De Gaulle và Việt Nam (1945- 1969)

Pierre Journoud

VHNA: Tiến sĩ sử học Đại học Paris I Panthéon-Sorbonne, PIERRE JOURNOUD là nghiên cứu viên ở Học viện Nghiên cứu Chiến lược trường Đại Học Quân sự Pháp, đồng thời cũng là cộng tác viên nghiên cứu Trung Tâm Lịch sử Châu Á hiện đại. Cuốn sách viết về De Gaulle và Việt Nam dày 543 trang với 100 trang liệt kê danh sách các chú thích và các tài liệu lưu trữ trong văn khố Pháp, Mỹ, Canada… . được ấn hành tháng Tư năm 2011, là công trình luận án tiến sĩ của ông. Luận án này được giải thưởng Jean Baptiste Duroselle dành cho luận án được coi là nổi bật nhất về lịch sử bang giao quốc tế. Nguyên Phong đã lược dịch những đoạn chính trong cuốn sách nói về quan điểm và đường lối của De Gaulle đối với Việt Nam từ 1945 đến khi ông từ chức năm 1969. Có thể nói đường lối này vẫn được những người kế tiếp ông theo đuổi cho tới năm 1975. Nhưng cũng phải nói là cách nhìn của De Gaulle về Việt Nam đã thay đổi rất nhiều: Hồi nước Pháp mới được giải phóng năm 1945, De Gaulle vẫn còn mang nặng đầu óc thực dân và chỉ có mục đích duy nhất là bảo tồn đế quốc Pháp, muốn vậy phải canh tân và đổi mới đế quốc dưới cái vỏ Liên Hiệp Pháp và phải thoả mãn một phần nào khác vọng của các dân tộc bị trị. Phải đợi đến năm 1966 trong cuộc viếng thăm Phnom Penh De Gaulle mới trở thành quán quân của quyền dân tộc tự quyết.

VHNA trân trọng giới thiệucùng bạn đọc bản lược dịch cuốn sách này của Nguyên Phong

Tháng 12 1945 : một hi vọng lớn bị kết liễu ?

Ngày 26-12-1945 chiếc máy bay Lockheed Lodestar trên đường bay về đảo Réunion bị rớt ở M’Baiki giữa khu rừng nhiệt đới thuộc nước Cộng Hoà Trung Phi bây giờ. Trong số 6 người tử nạn có một hoàng thân Việt Nam 45 tuổi. Vị hoàng thân này có một quá khứ lừng lẵy và óc thông minh chính trị, có thể, với sự hưởng ứng của mọi người Việt, đi đến một thoả hiệp với De Gaulle để đưa nước Việt Nam ra khỏi chế độ thực dân.

Làm hoàng đế Annam từ 1907 đến 1916 dưới vương hiệu Duy Tân, hoàng tử Vĩnh San bị chính quyền Pháp đầy ra đảo Réunion khi cầm đầu một cuộc nổi loạn đòi độc lập cho đất nước mình. Trong gần 30 năm bị đầy ải, sống một cách khiêm nhường với số tiền trợ cấp ít ỏi và một nguồn đam mê là ngành vô tuyến điện. Khác với vua cha, hoàng đế Thành Thái (1889-1907), cũng bị Pháp truất phế và đưa đi đầy cùng với con, Vĩnh San không vứt bỏ văn hoá Pháp và cũng không chịu thoái vị nên vẫn là vị hoàng đế cuối cùng hợp pháp của Việt Nam. Nhờ giỏi về vô tuyến điện nên Vĩnh San đã bắt được lời kêu gọi của De Gaulle trên đài BBC ngày 18-6-1940, gia nhập nhóm kháng chiến, bị chính quyền thân Đức bắt cầm tù. Khi đảo Réunion trở về với nước Pháp Tự do, thì tình nguyện ký khế ước nhập ngũ hải quân trên tàu phóng ngự lôi Léopard với chức vô tuyến trưởng. Tuy nhiều lần Vĩnh San xin ra tiền tuyến nhưng chính quyền Pháp vẫn nghi ngờ cái quá khứ quốc gia phiến loạn của ông, nên chỉ cho ông gia nhập chính thức quân đội Pháp tháng Một 1944 với chức vị chuẩn úy.

Không những Vĩnh San gặp khó khăn trong quân đội mà ngay ở bộ Thuộc địa, tổng trưởng bộ này cũng chống đối sự có mặt của hoàng thân ở Paris mặc dầu có sự can thiệp của De Gaulle. Tháng 9-45 Vĩnh San kết liễu chiến tranh với chức vị tiểu đoàn trưởng trong đội quân chiếm đóng nước Đức và được trao tặng huân chương Kháng chiến. Cũng thời gian ấy Vĩnh San cho đăng trên báo Combat (Chiến đấu) một chúc thư chính ttrị trong đó ông khởi xướng Việt Nam phải đạt được độc lập và thống nhất. Cũng vì Paris tiếp tục chống đối những đòi hỏi đó, Vĩnh San Vĩnh San đã viết trên báo này những hàng gần như là tiên tri:

” Tôi nghĩ rằng tương lai gần nhất của Đông Dương phải được đặt trên tình bạn và lợi ích chung chứkhông phải trên ý tưởng ngự trị. Tôi nghĩ rằng những người mất kiên nhẫn sẽ kêu gọi sự trọng tài có vụ lợi của Trung Quốc và Mỹ. Để khỏi mất kiên nhẫn tôi nghĩ nước Pháp phải chứng tỏ thiện chí của mình… chứng tỏ bằng cách bỏ những hàng rào chia cắt Bắc, Trung, Nam…”

Vĩnh San cũng tỏ ra là có óc thực dụng chính trị khi nói thêm : ” tôi thiển nghĩ làm đúng bổn phận người An Nam khi tôi tạo được trong đầu mỗi người dân quê từ Lạng Sơn tới Huế tới Cà Mau ý nghĩa của tình huynh đệ. Không cần biết là mối tương thân đó được thể hiện bất cứ dưới chế độ nào, cộng sản, xã hội, quân chủ, vương quyền. Cái cốt yếu là tránh đắt nước bị phân chia từng mảnh một.

Ngày 14-12-45 thiếu tá Vĩnh San gặp De Gaulle trình bày ý kiến của mình. Tướng De Gaulle bị ông chinh phục có vẻ chấp thuận những điểm đại cương. Không chấp nhận về hình thức sự thống nhất Việt Nam, nhưng De Gaulle cũng tạo cho Vĩnh San ý tưởng là sau 1 thời gian nhất định, Pháp sẽ chấp thuận Việt Nam đi đến thống nhất.

Theo một vài chứng nhân, cái chết bất ngờ của Hoàng thân Vĩnh San đã làm De Gaulle thất vọng một cách sâu xa, vì cái ý định bí mật của ông muốn dựa vào Vĩnh San để giải quyết vấn đề Đông Dương mỗi ngày một thêm khó khăn, bỗng nhiên trở thành mồ côi. Theo hồi ký của tưóng De Boissieu ( con rể De Gaulle ), thì đó cũng là một trong những nguyên nhân làm De Gaulle từ bỏ chức vụ lần đầu ngày 20-1-46 ?

Chọn lựa chiến tranh

Khi tướng Leclerc đến Sài Gòn tháng 10-45, De Gaulle dặn là phải phô trương sức mạnh trước khi đàm phán, nhưng cũng dặn là phải thận trọng khi tiến quân, tránh những đụng độ với người Việt. Mặc dầu 3 tuần trước khi Leclerc đến, Jean Cédile, ủy viên cộng hoà tại Nam Kỳ, quyền đại diện nước Pháp, đã cảnh báo là ” các lãnh đạo Việt Nam đều rất cứng đầu về từ ngữ độc lập “; người đồng sự với Cédile nhẩy dù xuống Bắc Kỳ bị bắt. Khi được thả tháng 11, Pierre Messmer (Lnd: sau này là thủ tướng Pháp) cũng nói như vậy về sự quyết tâm của những người theo Hồ Chí Minh : “các giáo viên, thư ký sinh viên, kế toán viên, không muốn một sự nhượng bộ nào cả. Những người này đều thành thật, phần nhiều là trung trực có khi tỏ ra rất can trường, sẽ không bao giờ chịu đầu hàng cả “. Messmer kết luận là chỉ có thoả hiệp với Việt Minh mới khỏi mất mặt. Cuối tháng 12-45, đến lượt Jean Sainteny cảnh báo chính phủ là sẽ có đụng độ to lớn nếu Pháp muốn tái lập chủ quyền của mình bằng sức mạnh.

De Gaulle vẫn nuôi hi vọng là khi chủ quyền Pháp được tái lập lại ở Việt Nam, Pháp sẽ có thể đàm phán trong vị thế mạnh. Để có thể thực hiện ý định chính trị của mình và bảo vệ nó khi rời bỏ chức vụ, De Gaulle biết là có thể trông cậy vào sự trung thành của những người đại diện mình. De Gaulle bênh vực đến tận cùng đô đốc d’Argenlieu, Cao ủy kiêm Chỉ huy trưởng quân đội Pháp tại Đông Dương khi ông này bất đồng với tướng Leclerc mà theo hệ thống, phải ở dưới quyền d’Argenlieu.

Đầu năm 1946, De Gaulle rời bỏ chính quyền hi vọng sẽ được mời lại. Thật ra lập trường của De Gaulle về Đông Dương cũng không khác gì những đảng phái chính trị Pháp hồi bấy giờ. Ngoại trừ một vài nhóm cực tả, ngay cả ĐCS Pháp cũng không sẵn sàng chịu tách một phần đất nào ra khỏi đế quốc. Trong một cuộc thăm dò ý kiến hồi tháng 9-45, 63% người dân Pháp vẫn muốn Pháp giữ Đông Dương.

Những người theo De Gaulle sau này muốn mọi người tin rằng De Gaulle có thể có đủ khả năng chơi ” lá bài Hồ Chí Minh ” nếu còn nắm quyền chính. Người ta có quyền nghi ngờ: Khi từ chức khỏi chính phủ, De Gaulle lập đi lập lại là chế độ này ( lnd: đệ Tứ Cộng hoà Pháp ) sẽ không cưỡng lại được với một lực lượng cách mạng nào và sẽ không tránh khỏi, nếu điều đình với Hồ Chí Minh, phải từ bỏ mọi quyền của Pháp ở Việt Nam và bỏ mặc những người dân còn tin cậy vào nước Pháp dưới ” chủ nghĩa Mác_Lê và dưới sự chi phối của Moscou “.

Đó cũng là lí do mà De Gaulle viện ra để khuyên Leclerc nên từ khước đề nghị của thủ tướng Paul Ramadier, tháng 11-46, thay thế d’Argenlieu. De Gaulle cho là tương lai của Lelerc không phải nằm trong những cuộc chiến ở đồng ruộng Đông Dương mà là hoạt động chính trị. Leclerc tỏ ra khá sáng suốt về chính trị Đông Dương khi quên cái hăng hái ban đầu là làm yếu Hồ Chí Minh trước khi nghĩ đến đàm phán: Được thủ tướng Léon Blum phái đi thẩm tra ở Việt Nam cuối tháng 12-46, Leclerc đưa ra ý kiến rất rõ ràng : ” chống cộng sản chỉ là một đòn bẩy không có điểm tựa nếu không giải đáp được vấn đề chủ quyền quốc gia của Việt Nam “.

Ngày 19-12-46, cùng một lúc với các nơi khác trên toàn thể lãnh thổ Việt Nam, 2000-25000 dân quân và quân đội Nhân dân tấn công bất ngờ khu người Âu ở Hà Nội. Nhiều người Âu bị giết hay bị bắt làm con tin. Cuộc tiến công chỉ được đẩy lui sau nhiều tuần xáp lá cà giành nhau từng khu phố một. Người ta coi đó là khởi đầu của cuộc chiến tranh Đông Dương. Chiến tranh có thể tránh được, theo sử gia Stein Tonnesson. Nhưng chắc chắn là nhiều người muốn nó xẩy ra, trong số đó có De Gaulle. De Gaulle đích thân tán thành cuộc thử lửa này và nghĩ là quân đội Pháp sẽ mau chóng làm chủ tình thế : Từ nay trở đi d’Argenlieu sẽ là người chủ cuộc, có thể mặc sức hành động và giải quyết vấn đề. De Gaulle còn sợđược tiếp nối lại sự đàm phán giữa Hồ Chí Minh và Marius Moutet, tổng trưởng bộ Hải ngoại trong chính phủ Félix Gouin. Leclerc lại vừa mới gửi thông chi cho chính phủ nói là phải từ bỏ chính sách dùng võ lực và phải thật sự cố gắng dung hoà quyền lợi Pháp và quyền lợi Việt Nam của Hồ Chí Minh mà ông cho lả một nhà quán quân về ý tưởng độc lập và một người ái quốc “. Ông dặn dò lần cuối (lnd: trước khi chết) cao ủy Émile Bollaert là phải ” điều đình với bất cứ giá nào “.

Cũng thời gian đó De Gaulle lập ra đảng Tập hợp Nhân dân Pháp tháng Tư năm 1947. Rứt khoát với cái chính sách đồng hoá có từ thời cộng hoà 1848, De Gaulle đưa ra chính sách gọi là ” liên kết tuần tự ” với các xứ trong Liên hiệp Pháp. Tuy vậy De Gaulle vẫn lấy cớ là cần phải bảo vệ Liên hiệp Pháp và chống cộng, ủng hộ đô đốc d’Argenlieu trong việc tách rời Nam Kỳ ra khỏi Việt Nam. D’Argenlieu cho là Nam kỳ đứng về phương diện lịch sử, địa dư và kinh tế không phải là một phần đất Việt Nam và vin vào đó để phá hoại Hội nghị Đà Lạt và Fontainebleau, tạo điều kiện cho một nền quân chủ lập hiến mà De Gaulle đã nghĩ đến từ 1945 còn d’Argenlieu thì nghĩ đến cựu hoàng Bảo Đại từ năm 1946-1947. Khi được Jean Sainteny cho biết dự định đó của d’Argenlieu, lãnh sự Mỹ ở Hà Nội tiên đoán là cái đó chỉ đưa đến sự toạ lập một chính phủ bù nhìn và một cuộc chiến tranh, trái với sự mong đợi của người Pháp. Giải pháp Bảo Đại được thành hình năm 1947. Mặc dầu vẫn nghi ngờ Bảo Đại, rút cục De Gaulle cũng ngả theo lá bài Bảo Đại trong bối cảnh thế giới mỗi ngày một mang dấu ấn chiến tranh lạnh, nhất là khi cộng sản Trung Quốc toàn thắng và khi Pháp thua trận Cao Bằng.

Mãi đến năm 1953, sau khi Staline chết, tình hình thế giới mới đỡ căng thẳng. Nhưng để chống lại sựquốc tế hoá chiến tranh Đông Dương làm mọi ảnh hưởng Pháp sẽ bị loại trừ, De Gaulle mới nghĩ đến chuyện điều đình với Hồ Chí Minh. Tuy vậy De Gaulle vẫn cho là nên đặt ưu tiên thương lượng thẳng vói Trung Quốc và Mỹ. Tháng 3-54 khi chiến tranh Đông Dương đi vào giai đoạn quyết định cuối cùng với trận Điện Biên Phủ, De Gaulle đã tin chắc là ” áp phe ” Đông Dương coi ” như là đã kết liễu “, chỉ còn ” kiếm cho nó một thủ tục cho đúng hình thức “, ” phải hiểu là Pháp không còn giữ được Đông Dương nữa, Đông Dương không còn là của mình nữa “. Nhưng De Gaulle cũng coi như tuyệt đại đa số đại biểu Quốc hội Pháp, là Hiệp định Genève tốt hơn người ta tưởng. Những nguyên tắc về độc lập, chủ quyền và thống nhất đất nước Việt Nam, Cam Bốt và Lào được công nhận một cách long trọng. Qua Hiệp Định Genève, Pháp có khả năng giữ được ảnh hưởng mình ở miền Nam và có trhể đứng làm trung gian giữa hai miền như hi vọng của những người theo De Gaulle. Ở miền Bắc, De Gaulle cũng tán thành một ” sự hợp tác về kinh tế, văn hoá và, có thể một ngày kia, chính trị “. Tháng 8-54, De Gaulle khuyến khích Jean Sainteny nhận chức vụ Tổng đại diện chính phủ Pháp ở Hà Nội .

Sau khi chiến tranh Cao Ly và chiến tranh Đông Dương kết thúc, De Gaulle đổi hẳn đường lối, muốn bắt cầu với những nước cộng sản Đông Nam Á và nghĩ đến chuyện công nhận Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc. De Gaulle muốn nước Pháp có một đường lối chính trị độc lập ở Á châu và đóng một vai trò xây dựng trong sự thống nhất Việt Nam. Thật là ngoạn mục sự thay đổi lập trường của De Gaulle, một người mà từ trước tới nay vẫn được coi là thuộc phái bảo thủ đã biết vượt qua được lòng tự ái của mình ! Khi đọc cuốn ” Lịch sử một cơ hội hoà bình bị bỏ lỡ ” của J. Sainteny, De Gaulle tự công nhận là mình đã sai lầm, đã không hỗ trợ toàn vẹn những cố gắng điều đình với Hồ Chí Minh và đã nói to với Sainteny để mọi người nghe thấy : ” Thật vậy, Sainteny, ông rút cục là người sẽ có lý “.

Ngô Đình Diệm lên cầm quyền chính, giữa huyền thoại và thực tại

Ngày 16 tháng 6, chưa tới 48 giờ sau khi Mendès France được tấn phong thủ tướng, Ngô Đỉnh Diệm được Bảo Đại ủy thác thay thế hoàng thân Bửu Lộc để thành lập chính phủ. Ngay sau khi ký Hiệp định Genève, Paris đã báo cho tân thủ tướng quốc gia liên kết Việt nam là Pháp chỉ công nhận nội các mới thành lập của Ngô Đình Diệm là chính phủ hợp pháp. Vậy mà sao chỉ chưa đầy một tháng sau khi được tấn phong, chỗ nào Diệm cũng bị coi là bù nhìn của Mỹ ? Hình ảnh sai lầm về Diệm đã mọc rễ trong kýức của nhiều người, nhất là những người theo De Gaulle, khi thấy sự ủng hộ và sự hiện diện của Mỹ đi ngược lại với ý định và quyền lợi chính trị của Pháp.

Diệm không phải chui ra từ cái mũ của một thuật sĩ. Năm 1950, sống lưu vong ở Mỹ, Diệm đã nhân cơhội tiếp xúc với giới ưu tú Mỹ, đặc biệt là với các thượng nghị sĩ John Kennedy và Mike Mansfield, với giáo sư Wesley Fishel thuộc Đại học Michigan, với cựu giám đốc OSS William Donovan và nhất là với hồng y giáo chủ Francis Spellman. Cuộc đấu tranh của Ngô Đình Diệm để thành lập một ” lực lượng thứba ” chống cộng và chống thực dân lấy được cảm tình những người này. Là một người cương quyết đòi cho được độc lập quốc gia không một chút nhân nhượng, hệt như những người cộng sản đã bắt ông và giết anh ông, Ngô Đình Khôi, năm 1945. Ông đã tạo ra được một tiếng vang khi từ chức hượng thư bộ Lại hồi còn trẻ, tháng 9-33, để phản đối sự lộng quyền của viên khâm sứ Pháp đã ngăn cản mọi dự định cải cách Ông cũng từ chối sự mời mọc của Bảo Đại khi còn chiến tranh Đông Dương vì thấy là không đủ tựdo với các nhà cầm quyền Pháp. Ông là người không phải dễ để bị thao túng.

Trong tập Hồi ký của mình Bảo Đại cũng không giấu là đã có mời Diệm lãnh đạo chính phủ : ” Chúng tôi không còn trông cậy vào Pháp được nữa. Ở Genève, người Mỹ là đồng minh độc nhất của chúng tôi…”. Nhưng sự lựa chọn Diệm cũng có lí do chính trị đối với trong nước : quá khứ của Diệm và sự hiện diện của em ông là Ngô Đình Nhu đứng đầu Phong trào Thống nhất Quốc gia, cho phép hi vọng lôi kéo được một số người quốc gia có tiếng là triệt để.

Ở Pháp Ngô Đình Nhu được mọi người biết hơn Diệm vì theo học ở trường đại học Pháp điển ( École des Chartes ) và có kết nối bạn bè trong khoảng thập niên 1930 với Jacques Bénet, bạn kháng chiến của François Miterrand và là đảng viên đảng Xã hội Pháp. Qua sự trung gian của ông này, Nhu tiếp xúc với nhiều lãnh tụ đảng Xã hội và hi vọng qua những người này, ông anh lớn của mình, người mà Nhu cho là chính trực nhất, tượng trưng tinh thần quốc gia đích thực nhất, sẽ đạt được quyền hành

Trong chiến tranh, Nhu tiếp tục trao đổi thư từ với Jacques Benet và có đàm phán nhiều lần với những cộng sự viên của thủ tướng Joseph Laniel và tổng trưởng bộ Ngoại giao Georges Bidault tháng Ba 1954. Hai người này quyết định hội đàm riêng với Ngô Đình Diệm qua sự trung gian của Trần Chánh Thành và cả ba đều thoả thuận những điểm căn bản. Tuy vậy Laniel và Bidault vẫn còn ngần ngừ chưa nói với Bảo Đại. Phải đợi đến tháng 6-54 khi chính phủ của 2 ôg này có lẽ sắp bị lật đổ hai người này mới nói với Bảo Đại là nên tấn phong Diệm làm thủ tướng. Bảo Đại chấp thuận ngay.

Theo hồi ký của Alain Griotteray phụ tá chính trị đối nội Việt Nam thuộc bộ Quồc gia liên kết, người đã gặp riêng nhiều lần Diệm : “quyền lực thật sự ( ở Việt Nam ) hồi đó nằm trong tay chính quyền Pháp. Hoàng đế ( sic ) không thể bổ nhiệm Diệm nếu chính phủ Pháp chống đối. Người Pháp cũng có thể dùng áp lực tài chính đối với Bảo Đại ( theo Newsweek mỗi năm Bảo Đại nhận được của Pháp số lương là 500 ngàn đô la ).

Nói tóm lại sự chọn lựa Diệm là cả Pháp lẫn Việt, nhưng đó là một chọn lựa nhằm mục đích thoả mãn Hoa Kỳ. Cái trớ trêu là De Gaulle và những người thuộc phái De Gaulle chỉ giữ ở Diệm hình ảnh một ” con nộm “chống Pháp được Mỹ đặt ra.mà không biết là người tổng thống Nam -Việt Nam chỉ tăng tốt độ một quá trình giải thực ( dân ) không thể tránh được trong khi vẫn dành một chỗ quá là quan trọng cho những quyền lợi kinh tế và văn hoá Pháp ở Nam -Việt Nam.

Luận cứ De Gaulle dưới sự thử thách của các sự kiện

Cần phải trở lại nguồn gốc của sự tranh cãi ngay sau chiến tranh thứ Hai mới chấm dứt để hiểu mối oán giận của tướng De Gaulle và những người theo ông đối với người Mỹ. Trong khi oanh tạc Đông Dương trong khung cảnh của cuộc chiến tranh chống Nhật, Mỹ đã gửi nhiều đội OSS hợp tác với những nhóm kháng chiến chống Nhật để làm những hoạt động hoạt động tình báo và khuynh đảo. Vì vậy mà năm 1945 OSS cung ứng cho những người tranh đấu đòi độc lập Việt Minh khá nhiều vật liệu võ khí. Biết sự quan trọng của tuyên truyền, đồng thời cũng biết là tổng thống Roosevelt có ý muốn tách Đông Dương ra khỏi chính quyền Pháp để đặt dưới quyền giám hộ quốc tế, Hồ Chí Minh đã khéo biết khai thác sự liên kết bề ngoài này với Hoa Kỳ .Những trưởng nhóm OSS đi công tác cũng tin chắc như tổng thống của họ là chế độ thuộc địa không thể sống sót được sau khi chiến tranh kết liễu và người Pháp không thể cứ khăng khăng giữ thuộc địa trong khi người Anh, người Mỹ đang tính bỏ những thuộc địa ở Á châu. Sau khi Roosevelt chết ngày 12-4-45, Truman mỗi ngày một bận tâm về mối nguy hiểm Liên Xô ở Á châu, nên đổi hướng, quyết định đứng giữa không thiên về bên nào ở Đông Dương.

Quyết định đứng trung lập này của Truman tới quá chậm và quá thời hạn để xoá bỏ được cảm tưởng của những quân nhân và thường dân Pháp phải chịu đựng một mình cuộc tấn công của Nhật 9-3, là đồng minh Mỹ đã phản bội mình, thiên về sự thành công cướp chính quyền ở Hà Nội hơn là số phận của người Pháp. Ký ức của những người Gaullistes hồi ấy là Hoa kỳ không những không làm dễ dàng cho sự người Pháp trở lại Đông Dương, mà còn trực tiếp góp phần tăng cường sức mạnh của kẻ địch mình là Việt Minh. Chiến tranh Đông Dương chỉ làm tăng sự nghi ngờ của người Pháp đối với người Mỹ.

Bắt đầu từ 1947-1948 và nhất là sau chiến thắng của Mao tháng 10-49, một vài hữu trách chính trị và quân sự Pháp mới quyết định phải nhờ Mỹ giúp đỡ về vật liệu và tài chính. Tháng Hai 1950, sau khi công nhận các Quốc gia liên kết Việt Nam, Cam Bốt và Lào, Mỹ mới chính thức quyết định giúp Pháp. Nhưng một khi đã để cho Mỹ vào cuộc, dù có muốn chỉ nhờ Mỹ giúp đỡ về vật chất, người Pháp đã mở chốt cho một quá trình sẽ đưa đến sự phó mặc Đông Dương dưới ảnh hưởng Mỹ.

Sau Hiệp định Genève, Mỹ được thể chui vào lỗ hổng Đông Dương khiến Pháp bực tức đến cùng cực, nhất là những người thân De Gaulle. Để tránh cuộc khủng hoảng bang giao giữa Pháp và Mỹ, Pierre Mendès France chính thức công nhận thế thượng phong của Mỹ ở Đông Nam Á

Thỏa hiệp giữa tướng Ely và Collins ngày 13-12-54 bắt Pháp cam kết là phải thừa nhận sự tự chủ hoàn toàn của quân đội Quốc gia Việt Nam và đặt các cố vấn và huấn luyện viên quân sự Pháp dưới quyền trưởng nhóm MAAG ( Military Assistance Advisory Group ) là tướng O ‘ Daniel. Những huấn luyện viên Pháp được mau chóng thay thế bằng những huấn luyện viên Mỹ.
De Gaulle và nước Việt Nam của Ngô Đình Diệm : một mối liên lạc lập lờ

Bận lo giải quyết những vấn đề tế nhị và khẩn cấp từ chuyện Hiến Pháp đệ Ngũ Cộng hoà đến chiến tranh Algérie, tướng De Gaulle (lnd : trở lại chính quyền mùa Xuân năm 1958 ) ủy thác cho bộ Ngoại giao và cho những tổng trưởng có liên quan trực tiếp quản lí hồ sơ Đông Dương trong việc tái phục lại ảnh hưởng Pháp và làm cân bằng lại sự hiện diện của Mỹ mỗi ngày một lớn. Ông không chống đối lại sự tăng gia những mối liên lạc với Việt Nam Cộng hoà trong khi sự bang giao với Hà Nội vẫn còn ở trong tình trạng căng thẳng mà nguyên nhân chính là các chính phủ đệ Tứ Cộng hoà trước nay vẫn dành ưu tiên cho Sài Gòn và vì chiến tranh Algérie. Tháng 11-59, tổng trưởng bộ Tài chính của De Gaulle, Antoine Pinay ký một loạt thoả ước mới về tài chính, kỹ thuật và văn hoá với chính phủ Diệm. Những tranh cãi về ruộng đất và tài chính được giải quyết trọn vẹn. Trong bức thư cám ơn thủ tướng Michel Debré, Diệm gợi ý là về phần mình, sẵn sàng làm sâu rộng mối bang giao Pháp-Việt. Tình trạng kinh tế và xã hội ở Nam-Việt Nam hồi đó đáng lo ngại, căng thẳng với Mỹ về vấn đề kinh tế mỗi ngày một lớn, viện trợ Mỹ bị các cố vấn của Diệm chỉ trích là không kiến hiệu và sau chót là Diệm thấy quyền hành của mình quá mong manh nên cũng muốn tìm ở Pháp một chỗ dựa. Sau đảo chính hụt 11-11-60 mà ngay toà đại sứ Hoa kỳ cũng không tỏ vẻ mạnh mẽ chống lại như sự mong đợi của anh em Diệm, Nhu khẳng định với đại sứ Pháp Roger Lalouette là ” nếu nước Pháp muốn, giờ của Pháp đã điểm ở Việt Nam “.
Để lời nói đi đôi với viêc làm, chính phủ Diệm làm dễ dàng sự nhập cảng hàng Pháp mặc dầu Mỹ ráng giấu sự không bằng lòng của mình. Trong địa hạt quân sự, Diệm cũng có vẻ chỉ trích phương pháp của các huấn luyện viên Mỹ và cho là phương pháp chống chiến tranh du kích của Pháp thích hợp hơn. Mỗi ngày Diệm một thêm bực tức về sự vụng về và ngược thời của viện trợ Mỹ, cũng như vòng cương tỏa của Mỹ mỗi ngày một quá đỗi sau cuộc viếng thăm của phó tổng thống Johnson tháng 5-61, và của tướng Taylor tháng 10-61, Diệm tâm sự với Roger Lalouette là ông muốn ” cân bằng lại sự chi phối của Mỹ bằng sự hiện diện của một cường quốc thứ ba, ưu tiên là Pháp, hay Pháp cùng Anh “. Quai d’Orsay ( bộ Ngoại giao Pháp ) biết là Diệm bất lực trước sự mất an ninh mỗi ngày một lớn, nên mỗi ngày một trở lên độc đoán, thất nhân tâm, bị cả 2 phía đe doạ :phía những người chống cộng quá khích muốn dựa vào Mỹ nhiều hơn, phía những người theo Pháp muốn dân chủ và trung lập. Nhưng bộ ngoại giao Pháp bị phó mặc, phải tự định đoạt lấy đường lối trong sự giao thiệp với Sài Gòn nên chỉ có cách đứng ở thế trung dung, thoả mãn một vài đòi hỏi của chính phủ Sài Gòn, đồng thời cũng tránh những liên lạc cá nhân quá thân thuộc..
Có lẽ cũng vì vậy mà De Gaulle tiếp tục từ chối không tiếp Diệm hay Nhu ở điện Élysée mặc dầu nhiều nhân vật Pháp có mối liên lạc mật thiết với Diệm từ trước tới nay như Marius Moutet ( Tổng trưởng bộ Hải ngoại năm 1946-47 ), Antoine Pinay, bộ ngoại giao Pháp… Những người này tự cho mình trách nhiệm nhắc lại với De Gaulle là năm 1959 tổng thống trước De Gaulle là René Coty có ngỏ ý mời Diệm qua thăm Paris. Mùa Xuân 1960, Roger Lalouette, đại sứ Pháp, chuyển lời của phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ muốn Diệm qua thăm Pháp hay nếu không được thì cho chủ tịch Quốc hội Trương Vĩnh Lễ cũng là chủ tịch hội Pháp-Việt Nam qua thăm. Một năm sau, tổng thư ký điện Élysée trình bày lí lẽ mong De Gaulle chấp thuận cho Ngô Đình Nhu vào yết kiến trong triển vọng một cuộc thăm viếng Paris. Lí lẽ đưa ra : Ngô Đình Nhu là một người thấm nhuần văn hoá Pháp và là một người có ảnh hưởng lớn ở Nam-Việt Nam đến nỗi những người thân cận cho là đây mới là đầu não của chế độ, Diệm chỉ là ông … trưởng phòng ! Về phía Nhu, Nhu cũng muốn có sự giúp đỡ của Pháp để giành lại được một chút tự do đối với Mỹ đang hăm dọa đẩy ông xa người anh để gia tăng sự giám hộ của Mỹ trên đất nước.
Nhu chỉ được vào yết kiến thủ tướng Michel Debré chưa đầy một giờ ngày 24-6-61. Khi trở về Nhu tuyên bố rất hài lòng về cuộc thăm viếng… mặc dầu gặp ” kháng cự trên đỉnh ” . Cái kháng cự này làm Diệm buồn rầu vì Diệm là người thành thực ngưỡng mộ De Gaulle. Diệm đã có một lần tâm sự với Lalouette là ảnh hưởng của De Gaulle ở những nước trong thế giới thừ Ba vừa lớn, vừa sâu rộng, vừa lâu dài là vì De Gaulle từ chối thỏa hiệp với những sức mạnh của hỗn độn và không đứng lại ở những quyền lợi vật chất nhất thời. Nhưng nếu Diệm khen ngợi De Gaulle rất cương quyết với cộng sản ở Âu Châu, rất có óc độc lập và hợp tác với các nước nói tiếng Pháp, thì Diệm cũng rất tiếc là ở Á châu De Gaulle nhượng bộ trước tiếng kèn trung lập mà Diệm đồng hoá với một đường lối chính trị yếu ớt và với chủ nghĩa thất bại.

Roger Lalouette người mai mối giữa Bắc- và Nam- Việt Nam

Đầu hè, chính phủ Diệm phải đương đầu với cơn khủng hoảng lớn nhất : cuộc nổi loạn hoà bình của những người Phật giáo. Bị chính trị hoá mau chóng, cuộc xung đột trở thành công khai giữa các nhà sư được sự hỗ trợ của một phần dân chúng và chế độ thân công giáo của Diệm. Chính phủ Nam-Việt Nam đổ tội cho cộng sản thâm nhập mọi chỗ đã tạo ra và nuôi nấng cuộc nổi loạn. Nhiều cựu tổng trưởng trong chính phủ Diệm lại tố cáo ngược lại là chính CIA đã đổ dầu thêm lửa. Sự kiện nhà sư Thích Trí Quang trốn vào nhà một nhân vật ngoại giao Mỹ, rồi trú ẩn ở sứ quán Hoa Kỳ, chứng tỏ có bàn tay Mỹ nhúng vào. Nhiều bằng chứng tình báo Pháp thâu thập được, vạch rõ vai trò của người Mỹ. Hoàng thân Bửu Hội khi đó làm đại sứ Việt Nam Cộng hoà ở Maroc và ở nhiều xứ Phi châu có mẹ là môt sư bà đang sửa soạn tự thiêu, khẳng định là có sự hiện diện của nhân viên CIA trong chùa Xá Lợi và các nhân viên này đang tận tay “làm việc các nhà sư ” Hoàng thân thuyết phục Diệm chấp thuận cho một phái đoàn của Liên Hiệp quốc tới Sài Gòn điều tra. Đến Sài Gòn ngày 10-10-63, phái đoàn này đưa ra kết luận là không có đàn áp Phật giáo. Cũng theo giáo sư luật Đại học Varsovie Maneli, trưởng đoàn đại diện Ba Lan tại Ủy hội đình chiến năm 1963, thì CIA hỗ trợ những người Phật giáo chống Diệm trái với ý của ngay cả của đại sứ Nolting.
Các cơ quan Mỹ thì lại giải thích hoàn toàn khác : Hành động đàn áp của Diệm đã làm một rắc rối nhỏ ở địa phương thành một khủng hoảng chính trị, có thể làm đổ sập nền tảng của chế độ. Toà Bạch Ốc nhân cơ hội không ” xuống thang ” như đã giao ước với Nhu nữa : Lẽ ra theo đúng kế hoach thì phải bớt lần lần số nhân viên quân sự Mỹ từ 14 ngàn xuống còn 1500 cuối năm 1965. Trước sự từ chối của Diệm không chịu cho Mỹ tăng cường sự hiện diện quân sự của Mỹ, Kennedy đem Cabot Lodge thuộc đảng Cộng Hoà ngày trước là đối thủ tranh cử với mình, thay thế đại sứ Nolting vì bị coi là quá gần Diệm.
Triển vọng quân đội Mỹ tới làm cả hai bên đều sợ : Sài Gòn còn một chút tính hợp pháp và một chút độc lập sẽ mất hết. Hà Nội đã trông thấy sự thành công trong việc khuynh đảo miền Nam, cũng lo sợ là cuộc chiến tranh sẽ kéo dài khiến khó mà ra khỏi được sự chế ngự mỗi ngày một lớn của Bắc Kinh và thoát được một cuộc khủng hoảng kinh tế khá trầm trọng. Người Pháp cũng chia sẻ với cả hai bên mối lo nghĩ đó nên còn tin tưởng vào một giải pháp chính trị và hài lòng khi nghe những lời tuyên bố khá ôn tồn của cả hai bên bờ vĩ tuyến số 17 : Tháng 9-62, Hồ Chí Minh tuyên bố với chủ tịch Ủy hội Quốc tế Ấn độ là muốn bắt tay với Diệm được coi là một người ” yêu nước theo kiểu của mình “. Phạm Văn Đồng thì gợi ý là đai diện Pháp Jean François de la Boissière nên viếng thăm Sài Gòn và trong tương lai sẽ tiếp đón Roger Lalouette ở Hà Nội. Diệm cũng vậy, khi bàn cãi với đại sứ Pháp cũng không gạt ra ngoài một cách dứt khoát triển vọng một giải pháp hoà bình, nhưng muốn mình là người khởi xướng. Những người cầm quyền Việt Nam muốn Pháp đặt nhịp cầu đầu tiên ? Triển vọng đó khá quyến rũ Paris, nhưng Á đông vụ bộ ngoại giao dư biết là chuyện đó sẽ làm tăng thêm ảnh hưởng của những người trong bộ máy chính quyền Mỹ muốn thay thế Diệm bằng một chính phủ hoàn toàn được dùng để phục vụ những mục tiêu của Washington.
Roger Lalouette là một nhà ngoại giao lão luyện và rất rành rẽ về những vấn đề Việt Nam. Ông biết một hành động quá lộ liễu sẽ làm Diệm bị thay thế rất mau lẹ để nhường chỗ cho một chính phủ hoàn toàn theo đường lối của Washinton. Ông quyết định trao cho giáo sư Maneli, người mà ông tin cậy, một kế hoạch ba giai đoạn cho Việt Nam : mở cuộc đối thoại giữa Hà Nội và Sài Gòn ; đặt những trao đổi kinh tế và văn hoá ; tổ chức những cuộc hội đàm về chính trị. Maneli quyết định chuyển tin ra Hà Nội nơi mà ông đi đi về về nhiều lần. Phạm Văn Đồng khẳng định là ông lúc nào cũng sẵn sàng mở cuộc hội đàm, công khai hay bí mật, và tất cả đều thương lượng được “trên căn bản độc lập và chủ quyền quốc gia “. Chủ tịch Hồ Chí Minh ra chỉ thị cho Xuân Thủy, tổng trưởng ngoại giao làm một danh sách hàng hóa có thể trao đổi với miền Nam. Maneli tương đối lạc quan, trở lại Sài Gòn nhất quyết gặp Nhu. Phạm Văn Đồng cũng đề nghị Diệm, để chứng tỏ thiện chí của mình, cho lập lại trao đổi kinh tế và văn hoá giữa hai miền. Miền Bắc sẵn sàng cung cấp than đá không đặt điều kiện nào với giá rẻ hơn giá trị trường thế giới để đổi lại gạo, thực phẩm và cao su. Phải đương đầu với một cơn hạn hán trầm trọng, Hà Nội cũng muốn thoát khỏi viện trợ của Trung Quốc, trở thành quá bao trùm từ khi Trung Quốc và Liên Xô tuyệt giao..
Ngày 1-6-63, Roger Lalouette thông báo cho tổng thống Diệm những điều mật mà Maneli thâu thập được. Điện Élysée cũng được thông báo về công việc mai mối của người đại sứ của mình và không tỏ dấu hiệu gì là không muốn Lalouette tiếp tục làm chuyện đó. Trong buổi trao đổi riêng với đại biểu Ba Lan nhân dịp tân tổng trưởng ngoại giao Nam-Việt Nam Trương công Cừu mới nhậm chức, Nhu đề nghị tiếp Maneli ngày 2-9. Sài Gòn lúc đó sống trong bầu không khí quá căng thẳng, bị chìm đắm trong những tiếng đồn là sẽ có đảo chính và đang có những mặc cả thầm kín..

Tướng De Gaulle ” trở lại ” sân khấu Đông Dương

Bằng một bản tuyên bố long trọng, tổng trưởng bộ Thông tin Alain Peyrefitte đọc ngày 29-8-63, vị tổng thống Cộng hoà Pháp quốc mở lại cái hồ sơ Đông Dương nóng bỏng : ” Những biến cố trầm trọng đang diễn ra ở Việt Nam được nước Pháp chú tâm theo dõi với đầy cảm xúc và muốn thật tâm chia xẻ với dân tộc Việt Nam những thử thách mà dân tộc Việt Nam phải chịu đựng. Trong tình trạng hiện tại ở Á châu, dân tộc Việt Nam, một khi có thể khuyếch trương mọi hoạt động của mình trong hòa bình, thống nhất, độc lập với bên ngoài, và hoà hợp với các nước lân bang, sẽ có thể đóng một vai trò cho sự tiến bộ của riêng mình và cho sự thông cảm quốc tế… Lẽ tất nhiên là sự lựa chọn phương cách đi tới những mục tiêu đó hoàn toàn thuộc thẩm quyền của dân tộc Việt Nam. Nhưng nước Pháp sẵn sàng, trong phạm vi có thể được của mình, tổ chức với đất nước này một cuộc hợp tác hữu nghị. ”
Phủ nhận một cách rõ ràng việc chia đôi Việt Nam, đồng thời cũng gắn liền với nhau hoà bình, thống nhất và trung lập, De Gaulle khuyến khích mọi người Việt Nam tự giải phóng khỏi ảnh hưởng quá mức của các thế lực ngoại bang : ảnh hưởng của ” cộng sản quốc tế ở miền Bắc (nhất là Trung Quốc khi đó chế ngự tất cả ) ; ảnh hưởng của Hoa Kỳ ở miền Nam.
Tuy vậy bản tuyên bố 29-8 không tạo ra được sự phấn khởi cho các đương sự. Hà Nội tỏ ra lãnh đạm và phải một tháng sau Phạm Văn Đồng mới công khai cám ơn De Gaulle về sự ông tuyên bố tiếp tục hỗ trợ Hiệp định Genève. Ở Nam- Việt Nam, ngược lại,, bản tuyên bố được đăng trên trang đầu tờ Việt Nam Báo. Báo chí Sài Gòn cho là De Gaulle có ý muốn khích lệ chế độ và muốn cổ võ chế độ độc lập với Mỹ hơn. Để chứng tỏ mình là ngưòi hiểu rõ tinh thần bản tuyên bố, Nhu tuyên bố với báo chí ngày 11-9-63 là những ý định của tướng De Gaulle – người có những ” cái nhìn hoàn vũ “, người ” biết thiết kế những dự án vĩ đại ” – mà sau này, sau một kỳ hạn, chủ tâm của ông sẽ tạo ra được ” một phương thức, cũng phải qua một kỳ hạn lâu dài, cho sự thống nhất xứ sở ”
Lẽ tất nhiên là Washington là nơi tiếp nhận tồi tệ nhất lập trường của De Gaulle. Người Mỹ cũng bối rối về phương hướng chính trị của Pháp về Việt Nam và cũng trách cứ De Gaulle đã không giữ lời cam kết với Kennedy năm 1961 là không bao giờ biểu lộ công khai lập trường của mình.

De Gaulle, Lalouette và buổi chiều tàn của anh em Ngô

Ngày 24-8-63 toà Bạch Ốc gửi điện thư dặn dò đại sứ Lodge tìm một giải pháp để thay thế Diệm khiến CIA thấy như được cho phép, khuyến khích một số hữu trách quân sự Nam-Việt Nam làm đảo chính. Được báo tin là cuộc đảo chính chống anh em Diệm sẽ xẩy ra tức thời, Lalouette khuyên Lodge nên nhẫn nại vì Lalouette luôn luôn cho Diệm là hi vọng cuối cùng của hoà bình, vì là người duy nhất có thể đạt được một thoả hiệp với Giải phóng miền Nam và Hà Nội. Ông tiên đoán hạ bệ Diệm là một sai lầm không cách nào mà sửa được vì bất cứ một chính phủ nào khác cũng sẽ phụ thuộc Mỹ nhiều hơn và sẽ không để một chút hi vọng gì cho một giải pháp hoà bình. Lalouette nằm trong một nhóm nhỏ những người tán thành, đầu tháng 9, những cuộc gặp gỡ giữa Nhu và Maneli, người trung gian của Ủy hội Quốc tế.
Ngày 3-9, sau khi đưa bản tuyên bố ngày 29-8 cho Diệm, Lalouette nói chuyện với Diệm 3 giờ. Diệm hét ầm lên : ” người ta nói, đang có dự định một cú bạo lực ( coup de force ). Người ta nói, tính mệnh tôi bị lâm nguy. Không thể tưởng tượng được là người ta có thể dùng đến những thủ đoạn như vậy đề chống chính phủ một nước bạn…”.
Để che giấu sự sửa soạn làm cuộc đảo chính, Lodge nói với Lalouette là ông ta sắp đi gặp tổng thống Kennedy để xin gia hạn cho Diệm Nhu, ông ta thêm : ” Nhu bằng lòng từ chức, bỏ Sài Gòn sống ở Đà Lạt. Nhưng Nhu không chịu bỏ Việt Nam vì không muốn mất liên lạc với GPMN.

Không thừa nhận chế độ mới ở Sài Gòn

Không thể đưa ra đây những chi tiết cuộc đảo chính ngày 1-11-63 chống Diệm và ngày 2-11 anh em Diệm bị giết. Paris được yêu cầu công nhận chính phủ lâm thời đứng đầu là Nguyễn Ngọc Thơ, cựu phó tổng thống của Diệm. Trong số 80 nước có liên lạc noại giao với Việt Nam Cộng Hoà dưới Diệm, 30 nước đã công nhận chế độ mới. Sài Gòn mong muốn sớm nhận được một dắu hiệu tích cực đến từ Pháp vì Pháp vẫn còn nhiều ảnh hưởng ở Nam-Việt Nam.
Paris chỉ chính thức nhận thưcủa chính phủ Sài Gòn ngày 16-11, 10 ngày sau khi tiếp được thư. Paris chỉ nói là sẽ tiếp tục những giao thiệp thường xuyên. Vì ngại thiện cảm ban đầu đối với nước Pháp trở thành ác cảm có hại cho quyền lợi nước Pháp, ban giám đốc Á châu sự vụ bộ ngoại giao thỉnh cầu De Gaulle nhiều lần trong tháng 11 là nên công nhận chế độ mới. De Gaulle vẫn làm thinh.
De Gaulle thật ra nhìn xa hơn và đúng hơn nhiều nhà ngoại giao. Giải pháp trung lập mà ông đưa ra có thể tránh cho Nam-Việt Nam một cuộc chiến tranh lâu dài và một sự bỏ rơi phũ phàng không còn gì là phẩm giá.
Có lẽ trong thâm tâm, tướng De Gaulle hi vọng trung lập hoá riêng biệt 2 miền, Bắc Việt và Nam Viêt. Nhưng ông cũng như người Mỹ, biết là rất khó khăn Bắc Việt chịu bỏ chế độ cộng sản và sự trung lập của Nam Việt cũng khó mà được Bắc Việt tôn trọng, Đồng thời cũng khó mà hãm được ý định ngự trị đang chớm nở của Trung Quốc.
Tướng De Gaulle chỉ đề ra cái đỡ tệ nhất : Sau một kỳ hạn, sự thống nhất Việt Nam sẽ do người cộng sản thực hiện dưới cái vỏ trung lập.
Ý đồ trung lập của tướng De Gaulle nằm trong những mưu toan chính trị – quân sự ở Sài Gòn

Ngày 29-1-64, Lodge báo cho bộ ngoại giao Mỹ là tướng Khánh, tư lệnh quân đoàn I Quân đội Quốc gia Việt Nam quả quyết với ông là đã khám phá được trong chính phủ Nam- Việt Nam một âm mưu trung lập do Pháp gợi ý. Những tướng thân Pháp, Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân bi coi là có dính líu. Lodge tin Khánh là một trong những tướng có khả năng nhất và khác với tướng Trần Văn Minh, sẽ ngả theo kế hoạch chiến tranh bí mật và thả bom Bắc Việt của lầu Năm góc. Lodge đem Khánh và gia đình vào toà Đại sứ lánh nạn và hứa nếu cần sẽ di tản cả gia đình ra khỏi nước bằng máy bay.
Đảo chính ( của tướng Khánh ) xẩy ra ngày 30-1. Trước ngày đó Washington đã làm áp lực xuống De Gaulle, làm như là nhóm tướng tá Nam Việt bị coi là có ý tưởng trung lập có thể xử sự theo lệnh hay theo ý của De Gaulle.
Theo nhiều bằng chứng mà các nhà ngoại giao và các cơ quan tình báo thâu thập được, thì trong Hội đồng Quân nhân Cách mạng, ngay sau Đảo chính 1-11, đã có 2 phái theo 2 xu hướng khác nhau : xu hướng thiên về giải pháp của Pháp ( Dương văn Minh, Lê văn Kim, Mai Hữu Xuân, Trần Văn Đôn, Nguyễn Văn Vỹ ), xu hướng trung thành với đường lối của Mỹ ( Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Hữu Có, Phạm xuân Chiểu, Đỗ Mậu ). Nội bộ quân đội trước đã rất mong manh, nay có thể bị coi là đã tan vỡ. Tham vọng chính trị của các tướng lãnh quân đội được thả giàn và những cuộc đảo chính nối tiếp nhau để các tướng lãnh thay nhau vơ vét viện trợ Mỹ mỗi ngày một kếch xù.
Để tránh Nam- Việt Nam bị rơi vào tay cộng sản quá mau chóng, Johnson thấy cần phải thuyết phục De Gaulle với bất cứ giá nào để De Gaulle tuyên bố là kế hoạch trung lập hoá Nam Việt không phải là ngay tức khắc. Johnson kiếm được một đồng minh là Gaston Deferre úng cử viên tổng thống đảng xã hội Pháp năm 1965. Được tiếp ở toà Bạch Ốc, Deferre chỉ trích thẳng cánh chính sách trung lập hoá Đông Nam Á của De Gaulle và cho là De Gaulle chỉ có mục đích làm Mỹ lúng túng. Deferre hứa là khi trúng cử sẽ tức khắc đi đến Washington hỏi ý các đồng minh trước khi quyết định đường lối chính trị của mình !
Paris nghĩ là sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Nam-Việt Nam và sự hăm doạ leo thang chiến tranh trong một kỳ hạn ngắn có thể là những quân bài chủ của Tây phương nếu – và chỉ nếu – đặt mục đích tối hậu là thương lượng. Sự hoà hoãn của Liên Xô có thể giúp ích cho việc đó. Là siêu cường quân sự độc nhất ở Thái Bình Dương, Mỹ phải đối đầu với thế lưỡng nan của một cuộc chiến tranh với Trung Quốc mà Mỹ vẫn coi như là một cường lực thuộc thủa sơ khai, hung bạo, hiếu chiến và nuôi óc bành trướng. Nhưng để tránh một kịch bản chiến tranh, đổi lại với một sự cam kết rõ ràng là Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ tôn trọng một thứ trung lập nào đó, Paris tin chắc là Mỹ có thể điều đình thẳng thắng với cả hai, Việt Nam dân chủ Cộng hoà và Trung Quốc..
Nếu khó mà có thể nghi ngờ thái độ hoà hoãn của Liên Xô cho tới đầu năm 1965, thì cho tới bây giờ vẫn khó mà biết được ý của Trung Quốc về những đề nghị đàm phán của Pháp. Trong số các nhà sử học có người khẳng định là, với mục đích loại trừ những kẻ thù theo ” chủ nghĩa xét lại “, Mao nghĩ đến chiến tranh nhiều hơn là hoà bình, nhất là sau chuyện vịnh Bắc bộ. Nhiều người khác lại nhắc lại là CHNDTQ đã khuyên Hà Nội thận trọng trước những gây hấn của Mỹ vì Trung Quốc thật sự sợ bị lôi cuốn vào một cuộc đối đầu trực tiếp với Mỹ. Ít nhất là tới đầu năm 1965, Trung Quốc khuyên đồng minh của mình nên để ngỏ cửa cho sự điều đình.
Phân tích lập trường của Hà Nội cũng ngần ấy khó khăn :Các nhà lãnh đạo VNDCCH, một mặt muốn mở cửa điều đình với những thủ lãnh mới của Sài Gòn, một mặt, ngay từ tháng 12- 63, đưa ra quyết định tăng cường áp lực quân sự tại miền Nam. Bộ Chính trị đảng Lao Động có vẻ chia rẽ : nhiều nhân vật như Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng và có lẽ cả tướng Giáp tán thành giải pháp trung lập miền Nam để tránh một cuộc chiến tranh lâu dài và ác nghiệt. Tuy nhiên với sự vươn lên của Lê Duẩn trong lúc sức khoẻ của Hồ Chí Minh bắt đầu suy đồi, bộ Chính trị đã bị bẻ theo hướng thân Trung Quốc. Tiếp theo là một làn sóng thanh trừng trong nội bộ Đảng, trong giới trí thức và sinh viên. Chỉ mấy tuần sau, bộ Chính trị chuẩn y gửi những đơn vị tác chiến đầu tiên của QĐNDVN vào miền Nam. Bắc Việt cũng bắt đầu phải tập sự ngoại giao làm sao giữ được thăng bằng giữa 2 cường quốc địch thủ cùng trong phe cộng sản. Bắc Việt cũng không muốn trở lại bàn hội nghị nữa vì cảm thấy là nạn nhân của Hội nghị Genève năm 1954. Đại sứ Mai Văn Bộ bộc lộ rõ ràng mối oán giận của các nhà hữu trách VNDCCH đối với Bắc Kinh và sự ngờ vực đối với Paris, khi phê phán : ” Ở Genève chúng tôi đâu có nhờ người Trung Quốc thương lượng. Họ đã chiếm chỗ của chúng tôi “. Lý Văn Sáu, cựu đại biểu phái đoàn Giải phóng miền Nam trong hội đàm Paris cũng nói lại là nhiều người Việt coi Hội nghị Genève là một bức chế.

Ý chí muốn xích lại gần Hà Nội

Ngày 1-7-65, Mai Văn Bộ khẳng định với Nanac’h, giám đốc Á châu sự vụ bộ Ngoại giao là chính phủ của ông muốn bình thường hoá quan hệ ngoại giao với nước Pháp. Ngày 24- 1-66, Hồ Chí Minh gửi một lá thư cho tướng De Gaulle yêu cầu De Gaulle dùng ” uy thế của mình để làm ngưng lại cho kịp thời những âm mưu nham hiểm mới của Mỹ ở Việt Nam và ở Đông Dương “. De Gaulle viết thư trả lời ” chủ tịch Hồ Chí Minh ” ngày 8-2. Ngày 15, bức thư trả lời được chính thức đăng trên báo chí với những lời lẽ rất hoà giải và lễ độ làm ngạc nhiên và bực mình những giới có liên hệ với Nam-Việt Nam.
Không chỗ nào mà những lời chỉ trích sự can thiệp của Mỹ ở Việt Nam được giới truyền thông nói tới nhiều bằng trong bài diễn văn Phnom Pênh. Nếu 73% dân Pháp đồng ý với nội dung bài diễn văn đó thì cũng có nhiều chính khách, nhà báo, nhà ngoại giao tiếc là De Gaulle chỉ cáo giác một bên là Mỹ và như vậy khó có thể đứng làm trung gian giữa 2 bên được. Mendès France cho bài diễn văn vô ích, không thực tế. Tuy Mendès France cùng quan điểm với De Gaulle về cách hay nhất để làm mất sự sợ hãi giữa Mỹ và Trung Quốc là trung lập hóa toàn thể Đông Nam Á, Mendes France khác De Gaulle về phương cách : cho cách hay nhất là De Gaulle nên đi thẳng đến Hà Nội, Washington hay Bắc Kinh để trình bày những đề nghị của mình ngõ hầu làm giảm bớt những nghi ngờ và những đối kháng.
Báo chí Trung Quốc im hơi lặng tiếng về cuộc viếng thăm Cam Bốt của De Gaulle vì các nhà lãnh đạo CHNDTQ coi Hiệp định Genève là đã lỗi thời trong khi De Gaulle vẫn muốn dựa vào nó.

Sainteny móc nối một đường giây cho tương lai

Sainteny, tổng trưởng bộ Cựu chiến binh trong nội các Pompidou từ 1962 đến 1966 được De Gaulle tin cậy vì là người đã tham dự nhiều về công chuyện Việt Nam và thỉnh thoảng vẫn có liên lạc với những nhà ngoại giao người Việt và người Mỹ công cán ở Paris. Ông nói với người Mỹ là Việt Nam thống nhất có lợi cho Tây phương : ” biên thùy ” Nam Bắc được mở, những thành phần không cộng sản trong nước sẽ được lợi thế vô kể vì, theo kinh nghiệm của ông khi còn ở Hà Nội, đa số người dân miền Bắc không thích hệ thống cộng sản.
Cũng vì De Gaulle biết Sainteny được các lãnh tụ cao cấp Bắc Việt như Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng mến chuộng nên ngày 24-2 ông được De Gaulle trao cho một bức thư cầm tay cho chủ tịch nước VNDCCH, nói là De Gaulle muốn có những tiếp xúc mới và chỉ giữa 2 người với nhau.
Sainteny được Nguyễn Duy Trinh, bộ trưởng ngoại giao, phó thủ tướng tiếp ngày 4-7, và sau đó được chính thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp. Ngày hôm sau 5-7, Sainteny được tiếp chuyện ” mặt đối mặt ” với Hồ Chí Minh ở Chủ tịch phủ. Cảm tưởng của Sainteny là chủ tịch VNDCCH không còn giữ quyền chính nữa, giao phó cho Phạm Văn Đồng. Hồ Chí Minh có vẻ thất vọng về bức thư của De Gaulle. Tuy không có ảo tưởng gì về những lời khuyên của mình, Sainteny cũng cảnh giác những người đối thoại về hậu quả của một cuộc tranh đấu đến tận cùng, có thể làm lụn bại Việt Nam hay làm Việt Nam rơi hoàn toàn vào quĩ đạo Trung Quốc. Rút cục những cuộc hội đàm với Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Duy Trinh, có vẻ hữu ích cho mối bang giao Việt – Pháp nhiều hơn là tìm được một giải pháp ngoại giao ..
Ảnh hưởng của Bắc Kinh bao trùm Hà Nội lúc đó. Bắc Kinh thúc đẩy tiếp tục chiến tranh để hưởng lợi : Mỹ bị thua một nước nhỏ, sẽ mất hết uy tín ở phương Đông, bang giao giữa Washington và Moscou sẽ bị lục đục, sự tùy thuộc Bắc Kinh về viện trợ sẽ mỗi ngày một lớn. Nhưng cái khốc liệt nhất là các nhà lãnh đạo Trung Quốc đang mở những cuộc thanh trừng các tầng lớp tư sản, trí thức, sẽ tiếp tục đem chiến tranh Việt Nam ra để biện bạch.
Tuy nhiên khi Sainteny gặp Phạm Văn Đồng lần thứ hai, lần đầu tiên Phạm Văn Đồng nói sẽ ngưng xâm nhập nếu Mỹ ngừng thả bom. Bộ Ngoại giao Mỹ không giấu nổi sự ngạc nhiên và bằng lòng. Dean Rusk ra huấn thị cho đại sứ Mỹ gặp Sainteny để làm sáng tỏ những câu nói của Phạm Văn Đồng. Một ủy ban đàm phán do Averell Harriman cầm đầu ủy nhiệm Giáo sư Henry Kissinger, ngôi sao đang lên của Washington và cũng là chỗ quen biết của vợ Sainteny, Claude Dulong, lo việc này. Kissinger gặp Sainteny ngày 13-6-1966 trước khi ông trở lại Á Đông.
Nói tóm lại Sainteny đã không trở về với 2 bàn tay trống. Cuộc viếng thăm Hà Nội của ông đã cho toà Bạch ốc thấy ông là người trung gian có tiềm năng. Toà Bạch Ốc tưởng đã gạt bỏ được mãi mãi vai trò trung gian của chính phủ Pháp sau bài diễn văn Phnom Penh.

Một đường giây đầy hứa hẹn : Pennsylvania

Pennsylvania là mật mã của một đuờng giây bí mật trong đó có tên của 2 người Pháp không thuộc ngành ngoại giao bên cạnh tên của giáo sư Kissinger : Hebert Markovich và Raymond Aubrac. Marcovich là một nhà vi sinh vật học thuộc viện Pasteur Paris, Aubrac là nhân viên cao cấp của FAO ( Tổ chức Liên Hiệp Quốc về thực phẩm và canh nông ). Aubrac được mời vào đường giây này vì là cựu kháng chiến và là chỗ thân tình của Hồ Chí Minh. Hai sứ giả Pháp được Henri Kissinger nhờ nhắn tin với Hà Nội là chính phủ Mỹ sẵn sàng ngừng ném bom Bắc Việt với điều kiện là VNDCCH không tăng cường thâm nhập Nam Việt. Kissinger nhấn mạnh chữ ” ngưng tăng cường thâm nhập ” thay vì ” ngưng thâm nhập “.
Tới Hà Nội ngày 21-7 hai trung gian Pháp được bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đón tiếp, lấy cớ để tái lập sự liên lạc giữa viện Pasteur Paris và viện Pasteur Hà Nội. Ngày 24, 2 người được gặp Phạm Văn Đồng. Marcovich đưa tin của Kissinger cho thủ tướng VNDCCH. Aubrac nói thêm vào là vấn đề kiểm soát sự thâm nhập phải được giải quyết và Mỹ hoan nghênh những đề nghị của Hà Nội. Thủ tướng hỏi ” Làm sao họ biết được chúng tôi ngừng thâm nhập ?” Marcovich trả lời là với máy bay trinh thám có thể kiểm soát được một phần.
Buổi chiều Aubrac được Hồ Chí Minh tiếp. Sau 15 phút hàn huyên về gia đình Aubrac mà Chủ tịch biết rất rõ từ khi còn ở nhà Aubrac năm 1946, Hồ Chí Minh bắt đầu bằng một bài thuyết trình về lịch sử, địa dư và địa lí chính của cuộc chiến tranh, rồi Hồ Chí Minh trở lại những câu chuyện thường và có ý nói là những chi tiết về thuơng lượng đều do thủ tướng Phạm Văn Đồng nắm giữ.
Ngày hôm sau 2 người gặp lại Phạm Văn Đồng. Ông lập lại với 2 người là ngưng chiến đòi hỏi phải ngưng thả bom vô điều kiện, vô thời hạn và Mỹ phải rút quân khỏi Việt Nam. Marcovich ngắt lời và có ý cho là thiếu thực tế. Phạm Văn Đồng đành phải nói rõ ràng : Quân đội Mỹ có thể ở lại cho tới khi đạt được một thoả hiệp chính trị ở Nam Việt. Nếu cần phải bàn bí mật thì bàn tuy không thích hội đàm bí mật ( chỉ giữa Mỹ và Bắc Việt ). Không cần phải có sự tham dự của GPMN khi những vấn đề được đem ra bàn không dính dáng gì tới Nam-Việt Nam.
Khi trở về Paris, Aubrac và Marcovich vội vã tường thuật cho Kissinger nghe. Những lời nói của Phạm Văn Đồng được Washington cho là thực tế và khích lệ : đàm phán bí mật, không có sự hiện diện của GPMN, quân đội Mỹ vẫn có thể ở lại miền Nam cho đến khi những vấn đề chính trị được giải quyết, thành lập một chính phủ liên hiệp trong đó có.những nhân vật của chính phủ Sài Gòn.
Một lần nữa toà Bạch Ốc đã không cho là cần thiết phải giảm bớt nhịp độ thả bom miền Bắc song song với sự tiến bộ đạt được của đường giây Paris. Rội bom ác liệt nhất trong chiến dịch Rolling Thunder là từ ngày 20 đến 23-8. Chính phủ VNDCCH từ chối tiếp thư của các sứ giả Pháp gửi cho Mai Văn Bộ. Đường giây bị tắt ngấm.

Sự trỗi lên của đường giây Manac’ h

Thàng 10-1967, Manac’h nhận lời Mỹ đóng vai trò trung gian không chính thức giữa sứ quán Mỹ ở Paris và tổng đại diện VNDCCH để chuyển vận thư tín và thúc gấp cuộc đối thoại. Manac’ h nhận được khẳng định của Bộ ngày 8-12 : ” Nếu Mỹ ngưng thả bom, sẽ có thể có những cuộc hội đàm “. Manac’ h nói với Bộ là vì vấn đề tâm lí đối với dân Mỹ, cần phải nói rõ ràng hơn, khẳng định hơn, như ( “những cuộc hội đàm sẽ diễn ra… ). Ngày 29-12 một bản tuyên bố của Nguyễn Duy Trinh bằng tiếng Pháp được phổ biến với những động từ được chia ở Thì tương lai, không chia ở điều kiện thức (văn phạm Pháp) nữa : Sau khi ngưng thả bom vô điều kiện (…) VNDCCH sẽ bắt đầu những cuộc nói chuyện với Hoa Kỳ về những vấn đề có liên quan…” Mai Văn Bộ khẳng định với Manac’ h là bản tuyên bố hoàn toàn có tính cách chính thức và từ ngữ ” ngưng thả bom vô kỳ hạn “đã được bỏ đi. Về thời gian từ khi ngưng thả bom đến khi mởcuộc hội đàm, Bộ nói rõ : ” VNDCCH mở cuộc đàm phán ngay khi sự ngưng thả bom được thực hiện ”
Hai địch thủ có vẻ đi gần nhau về những điều kiện được đòi hỏi để mở cuộc hội đàm.

Chọn Paris làm chỗ hội đàm hoà bình

Ngày 20-1 1968, giáo sư Roussel chủ tịch hội Y giới Việt-Pháp, 3 ngày trước khi đi công tác y tế ở Hà Nội, được mời tới điện Élysée để De Gaulle trao cho một nhiệm vụ bí mật là thăm dò phản ứng cúa thủ tướng VNDCCH, không những về sự tăng cường quan hệ Việt-Pháp sau bài diễn văn Phnom Pênh, mà còn về sáng kiến của De Gaulle là mở những cuộc hội đàm sơ bộ về hoà bình ở Paris. Khi được Phạm Văn Đồng tiếp kiến, Phạm Văn Đồng phát biểu ” Ông nói với tướng De Gaulle là tôi đón nhận mọi ý kiến. Trái banh ở bên tướng De Gaulle “. Qua câu trả lời, Điện Élysée coi là đã nhận được sự ưng thuận mặc nhiên của chính phủ Bắc Việt về ý tưởng một hội nghị tương lai ở Paris bàn về hoà bình Việt Nam.
Theo CIA, điện Élysée muốn chắc chắn có được sự hỗ trợ của cả hai chính phủ Việt Nam về sự chọn lựa Paris, nên đã nhờ một người trung gian kín đáo trao cho chính phủ Nam Việt một bức thư về sự lựa chọn này. Tuy không biết danh tính của người trung gian này, nhưng chắc cũng phải là một nhân vật quan trọng mới tiếp xúc được với những nhân vật cao cấp của chế độ nhưNguyễn Văn Hiếu, cố vấn chính trị, anh của tổng thống Thiệu, nhiều tổng trưởng trong đó có tổng trưởng ngoại giao Trần Văn Đỗ và đại sứ Sài Gòn ở Mỹ. Người trung gian cũng nói riêng với một nhân viên CIA là cuộc thăm viếng nhằm mục đích muốn soi sáng tổng thống Thiệu và những cố vấn của ông về thái độ của De Gaulle và của những nhà hữu trách chính trị Pháp đối với chính phủ Nam Việt và về những diễn tiến chính trị trong sự quyết định của Bắc Việt khi chấp thuận những cuộc thương lượng. Người trung gian cũng biện bạch cho sự xích lại gần Hà Nội của Paris là muốn cân đối ảnh hưởng của Trung Quốc cộng sản và chính phủ Pháp vẫn quyết tâm giúp chính phủ Nam Việt bằng mọi phương tiện có thể được, vì có trách nhiệm tinh thần với những người Việt Nam chống cộng đã chiến đấu cho và với người Pháp. Người trung gian cũng nói hi vọng cuộc hội đàm diễn ra khi Hồ Chí Minh còn sống chứ không với Lê Duẩn hay với Trường Chinh. Chính phủ Pháp cũng cho quyết định hội đàm của Hà Nội là một hành động can đảm trước những áp lực của Bắc Kinh chống cuộc hội đàm.
Hoàn toàn là tình cờ hay là kết quả của đường giây bí mật này ? Trong một cuộc phỏng vấn dành cho báo Evening Star ngày 23-4, Trần Văn Đỗ khẳng định là Nam-Việt Nam không bác bẻ sự chọn lựa Paris làm nơi hội đàm sơ bộ giữa các nhà ngoại giao Mỹ vả Bắc Việt, và ngay cả cho những cuộc hội đàm sau này nếu mang lại kết quả. Bắc Việt và Nam Việt đều có quan hệ ngoại giao với nước Phàp và các nhà ngoại giao Nam Việt có thể đóng vai trò quan sát viên của mình một cách tự do.

Kết luận

Ngày 24-4-69, tướng De Gaulle lấy cớ không được tín nhiệm trong một cuộc trưng cầu dân ý, từ chức. Từ sau biến cố tháng 5-68 ông đã sửa soạn ra đi để bảo toàn phẩm giá. Ông chỉ chờ cơ hội..
Khi ông đưa ra một giải pháp để thay thế sự can thiệp quân sự của một cường quốc có quân lực mạnh nhất thế giới, khi ông cố gắng đẩy xa chiến tranh lạnh ở những nước Đông Nam Á bị tù túng trong những liên minh, rồi thúc gấp mở ra những cuộc đàm phán, phải chăng De Gaulle đã góp phần cho sự thăng bằng thế giới ?
Đường lối chính trị của De Gaulle đã đưa tới sự hòa giải biểu tượng với Việt Nam mà không chối bỏ tình hữu nghị với Hoa Kỳ. Những giá trị chung giữa các nền văn minh được công nhận và được đặt lên trên những tách biệt về lí tưởng và những khủng hoảng từ đó mà ra. Sự thừa nhận những giá trị đó đến từ một người đã biết tự nhận những lỗi lầm của mình để từ đó đã rút tỉa được những bài học tích cực. Một người biết chấp nhận tầm vóc bi kịch của Lịch sử

Nguyên Phong lược dịch
—-
Nguồn: VHNA
http://www.vanhoanghean.com.vn/nhung-goc-nhin-van-hoa/goc-nhin-van-hoa/3589-de-gaulle-va-viet-nam–1945-1969–ky-1-.html
http://www.vanhoanghean.com.vn/nhung-goc-nhin-van-hoa/goc-nhin-van-hoa/3596-de-gaulle-va-viet-nam-1945-1969-ky-2.html
http://www.vanhoanghean.com.vn/nhung-goc-nhin-van-hoa/goc-nhin-van-hoa/3602-de-gaulle-va-viet-nam–1945-1969-ky-3.html
http://www.vanhoanghean.com.vn/nhung-goc-nhin-van-hoa/goc-nhin-van-hoa/3608-de-gaulle-va-viet-nam-1945-1969ky-cuoi.html

Advertisements

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
Bài này đã được đăng trong Archives, Articles, International relations và được gắn thẻ , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s