VỀ MỐI QUAN HỆ KÌNH ĐỊCH MỸ-TRUNG

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ hai, ngày 9/1/2012

(phần 1)

TTXVN (Angiê 5/1)

Vào trung tuần tháng 11/2011, Tổng thống Mỹ, Barack Obama, đã thực hiện một chuyên công du đến châu Á. Tại đây, ông tham dự hội nghị thượng đỉnh APEC ở Hawaii, hội nghị thượng đỉnh ASEAN, rồi với các nước Đông Nam A tại Bali (Inđônêxia). Lịch trình đặc biệt dày đặc trong chuyến đi này của Tổng thống Obama, theo đánh giá của giới quan sát, cho thấy đây không phải là một chuyến đi mang ý nghĩa kinh tế và hữu nghị đơn thuần với các nước trong vùng mà là biểu trưng cho việc tái xác lập lợi ích của Mỹ ở châu Á cũng như gia tăng sự kình địch với Trung Quốc.

Nhà phân tích Nikolas Jucha của tạp chí “Phát thanh” gần đây cho rằng quãng thời gian đó tuy ngắn ngủi song cũng đủ để mối quan hệ Mỹ- Trung thu hút mọi sự chú ý của dư luận quốc tế, bộn bề giữa những bất đồng về tiền tệ liên quan đến vấn đề đồng nhân đân tệ và sự kình địch địa chiến lược ngày càng rõ nét.

Một xu hướng đặc biệt rõ nét xuất hiện liên quan đến vấn đề đồng nhân dân tệ. Từ năm 2005, đồng tiền của Trung Quốc được định giá vào khoảng 18-20% so với đồng USD. Đây cũng là một sự định giá lại có ý nghĩa nhưng được cho là chưa đủ đối với Mỹ. Việc Mỹ không châp nhận mức chênh lệch đó trên thực tế thể hiện trong các tuyên bố chính thức của Nhà Trắng yêu cầu Trung Quốc phải tiếp tục có những nỗ lực theo hướng này.

Theo ông Philip Golub, chuyên gia về Mỹ thuộc trường Đại học Pari VIII (Pháp), mất cân đối thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc nảy sinh do đồng nhân dân tệ yếu, đối với Tổng thống Obama, là một việc nằm trong khuôn khổ chính sách đối nội. Điều chắc chắn là Tổng thống Obama tính toán đến cuộc bầu cử tổng thống vào năm 2012, khi ông thúc ép Bắc Kinh phải định giá lại đồng nhân dân tệ, đồng thời phải hành xử như một “nền kinh tế đã chín muồi” và “tôn trọng luật lệ” của cuộc chơi. Báo chí chính thức của Trung Quốc như vậy đã không nhầm khi cáo buộc Tổng thống Mỹ “có dụng ý lợi dụng bầu cử” khi ông công khai tấn công Bắc Kinh về vấn đề đồng nhân dân tệ. Nhưng đối với chuyên gia Philip Golub, đó là tất cả những gì mà Tổng thống Obama sẽ tiếp tục làm trong năm tới với cuộc bầu cử tổng thống.

Liên quan đến tình thế mới trong vùng châu Á-Thái Bình Dương, Tổng thống Obama nói rõ rằng Mỹ đã ký hiệp định hợp tác quân sự với Ôxtrâylia. Việc “tái xác định vị thế” của Mỹ trong vùng, như chuyên gia Andrew Jones nhận định, chắc chắn xuất phát từ việc vùng châu Á-Thái Bình Dương hiện nay là vùng năng động nhất thế giới về tăng trưởng kinh tế. Dự án trao đổi mậu dịch tự do của Mỹ đối với vùng này cũng nằm trong lôgích đó. Mỹ tận dụng các cuộc gặp cấp cao trong khuân khổ APEC, ASEAN và với các nước Đông Nam Á nói trên để nắm bắt cơ hội kinh tế, từ đó đưa ra một kế hoạch hợp tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) có thể sẽ bao gồm 12 nước.

Đề xuất này khiến Trung Quốc lo ngại. Trong khi nước này hy vọng thành lập một khu trao đổi mậu dịch tự do “cấp vùng”, việc Oasinhtơn đưa ra những con bài của mình ở vùng này không phải là để thúc đẩy kế hoạch của Bắc Kinh. Biện pháp này có thể nhằm ngăn chặn việc Bắc Kinh tiếp tục thực hiện chính sách bảo hộ tiền tệ và thương mại cũng như tiếp tục phớt lờ quyền sở hữu trí tuệ.

Nhưng chuyến đi châu Á của Tổng thống Obama không đơn thuần chỉ nhằm mục đích thúc ép Trung Quốc trong vấn đề đồng nhân dân tệ. Khi tham dự hội nghị cấp cao APEC ở Hawaii, hòn đảo nơi ông sinh trưởng, Tổng thống Obama đã làm thay đổi tình thế khi ông công bố trọng tâm chiến lược của Mỹ sẽ được đưa trở lại châu Á-Thái Bình Dương. Qua chuyến công du của Tổng thống Obama, Mỹ đã khẳng định quyết tâm tái xác lập lại lợi ích chiến lược của mình: Châu Á và Thái Bình Dương là một trọng tâm chiến lược cốt lõi cả trong lĩnh vực kinh tế (điểm tiếp nối tăng trưởng) lẫn trên phương diện chính trị (sự lớn mạnh của Trung Quốc).

Các hội nghị cấp cao APEC và ASEAN là nguyên nhân dẫn đến một số lo ngại về phía Trung Quốc. Vào một thời điểm nào đó, nước này dường như đã nắm được trong tay tất cả các con bài ở châu Á-Thái Bình Dương. Trung Quốc đã hất chân Nhật Bản để đoạt lấy vị trí nền kinh tế thứ hai thế giới, mua chiếc tàu sân bay đầu tiên và trở thành cường quốc chính ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), về phần mình, Mỹ gây được sự chú ý bằng thái độ và lập trường trong vụ bán vũ khí cho Đài Loan.

Châu Á-Thái Bình Dương là nơi nảy sinh nhiều vấn đề về an ninh. Thế giới đã thấy ý định tăng cường sức mạnh hải quân của Trung Quốc là như thế nào.

Cũng như cựu Tổng thống Georges.w.Bush trước đây, Tổng thống Obama cũng đã thấy được khả năng xoay xở của mình trước Trung Quôc suy giảm do khó khăn kinh tế ở trong nước. Tình thế đó buộc ông Obama một mặt phải tính tới dư luận và áp lực trong Quốc hội hiện nằm trong tay phái Cộng hòa, mặt khác phải duy trì áp lực đối với Trung Quốc.

Đối với Oasinhtơn, vấn đề dường như là Mỹ muốn ngăn chặn tham vọng bá quyền của Trung Quốc trong vùng. Chính vì vậy, người ta có thể hiểu việc Mỹ tái triển khai lực lượng quân sự ở Thái Bình Dương. Theo chuyên gia Andrew Jones, phía Mỹ định tận dụng các mối lo ngại mà Trung Quốc gây ra cho các nước láng giềng (Việt Nam, Philíppin, Hàn Quốc, Nhật Bản, thậm chí cả Ôxtrâylia…) để xích lại gần hơn các nước này.

Trung Quốc lo ngại khi thấy ý đồ bá quyền của mình bị cản trở. Trong khi phản ứng của Mỹ có thể được nhìn nhận như một hành động chiến thuật để ngăn cản sức mạnh đang lên của Trung Quốc thì Bắc Kinh tức giận coi đó như một sự can thiệp vào công việc nội bộ của mình. Để đáp trả lại các kế hoạch của Mỹ, Bắc Kinh cảnh báo sự can dự của Mỹ vào công việc trong vùng sẽ không phải là điều tốt lành cho các nước trong vùng và cũng không tốt cho chính nền kinh tế Mỹ.

Tuy nhiên, nhà phân tích Nikolas Jucha cho rằng trong mối quan hệ Mỹ-Trung, thời thế đã thay đổi ở vùng châu Á-Thái Bình Dương. Chuyến công du của Tổng thống Obama là biểu tượng cho những vấn đề ưu tiên mới của Mỹ ở châu Á. Tất cả đều không có gì bất ngờ trừ một thứ: đó là Thái Bình Dương đang trở thành một mối ưu tiên đối với Oasinhtơn vào thời điểm Bắc Kinh muốn biến đại dương đó thành chiếc ao nhà. Cũng có thể nói rằng gió đã đổi chiều ở vùng châu Á-Thái Bình Dương và Trung Quốc không còn được tự do hành động như trước nữa.

Một quân át chủ bài khác của Mỹ trong cuộc chơi với Trung Quốc là Mianma. Bắc Kinh kêu gọi Mỹ và châu Âu chấm dứt trừng phạt đối với Mianma để thúc đẩy phát triển và ổn định trong vùng. Phản ứng này được đưa ra trong lúc Ngoại trưởng Mỹ, Hillary Clinton, đang ở thăm nước này. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc, Hồng Lỗi, nói rằng Trung Quốc hoan nghênh mối quan hệ giữa Mỹ và Mianma đang có vẻ “ấm lên” với biểu tượng là chuyến thăm của Ngoại trưởng Mỹ. Mianma và Trung Quốc đã phát triển mối quan hệ rất chặt chẽ, chủ yếu là do lệnh cấm vận của phương Tây đối với Mianma. Hồng Lỗi kêu gọi các nước có liên quan bãi bỏ cấm vận chống Mianma nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự ổn định và phát triển.

Tình hình chính trị ở Mianma có thay đổi trong thời gian gần đây, với quyền tự do đượe chính quyền mở rộng hơn. Việc trả lại tự do cho nhà hoạt động dân chủ Aung San Suu Kyi là một hành động theo hướng này. Đồng thời, mối quan hệ giữa Trung Quốc và Mianma cũng thay đổi. Năm 2011, Mianma đã ngừng dự án xây đập được Trung Quốc tài trợ khoảng 4 tỷ USD, mặc dù họ phụ thuộc vào đầu tư và hỗ trợ chính trị cũng như thương mại của Trung Quốc.

Theo nhà phân tích Nikolas Jucha, Bắc Kinh dường như sợ việc đến với Mianma trở thành phương tiện giúp Mỹ làm suy giảm ảnh hưởng của mình trong vùng. “Thời báo hoàn cầu”, một tờ báo theo xu hướng dân tộc chủ nghĩa thường viết với giọng điệu hùng hổ, nói rằng Trung Quốc sẽ không chấp nhận lợi ích của mình “bị chà đạp”, nhưng lại không thấy có vấn đề gì nếu Mianma cải thiện mối quan hệ với phương Tây.

Những tiến triển mới nhất trong tình hình ở châu Á-Thái Bình Dương được đánh giá là thuận lợi cho ý định của Mỹ tăng cường sự có mặt và ảnh hưởng của mình ở trong vùng. Mỹ cũng đang bắt đầu một chiến dịch tái lập vị thế chiến lược ở châu Á-Thái Bình Dương và cũng vừa mới ký hiệp định quân sự với Ôxtrâylia. Nhiều nhà quan sát không ngần ngại nói rằng Mỹ đã bắt đầu “thực sự vào cuộc”.

Ước muốn của Lầu Năm Góc ở châu Á

Trong năm 2010, sau nhiều lần nhắc đi nhắc lại rằng Hải quân Mỹ cũng như các chiến dịch tuần tra và hoạt động của tàu chiến Mỹ không được hoan nghênh ở vùng Tây Thái Bình Dương, Trung Quốc đang quan sát việc Mỹ tái bố trí lực lượng ở vùng này, dù không thực sự ngạc nhiên, song với vẻ khó chịu xen lẫn lo ngại. Trong lúc đó, Nhà Trắng vừa chính thức thông báo rút quân vĩnh viễn khỏi Irắc và theo kế hoạch sẽ rút quân khỏi Ápganixtan vào năm 2014.

Sự đảo chiều đó, được hỗ trợ bởi sức mạnh kinh tế và quân sự của Mỹ như chuyên gia Franoois Danjou phân tích trên tạp chí Trung Hoa ngày nay”, rõ ràng cho thấy nhãn quan mới trong hoạt động của Oasinhtơn tự cho mình là ngọn cờ đầu của nhũng giá trị dân chủ và nhân quyền. Sáng kiến này của Mỹ một mặt cho thấy đây là một phản ứng mạnh về quân sự và an ninh, mặt khác tận dụng được bối cảnh thuận lợi khi tình hình xấu đi ở Đông Nam Á do những mưu đồ quá đáng của Trung Quốc ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), gây ra.

Trước việc Mỹ tái khẳng định mình vẫn là người chủ trò ở châu Á, Trung Quốc lúc này ở vào thế phòng ngự, ra sức trấn an các đối tác của mình trong ASEAN bằng những lời hứa hẹn đối thoại song phương liên quan đến các vùng tranh chấp và cả viễn cảnh can dự sâu rộng hơn về kinh tê. Sự can dự đó sẽ được thúc đẩy với việc đi vào thực hiện hiệp ước trao đổi mậu dịch tự do ký với các nước Đông Nam Á (vào tháng 1/2010 với 6 nước sáng lập ASEAN và vào thảng 1/2015 với Mianma, Việt Nam, Lào và Campuchia).

Trong thời gian tới, tình hình xấu đi xung quanh sự kình địch giữa Mỹ và Trung Quốc có nguy cơ trở thành một cuộc cạnh tranh quyết liệt giữa hai nước này để tìm kiếm đồng minh. Cuộc cạnh tranh này sẽ không có lợi cho sự phát triển hài hòa trong vùng, đặc biệt và nhất là nếu xuất hiện mối đe dọa leo thang quân sự tự nhiên nhuốm màu chủ nghĩa dân tộc lo âu và có khả năng gây khó khăn về ngân sách và ổn định kinh tế của các bên có liên quan.

Cuộc tiến công của Mỹ, được phát động như để bác bỏ ý nghĩ cho rằng Mỹ đang suy tàn, được bắt đầu bằng một bài viết dài của Ngoại trưởng nước này, bà Hillary Clinton, trong số tháng 11/2011 của tạp chí “Foreign Affairs”. Bài viết này có nhan đề “Thế kỷ Thái Bình Dương của Mỹ” (Americas Pacific Century) đã điểm qua những ý định cũng như phương thức hành động của Mỹ ở vùng này. Chi tiết về bức ảnh minh họa bài viết cho thấy một chiếc tàu chiến Mỹ đang vào cảng Đà Nằng của Việt Nam, không phải là không đáng quan tâm.

Nội dung bài biết cho thấy sự can dự của Oasinhtơn ở châu Á cũng giống như khi Mỹ can dự vào châu Âu sau chiển tranh và xác định các đối tác ưu đãi mới của Mỹ ngoài các đối tác cũ (Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Philíppin, Ôxtrâylia). Bà Hillary Clinton cũng nói đến Ấn Độ, nước được Mỹ coi là “ván cá cược chiến lược”, và Inđônêxia, nước được Mỹ đánh giá là “nền dân chủ thứ ba trên thế giới và nước đông dân nhất trong các nước Hồi giáo”, là những nước nằm trong sự lựa chọn của Mỹ. Theo bà Hillary Clinton, mục tiêu của Mỹ là xây dựng một mạng lưới đồng minh và thể chế phù hợp với lợi ích của nước Mỹ và có hiệu quả như mạng lưới hợp tác xuyên Đại Tây Dương.

Trong tổng thể các nước bạn bè của Mỹ, Trung Quốc được coi là một mối quan hệ bắt buộc “đặt ra những thách thức lớn nhất về chính sách đối ngoại chưa bao giờ được đặt ra với Oasinhtơn” và “phải được cải cách”. Quả thực là Ngoại trưởng Mỹ ngay sau đó nói thêm rằng “cái được mất ở Trung Quốc khiến không được để mối quan hệ này sa lầy”.

Bài viết cũng 7 lần – trung bình mỗi trang một lần – nêu lên vấn đề Biển Nam Trung Hoa và quyền tự do hảng hải ở vùng biển này cũng như mối đe dọa của việc thu thập các dữ liệu nhạy cảm bằng cách “thâm nhập qua mạng”.

Nhìn chung, dấu ấn quân phiệt trong bài viết là mạnh mẽ và nổi lên gần như qua từng đoạn văn, hoặc với việc nhắc đến các liên minh truyền thống, hoặc bằng cách nói đến việc phải hiện đại hóa các liên minh đó, trong một bối cảnh sức mạnh quân sự được xem như một trong các yếu tố chứa đựng những giá trị tổng hòa: “Sức mạnh quân sự của chúng ta và sức mạnh của nền kinh tế chúng ta là những thế mạnh chắc chắn nhất để bảo vệ dân chủ và nhân quyền”. Cuối cùng, cuộc tiến công rất ngoạn mục ở chỗ gia tăng các góc độ tiếp cận mới, cộng với các dấu ấn cũ của Mỹ ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan và Philíppin.

Các góc độ tiếp cận nói trên thể hiện từ dự án thương mại “Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Bình Dương (TPP)” – trong đó loại trừ Trung Quốc do nước này không tôn trọng quy định về sự minh bạch kinh tế và dân chủ đển việc thiết lập căn cứ thủy quân lục chiến ở Ôxtrâylia và đưa tàu tuần tra đến đóng ở Xinhgapo, hay viện trợ kinh tế cho các nước vùng hạ lưu sông Mê Công (được khởi động năm 2009), một đối trọng với ảnh hưởng của Trung Quốc khi các kỹ sư của nước này bất chấp ý kiến của các nhà sinh thái và ngư dân ở vùng hạ lưu, tăng cường xây đập ở thượng lưu con sông này. Cuộc tiến công mới nhất là việc Oasinhtơn trở lại khu vực sân sau của Đông Dương với chính sách cởi mở về chính trị đối với Mianma, khu vườn cấm của Bắc Kinh.

Tất cả các cuộc tiến công nói trên được bổ sung bằng ý định duy trì một căn cứ quân sự ở Trung Á, ở bên sườn Tây của Trung Quốc, kể cả sau khi đã rút quân khỏi Apganixtan. Đây là chưa nói đến thương vụ bán 24 chiếc máy bay tiêm kích F-16 cho Inđônêxia, sau khi nước này đã mua của Nga 6 chiếc SU-30. Trong bối cảnh đó, rõ ràng là mục tiêu chiến lược của Trung Quốc ở Đông Á và Nam Á không phải là Nhật Bản, cũng không phải là Ấn Độ nữa, mà là Mỹ, với sự có mặt trong vùng là một trở ngại lớn cho việc Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng.

Việc Mỹ xen vào như vậy lại càng làm Bắc Kinh khó chịu vì tính hợp pháp chiến lược của Oasinhtơn, vốn có cội rễ sâu xa trong lịch sử cuộc chiến tranh chống Nhật Bản và Bắc Triều Tiên, nay dựa vào hình ảnh mới của Mỹ như người bảo vệ quyền lợi về biển và lãnh thố của các nước nhỏ trong ASEAN đang bị đe dọa bởi những yêu sách lố bịch của Bắc Kinh. Thêm vào đó là đầu tư của Mỹ vào Đông Nam Á vẫn cao hơn của Trung Quốc (chiếm 8,5% tổng lượng đầu tư, đứng thứ 3, sau Liên minh châu Âu và Nhật Bản, so với chỉ 2,4% của Trung Quốc).

Lúc đầu, Trung Quốc chỉ ra tuyên bố miệng để phản ứng trước tình hình mới mà các chiến lược gia của nước này đã dự đoán. Hãng thông tấn Tân Hoa Xã cáo buộc Oasinhtơn “muốn áp đặt sự lãnh đạo của mình ở châu Á, xen vào lợi ích của nước khác, gây căng thẳng và duy trì tư duy chiến tranh lạnh”. Rồi Thủ tướng Trung Quốc, Ôn Gia Bảo, nói thêm rằng “các cường quốc ngoài vùng không nên can dự vào dưới bất kỳ cái cớ nào”.

Cụ thể hơn, Bắc Kinh phải trấn an các nước ASEAN về ý định của mình. Đó là điều mà Thủ tướng Ôn Gia Bảo bắt đầu làm khi ông nhắc lại rằng các bất đồng về lãnh thổ ở biển Nam Trung Hoa sẽ được giải quyết theo Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002, nhưng các điều khoản của văn bản này vẫn không mang tính bắt buộc về mặt pháp lý. Để khẳng định ảnh hưởng của mình trong vùng, Trung Quốc cũng có một thứ vũ khí thương mại: đó là các hiệp định trao đối mậu dịch tự do ký với tất cả các nước ASEAN.

Đó là một đối trọng đáng kể với dự án TPP được đưa ra chậm hơn nhiều, và lại được Bắc Kinh hứa hẹn sẽ bổ sung thêm bằng tăng đầu tư vào vùng này. Cuối cùng, có thể Trung Quốc sẽ tiếp tục sử dụng áp lực trực tiếp đối với một số nước. Một số báo của Trung Quốc đã coi Philíppin là vật hy sinh, là mục tiêu đầu tiên của chiến lược đe dọa và chia rẽ cô lỗ sĩ.

Cuộc điều chỉnh mang tính ganh đua này không chắc có lợi cho Trung Quốc bởi lẽ nhờ đó sẽ có thêm triển vọng cho vai trò đối trọng về an ninh mà Nhà Trắng muốn có và lại được phần lớn các nước đón nhận với tâm trạng nhẹ nhõm. Vụ một thuyền trưởng tàu đánh cá Trung Quốc sát hại một sĩ quan lực lượng bảo vệ bờ biển Hàn Quốc xảy ra mới đây ở biển Hoàng Hải, sau vụ một tàu cá Trung Quốc hung hãn đâm vào một tàu tuần tra của Nhật Bản ở biển Hoa Đông vào mùa Thu năm 2010, là không thuận để xoa dịu nỗi lo ngại của các nước trong vùng trước thái độ hiếu chiến của Trung Quốc. Hơn nữa, các nước này đang lo ngại theo dõi các vụ thử nghiệm chiếc tàu sân bay đầu tiên của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc.

Nhưng muốn lùi lại trước sự kình địch sức mạnh đó, Oasinhtơn cần tự hỏi có cần thiết phải xác lập vị thế như vậy không, vì làm như vậy, Nhà Trắng đang bị cuốn vào một chiến lược nhằm vào Trung Quốc, nước muốn nói gì thì nói đang trở thành tiêu điểm trong chính sách của Mỹ ở châu Á. Điều đó sẽ làm giảm khả năng xoay xở của Mỹ. Thêm vào đó là trách nhiệm ngày càng nặng nề phải bảo đảm an ninh của toàn vùng trong khi viễn cảnh cắt giảm mạnh ngân sách đang đè nặng lên Lầu Năm Góc.

Quốc hội Mỹ đã có những dấu hiệu cho thấy có thể sẽ có sự chuyển hướng chống Trung Quốc trái ngược với các chiến lược hợp tác trước đây với Bắc Kinh. Theo định hướng mới, có thể Trung Quốc không phải là một đổi tác vừa khó chơi vừa bắt buộc nữa, mà có thể là một địch thủ có những ưu tiên đi ngược lại lợi ích của Oasinhtơn. Mặc dù nói ra thì dễ nhưng làm thì khó, song chiến lược đó chỉ hoàn toàn nhằm mục đích tách Trung Quốc khỏi các nguồn cung ứng và các đối tác thương mại chính của nước này, đồng thời qua đó thậm chí đe dọa sự tăng trưởng vốn là nguồn chính tạo ra tính hợp pháp của quyền lực.

Ở Mỹ và Ôxtrâylia, có một số tiếng nói lẻ tẻ phê phán trực tiếp lập trường của ngành ngoại giao Mỹ. Ông Kenneth Lieberthal, một người gần gũi với Trung Quốc và trước là cố vấn về châu Á trong Hội đồng an ninh quốc gia dưới thời Tổng thống Clinton, mới đây giải thích rằng lối nói của Mỹ có tính khiêu khích không cần thiết.

Đầu tháng 12/2011, Pacific Center of Hawai đăng một bài báo của một nhà nghiên cứu Ôxtrâylia nhấn mạnh đến những rủi ro trong quan hệ kình địch giữa Mỹ và Trung Quốc vốn được coi như tiêu chuẩn duy nhất cho ổn định và tiến bộ ở Thái Bình Dương. Quan điểm này bỏ qua tầm quan trọng của tình hình nội bộ ở các nước – dù đó là nước nào – vai trò trong tương lai cửa Nhật Bản, Ấn Độ, và của các cường quốc trung bình ở Đông Nam Á, như Inđônêxia và Việt Nam. Bài viết đó không quan tâm nhiều đến số phận của bán đảo Triều Tiên hay vai trò của các thể chế trong ASEAN hiện vẫn chưa rõ ràng.

Khi điểm qua tính đa dạng của châu Á, trái ngược với cách tiếp cận hai chiều, bài báo trên có vẻ quá lý tưởng hóa, kết luận: “Châu Á thì quá đa dạng, song cực không tồn tại ở châu Á và nay lại càng có ít chỗ đứng ở đây hơn. Các nước trong vùng có thể phải cố gắng thoát khỏi lôgích song cực bó buộc đó. Trung Quốc và Mỹ có thách thức nội tại của họ và đang nhảy vào vòng hứa hẹn. Đối với các nước khác, đã đến lúc phải khích lệ một cách tiếp tận đa phương về cơ cấu an ninh ở châu Á.”

Trong khung cảnh căng thẳng gia tăng vẫn có một số dấu mốc có tính trấn an trong quan hệ Trung-Mỹ. Đúng là Trung Quốc càng mở rộng sức mạnh mới thì mối quan hệ đó ngày càng gặp nhiều trở ngại. Nhưng mối quan hệ đó cũng được đánh dấu bằng sự phụ thuộc lẫn nhau nhiều về kinh tế và thương mại, được giới hạn bởi các hành động qua lại ở cập cao nhất, như đối thoại kinh tế và chiến lược hay trao đổi giữa các cơ quan quốc phòng, với phiên họp mới nhất vừa diễn ra ngày 7/12/2011 tại Bắc Kinh.

Các kênh tiếp xúc đó lại càng cần thiết vì Bắc Kinh dường như không có khả năng thoát khỏi những lệch lạc mang tính dân tộc chủ nghĩa đi kèm với giấc mộng đế chế ở biển Nam Trung Hoa, vốn là một thứ thay thế cho tính hợp pháp đang lung lay ở trong nước. Trong khi đó, phản ứng của Oasinhtơn hỗ trợ cho phát triển kinh tế, trao đổi thương mại tự do, luật pháp quốc tế, sự lãnh đặo tốt và nhân quyền, cũng làm cơ sở cho quyết tâm khước từ sự suy tàn của Mỹ, rất dân tộc chủ nghĩa nhưng cũng rất xúc cảm.

Hợp tác hay kiềm chế ở châu Á-Thái Bình Dương?

Mọi hợp tác quân sự giữa Mỹ và Trung Quốc đã bị đóng băng từ sau hợp đồng bán vũ khí trị giá 5,85 tỷ USD vào tháng 9/2011 giữa Oasinhtơn và Đài Bắc. Tuy nhiên, tạp chí “Affaires Stratégiques” nhận định cuộc gặp tham vấn lần thứ 12 trong lĩnh vực quốc phòng (DCT) diễn ra ngày 7/12 tại Bắc Kinh được xem là một cơ hội thuận lợi để làm tan băng mối quan hệ giữa hai nước trong lĩnh vực quân sự.

Trong khi Mỹ nới lỏng dần sự kiểm soát ở Ápganixtan và Irắc, giới quan sát cho rằng Mỹ sẽ đầu tư nhiều hơn vào châu Á-Thái Bình Dương. Tổng thống Obama mới đây thông báo Mỹ sẽ can dự nhiều hơn vào toàn vùng châu Á-Thái Bình Dương. Tháng 11/2011, giới quan sát nhận thấy các ưu tiên chiên lược của Mỹ được chuyển dịch thêm một chút về phía Đông. Tổng thống Mỹ, Barack Obama, và Thủ tướng Ôxtrâylia, Julia Gillard, cùng tuyên bố tại Canbơrơ sẽ triển khai hơn 2.500 lính thủy đánh bộ Mỹ ở căn cứ Darwin (Ôxtrâvlia) bắt đầu từ giữa năm 2012. Đồng thời Mỹ sẽ tăng cường các cuộc tập trận với các nước trong vùng.

Trung Quốc cáo buộc Mỹ áp dụng chiến lược quân sự kiềm chế chống lại mình thông qua hợp tác chặt chẽ với Việt Nam, Philíppin và Nhật Bản, cũng như không cung cấp đầy đủ thông tin về tham vọng lâu dài của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương. Về phần mình, Mỹ tỏ ra lo ngại sau khi Trung Quốc tiến hành thử nghiệm chiếc tàu sân bay đầu tiên trên biển vào cuối tháng 11/2011, vì đối với Mỹ, đây là biểu tượng của việc gia tăng ý đồ quân sự của Trung Quốc trong vùng. Do vậy, cuộc gặp tham vấn ngày 7/12 cho thấy thực trạng mối quan hệ hợp tác quân sự giữa Mỹ và Trung Quốc là như thế nào, mặc dù hai nước có quan hệ hợp tác thương mại đáng kể. Dẫn đầu phái đoàn Mỹ là Thứ trưởng Quốc phòng phụ trách chính sách, Michèle Flournoy, và về phía Trung Quốc là tướng Mã Hiểu Thiên, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Phái đoàn Mỹ bao gồm 20 quan chức thuộc các Bộ Quốc phòng và Ngoại giao, và đại diện Bộ chỉ huy quân đội Mỹ tại Thái Bình Dương, Hải quân và không quân.

Các cuộc gặp như thế này nhằm mục đích kiểm soát và ngăn ngừa rủi ro cũng như tránh những sai lầm trong đánh giá tình hình chiến lược ở phía bên này hay phía bên kia. Các cuộc gặp này cũng giúp các đại diện cao cấp nhất của Bắc Kinh và Oasinhtơn có được khuôn khổ thuận lợi cho việc thảo luận một số vấn đề liên quan đến quốc phòng và an ninh mà hai nước cùng quan tâm.

Theo tướng Mã Hiểu Thiên, Chính phủ Trung Quốc rất quan tâm đến các cuộc gặp tham vấn vì qua đó có thể cải thiện tình hình cung cấp thông tin, tăng cường triển vọng hợp tác và ngăn ngừa rủi ro. Ông còn cho rằng cuộc gặp lần này cho thấy thái độ chân thành của hai nước trong việc duy trì hợp tác quân sự. về phần mình, bà Michèle Flournoy nói rằng 2011 là năm có tính chất cốt tử đối với mối quan hệ song phương với Trung Quốc. Bà cũng nhấn mạnh đến sự cần thiết phải kiểm soát quá trình phát triển hợp tác về các vấn đề mà hai nước cùng quan tâm.

Cuộc gặp tham vấn lần thứ 12 tại Bắc Kinh xác định lịch trình các chuyến thăm viếng lẫn nhau trong lĩnh vực quốc phòng. Hai bên thảo luận về hợp đồng vũ khí bán cho Đài Loan, mối nguy hiểm của nạn cướp biển, an ninh liên quan đến Internet, thậm chí cả cái được mất tại các vùng nhạy cảm như Bắc Phi, Trung Đông, Ápganixtan-Pakixtan, bán đảo Triều Tiên và biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Các cuộc gặp tham vấn diễn ra gần như mỗi năm một lần kể từ năm 1997 sau thỏa thuận đạt được giữa Tổng thống Bill Clinton và Chủ tịch Giang Trạch Dân. Trong cuộc tham vấn lần thứ 11 vào tháng 12/2010, chủ đề chính là an ninh trong vùng, tại các vùng nhạy cảm như châu Phi, Bắc Triều Tiên, Ápganixtan-Pakixtan, thậm chí cả Iran. Hai bên cũng đưa ra một số ý kiến về cán cân tên lửa đạn đạo cũng như lập trường của Mỹ về vấn đề hạt nhân.

Theo “Affaires Stratégiques”, cuộc gặp tham vấn tại Bắc Kinh là hàn thử biểu đối với mối quan hệ quân sự giữa Mỹ và Trung Quốc mới được khôi phục sau vụ Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan. Tại đây, chắc chắn Bắc Kinh đòi Oasinhtơn phải giải thích rõ ràng về thỏa thuận quân sự mới Ôxtrâylia, các hoạt động quân sự xung quanh Trung Quốc, đặc biệt là các cuộc tập trận ở biển Nam Trung Hoa với các nước có xung đột biên giới với Trung Quốc. Tướng Lạc Viên, thuộc Viện hàn lâm khoa học quân sự Trung Quốc, nói Mỹ luôn yêu cầu Trung Quốc phải minh bạch về chiến lược và bây giờ đến lượt Mỹ phải nói rõ ý định của mình.

Cái được mất của các cuộc tham vấn dường như trở nên quan trọng hơn trong bối cảnh tái lập các cuộc trao đổi giữa Bộ tổng tham mưu quân đội hai nước, kể từ sau tuyên bố của Tổng thống Obama vào tháng 9/2011 liên quan đến hợp đồng bán vũ khí trị giá 5,85 tỷ USD cho Đài Loan Hợp đồng này quy định nâng cấp kỹ thuật cho 145 máy bay tiêm kích F16 A/B của Đài Bắc, nhưng không cung cấp công nghệ F16 C/D mà Đài Bắc yêu cầu song bị Oasinhtơn từ chối dưới sức ép của Bắc Kinh. Trong những tuần lễ sau khi hợp đồng này được quyết định, Chính phủ Trung Quốc đã hoãn chuyến thăm của Tư lệnh quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương, cũng như các cuộc tập trận chung hay trao đổi trong lĩnh vực quân y. Mỹ đang có ý định đưa trở lại các sự kiện đó vào chương trình. Việc nối lại các cuộc thảo luận trong khuôn khổ DCT dường như cho thấy Bắc Kinh hiểu họ sẽ không có lợi gì nếu ngừng mối quan hệ quân sự song phương. Hơn nữa, tiến bộ trong hợp tác quân sự giữa hai nước còn tương đối ít so với sự gia tăng liên tục trong hợp tác kinh tế và thương mại giúp hai nước được lợi về kinh tế.

Tuy nhiên, theo đánh giá của một số nhà phân tích thuộc Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế, không chắc Trung Quốc đã sẵn sàng khôi, phục toàn bộ hợp tác song phương trong lĩnh vực quân sự. Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc chắc chắn sẽ phê phán Mỹ về quyết định hồi tháng 11/2011 chuyển 2.500 lính thủy đánh bộ cũng như một số phi đoàn máy bay tiêm kích từ Okinawa ở Nhật Bản sang Ôxtrâylia, số lính này có thể sẽ huấn luyện chung với lực lượng quân đội Ôxtrâylia tại căn cứ quân sự Darwin. Hơn nữa, Mỹ cũng tăng cường hợp tác quân sự với Nhật Bản, Philíppin và Việt Nam. Điều này khiến Trung Quốc lo ngại đây là chính sách kiềm chế của Mỹ chống lại họ. Trung Quốc cũng có thể phê phán Mỹ tiến hành các phi vụ trinh sát và cảnh giới trên vùng đặc quyền kinh tê (EEZ) của mình kéo dài 200 hải lý tính từ bờ biển.

về phần minh, Trung Quốc cũng có những hành động khiến Chính phủ Mỹ lo ngại. Việc thử nghiệm kỹ thuật chiếc tàu sân bay đầu tiên vào cuối tháng 11/2011, theo “Affaires Stratégiques”, là bằng chứng cho thấy Trung Quốc tăng cường sức mạnh quân sự trên biến. Hơn nữa, Chủ tịch Trung Quốc, Hồ cẩm Đào, ngày 5/12 đã kêu gọi Hải quân nước này sẵn sàng chiến đấu và tiếp tục hiện đại hóa để bảo vệ an ninh quốc gia và hòa bình thế giới. Với tư cách là Chủ tịch Quân ủy trung ương, ông ra lệnh cho quân đội, đặc biệt là Hải quân, chuấn bị cho cuộc chiến quân sự trong tương lai. Quân đội Trung Quốc trước đó đã thông báo sẽ tiến hành tập trận ở Tây Thái Bình Dương. Kế hoạch này được công bố ngay sau chuyển công du châu Á-Thái Bình Dương của Tổng thống Mỹ, Barack Obama, trong đó ông thông báo tăng cường sự có mặt của Mỹ về quân sự ở Ôxtrâylia.

Mối quan tâm của tất cả các chính quyền ở Mỹ đối với Thái Bình Dương không phải là mới, nhưng dường như được tăng cường hơn trong thời gian gần đây sau khi Tống thống Obama lên nắm quyền. Liệu đó có phải là một cách để đáp trả tham vọng hải quân của Trung Quốc hay không? Không ai không biết Trung Quốc muốn trong thời gian sắp tới có khả năng kiểm soát toàn bộ việc đi lại trên biển trong vùng và từ đó biến Thái Bình Dương thành lãnh thổ của mình. Rõ ràng là tham vọng của Bắc Kinh đang chống lại các liên minh của Oasinhtơn. Nhưng vào thời điểm này, chuyên gia Nikolas Jucha khẳng định các tham vọng đó rõ ràng đang bị cản trở bởi mạng lưới đồng minh do Mỹ thiết lập, cụ thể với Nhật Bản và Hàn Quốc, hai trong số các cường quốc trong vùng.

Hiện nay, Oasinhtơn đang khai thác mối lo ngại mà Trung Quốc gây ra cho các nước láng giềng, đặc biệt là những bất đồng trên biển liên quan đến các quần đảo Điếu Ngư. (với Nhật Bản), Hoàng Sa, Trường Sa (với Việt Nam, Philíppin…). Theo ông Jean-Vincent Brisset, Giám đốc nghiên cứu thuộc Viện quan hệ quốc tế và chiến lược Pháp (IRIS), những yêu sách của Trung Quốc và lập luận của họ – tính hợp pháp lịch sử – là quá đáng, vì một vài (Hoàng Sa, Trường Sa) trong số các quần đảo nói trên được quân đội Pháp phát hiện ra trong thời kỳ họ chiếm đóng Đông Dương. Thái độ của Trung Quốc – khi Bắc Kinh tỏ ra không muốn tiến hành đối thoại – rốt cuộc lại có lợi cho chính ngành ngoại giao của Mỹ. Nhưng Mỹ cũng phải chấp nhận một hạn chế không nhỏ: các nước láng giềng khác nhau của Trung Quốc, dù bản chất của bất đồng là gì, cũng không thể để xảy ra cãi cọ quá mức với nước này vì họ còn có nhu cầu thương mại.

Mỹ lo ngại trước mối nguy Trung Quốc

Thời gian gần đây, đối thoại chiến lược, đặc biệt trong lĩnh vực quân sự giữa Mỹ và Trung Quốc đã được nối lại. Nhưng giới quan sát nhận xét khó khăn ngày càng chồng chất, trái ngược với sự chờ đợi của dư luận. Sau mỗi lần Oasinhtơn đưa ra tuyên bố khá cứng rắn, Bắc Kinh ngay lập tức đáp trả. Tạp chí “Phát thanh” dẫn lời một số nhà phân tích cho rằng tuy bề ngoài mối quan hệ trong lĩnh vực quân sự giữa Trung Quốc và Mỹ có vẻ hài hòa, song không thể che giấu được những căng thẳng ngấm ngầm và sự kình địch chiến lược.

Các sĩ quan cao cấp Trung Quốc và Mỹ giữa tháng 5/2011 đã gặp nhau tại Oasinhtơn để thảo luận về quan hệ giữa hai nước cũng như những vấn đề quốc tế và khu vực. Cuộc gặp diễn ra dưới sự chủ trì của tướng Trần Bính Đức, Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc; và Đô đốc Mike Mullen, Chử tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ.

Tướng Trần cho biết chuyến thăm của ông nhằm mục đích thực hiện thỏa thuận quan trọng đạt được giữa Chủ tịch Trung Quốc, Hồ Câm Đào, và Tổng thống Mỹ, Barack Obama, nhằm phát triển quan hệ song phương trong lĩnh vực quân sự. Đối với Đô đốc Mullen, đây cũng là cơ hội để thắt chặt hơn nữa mối quan hệ quân sự phục vụ cho lợi ích của hai nước và mở rộng hợp tác trong nhiều vấn đề quốc tế và khu vực.

Đây là chuyến thăm Mỹ đầu tiên của một Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc kể từ 7 năm nay. Tại Mỹ, tướng Trần phê phán các cuộc tập trận của Mỹ ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), mô tả các cuộc tập trận đó là “cực kỳ không đúng lúc” và yêu cầu Oasinhtơn tránh xa các cuộc xung đột trong vùng. Hải quân Mỹ hồi giữa năm 2011 đã tham gia cuộc tập trận kéo dài 11 ngày với Philíppin và sau đó với Việt Nam.

Giới chức Mỹ tuyên bố các cuộc tập trận đó nằm trong một chương trình thông lệ. Tuy nhiên, tướng Trần dường như đưa ra lời phê phán mạnh mẽ hơn. Tạp chí “Phát thanh” dẫn lời ông Trần nói: “Đù phía Mỹ nhiều lần bày tỏ ý định không can thiệp vào tranh chấp ở biển Nam Trung Hoa, song bằng hành động lại cho thế giới thấy dấu hiệu trái ngược.” Đô đốc Mike Mullen đã bác bỏ lời phê phán đó, nhấn mạnh Mỹ duy trì các cuộc tập trận như vậy với các đồng minh của mình trong vùng và cảnh báo những hiểu lầm như vậy có thể dẫn đến một “bệnh dịch không ai có thế báo trước được”. Giới quan sát cho rằng việc Mỹ tập trận chung trên biển với các nước trong vùng khiến Bắc Kinh cảm thấy khó chịu.

Theo tạp-chí “Phát thanh”, tướng Trần cũng than phiền việc máy bay và tàu chiến Mỹ “thường xuyên tiến hành hoạt động do thám ngoài khơi bờ biển Trung Quốc”. Còn tờ “Wall Street” dẫn lời Đô đốc Mike Mụllen đáp lại rằng “Mỹ sẽ không rời xa biển Nam Trung Hoa” và các cuộc trinh sát là “phù hợp với công ước quốc tế”. Tướng Trần còn nhận xét rằng Mỹ chi quá nhiều tiền vào lĩnh vực quân sự và gợi ý một “kịch bản tốt nhất” theo đó Chính phủ Mỹ nên chi tiền nhiều hơn để nâng cao mức sống của dân chúng.

Những lời đối đáp qua lại giữa Mỹ và Trung Quốc, theo giới phân tích, cho thấy tuy đã nối lại đối thoại, song quan hệ giữa hai nước vẫn không êm thấm. Bất đồng quan điểm về tình hình Bắc Triều Tiên và các vụ bán vũ khí của Mỹ cho Đài Loan, hòn đảo mà Trung Quốc coi là một tỉnh nổi loạn, cũng như việc Trung Quốc gia tăng tiềm lực quốc phòng, đã dẫn đến sự căng thẳng giữa hai cường quốc.

Trung Quốc gia tăng đáng kể năng lực quân sự trong những năm gần đây, cụ thể là chế tạo máy bay chiến đấu tàng hình thế hệ mới, tăng cường lực lượng tên lửa và các hạm đội tàu ngầm hạt nhân có khả năng mang tên lưa đạn đạo và đưa vào chạy thử tàu sân bay. Lầu Năm Góc đặt nhiều dấu hỏi về hậu quả của những hành động đó đổi với sự ổn định trong vùng.

Theo ông Michael Schiffer, Thứ trưởng Quốc phòng Mỹ phụ trách châu Á, nhịp độ và quy mô đầu tư ồ ạt vào quân sự cho phép Trung Quốc đạt được năng lực mà Mỹ tin rằng hoàn toàn có thể làm mất ổn định sự cân bằng quân sự trong vùng. Khả năng quân sự của Trung Quốc làm gia tăng nguy cơ gây hiểu lầm và sai lầm trong tính toán, và có thể làm gia tăng căng thẳng và lo ngại trong vùng. Để trấn an thế giới về ý định của Trung Quốc, tướng Trần tuyên bố trước các sĩ quan Mỹ tại Học viện quốc phòng: “Thế giới không có lý do gì để lo ngại. Sự lớn mạnh của Trung Quốc không gây ra mối quan ngại.”

Trong thời kỳ 2000-2008, ngân sách quốc phòng của Trung Quốc tăng gấp 3 lần. Mỹ, cường quốc quân sự hàng đầu thế giới, tỏ ra lo ngại trước sự gia tăng này. Để theo dõi sự phát triển về quân sự của Trung Quốc, Bộ Quốc phòng Mỹ hàng năm đều soạn thảo Báo cáo về sức mạnh quân sự Trung Quốc rồi sau đó đệ trình lên Quốc hội. Việc công bố báo cáo này cho năm 2010 đã bị chậm lại 5 tháng để khỏi trùng với chuyến thăm Bắc Kinh của Phó Tổng thống Mỹ, Joe Biden, vào tháng 7/2011.

Trong bản báo cáo 94 trang có tên gọi “Phát triển quân sự và an ninh liên quan đến Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” nói về sự phát triển gần đây của hải quân và việc quân đội Trung Quốc tiếp cận với công nghệ mới, Bộ Quốc phòng Mỹ lên tiếng cảnh báo việc năng lực quân sự của Trung Quốc gia tăng sẽ tác động đến sự ổn định trong vùng, nhấn mạnh đến hai điểm chính khiến Lầu Năm Góc lo ngại: kho vũ khí hạt nhân của Trung Quốc được tăng cường và nước này sở hữu tàu sân bay.

Hãng thông tấn Nhà nước Tân Hoa Xã cho rằng sự bành trướng quân sự của Trung Quốc nằm trong khuôn khổ “chính sách quốc phòng không xâm lược”. Hãng này hoan nghênh Mỹ đã “thừa nhận và tỏ thải độ thuận lợi đối với những đóng góp của Trung Quốc vào an ninh của thế giới”, nhưng cho rằng báo cáo này “không nói gì đến chính sách quốc phòng hòa bình” của Trung Quốc.

Theo ông Jean-Vincent Brisset, Giám đốc nghiên cứu thuộc Viện quan hệ quốc tế và chiến lược Pháp (IRIS), trong số các vấn đề được Bộ Quốc phòng Mỹ đề cập đến, quan trọng nhất chắc chắn là ý đồ của Trung Quốc trong việc trang bị các loại vũ khí để trở thành cường quốc hàng đàu ở Tây Thái Bình Dương và biển Nam Trung Hoa (Biển Đông).

Việc công bố chuyến bay thử đầu tiên của máy bay tiêm kích thế hệ mới J-20, được cho là có thể tấn công tàu sân bay Mỹ nhờ khả năng tàng hình, diễn ra ngay vào thời điểm Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ lúc đó là Robert Gates đang ở thăm Trung Quốc để “hàn gắn rạn nứt”. Đối với các nhà quan sát nghiêm túc, sự kiện đó, được dự kiến từ một thời gian trước đó, chắc chắn là một sự trùng lặp ngẫu nhiên hơn là một cái gì khác. Cũng như vậy, những lần công bố tiếp sau đó chỉ đơn thuần là sự phát triên lôgích của chính sách chế tạo vũ khí mới, trước Hết là tên lửa đạn đạo chống hạm DF-21D. Thiết kế của loại tên lửa này không phải là mới, song việc chế tạo thực tế đã đặt ra một số vấn đề mà một số nước đã từng nghiên cứu vấn đề này, như Mỹ và Liên Xô, đánh giá phức tạp đến mức họ đã hủy bỏ công tác nghiên cứu vì cho rằng công sức và tiền của bỏ ra không xứng đáng. Điều đó hơn nữa cũng đúng vì ngoài sự tồn tại và năng lực tác chiến có thể có của loại tên lửa đó, những hệ lụy chính trị nảy sinh từ việc sử dụng loại trên lửa này có thể sẽ khiến cho việc kiểm soát chúng trở nên khó khăn hơn.

Một thông báo khác, cũng được chờ đợi và không mấy gây ngạc nhiên, là chuyến đi biển thử nghiệm đầu tiên của Thi Lang, chiếc tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc. Trên thực tế, đây là một con tàu sân bay cũ được đóng từ thời Liên Xô nhưng chưa hoàn thành, và chiếc vỏ tàu rỗng được Trung Quốc mua với ý định biến thành một sòng bạc nổi, nhưng sau đó lại phục hồi nguyên trạng. Con tàu này được cho là sẽ trở thành tàu huấn luyện của lực lượng hải quân tương lai của Trung Quốc vì cho đến nay nó chưa mang máy bay trên boong. Như Bắc Kinh thú nhận, tàu Thi Lang không có khả năng trở thành một công cụ triển khai sức mạnh mà chí là bước khởi đầu của việc thành lập các nhóm tàu tấn công tương lai dường như đang được chuẩn bị.

Chuyên gia Jean-Vincent Brisset cũng trấn an khi nói rằng cho đến lúc này chưa có một chiếc máy bay nào trên đó. Ông dẫn lời ông Michael Schiffer, Thứ trưởng Quốc phòng Mỹ, nói phải mất một số năm nữa con tàu này mới đạt được khả năng tác chiến tối thiểu. Mặt khác, báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ cho biết vì Trung Quốc mới có tàu sân bay này trong năm nay nên phải đến năm 2015 con tàu này mới có thể tác chiến được.

Mỹ lo ngại bước tiến của Trung Quốc gây ảnh hưởng tới sự vượt trội lâu dài về quân sự của mình ở Thái Bình Dương. Do đó, Mỹ cáo buộc Bắc Kinh sử dụng biện pháp hung hãn chống các nước láng giềng mỗi khi xảy ra bất đồng về vấn đề lãnh thổ, như ở biển Nam Trang Hoa. Ông Michael Schiffer cũng nhấn mạnh đến sự có mặt của Hải quân Trung Quốc trong vùng có thể gây ra tác động nặng nề đối với toàn vùng và sự kình địch giữa các nước trong vùng có thể lại tái diễn sau một thời gian rơi vào quên lãng.

Tuy nhiên, Trung Quốc cho rằng mình không có ý định bắt nạt ai và nói chương trình quân sự của mình chỉ là một phương tiện đơn thuần để tự vệ trước các cuộc tấn công có thể xảy ra. Mỗi lần khái niệm đe dọa được nói đến, Chính phủ Trung Quốc lại vẫn dùng luận điệu quen thuộc, nhắc đi nhắc lại rằng họ không hề có ý định sử dụng sức mạnh quân sự vào mục đích xâm hại nước khác. Bắc Kinh cũng nhấn mạnh đến việc trong số 5 nước ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, họ là nước cuối cùng có tàu sân bay.

Nhưng các nước phương Tây vẫn rất nghi ngờ trước lập luận này của Trung Quốc. Những công bố về “thành quả” quân sự của Bắc Kinh củng cố các giả thiết theo đổ nước này muốn sở hữu một lực lượng hải quân có khả năng không những chống lại được lực lượng can thiệp của Mỹ mà còn “áp đặt” được sự kiểm soát của Trung Quốc trong vùng đặc quyền kinh tế và thật xa hơn nữa. Trong giai đoạn đầu (đến năm 2020), “chuỗi đảo thứ nhất” có thể sẽ bao gồm Hoàng Hải, Đài Loan và toàn bộ biển Nam Trung Hoa. “Chuỗi đảo thứ hai”, một đường biên giới mới được vẽ ra cho năm 2040, có thể chạy tới tận giữa Thái Bình Dương, bao gồm nhiều vùng, trong đó có một phần lớn của Nhật Bản, Philíppin và Inđônêxia.

Mỹ lo ngại vì loại tên lửa mới của Trung Quốc có khả năng bắn tới Đài Loan. Chính quyền Mỹ rất quan tâm đến mối đe dọa này vì sợ có thể bị mất sự vượt trội mà từ lâu không nước nào giành được từ tay Mỹ. Chuyên gia Jean-Vincent Brisset cho rằng mối đe dọa đó không dẫn đến hậu quả trực tiếp đối với Mỹ, song với các nước có liên quan khác thì lại ngược lại. Các nước nằm ở ven biển Nam Trung Hoa có thể bị Hải quân Trung Quốc áp đặt sự kiểm soát của họ trên các hòn đảo mà họ đòi chủ quyền, thậm chí ngay cả trong vùng đặc quyền kinh tế của các nước này. Đài Loan cũng có thể bị lọt vào một vùng biển mà không có được bất kỳ quyền tự do nào ở đó. Còn vùng biển của Nhật Bản và Hàn Quốc cũng có thể rơi vào sự kiếm soát của Trung Quốc. Tình hình đó sẽ làm nảy sinh các vụ va chạm có thể lan rộng hơn và chuyến thăm Trung Quốc của Phó Tổng thống Mỹ, Joe Biden, chắc chắn chưa mang lại được giải pháp nào cho trung và dài hạn.

Trung Quốc thường không muốn can dự vào các cuộc xung đột. Con đường để nước này đi đến vinh quang, theo chuyên gia Liselotte Odgaard, thuộc Học viện quốc phòng Đan Mạch, không phải là các cuộc xung đột bởi lẽ nước này chưa tự khẳng định được mình như một cường quốc quân sự. Cho đến lúc này, Bắc Kinh sẵn sàng thỏa hiệp để bảo đảm ốn định trong vùng về phương diện an ninh. Nói như vậy không có nghĩa là Trung Quốc sẵn sàng chấp nhận mọi thỏa hiệp vì trong một số vấn đề, nước này không sẵn sàng nhượng bộ.

Một trong những vấn đề đó là cách nhìn nhận của nước này đối với vấn đề lãnh thổ và những vùng liên quan đến lãnh thổ của Trung Quốc. Đối với họ, các biển Hoa Đông và Nam Trung Hoa (Hoa Nam) thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Nhãn quan đó lại hoàn toàn trái ngược với nhãn quan của các nước láng giềng và với luật pháp quốc tế. Sở dĩ Bắc Kinh bám lấy nhãn quan đó vì Trung Qụốc đã bị tấn công trong các thế kỷ 19 và 20. Trong các cuộc tấn công đó, Trung Quốc đã bị mất một phần lãnh thố. Nay họ đòi lại và muốn nhập vào vùng ảnh hưởng của minh. Bắc Kinh sẽ không chấp nhận bất kỳ sự khoan nhượng nào cho đến khi các vùng lãnh thố đó hoàn toàn được trả lại cho Trung Quốc. Theo chuyên gia Liselotte Odgaard, Trung Quốc tin mình sở hữu các vùng lãnh thổ đó đến mức thậm chí không muốn thảo luận về vấn đề này. Họ không xác định rõ ràng những yêu sách của mình, cũng không muốn đưa ra lời giải thích. Đối với Bắc Kinh, sự việc là như vậy và chấm hết, không có gì hơn.

Như vậy, sức mạnh quân sự trở nên có ý nghĩa chiến lược đối với Trung Quốc. Người khổng lồ châu Á này đang tìm cách bảo đảm an toàn các tuyến đường hàng hải và các vùng có nhiều tài nguyên khoáng sản ở biển Nam Trung Hoa. Quả thực đây là một vùng luôn xảy ra căng thẳng xung quanh Đài Loan. Đối với Lầu Năm Góc, mọi bước tiến về quân sự của Trung Quốc đều nhằm mục đích chuẩn bị chủ yếu cho một cuộc xung đột vũ trang tiềm tàng với Đài Loan. Từ năm 1949 và sau khi lực lượng theo xu hướng dân tộc chủ nghĩa Tưởng Giới Thạch chạy trốn tới hòn đảo này, Bắc Kinh luôn có ý định tái thống nhất Trung Quốc, tái nhập “tỉnh” này vào Đế chế Trung Hoa, thậm chí bằng vũ lực nếu cần thiết. Tình hình là cực kỳ căng thẳng giữa hai người khổng lồ kinh tế xung quanh vấn đề Đài Loan: Mỹ chính thức công khai ủng hộ Đài Loan và cung cấp vũ khí cho hòn đảo này .

Theo Lầu Năm Góc, Trung Quốc ngày càng phát triển sức mạnh của Hải quân và đã thành công trong việc lấp đầy khoảng trống về công nghệ so với các cường quốc khác. Trung Quốc đã có những nỗ lực lớn để chế tạo tên lửa có khả năng tiêu diệt tàu sân bay, nâng cấp các dàn rađa cảnh giới và gia tăng hạm đội tàu ngầm hạt nhân. Đấy là chưa nói đến những bước tiến của Trung Quốc trong lĩnh vực công nghệ vệ tinh và chiến tranh mạng. Trong những năm gần đây, Trung Quốc đầu tư lớn vào lĩnh vực quân sự và không ít nhà quan sát cho rằng nước này đang trở thành một siêu cường quân sự có ảnh hưởng toàn cầu.

Tuy nhiên, chuyên gia Liselotte Odgaard, khẳng định Trung Quốc có những bước tiến ngoạn mục trong lĩnh vực quốc phòng, song hiện vẫn chưa phải là siêu cường quân sự và con đường để đạt được mục tiêu đó còn rất dài. Theo bà, phương Tây phải sáng suốt nhìn nhận sự bành trướng về quân sự của Trung Quốc khi dư luận thường nói nước này đang trở thành một siêu cường quân sự. Điều đó là hiển nhiên về kinh tế và ảnh hưởng chính trị ở quy mô toàn cầu, nhưng chưa đúng về phương diện quân sự. Sức mạnh quân sự của Trung Quốc chưa đạt tới trình độ của các nước phương Tây. Vấn đề lớn nhất đối với nước này là không có hệ thống đồng minh như phương Tây. Điều đó có nghĩa là cơ cấu quân sự của Trung Quôc không lồng ghép được với cơ cấu của các nước đồng minh khác. Nếu có thể có được một hệ thống như vậy, Trung Quốc mới có thể có khả năng hành động ở quy mô toàn cầu. Nhưng đến lúc này, Trung Quốc chưa có khả năng đó.

Trung Quốc cần nhiều năm nữa mới trở thành siêu cường quân sự. Nước này cần trải qua luyện tập và tích lũy kinh nghiệm. Chắc chắn vì lý do đó mà Bắc Kinh không muốn dấn vào các cuộc xung đột không trực tiếp liên quan đến mình. Theo chuyên gia Liselotte Odgaard, nước này vẫn đứng ở tuyến sau về phương diện quân sự và luôn tìm cách tháo ngòi nổ các cuộc khủng hoảng và bất đồng. Trung Quốc có lợi khi sử dụng chiến lược đó vì họ không chắc vào sức mạnh của mình về mặt quân sự.

Một mặt, Bắc Kinh cho rằng họ không muốn sử dụng quân đội vào mục đích xâm lược, mặt khác, không ai có thể tin nước này không sử dụng vũ lực để bảo vệ lợi ích của mình. Nói Trung Quốc sẽ sử dụng vũ lực để chống lại các nước láng giềng là một giới hạn không nên vượt qua. Sự cáo buộc này không đáng tin cậy ở chỗ quân đội Trung Quốc cần phải được tập luyện và đào tạo nhiều hơn nữa nếu muốn một ngày nào đó đọ sức với quân đội các nước phương Tây, cụ thể là Mỹ.

Theo chuyên gia Jean-Vincent Brisset, dẫụ sao giọng điệu của bản báo cáo và những lời đáp trả của Trung Quốc cũng đánh dấu sự đoạn tuyệt với những cơn giận dữ và thái độ nghi kỵ của những năm trước đây. Năm 2010 đã cho thấy mối quan hệ quân sự giữa hai nước được cải thiện sau các cuộc trao đổi ở cấp cao trong lĩnh vực này. Với một nền kinh tế thế giới vẫn mong manh, cả Mỹ và Trung Quốc có thể hiểu rõ tầm quan trọng của việc thay sự nghi kỵ bằng hợp tác vững chắc, ít nhất là trong lúc này.
—–
(Phần 2)

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ ba, ngày 10/1/2012

TTXVN (Angiê 5/1)

Không gian, nơi đầy rẫy những nghi kỵ

Theo cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Robert Gates, không gian trên thực tế là một trong 4 lĩnh vực (cùng với an ninh mạng, vũ khí hạt nhân và phòng thủ tên lửa) có thể tạo ra nội dung cho cuộc đối thoại chiến lược Mỹ- Trung. Tuy nhiên, tạp chí “Tin Trung Hoa” đưa ra những sự việc, tuyên bố, hành động cụ thể của cả hai bên và những trao đổi song phương trong lĩnh vực hợp tác không gian để chứng minh rằng giữa ý muốn và thực tế còn một khoảng cách rất xa.

Điều bình thường nhất mà người ta có thể nói, theo “Tin Trung Hoa”, là về phía Mỹ cũng như Trung Quốc, không bên nào có hứng thu hợp tác trong lĩnh vực này. Giới quân sự Trung Quốc, những người đang kiểm soát các dự án không gian, dường như không sẵn sàng tỏ ra minh bạch, điều vốn cần thiết để hợp tác có hiệu quả. Đồng thời, họ tiếp tục than phiền về mối nghi ngại của Mỹ và lệnh cấm vận đối với công nghệ nhạy cảm do Lầu Năm Góc áp đặt. Còn ở Mỹ, các nhóm có tác động về an ninh vốn rất nghi ngại đối với Trung Quốc, lại đang có ảnh hưởng lớn hơn bao giờ hết.

Mùa Thu năm 2010, Chủ tịch NASA, Charles Bolden, đã sang thăm Trung Quốc để thăm dò khả năng hợp tác song phương, song Quốc hội Mỹ kiểm soát ông rất chặt. Hai nghị sĩ đã viết thư cảnh báo ông không được thực hiện bất kỳ trao đổi nhạy cảm nào và nói cho ông biết những nghi ngờ về ý định thực của Trung Quốc trong lĩnh vực này.

Tiến bộ đầu tiên của Trung Quốc trong lĩnh vực không gian và yếu kém trong hợp tác Mỹ-Trung

Thực tế là hai nước đã bước vào một cuộc cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực thám hiểm không gian cũng như sử dụng không gian vào mục đích thương mại và quân sự. Đúng là Mỹ đi trước nhiều, song vấn đề là Trung Quốc đạt được tiến bộ nhanh, ít nhất là theo ba hướng đã được xác định được nói đến nhiều trong báo chí của nước này.

Thứ nhất là trạm không gian dự kiến sẽ được triển khai trong không gian vào năm 2015 và một chương trình huấn luyện các nhà du hành đã được khởi động phục vụ cho kế hoạch này. Môđun Thiên Cung đã được phóng lên quỹ đạo và tàu vũ trụ Thần Châu đã lắp ghép được với môđun này. Tuy được phát triển theo cách riêng, song chương trình không gian cua Trung Quốc cũng dự kiến khả năng cho tàu của mình lắp ghép với trạm không gian quốc tế.

Thứ hai là thám hiểm Mặt Trăng. Giai đoạn đầu đã hoàn thành vào tháng 10/2010 với việc phóng lên quỹ đạo vệ tinh Hằng Nga-2. So với vệ tinh Hằng Nga-1, Hằng Nga-2 bay ở quỹ đạo thấp hơn hai lần (cách Trái Đất 100 km so với 200 km) và được lắp camera có độ chính xác cao. Trung Quốc dự kiến đưa một tàu thám hiểm có người lái lên Mặt Trăng để thu thập mẫu vật (trong đó có hélium và titanium) trong giai đoạn 2012-2013. Nhưng ít nhất phải đến năm 2020 Trung Quốc mới có thể đưa người lên Mặt Trăng.

Lĩnh vực thứ ba nhạy cảm nhất về mặt chiến lược nhằm mục đích giúp Trung Quốc thoát khỏi sự lệ thuộc vào hệ thống định vị toàn cầu của Mỹ, với việc thiết lập một mạng lưới GPS của riêng mình. Theo báo chí nước này, hệ thống Bắc Đẩu sẽ bắt đầu vận hành vào năm 2012 trên phần châu Á và phải đến năm 2020 mới phủ sóng được toàn cầu.

Hiện nay, tất cả hệ thống định vị và dẫn đường của Trung Quốc vẫn phụ thuộc vào hệ thống GPS của Mỹ và Lầu Năm Góc có thể gây nhiễu nếu xảy ra căng thẳng với Trung Quốc. Như vậy không có gì ngạc nhiên nếu giới quân sự Trung Quốc coi mảng này là vấn đề cần được ưu tiên. Cũng chính giới quân sự là những người thúc đẩy việc chế tạo vũ khí không gian có khả năng loại bỏ hệ thống GPS của Mỹ trong trường hợp xảy ra xung đột với nước này.

Hợp tác không gian giữa Mỹ và Trung Quốc như vậy có ít cơ hội để phát triển, trong khi căng thẳng diễn ra thường xuyên trong bối cảnh cạnh tranh chung để kiểm soát châu Á, nơi gần đây trở nên căng thẳng xung quanh vấn đề Bắc Triều Tiên, tự do hàng hải ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) và các vụ bán vũ khí của Mỹ cho Đài Loan. Rất có thể cũng sẽ diễn ra một cuộc chạy đua vũ trang vào không gian, với những dấu hiệu đầu tiên rất rõ nét xuất hiện trong các tuyên bố cũng như hành động và việc làm của cả bên này lẫn bên kia.

Chạy đua vũ trang trong không gian và mối lo ngại của Mỹ

Người ta còn nhớ sau vụ Trung Quốc dùng tên lửa bắn hạ một trong nhừng vệ tinh khí tượng cũ của mình vào tháng 1/2007, Mỹ tỏ ra hết sức lo ngại trước tiến bộ của Trung Quốc, nhưng lại quên nói rõ rằng công nghệ được quân đội Trung Quốc sử dụng là loại cũ và bản thân họ cũng coi không gian như một bãi tập quân sự để từ đó loại trừ những kẻ đột nhập một khi chúng bị Mỹ coi là “mối đe dọa đối với an ninh” của mình.

Đúng một năm sau, Lầu Năm Góc đưa ra câu trả lời của mình. Ngày 21/2/2008, một tên lửa SM-3 cải tiến được phóng đi từ một tàu chiến của Hải quân Mỹ, ngay phát đầu tiên phá hủy một vệ tinh gián điệp của Mỹ đã mất kiểm soát. Vào thời điểm đó, vụ phóng này đã khiến Nga và Trung Quốc phán đối. Bầu không khí lại nóng lên thêm khi vào tháng 10/2009, tướng Hứa Kỳ Lượng, Tham mưu trưởng không quân Trung Quốc, giải thích cuộc chạy đua vũ trang vào không gian là “không thể tránh khỏi về phương diện lịch sử”, mặc dù ngay sau đó Bộ Ngoại giao đã cải chính lời tuyên bố của viên tướng này.

Tranh cãi lại nổ ra ngày 24/4/2010 khi một bài báo của tờ “China Daily” đặt câu hỏi về việc phóng tàu con thoi không người lái X-37B của Mỹ. Theo Zhao Xiaozhu, nhà nghiên cứu thuộc Học viện khoa học quân sự của quân đội Trung Quốc, con tàu này có thể trở thành một bàn đạp quân sự trong không gian. Sau đó ít lâu, Zhai Dequan, Phó Tổng thư ký Hiệp hội giải trừ quân bị của Trung Quốc, lại kích động thêm khi nói rằng việc phát triển tàu con thoi không người lái cho, thấy “lời hứa của Mỹ giảm tốc độ cuộc chạy đua vũ trang vào không gian là không thành thực”.

Trong khi Mỹ đi trước nhiều về mặt công nghệ và có kinh nghiệm trên thế giới không ai bằng về lĩnh vực không gian, song nước này vẫn luôn lo ngại trước những tiến bộ của Trung Quốc. Mối lo ngại đó nảy sinh từ giữa những năm 1990 khi có tin đồn về một loại vũ khí lade của Trung Quốc. Năm 2006, giới tình báo Mỹ khẳng định một trong số các vệ tinh của họ đã trở thành mục tiêu của vũ khí loại này.

Tháng 9/2008, vào lúc Trung Quốc phóng tàu vũ trụ Thần Châu 7, chương trình đầu tiên huấn luyện nhà du hành bước ra không gian và vận hành một môđun Trung Quốc từ mặt đất, các cơ quan của Mỹ đã soạn thảo các luận thuyết về rủi ro do hoạt động của vệ tinh Trung Quốc gây ra – cũng có thể được dùng làm bàn đạp chống vệ tinh – ở khoảng cách gần với trạm không gian quốc tế.

Tháng 11/2009, trang mạng IMINT lại khuấy động vấn đề này khi tung ra một số hình ảnh về một căn cứ quân sự của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc được khẳng định là chứa vũ khí lade. Trung Quốc đã bác bỏ thông tin này. Cuối cùng, ngày 11/1/2011, một chương trình của đài BBC khẳng định quân đội Trung Quốc mới đây đã thử nghiệm một loại vũ khí chống vệ tinh “có khả năng đánh vào tử huyệt của Lầu Năm Góc trong không gian”, nhưng không đưa ra bằng chứng.

Bớt cường điệu và xem xét kỹ càng

Các nhà khoa học trên thế giới từ 60 năm nay định chế tạo một loại vũ khí lade đáng tin cậy có khả năng (ngoài phòng thí nghiệm) giải quyết được mâu thuẫn giữa sức mạnh, độ cứng hay khả năng chống đỡ các cuộc tấn công, tính linh hoạt và dễ sử dụng. Tất cả đều cho thấy Mỹ có lợi thế trong cuộc chạy đua này. Trong một thời gian ngắn nữa, Hải quân Mỹ thực ra có thể trang bị cho các tàu chiến của mình hệ thống phòng thủ tên lửa bằng lade. Không một thông tin tình báo đáng tin cậy nào tìm được trong các loại tài liệu công khai chứng minh được Trung Quốc đã đạt được trình độ phát triển này.

Cũng như vậy, cần tương đối hóa những tiến bộ của Trung Quốc trong lĩnh vực công nghệ không gian. Cho dù những tiến bộ đó là nhanh và gây ấn tượng – cụ thể là trong lĩnh vực điều khiển từ xa và tự động hóa có thể nhận thấy trong sứ mệnh của tàu Thần Châu 7 – song cũng còn lâu mới đuổi kịp NASA. Tên lửa đẩy thuộc thế hệ mới nhất của Trung Quốc, Trường Chinh 5, phải đến năm 2017 mới có thể được đưa vào sử dụng và cũng chỉ mang được 25 tấn so với 120 tấn trọng tải hữu ích của tên lửa Saturne 5 của Mỹ dùng để phóng tàu con thoi Apollo.

Không ai phủ nhận những tiến bộ nhanh chóng của Trung Quốc với độ tin cậy của các tên lửa đẩy, đã giúp nước này có được vị trí đáng kể trên thị trường phóng vệ tinh (đứng thứ ba sau Nga và Mỹ, và bỏ xa Liên minh châu Âu). Song cũng cần xem xét mọi khía cạnh của hình ảnh chung về cuộc chinh phục vũ trụ, hiện nay vẫn do Mỹ và Nga chi phối. Theo các nguồn tin đáng tin cậy nhất, Nga đã bán thiết kế khoang đổ bộ không gian của mình cho Trung Quốc.

Từ năm 1999, Trung Quốc chỉ huấn luyện 6 nhà du hành và họ ở 9 ngày trên quỹ đạo. Để so sánh, cần biết rằng trong 10 năm đầu (1960-1969) thực hiện chương trình tàu vũ trụ có người lái của mình, Mỹ và Nga đã đưa lên quỹ đạo 44 và 24 nhà du hành, với tổng số thời gian ở lại trong không gian 96 và 42 ngày, trong khi chương trình của Mỹ kết thúc bằng hai chuyến thám hiểm trên bề mặt Mặt Trăng.

Cuối cùng, trong 10 năm chuẩn bị chương trình các chuyến bay thám hiểm Mật Trăng, Mỹ đã đưa lên quỹ đạo số vệ tinh lớn gấp 5 lần của Trung Quốc trong 40 năm thực hiện chương trình thám hiểm không gian của mình. Đấy là chưa nói đến các chuyến bay thám hiểm sao Kim và sao Hỏa với một chiếc xe điều khiển từ xa hạ cánh xuống sao Hỏa vào năm 2004 và 2008.

Người ta bắt đầu hy vọng nhân loại đang bước vào không gian sẽ thành công trong việc vượt qua những ý đồ dân tộc chủ nghĩa và nghi kỵ chiến lược có thể dẫn đến sự lãng phí và trùng lặp để chinh phục vũ trụ được dễ dàng hơn. Thái độ khó chịu hiện nay của các bên cho thấy không có gì là chắc chắn cả, cho dù giữa Mỹ và Trung Quốc, Nga, Liên minh châu Âu và những nước đến sau, như Ấn Độ và Braxin, có những lĩnh vực mà đối thoại và hợp tác có thể thực hiện được ngay lập tức, như trao đổi thông tin về các mảnh vụn vũ trụ, điều kiện thời tiết, môi trường và hàng hải, trong khi chờ đợi một cuộc đối thoại chiến lược thực sự về việc sử dụng không gian và thông qua một “Bộ quy tắc úng xử”.

Khi Trung Quốc tiếp tục mua trái phiếu Mỹ…

Tạp chí “Phát thanh” đánh giá việc nào vẫn vào việc nấy, còn các nhà lãnh đạo Trung Quốc vẫn tỏ ra thực dụng và thận trọng. Dự báo một cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới mới, họ tiếp tục mua vào trái phiếu của Chính phủ Mỹ mặc cho ở trong nước các giới chức có liên quan lên tiếng phê phán và cảnh báo.

Ngày 8/8, Tân Hoa Xã một lần nữa phê phán Chính phủ Mỹ vung tay quá trán đối với các khoản vay nước ngoài, đồng thời kêu gọi quốc tế kiểm soát đồng USD và lập ra một đồng tiền dự trữ mới để tránh việc một nước gây ra thảm họa. Lời phê phán trên được đưa ra ngay sau khi Ngoại trưởng Trung Quốc, Dương Khiết Trì, kêu gọi Oasinhtơn áp dụng chính sách tài chính có trách nhiệm hơn và bảo đảm an toàn cho tài sản của nước ngoài.

Nhưng tạp chí “Phát thanh” cho biết không phải vì thế mà tháng 6/2011, Ngân hàng trung ương Trung Quốc không mua 26 tỷ USD trái phiếu kho bạc do Mỹ phát hành, đưa tổng số tiền đầu tư của Trung Quốc vào món nợ của Mỹ lên tới 1.200 tỷ USD, tăng 30% chỉ trong vòng 9 tháng. Theo con số của tờ “China Đaily” ngày 2/8/2011, số tiền đó tương đương với hơn 1/3 dự trữ ngoại,tệ, được đánh giá vào khoảng 3.200 tỷ USD vảo thời điểm tháng 6/2011.

Với những người đang đặt câu hỏi về lý do dẫn đến những điều trái ngược trên, báo chí chính thức của Trung Quốc mới đây đưa ra một số lời giải đáp với lý lẽ cho thấy nhiều điều về cách đánh giá của nước này đối với rủi ro có thể xảy ra cũng như cách mà Bắc Kinh nhìn nhận Mỹ. Trong một bài xã luận đăng trên mạng ngày 19/8, tờ “Nhân dân nhật báo” trước hết giải thích rằng khi xuất hiện nguy cơ tài chính nghiêm trọng mới, các nhà đầu tư coi trọng độ an toàn của cổ phiếu hơn là lợi nhuận.

Nói như vậy, song tạp chí “Phát thanh” cho biết tựu trung lại, cơ quan ngôn luận trung ương của Đảng Cộng sản Trung Quốc qua bài báo đó muốn chỉ ra rằng sau khi đã cân nhắc kỹ càng, trái phiếu kho bạc Mỹ vẫn là nơi cất giữ tiền chắc chấn nhất. Vàng có thể có bảo đảm, nhưng lượng vàng sẵn có trên thị trường không đủ để hấp thụ hết số vốn cần được cất giữ. Người ta cũng có thể thiết lập kho dự trữ tài sản nhạy cảm, nhưng thị trường đã được tài chính hóa và không có được sự đảm bảo nào. Đấy là chưa nói đến việc tích trữ sẽ gây ra tăng giá khiến xu thế lạm phát ở Trung Quốc có thể sẽ trầm trọng hơn.

Tờ “Nhân dân nhật báo” nói thêm rằng trên thực tế, nếu một cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra, khả năng lớn nhất có thể là toàn bộ số 16.000- 17.000 tỷ USD vốn tích lũy đang lưu thông trên thế giới sẽ phải tìm nơi ẩn náu thông qua việc mua lại các món nợ ít nguy hiểm nhất. Nhưng cả đồng yên Nhật lẫn đồng euro không có được bảo đảm chắc chắn bằng đồng USD vì sức mạnh của đồng tiền này dựa trên sự ổn định của hệ thống chính trị, chất lượng của nền giáo dục cũng như sức sống của sự sáng tạo công nghệ.

Nếu đem so sánh với các chuẩn mực này, đồng ngoại tệ Mỹ dĩ nhiên vẫn là chắc chắn nhất. Đúng là đồng USD đang mất giá, song không phải vì thể mà bất cứ đồng tiền nào khác cũng có thể so sánh được với đồng tiền này. Do đó, tình hình tài chính thế giới càng không chắc chắn bao nhiêu, món nợ của Mỹ và đầu tư vào Mỹ càng được coi là những cứu cánh an toàn bấy nhiêu. Điều đó giải thích tại sao Trung Quốc vẫn tăng lượng mua vào trái phiếu kho bạc Mỹ.

Những lập luận trên minh chứng cho việc Trung Quốc có xu hướng quay trở về với đồng USD mặc dù nhiều người cho xu hướng đó là gây bất ngờ trong lúc những yếu kém tài chính của Mỹ được đề cập đến ở mọi nơi trên thế giới. Đối với Trung Quốc, rủi ro lớn có thể nảy sinh do nguồn dự trữ ngoại hối đáng kể có thể bị mất giá. Để khắc phục tình trạng đó, một số giải pháp được đưa ra.

Trước hết, Trung Quốc sẽ sắp xếp lại cơ cấu công nghiệp vẫn đang trong tình trạng lộn xộn và là nguyên nhân gây lãng phí lớn đồng thời dẫn đến tình trạng cơ cấu phát triển chủ yếu xoay quanh xuất khẩu, với việc kiểm soát quá chặt chẽ tỷ giá, thặng dư thương mại và tích lũy dự trữ. Đâu tháng 8/2011, Trung Quốc đã nói đến sự cần thiết phải cải cách cung cách quản lý tài chính trong nước. Nhận thấy mức độ đầu tư ra nước ngoài là chưa đủ để hấp thụ số thặng dư vốn, Trung Quốc có thể giảm rủi ro bằng cách “mua lại” dự trữ ngoại hối để tái đầu tư vào trong nước. Cuối cùng, dư luận ở Trung Quốc yêu cầu trong thời gian tới cần tính tới tính chuyển đổi của đồng nhân dân tệ, thiết lập một hệ thống bảo đảm quốc tế dưới dạng trái phiếu có thể bán lại sau khi số tiền Mỹ vay đến hạn phải trả.

Theo tạp chí “Phát thanh”, mục tiêu của Trung Quốc chắc chắn là để trấn an các nhà cho vay tiền và đặc biệt là bảo đảm an toàn cho số tiền mà Bắc Kinh đầu tư vào món nợ của Mỹ. Nhưng chắc chắn Ngân hàng dự trữ liên bang Mỹ khó có thể chấp nhận điều kiện này. Còn về các đề nghị từ một năm nay liên quan đến việc đưa đồng nhân dân tệ vào thành phần Quyền rút vốn đặc biệt của Quỹ tiền tệ quốc tế nhằm tạo ra một chuẩn mực

tiền tệ khác ngoài đồng USD, ý kiến này có thể vấp phải sự nghi ngại về chính trị của phe bảo thủ vốn lo ngại về hậu quả chính trị và xã hội ở trong nước nếu đồng nhân dân tệ được định giá lại quá nhanh.

Nên buông hay nên giữ Đài Loan?

Mối quan hệ mỏng manh giữa Đài Loan và Mỹ cộng với thế yếu về chính trị và chiến lược của hòn đảo này với quy chế không chắc chắn, được khẳng định trong một số phân tích mới đây của Mỹ. Theo đó, Đài Loan trước đây có ý nghĩa sống còn trong chiến lược của Mỹ, nhưng nay không còn quan trọng nữa.

Trong bài phân tích dưới đây, tạp chí “Trung Hoa ngày nay” phác thảo những tiến triển trong mối quan hệ tay ba Mỹ-Trung Quốc-Đài Loan, đặc biệt là những hậu quả nảy sinh từ sự thay đổi cán cân lực lượng ở eo biến Đài Loan đối với quyết tâm ủng hộ hòn đảo của Mỹ về phương diện quân sự. Qua đó, “Trung Hoa ngày nay” cũng cho thấy mối quan hệ rất chặt chẽ giữa Mỹ và Đài Loan trước đây nay đã suy yếu hơn, đồng thời khẳng định khả năng xoay xở của Đài Loan bị giảm sút trong cuộc chơi tay ba với Mỹ và Trung Quốc, và hòn đảo ngày càng bị cô lập mặc dù một bộ phận trí thức Mỹ vẫn luôn muốn “kiềm chế” Trung Quốc.

Trong những tiền tố của cuộc bầu cử tổng thống và quá trình cải thiện tận gốc rễ mối quan hệ giữa hai bờ eo biển – có lợi cho Bắc Kinh, Oasinhtơn và Đài Bắc – ẩn giấu 3 yếu tố cốt tử đổi với tương lai của Đài Loan. Đó là ảnh hưởng kinh tế, quân sự và ngoại giao ngày càng tăng của Trung Quốc đối với Đài Loan; sự mong manh về phương diện nội tại của Đài Loan; và sự xa cách của Mỹ cũng như sự suy giảm hỗ trợ của Oasinhtơn mà Nhà Trắng không còn quan tâm.

Phân tích ba yếu tố này cho thấy những người tin rằng Đài Loan duy trì được quyền tự do hành động bằng một nguyên trạng mơ hồ và với hình hài không rõ ràng, đã nhầm. Trái lại, Đài Loan đang ngày càng dấn sâu vào quỹ đạo của Trung Quốc, đến mức hiện nay việc quay trở lại dường như là không tưởng.

Sức mạnh của Trung Quốc về sự yếu kém của Đài Loan

Mất cân bằng lực lượng quân sự giữa hai bờ eo biển có lợi cho Trung Quốc là điều đáng lo ngại về mặt tâm lý và tác động tới khả năng xoay xở của Đài Loan.

Kho vũ khí hùng hậu của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc ở vùng eo biển tăng dần hàng năm cả về lượng lẫn về chất, trong khi Đài Loan không bảo đảm được mục tiêu duy trì ngân sách quốc phòng ở mức 3% Tổng sản phẩm quốc nội, và các phi vụ bán vũ khí của Mỹ bị chậm lại, theo phía Mỹ là do thời hạn mà Bộ Quốc phòng Đài Loan cần có để có tiền. Cũng rất có khả năng các thời hạn đó xuất phát từ mối lo ngại làm phật ý Bắc Kinh trong khi ông Robert Gates, khi còn là Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, nói ông rất tâm đắc với việc nối lại quan hệ quân sự Mỹ-Trung mà Trung Quốc coi các vụ bán vũ khí cho Đài Loan là một điều kiện.

Lầu Năm Góc rất muốn can dự vào vùng eo biển Đài Loan, song các nhà lãnh đạo chính trị Mỹ ngày càng ít sẵn sàng hơn. Đặc biệt bởi lẽ Trung Quốc đã phát triển đáng kể năng lực quân sự khiến chi phí cho một cuộc can thiệp cũng tăng lên đáng kể.

Cách đây không lâu, hai nền kinh tế ở hai bờ eo biển Đài Loan tương đối ngang bằng nhau về khối lượng. Năm 1995, nền kinh tế Đài Loan được đánh giá bằng 1/3 của Trung Quốc. Hiện nay khoảng cách chênh lệch là 1/15. Tệ hơn nữa là sự phụ thuộc về kinh tế của Đài Loan vào Trung Quốc đại lục ngày càng nặng nề. Hơn một triệu người Đài Loan có quan hệ làm ăn với Trung Quốc và Đại lục là nơi tiếp nhận 40% hàng hóa xuất khẩu của Đài Loan. Trong khi đó Đài Bắc thừa nhận biên độ xoay xở và những bước tiến của mình trên trường quốc tế hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn của Trung Quốc.

Sự hỗ trợ của Mỹ bị xói mòn

Lập trường công khai của chính quyền Obama đối với Đài Loan không che giấu được thái độ lưỡng lự ngày càng tăng của Nhà Trắng, đặc biệt khi mỗi một sáng kiến ủng hộ Đài Bắc đều có thể làm phức tạp thêm mối quan hệ với Bắc Kinh.

Hiện nay, lập trường chính thức của Oasinhtơn là luôn thuyết phục Bắc Kinh không sử dụng vũ lực, đồng thời chủ trương giải quyết bằng biện pháp hòa bình để thoát khỏi ngõ cụt. Chiến lược này vẫn không thay đổi từ khi quan hệ chính thức bị cắt đứt vào năm 1971.

Nhưng Đạo luật quan hệ với Đài Loan (TRA – năm 1979), do Henry Kissinger và Zbigniew Brezinski đề xuất, một thứ trách nhiệm pháp lý nội bộ buộc Nhà Trắng không được khoanh tay đứng nhìn trong trường hợp Trung Quốc xâm lược Đài Loan bằng quân sự, vào thời đó được ngầm hiểu là một ý đồ chiến lược nhưng tính xác đáng đã yếu đi nhiều vì ba lý do. Thứ nhất, một số nhân vật cả Dân chủ lẫn Cộng hòa nghĩ rằng TRA và sự răn đe quân sự chống lại Trung Quốc sẽ cho phép có thêm thời gian cho đến lúc tình thế thuận lợi cho Đài Loan xuất hiện giúp giải quyết bế tắc có lợi cho hòn đảo này. Thứ hai, một số nhân vật khác trong Quốc hội và chính quyền – đặc biệt dưới thời Tổng thống Ronald Reagan – nghĩ rằng sự hồ trợ hoàn toàn đối với Đài Loan có thể là một phương tiện để tạo điều kiện cho ảnh hưởng của Mỹ ở Châu Á-Thái Bình Dương và buộc Trung Quốc phải hợp tác chặt chẽ hơn với Oasinhtơn, đồng thời phải chấp nhận nguyên trạng ở vùng eo biển. Tóm lại, họ nhìn nhận mối quan hệ với Đài Loan như một phương tiện để kiểm soát hướng phát triển sức mạnh của Trung Quốc trong vùng cũng như trên thế giới. Thứ ba, các nhân vật bảo thủ nhất trong số các thượng nghị sĩ vẫn quyết tâm chống lại việc công nhận Trung Quốc và Đảng cộng sản Trung Quốc, mà họ vốn không tin tưởng.

Tóm lại, việc tăng cường mối quan hệ với Đài Loan vào thời điểm TRA phụ thuộc nhiều vào nhóm vận động hành lang ở Quốc hội và một số chính khách nắm quyền, với mục đích không phải là giải quyết vấn đề Đài Loan, mà để đáp ứng lợi ích trực tiếp của Mỹ. Sự hỗ trợ của Quốc hội và báo chí trở nên mạnh mẽ hơn sau khi Đài Loan chấp nhận theo chế độ dân chủ. Đồng thời cuộc đàn áp tại quảng trường Thiên An Môn và sự sụp đổ của khối Đông Âu càng làm cho Mỹ rời xa Trung Quốc hơn nữa.

Năm 1995 Quốc hội Mỹ gần như hoàn toàn nhất trí gây áp lực với Tổng thống Bill Clinton để cấp thị thực cho Tổng thống Lý Đăng Huy. Nhưng khi Bắc Kinh đe dọa về quân sự bằng cách bắn tên lửa vào vùng biền ngoài khơi bờ biển Đài Loan thì Chính quyền Mỹ coi mối đe dọa đó là đến mức nguy hiểm và quyết định điều 2 tàu sân bay vào vùng eo biển Đài Loan để răn đe các hành động xâm lược của Trung Quốc. Trái lại, sự can dự của Quốc hội Mỹ đối với Đài Loan rõ ràng lại hờ hững hơn trong thời kỳ TRA trước đó 15 năm.

Trong nhiệm kỳ tổng thống của Bill Clinton, đúng là phái Cộng hòa đã lên tiếng ủng hộ Đài Loan và phê phán nỗ lực của Chính quyền Dân chủ làm dịu thái độ của Trung Quốc, song dường như đó chỉ là lập trường mang tính chất đảng phái nhằm làm mất uy tín của tổng thống hơn là một sự can dự chân thành đối với Đài Loan.

Đoạn tuyệt với Trần Thủy Biển

Chính quyền Bush bắt đầu nhiệm kỳ với ý định rõ ràng là tăng cường hỗ trợ Đài Loan trong khuôn khổ chiến lược tăng cường liên minh và các mạng lưới của mình ở châu Á-Thái Bình Dương, với mục đích uốn các chính sách của Trung Quốc đi theo hướng mà Mỹ mong muốn. Chính sách đó sụp đổ khi Tổng thống Đài Loan lúc đó, Trần Thủy Biển, lợi dụng sự hỗ trợ của Mỹ để đưa ra sáng kiến theo hướng tiến tới độc lập khiến Bắc Kinh phản ứng quyết liệt về phương diện chính trị, đồng thời đe dọa về mặt quân sự.

Mỹ đột ngột cắt đứt mọi tiếp xúc với Trần Thủy Biển và công khai đưa ra các bất đồng về đánh giá giữa Nhà Trắng và Đài Băc. Tại Quốc hội, có rất ít nghị sĩ dám ngăn cản áp lực của Tổng thống Bush nhằm buộc Trần Thủy Biển phải chấm dứt các hành động khiêu khích và càng không đến Đài Loan để bày tỏ sự ủng hộ của họ đối với nhà lãnh đạo theo khuynh hướng độc lập này cũng như chính sách của ông ta.

Phân tích các chiến lược của Tổng thống Obama cho thấy điểm trái ngược với những tính toán ban đầu của Chính quyền Bush và sự ủng hộ của Mỹ đối với Đài Loan suy giảm đến mức nào. về phương diện chính thức, vấn đề vẫn luôn là thuyết phục Trung Quốc không xâm lược Đài Loan. Nhưng sự thay đổi cán cân lực lượng ở vùng eo biển này cũng giải thích thái đọ lưỡng lự mới của Nhà Trắng ngày càng tránh việc đưa nước Mỹ vào một cuộc xung đột với Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Đó chính là lý do giải thích tại sao Oasinhtơn cho rằng chiến lược của Mã Anh Cửu xoay quanh việc xích lại gần với Trung Quốc là một sự tiến triển tích cực.

Những tiếng nói trước đây chủ trương tăng cường quan hệ với Đài Loan nhiều hơn với Trung Quốc nhằm “tranh thủ thời gian” trong khi chờ thời thế thuận lợi hơn cho hòn đảo, đã không còn xuất hiện. Những tình cảm chống cộng trước đây vốn là một động lực mạnh trong Quốc hội để ủng hộ Đài Loan, nay không còn đáng kể. Và trái ngược với những năm đầu tiên của Chính quyền Bush, chính quyền hiện nay đã bỏ hẳn ý định sử dụng vấn đề Đài Loan để tạo ra ở châu Á-Thái Bình Dương một động lực thuận lợi cho lợi ích của hòn đảo và có khả năng hướng chính sách của Trung Quốc theo của mong muốn Nhà Trắng.

Tính không ổn định trong các chiến lược ngoại giao và an ninh của Chính quyền Obama là sự thay đổi quan trọng nhất trong các động lực vùng từ nhiều năm nay. Tuy Oasinhtơn gia tăng can dự vào Châu Á-Thái Bình Dương – từ Ấn Độ đến các hòn đảo trong Thái Bình Dương – song những tuyên bố chính đánh dấu sự trở lại của Mỹ trong vùng không còn nói đến việc tăng cường mối quan hệ với Đài Loan. Hơn thế nữa, mọi thứ trong thái độ của Chính quyền Đài Bắc khẳng định và củng cố thêm lập trường của Mỹ. Thái độ “nhún nhường” cửa Đài Bắc trái ngược với sự ủng hộ công khai trong thời gian gần đây của Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ và ASEAN đối với Mỹ.

Tại Hạ viện, phái cộng hòa không phải là không tìm được các chiến lược mang tính đảng phái thể hiện sự cần thiết phải ủng hộ Đài Loan vì chính sách đối nội, song vấn đề ở đây là các chuyến thăm hòn đảo này của họ ít dần đi và những người có đến đây đôi khi lại có ý kiến trái ngược với lợi ích của Đài Bắc sau khi trở về. Rạn nứt trong nhóm vận động hành lang của Đài Loan đã dẫn đến tình trạng rối rắm và làm suy giảm ảnh hưởng của họ.

Cần thực tế hơn trong đánh giá tương lai của Đài Loan và khả năng của Đài Bắc từ bỏ việc xích lại gần Trung Quốc. Chính sách thực dụng đó là cần thiết để giới tinh hoa và báo chí, ở Mỹ cũng như ở Đài Loan, ý thức được hậu quả của một chiến lược ngày càng đẩy Đài Loan vào quỹ đạo của Trung Quốc.

Đặc biệt, các chính khách và các trung tâm tác động khác, kể cả những người chống lại việc Đài Loan ngày càng không nắm được trong tay vận mệnh của mình, có thể phải thừa nhận rằng khi ủng hộ những lựa chọn của Chính phủ Đài Loan hiện được Oasinhtơn và Bắc Kinh ủng hộ, họ trở thành đồng lõa với một sự chuyển dịch cho phép Bắc Kinh tác động đến những lựa chọn trong tương lai của hòn đảo.

Có thể Nhật Bản là nước tỏ ra lo ngại nhất khi thấy Đài Loan tiếp tục xích lại gần Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, Nhà Trắng sẽ phải nồ lực hơn nữa để trấn an đồng minh Nhật Bản cũng như các đồng minh khác ở châu Á-Thái Bình Dương về quyết tâm của Mỹ cân bằng ảnh hưởng chiến lược của Trung Quốc trong vùng. Một hậu quả khác của tiến triển tình hình hiện nay là tiến trình xích lại gần nhau giữa hai bờ eo biển Đài Loan sẽ làm

giảm thiểu tầm quan trọng của đối trọng Mỹ.

Vấn đề còn lại là giả thiết thống nhất Trung Quốc bằng vũ lực với một cuộc tấn công của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc hay phong tỏa hòn đảo, vốn là cơ sở cho những phân tích thiên về mối lo ngại của Mỹ, ít có khả năng xảy ra. Bởi lẽ tình hình nhìn chung đúng la như vạy, song được phân tích với một số ẩn số lớn tác động đến cả ba tác nhân của vấn đề này.

Chắc chắn Bắc Kinh không từ bỏ yêu sách chính trị đối với Đài Loan từ năm 1949 cũng như phương án quân sự được nói rõ hơn trong Luật chống ly khai (năm 2005). Nhưng hiện nay không một chiến lược gia nào có khả năng nói chính xác mà không sợ rủi ro nhầm lẫn, hậu quả – kêt cả sự sống còn của Đảng cộng sản Trung Quốc – của một cuộc xung đột được phát động ở eo biển Đài Loan, trong bổi cảnh cả Oasinhtơn lẫn Bắc Kinh, do bị vướng vào biện chứng bó buộc về răn đe hạt nhân, đều không nghiêm túc nghĩ đến một cuộc đối đầu trực tiếp, là như thế nào.

Còn ở Đài Loan, quá khứ gần đây cho thấy cử tri gần như hoàn toàn nhất trí chống lại việc thoát khỏi tình trạng mập mờ hiện nay về một nền độc lập trên thực tể, như thế nào, mặc dù những thuộc tính của nền độc lập đó bị sứt mẻ nhiều do áp lực của Trung Quốc.

Cuối cùng, đúng là không thể phủ nhận tính xác thực và tính hiệu quả của những hành động gián tiếp của Trung Quốc – lại gặp thuận lợi nhờ chính sách của Mã Anh Cửu – nhằm đưa Đài Loan vào quỹ đạo của mình, song cũng không thể không nói đến sự đối nghịch về chế độ chính trị ở hai bờ eo biển. Đối với Đài Bắc, đây là một trở ngại có tính phản kháng dẫn đến những hạn chế lớn trong chiến lược của Bắc Kinh, kể cả trong bối cảnh Đài Loan phụ thuộc hoàn toàn về mặt kinh tế. Trở ngại đó hiện nay thể hiện ở việc Mã Anh Cửu nhiều lần từ chối tiến hành đối thoại chính trị với Bắc Kinh.

Tương lai sẽ cho thấy việc tăng cường mối quan hệ kinh tế và thương mại – mà Mã Anh Cửu sẽ tìm cách hãm lại – có đến mức buộc Đài Loan phải bước qua “giới hạn đỏ” để tiến tới thương lượng chính trị hay không. Trong trường hợp Đài Bắc từ chối, tất cả các phương án mà Bắc kinh dự kiến ngoài tính kiên nhẫn mà êkíp lãnh đạo hiện nay đã cho thấy, có thể sẽ chứa đựng không những nguy cơ phá hỏng những tiến bộ trong mối quan hệ từ năm 2008 đến nay mà còn dẫn đến những nguy cơ nghiêm trọng về mặt quân sự.
———–
Thứ tư, ngày 11/1/2012

(phần cuối)

TTXVN (Angiê 5/1)

Trung Quốc là người thắng trong cuộc chiến Irắc

Độ tin cậy về tài chính cũng như ngoại giao của Mỹ đã suy yếu so với của Trung Quốc, nước từ một cường quốc khu vực chuyển thành cường quốc toàn cầu. Xuất phát từ nhận xét đó, nhà phân tích Michael Moran cho rằng trong cuộc chiến Irắc, Mỹ đã thua, còn người thắng là Iran, song người thắng lớn nhất vẫn là Trung Quốc. Dưới đây là ý kiến của ông trên tạp chí “Statafrik”.

Phải mất nhiều năm con đường dẫn đến rút quân khỏi Irắc mới hình thành. Từ giữa năm 2005 và sau khi các nhà lãnh đạo trong Chính quyền Bush ý thức được rằng không thể giành chiến thắng ở Irắc, ít nhất là theo cách họ tìm kiếm, mục tiêu của Mỹ không phải là chữa lành trạng thái cảm xúc dâng trào mãnh liệt khi Mỹ xâm lược nước này vào năm 2003 nữa, mà là chữa lành vết cắt đó. Trên thực tế, lúc Tổng thống Mỹ, Barack Obama, tuyên bố nhậm chức, nước này trước đó đã ấn định thời gian rút toàn bộ quân đội.

Vậy một khi quân đội trở về nhà, ai là người thắng trận? Câu hỏi xem ra có vẻ ngây thơ, nhưng chắc chắn nhiều người muốn có câu trả lời. Thậm chí cả những người trước đây ủng hộ nhiệt thành cuộc chiến (và hiện nay chủ trương điều ngược lại) đã quên “cuộc dạo chơi chữa bệnh” mà họ dự đoán. Họ nói rằng “chiến tranh là địa ngục” và “Dick Cheney và Condoleezza Rice đã nói rồi: khi lật đổ Saddam, người ta đã gieo hạt giống đầu tiên để sau này mọc thành Mùa Xuân Arập”.

Theo chuyên gia Michaei Moran, nhìn bề ngoài Iran là người chiến thắng. Các nhà phân tích chín chắn, trong đó có ông Mohamad Bazzi, thuộc Hội đồng quan hệ đối ngoại, gợi ý không hề có ý khiêu khích rằng Iran là người chiến thắng. Ở một mức độ nhất định, có thể khẳng định các đồng minh của Iran – những kẻ thù của Saddam Hussein tỵ nạn tại Iran trong phần lớn thời gian trị vì của nhà độc tài này – hiện nay là phái mạnh nhất trong nền dân chủ mới được khởi động ở Irắc. Như ông Mohamad Bazzi đã nói, “Mỹ đã loại Saddam Hussein, kẻ thù không đội trời chung của Téhéran, khỏi quyền lực. Rồi, lần đầu tiên trong lịch sử của Irắc hiện đạ, Oasinhtơn giúp thành lập một chính phủ của người Shiite. Trong khi quân đội Mỹ sa lầy vào cuộc chiến chống lực lượng nối dậy và một cuộc nội chiến, Iran đã củng cố ảnh hưởng của mình đối với toàn bộ các phe phái theo dòng Shiite ở Irắc”.

Điều đó, theo chuyên gia Michael Moran, là sự thật và ông Mohamad Bazzi không phải là một nhà phấn tích phòng trà. Điều cơ bản là ông biết rõ tình hình. Tuy nhiên, dù Iran được hưởng lợi gì, người ta đặt câu hỏi liệu có thể có còn người chiến thắng nào tầm cỡ hơn không. Rốt cuộc, nhiều người trong số những người Irắc theo dòng Shiite đã dành tuổi thanh xuân của mình để chiến đấu vì Irắc trong cuộc chiến tranh dài ngày chống Iran vào đầu những năm 1990. Có thể họ phải tìm kiếm một lĩnh vực hòa hợp nào đó với Iran sau khi quân Mỹ rút đi, nhưng dường như khó có thể tưởng tượng ra một nước Irắc hoàn toàn là đồng minh của Iran.

Câu trả lời thật sự cho câu hỏi đặt ra ở trên, đối với ông Michael Moran, rất đơn giản: Trung Quốc là nước chiến thắng ở Irắc. Đó là một giả thiết được chính ông đưa ra trong một bài báo đăng vào năm 2004, vào thời điểm chiếc cối xay thịt ở Irắc hoạt động ở mức cao nhất. Vào đầu năm 2008, khi hệ thống tài chính của Mỹ bắt đầu đi vào vòng xoáy gần như chết người, ông lại càng chắc chắn điều đó hơn.

Vê lâu dài, có thể không một nước nào được hưởng lợi từ vũng bùn Irắc bằng Trung Quốc. Trong vòng 5 năm, nước này chuyển từ quy chế cường quốc khu vực mới trỗi dậy, vẫn phải tìm kiếm liên doanh với Mỹ và sự bảo trợ của nước này để vào được Tổ chức thương mại thế giới (WTO), sang quy chế siêu cường trong tương lai với ảnh hưởng không thể bỏ qua được về tài chính và trong các lĩnh vực khác, về phươmg diện chính trị, theo nghĩa rộng, Trung Quốc hung hăng chống lại một giải pháp thực sự thay thế cho mô hình tự do dân chủ thị trường được cho là yếu tố thắng lợi trong Chiến tranh Lạnh. Nhờ kết hợp ngoại giao thực dụng đến mức tàn nhẫn và chủ nghĩa tư bản ngân phiếu, Trung Quốc đã giành được phiếu ủng hộ của các nước như Nga, Vênêxuêla, Xécbia và nhiều nước Hồi giáo. Những nước này cũng chấp nhận một vài khía cạnh của chủ nghĩa tư bản, nhưng bác bỏ tình trạng lộn xộn gắn với quyền tự do chính trị mà phương Tây chủ trương.

Ông Michael Moran nói cho đến lúc này ông chắc chắn điều đó. Theo quan điểm của Bắc Kinh, nước Mỹ liệu có thể giúp Trung Quốc tốt hơn được đến mức nào khi tấn công Irắc nhân danh những lời cáo buộc mà sau này cho thấy là không đúng? Và như để cho trọn vẹn, chính độ tin cậy trong ý đồ dẫn dắt nền kinh tế thế giới của Mỹ đã phải chịu đòn đau khi các ngân hàng Mỹ gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất kể từ khi nền tài chính thế giới suy sụp. Để lấp đầy chiếc vực thẳm ngân sách do hai cuộc chiến có sức tàn phá ghê gớm gây ra, George w. Bush đã phải tung ra hàng tỷ, hàng tỷ USD khiến địch thủ chính của Trung Quốc trong việc giành quyền kiểm soát châu Á cũng như trong cuộc chạy đua có tính chất sống còn giành vị trí lãnh đạo tư tưởng trên quy mô toàn thế giới, đang đứng bên bờ vực phá sản.

Kết quả là Trung Quốc là người chiến thắng lớn nhất, tiếp đó đến Iran và sau cùng là nhân dân Irắc, những người sẽ có khả năng vun xới mầm móng dân chủ, vốn là thành công duy nhất thực sự trong toàn bộ câu chuyện này, như tất cả những người có thiện chí trên thế giới hy vọng. Còn kẻ thua ai cũng biết: đó là thâm hụt tài chính Mỹ.

Vì những lý do có tính chất quân sự cũng như tâm lý, việc rút quân Mỹ khỏi Irắc không thể tiến hành một cách vội vã được. Quá nhiều người Mỹ đã chết và còn nhiều người Mỹ hơn ngây thơ tin vào cái gọi là mối đe dọa chết người mà Saddam Hussein gây ra cho thế giới (hay những lời nói dối về mối liên hệ giữa Saddam với vụ khủng bố ngày 11/9) để Chính quyền Bush có nguy cơ lặp lại sự sụp đổ của Sài Gòn. Hiện nay, người ta hy vọng vết thương đã gần thành sẹo, nhưng một điều dường như là chắc chắn: từ cuối năm 2011 trở đi, cuộc chiếm đóng của Mỹ ở Irắc sẽ thuộc về quá khứ.

Cũng như những nỗ lực được thực hiện để tuyên truyền cho cuộc chiến tranh này, việc ước lượng chi phí cho cuộc chiến đó cũng đầy dối trá. Chắc hẳn ai cũng nhớ Lawrence Lindsey, vị cố vấn kinh tế đáng thương dưới thời Bush đã bị đuối khỏi Nhà Trắng vì đã dám gợi ý rằng cuộc chiến có thể ngốn 200 ty USD. Trên thực tế, bằng một phương pháp đơn giản là kết hợp các đạo luật về phân phối ngân sách, có thể thấy con số thực là hơn 800 tỷ USD.

Theo nhà kinh tế đoạt giải Nobel Joseph Stiglitz, nếu cộng cả chi phí chăm sóc những người bị thương, sửa chữa các thiểt bị hư hỏng trong các chiến dịch quân sự, vô số các bộ hồ sơ bồi thường cho người Irắc, các công ty cung cấp dịch vụ, các đồng minh và các loại chi phí khác, con số cuối cùng có thể lên tới hơn 4.600 tỷ USD. Thật là ngẫu nhiên, con số này cao hơn một chút so với tổng số nợ của Mỹ đối với các chủ nợ nước ngoài. Như vậy, không có gì đáng ngạc nhiên nếu Trung Quốc vẫn luôn có thiên hướng tài trợ cho thâm hụt ngân sách của Mỹ.

Cuộc chiến dầu mỏ đã bắt đầu

Theo một số nhà quan sát, cuộc can thiệp quân sự vừa qua của NATO vào Libi không nhằm mục đích nào khác ngoài làm tê liệt sự lan tỏa của Trung Quốc ở châu Phi. Nguy cơ các nguồn dự trữ dầu mỏ có thể cạn kiệt trong tương lai đã làm dấy lên căng thẳng giữa các nước tiêu thụ dầu mỏ. Giới phân tích không loại trừ khả năng phải dùng đến chiến tranh để giải quyết với nhau.

Ông Francois Lafargue, Tiến sĩ khoa học chính trị, Tiến sĩ địa chính trị, là tác giả một luận án nghiên cứu chiến lược của Mỹ trước tình trạng mong manh của Trung Quốc về năng lượng. Các công trình nghiên cứu của ông chủ yếu liên quan đến cái được mất về năng lượng ở châu Á và châu Phi, cũng như mối quan hệ Mỹ-Trung. Trả lời phỏng vấn tạp chí “Đại Tây Dương”, ông lý giải quan điểm của Mỹ cũng như của Trung Quốc về vấn đề dầu mỏ ở Libi nói riêng, ở châu Phi cũng như Trung Đông nói chung, từ đó cho thấy phần nào thực chất sự kình địch ngày càng gay gắt giữa Trung Quốc và Mỹ hiện nay. Dưới đây là toàn văn bài trả lời phỏng vấn.

Hỏi: Trong khi Mỹ rút quân khỏi Irắc, nơi Trung Quốc giành được quyền khai thác các mỏ dầu lớn nhất, lực lượng đồng minh bị cáo buộc can thiệp vào Libi để ngăn cản bước tiến của Trung Quốc ở châu Phi. Liệu có thể nói rằng một cuộc chiến tranh dầu mỏ thế giới là rất dễ xảy ra hay không?

Trả lời: Tôi nghĩ thế giới không ý thức được rằng một cuộc chiến tranh dầu mỏ ở quy mô toàn thế giới hiện đang diễn ra giữa Mỹ và Trung Quốc. Mỹ là nước nhập khẩu dầu mỏ hàng đầu thế giới và cũng là nước tiêu thụ nhiều dầu mỏ nhất thế giới. Đối thủ của Mỹ là Trung Quốc, hiện là cường quốc kinh tế thứ hai và sẽ vươn lên vị trí số một vào năm 2030…, với vẻ thèm khát dường như không bao giờ thỏa mãn.

Đấy là chưa nói đến Ấn Độ, nước ít được nói đến, song khi thế kỷ 21 bắt đầu, lại là nước có thể sẽ trở thành một trong năm cường quốc kinh tế thế giới, và hiện là nước nhập khẩu dầu mỏ lớn thứ sáu thế giới. Từ dãy Andes đến vùng Vịnh Ghinê, từ biển Adaman đến vùng ven biển Caxpi, Mỹ và Trung Quốc đang lao vào một cuộc đấu tranh giành ảnh hưởng để bảo đảm an toàn cho các tuyến cung ứng dầu mỏ của mình.

Nói đó là chiến tranh thì có lẽ là quá mức. Hiện nay, Mỹ và Trung Quốc đang sử dụng đồng USD, lời hứa hẹn, hỗ trợ chính trị và đâu tư để tranh giành các vùng có dầu mỏ, ở Trung Á, ở vùng vịnh Ghinê và bắt đầu ở cả Mỹ Latinh nữa. Chỉ trong vài năm, các công ty của Trung Quôc đã thực hiện nhiều thương vụ mua lại, trong đó có các công ty của Canada là Petrokazakstan (được công ty CNPC của Trung Quốc mua lại năm 2005) và Addax (được nhượng lại cho tổ hợp SINOPEC cũng của Trung Quốc với giá 7,3 tỷ USD). Đây là thương vụ tài chính tầm cỡ nhất mà một công ty của Trung Quốc tiến hành ở nước ngoài. Gần đây hơn, vào tháng 3/2010, tập đoàn CNOOC của Trung Quốc đã mua lại 50% vốn của công ty Bridas của Áchentina (một chi nhánh của tổ hợp Bridas Energy) với số tiền 3,1 tỷ USD.

Hy vọng rằng ràng buộc về kinh tế giữa Mỹ và Trung Quôc sẽ giúp một cuộc đối đầu về quân sự ít có khả năng xảy ra. Cũng như trong Chiên tranh Lạnh, các cuộc đối đầu thường không phải là những vấn đề chủ chốt. Tôi không tin rằng giá dầu tăng sẽ có lợi cho các nước sản xuất. Nguồn lợi từ dầu mỏ không hề được chia sẻ ở châu Phi, nơi cuộc chạy đua khai thác dầu mỏ dẫn đến tham nhũng triền miên và lại khơi dậy các tranh chấp biên giới như ở vùng Vịnh Ghinê.

về phương diện chiến lược thuần túy, việc châu Âu bị loại ra khỏi cuộc chơi là điều đáng tiếc. Liên quan đến nguồn cung ứng dầu mỏ, Liên minh châu Âu dựa vào Na Uy và đặc biệt là Nga. Nhưng tình hình đó không phải là hay.

Hỏi: Nên hiểu thành công của các công ty dầu mỏ của Trung Quốc ở Irắc như thế nào?

Trả lời: Không như một ý kiến thường được chấp nhận. Mỹ ít phụ thuộc vào Trung Đông về nguồn cung ứng dầu mỏ. Vùng này hiện nay bảo đảm khoảng 18% lượng dầu mỏ nhập khẩu của Mỹ, so với sần 30% ở vào năm 1990.

Mỹ lệ thuộc vào Canada hay Mêhicô hơn là vào Arập Xêút. Cái Mỹ quan tâm ở Trung Đông là kiểm soát vùng này hơn là tiếp cận nguồn dầu mỏ ở đây để làm nguồn cung ứng cho mình. Với cách tính toán như vậy nếu có thời cơ, Mỹ sẽ gây áp lực chính trị để uy hiếp các thương vụ bán dầu mỏ cho nước có thể trở thành địch thủ của mình là Trung Quốc.

Việc Trung Quốc khai thác các mỏ dầu ở Irắc không có gì nghiêm trọng trong lĩnh vực dầu mỏ và cũng không gây tác động về phương diện chiến lược. Giữa eo biển Hormuz và biển Trung Hoa, Hải quân Mỹ chỗ nào cũng có mặt, cụ thể là ở Diego Garcia, nằm giữa Ấn Độ Dương.

Tại một diễn đàn gần đây, ông Addison Wiggin (Giám đốc tờ Daily Rockoning”, một tờ báo giống như tờ “La Chronigue Agỏa” của Mỹ – TTXVN), khẳng định rằng cuộc chiến tranh Libi là một “phản ứngcủa Mỹ trước việc Trung Quốc thâm nhập châu Phi”.

Tôi cảm thấy điều đó không đúng. Trữ lượng dầu mỏ khổng lồ thuộc loại lớn nhất ở châu Phi (chiếm 3,3% trữ lượng của thế giới tức đứng thứ thứ 8 thế giới) và khiến Trung Quốc rất quan tâm. Xuất khẩu dầu mo của Libi sang Trung Quốc tăng đáng kể, cho đến năm 2002, Trung Quốc vẫn chưa phải là khách hàng của nước này. Năm 2010, Libi bảo đảm tới 3% lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc và đứng thứ 11 trong số các nước bán dâu mỏ cho Trung Quốc.

Tuy nhiên, Trung Quốc có cái khó là ở quá xa các nước Địa Trung Hải do đó tàu chở dầu phải đi qua kênh đào Xuyê hiện nay đã gần như chật cứng. Chưa bao giờ Trung Quốc nhìn nhận Libi như một đối tác đáng tin cậy. Mối quan hệ song phương đúng là có phát triển sâu rộng bắt đầu từ những năm 1990, khi Libi chịu lệnh trừng phạt quốc tế sau vụ Lockerbie. Tuy vậy Libi vẫn giữ quan hệ ngoại giao với Trung Quốc dân tộc chủ nghĩa (Đài Loan – TTXVN) cho đến năm 1978 và vẫn tiếp tục duy trì mối liên hệ khá chặt chẽ với hòn đảo này.

Tháng 1/2006, con trai của ông Gaddafi là Seif el-Islam, đã đến thăm Đài Loan và tháng 5/2006, Chính quyền Gaddafi đã tiếp đón Tổng thống Đài Loan lúc đó là Trần Thủy Biển, sau khi ông này có chuyến thăm Côxta Rica. Rồi đầu năm 2008, Đài Bắc đã mở văn phòng đại diện thương mại tại Libi. Tất cả những chuyện đó đã khiến Trung Quốc đại lục bất bình trong khi đầu tư của nước này vào Libi là khá ít. Tổng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Libi năm 2009 chí đạt mức 0,42 tỷ USD, chiếm khoảng 0,45% đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc trên toàn châu Phi.

Châu Phi, điểm va chạm kinh tế

Mỹ và Trung Quốc đã từng khởi động cuộc thương lượng ở cấp cao để thảo luận khả năng hợp tác giữa hai nước với các nước châu Phi. Nhưng giới quan sát nhận xét Bắc Kinh và Oasinhtơn hoàn toàn không có một nhãn quan chiến lược giống nhau.

Ông Johnnie Carson, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ, vào trung tuần tháng 11/2011 đã đến Băc Kinh để đồng chủ trì vòng gặp gỡ lần thứ 5 Mỹ-Trung về châu Phi. Chuyến thăm này nằm trong khuôn khổ chuyến công du của ông qua các nước Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Trung Quốc và Mỹ là những đối tác kinh tế chính của châu Phi, với khối lượng trao đổi thương mại hàng năm của mỗi nước lên tới trên dưới 100 tỷ USD.

Phần lớn trao đổi hàng hóa có liên quan đến dầu mỏ và sản phẩm khai khoáng. Theo tạp chí “Jeune Afrique”, Trung Quốc không phản đối hợp tác song phương với Mỹ ở châu Phi, nhưng đặt ra điều kiện: phải tính tới lợi ích của các nước châu Phi, hỗ trợ các dự án nhỏ về nông nghiệp và y tế, sử dụng các cơ chế hợp tác sẵn có. Bộ Ngoại giao Trung Quốc gợi ý nên bắt đầu bằng hợp tác song phương ở các nước mà cả Trung Quốc và Mỹ có mối quan hệ tốt như Êtiôpia, Gana và Liberia.

Phía Mỹ cho biết các nước châu Phi tỏ ra rất nghi ngại đối với kiểu hợp tác tay ba nói trên. Họ sợ rằng Mỹ lợi dụng điều đó để lồng điều kiện chính trị vào việc cung cấp viện trợ và cũng lo sợ khoản tài trợ sẽ giảm. Theo Mỹ, các nước châu Phi không muốn có điều kiện mà muốn có các phương án phụ. Trong khi đó, lãnh đạo các nước châu Phi nhìn nhận sự có mặt của Trung Quốc tương đối tốt vì các nước châu lục tận dụng được sự cạnh tranh về chính trị, ngoại giao và tài chính.

Cũng theo đánh giá của phía Mỹ, Trung Quốc có thể sử dụng lập luận này đế không cụ thể hóa đối thoại Trung Quốc-Mỹ-châu Phi vì loại hình hợp tác này trong một thời gian ngắn có thể ít có lợi cho Trung Quốc hơn là các mối quan hệ hợp tác song phương thông thường với các nước ở châu tục. Trong khi đó, Bộ Thương mại Mỹ cho rằng sẽ có lợi hơn đối với nước này nếu làm việc với các tổ chức vùng và các cơ chế như Chương trình phát triển nông nghiệp toàn diện châu Phi (CAADP) để tuyên truyền về hợp tác tay ba trong các đối tác châu Phi, đồng thời đưa các nước châu Phi tham gia các cuộc thương lượng.

Trung Quốc đi trước các cường quốc phương Tây một khoảng cách xa vì hợp tác giữa nước này với châu Phi không bị kèm theo điều kiện nào về đòi hỏi dân chủ và nhân quyền vì bản thân Trung Quốc cũng không coi đó là ưu tiên hàng đầu của mình. Chỉ riêng năm 2009, nước này đã đầu tư gần 10 tỷ USD vào châu Phi và trao đổi giữa hai bên tăng đáng kể trong những năm gần đây. Trung Quốc trong những năm gần đây được biết đến nhiều với việc mua ngày càng nhiều đất nông nghiệp. Ngoài mua nguyên liệu và đầu tư vào các ngành công nghiệp, Bắc Kinh tập trung nỗ lực mua dầu mỏ và nguyên liệu để duy trì tăng trưởng kinh tế.

Trong con mắt của Mỹ, việc Trung Quốc đổ tiền đầu tư vào châu Phi và cung cấp viện trợ kinh tế cho nhiều nước ở châu lục này không hoàn toàn là vô tư và vô hại. Trong chuyến công du ở châu lục 5 ngày vào đầu tháng 6/2011, Ngoại trưởng Mỹ, Hillary Clinton, cảnh báo các nước châu Phi nên thận trọng với chủ nghĩa thực dân mới mà hiện thân là Trung Quốc. Trả lời câu hỏi của truyền hình Dămbia về ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc ở châu lục, bà Hillary Clinton cho rằng châu Phi phải coi chừng những đối tác chỉ làm việc với giới tinh hoa của nước họ.

Tại các chặng dừng chân ở Dămbia, Tandania và Êtiôpia, bà Clinton đã đưa ra những tuyên bố mà giới quan sát cho là sẽ khiến Trung Quốc phản ứng. Bà nói rằng nước Mỹ không muốn thấy xuất hiện một chủ nghĩa thực dân mới ở châu Phi và cũng không muốn thấy các nhà đầu tư làm hỏng giới lãnh đạo ở châu lục. Theo Ngoại trưởng Mỹ, các nước châu Phi có thể học được nhiều cách mà chính phủ các nước châu Á sử dụng để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, song bà nhấn mạnh Trung Quốc không phải là một hình mẫu về chính trị. Chính quyền Mỹ cho biết bắt đầu thấy nhiều vấn đề ở Trung Quốc, chẳng hạn quyết định kiểm soát Internet. Trong khi đó, bà Hillary Clinton cho rằng ở Mỹ và các nền dân chủ có nhiều bài học để rút ra hờn. Ngoại trưởng Hillary Clinton cũng không ngần ngại phê phán địch thủ châu Á thiếu minh bạch trong giao dịch với châu Phi. Bà khẳng định về lâu dài, đầu tư của Mỹ sẽ theo hướng bền vững và vì lợi ích của nhân dân các nước châu Phi. Bà cũng bảo vệ chính sách thương mại của Mỹ đã tạo ra lợi nhuận thương mại cho các nước đáp ứng tiêu chuẩn về dân chủ và kinh tế thị trường.

Chuyên gia phân tích Pascal Airault cho rằng chuyến công du 3 nước châu Phi của bà Hillary Clinton cho thấy mối quan tâm ngày càng tăng của Mỹ đối với các nền kinh tế châu lục và nằm trong khuôn khổ chiến dịch của Mỹ giúp các nước châu Phi thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững. Mỹ muốn tăng cường mối quan hệ thương mại với các nước châu Phi một cách bền vừng và có lợi cho các nước này. Có thể nói rằng nhân các cuộc cách mạng Arập, Ngoại trưởng Mỹ đã sử dụng lối nói tấn công để ủng hộ tiến trình dân chủ hóa ở các nước châu Phi như Tổng thống Barack Obama đã làm khi ông đến thăm chính thức Gana vào đầu nhiệm kỳ. Tuy vấn đề lãnh đạo tốt và chống tham nhũng có được đề cập đến, song kinh tế và thương mại được nói đến nhiều nhất trong các bài phát biểu của bà Hillary Clinton.

Chuyến thăm Dămbia của Ngoại trưởng Mỹ cũng nằm trong khuôn khổ hội nghị thường niên của AGOA (Luật tăng Trưởng và khả năng kinh tế của châu Phi). Bộ luật này của Mỹ cho phép 37 nước châu Phi xuất khẩu miễn thuế sang Mỹ từ năm 2000 đến năm 2015 nếu các nước được hưởng tôn trọng chuẩn mực cơ bản của dân chủ và kinh tế thị trườmg. Các nước châu Phi xuất khâu sang Mỹ 6.500 mặt hàng miễn thuế, trong đó tuyệt đại đa số (90%) là dầu mỏ. Xuất khẩu hàng công nghiệp tăng 4 lần, nhưng chỉ có Nam Phi đầu tư đáng kể vào lĩnh vực này. Trái lại, việc Mỹ cho phép nhập khẩu quần áo sản xuất ở châu Phi bằng vải nhập khâu dường như tạo ra hiệu ứng bất ngờ, trái với những gì được chờ đợi. Thực tế là quyết định này đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự bùng nổ các doanh nghiệp Trung Quốc chuyên về lĩnh vực này ở châu Phi.

Nhưng Trung Quốc đúng là một kẻ cạnh tranh được đánh giá là “đặc biệt tai hại” ở châu lục. Mỹ cũng như các đồng minh châu Âu tỏ ra lo ngại trước sự có mặt ngày càng sâu rộng của gã khống lồ kinh tế châu Á này. Trung Quốc là đối tác thương mại quan trọng nhất và nhà đầu tư lớn nhất ở châu Phi. Lượng hàng hóa trao đổi giữa hai bên tăng 40% với 127 tỷ USD trong năm 2010, so với 44 tỷ USD của Mỹ. Cuộc khủng hoảng Libi nổ ra đã phơi bày những uẩn khúc bên trong mối quan hệ hợp tác thầm lặng giữa Trung Quốc với nước này nói riêng, với châu Phi nói chung.

Những người chạy loạn khỏi Libi hồi tháng 2/2011 không chỉ đơn thuần là các gia đình muốn bảo toàn cuộc sống của họ và người lao động đến từ các nước châu Phi khác. Trong số đó có hàng chục nghìn người “di cư” khác được chính phủ họ di tản bằng máy bay và tàu biển. Phần lớn họ là công nhân và kỹ thuật viên làm việc cho các công ty dầu mỏ lớn, quốc gia cũng như xuyên quốc gia. Hơn 30.000 công nhân dầu mỏ và xây dựng Trung Quốc nằm trong số đó.

Trung Quốc đứng hàng thứ tư (sau Italia, Đức, Pháp) trong số các nước nhập nhiều dầu mỏ của Libi nhất và đứng thứ hai (sau Italia, trước Thổ Nhĩ Kỳ và Đức) trong số các nước xuất khẩu sang Libi nhiều nhất, Trao đối thương mại giữa Trung Quốc với Libi thời Gaddafi tăng trưởng mạnh (khoảng 30% chỉ trong năm 2010). Nhưng với cuộc chiến dẫn đến sự ra đi của ông Gaddafi, nền tảng của mối quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc với nước này đã hoàn toàn sụp đổ. Vị thế của Trung Quốc ở Libi hoàn toàn trái ngược với vị thế của Mỹ thời hậu Gaddafi.

Trước khi NATO can thiệp bằng quân sự, Tổng thống Mỹ, Barack Obama, tuyên bố có trong tay một loạt các giải pháp để giải quyết cuộc khủng hoảng Libi, kể cả các hành động mà Mỹ có thể thực hiện và phối hợp với các đồng minh thực hiện thông qua các thể chế đa phương. Thông điệp này, theo nhà phân tích Manlio Dinucci, đã quá rõ ràng: đó là khả năng can thiệp quân sự. Như vậy, lý do thực cũng quá rõ ràng: một khi ông Gaddafi bị lật đổ, Mỹ có thể lật nhào mọi khuôn khổ quan hệ kinh tế của Libi và từ đó mở đường cho các công ty xuyên quốc gia của mình vào làm ăn ở nước này vì cho đến lúc đó, các công ty của Mỹ không tham gia khai thác dầu mỏ ở đây. Như vậy, Mỹ cũng có thể kiểm soát nguồn năng lượng mà Trung Quốc phụ thuộc.

Tất cả những sự việc đó nằm trong một cuộc chơi lớn về phân chia lại nguồn tài nguyên của châu Phi và qua đó làm gia tăng cuộc chiến kinh tế giữa Mỹ và Trung Quốc. Cường quốc kinh tế châu Á đang lên có khoảng 5 triệu nhà thầu khoán, kỹ thuật viên và công nhân đang làm việc ở châu Phi trong các ngành công nghiệp và xây dựng hạ tầng để đổi lấy dầu mỏ và các nguyên liệu khác. Mỹ do không cạnh tranh được với Trung Quốc về phương diện này, nên thường dựa vào quân đội của các nước chính ở châu Phi, huấn luyện họ thông qua Bộ chỉ huy của Mỹ ở châu Phi (AFRICOM) được coi là công cụ chính để thâm nhập vào châu lục. Hiện nay, NATO cũng đã nhảy vào cuộc chơi và có thể sẽ ký một hiệp ước hợp tác song phương về quân sự với Liên minh châu Phi, một tổ chức có 54 nước thành viên. Tổng hành dinh của sự hợp tác song phương giữa NATO và châu Phi đã bắt đầu được xây dựng ở Addis Abeba (Êtiôpia), được Đức tài trợ 27 triệu euro và được đặt tên là “Tòa nhà hòa bình và an ninh”.

Trò mèo đuổi chuột tại Durban

Hội nghị quốc tế chống biến đổi khí hậu Durban ngày 11/12 đã thông qua lộ trình kéo dài Nghị định thư Kyôtô mở đường cho một thỏa thuận tổng thể mới vào năm 2015. Lần đầu tiên, văn kiện này huy động được tất cả các nước, kể cả những nước gây ô nhiễm nhiều nhất thế giới (Trung Quôc, Ấn Độ, Mỹ) trong cuộc đấu tranh chống biến đổi khí hậu. Nhưng văn kiện này lại không đưa ra các điều khoản bắt buộc về phương diện pháp lý cũng không yêu cầu tăng thêm mức độ hứa hẹn của các nước để giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính.

Tại cuộc họp lần này, các cường quốc, cụ thể là Trung Quốc và Mỹ, đã bị nhắc nhở phải làm sao đạt được một thỏa thuận tổng thể và thông qua các biện pháp thực sự hạn chế khí thải. Theo ông Jean-Paul Maréchal, tác giả cuốn “Trung Quốc-Mỹ, khí hậu gặp hiểm nguy”, mọi thứ đều do lối của tăng trưởng kinh tế.

Lý giải trên tạp chí “Phát thanh”, ông Jean-Paul Maréchal nhận xét giữa một châu Âu đang chìm đắm trong khủng hoảng nợ công, một nước Mỹ ốm yếu và một nước Trung Quốc đang hụt hơi vì xuất khẩu suy giảm và lạm phát tăng với tốc độ phi mã, bối cảnh kinh tế toàn cầu trong thời gian gần đây là quá ảm đạm. Trong lúc diễn ra Hội nghị thượng đỉnh Durban về biến đổi khí hậu, các nước lớn bận rộn với việc tìm giải pháp để phục hồi kinh tế hơn là thảo luận về môi trường và biến đổi khí hậu. Hơn nữa vì các cường quốc này sợ mục tiêu giảm khí thải gây trở ngại cho phục hồi kinh tế vốn rất được chờ đợi.

Do vậy, đối với những người bi quan nhất, hội nghị thượng đỉnh Durban chỉ là một thứ đầu voi đuôi chuột như đã được dự báo. Mỹ và Trung Quốc, hai nước thải ra nhiều khí thải nhất- khoảng 40% tổng lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính của thế giới – chơi trò mèo đuổi chuột thực sự. Nước này đá quá bóng sang nước kia và tránh đưa ra những quyết định có tính chất bắt buộc có thể kìm hãm sự phát triển kinh tế của mình. Không nước nào muốn để cho đối thủ của mình được tự do hành động, cũng không nước nào muốn chậm chân trong cuộc cạnh tranh.

Tại Hội nghị thượng đỉnh Durban, Trung Quốc hé lộ dấu hiệu mở cửa…nhưng có điều kiện. Nước này đã mở đường cho việc thiết lập mức trần bắt buộc đối với khí thải CO2, nhưng lại đòi phải gia hạn Nghị định thư Kyôtô. Là nước thải nhiều khí CO2 nhất thế giới, Trung Quốc cho đến nay vẫn nhận mình là nước đang phát triển để từ chối mọi khuôn khổ pháp lý bắt buộc đối với lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính mà nước này thải ra.

Như vậy, chuyên gia Jean-Paul Maréchal khẳng định đúng là Trung Quốc có ý đồ thao túng để Nghị định thư Kyôtô, một văn kiện không ràng buộc các nước mới trỗi dậy – trong đó có Trung Quốc – được gia hạn từ năm 2013 đến năm 2017. Đây là một đòi hỏi mà Canada dường như không sẵn sàng đáp ứng.

Ông Peter Kent, Bộ trưởng Môi trường liên bang Canada, khẳng định nước này rút khỏi cam kết với lý do chính là việc một số nước lớn mới nổi – Trung Quốc, Braxin, Ấn Độ – nằm trong số các nước thải ra nhiều khí thải gây hiệu ứng nhà kính nhất thế giới. Một đại diện của Canada cho biết họ tin rằng cuối cùng chỉ có một thỏa thuận bao gồm tất cả các nước phát thải – kể cả trong số các nước phát triển lẫn các nước đang phát triển – là cách duy nhất để giảm lượng khí thải nhằm ngăn ngừa khí hậu nóng lên.

Trưởng đoàn Trung Quốc tại Durban, Giải Chấn Hoa, không ngần ngại phê phán lập trường của Canada, nhấn mạnh việc các thỏa thuận hiện có phải được duy trì. Ông này cho rằng nếu không thực hiện cam kết đã được tất cả các nước thống nhất thì làm sao xây dựng được lòng tin chính trị giữa các nước.

Là một trong những nước gây ô nhiễm nặng nhất thế giới, cụ thể là do phụ thuộc vào than (chiếm khoảng 70% nhu cầu năng lượng), Trung Quốc ý thức được những thay đổi về môi trường mà họ phải đối mặt. Nhiều chương trình môi trường đã được hoạch định và nhiều phong trào xã hội liên quan đến môi trường đã xuất hiện ở nước này, cụ thể là về chất lượng không khí. Tuy nhiên, Trung Quốc một mặt sẵn sàng hành động ở trong nước, mặt khác không còn đóng vai người đại diện và người phát ngôn cho các nước mới nổi như người ta thường thấy tại các hội nghị thượng đỉnh kinh tế, cụ thể là tại các hội nghị cấp cao của nhóm G20. Theo chuyên gia Jean-Paul Maréchal, điều đó cũng là bình thường. Trung Quốc không có các vấn đề giống như ở các nước nghèo nhất thế giới. Lợi ích của Trung Quốc và các nước này cũng không giống nhau.

Trong khi Trung Quốc nói về thay đổi khí hậu như là một mối đe dọa nghiêm trọng ở cấp độ quốc gia, các nhà lãnh đạo nước này cũng rất lưu ý để làm sao không làm tổn hại sự phát triển của chính nước họ. Họ muốn có một loạt thứ hai các thỏa thuận trực tiếp nằm trong Nghị định thư Kyôtô, một hiệp ước buộc các nước giàu phải giảm lượng khí thải cácbon. Ông Giải Chấn Hoa, nhà thương lượng của Trung Quốc tại hội nghị Durban, tuyên bố kế hoạch

Giảm khí thải dành cho các nước phát triển phải được làm rõ càng nhanh càng tốt. Ông cũng nói rằng Trung Quốc chỉ đưa ra cam kết phù hợp với trình độ phát triển của mình.

Nghị định thư Kyôtô, được thương lượng xong năm 1997, là hiệp ước quốc tế hợp pháp duy nhất tồn tại về biến đổi khí hậu. Hiệp ước yêu cầu các nước phát triển giảm lượng khí thải, đồng thời yêu cầu trợ giúp tài chính và kỹ thuật cho các nước đang phát triển yếu nhất. Các thỏa thuận này đến cuối năm 2012 sẽ hết thời hạn. Nghị định thư trái lại loại trừ nước thải ra nhiều khí thải nhất thế giới là Mỹ, nước chưa bao giờ phê chuẩn hiệp ước này, cũng như Ấn Độ và Trung Quốc là những nước thải ra khối lượng rất lớn khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Nhưng Trung Quốc đã nhận được sự ủng hộ của Braxin, Ấn Độ và nước chủ nhà Nam Phi trong việc tìm kiếm loạt thỏa thuận thứ hai của Nghị định thư Kyôtô.

Theo bà Jennifer Morgan, Giám đốc chương trình Khí hậu và Năng lượng thuộc Viện tài nguyên thế giới (WRI), hành động của Trung Quốc rõ ràng nhằm gây áp lực đối với Mỹ cho dù Ấn Độ và Braxin chưa đưa ra bất kỳ một nhân nhượng nào.

Trong khi các hội nghị thượng đỉnh trước về khí hậu đều thất bại và cho thấy sự đối lập rõ ràng giữa Trung Quốc – mũi chủ công của các nước mới trỗi dậy – và Mỹ – nước công nghiệp hóa duy nhất không phê chuẩn Nghị định thư Kyôtô – hội nghị Durban cũng không dẫn đến một thỏa thuận lịch sử nào. Theo chuyên gia Jean-Paul Maréchal, một số điều kiện do Trung Quốc đặt ra để tuân thủ nghị định thư nói trên đã phong tỏa mọi cuộc thương lượng.

Ông Jean-Paul Maréchal cảnh báo nếu Mỹ và Trung Quốc không làm gì thì cả hệ thống của thế giới nhằm đấu tranh chống biến đổi khí hậu có nguy cơ gặp khó khăn bởi lẽ sự can dự của hai nước này có tầm quan trọng rất lớn. Tuy nhiên, ông cho rằng trong khi yêu cầu về kinh tế phần nào kìm hãm tiến trình thương lượng liên quan đến biến đổi khí hậu, thương mại rất có thể là lối thoát khỏi ngõ cụt đó…

Nếu tình hình kinh tế thế giới không quá xấu, sắp tới người ta sẽ được chứng kiến nhiều khoản đầu tư vào công nghệ thân thiện với môi trường và tất cả các trang thiết bị có liên quan. Đó quả thực là một cơ hội cho môi trường. Trung Quốc và Mỹ cạnh tranh nhau quyết liệt trong lĩnh vực “thương mại xanh”. Ý thức được tiềm năng cực kỳ lớn của thị trường công nghệ thân thiện với môi trường, cả hai nước đã khởi động một cuộc chiến trong lĩnh vực này. Một cuộc chiến thương mại được coi là một trong những tia hy vọng đôi với sự nghiệp nghiên cứu tác động của khí hậu. Cho dù tia sáng đó còn yếu, song chuyên gia Jean-Paul Maréchal đánh giá như vậy cũng đủ cho thấy có thể có một lối thoát khỏi đường hầm.

Giải pháp nào cho Mỹ?

Với tiềm lực kinh tế hiện nay của Mỹ cũng như của Trung Quốc, trong đó ưu thế dường như nghiêng về phía Bắc Kinh, một cuộc đối đầu trực diện sẽ không có lợi cho Mỹ và cũng chưa chắc Mỹ đã thắng. Ông Paul Craig Roberts, Quốc vụ khanh Tài chính Mỹ dưới thời Tổng thống Ronald Reagan, cho rằng câu trả lời cho vấn đề trỗi dậy của Trung Quốc có thể là đẩy Trung Quốc vào một cuộc chiến tranh hạt nhân với Ấn Độ. Ông lý giải trên tạp chí “Toàn cầu hóa” như sau:

Vụ dàn dựng cái chết giả của Bin Laden trong một vụ tập kích đường không vi phạm chủ quyền của Pakixtan được tổ hợp quân sự-công nghiệp ở Mỹ cho là nhờ công của Tổng thống Obama để lấy đó làm phương tiện làm tăng uy tín của ông trong các cuộc thăm dò dư luận.

Vụ tập kích thành công đến mức tạo thêm danh tiếng cho Obama. Nhưng mục tiêu thực sự của chiến dịch này là nhằm vào Pakixtan và để cho nước này thấy Mỹ có thể xâm lược nhằm buộc nước này phải trả giá cho cái được gọi là che giấu Bin Laden ngay cạnh Học viện quốc phòng Pakixtan. Theo quan điểm của phái tân bảo thủ cũng như lập trường ngày càng phổ biến trong quân đội Mỹ, quân Taliban chỉ có thể bị đánh bại và quy phục nếu NATO mở rộng phạm vi tiến hành chiến dịch quân sự ở Pakixtan, nơi quân Taliban được cho là có hang ổ được chính phủ nước này bảo vệ, trong khi chính Chính phủ Pakixtan lấy tiền của Mỹ nhưng không làm theo lệnh Mỹ.

Pakixtan cảm nhận được rất rõ ràng mối đe dọa đó và vội vã cầu cứu Trung Quốc. Ngày 17/5, Thủ tướng Pakixtan, Yousaf Raza Gilani, ngay trước khi lên đường sang thăm Trung Quốc, tuyên bố nước này là “người bạn tốt nhất của Pakixtan” và là người bạn mà Pakixtan “tin tường nhất”. Trung Quốc đã xây dựng một hải cảng ở thành phố Gwadar của Pakixtan, gần với lối ra vào eo biến Hormuz. Cảng này có thể trở thành một căn cứ hải quân của Trung Quốc trên biển Arập.

Theo tờ “Pakistan Tribune”, trong một lần phát biểu tại Học viện quốc phòng quốc gia Pakixtan, đại sứ nước này tại Mỹ, Hussein Haqqani, đề nghị giới chức quân sự cho biết họ nghĩ gì về mối đe dọa lớn nhất từ bên ngoài đối với Pakixtan, và mối đe dọa đó có thể đến từ Ấn Độ hay là Mỹ. Đa số các sĩ quan trả lời rằng Mỹ là mối đe dọa lớn nhất đối với Pakixtan.

Trung Quốc, một người không lồ châu Á khác đang vươn lên mạnh mẽ và có mối quan ngại với Ấn Độ, tỏ ý muốn liên minh với Pakixtan. Hơn nữa, Trung Quốc không muốn thấy Mỹ hiện diện ở sát biên giới của mình, chính xác là ở những nơi quân đội Mỹ có khả năng có mặt trong trường hợp xảy ra xung đột công khai với Pakixtan.

Như vậy, Trung Quốc cho thấy họ bất bình trước mối đe dọa của Mỹ đối với Pakixtan và khuyên Mỹ nên tôn trọng chủ quyền của nước này, thậm chí nói thêm rằng mọi cuộc tấn công vào Pakixtan sẽ được coi là tấn công chống Trung Quốc.

Báo chí Mỹ không đáp lại cũng không bình luận gì về tối hậu thư đó của Trung Quốc, nhưng sự việc này được nói đến nhiều trong báo chí Ấn Độ. Nước này quan tâm tới Trung Quốc, nước đang bảo vệ Pakixtan.

Tối hậu thư của Trung Quốc là quan trọng bởi đó là một tối hậu thư có cùng mức độ vói những tối hậu thư đã từng được đưa ra trước các cuộc Chiến tranh thế giới thứ Nhất và thứ Hai. Khi Trung Quốc đứng về phía Pakixtan ở mức độ như vậy, Mỹ lúc này sẽ phải tìm cách thoát ra khỏi cuộc đối đầu đó bằng cách đưa Ấn Độ vào thay thế mình.

Mỹ tỏ ra rất quỵ lụy Ấn Độ, trọng vọng nước này một cách đáng xấu hổ, thậm chí đến mức hy sinh một số lớn việc làm của người Mỹ. Mới đây, Mỹ còn bán nhiều vũ khí cho Ấn Độ, gia tăng hợp tác quân sự Mỹ-Ấn và các cuộc tập trận chung giữa hai nước.

Mỹ nghĩ rằng Ấn Độ, nước từng tỏ ra ngây thơ trong nhiều thế kỷ đối với Anh, cũng sẽ ngây thơ khi đứng trước “thành phố vàng trên đồi” mang lại “tự do và dân chủ cho thế giới” bằng cách đè bẹp, tàn sát và phá hủy. Cũng như Anh và Pháp, các chính khách Ấn Độ sẽ ở trong thế phải làm tất cả những gì Mỹ muốn. Đến lúc Ấn Độ và Trung Quốc nhận ra mình bị thao túng tới mức bị Mỹ đẩy đến chỗ tiêu diệt lẫn nhau, sẽ là quá muộn đối với cả hai và đến lúc đó sẽ không thể rút ra được.

Một khi Trung Quốc và Ấn Độ bị loại bỏ, chỉ còn lại Nga, nhưng nước này đã bị bao vây bởi một vành đai căn cứ tên lửa của Mỹ và bị NATO, hiện bao gồm cả một số nước thành viên của Liên Xô trước đây, cô lập với châu Âu. Một tỷ lệ lớn trong giới trẻ Nga ngưỡng mộ Mỹ vì “tự do” của nước này mặc dù họ biết không nhiều về thứ tự do đó, và chán ghét Nhà nước “độc tài” Nga, mà trong con mắt của họ vốn chỉ là sự tiếp nối của Nhà nước Xôviết trước đây. số “người Nga bị quốc tế hóa” đó sẽ đứng về phía Oasinhtơn, từ đó buộc Nga ít nhiều phải đầu hàng.

Bởi lẽ các nước khác trên thế giới, trừ một vài nước ở Nam Mỹ, hiện đã đứng về phía Mỹ nên nếu Nga đầu hàng sẽ tạo điều kiện cho Mỹ tác động đến vùng Nam Mỹ. Tổng thống Hugo Chavez sẽ bị lật đổ và nếu các nước khác không chịu theo Mỹ, sẽ có thêm nhiều nước chịu chung số phận như Vênêxuêla.

Cách duy nhất để Nga và Trung Quốc ngăn chặn Mỹ là nhận ra mối nguy này và thiết lập một liên minh không thể phá vỡ nổi và liên minh này có thể sẽ trấn an Ấn Độ, đưa được Đức ra khỏi NATO và bảo vệ Iran.

Nói cách khác, đế quốc Mỹ sẽ bao trùm lên toàn thế giới. Đồng đôla Mỹ sẽ trở thành đồng tiền thế giới duy nhất và như vậy nước Mỹ sẽ không bị mất giá nhờ quy đổi vấn đề tiền tệ hóa món nợ của mình.

Advertisements

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
Bài này đã được đăng trong Archives, Articles, International relations, Teaching và được gắn thẻ , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s