BẢY SAI LẦM TRONG CUỘC KHỦNG HOẢNG KHU VỰC ĐỒNG EURO

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ hai, ngày 6/2/2012

TTXVN (Pari 1/2)

Tờ Les Echos số ra mới đây nhận xét những sai lầm phạm phải kể từ khi bắt đầu cuộc khủng hoảng khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) đầu năm 2010 đã làm tăng thêm sự ngờ vực lẫn nhau không chỉ đối với khu vực, mà còn với thế giới về các liệu pháp hiệu quả nhằm giải quyết khủng hoảng.

Theo báo trên, những sai lầm dẫn đến khủng hoảng phần do thiếu năng lực kiểm soát và quản lý khủng hoảng, phần do thiếu một tầm nhìn và thường gắn với các quyết định thuần túy mang tính chính trị. Sai lầm đầu tiên có thể kể đến là việc “chẩn bệnh” yếu kém ngay từ những hội chứng đầu tiên. Theo quan điểm của chuyên gia Bruno Cavalier thuộc hãng Oddo Securities, châu Âu đã xác định không trúng vấn đề ngay từ khi bắt đầu cuộc khủng hoảng Hy Lạp. Đó là vấn đề về tính thanh khoản và nếu những khuyết tật của Hy Lạp được xử lý tốt thì có thể hạn chế thiệt hại cho những nước khác và cho hệ thống tài chính. Một lựa chọn khác là các chính phủ trong Eurozone cùng gánh chịu chung các khoản nợ của Hy Lạp. Tuy nhiên những đề xuất này đã bị loại bỏ từ tháng 7/2011 khi các nước đạt được thỏa thuận mang tính nguyên tắc về việc xử lý nợ công của Hy Lạp.

Sai lầm thứ hai được nói đến là kế hoạch trợ giúp cho Hy Lạp không mang tính bền vững. Cả Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Liên minh châu Âu (EU) và Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) đều cùng xử lý vấn đề nợ công của Hy Lạp. Kế hoạch trợ giúp đầu tiên từ tháng 5/2010, dự kiến mức thâm hụt ngân sách của Hy Lạp sẽ giảm từ 14% xuống còn 3% trong vòng 3 năm với giả thuyết nước này sẽ trở lại thị trường từ năm 2012. Những mục tiêu này được đánh giá là phi hiện thực với một đất nước nổi tiếng về nền hành chính còn yếu kém. Không thoát khỏi cuộc khủng hoảng, Hy Lạp tiếp tục lún sâu. Năm 2011 là năm thứ tư liên tiếp Hy Lạp suy thoái, trong khi mức nợ công tiếp tục tăng cao (160%, so với mức 127% năm 2009). Đức đã có lý khi đòi hỏi Hy Lạp phải quyết liệt ngăn chặn khủng hoảng. Tuy nhiên, kể từ thời điểm đó, vấn đề nợ công của Hy Lạp tiếp tục vươn “nọc độc”, lan truyền sang phần còn lại của Eurozone.

Sai lầm thứ ba là những hỗ trợ, ủng hộ quá hạn chế và quá chậm. Trong cuộc tiếp sức trợ giúp Hy Lạp, các nhà lãnh đạo Eurozone đã tạo ra Quỹ bình ổn tài chính châu Âu (EFSF), với số tiền ban đầu 440 tỉ euro trợ giúp khi cần thiết cho các nước có số nợ lớn. Tuy nhiên, các nhà đầu tư đã nhanh chóng nhận ra những điểm yếu của hệ thống. Quỹ này chỉ có thể đảm bảo cứu nguy cho những nước nhỏ nhất, mà không thể đủ phương tiện tài chính cần thiết giúp các nước lớn hơn như Tây Ban Nha hay Italia. Theo chuyên gia phân tích Jean Pisani-Ferry, châu Âu đã tạo ra một loạt các công cụ mới. Tuy vậy, hành động của giới chức có trách nhiệm cho thấy họ đã làm quá ít và quá chậm. Một ví dụ được đưa ra là EFSF có thể mua lại các khoản trái phiếu nhà nước, cơ cấu lại nguồn vốn ngân hàng và các khoản cho vay dự phòng từ tháng 7/2011, song các cuộc cải cách này chỉ được thực hiện từ giữa tháng 10/2011. Đó là phản ứng chậm tới mức không thể tránh được tình trạng lây nhiễm.

Sai lầm thứ tư liên quan đến sự dính líu của những ngân hàng bị tác động mạnh bởi cuộc khủng hoảng. ECB đã tìm cách chống lại điều này, cả Pháp cũng vậy, song Đức lại muốn có sự tham gia của các chủ nợ tư nhân trong kế hoạch cứu trợ các nước, cùng với việc yêu cầu họ từ bỏ một phần nợ. Ý định này như đổ thêm dầu vào lửa. Nó làm gieo rắc sự ngờ vực trong giới đầu tư về nguy cơ gặp phải đối với các khoản đầu tư vào các khối nợ trong Eurozone. Trên bình diện chính trị, biện pháp này có thể để lại hậu quả nặng nề. Thủ tướng Đức Angela Merkel rốt cuộc cũng thừa nhận giải pháp này là quá muộn.

Sai lầm thứ năm đề cập đến vai trò không rõ ràng của ECB. Từ nhiều tháng qua, gần như toàn thế giới đều gây sức ép đòi ECB có biện pháp can thiệp mạnh tới thị trường nợ công nhằm làm giảm tỉ lệ vay nợ. Dù ECB đã mua lại 300 tỉ euro trái phiếu của Hy Lạp, Alien, Italia, Tây Ban Nha và Bô Đào Nha, song những biện pháp này không thể kéo dài. Chính vì vậy, tác động đối với các thị trường tỏ ra hạn chế.

Sai lầm thứ sáu liên quan đến hệ thống ngân hàng. Phải gánh nhiều trái phiếu của nhà nước, các ngân hàng là mục tiêu của mọi sự chú ý nhưng đồng thời cũng bị gây sức ép lớn. Là những thành trì ngày càng trở nên bấp bênh, các ngân hàng châu Âu giờ đây bị các chính phủ yêu cầu tăng thêm nguồn năng lực tài chính riêng của họ. Tuy nhiên, để định giá năng lực tài chính của các ngân hàng, cũng cần xác định rõ giá trị thực của các khoản nợ công mà các ngân hàng đang nắm theo giá thị trường, chứ không phải giá trị trên sổ sách kế toán. Những khoản nợ công thực sự đang đe dọa đến độ an toàn của các ngân hàng.

Sai lầm sau cùng liên quan đến việc áp dụng chính sách kinh tế khắc khổ rộng rãi. Trên bình diện kinh tế vĩ mô, tất cả các nước trong khu vực đồng euro, do lo ngại tình trạng lây nhiễm, đã áp dụng các chính sách kinh tế thắt lưng buộc bụng theo nhiều dạng khác nhau. Tuy nhiên, việc áp dụng đồng thời các biện pháp khẩn cấp này đã đẩy Eurozone rơi vào tình trạng suy thoái. Hiện nay, nhiều chính phủ châu Âu đang tìm cách thúc đẩy mạnh mẽ các nguồn lực phục vụ tăng trưởng.

Advertisements

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
Bài này đã được đăng trong Archives, Articles, International relations và được gắn thẻ , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s