác bên trong và bên ngoài khu vực như ASEAN-Trung Quốc, ASEAN+3, APEC để ngăn ngừa xung đột. Vì thế tôi hy vọng sẽ không có chiến tranh trong đời tôi hay đời bạn. Với bước tiến công nghệ bây giờ, nhân loại không thể chịu nổi một cuộc chiến tranh nữa.

*

* *

Tiến sĩ Mark Valencia, một chuyên gia nghiên cứu lâu năm về tranh chấp Biển Đông, hiện làm tại Văn phòng nghiên cứu Quốc gia về châu Á ở Mỹ, trả lời BBC Việt ngữ bên lề hội thảo Biển Đông tại Manila ngày 16/10, cho rằng gần đây đã có những trao đổi thẳng thắn hơn về cuộc tranh chấp chủ quyền.

Tiến sĩ Mark Valencia: Một số hội thảo, như cuộc gặp lần này, tập hợp được những nhân vật “phù hợp”. Đó là những người tương đối cởi mở để khảo sát những ý tưởng và lựa chọn khác, cho dù họ ở đây thay mặt đất nước mình.

Trong nhiều năm, tại nhiều hội thảo, có những vấn đề chỉ là dịp để người tham dự nhắc lại quan điểm quốc gia mà thôi. Nay chúng ta bắt đầu chỉ ra các vấn đề. Một trong số đó là đường yêu sách 9 đoạn của Trung Quốc. Liệu Trung Quốc sẽ tiếp tục khẳng định nó, hay nhượng bộ, hay sẽ giải thích rõ hơn?

Một số nước như Philíppin và Việt Nam đã đề ra những đòi hỏi phù hợp hơn với luật biển quốc tế. Đó là bước tiến lớn, nhìn thì có vẻ tốc chậm chạp, nhưng thực ra có tiến bộ cụ thể.

Ngoài ra, sự can dự của Mỹ cũng làm tình hình dịch chuyển. Dĩ nhiên không có nghĩa là sự can dự đó sẽ hoàn toàn tích cực.

BBC: Nói về vai trò của Mỹ, không ít người cho rằng nếu xảy ra xung đột thực sự, Mỹ sẽ chẳng làm gì cụ thể cả?

Tiến sĩ Mark Valencia: Ở đây có sự nhập nhằng. Nhiều người phàn nàn rằng đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc là nhập nhằng. Khi nói về khả năng dùng vũ lực, Mỹ cũng nhập nhằng. Họ không muốn người ta biết vũ lực sẽ được sử dụng khi nào, tại sao và ở đâu, nhưng cũng đừng hoàn toàn bác bỏ khả năng ấy. Các nước cũng cần nhớ rằng khi chuyện xảy ra, cũng có thể Mỹ sẽ làm đúng như những gì họ đe doạ.

BBC: Nhưng ngay tại Philíppin, chính giới đã từng yêu cầu Mỹ nói rõ có bảo vệ Philíppin hay không nếu có xung đột ở vùng đảo tranh chấp. Kết quả đến nay vẫn không có câu trả lời rõ rệt?

Tiến sĩ Mark Valencia: Đúng vậy. Mỹ nói sẽ cung cấp thiết bị, bán vũ khí, có thể là tin tình báo, rồi đào tạo. Nhưng Mỹ không cam kết gửi quân đội. Lý do vì các tuyên bố chủ quyền trái ngược nhau không thật sự có ý nghĩa với Mỹ. Điều có ý nghĩa với họ là cái gọi là “tự do đi lại”. Tôi dùng chữ “cái gọi là” với ý nghĩa rằng cái cụm từ “tự do đi lại” là theo cách diễn giải của Mỹ, một cách diễn giải gần như mang tính tuyệt đối.

Nếu Trung Quốc bắt đầu can thiệp theo cách mà Mỹ xem là xâm phạm quyền tự do đi lại, thì có thể Mỹ có hành động. Nhưng điều đóo khác với việc ủng hộ đòi hỏi của một nước về một hòn đảo nào đó.

BBC: Một số người ở Việt Nam đề cập mong muốn Việt Nam làm đồng minh của Mỹ hay Ấn Độ để đối chọi với Trung Quốc ở Biển Đông. Ông nghĩ thế nào?

Tiến sĩ Mark Valencia: Đây là một câu hỏi khó. Sẽ tốt hơn nếu Việt Nam và Trung Quốc tự giải quyết với nhau. Nếu Việt Nam lại chơi “lá bài Mỹ”, Trung Quốc sẽ luôn nuôi cảm giác giận dữ. Người ta cần nghĩ về lâu dài, Việt Nam sẽ vẫn phải sống với Trung Quốc. Vì thế, theo tôi, sẽ tốt hơn nếu Việt Nam giải quyết vấn đề trực tiếp với Trung Quốc.

BBC: Về căn bản, đề xuất mới nhất của Chính phủ Philíppin là muốn một “mặt trận thống nhât” của ASEAN để thương lượng với Trung Quốc? Ông có nghĩ đến một “liên minh” Philíppin-Việt Nam trong việc này?

Tiến sĩ Mark Valencia: Có hai khía cạnh quan trọng để điều này có thể xảy ra. Một là phản đối đường 9 đoạn. Thứ hai, các đảo xa và nhỏ trong vùng tranh chấp không thể tạo ra vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Nếu hai nước đồng ý với nhau về hai điểm đó, nó sẽ gây khó cho Trung Quốc về mặt pháp lý.

Việc này cũng có rủi ro của nó. Trung Quốc có thể nói Công ước Liên Hợp

Quốc về Luật biển hay luật quốc tế không áp dụng ở đây. Ta biết các cường quốc thường làm thế khi tình hình đi ngược lại quyền lợi của họ. Và khi nói đến khả năng các nước có tranh chấp trong ASEAN đoàn kết, thì không hẳn dễ dàng. Malaixia và Philíppin có vấn đề chung là tranh chấp đất Sabah. Thềm lục địa của Malaixia một phần dựa trên đường cơ sở tính từ Sabah. Philíppin đã phản đối việc này lên LHQ vì Hiến pháp Philíppin nói Sabah là của Philíppin. Chừng nào việc này chưa được giải quyết thì hai nước rất khó mà thống nhất với nhau.

BBC: Trung Quốc vẫn nói đến việc “gác tranh chấp, cùng khai thác”. Ông nghĩ thế nào về tính khả thi của nó?

Tiến sĩ Mark Valencia: Tôi không nghĩ là khả thi. Khi nói về việc cùng khai thác, Trung Quốc luôn nói chúng tôi dĩ nhiên muốn cùng khai thác, miễn là các bạn công nhận chủ quyền của chúng tôi. Họ vừa nói vậy trong phòng họp. Và các nước khác nói “Không”. Đây là thềm lục địa, là vùng đặc quyền kinh tế của chúng tôi. Chúng tôi sẽ cho phép công ty của anh vào khảo sát dầu nhưng là trên cơ sở thương mại chứ không phải là khai thác chung vì các anh không có quyền ở đó.

*

* *

Nhà nghiên cứu duy nhất của Việt Nam tại hội thảo Biển Đông ở Manila phân tích những thay đổi gần đây trong chính sách Biển Đông của Trung Quốc và Việt Nam.

Tiến sĩ Trần Trường Thuỷ, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông tại Học viện Ngoại giao Việt Nam ở Hà Nội, nhấn mạnh chính sách của Trung Quốc mang tính “thử và đẩy”, dựa trên phản ứng của các nước.

Ông cũng cho phóng viên BBC đến dự hội thảo Manila biết về những điều chỉnh mới nhất trong lập trường của Việt Nam.

Tiến sĩ Trần Trường Thuỷ: Từ khi ký Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002 giữa Trung Quốc và ASEAN, Trung Quốc đã thi hành chính sách gây cảm tình để thu phục nhân tâm các nước ASEAN theo chiến lược láng giềng tốt.

Nhưng hai, ba năm gần đây, Trung Quốc có điều chỉnh vì họ mạnh lên và cũng vì nhân tố chính trị nội bộ. Tình hình nóng lên, ví dụ việc cấm đánh bắt cá, ngăn tàu khảo sát. Trung Quốc công khai hoá đường lưỡi bò. Họ tăng cường các biện pháp đơn phương như cấm đánh bắt cá, công bố dự án đầu tư thăm dò dầu khí 30 tỷ USD, đầu tư dàn khoan nước sâu. Mà những vùng nước sâu ở Biển Đông chắc chắn không nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Hải Nam.

Sự chuyển biến của Trung Quốc mang tính thử và đẩy. Họ điều chỉnh chính sách và xem phản ứng các nước như thế nào. Nếu thuận thì đẩy tiếp, nếu bị phản ứng thì điều chỉnh. Sau Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) 17, khi Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton can thiệp vào vấn đề Biển Đông, Trung Quốc tức giận một thời gian nhưng sau đó cũng điều chỉnh lại cho mềm mỏng hơn.

Điều chỉnh một giai đoạn ngắn, nhưng các sự kiện sau đó cho thấy Trung Quốc cứng rắn trở lại như vụ cắt cáp tàu thăm dò địa chấn của Việt Nam. Đến khi gặp phản ứng, Trung Quốc lại tiếp tục điều chỉnh. Trong hai, ba tháng gần đây, đã xảy ra ít sự kiện hơn. Trung Quốc đồng ý ký với ASEAN bản hướng dẫn thực thi DOC (tháng 7/2011), cũng như không có nhiều thông tin Trung Quốc bắt giữ ngư dân Việt Nam như trước đây.

BBC: Như vậy phải chăng thỏa thuận vừa ký giữa Việt Nam và Trung Quốc về vấn đề trên biển có thể đặt trong bối cảnh Trung Quốc điều chỉnh chính sách cho mềm mỏng hơn sau khi bị các nước phản ứng?

Tiến sĩ Trần Trường Thủy: Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển có 6 điểm. Hai bên cam kết giải quyết bằng con đường đàm phán, dựa trên pháp luật quốc tế tất nhiên có dựa trên lịch sử. Điểm thứ ba rất quan trọng đó là nhấn mạnh tính kiên định trong chính sách của Việt Nam, tức là những tranh chấp chỉ giữa Việt Nam và Trung Quốc thì đàm phán hai nước, nhưng những vấn đề liên quan đến các nước khác, phải đàm phán với các nước đó. Như thế các nước ASEAN mới an tâm.

Đó cũng có thể nói là bước tiến của Trung Quốc vì từ trước đến giờ, Trung Quốc chỉ kiên định đàm phán song phương kể cả những vấn đề có tranh chấp nhiều nước.

Có những điểm tích cực khác như hai nước thoả thuận tham vấn trưởng đoàn đàm phán biên giới cấp Chính phủ một năm hai lần và khi cần thiết, tức là khi có căng thẳng. Bổ trợ cho cơ chế ấy là đường dây nóng. Cơ chế mà Trung Quốc và Việt Nam có được, nếu tôi không nhầm thì là lần đầu tiên ở cả châu Á. Năm ngoái có va chạm trên biển giữa Nhật Bản và Trung Quốc. Một trong những nhân tố làm leo thang căng thẳng là giữa hai bên không có cơ chế nói chuyện trực tiếp với nhau khi cần thiết.

Việc ký kết thoả thuận thể hiện hai nước cam kết giải quyết vấn đề một cách hoà bình và muốn cho thế giới thấy có tiến bộ trong quá trình đàm phán Biển Đông.

BBC: Trong bài phát biểu, ông nói chính sách Biển Đông của Việt Nam cũng có những điều chỉnh. Ông có thể cho biết rõ hơn?

Tiến sĩ Trần Trường Thuỷ: Chính sách của Việt Nam có những cái bất biến, nhưng cũng có những điều chỉnh. Ví dụ, chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa là bất biến.

Về quan điểm đối với các vùng biển, Việt Nam có chủ quyền đối với các vùng nội thuỷ và lãnh hải từ đường cơ sở, và có chủ quyền với vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa giống như báo cáo ranh giới giữa Việt Nam và Malaixia.

Liên quan đến quy chế pháp lý của các vị trí (hình thành địa chất) ở Hoàng Sa, Trường Sa, Việt Nam không coi các vị trí ở Hoàng Sa, Trường Sa là các đảo và do đó không có các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, mà chỉ có tối đa 12 hải lý lãnh hải. Đây là bước phát triển trong chính sách của Việt Nam đối với các vùng biển và cũng phù hợp với Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển. Thực tế, các vị trí nói chung ở Hoàng Sa, Trường Sa đa số không có đời sống kinh tế riêng, nên theo Công ước Liên Hợp Quốc về luật biển, thì không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Hầu như mọi nước ASEAN đều thống nhất với quan điểm này. Nó tạo thành lập trường chung của ASEAN – tất nhiên khác với lập trường của Trung Quốc.

BBC: Sau bài thuyết trình của ông, một chuyên gia Trung Quốc, Đại sứ Trần Sỹ Cầu đứng lên phản bác một số điểm. Ông nghĩ thế nào?

Tiến sĩ Trần Trường Thuỷ: Dĩ nhiên cái nhìn của Trung Quốc thì khác. Họ xem mình có quyền với đường lưỡi bò, nên mọi hành động của các nước trong đường lưỡi bò vi phạm quyền của Trung Quốc.

Phản ứng của ông đại sứ cũng có thể là quan điểm công khai của chính phủ khi họ không công nhận Hoàng Sa có tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc. Hay họ cho rằng Trung Quốc không muốn mở rộng vùng tranh chấp. Nhưng nếu đọc các văn bản, công hàm của Trung Quốc gần đây, có thể thấy họ muốn tối đa hoá khu vực tranh chấp khi xem các vị trí Hoàng Sa, Trường Sa là các đảo, và có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Như thế, tranh chấp từ các đảo sẽ mở rộng ra rất lớn.

Phân tích của tôi cho thấy Trung Quốc muốn mở rộng khu vực tranh chấp trên cả đường lưỡi bò. Nhưng đường lưỡi bò không có giá trị pháp lý, như trong thảo luận ở cả hai buổi, tất cả đều không hiểu đường lưỡi bò là gì.

Advertisements

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
Bài này đã được đăng trong Archives, Articles, International relations và được gắn thẻ , , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s