CÁC MỤC TIÊU THỰC SỰ TRONG LỆNH CẤM VẬN DẦU LỬA IRAN CỦA EU

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ hai ngày 13/2/2012

TTXVN (Ốttaoa 8/2)

Mạng tin “Nghiên cứu toàn cầu” cuối tuần qua đăng bài phân tích về các mục tiêu thực sự trong lệnh cấm vận dầu lửa Iran cua Liên minh châu Âu (EU) của ông Mahdi Darius Nazemroaya, nhà nghiên cứu thuộc Trung tâm nghiên cứu về toàn cầu hóa (CRG) tại Montreal (Canada), với nội dung sau.

Lệnh cấm vận dầu mỏ đối với Iran thực sự nhằm chống lại ai? Đây là một câu hỏi địa chính trị quan trọng. Ngoài việc cho rằng các biện pháp mới chống lại Iran của EU là phản tác dụng, Têhêran đã cảnh báo các thành viên EU rằng các lệnh cấm vận đó sẽ làm hại họ và các nền kinh tế của họ nhiều hơn Iran. Têhêran cũng cảnh báo lãnh đạo các nước EU rằng các lệnh trừng phạt mới là dại dột và chống lại các lợi ích của quốc gia và cả khối. Nhưng điều đó có đúng hay không? Cuối cùng ai sẽ được lợi từ một chuỗi các sự kiện đang diễn ra?

Liệu các lệnh cấm vận dầu mỏ chống lại Iran có mới hay không?

Các lệnh này hoàn toàn không mới. Năm 1951, Chính phủ Iran của Thủ tướng Mohammed Mossadegh, với sự ủng hộ của Quốc hội nước này, đã quốc hữu hóa ngành dầu mỏ Iran. Hậu quả của chương trình quốc hữu hóa này là Anh đã dùng Hải quân Hoàng gia phong tỏa lãnh hải Iran và các cảng của nước này để ngăn Iran xuất khẩu dầu mỏ, cũng như thương mại. Luân Đôn cũng đóng băng các tài sản của Iran và bắt đầu chiến dịch nhằm cô lập Iran bằng các lệnh trừng phạt. Chính phủ của Tiến sĩ Mossadegh được bầu hợp pháp và không dễ bị Anh bôi nhọ ở trong nước, do vậy Anh bắt đầu miêu tả ông Mossadegh là “con tốt” của Liên Xô, người có thể biến Iran thành một nước cộng sản cùng với các đồng minh chính trị Mácxít của ông. Sau lệnh cấm vận hái quân bất hợp pháp của Anh là sự thay đổi chế độ tại Têhêran thông qua một cuộc đảo chính do Anh-Mỹ giật dây năm 1953. Cuộc đảo chính này đã biến Quốc vương của Iran từ một nguyên thủ hợp hiến thành một nhà độc tài. Chỉ trong một đêm, Iran đã biến từ một nền quân chủ hợp hiến sang một chế độ độc tài.

Ngày nay lệnh cấm vận dầu mỏ được áp đặt bằng quân sự chống lại Iran có thể không giống lệnh cấm vận hồi đầu những năm 1950. Thay vào đó, Luân Đôn và Oasinhtơn đang sử dụng ngôn ngữ về sự công bằng và che giấu đằng sau những cái cớ giả tạo về vũ khí hạt nhân của Iran. Nhưng giống như hồi những năm 1950, lệnh cấm vận dầu mỏ chống lại Iran có liên quan đến việc thay đổi chế độ. Tuy nhiên cũng có những mục tiêu rộng hơn, vượt ra ngoài biên giới Iran có liên quan đến dự án áp đặt lệnh cấm vận dầu mỏ Iran của Mỹ.

EU và doanh số dầu mỏ của Iran

Khách hàng mua dầu mỏ lớn nhất của Iran là Trung Quốc. Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) có trụ sớ tại Pari, Iran hiện đang bán 543.000 thùng dầu/ngày cho Trung Quốc. Những khách mua dầu lớn khác của Iran là Ấn Độ – 341.000 thùng/ngày, Thổ Nhĩ Kỳ – 370.000 thùng/ngày, Nhật Bản – 251.000 thùng/ngày và Hàn Quốc – 239.000 thùng/ngày. Theo Bộ Xăng dầu Iran, EU chỉ mua 18% lượng dầu xuất khẩu, tức chưa đến 1/5 doanh số bán dầu của Iran. Nếu tính cả khối, EU mới là khách mua dầu lớn thứ hai của Iran. Têhêran có thể thay thế số dầu bán cho EU bằng việc bán cho các khách mua mới hoặc tăng lượng dầu bán cho các khách hàng hiện nay như Trung Quốc và Ấn Độ. Một hiệp định của Iran, hợp tác vối Trung Quốc cho dự trữ dầu mỏ chiến lược của Bắc Kinh sẽ bù được phần lớn số dầu bán cho EU. Vì thế lệnh cấm vận dầu mỏ chống lại Iran sẽ chỉ có ảnh hưởng trực tiếp rất ít đối với Iran. Điều có nhiều khả năng xảy ra nhất là bất kỳ ảnh hưởng nào mà nền kinh tế Iran cảm nhận thấy đều sẽ liên quan đến những tác động toàn cầu của lệnh cấm vận dầu mỏ Iran.

Iran và cuộc chiến tiền tệ toàn cầu

Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), tính đến cuối năm 2011, đồng USD và đồng euro hiện chiếm 84,4% dự trữ ngoại tệ toàn cầu, trong đó đồng USD chiếm 61,7%. Doanh số năng lượng là một phần quan trọng của phương trình này, bởi vì đồng USD gắn chặt với buôn bán dầu mỏ. Vì thế, thương mại dầu mỏ, thường được gọi là đôla-dầu mỏ đang hồ trợ duy trì vị thế quốc tế của đồng USD. Các nước trên thế giới gần như bị buộc phải sử dụng đồng USD để duy trì nhu cầu và các giao dịch năng lượmg và thương mại của họ.

Để nêu bật tầm quan trọng của thương mại dầu mỏ quốc tế đối với Mỹ, toàn bộ các thành viên của Hội đồng hợp tác vùng Vịnh (GCC) như Arập Xêút, Baranh, Cata, Côoét, Ôman và Các Tiểu vương quốc Arập thống nhất, có đồng nội tệ ấn định với đồng USD và do đó duy trì hệ thống đôla-dầu mỏ bằng việc mua bán dầu thô bằng đồng USD. Hơn nữa, các đồng nội tệ của Libăng, Gioócđani, Êritơria, Gibuti, Bêlido và một số quốc đảo khác tại biển Caribê cũng đều ấn định so với đồng USD, Ngoài các lãnh thổ của Mỹ tại nước ngoài, En Xanvađo, Êcuađo và Panama đều chính thức sử dụng USD làm đồng nội tệ của họ.

Đồng euro vừa là địch thủ vừa là đồng minh của USD. Cả hai đồng tiền này đang hợp tác với nhau để chống lại các đồng nội tệ khác trong nhiều trường hợp và dường như được kiểm soát bởi các trung tâm quyền lực tài chính đang ngày càng nổi lên. Ngoài 17 thành viên EU đang sử dụng đồng euro, các công quốc Mônacô, Xan Marinô, Thành Quốc Vaticăng, Môntênơgrô, Côxôvô cũng sử dụng đồng euro làm đồng nội tệ. Ngoài khu vực đồng euro, các đồng tiền của Bôxnia, Bungari, Đan Mạch, Látvia và Lítva ở châu Âu; các đồng nội tệ của Cápve, Cômo, Marốc, Cộng hòa dân chủ Xao Tôrnê và Prinxipê; các các đồng nội tệ tại một số lãnh thổ phụ thuộc của Tây Âu ở nước ngoài như Greenland đều ấn định với đồng euro.

Một vài khu vực tiền tệ đang trực tiếp gắn với đồng euro. Tại châu Đại Dương, đồng phrăng Thái Bình Dương, được sử dụng trong liên minh tiền tệ các thuộc địa của Pháp, được ấn định với đồng euro. Cả đồng phrăng cua Cộng đồng tài chính châu Phi tại Tây Phi, được sử dụng tại các nước Bênanh, Buốckina Phaxô, Cốt Đívoa, Ghinê Bítxao, Mali, Nigiê, Xênêgan và Tôgô và đồng Phrăng của tổ chức Hợp tác tài chính Trung Phi được sử dụng tại Camơrun, Cộng hòa Trung Phi, Sát, Cộng hòa Cônggô, Ghinê xích, đạo và Gabông đều có số phận gắn chặt với giá trị tiền tệ của đồng euro.

Iran không tìm kiếm sự đối đầu quân sự trong thái độ thù địch tăng lên với Mỹ và EU. Têhêran đã tuyên bố rằng chỉ đóng cửa Eo bien Hormuz như một phương sách cuối cùng. Iran cũng tuyên bố sẽ không để cho tàu của Mỹ và các nước thù địch được đi qua lãnh hải Iran vì đó là quyền hợp pháp của họ, rằng các tàu đó có thể đi qua phần lãnh hải Ôman tại Eo biển Hormuz, vấn đề đối với Mỹ và các kẻ thù khác của Iran là phần lãnh hải phía Ôman của Eo biển này quá nông.

Thay vì đối đầu quân sự, Têhêran đang chống lại về kinh tế bằng nhiều cách. Bước đầu tiên, được bắt đầu từ trước năm 2012, là việc bán dầu mỏ và thương mại quốc tế của Iran đã được đa dạng hóa về khía cạnh đồng tiền được sử dụng trong giao dịch. Đây là một phần trong động thái có tính toán của Iran nhằm không phải sử dụng đồng USD, như cựu Tổng thống Irắc Saddam Hussein đã làm năm 2000 như một phương tiện chống lại các lệnh trừng phạt đối với Irắc. Trong bối cảnh này, Iran đang tạo ra một sàn giao dịch năng lượng quốc tế cạnh tranh với Sàn giao dịch hàng hóa Niu Yoóc (NYMEX) hay Sàn giao dịch xăng dầu quốc tế Luân Đôn (IPE), đang sử dụng đồng USD cho các giao dịch. Sàn giao dịch năng lượng này, có tên là Sàn dầu mỏ Kish, đã được chính thức khai trương vào tháng 8/2011 trên Đảo Kish tại Vịnh Pécxích. Những giao dịch đầu tiên của sàn này đã sử dụng đồng euro và đồng dirham của Các Tiểu vương quốc Arập thống nhất.

Trong bối cảnh đồng USD và đồng euro ganh đua với nhau, ban đầu Iran muốn quay sang đồng euro và một hệ thống đồng euro-dầu mỏ với hy vọng rằng sự cạnh tranh giữa đồng USD và đồng euro có thể khiến EU trở thành một đồng minh của Iran và cắt đứt liên hệ của EU với Mỹ. Khi các căng thẳng chính trị tăng lên với EU, hệ thống euro-đầu mỏ trở nên ít hấp dẫn với Iran: Têhêran nhận thức rằng EU đang phục tùng các lợi ích của Mỹ, vì vậy, trong một mức độ thấp hơn, Iran cũng tìm cách tránh xa đồng euro.

Hơn nữa, Iran đang mở rộng việc tránh sử dụng đồng USD và euro như một chính sách trong các quan hệ thương mại song phươmg. Iran và Ấn Độ đang bàn bạc về việc dùng vàng để trả cho dầu mỏ của Iran. Thương mại giữa Nga và Iran đang được thực hiện bằng đồng rial của Iran và đồng rúp Nga, trong khi thương mại của Iran với Trung Quốc và các nước châu Á khác đang sử dụng đồng nhân dân tệ, đồng rial Iran, đồng yên Nhật và các đồng nội tệ phi USD và phi euro.

Mặc dù đồng euro có thể “thắng lớn” nhờ một hệ thống euro-dầu mỏ, nhưng các hành động của EU đang, chống lại điều này. Lệnh cấm vận dầu mỏ của EU chống lại Iran chi đơn thuần là việc tự đóng đinh vào quan tài của họ. về mặt toàn cầu, ma trận Âu-Á đang nổi lên, cùng giao dịch và thương mại quốc tế bên ngoài “cái ô” đồng USD và đồng euro đang làm suy yếu cả hai đồng tiền này. Quốc hội Iran hiện đang thông qua dự luật cắt giảm việc xuất khấu dầu mỏ cho các nước thành viên EU, sẽ là một phần của chế độ trừng phạt cho đến khi EU bãi bỏ các lệnh trừng phạt dầu mỏ Iran.

Động thái này của Iran sẽ là một cú đòn giáng mạnh vào đồng euro, nhất là khi EU không có thời gian để chuẩn bị cho việc cắt giảm năng lượng nhập khẩu từ Iran.

Một số khả năng có thể nổi lên. Một trong những khả năng đó có thể là một phần của cái mà Oasinhtơn mong muốn và có thể làm lợi cho Mỹ chống lại EU. Khả năng khác là Mỹ và một số thành viên EU cụ thể hợp tác với nhau để chống lại các địch thủ kinh tế chiến lược và các thị trường khác.

Ai sẽ Được lợi? Những mục tiêu kinh tế xa hơn Iran

Việc chấm dứt xuất khẩu dầu mỏ của Iran sang EU và sự suy giảm của đồng euro sẽ trực tiếp làm lợi cho Mỹ và đồng USD. Điều mà EU đang làm chỉ là tự làm suy yếu mình và làm lợi cho đồng USD trong cuộc cạnh tranh tiền tệ với đồng euro. Hơn nữa, nếu đồng euro sụp đổ, đồng USD sẽ nhanh chóng lấp đầy chỗ trống. Bất chấp thực tế rằng Nga sẽ được lợi nhờ giá dầu cao hơn và đòn bẩy lớn hơn đối với an ninh năng lượng Mỹ với tư cách là một nhà cung cấp, Cremli cũng cảnh báo EU rằng họ đang hành động chống lại các lợi ích của chính mình và tự phụ thuộc vào Oasinhtơn.

Nhiều câu hỏi quan trọng đang được đưa ra về hậu quả kinh tế của việc giá dầu tăng. Liệu EU có khả năng chống chọi được với cơn bão kinh tế này hay đồng euro sẽ sụp đổ?

Điều mà lệnh cấm vận dầu mỏ của EU chống lại Iran sẽ làm là gây bất ổn cho đồng euro và làm hại các nền kinh tế không thuộc EU. Liên quan đến điều này, Têhêran đã cảnh báo rằng các mục tiêu cua Mỹ là làm hại các nền kinh tế đối địch thông qua việc chấp nhận các lệnh trừng phạt dầu mỏ Iran của EU. Theo mạch suy nghĩ này, đó là lý do tại sao Mỹ đang tìm cách buộc Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc và Nhật Bản phải giảm bớt hoặc chấm dứt việc nhập khẩu dầu mỏ của Iran.

Trong EU, các nền kinh tế mong manh và gặp nhiều khó khăn nhất như Hy Lạp và Tây Ban Nha sẽ bị tổn thương do lệnh cấm vận dầu mỏ Iran của EU. Các nhà máy lọc dầu tại các nước EU đang nhập khẩu dầu mỏ của Iran sẽ phải tìm người bán dầu thô khác và cũng sẽ buộc phải điều chỉnh hoạt động của họ, Ông Piero De Simone, một trong các nhà lãnh đạo của Liên minh xăng dầu cua Italia đang cảnh báo rằng có khoảng 70 nhà máy lọc dầu tại EU có thể bị đóng cửa và các nước châu Á có thể bắt đầu bán các sản phẩm lọc dầu Iran sang EU gây tổn thất cho các nhà máy lọc dầu và ngành xăng dầu địa phương.

Bất chấp những tuyên bố chính trị ủng hộ lệnh cấm vận dầu mỏ chống lại Iran, Arập Xêút sẽ không thể bù được số dầu của Iran bán sang EU và các thị trường khác. Việc thiếu nguồn cung dầu và thay đổi sản xuất có thể có những tác động tai hại tại EU và với tổn thất của sản xuất công nghiệp, giao thông và giá cả thị trường. Do vậy cuộc khủng hoảng kinh tê tại khu Vực đồng euro sẽ trầm trọng hơn. Hơn nữa, việc tăng giá tiêu dùng hàng ngày, từ thực phẩm đến giao thông, sẽ không hạn chế tại châu Âu mà sẽ có những tác động toàn cầu. Khi giá cả tăng với quy mô toàn câu, các nền kinh tế tại Mỹ Latinh, Caribê, châu Phi, Trung Đông, châu Á và Thái Binh Dương sẽ đổi mặt vói khó khăn mới, với khu vực tài chính tại Mỹ và một số đối tác, trong đó có các thành viên EU, có thể lợi dụng bằng việc tiếp quản một số ngành và thị trường nhất định. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) có thể tham gia và áp đặt thêm các chương trình tư nhân hóa, đang làm lợi cho các khu vực tài chính của Mỹ và EU. Hơn nữa, cách thức Iran quyết định bán số dầu, mà họ không bán cho EU, sẽ là một nhân tố gián tiếp.

Trong khi các nước châu Phi hoặc Thái Bình Dương không có dự trữ dầu mỏ chiến lược và dễ tổn thương trước sự tăng giá toàn cầu, Mỹ và EU đang nỗ lực cách ly chiến lược họ khỏi những kịch bản như vậy, IEA có vai trò trong nỗ lực này. Trữ lượng dầu mỏ của Libi cũng là một nhân tố cho sự thù địch và dầu-chính trị có liên quan đến Iran. Trong cuộc chiến của NATO chống lại Libi, IEA đã mở kho dầu dự trữ chiến lược của họ để bù cho số dầu xuất khẩu từ Libi.

Cuộc chiến tại Libi có nhiều mục đích: ngăn chặn sự thống nhất của châu Phi; trục xuất Trung Quốc khỏi châu Phi; kiểm soát chiến lược các trữ lượng năng lượng quan trọng; và bảo vệ các nguồn cung dầu mỏ trong bối cảnh diễn ra xung đột do Mỹ lãnh đạo chống lại Xyri và Iran. Ngoài Iran, Xyri cũng là một nguồn dầu nhập khẩu cho EU. Giống như Iran, EU cũng cấm nhập khẩu dầu từ Xyri, do vậy giá trị chiến lược từ dầu mỏ Libi đang tăng lên. Nhưng thông tin về việc triển khai hàng nghìn quân Mỹ tại các mỏ dầu ở Libi có thể liên quan đến sự thù địch ngày càng tăng của Mỹ và EU với Iran và Xyri. Việc xuất khẩu số dầu của Libi, đã định bán cho Trung Quốc, sang EU có thể cũng là một phần của một chiến lược như vậy.

Cuộc chiến tranh tâm lý

Trên thực tế, chế độ trừng phạt của Chính phủ Mỹ chống lại Iran đã đi xa hết mức có thể. Mọi phát biểu về sự cô lập đều quá bạo dạn và khác xa thực tế của các quan hệ và thương mại quốc tế hiện nay. Braxin, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Irắc, Cadắcxtan, Vênêxuêla và nhiều nước khác thuộc Liên Xô trước đây, ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh đang từ chối tham gia các lệnh trừng phạt chống lại nền kinh tế Iran.

Lệnh cấm vận dầu mỏ của EU, cùng với các lệnh trừng phạt rộng hơn chống lại Iran, có tác động tâm lý lớn. Cả Iran và Xyri đang đối diện với một cuộc chiến đa chiều, gồm kinh tế, chiến tranh ngầm, ngoại giao, truyền thông và tâm lý. Cuộc chiến tranh tâm lý, có liên quan đến truyền thông chủ đạo như một công cụ chính sách đối ngoại và chiến tranh, tiếp tục là một công cụ tuyên truyền hiệu quả cho Mỹ do chi phí thấp hơn. Nhưng cuộc chiến tranh tâm lý có thể chống lại cả hai bên.

Phần lớn sức mạnh của Mỹ mang tính tâm lý và liên quan đến nỗi sợ hãi. Giống như địa lý của Vịnh Pécxích, thời gian đang đứng về phía Iran và chống lại Mỹ. Nếu Iran tiếp tục quan điểm hiện nay của họ và không nản lòng vì các lệnh trừng phạt, điều đó sẽ giúp phá vỡ một ngưỡng tâm lý quan trọng trên thế giới, có xu hướng ngăn cản các nước đối đầu và phản đối Mỹ. Nếu nhiều nước tiếp tục từ chối tuân theo Chính quyền Obama trong việc áp đặt các lệnh trừng phạt chống lại Iran, đây sẽ là cú đòn giáng vào uy tín và sức mạnh của Mỹ, và cũng sẽ có những tác động kinh tế và tài chính. Hơn nữa, rốt cuộc, lệnh cấm vận dầu mỏ Iran của EU sẽ làm tổn thương EU, chứ không phải Iran, về lâu dài, việc cấm vận này cũng sẽ làm tổn thương Mỹ. Về cấu trúc, hiệu quả của lệnh cấm vận dầu mỏ Iran cua EU sẽ đẩy EU vào sâu hơn trong quỹ đạo của Oasinhtơn, nhưng hiệu ứng này sẽ là chất xúc tác làm tăng sự phản đối xã hội đối với Mỹ, cuối cùng sẽ thể hiện trong các đấu trường chính trị và kinh tế.

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
This entry was posted in Archives, Articles, International relations and tagged , , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s