Vai trò của Hoa Kỳ trong cuộc phong tỏa eo biển Đài Loan của TQ

Lang thang và thấy bài viêt này của Lê Mai, chẳng rõ nguồn gốc thế nào, cứ lấy về nhà mình đã.

Vai trò của Hoa Kỳ trong cuộc phong tỏa eo biển Đài Loan của TQ
Lê Mai
Hơn sáu mươi năm qua, thống nhất Đài Loan vẫn luôn luôn là vấn đề hóc búa nhất đối với TQ. Mao Trạch Đông, vào những năm cuối đời có nói, đời tôi chỉ làm hai việc lớn, một là đấu với ngài Tưởng trong mấy mươi năm, đẩy ông ta chạy ra Đài Loan. Đối với việc này lời dị nghị không nhiều, chỉ có vài người lải nhải bên tai tôi muốn thu hồi sớm hòn đảo đó mà thôi. Việc thứ hai là phát động cuộc “Đại cách mạng văn hóa”, việc này người ủng hộ không nhiều, người phản đối không ít.

Mao – một người suốt đời đấu tranh cho việc thống nhất TQ, lại có “người lải nhải bên tai” mà vì sao đành chịu, không thể thu hồi Đài Loan? Cho đến thời Đặng, TQ mới thu hồi được Hồng Kông, Ma Cao. Thiết kế thiên tài của Đặng – một nước hai chế độ, vốn thiết kế cho việc thu hồi Đài Loan, lại được áp dụng thu hồi Hồng Kông trước. Có thể nói, cả TQ và Hoa Kỳ, trong hơn nửa thế kỷ qua, đã đi những “nước cờ Đài Loan” cực kỳ thần diệu. Chỉ mấy hòn đảo đó thôi, nước Mỹ đã dùng nó để kiềm chế TQ và ngược lại, TQ cũng sử dụng vấn đề Đài Loan để thủ lợi trong chính sách đối với Hoa Kỳ.

Chúng ta cần lưu ý, nước Mỹ từ xưa đến nay chưa bao giờ đi chiếm đất của ai cả. Nhưng vai trò của nước Mỹ thì không ai có thể nghi ngờ. Trên thế giới, xẩy ra bất cứ chuyện gì, người ta đều hỏi, thái độ của nước Mỹ đối với vấn đề này như thế nào? Một đảo quốc nhỏ bé sát nách TQ như Đài Loan, sao hơn nửa thế kỷ mà TQ không thể thu hồi được, đủ biết những tính toán chiến lược toàn cầu bậc thầy của nước Mỹ.

Nhớ lại tháng 4.1949, giải phóng quân TQ với thế mạnh như chẻ tre, mở những cuộc tấn công đòi quét sạch tàn dư của Tưởng Giới Thạch ở phía Nam. Nhưng vào thời điểm ấy, không quân TQ không có mà hải quân cũng rất yếu, không thể khống chế vùng biển và hải đảo, đành bó tay vô kế khả thi. Tưởng Giới Thạch nhận thấy rất rõ điểm yếu này nên đã nhanh chóng dời đại bản doanh của mình sang Đài Loan. Thế nhưng, Mao lại nghĩ, quân giải phóng từng cơm nắm, súng trường, đánh bại quân Tưởng được Mỹ trang bị vũ khí tận răng, cho dù không có không quân và hải quân, chỉ cần bộ binh và thuyền đánh cá cũng chiếm được Đài Loan. Vào tháng 11, hai cuộc tấn công đổ bộ lên đảo ven biển Triết Giang và đảo Kim Môn ven biển Phúc Kiến thảm bại. TQ nhận được một bài học máu trong trận Kim Môn, tổn thất hơn 9.000 người. “Chúng ta nhất định phải xây dựng Hải quân lớn mạnh” – Mao Trạch Đông cảm khái một cách sâu nặng.

Ngay sau đó, TQ cử Lưu Thiếu Kỳ đi thăm Liên Xô, trình bày với Xtalin dự định tấn công Đài Loan năm 1950. Lưu đề nghị Liên Xô cung cấp cho TQ 200 máy bay, cử người huấn luyện phi công. Xtalin nhanh chóng nhận lời, song nêu rõ, nếu làm như vậy, ắt dẫn đến nguy cơ can thiệp của nước Mỹ, dẫn đến cuộc xung đột Xô – Mỹ. Xtalin rất sợ xẩy ra chiến tranh với Mỹ.

Mao lại đích thân sang Liên Xô, ông ta mềm mỏng đề nghị với Xtalin, Quốc dân đảng được chi viện đã thiết lập các căn cứ không quân, hải quân. Không có không quân và hải quân khiến cho việc đánh chiếm Đài Loan của giải phóng quân vô cùng khó khăn. Trước tình thế như vậy, chúng tôi rất lo ngại, muốn đề nghị Liên Xô viện trợ, chẳng hạn cử phi công tình nguyện hoặc cho các hạm đội bí mật cùng phối hợp đánh chiếm Đài Loan.

Xtalin tính toán, nếu sử dụng tàu ngầm và phi công tình nguyện giúp TQ tác chiến trên biển, nhất định Mỹ sẽ phát hiện, điều này nguy hiểm khôn lường. Ông nhắc Mao hiệp định Giacácta mà Liên Xô đã ký kết với Mỹ. Phá bỏ hiệp ước đó trong tình hình hiện nay không phải là điều sáng suốt. Liên Xô đề nghị, trước tiên hãy sử dụng các phương pháp như cho quân nhảy dù đổ bộ vào Đài Loan, tổ chức bạo động sau đó hãy tiến công có được không?

Đúng lúc Mao đang như ngồi phải tảng băng ở Mátxcơva thì một sự kiện xẩy ra, làm thay đổi thái độ của Xtalin. Đó là đầu tháng 1.1950, Mỹ tuyên bố, trước mắt, nước Mỹ không thiết lập căn cứ quân sự trên đất Đài Loan và vành đai an toàn của Mỹ không bao gồm Đài Loan và Nam Triều Tiên. Thế là, Xtalin đồng ý để Mao chuẩn bị các điều kiện tấn công Đài Loan, đồng thời viện trợ cho TQ 3 triệu đô la, một nửa trong số đó dùng để mua các trang thiết bị hải quân cần thiết cho cuộc tấn công Đài Loan.

Chỉ có điều Mao không ngờ tới là Xtalin đã đồng ý việc thống nhất Triều Tiên trước với Kim Nhật Thành. Ngày 25.6.1950, cuộc chiến Triều Tiên bùng nổ. Tổng thống Mỹ Truman ra lệnh cho Hạm đội 7 ngăn cản bất kỳ một cuộc tấn công nào vào Đài Loan.

Mao bất mãn đến cực độ. Mao cho rằng, quyết định về chiến tranh Triều Tiên của Xtalin là một sai lầm lớn, sai một trăm phần trăm! Mao kịch liệt phản đối hành động của Mỹ, kêu gọi đánh bại bất cứ sự khiêu khích nào của chủ nghĩa đế quốc. Tuy vậy, TQ không thể không thừa nhận, họ chưa đủ khả năng giao chiến với Mỹ trên biển. Kế hoạch đánh chiếm Đài Loan của TQ bắt buộc phải dừng lại, vì yếu tố Hoa Kỳ.

Tất nhiên, TQ chưa dừng lại ở đó. Các cuộc tấn công, phong tỏa eo biển Đài Loan của TQ những năm 1954, 1958 cho đến những năm sáu mươi đều không đem lại kết quả như ý muốn. Điều rất rõ ràng, vai trò của Hoa Kỳ trong những cuộc tấn công và phong tỏa eo biển Đài Loan là rất lớn.

Lịch sử cuộc chiến eo biển Đài Loan cũng cho chúng ta thấy sự hạn chế về sức mạnh trên biển của TQ. Mặt khác, hiển nhiên vai trò của nước Mỹ trong cuộc tranh chấp chủ quyền trên biển Đông hiện nay là không thể xem nhẹ. Nước nào xem nhẹ vai trò của nước Mỹ, nước đó sẽ thất bại – lịch sử nhắc nhở chúng ta.

Như chúng ta đã biết, Mao Trạch Đông hết sức bất mãn với quyết định chiến tranh Triều Tiên của Xtalin. Trong ý định của Mao, giải phóng Đài Loan là việc phải làm trước, bây giờ lại phải làm sau và ông ta chỉ chờ cơ hội là quyết tâm thực hiện.

Ngay sau khi cuộc chiến Triều Tiên vừa kết thúc, Quân uỷ Trung ương TQ họp ở Hàng Châu. Hội nghị trước tiên nghe Tư lệnh Quân Chí nguyện nhân dân TQ báo cáo về tình hình Triều Tiên. Người ta thấy Mao vừa say sưa hút thuốc vừa chăm chú lắng nghe, thỉnh thoảng khẽ gật đầu, đôi khi lại cười nhạt.

Báo cáo vừa xong, Mao đột nhiên nói:

– Triều Tiên đình chiến, gánh nặng trên vai chúng ta nhẹ đi rất nhiều, nhưng e rằng chưa thể lơ là, phải chuẩn bị sẵn sàng, đề phòng ngọn lửa chiến tranh lại bùng lên, phòng trước thì sau không mắc họa. Chúng ta hiện nay đã có thể rảnh tay, tôi thấy cần tập trung lực lượng giải quyết vấn đề Đài Loan. Ngay từ bây giờ phải bắt tay vào chuẩn bị, muốn được yên ổn lâu dài, không giải phóng Đài Loan không xong. Xin các vị phát biểu ý kiến về việc này.

– Tôi hoàn toàn tán thành ý kiến của Chủ tịch. Bộ trưởng Quốc phòng Bành Đức Hoài, như thường lệ đi đầu ủng hộ ý kiến của Mao. Tất nhiên, ông ta không thể ngờ được, từ Hội nghị Lư Sơn, Mao sẽ đối xử tàn tệ với ông như thế nào. Nhưng đó lại là câu chuyện về sau.

Bành Đức Hoài tiếp tục:

– Hiện giờ tình hình Triều Tiên đã ổn định, tôi thấy nên chuyển không quân về Phúc Kiến và Chiết Giang, trước hết giành lấy quyền khống chế không phận vùng ven biển, như vậy mới bảo đảm chắc chắn an toàn cho bộ đội vượt biển.

Mao gật đầu:

– Cả quyền khống chế vùng biển nữa. Không có hai quyền này khó bảo đảm an toàn cho quân ta vượt biển tác chiến. Phải nhanh chóng giành lấy hai quyền đó.

Chu Đức phát biểu:

– Ý kiến của Chủ tịch và Tổng tư lệnh Bành, tôi đều tán thành. Tôi cho rằng có thể chia làm hai bước, bước thứ nhất “dọn sạch cửa ngõ”, tức là giải phóng những đảo ven biển còn bị Quốc dân Đảng chiếm, quét dọn cửa ngõ ta cho sạch sẽ. Như vậy, vừa loại bỏ được mối đe doạ đối với vùng duyên hải Đông Nam của ta, đánh thông được đường hàng hải Nam – Bắc, mà cũng chặt đứt được tay chân của Đài Loan, không còn mối lo sau lưng khi chúng ta đi bước thứ hai giải phóng Đài Loan.

– “Dọn sạch cửa ngõ”, nói rất hay – Mao thích thú. Tôi tán thành cả hai tay.

Trần Nghị, Tư lệnh quân khu Hoa Đông:

– Tôi cho rằng “dọn sạch cửa ngõ” có thể bắt đầu từ đảo Đại Trần, nó là trung tâm chỉ huy và trọng tâm phòng ngự của quân Quốc dân Đảng đóng ở các đảo ven biển Đông Nam tỉnh Chiết Giang. Chiếm được Đại Trần tức đánh trúng chỗ hiểm của địch, tất cả những đảo khác ở ven biển Đông Nam tỉnh Chiết Giang có thể không đánh mà tan. Như vậy quân ta có thể bằng một giá tương đối rẻ đổi được một thắng lợi tương đối lớn.

– Đảo Đại Trần giao cho đồng chí Trần Nghị. Mao ra lệnh. Quân khu Hoa Đông các vị trước hết vạch kế hoạch tác chiến, sau khi được Quân ủy phê chuẩn, sẽ thực hiện. Nhất định phải nhổ cho được cái đinh đó.

Tháng 1.1954, Quân khu Hoa Đông sau nhiều lần nghiên cứu đã đề ra kế hoạch chiến dịch hải, lục, không quân phối hợp đánh chiếm đảo Đại Trần, sau khi trình Quân uỷ duyệt lập tức bắt tay chuẩn bị tác chiến.

Tuy nhiên, TQ không thể không tính đến vai trò của Hoa Kỳ trước khi hành động. Nếu cuộc chiến nổ ra, nhất định Hoa Kỳ sẽ can thiệp, Hạm đội 7 của Hoa Kỳ đang lởn vởn ở eo biển Đài Loan, làm cho vấn đề Đài Loan càng trở nên phức tạp. Đánh Đài Loan có thể gây ra phản ứng mạnh mẽ của Hoa Kỳ, đó là tình huống mà các nhà lãnh đạo TQ bắt buộc phải né tránh. Các cuộc đọ sức của hai bên ở chiến trường Triều Tiên đã cho TQ thấy rõ sức mạnh của Hoa Kỳ.

Tháng 8.1954, Bành Đức Hoài nghe quân khu Hoa Đông báo cáo phương án đổ bộ tấn công đảo Nhất Giang Sơn – đảo quan trọng nhất trong nhóm đảo Đại Trần. Nghe xong, ông ta chỉ thị, khi ném bom đảo Đại Trần phải tìm mọi cách điều tra rõ cảng Đại Trần và tầu chiến Mỹ đậu tại đó. “Nếu có tầu chiến Mỹ, chúng ta tạm thời chưa đánh, đợi sau khi chúng đi sẽ đánh, như vậy bớt được rất nhiều phiền phức. Nguyên tắc của chúng ta là không gây chuyện nhưng cũng quyết không tỏ ra mềm yếu”.

Nói vậy thôi, rõ ràng, họ sợ nước Mỹ.

Trong lúc quân TQ gấp rút chuẩn bị trận đánh, thì Hiệp ước phòng chung thủ chung giữa Mỹ và Đài Loan cũng được ráo riết tiến hành. TQ rất tức giận, lập tức lệnh cho quân đội mặt trận Phúc Kiến, “hãy dùng bom đạn tỏ rõ thái độ và lập trường của chúng ta”. Ngày 3.9.1954, quân đội TQ ở mặt trận Phúc Kiến pháo kích dữ dội vào Kim Môn, Mã Tổ, trong phút chốc, Kim Môn, Mã Tổ chìm trong khói lửa mù mịt.

Cho đến ngày 3.11, quân TQ pháo kích 47 lần vào các đảo Kim Môn lớn, Kim Môn nhỏ và Đại Trần. Nhưng tiếng đại bác không ngăn được tiến trình ký kết Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ – Đài Loan.

Hoa Kỳ cấp tốc điều 4 tầu sân bay từ Philíppin, Nhật Bản, Hồng Kông tới tuần tra mặt biển Đông Nam đảo Đại Trần. Khi đó ở hải vực TQ có 5 tầu sân bay, 3 tầu tuần dương, 40 tầu khu trục, 50 tầu đổ bộ. Hoa Kỳ trước sau đã huy động hơn 2.000 lượt chiếc máy bay hoạt động gần không phận Đại Trần, ngăn chặn quân TQ chiếm đảo này.

Hiệp ước phòng thủ chung Đài Loan – Mỹ được ký kết. Hạ viện và Thượng viện Mỹ lần lượt thông qua “Nghị quyết về Đài Loan”, nêu rõ: “giao quyền cho Tổng thống Mỹ được sử dụng quân đội Mỹ khi Tổng thống xét thấy cần thiết để bảo vệ chắc chắn những mục tiêu cụ thể ở các đảo Đài Loan và Bành Hồ khỏi bị tấn công vũ trang”.

Với vai trò đặc biệt đó của Hoa Kỳ, TQ đành phải quyết định ngừng đánh Đài Loan. Nhưng cuộc phong tỏa eo biển Đài Loan của TQ vẫn còn tiếp tục.

Tháng 7.1958, Bộ Chính trị TQ mở rộng họp tại Bắc Đới Hà, thảo luận việc pháo kích quy mô lớn vào đảo Kim Môn “để đập tan sự khiêu khích của nhà đương cục Đài Loan, đánh mạnh vào uy thế của bọn xâm lược Mỹ, ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Trung Đông”.

Mao nói:

– Đánh Kim Môn, tức là ủng hộ cuộc đấu tranh chống xâm lược của nhân dân Libăng. Dùng pháo binh mặt đất thực hiện việc pháo kích là chính và phải chuẩn bị đánh hai, ba tháng…

Mao, Bành Đức Hoài, Lâm Bưu nghe Diệp Phi – người được chọn chỉ huy trận đánh báo cáo tình hình chuẩn bị cho trận pháo kích Kim Môn. Mao vừa nghe Diệp Phi báo cáo tình hình vừa nhìn vào bản đồ.

Nghe báo cáo xong, Mao đột nhiên nêu lên một câu hỏi kỳ lạ:

– Anh dùng nhiều pháo như thế để đánh, liệu có đánh chết cả người Mỹ không?

Diệp Phi nghe xong liền nói:

– Đạn pháo không có mắt, thưa Chủ tịch.

Bành Đức Hoài ngồi bên cạnh, nói:

– Trong quân đội Tưởng cố vấn Mỹ được điều động đến tận cấp tiểu đoàn.

Tiếp theo là sự im lặng kéo dài, mọi người không nói, nhìn về Mao. Mao cũng nhìn mọi người, suy nghĩ rất lung.

Cuối cùng Mao nói:

– Có thể không đánh vào người Mỹ được không? Đừng nói Bành, ngay Mao cũng sợ đụng độ với Hoa Kỳ.

Diệp Phi lắc đầu:

– Thưa Chủ tịch, cái đó không có cách nào tránh được?

Lâm Bưu ma mãnh, hiểu sự phân vân của Mao, muốn lấy lòng Mao, bèn viết thư cho Mao đề nghị, có thể tiết lộ một ít tin tức cho Mỹ, thông qua đại diện TQ lúc này đang tiến hành đàm phán với Mỹ ở Vácsava được không? Nhưng báo cho người Mỹ biết thì cũng như báo cho phía Đài Loan rồi, còn đâu tính bất ngờ?

Dù có hung hăng, hiếu chiến đến đâu, TQ cũng vẫn phải luôn luôn kiêng nể và dè chừng Hoa Kỳ. Các cuộc phong tỏa Đài Loan – một hòn đảo nhỏ suốt bao nhiêu năm qua của TQ chỉ đưa đến kết quả rất hạn chế.

Nếu lịch sử có dạy chúng ta điều gì thì một trong những điều đó là ở đâu và chừng nào còn có sự hiện diện của Hoa Kỳ, ở đó và chừng đó TQ – dù muốn hay không, vẫn phải chịu số phận của kẻ lấp ló sau cánh gà!?

Nguồn:
http://lemaiblog.wordpress.com/2011/08/08/vai-tro-c%E1%BB%A7a-hoa-k%E1%BB%B3-trong-cu%E1%BB%99c-phong-t%E1%BB%8Fa-eo-bi%E1%BB%83n-dai-loan-c%E1%BB%A7a-tq/
http://lemaiblog.wordpress.com/2011/12/02/vai-tro-c%E1%BB%A7a-hoa-k%E1%BB%B3-trong-cu%E1%BB%99c-phong-t%E1%BB%8Fa-eo-bi%E1%BB%83n-dai-loan-c%E1%BB%A7a-trung-qu%E1%BB%91c-2/

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
This entry was posted in Archives, Articles, International relations and tagged , , , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s