XUNG QUANH CUỘC KHỦNG HOẢNG HẠT NHÂN IRAN

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ ba, ngày 21/2/2012

(phần 1)

TTXVN (Angiê 14/2)

Cấm vận dầu mỏ và những hệ lụy

Năm 2012 khởi đầu với việc phương Tây trừng phạt Iran bằng mưu đồ Cấm vận dầu mỏ nước này. Giáo sư Chems Eddine Chitour, thuộc trường Bách khoa Angiêri, đặt ra một loạt câu hỏi: Liệu cấm vận có tác dụng không? Liệu cấm vận có bóp nghẹt Iran không? Liệu cấm vận có lật đổ được Tổng thống Ahmadinejad và thay vào đó một con rối thân phương Tây sẽ dừng chương trình hạt nhân dân sự và, từ đó, đáp ứng đòi hỏi của Mỹ và Ixraen, không? Hậu quả của cấm vận sẽ ra sao? Ông lý giải trên tạp chí “Mondialisation” như sau:

Iran nắm giữ 10% trữ lượng dầu mỏ thế giới đã được khẳng định (giúp nước này đứng thứ 3 thế giới). Iran cũng có trữ lượng khí đốt tự nhiên đứng thứ hai thế giới (chiếm 15% tổng trữ lượng thế giới) và các nguồn tài nguyên này được khai thác chủ yếu để phục vụ nhu cầu trong nước. Iran cũng là một nước lớn đang định đa dạng hóa một cách hợp lý việc sử dụng các nguồn tài nguyên này, cụ thể bằng cách xây đập thủy điện…

Đức và Pháp đã thành công trong việc “áp đặt” lệnh cho các nước nhỏ không được mua dầu mỏ của Iran. Mỹ tỏ ra hài lòng khi thấy các nước Liên minh châu Âu đạt được thỏa thuận về nguyên tắc để áp đặt cấm vận mua dầu mỏ Iran và coi đó là một “tin rất tốt lành”. Có tới 80% số thu ngoại tệ của Iran, nước sản xuất dầu mỏ thứ hai của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC), là từ nguồn xuất khẩu dầu mỏ, khoảng 100 tỷ USD trong thời gian từ tháng 3/2011 đến tháng 3/2012. Nga, Trung Quốc và một số nước châu Á khác mới đây khẳng định phản đối cấm vận dầu mỏ. Trong thời gian qua, Mỹ tăng cường trừng phạt chống ngành dầu mỏ của Iran bằng cách đóng băng tài sản của tất cả các thể chế tài chính nước ngoài có quan hệ buôn bán với Ngân hàng trung ương Iran trong lĩnh vực dầu mỏ. Têhêran dọa phong tỏa eo biển Hormuz, hành lang thông thương chiến lược nơi khoảng 30% lượng vận chuyển dầu mỏ thế giới bằng đường biển, đi qua. Tình hình căng thẳng dai dẳng tác động đến dầu mỏ Brent, đẩy mức giá lên cao nhất (112,59 USD/thùng) kể từ ngày 15/11/2011. Iran sản xuất khoảng 3,5 triệu thùng/ngày và xuất khẩu khoảng 2,5 triệu thùng/ngày, trong đó gần 18% sang châu Âu. Để tránh áp lực trừng phạt của phương Tây, Iran quay sang châu Á nhằm giảm sự lệ thuộc vào thị trường châu Âu. Pháp và Đức bảo vệ ý kiến về cấm vận đối với việc mua dầu mỏ của Iran, nhưng một số nước châu Âu phản đối quyết liệt. Têhêran bán khoảng 450.000 thùng sang châu Âu, chủ yếu cho Italia – nước phụ thuộc tới hơn 40% vào dầu mỏ của Iran (180.000 thùng), Tây Ban Nha (160.000 thùng) và Hy Lạp (100.000 thùng). Hơn nữa, việc tìm kiếm các nguồn thay thế khác từ Arập Xêút (nước tuyên bố sẵn sàng cung cấp thêm dầu mỏ) và Libi, vẫn không có gì là chắc chắn và hoàn toàn không làm yên lòng các nước châu Âu nghi ngại. Theo một số dự đoán, Libi hiện sản xuất khoảng 800.000 thùng/ngày.

Tuần báo “Asemen” dẫn lời Bộ trưởng Dầu mỏ Iran, Rostam Qasemi, tuyên bố giá một thùng dầu có thể lên tới mức 200 USD trong trường hợp phương Tây áp đặt các biện pháp trừng phạt mới chống Têhêran. Theo ông Nicholas Sarkis, Giám đốc Trung tâm Arập nghiên cứu dầu mỏ, cấm vận nhập khẩu dầu mỏ Iran sẽ gây ra hậu quả đáng kể đối với thị trường dầu mỏ vì hai lý do. Thứ nhất, cấm vận sẽ khiến các nước tiêu thụ mất đi nguồn cung ứng từ Iran đối với mọi thứ liên quan đến dầu mỏ. Thứ hai, sẽ có nguy cơ Iran trả đũa. Têhêran không giấu giếm ý định đó. Không ai có thể dự báo giá dầu có thể tăng đến mức nào. Cũng không thể đưa ra một con số cụ thể trước khi các biện pháp cấm vận được áp dụng. Song điều chắc chắn là giá sẽ tăng rất mạnh, có thể lên tới 150 USD, 180 USD, thậm chí 200 USD/thùng hay cao hơn nữa. Mọi giả thiết đều có thể xảy ra. Điều chắc chắn là một khả năng như vậy sẽ dẫn đến những hệ quả tai hại đối với thị trường dầu mỏ.

Đối với ông Nicholas Sarkis, điều chắc chắn nữa là sẽ có tác động đến nền kinh tế của tất cả các nước tiêu thụ dầu mỏ, kể cả các nước thuộc khu vực đồng tiền chung châu Âu vốn là những nước phụ thuộc phần lớn vào dầu mỏ Iran. Nhu cầu sẽ tăng trong khi năng lực sản xuất bị hạn chế và việc phát hiện mỏ mới lại càng ít. Phát triển năng lực sản xuất mới lại tương đối chậm. Nguy cơ là rất lớn đối với Mỹ và châu Âu nếu họ quyết định cấm vận và cấm nhập khẩu dầu mỏ Iran. Từ nhiều năm nay, Mỹ và châu Âu đã tìm cách bóp nghẹt Iran để gây áp lực và buộc nước này phải dừng chương trình hạt nhân. Cho đến nay, họ vẫn không thành công. Tăng cường trừng phạt, dù trong lĩnh vực dầu mỏ, tài chính hay một lĩnh vực nào khác, cũng sẽ khiến nền kinh tế Iran gặp rủi ro và trong trường hợp đó, cần dự báo trước những biện pháp trả đũa của Iran.

Điều gì sẽ xảy ra nếu các biện pháp cấm vận mới được áp dụng? Thực tế sẽ không có gì đặc biệt xảy ra vì giá dầu có thể sẽ tăng trong một thời gian rất ngắn rồi lại đột ngột hạ xuống. Phương Tây lo sợ và chơi trò dọa nạt người khác khi nói đến thảm họa đóng cửa eo biển Hormuz. Liệu đó có phải là ngày tận thế của thế giới không? Thực tế chỉ có các nước nhỏ là những nước đầu tiên bị ảnh hưởng. Trước hết, Mỹ không bị ảnh hường vì họ sẽ tìm dầu ở nơi khác. Hơn nữa, cần phải không bao giờ quên rằng Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA), được coi là sen đầm dầu khí phục vụ cho Mỹ, sẽ canh chừng. Thể chế này do Henry Kissinger thành lập năm 1974 để “đánh sập OPEC”. Và theo quy chế, tất cả các nước thành viên – kể cả các nước NATO – có nghĩa vụ phải thành lập kho dự trữ an toàn có thể dùng được trong 90 ngày để giảm tác động của cú sốc trong trường hợp xảy ra xung đột. Nói rõ hơn là nếu xung đột xảy ra, các nước thành viên IEA sẽ mở kho dự trữ và tạo ra một lượng dầu nhiều giả tạo triệt tiêu hệ quả của việc tăng giá do khan hiếm tình thế.

“Cách làm” này hoàn toàn trái ngược với tinh thần học thuyết tự do cung cầu, nhưng ai sẽ phản đối đây? Các kịch bản này đã được chúng minh trong các cuộc xung đột vừa qua. Tuy nhiên cuộc xung đột không được kéo dài hơn 3 tháng. Mỹ và đồng minh có phương tiện để chống tăng giá. Chỉ có các thị trường tài chính đầu cơ có thể làm rối loạn giá. Từ thực tế đó, không nên ngây thơ mà tin rằng cuộc vui của OPEC sẽ có tác dụng vì quyết định được đưa ra ở chỗ khác rồi được Arập Xêút và các ông vua nhỏ khác ở vùng Vịnh thông báo và áp đặt vì lợi ích của Mỹ. Tháng 12/2011, tại một cuộc họp của OPEC, Iran đã từng đòi giảm lượng dầu sản xuất của Arập Xêút và Côoét, nhưng vô ích. Người ta nói rằng Mỹ là thành viên quan trọng nhất của OPEC.

Tuy nhiên, dường như Mỹ lại gặp khó khăn ở khắp nơi. Theo chuyên gia Robert Bibeau, Mỹ đang trong quá trình suy tàn như đã thấy từ sau Chiến tranh thế giới thứ Hai. Sau chưa đến 70 năm độc quyền trị vì, đế chế của phương Tây sẽ tiếp tục sa sút trong năm nay. Quá trình hấp hối của Mỹ đã bắt đầu từ năm 2008 – với cuộc khủng hoảng tiền tệ – rồi tiếp diễn trong năm 2011 – với cuộc khủng hoảng nợ công – sẽ tiếp tục trong năm 2012 và còn tiếp vài năm sau đó nữa. Trong thời kỳ đó, Mỹ sẽ đồng thời không có khả năng trả nợ và không thể chèo lái được, từ đó biến thành một “con tàu mất lái”. Đó là con tàu chỉ huy của hạm đội đế quốc phương Tây. Đế chế Mỹ suy thoái là điều chắc chắn. Việc phát hành thêm đồng USD trong hai năm 2009 và 2010 chỉ làm con tàu đó thêm mất phương hướng. Các công ty xếp hạng tín dụng Ănglô Xắcxông và các chủ ngân hàng ở Wall Street biết rõ điều đó và trong năm 2012, không có gì đáng ngạc nhiên nếu họ sẽ chuyển đổi một phần tài sản của mình – đồng USD – sang đồng euro, nhân dân tệ, phơrăng Thụy Sỹ, vàng…

Trong thế giới phương Tây, chủ nghĩa đế quốc Mỹ đang hoảng loạn – kẻ thù không đội trời chung của đế quốc Trung Hoa – sẽ tìm cách khơi dậy làn sóng bảo hộ mậu dịch và dân tộc chủ nghĩa cuồng tín, đồng thời cả ý định thúc đẩy cuộc “Chiến tranh Lạnh” tai hại chống Trung Quốc. Năm 2011, Tổng thống Barack Obama đã xác định khuôn khổ và đưa ra minh chứng cho một cuộc đối đầu trên quy mô lớn và lâu dài với Trung Quốc. Đó sẽ là một nỗ lực tuyệt vọng để duy trì ảnh hưởng và bảo vệ các vị trí chiến lược của Mỹ ở châu Á và khắp nơi trên thế giới. “Bộ tứ quyền lực” của quân đội Mỹ – Mỹ, Nhật Bản, Ôxtrâylia và Hàn Quốc – với sự trợ giúp của nước vệ tinh Philíppin, sẽ tìm cách phá hủy mối liên hệ thương mại của Trung Quốc bằng sức mạnh quân sự của Mỹ. Một số chiến, lược gia của Lầu Năm Góc và Wall Street nghĩ rằng do xuống cấp về kinh tế và xã hội nên Mỹ phải thực hiện hành động “mạnh bạo và nguy hiểm” này. Mất ổn định trong cung ứng dầu mỏ của Trung Quốc, Nhật Bản và châu Âu sẽ giúp Mỹ (nước không mua dầu ở Trung Đông) có được uy lực đối với các thị trường chứng khoán.

Mỹ vẫn là cường quốc quân sự số một mặc dù mức tăng ngân sách quân sự suy giảm. Ngoài ra còn phải kể đến vai trò của các nước chư hầu của Mỹ. Để có thể bóp nghẹt Iran về phương diện tài chính, không được để các nước mua dầu của Iran thiếu dầu. Đó chính là khâu mà các nước vùng Vịnh và chủ yếu là Arập Xêút, với vai trò người mở van, can thiệp. Chuyên gia Karrim Mohsen đặt câu hỏi về kho vũ khí của Arập Xêút. Nước này vừa mua 84 máy bay F-15 của Mỹ với món tiền không nhỏ là 29,4 tỷ USD. Mua vũ khí để chống lại ai đây? Chống Ixraen hay chống Iran? cần biết rằng trong các vụ bán vũ khí cho các nước Arập, có một điều khoản cấm sử dụng số vũ khí đó để chống lại Ixraen. Nói như vậy có nghĩa là “kẻ thù” cần chống khi Mỹ bán vũ khí cho Arập Xêút đã được xác định: đó là Iran. Từ đó, người ta nhận thấy có một kẽ hở: Arập Xêút, nước có trụ sở của Tổ chức Hội nghị Hồi giáo (OIC, bao gồm 57 nước, trong đó có Iran) có thể là kẻ thù của một nước Hồi giáo khác chăng? vấn đề được đặt ra với tất cả tính hệ trọng của nó: cuộc chiến mà Mỹ đang tiến hành chống Iran liệu có thể là cuộc chiến của Arập Xêút không?

Một cuộc tấn công chống Iran đã được thông báo từ nhiều năm nay bởi các cơ quan tình báo tư nhân, trong đó có các cơ quan nghiêm túc nhất. Để làm được điều đó, cần phải nhổ cái chốt Xyri. Đến lúc đó sẽ là không khó đối với Ixraen, nước đang sốt ruột, để băng qua lãnh thổ Xyri để thử nghiệm tên lửa Jericho đối với Iran.

Theo ông Gilles Munier, gây mất ổn định ở Xyri cũng như ở Iran, nằm trong kế hoạch chia nhỏ thế giới Arập trên cơ sở sắc tộc, bộ tộc hay tôn giáo. Các biện pháp phản công được đưa ra để đưa “Mùa Xuân Arập” đi trệch khỏi mục tiêu ban đầu dường như bắt nguồn từ kế hoạch Yinon có từ năm 1982. Đó là tên của một viên chức Bộ Ngoại giao Ixraen, thẹo đó sẽ tạo ra các Nhà nước nhỏ đối nghịch nhau trong thế giới Arập. Chính sách pháo hạm – hay chính sách tàu sân bấy – được sử dụng trở lại, như ở thế kỷ 19 phục vụ lợi ích kinh tế và địa chiến lược của phương Tây. Iran, Nam Tư cũ, Ápganixtan, cốt Đivoa, Libi và sắp tới có thể là Xyri và Iran, đã, đang và sẽ là nạn nhân của chính sách đó, Nhiều nhà phân tích nghĩ rằng để thoát khỏi tình trạng suy thoái kinh tế và chính trị, Mỹ và đồng minh sẽ tấn công cả Nga và Trung Quốc. Tổng thống Obama sợ nhóm vận động hành lang Do Thái đến mức sẽ dần dần làm đủ mọi thứ đế bảo đảm có được lá phiếu của người Do Thái trong cuộc bầu cử năm nay. Sau mỗi lần bị cáo buộc không đủ cứng rắn đối với Iran, Mỹ lại tăng thêm một nấc các biện pháp chống nước này.

Trước thảm họa được báo trước, liệu con tàu Trái Đất có còn ai chỉ huy không? Cuộc chạy đua xuống vực thẳm chứa đựng nhiều mối nguy hiểm. Tại sao không ngồi vào bàn với nhau và đàng hoàng nói về tương lai của nhân loại với sự tôn trọng lẫn nhau và trước hết yêu cầu 5 nước ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc cho phép thanh sát chương trình hạt nhân của chính họ và tại sao không nói về phi hạt nhân hóa khu vực Trung Đông? Tại sao lại sử dụng vũ lực để giành lấy cái không phải là của mình? Tại sao lại dùng máy bay chiến đấu để áp đặt nền dân chủ giả tạo nhưng lại mang theo sự hỗn mang, máu lửa, nước mắt và bạo lực thường xuyên? Tại sao không giải quyết vấn đề vị trí của con người so với vốn tư bản và chủ nghĩa mậu dịch tự do quá mức? Khi chỉ vài nghìn đầu nậu kinh tế giàu có hơn nửa nhân loại ắt sẽ dẫn đến sự phẫn nộ. Một cuộc chiến tranh hạt nhân sẽ lan ra toàn thế giới. Trung Quốc và Nga sẽ không để mặc người khác muốn làm gì thì làm vì rốt cuộc, cũng sẽ đến lượt họ trở thành nạn nhân, Đó có thể là ngày tận số của nhân loại đã được dự báo trong lich của người Maya.

Eo biển Hormuz hay là ngòi nổ chiến tranh

Nhà lãnh đạo tối cao Cộng hòa Hồi giáo Iran, giáo chủ Ali Khamenei, dọa sẽ đóng cửa eo biển Hormuz, nơi 1/3 lượng dầu mỏ thế giới được vận chuyển qua nếu Liên minh châu Âu ban hành lệnh cấm vận dầu mỏ đối với Iran.

Theo đánh giá của nhà phân tích Cherif Ouazani của tạp chí “Jeune Afrique”, đây là một hành động nhằm mục đích đối phó với tình hình trong nước trong khi chính quyền chia rẽ và làn sóng phản kháng có thể lại nổ ra vào dịp tổng tuyển cử vào tháng Ba tới, cuộc bỏ phiếu đầu tiên kể từ khi diễn ra cuộc bầu cử tổng thống đầy tranh cãi năm 2009. Bởi lẽ cả ở Iran, “Mùa Xuân Arập” cũng làm đảo lộn tình hình. Một nguyên nhân gây lo ngại khác là tham vọng quá mức của Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad, người tích cực vận động hành lang để truất quyền lực rộng rãi của giới tăng lữ.

Nhưng Mỹ, Pháp, Anh và Liên minh châu Âu rất quan tâm đến lời đe dọa này: eo biển Hormuz nếu bị đóng cửa có thể sẽ kéo giá dầu lên tới 200 USD/thùng. Một tin rất không tốt lành trong thời khủng hoảng tài chính này, đặc biệt đối với Liên minh châu Âu và Mỹ đang trong cơn khủng hoảng tài chính.

Điều đáng nói ở đây là không phải là Tổng thống Iran, Mahmoud Ahmadinejad, người nổi tiếng với những tuyên bố hay hành động mang tính khiêu khích, đưa ra lời đe dọa này, mà là giáo chủ Khamenei, nhân vật quyền lực nhất Iran, với quyền lực tôn giáo và chính trị vô biên, trong đó có chức Tổng tự lệnh tối cao quân đội. Là người hoạch định chính sách đối ngoại của Iran, ông trực tiếp lãnh đạo các thể chế chủ chốt của Iran, từ tư pháp đến giáo dục hay tình báo, thông qua một mạng lưới những người trung thành có cùng mối thâm thù phương Tây như ông và một tầng lớp tăng lữ có cùng niềm tin như ông. Chỉ có ông là người duy nhất có thể ra lệnh đóng cửa eo biển Hormuz, từ đó có thể gây ra một cuộc xung đột vũ trang với hậu quả khôn lường đối với toàn khu vực, thậm chí còn xa hơn nữa. Hơn nữa, ông không sợ một cuộc đối đầu quân sự.

Tuy nhiên, chuyên gia phân tích Jacques Beniliọuche cho rằng các chính khách thường hay coi nhẹ những bài học của lịch sử. Cách đây 45 năm, việc Tổng thống Ai Cập thời đó, Gamal Abdel Nasser, đơn phương đóng cửa eo biển Tiran đã khiến cuộc Chiến tranh Sáu ngày nổ ra sớm hơn. Ý định của Iran đóng cửa eo biển Hormuz cũng có thể gây ra những hậu quả tương tự.

Cuộc Chiến tranh Sáu ngày hồi đó được phát động như một cuộc “tấn công phòng ngừa” của Ixraen chống lại các nước láng giềng Arập, sau khi eo biển Tiran bị Ai Cập phong tỏa ngày 23/5/1967 khiến tàu của Ixraen không qua lại được. Trước đó Ixraen đã cảnh báo việc đóng cửa lối ra, vào biển Đỏ và cảng Eilat sẽ bị coi là hành động tuyên chiến.

Hiện nay, các nhà lãnh đạo Iran muốn biến việc kiểm soát eo biển Hormuz thành việc phô trương sức mạnh của mình và, cũng như Gamal Abdel Nasser, gây ấn tượng đổi với dư luận ở các nước Arập và Hồi giáo cũng như củng cố quyền lực của mình, vấn đề đối với Têhêran cũng là để thử phản ứng của phương Tây và một Chính quyền Obama bị coi là suy yếu. Nhưng phải biết dừng ở chỗ nào vì dường như Têhêran cố tình lao vào một cuộc đối đầu vũ trang tự vẫn.

Hơn 1/3 lượng dầu mỏ của thế giới được vận chuyển qua eo biển Hormuz và ngăn cản giao thương ở eo biển nhỏ hẹp này có thể dẫn đến những hậu quả lớn mà Mỹ không thể chấp nhận. Để ra dấu hiệu cảnh báo, ngày 28/12/2011 Mỹ đã cho tàu sân bay USS C. Stennis đi qua eo biển Hormuz với thủy thủ đoàn gồm 6.000 người và 75 máy bay chiến đấu trên boong. Mỹ cũng cử một tàu sân bay khác đên hỗ trợ, chiếc USS Abraham Lincoln, và ra lệnh cho chiếc tàu sân bay thứ ba, chiếc USS Vinson, ngay lập tức rời Hồng Công.

Chỉ huy Lực lượng vệ binh cách mạng Iran, tướng Hossein Salamin, ngày 29/12/2011 khẳng định: “Mỹ không có khả năng nói với Têhêran cần phải làm gì ở eo biển Hormuz.” Iran dọa phong tỏa bằng mìn eo biến Hormuz để trả đũa ý đồ của Mỹ ban hành các biện pháp trừng phạt tài chính chống nước Cộng hòa Hồi giáo đang thực hiện chương trình chế tạo vũ khí hạt nhân. Tổng thống Barack Obama đã ký một văn bản cho phép truy tố tại Mỹ các ngân hàng thực hiện giao dịch với Ngân hàng Trung ương Iran.

Toàn bộ 27 nước thành viên Liên minh châu Âu cũng thông qua lệnh cấm vận dầu mỏ Iran với biện pháp có hiệu lực ngay là giảm 25% nhập khẩu năng lượng từ Iran.

Đáp lại, Iran gồng mình lên. Nhiều lời đe dọa của Iran được phía Mỹ lưu tâm. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Leon Panetta, cảnh báo “Mỹ sẽ đáp trả bằng sức mạnh nếu Iran tìm cách phong tỏa eo biển Hormuz, điểm qua lại có tính chiến lược đối với việc vận chuyển dầu mỏ trên biển” và nói đến “chỉ giới đỏ” không được vượt qua. Têhêran dọa thả mìn ở phía trước các mỏ dầu và cảng dầu mỏ của các nước sản xuất dầu mỏ ở vịnh Pécxích, đặc biệt là Arập Xêút. Iran thường có những hành động như vậy vì năm 1988, trong cuộc chiến tranh Iran-Irắc, họ đã rải mìn trong vịnh Pécxích gây thiệt hại cho một số tàu chở dầu và tàu khu trục USS Samuel B.Roberts của Mỹ vướng phải một quả mìn M-08 đã bị hỏng nặng. Lúc đó Mỹ đáp trả bàng việc không kích hai dàn khoan dầu của Iran. Hành động đó đã khiến Iran phải cùng với Irắc chấm dứt chiến tranh.

Cho đến lúc này, những lời đe dọa của Mỹ không làm cho Iran sợ. Tổng tham mưu trưởng Ataollah Salehi tuyên bố: “Chúng tôi khuyên tàu sân bay Mỹ Stennis, đã từng qua eo biển Hormuz và hiện đang ở biển Oman, không nên quay lại vịnh Pécxích. Iran không có ý định nhắc lại lời cảnh báo của mình và sẽ làm tất cả để bảo đảm an ninh ở eo biển Hormuz.”

Cùng với lời đe dọa đó, Iran thông báo thử tên lửa trong vùng eo biển Hormuz khiến việc đi lại ở vùng này phải ngừng lại trong 5 tiếng đồng hồ. Ngày 2/1, Hải quân Iran đã phóng hai quả tên lửa hành trình, một là loại đất đổi biển Ghader có tầm bắn 200 km và một là loại hạm đối hạm Nour bắn xa tới 100 km. Theo Têhêran, hai loại này có thể phá hủy được tàu sân bay.

Ở phía bên kia, Mỹ tỏ ra lưỡng lự. Bên cạnh việc phô trương sức mạnh bằng cách cử tàu sân bay với hạm đội hộ tống đông đảo đi vào Địa Trung Hải và biển Đỏ, Mỹ tránh để khỏi bị khiêu khích và lối nói hùng hổ mà trước đây người ta đã thấy có thể dẫn đến thảm họa khi không ai có thể lùi để khỏi bị mất mặt.

Năm 1967, Tổng thống Gamal Abdel Nasser đã đưa Ai Cập và các đồng minh Xyri và Gioócđani đến thảm họa quân sự vì quá nóng vội và đặc biệt vì không muốn nhìn thẳng vào sự thật về tương quan lực lượng quân sự. Oasinhtơn muốn để người khác hiểu rằng mình không tìm kiếm sự đối đầu với Iran. Người phát ngôn Lầu Năm Góc, George Little, khẳng định rõ ràng: “Không ai trong Chinh phủ Mỹ tìm kiếm sự đối đầu về vấn đề eo biển Hormuz. Điều quan trọng là phải làm cho áp lực giảm xuống.”

Ixraen cũng có ý định giảm bớt tác động của những hành động khiêu khích và thái độ ngạo mạn của Iran khi nói rõ rằng sức mạnh quân sự của Iran không địch nổi với sức mạnh của phương Tây. Phó Thủ tướng Ixraen kiêm Bộ trưởng Các vấn đề chiến lược thuộc phái diều hâu, Moshé Yaalon, cho rằng các cuộc tập trận của Iran trước hết cho thấy nước này hoảng sợ trước các biện pháp trừng phạt nhằm chấm dứt tham vọng hạt nhân của họ. Theo ông, “trên thực tế, điều đó không thể được coi là cân bằng sức mạnh giữa hai bên được.” Ông muốn siết chặt trừng phạt kinh tế chống Têhêran hơn nữa khi nói rằng “giải pháp quân sự vẫn là giải pháp cuối cùng” để ngăn chặn Iran có vũ khí hạt nhân.

Các mối đe dọa của Iran được tung ra đúng lúc diễn ra cuộc tập trận được lên kế hoạch từ lâu giữa Ixraen và Mỹ với tên gọi “Austere Challenge-12″. Mục tiêu của cuộc tập trận là thiết lập một tấm lá chắn chống tên lửa chung và phối hợp giữa quân đội hai nước. Mỹ muốn tạo cho cuộc tập trận này một quy mô đặc biệt nhằm mục đích vừa răn đe vừa để chuẩn bị cho việc có thể hỗ trợ hành động quân sự của Ixraen chống các cơ sở hạt nhân của Iran, điều cho đến lúc này vẫn chưa được dự kiến.

Hàng nghìn lính Mỹ bao gồm phi công, các đội đánh chặn tên lửa, lính thủy đánh bộ, kỹ thuật viên và nhân viên tình báo đã đến Ixraen. Anh cũng được thông báo về cuộc tập trận này và nói rõ họ sẵn sàng tham gia hành động quân sự chống Iran nếu eo biển Hormuz bị đóng cửa. Một cuộc họp về vấn đề này đã diễn ra tại Oasinhtơn giữa Bộ trưởng Quốc phòng Ixraen, Ehoud Barak, và các Tham mưu trưởng quân đội Martin Dempsey và Benny Gantz cũng như Bộ trưởng Quốc phòng Anh, Philip Hammond.

Các cuộc tập trận và lời đe dọa của Iran làm gia tăng căng thẳng trong vùng vốn đã căng thẳng với việc làm mất ổn định chế độ Đamát, đồng minh chính của Iran được Nga ủng hộ bằng mọi giá. Nguy cơ phong tỏa tuyến cung ứng dầu mỏ dẫu sao cũng đã dẫn đến việc thành lập một liên quân phương Tây và một hạm đội tàu chiến hùng hậu, kể cả tàu sân bay Charles de Gaulle của Pháp cũng có thể tham chiến chống Hải quân Iran nếu nước này không kìm hãm được ý đồ chiến tranh. Trên thực tế, chương trình hạt nhân của Iran gây trở ngại cho Mỹ và Anh ít hơn là tất cả những lời đe dọa đối với tự do hàng hải ở khu vực sản xuất dầu mỏ lớn nhất thế giới.

Nhưng Chính phủ Iran vẫn tiếp tục đi theo lối cũ và vừa thông báo tiến hành tập trận quy mô lớn vào tháng Hai cũng ở eo biển Hormuz và trong vịnh Pécxích với mật danh “Nhà Tiên tri vĩ đại”. Như vậy, có nguy cơ cuộc tập trận của Têhêran diễn ra cùng lúc với cuộc tập trận chung giữa Ixraen và Mỹ. Những bài học của lịch sử như vậy bị quên đi quá nhanh.

Ai được gì, ai mất gì, nếu eo biển Hormuz bị phong tỏa?

“Nếu bạn hỏi tôi điều gì khiến tôi mất ngủ cả đêm, tôi sẽ nói đó là eo biển Hormuz và những gì đang diễn ra ở vùng Vịnh.” Câu nói này của Đô đốc Jonathan W. Greenert, Cục trưởng Cục tác chiến Hải quân Mỹ, cho thấy việc Chính phủ Iran dọa đóng cửa eo biển này nếu bị Liên minh châu Âu cấm vận dầu mỏ, khiến các cường quốc phương Tây, đặc biệt là Mỹ, quan tâm như thế nào. Hơn nữa, Mỹ cho rằng về mặt kỹ thuật, phong tỏa eo biển này là quá dễ dàng đối với Hải quân Iran, giống như việc “uống một cốc nước” theo cách nói của một nhà lãnh đạo Iran.

Nhưng đối với các nhà quan sát thông thạo, phong tỏa eo biển Hormuz sẽ là hành động tự sát về kinh tế đối với Iran. Dưới đây là ý kiến của ông Franeois Géré, nhà sử học, chuyên gia địa chính trị, chủ tịch sáng lập Viện phân tích chiến lược Pháp (IFAS), chuyên gia thuộc Viện nghiên cứu cao cấp quốc phòng (IHEND), Giám đốc nghiên cứu thuộc trường Đại học Paris III; và ông Francis Perrin, Giám đốc tạp chí “Dầu mỏ và khí đốt Arập”, khi trả lời phỏng vấn các tạp chí “Đại Tây Dương” và “Affaires Stratégiques”.

Hỏi: Liệu Iran có khả năng về quân sự để phong tỏa eo biển Hormuz không?

Trả lời: Iran có thể đóng cửa eo biển Hormuz, nhưng sẽ gặp khó khăn. Phong tỏa một vùng biển có khoảng cách hẹp giữa mũi Oman ở phía Nam và thành phố Bandar Abbas cũng như các hòn đảo thuộc Iran ở phía Bắc, sẽ không thể gây rối loạn trên diện rộng được. Iran đã từng đóng cửa eo biển này trong thời kỳ 1986-1987.

Iran có thề áp dụng hai chiến thuật. Hoặc thả mìn là việc rất dễ thực hiện và gây trở ngại lớn cho tàu bè. Hoặc đe dọa bằng tên lửa đât đối biển do Trung Quốc sản xuất. Các loại vũ khí này đã được cải tiến đáng kể trong thời gian qua. Iran tuy không thể đóng cửa hoàn toàn eo biển Hormuz, song có thể gây nhiều khó khăn khi làm giảm đáng kể nhịp độ giao thông hàng hải, đồng thời khiến các tàu từ các nơi khác đến phải được hộ tống bởi – điều này là bắt buộc – tàu của Hải-quân Mỹ.

Hỏi: Hậu quả kinh tế nếu Iran đóng cửa eo biển Hormuz là gì? Liên minh châu Âu liệu có thể đối phó với tình trạng thiếu dầu không?

Trả lời: Trước hết tôi nghĩ rằng Iran sẽ không đóng cửa eo biển Hormuz. Tôi không chắc nước này có đủ phương tiện dể làm điều đó, nhưng tôi chắc chắn rằng nếu có đủ phương tiện, Iran cũng sẽ không thể duy trì đươc việc phong tỏa trong một thời gian dài khi phải đối mặt với Hạm đội V của Mỹ. Ngoài ra còn lực lượng Hải quân của một số nước khác. Hơn nữa, tôi nghĩ rằng Iran cũng không có lợi gì khi đóng cừa eo biển Hormuz vì các khách hàng chính của họ là các nước châu Á, cụ thể là Trung Quốc và Ấn Độ, nhưng không phải chỉ có hai nước này. Các nước này ngày càng mua nhiều dầu mỏ ở nơi khác ngoài Iran và nếu Iran phong tỏa eo biển Hormuz, Iran gây phương hại một mặt cho xuất khẩu dầu mỏ của chính mình và mặt khác cho các khách hàng của mình, trong khi Iran đang cần được hỗ trợ về kinh tế và chính trị, cụ thể của Trung Quốc, tại Hội đồng, Bảo an Liên hợp quốc.

Nhưng giả thiết đóng cửa eo biển Hormuz xảy ra, tôi nghĩ điều đó sẽ nằm trong lôgích chiến tranh. Nếu Iran bị Ixraen hay Mỹ tấn công, lôgích phong tỏa eo biển Hormuz là có thể. Trong trường hợp này sẽ xảy ra hai hậu quả trước mắt: giá dầu tăng vọt trên thị trường quốc tế và tăng phí bảo hiểm đối với các tàu chở dầu hoạt động ở vùng biển này. Tôi không nghĩ tình hình này sẽ kéo dài bởi lẽ nếu xảy ra phong tỏa, thì dĩ nhiên điều đó sẽ bị coi là một hành động chiến tranh, một sự vi phạm luật pháp quốc tế liên quan đến quyền tự do hàng hải qua các eo biển. Cái được mất ở đây lớn đến mức – theo con số của năm 2011, có tới 35% lượng dầu mỏ xuất khẩu của toàn thế giới đi qua eo biển Hormuz – các nước tiêu thụ nhiều dầu mỏ và các cường quốc phương Tây dĩ nhiên không thể chấp nhận hành động phong tỏa đó, còn Iran không có phương tiện để phong tỏa lâu dài. Như vậy, hậu quả kinh tế sẽ không quá lớn, cũng không kéo dài, nhưng trước mắt sẽ là giá dầu và phí bảo hiểm cho các tàu chở dầu tăng, cộng với rủi ro chính trị có thể sẽ gia tăng trong toàn vùng vịnh Pécxích, theo đánh giá của các nhà đầu tư.

Hỏi: Iran có lợi ích gì khi tung ra lời đe dọa đó? Liệu Iran có bị phong tỏa bởi chính hành động phong tỏa eo biển Hormuz của mình không?

Trả lời: Đây dĩ nhiên là một con dao hai lưỡi. Iran có thể bị buộc phải giảm đáng kể xuất khẩu dầu mỏ của mình. Điều đó có nghĩa là tự bắn vào chân mình. Mặt khác, biện pháp đó có thể làm giá dầu tăng vọt. Như vậy, Iran mất vì phải giảm xuất khẩu dầu mỏ, nhưng lại được nhờ giá dầu tăng. Nói cách khác, trong bối cảnh khủng hoảng hiện nay, không ai, cả Iran cũng như Mỹ, được lợi gì khi lao vào một hành động kiểu này.

Hơn nữa, các nước trong khu vực dĩ nhiên không muốn hoạt động kinh tế của mình bị xáo trộn. Cũng không nên quên Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ, những cường quốc sẽ bị thiệt hại kép, cả về nguồn cung ứng năng lượng lẫn giá dầu mỏ, nếu eo biển Hormuz bị phong tỏa.

Hỏi: Nền kinh tế Iran có thể chống đỡ được lệnh cấm vận đó không?

Trả lời: Hiện nay, Liên minh châu Âu, theo đánh giá của ba quý đầu năm 2011, nhập khoảng 22-23% lượng dầu mỏ xuất khẩu của Iran. Lượng dầu này là lớn, nhưng không phải là cốt tử. Do đó, nền kinh tế Iran sẽ không bị đánh quỵ trong trường hợp Liên minh châu Âu áp đặt lệnh cấm vận đối với nhập khẩu dầu mỏ từ Iran. Trái lại, nếu lệnh cấm vận đó có hiệu quả, Iran có thể mất đi gần 1/5 thị trường xuất khẩu. Điều này là quan trọng. Chắc chắn Iran sẽ tìm kiếm một số thị trường khác, nhưng thị trường Mỹ vẫn đóng cửa từ ba chục năm nay và cũng sẽ không mở. Như vậy chỉ còn châu Á.

Vấn đề đối với Iran là châu Á đã nhập khẩu một khối lượng lớn dầu mỏ. Dĩ nhiên, châu Á không hoàn toàn có thể hay có lợi ích khi nhập khẩu thay thế toàn bộ lượng dầu mỏ xuất khẩu mà Iran hiện đang bán sang châu Âu. Điều có thể sẽ xảy ra là Iran có thể đưa sang châu Á một phần lượng dầu mỏ xuất khẩu sang châu Âu, nhưng cũng chỉ được một phần. Như vậy, lượng dầu mỏ xuất khẩu sẽ giảm sút, có thể là 10%, có thể là 15%. Hơn nữa, để bán được dầu mỏ cho châu Á nhiều hơn hiện nay, rất có thế Iran phải giảm giá nhiều. Khả năng lớn nhất là nền kinh tế Iran sẽ bị ảnh hưởng lớn và Iran sẽ mất đi một phần lượng dầu mỏ xuất khẩu, phần còn lại sẽ phải được bán với giá thấp hơn bình thường. Đó là thiệt hại thực sự đối với nền kinh tế Iran, nhưng không đủ để đánh quỵ nền kinh tế của nước này.

Điều này cũng còn phụ thuộc vào phản ứng của các nước sản xuất dầu mỏ khác. Nếu Arập Xêút sản xuất nhiều dầu mỏ hơn để giúp châu Âu không bị thiệt hại do chính lệnh cấm vận mà họ áp đặt đối với Iran, mức tăng giá dầu trên thị trường thế giới có thể sẽ ít hơn. Nếu trái lại, các nước sản xuất dầu mỏ không bù đắp được lượng dầu thiếu hụt, giá dầu chắc chắn sẽ tăng khá mạnh vả điều nghịch lý là trong trường hợp này, Iran có thể chỉ lâm vào tình huống xấu phần nào vì tuy mất về lượng, nhưng lại được về giá. Nhưng tôi tin rằng Arập Xêút sẵn sàng làm những gì cần làm để cân bằng lệnh cấm vận của Liên minh châu Âu đối với Iran.

Hỏi: Những nước nào có thể hưởng lợi từ hành động đóng eo biến về phương diện chính trị và kinh tế?

Trả lời: Đó sẽ là một số nước sản xuất dầu mỏ khác, những nước có khả năng và quyết tâm sản xuất và xuất khẩu nhiều hơn nữa để bù đắp lượng thiếu hụt, Nhưng số các nước này không quá nhiều. Trước hết là Arập Xêút, cộng với một số đồng minh của nước này như Côoét và Các tiểu vương quốc Arập thống nhất. Bởi lẽ hiện nay, nếu nhìn vào các nước xuất khẩu dầu mỏ sẽ thấy tuyệt đại đa số các nước này đang sản xuất tất cả những gì mà họ có thể sản xuất. Như vậy, trong thời gian trước mắt, họ không thể sản xuất được hơn. Họ có thể sản xuất được nhiều hơn trong thời gian trung và dài hạn, nhưng để làm được điều đó, cần phải đầu tư.

Song ở đây, ta nói về khả năng phản ứng nhanh, chỉ trong vòng vài tuần lễ, trước tác động nảy sinh từ lệnh cấm vận của châu Âu đối với dầu mỏ Iran. Theo những gì tôi biết, hiện nay Arập Xêút chắc chắn có phương tiện và quyết tâm phản ứng và chắc chắn cả một vài trong số các nước đồng minh của nước này ở vùng Vịnh. Các nước khác hoặc không có khả năng, hoặc không muốn, hoặc không có lợi ích gì, hay có cả ba khả năng này.

Nếu Arập Xêút phản ứng bằng cách tăng lượng dầu cung ứng ra thị trường, có thể giá dầu sẽ không tăng quá nhiều, cũng không tăng trong một thời gian quá dài khi lệnh cấm vận được áp dụng. Nếu trái lại, Arập Xêút không phản ứng gì, giá dầu sẽ tăng đáng kể và trong trường hợp này, tất cả các nước sản xuất và xuất khẩu dầu mỏ sẽ được lợi từ việc tăng giá. Nếu Arập Xêút tăng lượng dầu cung ứng ra thị trường, giá dầu cũng sẽ tăng, nhưng không nhiều vì trên thị trường các công ty dầu mỏ sẽ nhận thấy rằng mức cung vẫn đủ và vẫn có cân bằng giữa cung và cầu.

Trong trường hợp này, chính Arập Xêút sẽ được lợi vì tận dụng được tình hình này để xuất khẩu nhiều hơn, thu về nhiều hơn mặc dù nước này không thật cần đến như vậy. Còn một giả thiết cũng quan trọng là các nước sản xuất dầu mỏ khác sẽ phản ứng ra sao, cụ thể là một số nước có thể sản xuất và xuất khẩu nhiều hơn trong ngắn hạn.

Hỏi: Có thể Iran và Vênêxuêla chơi con bài leo thang để nâng giá dầu không?

Trả lời: Không nên đánh giá thấp khả năng của Tổng thống Hugo Chavez cũng như mối liên hệ giữa Iran và Vênêxuêla. Trong mối quan hệ đó, có tới 90% là lối nói khoa trương và rất ít khả năng hành động cụ thể. Đúng là ở cấp độ OPEC, một liên minh chiến thuật tồn tại từ nhiều năm nay. Nhưng điều đó thực sự không có ý nghĩa gì.
————
Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ tư, ngày 22/2/2012

(phần 2)

TTXVN (Angiê 14/2)

Ixraen và Iran răn đe lẫn nhau

Căng thẳng gia tăng giữa Iran và Mỹ sau khi Iran thông báo lần đầu tiên thử nghiệm thanh nhiên liệu hạt nhân. Nhưng ông Josephe Henrotin, Tổng biên tập tạp chí “Quốc phòng & An ninh quốc tế”, đánh giá chương trình hạt nhân của Iran gây lo ngại không những cho Mỹ mà cả đồng minh Ixraen của Mỹ, khiến nước này phải đứng lên tuyến đầu trong cuộc chiến nhằm ngăn chặn Iran sở hữu bom nguyên tử.

Theo báo cáo của cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), Têhêran thực tế đã đạt đến khả năng chế tạo từ một đến hai quả bom hạt nhân chỉ trong vòng vài tháng nữa. Một trung tâm thử nghiệm ngầm dưới đất có thể đã được xây dựng ở Parchin. Nga và Trung Quốc gây áp lực với IAEA – khi yêu cầu cơ quan này đưa một số bằng chứng (về việc lắp đặt đầu đạn hạt nhân trên tên lửa Shahab-3) vào mục phụ trương chứ không để ở trong báo cáo chính. IAEA, cho đến nay tỏ ra thận trọng, đã chính thức đưa ra lập trường về vấn đề hạt nhân Iran mà nước này vẫn cho là chỉ có tính chất dân sự. ít ngày trước khi báo cáo này được công bố, Ixraen dọa tấn công vào các cơ sở hạt nhân của Iran trong khi Ngoại trưởng Pháp, Alain Juppe, coi phương án cuối cùng này là “hoàn toàn gây mất ổn định”. Chuyên gia Josephe Henrotin đưa ra trên tạp chí “Đại Tây Dương” bốn điểm đáng lưu ý sau.

Thứ nhất, đây không phải là lần đầu tiên Ixraen dọa tấn công Iran vì giả thiết này thường được nêu ra mỗi khi việc gia tăng trừng phạt Iran được đề cập đến. Vấn đề còn lại là phương án tấn công gặp nhiều khó khăn, trước hết là liên quan đến việc lên kế hoạch vì các cuộc tấn công như vậy nếu như có thể thực hiện được về phương diện kỹ thuật thì nay dường như không còn chắc chắn nữa. Chất U235 làm giàu được Iran sử dụng làm cơ sở cho việc nghiên cứu trên các hệ thống cần thiết để chế tạo bom hạt nhân, chắc chắn không còn được để ở Natanz nữa. số cơ sở hạt nhân đã tăng lên nhiều so với trước đây. Lực lượng không quân Ixraen một mình không thể tấn công tất cả các cơ sở đó được (trong khi dường như không nước nào sẵn sàng giúp). Hơn nữa, Têhêran có phương tiện trả đũa cần thiết có khả năng răn đe Ixraen bằng nhiều phương thức tác chiến khác nhau (sử dụng các phong trào Hezbollah và Hamas, đe dọa trực tiếp phong tỏa eo biển Hormuz sau khi lệnh trừng phạt của Mỹ được đưa vào thực hiện…). Thủ tướng Ixraen như vậy sẽ ở trong tình thế chỉ nói để mà nói.

Thứ hai, vấn đề hiệu quả của các biện pháp trừng phạt được đặt ra. Áp lực và trừng phạt từ bên ngoài không thuyết phục được Bắc Triều Tiên ngừng chương trình hạt nhân, lại càng không thuyết phục được Iran, từ đó cho thấy những gì đã được thực hiện về mặt khoa học chính trị cho thấy tính hiệu quả thấp của các biện pháp trừng phạt kinh tế. cấm vận và các áp lực khác cũng không có tác dụng đối với một nước chấp nhận hy sinh để có được khả năng mà họ cho là tối cần thiết để tồn tại. Tóm lại, có thể đánh cược rằng các biện pháp trừng phạt đó là phản tác dụng: nếu cứ nghe các cuộc khẩu chiến hiện nay thì sẽ thấy các biện pháp trừng phạt chỉ là biểu hiện của “phương án chính trị” để đối lập với “phương án quân sự” vì phương án chính trị, theo tuần tự, bao giờ cũng được thực hiện trước phương án quân sự. Dĩ nhiên, điều đó có nghĩa là để cho nước bị đặt trong tầm ngắm có đủ thời gian cần thiết để phát triển chương trình hạt nhân, các phương tiện mang và các cơ sở hạ tầng cần thiết để bảo vệ chúng. Nhưng không thể tấn công một nước chỉ đơn thuần vì cho họ cỏ ý đồ phát triển sức mạnh răn đe hạt nhân (vì điều này vừa trái với luật pháp quốc tế vừa không cho phép tạo ra được tính hợp pháp như dư luận mong muốn). Hơn nữa, sức ép kinh tế và chính trị giúp các nước bị đặt trong tầm ngắm luôn có được lợi thế của nạn nhân – vị thế mà đông đảo dân chúng chấp nhận khi họ sẵn sàng tin vào giả thiết mưu đồ.

Đúng là có thể lấy lý do là các giải pháp kỹ thuật này đã có tác dụng ở Libi. Tuy nhiên, mọi thứ dường như cho thấy bản thân ông Gaddafi không muốn có bom hạt nhân mà chỉ lấy đó làm thứ để đánh đổi. Khi bị cô lập trên trường quốc tế sau các vụ đánh bom chiếc máy bay DC-10 của hãng UTA trên bầu trời Lockerbie và phải chịu lệnh cấm vận, ông nghĩ rằng phát triển một “chương trình” hạt nhân sẽ giúp dỡ bỏ được các biện pháp trừng phạt này. Như vậy, trường hợp Nam Phi cũng là đặc biệt vì nước này đã từ bỏ trên cơ sở quyết tâm chính trị ở trong nước. Từ đó suy ra là phương án duy nhất cho đến nay cho phép “bẻ gẫy” việc thực hiện một chương trình hạt nhân vào mục đích quân sự là các vụ không kích vào các cơ sở hạt nhân chính của một nước vừa bắt đầu đi vào thực hiện chương trình đó – như Irắc năm 1981 và Xyri năm 2007. Không những nước tấn công có thể đưa bằng chứng mà cả chương trình hạt nhân cũng tiến những bước đủ để trở thành mục tiêu và chỉ có triệt hạ mới có thể làm chương trình đó chậm lại đáng kể. Trong hai trường hợp Irắc và Xyri, các nước thường thiên về sở hữu lò phản ứng hạt nhân – dĩ nhiên là bằng plutonium – hơn là, như trường hợp Iran, phát triển khả năng làm giàu, thực tế là rõ ràng nhưng cũng cho phép khẳng định khả năng đó được dùng cho một chương trình dân sự. Thế nhưng, Iran cũng hiểu rằng không thể phát triển được một chương trình như vậy nếu không tìm cách bảo vệ chương trình này. Đó là cả cái được và cái mất của việc nước này gia tăng sức mạnh của hải quân, tên lửa đạn đạo hay trong cuộc chơi liên minh/lệ thuộc của Iran với phong trào Hezbollah – vốn là những phần tử dùng để trả đũa mà cả Irắc năm 1981 lẫn Xyri năm 2007 đều không có được.

Thứ ba, nếu Iran đặc biệt đã chơi tốt cuộc chơi của mình thì chắc chắn nước này cũng phải xem xét lại quyết tâm chế tạo vũ khí hạt nhân của mình. Quyết tâm này đã có từ thời vua Iran, song sau cuộc Chiến tranh vùng Vịnh vào năm 1991, lại trở nên mạnh mẽ hơn khi các nhà nghiên cứu và bộ tham mưu quân sự cũng như chính trị kết luận rằng không thể trực diện đương đầu với sức mạnh của phương Tây. Như vậy, hạt nhân trở thành một giải pháp cho phép đặt nước này vào thế có khả năng răn đe. Qua đó, nhìn nhận Iran như một nước chưa chín về mặt chiến lược, sẵn sàng hy sinh vì vũ khí hạt nhân chỉ vì muốn dứt điểm với Ixraen, là nhãn quan vừa giản đơn vừa sai lầm. Chiến thuật “biển người” trong cuộc Chiến tranh Iran-Irắc (1980-1988), vốn minh chứng cho lập trường của một số nhà phân tích thiên về giả thiết “hy sinh vì hạt nhân”, là kết quả của sự lựa chọn giải pháp quân sự cũng như ý muốn áp đặt đàn áp chính trị ở trong nước nhằm buộc dân chúng phải chấp nhận cách mạng Hồi giáo. Hơn nữa, giả thiết chấp nhận cái chết vì hạt nhân này lại phủ nhận những việc rất thực về bản chất sức mạnh răn đe của Iran, những việc được tiến hành bởi các nhà nghiên cứu và các nhà quân sự trong nước được nói đến trong công trình điều tra của Francois Géré về vấn đề này. Trong tất cả các trường hợp trên, vấn đề là bảo vệ cuộc cách mạng Hồi giáo chứ không phải là hy sinh. Với thời gian, cuộc cách mạng Hồi giáo đó rõ ràng cũng trở nên thực tế hơn lúc ban đầu…

Thứ tư, việc Iran sắp có được sức mạnh răn đe hạt nhân đặt ra một loạt vấn đề. Cả Ixraen và Iran đều có bom nguyên tử nên sẽ không sử dụng bom nguyên tử đế đánh nhau. Nhưng Ixraen vẫn luôn nói họ không phải là nước đầu tiên đưa vũ khí hạt nhân vào Trung Đông. Như vậy, vấn đề chính thức hóa sự tồn tại kho vũ khí hạt nhân của Ixraen (rốt cuộc không ai tin rằng Ixraen không phải là một cường quốc hạt nhân) được đặt ra. Với điều chủ chốt là thế cân xứng, tình thế trong đó hai nước cùng ở trong thế cân bằng khi răn đe lẫn nhau.

Thế cân xứng đó dẫu sao cũng không phải không gây ra vấn đề vì việc Ixraen cố gắng chế tạo vũ khí chống tên lửa đặt ra vấn đề cổ điển về tấm lá chắn và thanh kiếm, trước hết đẩy Iran vào thế khó. Nhưng tài năng chiến lược của Têhêran không phải là đành chấp nhận duy nhất lựa chọn hạt nhân vì họ cũng có thể kích hoạt chiếc “đòn bẩy Hezbollah”, nằm ở ngay cạnh biên giới Ixraen. Nhưng cũng không ai nghĩ rằng Ten Avíp sẽ phá hủy Têhêran chỉ vì một vài quả rốckét bắn vào một số cơ sở của Ixraen… Khi khép mình trong biên giới của chính mình bởi một chiến lũy Maginot công nghệ, Ixraen đã tự đánh mất khả năng tự do xoay xở ở chính chỗ Iran triển khai một “chiến lược tiến lên” thật sự khuếch trương tối đa kha năng đó, trong khi vẫn tự bảo vệ được mình.

Cuộc chiến thực sự đã bắt đầu

Giới quan sát cho rằng Ixraen, nước bị chia rẽ giữa phái ủng hộ hành động quân sự và phái chủ trương kiềm chế, đang đóng kịch vì cuộc chiến chống chương trình hạt nhân của Iran thực sự đã bắt đầu. Tuy không được tuyên bố với đúng nghĩa một cuộc chiến tranh, song hành động chiến tranh xem ra kín đáo hơn, và chắc chắn có sự phối hợp giữa các cơ quan tình báo của phương Tây, Ixraen và lực lượng đối lập ở Iran.

Theo ông Merzak Tigrine, chuyên gia phân tích của tờ “Liberté” (Angiêri), trước hết đó là cuộc chiến tranh thông tin, được tiến hành bởi các cơ quan tình báo quân sự và kinh tế của hai nước. Với sự hỗ trợ của các cơ quan tình báo phương Tây, Ixraen cho rằng từ nay đến hết năm 2012, Iran có thể đạt được khả năng thực sự tiến hành thử hạt nhân, cụ thể là sau khi đưa vào hoạt động nhà máy Bushehr. Sau vụ ám sát một số chuyên gia hạt nhân Iran, vi rút Stuxnet tấn công các máy ly tâm ở Natanz làm giàu urani và hai vụ nổ tại các cơ sở liên quan đến các chương trình nhạy cảm này, mối nghi ngờ đổ dồn vào cơ quan tình báo Mossad của Ixraen.

Một vụ nổ không rõ nguyên nhân ngày 12/11/2011 tại một căn cứ quân sự gần Têhêran đã giết chết tướng Hassan Tehrani Moghadam, một trong những nhân vật chủ chốt của chương trình tên lửa đạn đạo. Căn cứ này được dùng làm nơi thử nghiệm và phát triển một loại nhiên liệu rắn tiên tiến dùng cho tên lửa. Các hình ảnh được một nhóm nghiên cứu có trụ sở tại Oasinhtơn công bố, cho thấy từng mảng tường của căn cứ này bị phá trụi trong vụ nổ.

Têhêran cho đó là một vụ tai nạn, song nhiều nhà phân tích cho đây có thể là kết quả một chiến dịch phá hoại của Mỹ hoặc Ixraen. Có người nói đến mối liên hệ giữa vụ nổ và chiếc máy bay không người lái tàng hình của Mỹ nằm trong tay Têhêran, cho rằng ở đây có “nỗ lực giám sát” các cơ sở vũ khí bị nghi ngờ của Iran. Một trong nhiều luận thuyết liên quan đến vụ nổ trên cho rằng căn cứ này có thể bị tấn công bằng một loại vũ khí có thể được phóng từ máy bay tàng hình, từ đó gây ra vụ nổ dữ dội.

Đây không phải là vụ phá hoại duy nhất không giải thích được. Ngày 28/11/2011, một vụ nổ khác xảy ra gần thành phố Ispahan. Têhêran phủ nhận tin nói vụ nổ xảy ra tại nhà máy làm giàu urani nằm gần thành phố này. Tuy nhiên, một số hình ảnh vệ tinh cho thấy có khói và cơ sở này bị phá hủy. Một số quan chức tình báo Iran nói chắc chắn một vụ nổ xảy ra ở đây.

Cùng ngày hôm đó, Bộ trưởng Tình báo Ixraen, Dan Meridor, tuyên bố với báo chí rằng có những nước áp đặt trừng phạt kinh tế, song cũng có những nước hành động bằng các phương thức khác để chống lại mối đe dọa hạt nhân Iran. Các vụ nổ nói trên tiếp theo vụ ám sát hai nhà khoa học hạt nhân lỗi lạc nhất của Iran cùng một vụ khác không thành hồi năm ngoái, được cho là tác phẩm của Mossad, cơ quan tình báo của Ixraen nổi tiếng với các hành động đó.

Đối với nhiều cựu quan chức tình báo Mỹ và chuyên gia về Iran, vụ nổ ngày 12/11/2011 nằm trong khuôn khổ những “nỗ lực bí mật của Mỹ, Ixraen và một số nước khác nhằm loại bỏ chương trình hạt nhân và tên lửa đạn đạo cửa Iran”. Nhà phân tích Patrick Clawson thuộc Viện Chính sách Cận Đông Oasinhtơn, không loại trừ khả năng đang diễn ra một chiến dịch ám sát và chiến tranh mạng cũng như một chiến dịch phá hoại nửa kín nửa hở.

Tuy nhiên, ngoài giả thiết theo đó các cơ quan tình báo nước ngoài lên kế hoạch, chỉ huy và thực hiện các chiến dịch bí mật, kiểu hành động phá hoại trên cần đạt đến một mức độ tinh vi nhất định, có nguồn tài chính và công nghệ, nhân viên tình báo, đồng thời ít có khả năng các chiến dịch này thành công mà không có sự hỗ trợ từ bên trong, nghĩa là một số cá nhân hay nhóm sẵn sàng phá hoại chế độ Têhêran.

Đối với chuyên gia phân tích Jacques Bénillouche, sau các vụ nổ nói trên, trong đó có vụ chỉ cách Têhêran 46 km, hướng có khả năng nhất, theo các nhà điều tra Iran, có thể là rất nguy hiểm đối với chế độ Têhêran, dường như có liên quan đến một hay nhiều nhân viên CIA hay Mossad trà trộn trong số các kỹ thuật viên để đặt lệnh gây nổ. Quan hệ giữa Mỹ vả Iran, vốn đã xung khắc, nay có nguy cơ xấu thêm với cuộc đấu liên quan đến chiếc máy bay không người lái tàng hình nằm trong tay Iran từ đầu tháng 11/2011. Mỹ đề nghị Iran trả lại, Iran muốn giữ.

Việc Mỹ sử dụng máy bay không người lái tàng hình ở Apganixtan bị giới quan sát nghi ngờ vì Taliban và các phong trào nổi dậy khác không có công nghệ rađa. Điều này càng làm tăng những lời bàn tán theo đó Ápganixtan chỉ đơn thuần được dùng làm căn cứ cho máy bay không người lái thực hiện các chuyến bay thám thính ở Iran và Pakixtan.

Phân tích trên tạp chí “Mondialisation”, chuyên gia Oliver Campbell dẫn ý kiến của một nhóm chuyên gia gần gũi với giới quân sự và tình báo Mỹ, cho rằng câu chuyện chính thức về chiếc máy bay không người lái lạc vào không phận Iran là “đáng ngờ” và khẳng định Mỹ tiến hành các chiến dịch thu thập tình báo ở Iran từ nhiều năm nay. Nhóm này bày tỏ mối lo ngại theo đó Iran có thể đã có khả năng phát hiện và bắn hạ máy bay không

người lái tàng hình.

Từ lâu Mỹ tiến hành một chiến dịch RSR (tình báo, giám sát và do thám) rộng lớn ở Iran, đặc biệt để chụp ảnh các cơ sở hạt nhân, các đơn vị tên lửa đạn đạo và nỗ lực phát triển tên lửa, cũng như mạng lưới phòng không và trung tâm chỉ huy và kiểm soát của nước này. Ảnh chụp những chiếc RQ-170 đậu tại một căn cứ ở Kandahar (Ápganixtan) cho thấy chiếc máy bay này chắc chắn đã được sử đụng vào các nỗ lực này từ nhiều năm nay.

Danh sách các mục tiêu tình báo ở Iran cho thấy có sự chuẩn bị kỹ càng của Lầu Năm Góc và CIA để tiến hành chiến dịch chống các cơ sở hạt nhân của Iran. Trong trường hợp có không kích, các chiến dịch này sẽ xác định các mục tiêu phòng không và trung tâm chỉ huy quân sự. Chính quyền Obama tiếp tục nói rằng mọi giải pháp đều “nằm trên bàn”, có nghĩa là các cuộc không kích thầm lặng và chiến tranh.

“Chiến dịch RSR rộng lớn” đó rất có thể nhằm mục đích trước mắt là hỗ trợ công tác chuẩn bị cho cái có thể là một cuộc chiến tranh của Ixraen và Mỹ chống chương trình hạt nhân và tên lửa đạn đạo Iran.

Mạng Debka của Ixraen chuyên về tình báo cho biết Tổng thống Mỹ Barack Obama, đã “bí mật ra lệnh cho không quân, hải quân và lính thủy đánh bộ Mỹ chuyển một số lượng lớn quân đến hai hòn đảo chiến lược Socotra nằm trong Đại Tây Dương và Masirah, một hòn đảo của Ôman nằm ở lối ra vào phía Nam của eo biển Hormuz”. Sau khi đưa quân bằng máy bay từ căn cứ hải quân Diego Garcia ở bên cạnh đến các hòn đảo này, vào trung tuần tháng 2, Oasinhtơn hiện có khoảng 100.000 quân tại đây và lực lượng này đã sẵn sàng cho mọi tình huống. Người ta nói rằng đây là cuộc tập trung quân lớn nhất của cường quốc Mỷ trong khu vực kể từ sau cuộc xâm lược Irắc năm 2003, khi 100.000 quân được đưa đến Côoét trước khi nổ ra chiến tranh. Việc tập trung quân này diễn ra cùng lúc với các chiến dịch do thám, gây mất ổn định và ám sát thường được thực hiện bởi tổ chức Djound Allah, được cho là có mối liên hệ với các cơ quan tình báo nước ngoài.

Đầu tháng 3 tới, ba nhóm tàu tấn công với nòng cốt là các tàu sân bay của Mỹ cùng các tàu sân bay Charles de Gaulle của Pháp và Enterprise của Anh theo kế hoạch sẽ đến vịnh Pécxích và biển Ôman. Lực lượng đặc biệt, không quân và hải quân của liên quân cũng đã đến Arập Xêút và Các tiểu vương quốc Arập thống nhất. Lực lượng tác chiến hùng hậu này, chủ yếu là của Mỹ cộng với quân của Anh và Pháp, được quân đội Ixraen hỗ trợ với việc triển khai tàu ngầm trong khu vực từ nhiều tháng nay. Nhân viên tình báo của Mossad đang hoạt động trên thực địa. Các nhóm bán vũ trang bí mật đã được đưa vào Iran.

Arập Xêút cũng triển khai quân ở các vùng sản xuất dầu mỏ ở phía Đông vịnh Pécxích. Quân đội các nước Arập ở vùng Vịnh, được trang bị mạnh, nhưng trình độ tác chiến còn hạn chế, có thể sẽ được sử dụng để hỗ trợ hậu cần và dịch vụ cho lực lượng tác chiến triển khai ở vùng Vịnh và biển Đỏ.

Lực lượng đặc biệt Mỹ và đồng minh cũng như nhân viên tình báo hiện đang hoạt động trên lãnh thổ Iran. Máy bay tàng hình quân sự của Mỹ được sử dụng trong hoạt động do thám và gián điệp. Hơn nữa, quân đội được triển khai với số lượng lớn tại Trung Đông, chưa kể việc triển khai quân đồng minh rút từ Ápganixtan và Irắc về. Khoảng 9.000 lính Mỹ đã được đưa đến Ixraen để thử nghiệm nhiều hệ thống phòng không, đặc biệt là hệ thống “Arrow” được phát triển với sự giúp đỡ của Mỹ nhằm đánh chặn tên lứa của Iran, số lính dự bị được triển khai ở Trung Đông cũng tăng đáng kể. Một số quân nhân dự bị thuộc Không quân Mỹ đang có mặt tại một số căn cứ quân sự ở Tây Nam Á (vịnh Pécxíclì).

Nòng cốt của lực lượng liên quân lần này chủ yếu không phải của Pháp, Anh hay Italia, mà được cho là của Thổ Nhĩ Kỳ, nước láng giềng mới đây còn giữ mối quan hệ hữu nghị với Xyri. Một quan chức cao cấp Nga cho biết Thổ Nhĩ Kỳ kình địch với Iran và có tham vọng lớn. Theo ông, Oasinhtơn và Ancara đang cùng nhau lên kế hoạch liên quan đến một số vùng cấm bay, nơi có thể thành lập và tập trung các đơn vị quân vũ trang

của lực lượng nổi dậy.

Mới đây, Tổng thống Obama đã gặp riêng ông Ehud Barak, Bộ trưởng Quốc phòng Ixraen, tại Oasinhtơn. Nhà phân tích chính trị Amir Oren cho rằng không nên đánh giá thấp cuộc gặp này vì nó diễn ra vào thời điểm thích họp với nội dung có thể tập trung vào vấn đề tấn công của Mỹ và Ixraen chống Iran. Ông mô tả cuộc họp này là “đèn xanh’’ để Ixraen tiến hành chiến tranh chống Iran.

Trong lúc đó, Oasinhtơn, Luân Đôn, Brúcxen và Ten Avíp tiên hành các hoạt động gây mất ổn định đặc biệt nhằm bóp nghẹt Iran về phương diện ngoại giao, kinh tế và tài chính. Chuyên gia Olivier Campbell cho rằng công tác chuẩn bị cho một cuộc chiến đang đi vào giai đoạn tích cực và một cuộc chiến tranh không tuyên bố đã thực sự bắt đầu.

Ngòi nổ chiến tranh thế giới thứ ba chăng?

Sau khi Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) đầu tháng 11/2011 công bố báo cáo về chương trình hạt nhân của Iran, nhiều người cho đó là do Mỹ yêu cầu để có lý do can thiệp vào Iran. Nga và Trung Quốc công khai chống lại giả thiết này. Liệu có thể nghĩ rằng vấn đề Iran có thể trở thành yếu tố phát động chiến tranh thế giới lần thứ ba không? Ông Bernard Hourcade, Giám đổc nghiên cứu thuộc Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp (CNRS), đồng thời là thành viên nhóm nghiên cứu “Thế giới Iran” và từng là Giám đốc Viện nghiên cứu về Iran từ 1978 đến 1993, trả lời phỏng vấn tạp chí “Đại Tây Dương” về vấn đề này như sau.

Hỏi: Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế đã công bố báo cáo về chương trình hạt nhân Iran. Liệu bản báo cáo đó có cung cấp cho Mỹ cái để minh chứng cho một cuộc tấn công vào Iran không?

Trả lời: Cuộc khủng hoảng hạt nhân Iran, cho đù là cực kỳ nghiêm trọng và nguy hiểm, song bất luận trong trường hợp nào cũng không phải là nguyên nhân dẫn đến việc phát động một cuộc xung đột, thậm chí trong toàn khu vực. Cách đây một năm, trước khi nổ ra “Mùa Xuân Arập”, quả bom nguyên tử Iran chắc đã được thả xuống Ten Avíp rồi. Tất cả các chuyên mục của tất cả các tờ báo đều thông báo thảm họa đã đến sát nút rồi. Rồi “Mùa Xuân Arập” tràn đến… và thảm họa đó không còn cấp bách như vậy nữa. Nếu nghiêm trọng đến như vậy, vấn đề hạt nhân Iran đã phải được nói đến nhiều trong những tháng gần đây. Nhóm G20 trong thời gian qua đã cho thấy chiến tranh thế giới thứ ba có thể nổ ra từ quần đao Caimans hơn là từ Iran, vì các thiên đường thuế có thể gây ra những đối nghịch rất rõ rệt giữa Bắc và Nam.

Hỏi: Iran tố cáo IAEA bị Mỹ sử dụng như một công cụ. Ông nghĩ thế nào về điều này?

Trả lời: Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế có thể ít thân thiện với Iran hơn so với dưới thời ông el Barađei. Nhưng cho dù tất cả đều tìm cách sử dụng thể chế này như một công cụ, thì tính độc lập của cơ quan này, theo tôi, là không thể bị xem xét lại. Thậm chí cũng không nên nói là Mỳ có điều kiện thích hợp nhất để sử dụng IAEA như một công cụ.

Hỏi: Ixraen đứng ở tuyến đầu trong chiến dịch chống chương trình hạt nhân của Iran. Một cuộc can thiệp có thể có chống Iran liệu có nhận được sự đồng thuận của toàn dân Ixraen không?

Trả lời: Đối với người Ixraen, vấn đề Iran là một vấn đề có thể được đặt ngang hàng với vấn đề Palextin Ngay ở Ixraen cũng có một cuộc tranh luận sôi nổi về vấn đề này. Các cựu Giám đốc Cơ quan tình báo Mossad và một số cựu tướng lĩnh Ixraen cũng từng tuyên bố rằng một cuộc tấn công chống Iran sẽ là hành động tự vẫn. vấn đề Palextin, trong đó Iran tham gia kể từ khi trở thành nước Cộng hòa Hồi giáo, nhận được sự đồng thuận của cả thế giới Hồi giáo. Điều đó thể hiện rõ ở Tuynidi, nơi các nhà lãnh đạo mới khẳng định rằng mối quan hệ với Ixraen phải được xem xét lại vì Ixraen là một Nhà nước bất hợp pháp. Đây chỉ là sự lặp lại dư luận của dân chúng. Nói cách khác, tấn công Iran vào lúc này có thể sẽ gây ra một làn sóng phản đối trong cả thế giới Arập. Một hiệu ứng đôminô rất sâu rộng có thể sẽ khiến chính phủ các nước, cụ thể là Ai Cập, phải chạy theo một phong trào của dân chúng có sự đồng thuận cao.

Đối với Ixraen, vấn đề bây giờ là duy trì sức ép đối với Iran và nói với các nước “lớn”, những nước với bất kỳ giá nào cũng không muốn có một cuộc xung đột vũ trang trong khu vực, phải làm một điều gì đó và áp dụng biện pháp trừng phạt chống Iran. Nói cách khác, ý nói ở đây là: “Nếu các ngài không làm gì thì chúng tôi sẽ làm điều gì đó. Đừng để chúng tôi làm gì, nếu không muốn chúng tôi gây ra điều bất hạnh.”

Hỏi: Mỹ có thể cho phép tấn công Iran không?

Trả lời: Cho dù ở Mỹ, muốn thắng cử phải thiên về Ixraen hơn cả người Ixraen, song gây ra một cuộc xung đột ở khu vực Trung Đông trong lúc Tổng thống Barack Omaba đã hứa rút lính Mỹ khỏi Ápganixtan, có thể sẽ là tham họa. Đối với ông, làm như vậy không phải là tự bắn yào chân mình nữa, mà là tự bắn vào đầu mình. Điều quan trọng đối với Mỹ là phải nói rằng Iran phải được kiểm soát, phải bị trừng phạt… Các biện pháp trừng phạt là một bài học để làm yên lòng những người thích chiến tranh chỉ muốn tiến hành một cuộc can thiệp bằng quân sự.

Hỏi: Nga và Trung Quốc luôn tỏ ra nghi ngại về một cuộc can thiệp vào Iran. Liệu đó có phải chỉ là cách để một lần nữa chống lại Mỹ không?

Trả lời: Nga biết rằng Iran là một cường quốc. Họ nghĩ rằng Iran sẽ phải có chỗ đứng trong Nhóm G20, nhờ dân số, dầu mỏ, năng lực công nghiệp và sức mạnh trong khu vực của mình. Họ biết rất rõ rằng đầu tư thực sự cần làm ở đây là tìm biện pháp để Iran thoát ra được khỏi tình thế khó khăn. Tất cả đều cảm thấy rõ rằng với cuộc bầu cử ở Mỹ và Iran, quân bài lại sắp được chia một lần nữa. Phải tìm được lối thoát cho cuộc khủng hoảng Iran. Để làm được điều này, cán cân lực lượng phải chắc chắn và Iran phải tìm được chỗ đứng trong cộng đồng các dân tộc, kể cả với điều kiện cực kỳ khắt khe.

Đối với Nga, vấn đề ở đây mang ý nghĩa địa chính trị to lớn, nhưng cũng có cả chuyện “làm ăn” nữa Iran là một đối tác thương mại quan trọng. Có hàng tỷ đôla đầu tư tiềm tàng có thể rót được vào nước này. Kiểm soát các nước cộng hòa ở phía Nam nước Nga cũng là một cuộc chơi. Điều quan trọng đối với Nga là Iran phải là một nước đồng minh và yên bình.

Đối với Trung Quốc, Iran là một trạm trung chuyển tuyệt vời để bước chân vào khu vực Trung Đông. Hiện nay, vấn đề trước hết là làm ăn, nhưng cũng có thể rất nhanh chuyển thành vấn đề chính trị.

Hỏi: Tổng thống Iran, Mahmud Admadinejad, đã gửi một thông điệp rõ ràng đến Mỹ, theo đó họ có khả năng đương đầu với Mỹ trong trường hợp xảy ra tấn công quân sự. Liệu như vậy có phải là đổ thêm dầu vào lửa không?

Trả lời: Bạn có nghĩ rằng một vị tổng thống, dù người đó là ai, sẽ không đáp trả lại khi một Nhà nước láng giềng thông báo họ sẵn sàng ném bom nước mình hay không? Tổng thống Ahmadinejad đã đáp lại một cách lôgích rằng nếu bị tấn công, ông ta sẽ đánh trả. Đó là điều sơ đẳng nhất đối với bất kỳ một vị tổng thống nào biết tự trọng và không muốn bị mất mặt trước dân tộc mình. Hơn nữa, Tổng thống Ahmadinajad biết rất rõ rằng một cuộc chiến tranh sẽ là rất tai hại đối với nước Mỹ, do đó ông có thể cho phép mình nói những câu như vậy.

Mỹ có thể áp dụng kịch bản Nam Tư

Một số đơn vị của Hải quân Mỹ đang tập trung ở gần bờ biển Iran và từ tháng 11/2011 có nhiều tin nói về một chiến dịch quân sự nhằm vào cơ sở hạ tầng hạt nhân của Iran. Điểm chung và sự khác biệt giữa cuộc chiến tranh có thể xảy ra này và các chiến dịch đã diễn ra ở Irắc và Nam Tư là gì? Mục đích của các chiến dịch này là như thế nào và hậu quả sẽ ra sao? Nhà phân tích Konstantin Bogdanov đưa ra trên tạp chí “Mondialisation” một số lập luận và phân tích có thể soi sáng thêm các vấn đề này.

Nếu một chiến dịch như vậy được tiến hành, nước tấn công sẽ có ý định tránh tối đa va chạm bằng cách sử dụng không kích và tên lửa hành trình, dựa vào thông tin có được nhờ các phương tiện thu thập tình báo hiệu quả và sự vượt trội nói chung về phương thức kiếm soát liên quân trên chiến trường ngoại biên.

Các nước đồng minh chắc chắn sẽ không tung ra chiến dịch trên bộ. Mỹ không có đủ lực lượng, cũng không nhận được sự ủng hộ về chính trị của dân chúng ở trong nước để làm việc đó. Iran là một đối thủ ngoan cố và sẽ khó đánh thắng được kẻ thù đó trên bộ (so với Irắc năm 1991 hay năm 1993). Chỉ có một nhà chính trị muôn tự sát – nhưng Tổng thống Mỹ Barack Obama, lại không phải là người như vậy – mới có ý định tổ chức đưa về nước liên tục số quan tài của lính Mỹ chết trước khi diễn ra cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 11 tới.

Đó là lý do giải thích tại sao sẽ không diễn ra một chiến dịch quân sự trên bộ chống Iran. Trường hợp ngoại lệ duy nhất có thể là tung biệt kích vào tiến hành nhiệm vụ trinh sát sâu trong lãnh thổ nước này để đánh dấu các cơ sở chiến lược cho không quân ném bom và tiến hành các chiến dịch phá hoại.

Trên thực tế, tất cả sức nặng của chiến dịch sẽ dựa vào không quân: dưới hình thức một cuộc chiến bằng không quân theo nguyên lý đánh rồi rút. Sau chiến dịch “rất tinh tế” của các đồng minh Anh và Pháp ở Libi, Mỹ có thể muốn cho thế giới thấy họ đã học được những gì từ sau cuộc chiến tranh Irắc bắt đầu từ năm 2003.

Thời đó, không quân Mỹ đã bắt đầu được trang bị vũ khí do vệ tinh dẫn đường (JDAM). Đây thực sự là một phương tiện không tốn kém cho phép biến loại bom cổ điển thả từ máy bay thành một thứ vũ khí có độ chính xác cao. Và cũng vào thời kỳ đó họ đã bắt đầu chuyển sang chế tạo các thiết bị dẫn đường đồng bộ, đánh dấu mục tiêu và trinh sát thực địa. Máy bay không người lái từ đó cũng bắt đầu đóng vai trò quan trọng.

Chiến dịch quân sự có khả năng diễn ra ở Iran có thể sẽ giống như chiến dịch do NATO tiến hành ở Nam Tư vào mùa Xuân năm 1999. Các cuộc không kích từ năm 1993 đến năm 1998 ở Irắc là rất hạn chế và phần lớn là các chiến dịch tiêu trừ. Các trận không kích chớp nhoáng trong các năm 1991 và 1993 chủ yếu để phục vụ các chiến dịch trên bộ diễn ra ngay sau đó.

Tuy nhiên, không giống như ở Nam Tư – nước lúc đó cần phải đánh gục về phương diện chính trị, trong trường hợp Iran hiện nay, cần phải giải quyết một số vấn đề quân sự cụ thể nhằm phá hủy tiềm năng quân sự và công nghiệp của nước này. Iran sẽ không phất cờ trắng sau một vài cú đòn đau mà trái lại, sẽ trở nên hung tợn hơn.

Theo kinh nghiệm có được từ các chiến dịch không kích ở Nam Tư và Irắc, phương tiện phòng không, sân bay và căn cứ tên lửa đạn đạo sẽ là những mục tiêu hàng đầu. Hạm đội tàu chiến của Iran và số tên lửa chống hạm bố trí dọc bờ biến sẽ là mục tiêu đầu tiên bị không kích. Sau đó, cuộc tấn công sẽ tập trung vào cơ sở hạ tầng dầu mỏ và năng lượng cốt tủy đặc biệt là các nhà máy sản xuất nhiên liệu, được coi là mục tiêu cơ bản. Iran là nước xuất khẩu dầu mỏ, nhưng trong nhiều năm thiếu hụt nhiên liệu nghiêm trọng vì 45% nhu cầu nhiên liệu trong nước phải nhập từ các nước láng giềng. Nỗ lực khắc phục tình trạng này trong thời kỳ 2009-2010 giúp nước này sản xuất được một số chế phẩm dầu mỏ với khối lượng đủ để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước được quy định chặt chẽ. Tuy nhiên, sự yếu kém của ngành công nghiệp hóa dầu vẫn là yếu tố cản trở tăng trưởng kinh tế của Iran.

Hạ tầng thuộc chương trình hạt nhân Iran là mục tiêu trọng tâm trong số các mục tiêu trên và sẽ bị đánh phá quyết liệt, nhưng không nhất thiết ngay trong đợt không kích đầu tiên. Như vậy, cơ sở Natanz và lò phản ứng chưa hoàn thành ở Arak có thể bị ném bom thông minh. Nhà máy điện nguyên tử Bushehr ít có khả năng bị tấn công trực tiếp mặc dù có thể giả thiết rằng triệt phá nguồn nhiên liệu cung ứng sẽ khiến nhà máy này ngừng hoạt động.

Nhưng mục tiêu tối thượng lại nằm ngầm dưới đất, gần thành phố Qom. Đó là cơ sở làm giàu Fordo, một công trình quy mô đồ sộ nằm sâu trong lòng đất, được khởi công xây dựng từ năm 2007 và khánh thành năm 2011. Hiện nay, mọi công đoạn sản xuất urani làm giàu 19,75% của Iran đã được chuyển đến Fordo. Trước đây, công việc này được tiến hành ở Natanz, nhưng các nhà lãnh đạo Iran cho rằng cơ sở này không đảm bảo an toàn nếu bị không kích, trong khi cơ sở ngầm ở Fordo bảo đảm hơn nhiều.

Ixraen thường than phiền với Oasinhtơn về việc thiếu tên lửa không đối đất, có thể phá hủy các mục tiêu nằm sâu dưới đất, qua đó công khai ám chỉ có thể sử đụng loại vũ khí này để tấn công Iran. Mỹ có cả một loạt vũ khí được thiết kế vào mục đích đó. Kinh khủng nhất trong sô đó là GBU-57 MOP, một loại bom xuyên phá hầm ngầm nặng 13,6 tấn được chở bằng máy bay ném bom hạng nặng B-52 và máy bay tàng hình B-2. Theo một số nguồn tin mở, bom GBU-57 có khả năng khoan sâu tới 60 mét. Loại bom này có thể xuyên tới 40 mét dưới lòng đất hoặc nông hơn nếu gặp đá rắn. Theo một số nghiên cứu của chuyên gia Mỹ, nhà máy ở Fordo có thể nằm ở độ sâu 80 mét, thậm chí sâu hơn.

Kể cả những người ủng hộ không kích cũng tỏ ra nghi ngờ mức độ thành công của loại bom này. Người ta đưa ra các khái niệm không kích khác nhau vào cùng một nơi nhờ xác định chính xác mục tiêu, nhưng tất cả đều gặp phải cùng một vấn đề: đó là không ai biết cấu trúc bên trong của cơ sở Fordo là như thế nào.

Không kích ồ ạt cơ sở Fordo có thể chặn được các lối ra của cơ sở này, phá hủy các hệ thống cung cấp điện và hạ tầng giao thông ở xung quanh. Muốn vậy phải dùng vũ khí có độ chính xác cao như JDAM và tên lửa hành trình Tomahawk vốn là thứ vũ khí truyền thống của loại hình chiến tranh này. Tuy nhiên, năng lực sản xuất sẽ không bị ảnh hưởng trực tiếp. Để đạt kết quả mỹ mãn hơn, cần có được may mắn khác thường, hoặc sử dụng vũ khí hạt nhân chiến thuật (TNW), hoặc đưa được biệt kích vào bên trong.

May mắn là một yếu tố không thể lường trước được và rối rắm. Sử dụng vũ khí TNW có thể giải quyết được vấn đề cơ sở Fordo, nhưng lại gây ra nhiều phức tạp (về phương diện kỹ thuật cũng như về cấp độ “chiến lược tổng thể”).

Biệt kích và thành công của họ cũng là một dấu hiệu nhìn chung là rối rắm: không biết chiến dịch sẽ thành công hay thất bại và trong mọi trường hợp, quân tinh nhuệ cũng cần có phương tiện chiến đấu thích hợp cho một chiến dịch phá hoại có thể thực hiện được. Điều duy nhất được nghĩ đến trong số các phương tiện ít nhiều có bảo đảm là vũ khí hạt nhân xách tay, nhưng điều đó một lần nữa lại đưa chúng ta trở lại câu chuyện về những cây nến.

Tình thế lúc này đúng là kỳ lạ. Chiến dịch trên bộ chống Iran là không thể, còn chiếm đóng nước này lại là chuyện viễn tưởng. Không kích ồ ạt có khả năng triệt phá tiềm năng công nghiệp của cường quôc Ba Tư, này nhưng có thể là không đủ để giải quyết vĩnh viễn vấn đề hạt nhân Iran.

Một chiến dịch không kích quy mô lớn chống Iran có thể sẽ làm chậm lại vài năm chương trình hạt nhân của nước này. Theo nghĩa đó, một chiến dịch tiềm tàng có khả năng được coi là thành công. Tuy nhiên, khó có thể đánh giá hậu quả có thể xảy ra từ một cuộc can thiệp bằng vũ lực như vậy vào công việc nội bộ của một nước thủ lĩnh khu vực.

Việc Mỹ sử dụng Hạm đội V để tấn công Iran sẽ. đẩy toàn khu vực vào một cuộc chiến tranh. Iran sẽ không chịu ngồi khoanh tay và không ngần ngại đánh trả cũng như tấn công các lợi ích của Mỹ ở khắp nơi. Nhiều điều bất ngờ sẽ xảy ra, kể cả một cuộc đối đầu quân sự kể từ 20 năm trở lại đây. Hơn nữa, Iran có phương tiện để tự vệ.

Iran không giống như Ápganixtan hay Irắc. Irắc có một kho vũ khí được mua từ châu Âu và Mỹ. Trong một khoảng thời gian rất ngắn, chỉ chừng hai tiếng đồng hồ, tất cả máy móc và phương tiện điện tử của nước này bị phá hoại. Trong khi đó Iran có vũ khí của riêng mình, được sản xuất ở trong nước, trong đó loại tên lửa Shahab-3 không bị các phương tiện điện tử chi phối. Iran có nhiều giải pháp, kể cả vị trí địa lý và ảnh hưởng trong khu vực.

Tình hình đó chắc chắn sẽ dẫn đến hậu quả rất tiêu cực. Vùng Trung Đông vốn không ổn định do đang bị làn gió “Mùa Xuân Arập” tràn qua, có thể sẽ phải gánh chịu một tổn thất làm cho con tàu bị lật nghiêng. Các phần tử Hồi giáo cực đoan lúc đó sẽ quét sạch các Nhà nước quân chủ bảo thủ ở vùng Vịnh như những lâu đài cát (vì các nước này có lập trường thân Mỹ), cũng như các nước thế tục cuối cùng ở Trung Đông (Xyri, Gioócđani, Côoét) và các chính phủ chuyển tiếp còn yếu thuộc các liên quân cách mạng (Ai Cập, Yemen).

Tình hình bùng nổ như vậy ở một khu vực có thể được gọi đúng tên là điểm yếu của thế giới, liệu có xứng với cái giá phải trả để làm chậm lại 5-6 năm chương trình hạt nhân của Iran không? Mỹ có rất ít cơ may để thắng Iran, nhưng phá hoại một cách vụng về nhiều thập kỷ thực hiện chính sách của chính mình ở khu vực này là việc dễ thực hiện hơn nhiều trong điều kiện này.
———–
Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ năm, ngày 23/2/2012

(phần cuối)

TTXVN (Angiê 14/2)

Bắc Kinh ưu tiên bảo vệ lợi ích của mình

Trong khi Chính phủ Ixraen lên tiếng báo động một lần nữa về mối đe dọa hạt nhân Iran để có cớ tấn công ngăn chặn, giới quan sát cho rằng Bắc Kinh, người cho mình là nạn nhân của cuộc xung đột Libi và vụ kiều dân của họ bị tấn công ở Xuđăng, sợ nhất là tình hình ở Trung Đông mất ổn định và lợi ích của mình bị đảo lộn.

Theo ông Francois Danjou, nhà phân tích của tạp chí “Tin Trung Hoa”, nếu eo biển Hormuz bị đóng cửa và nếu một cuộc xung đột nổ ra tại đây, Trung Quốc sẽ là nước đầu tiên chịu tác động xấu. Trong khi đó, tờ “Nhân dân nhật báo” kêu gọi kiềm chế và hòa dịu, nói rằng Bắc Kinh sẽ không khuất phục trước áp lực cúa Liên minh châu Âu và Mỹ để giảm nhập khẩu dầu mỏ của Iran.

Trung Quốc và Nga đều phản đối lệnh trừng phạt chống Iran và Xyri. Lập trường của Bắc Kinh trùng với lập trường của Nga, cho rằng biện pháp trừng phạt của Liên minh châu Âu đưa ra ngày 23/1 chống Iran, là một sai lầm nghiêm trọng, không những không khích lệ Têhêran hợp tác, mà còn đẩy nước này đến chỗ cứng rắn hơn. Nga và Trung Quốc cũng hợp sức để phong tỏa các nghị quyết của Liên họp quốc về Xyri hồi tháng 10/2011 và tháng 1/2-2012. Quyết định của Nga và Trung Quốc thoạt tiên có vẻ là một sáng kiến có phối hợp để cứu đồng minh Bashar al Assad của họ, với gia đình nắm quyền ở Xyri từ 40 năm nay và hiện đang đứng đầu một nước ở trung tâm một khu vực bất ổn định và bị đe dọa bởi nội chiến. Nhưng vấn đề phức tạp hơn nhiều.

Mối liên hệ giữa Iran và Xyri không thoát khỏi tầm ngắm của các cơ quan tình báo Trung Quốc và Nga. Cả hai nước đều chống lại Ixraen, đồng thời không được các nước khu vực Vịnh tin tưởng, trong bối cảnh Iran coi Xyri là con chủ bài hàng đầu trong mạng lưới chiến lược gắn mình với các nhóm khủng bố Hamas và Hezbollah, hai lực lượng vũ trang trong cuộc chiến chống Ten Avíp.

Tháng 2/2010, trong chuyến thăm chính thức Xyri, Tổng thống Iran, Mahmud Ahmadinejad, và người đồng nhiệm Xyri, Bashar al Assad, nói đến sự cấp thiết phải đấu tranh chống nạn khủng bố của Ixraen. Ngày 10/5/2011, Tổng thống Admadinejad ủng hộ đàn áp ở Xyri khi nói rằng “chính phủ và nhân dân Xyri đã đạt độ chín về chính trị giúp họ có thể tự giải quyết các vấn đề của mình mà không cần đến sự can thiệp của nước ngoài”. Ngày 17/5/2011, một nhóm nhân vật đối lập Iran cho biết nước này đã triển khai một nhóm 65 người và 4 máy bay vận tải chở đầy vũ khí để hỗ trợ Đamát. Ngày 5/8/2011, Thổ Nhĩ Kỳ khẳng định hải quan nước này đã tịch thu một xe tải chơ vũ khí của Iran dành cho Xyri. Tuy nhiên, ngày 8/11/2011, sau một thời gian dài ủng hộ Đamát, Tổng thống Ahmadinejad thực hiện một cú chuyển dịch chiến lược, rõ ràng để gây áp lực với Tồng thống Assad nhằm buộc ông phải ngừng bạo lực chống người dân nước mình, thậm chí đề nghị “các nước trong khu vực can thiệp để tiến hành cải cách”.

Nhà độc tài Xyri sụp đổ có thể sẽ làm suy yếu đáng kể một nước Iran có dân chúng đa số theo đạo Hồi dòng Shiite, phá hủy kênh tiếp xúc của nước này với các phong trào Hezbollah và Hamas và một trong những cửa ngõ mang tính biểu tượng để tiến vào thế giới Arập, nơi cách đây không lâu Ông Assad còn được coi là một người hùng. Xyri sụp đổ cũng sẽ mở đường cho Arập Xêút và Thổ Nhĩ Kỳ, các đối thủ chính của Têhêran, gia tăng ảnh hưởng.

Mối quan hệ trung thành gắn Trung Quốc và Nga với Xyri, cộng với sự đồng lõa giữa Têhêran và Đamát cũng như nguy cơ phản ứng dây chuyền không mấy tốt đẹp có thể nảy sinh từ đây – kể cả trong trường hợp nhà độc tài Xyri bị cô lập mà Trung Quốc, Nga và Iran đã bắt đầu tính đến – giải thích phần nào thái độ khép kín của Mátxcơva và Bắc Kinh vì họ sợ mất ổn định nghiêm trọng ở khu vực này.

Mất ổn định có thể sẽ làm đảo lộn khu vực này. Hoặc tiến trình dân chủ hóa hy vọng diễn ra ở Xyri thực tế sẽ gây ra tình hình hỗn loạn có thể bị những phần tử cực đoan theo dòng Sunni bị Arập Xêút thao túng lợi dụng và coi Iran là con ngoáo ộp. Hoặc một cuộc tấn công quân sự của Ixraen chống Iran sẽ khiến các nhóm khủng bố đánh trả mạnh mẽ mà vẫn không chắc chắn chươmg trình hạt nhân của Iran bị ảnh hưởng lâu dài.

Trong tình hình lộn xộn vói nguy cơ rất dễ kéo theo hậu quả xấu với thiệt hại sẽ gián tiếp làm suy yếu sự ổn định ở trong nước mình, Bắc Kinh và Mátxcơva cáo buộc châu Âu và Mỹ gây ra vấn đề mà chính họ cũng không thể giải quyết được.

Theo một nguồn tin thân cận với giới bảo thủ ở Mỹ và cựu Phó Tổng thống Mỹ Dick Cheney, vua Arập Xêút cho rằng “không gì làm suy yếu Iran hơn là nếu bị mất Xyri”. Những người phê phán mạnh nhất thuyết trung dung của Mỹ ở Trung Đông, vốn được châu Âu ủng hộ, cho rằng trong bối cảnh Mỹ và Arập Xêút hiểu nhau cần triển khai một “cuộc chơi lớn” ở Trung Đông nhằm làm suy yếu Iran bằng cách lật đổ chế độ Đamát. Phương thức hoạt động xoay quanh việc thành lập một Hội đồng chuyển tiếp làm người đại diện duy nhất ,của nhân dân Xyri không tính tới thành phần, hỗ trợ quân nổi dậy bằng vũ khí chuyển từ các nước láng giềng sang, áp đặt trừng phạt để đánh vào tầng lớp trung lưu, tiến hành chiến dịch tuyên truyền để phê phán mọi mưu đồ cải cách của Chính phủ Xyri và gây chia rẽ giữa quân đội và giới lãnh đạo đất nước.

Mỹ và châu Âu cùng một số nước Vùng Vịnh có ý định coi “cuộc chơi lớn ở Xyri” là sự nối tiếp vấn đề Libi. Một số nước còn cho rằng cách làm này đóng vai trò quyết định trong tiến triển tình hình ở thế giới Arập, với sự khác biệt, nói theo thuật ngữ chiến lược, là Xyri quan trọng hơn nhiều so với Libi.

Hơn nữa, các phần tử cực đoan được sử dụng ở Xyri để lật đổ Tổng thống Assad thông qua các đầu mối liên lạc mờ ám ở Arập Xêút, có thể làm tất cả, trừ khả năng trở thành người khởi công xây dựng một chế độ dân chủ. Có thể so sánh hành động này với việc Mỹ sử dụng Hồi giáo chính trị trong những năm 1980 để làm suy yếu Liên Xô ở Ápganixtan. Chiến lược này hồi đó tác động tích cực đến chính sách đối nội của Mỹ.

Phe đối lập Xyri – trong đó phái lưu vong ủng hộ can thiệp bằng quân sự, trái với phái ở trong nước không muốn vì sợ xảy ra nội chiến – cực kỳ manh mún. Lợi dụng sự chia rẽ đó, Arập Xêút kích hoạt trở lại các mạng lưới Thánh chiến theo dòng Sunni chống Iran theo dòng Shiite, dẫn đến nguy cơ không thể kiểm soát được liên quan đến kiểu thao túng này.

Trung Quốc và Nga cũng phê phán sự vô lý theo đó Têhêran bị tố cáo thực hiện chương trình hạt nhân, trong khi Ixraen hiện đã có 200 đầu đạn hạt nhân mà cộng đồng quốc tế không có phản ứng gì. Bắc Kinh và Mátxcơva còn cho rằng lệnh trừng phạt càng khiến Iran quyết tâm chế tạo bom nguyên tử hơn là thuyết phục được nước này từ bỏ kế hoạch đó.

Trong báo cáo ngày 8/12/2011, Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) kết luận chắc chắn Iran phát triển công nghệ liên quan đến chế tạo đầu đạn hạt nhân dùng cho quân sự và tên lửa đạn đạo. Nhằm mục đích xóa bỏ mọi nghi ngờ về độ tin cậy của bản báo cáo vì một số nhà quan sát lật lại vấn đề khi nhắc lại những trò lừa của Mỹ về vũ khí hủy diệt ở Irắc vào năm 2003, IAEA nói rõ kết quả điều tra dựa vào khoảng 15 nguồn tin khác nhau, trong đó đa số là của các nước thành viên. Theo Tổng giám đốc IAEA, bản báo cáo căn cứ vào hơn 1.000 trang tài liệu gốc của Iran được những nhân vật đào tẩu cung cấp, cho thấy có hoạt động nghiên cứu và phát triển cũng như thử nghiệm đầu đạn hạt nhân trên tên lửa.

Bắc Kinh và Mátxcơva cho đến nay vẫn chống lại áp lực của châu Âu và Mỹ, đồng thời ủng hộ thương lượng với Xyri và Iran. Làm như vậy, Trung Quốc và Nga có nguy cơ bị coi là đồng minh trơ trẽn của một chế độ tàn sát dân chúng và ủng hộ một chế độ khác. Chế độ này cũng độc tài như vậy, với tham vọng hạt nhân đe dọa hủy hoại cơ chế không phổ biến vũ khí hạt nhân, song bị Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế bóc trần. Nhưng

Bắc Kinh và Mátxcơva không bận tâm đến điều này vì sợ áp lực của phương Tây có thể gây ra đổ vỡ nguy hiểm đe dọa trực tiếp tới lập trường và lợi ích của họ.

về tình hình Xyri, đáp lại cáo buộc của Mỹ ở Liên hợp quốc, Bắc Kinh, nước ngày càng tỏ ra không tin vào phương Tây, lật lại vấn đề đối với chiến lược chung của Mỹ và đối với thế giới Arập. Điều đó cho thấy Bắc Kinh sợ nếu mình ủng hộ nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc chống lại Đamát thì có thể sẽ dẫn đến một cuộc can thiệp quân sự mới.

Một bài bảo ký tên với bút danh “Zhong Sheng” đăng trên tờ “Nhân dân nhật báo” ngày 6/2, giải thích rằng “các cuộc can thiệp của phương Tây ở Libi Ápganixtan và Irắc cho thấy chiến lược ‘thay đổi chế độ’ là sai lầm”. Bài báo nói thêm: “Hiện nay, tình hình ở Xyri là cực kỳ phức tạp ủng hộ đảng này chống lại đảng khác là lẩn tránh bản chất của sự việc và gieo rắc mầm mống thảm họa.”

Ngoài các chiến lược trái ngược nhau được công bố công khai – trong đó một số với lý do nhân đạo và mối lo ngại về cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân cũng như an ninh của Ixraen, một số khác ưu tiên ổn định khu vực chủ quyền dân tộc và đối thoại, có thể nhận thấy trong đó có cả những điều không được nói ra.

Đó là nỗi sợ trong thâm tâm của Bắc Kinh và Mátxcơva trước khả năng dân chủ lan truyền, hay kình địch chiến lược với Oasinhtơn biểu hiện ở cả Đông Âu Trung Á lẫn biển Nam Trung Hoa (Biển Đông-TTXVN), hay sức nặng của phái vận động hành lang Do Thái ở Mỹ, mối nghi ngại của các nước Arập đối với Têhêran và sự vô lý của Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT) vốn là một lời kêu gọi thực sự về phổ biến vũ khí hạt nhân. Thêm vào đó là mối hận thù không nguôi xuyên biên giới giữa một bên là một nước Iran theo dòng Shiite và đồng minh và bên kia là các nước quân chủ Arập theo dòng Sunni. Các nước này – và đây không phải là mâu thuẫn nhỏ nhất – được Oasinhtơn hoàn toàn ủng hộ và cũng lo ngại trước những chuyển động dân chủ mạnh mẽ, trong khi phong trào cực đoan tự cho mình thuộc dòng Sunni, truyền bá tư tưởng đấu tranh chống phương Tây.

Trong tình thế vừa rối rắm vừa khó xử lý này, Bắc Kinh xa lánh phương Tây và chơi cuộc chơi của riêng mình. Trung Quốc dự tính trước việc một cuộc xung đột quy mô, kết quả của một hành động sai lầm, có thể gây ra một loạt hậu quả làm mất ổn định lâu dài việc cung ứng năng lượng của mình. Rút kinh nghiệm từ thái độ thiếu kiên quyết của mình trong vấn đề Libi khi bỏ phiếu trắng dẫn đến việc NATO vượt quá thẩm quyền nghị quyết Liên hợp quốc, Bắc Kinh lại vận dụng nguyên tắc trung lập của mình và chủ trương không can thiệp và thương lượng.

Sau khi cân nhắc lực lượng trên thực địa, Bắc Kinh thiết lập mối liên hệ với tất cả các tác nhân trong khu vực, nỗ lực củng cố lập trường trung lập của mình để bảo vệ lợi ích của mình cho dù tình hình biến chuyển như thế nào. Trong khi ủng hộ sự nghiệp của Palextin chống Ixraen, Bắc Kinh cùng dày công duy trì các mối quan hệ của mình và tăng cường trao đổi với Ten Avíp.

Trung Quốc một mặt không chấp nhận lên án Tổng thống Assad tại Liên hợp quốc, mặt khác công khai kêu gọi Đamát chấm dứt đàn áp. Sau khi ủng hộ Têhêran, Bắc Kinh lại gây áp lực để buộc nước này trở lại bàn thương lượng, đồng thời thận trọng tính toán lại các nguồn dầu mỏ mà họ bị lệ thuộc để đa dạng hóa nguồn cung ứng. Nhưng trên Con đường tơ lụa ngày xưa, Iran vẫn luôn là một trong những nước cung cấp nhiều dầu mỏ và một điểm tựa trong chiến lược của Trung Quốc ở Trung Đông.

Trong khi đó, tại Liên hợp quốc, ông Lý Bảo Đông, đại sứ Trung Quốc, phê phán việc mở rộng các khu định cư Do Thái và ủng hộ ý tưởng về một Nhà nước Palextin độc lập trong đường biên giới được xác định năm 1967. Việc Ixraen và Trung Quốc trao đổi điện mừng hồi tháng 1/2012 nhân kỷ niệm lần thứ 20 ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước, cho thấy mối quan hệ giữa hai nước sâu đậm hơn, từ đó hỗ trợ Thủ tướng Netanyahu, vốn bị nhiều trí thức phương Tây coi là một kẻ ưa thích chiến tranh nguy hiểm.

Kết hợp hành động với những tuyên bố khoa trương, Thủ tướng Netanyahu và Bộ trưởng Giao thông trong chính phủ ông, Yisrael Katz, trong chuyến thăm Bắc Kinh hồi tháng 9/2011, sau khi Bộ trưởng Quốc phòng Ixraen Ehud Barak thăm nước này vào tháng Sáu cùng năm đó, đưa ra hai dự án lớn được Bắc Kinh rất lưu tâm.

Dự án thứ nhất liên quan đến cơ sở hạ tầng hóa lỏng và vận chuyên khí đốt khai thác ở các mỏ thuộc khu vực lòng chảo Mặt trời mọc ở Đông Địa Trúng Hải, nơi mà cả Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, Libăng và Síp đều đòi chủ quyền. Thứ hai là việc xây dựng tuyến đường sắt cao tốc từ Eilat băng qua sa mạc Negev đến Haifa và chạy tới tận vịnh Aqaba ở Địa Trung Hải.

Khi đến bán đảo Arập vào tháng 1/2012, Thủ tướng Trung Quốc, Ôn Gia Bảo, vẫn nhớ nước ông nhập gần 500 triệu tấn dầu mỏ/năm (so với 65 triệu tấn vào năm 2000), trong đó gần 30% từ Arập Xêút và 11% từ Iran. Chuyến thăm Arập Xêút và Các tiểu vương quốc Arập thống nhất cho phép tăng cường quan hệ giữa Trung Quốc với các nước Arập qua việc ký một số hợp đồng xây dựng hạ tầng (nhà máy lọc dầu tại Yanbu bên bờ biển Đỏ trong đó công ty Sinopec của Trung Quốc góp một phần vốn tối thiểu – 37,5% – cùng với Aramco – 62,5%, hay đường ống dẫn dầu đến Abou Dhabi để tránh đi qua eo biển Hormuz).

Thêm vào đó là những vụ thương thảo tài chính và tín dụng cho phép sử dụng đồng tiền Trung Quốc. Sáng kiến này là tiền đề cho việc thúc đẩy thương mại song phương và có thể tăng cường cam kết tài chính của các công ty dầu mỏ Trung Quốc vào bán đảo Arập. Hành động này, xuất phát từ sự phụ thuộc ngày càng tăng của Trung Quốc vào dầu mỏ, vốn là chìa khóa của tăng tưởng, cũng nằm trong một chiến thuật mặc cả rộng lớn hơn nhân cuộc khủng hoảng hiện nay để chơi con bài cạnh tranh giữa Iran theo dòng Shiite và các nước Arập theo dòng Sunni.

Sức nặng mối quan hệ với Iran và ưu tiên lợi ích của Trung Quốc là hai yếu tố quan trọng trong cuộc khủng hoảng hạt nhân Iran. Mối quan hệ giữa Trung Quốc và Iran vẫn chặt chẽ mặc cho phương Tây gây áp lực, và dường như còn được tăng cường hơn trong bối cảnh khủng hoảng ở Mỹ và châu Âu. Năm 2004, khi Oasinhtơn định đưa vấn đề hạt nhân Iran ra Hội đồng Bảo an Liên họp quốc, công ty Sinopec đã nhận được quyền đồng khai thác mỏ Yadavaran – có trữ lượng 13 tỷ thùng dầu và 80 tỷ mét khối khí đốt – hợp đồng lớn nhất mà một nước thành viên OPEC ký với nước ngoải. Năm 2008, khi Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc gia tăng biện pháp trừng phạt chống Iran, Têhêran và Bắc Kinh ký một hiệp định trị giá 3,3 tỷ USD sản xuất khí đốt hóa lỏng ở miền Nam nước này, và tiếp đó là một số hợp đồng xây dựng nhà máy lọc dầu trị giá 8 tỷ USD.

Hiện nay, Iran là nhà cung cấp thứ ba của Trung Quốc, đồng thời là một trong số các nước duy nhất, cùng với Nga và Irắc, có thể nối liền với Đế chế Trung Hoa bằng đường bộ, từ đó tránh được rủi ro khi vận chuyển bằng đường biển. Một đường ống dẫn khí đốt đi qua Trung Á và Tuôcmênixtan, khánh thành năm 2009, nối Tân Cương với miền Đông Iran.

Trong bối cảnh đó, Bắc Kinh khó có thể công khai nhượng bộ trước sức ép của phương Tây nhằm buộc Iran phải khuất phục. Trong trường hợp này, Trung Quốc không phải là nước duy nhất, vì Ấn Độ, Hàn Quốc và Nhật Bản cũng cho biết họ không ngừng mua dầu mỏ của Iran.

Nhưng vì lo ngại phải tránh áp lực của châu Âu và Mỹ nên không không loại trừ khả năng Bắc Kinh sẽ thực hiện một hay nhiều hành động mang tính chiến thuật mà chỉ có mình Bắc Kinh biết, vừa để bảo vệ lợi ích của mình vừa tránh để bị kẹt trong một hành động quá giới hạn trong lúc cùng đường của Têhêran.

Bắc Kinh vừa đánh giá mức độ rủi ro của vấn đề phổ biến hạt nhân trong khu vực có khả năng gây hậu quả cho các lĩnh vực khác, vừa hậm hực nhân nhượng trước sức ép trực tiếp của Liên minh châu Âu và Mỹ. Trái lại, Bắc Kinh có thể tham gia nghị quyết của Liên hợp quốc để gây áp lực với Têhêran như nước này đã từng làm nhiều lần.

Nhưng về cơ bản, lập trường của Bắc Kinh sẽ không thay đổi. Nước này một mặt sẽ tìm cách làm giảm tác dụng của các biện pháp trừng phạt, mặt khác vẫn sẽ tiếp tục khẳng định rằng biện pháp này có thể làm căng thẳng thêm và nếu phương Tây và Ixraen không quyết tâm làm dịu tình hình, vấn đề Iran sẽ chỉ trầm trọng thêm.

Cuối cùng, vì không có lợi nhuận nào là nhỏ và băn một mũi tên vẫn có thể trúng hai đích nên Bắc Kinh vừa lợi dụng cơ hội căng thẳng giữa Têhêran và phương Tây để gây áp lực với Iran trong cuộc thương lượng giá dầu bị ách tắc trong nhiều tháng qua. Chính vì vậy, Bắc Kinh vừa quyết định giảm một nửa lượng dầu nhập khẩu từ Iran từ tháng 3/2012 trước khi diễn ra một cuộc họp mới với ban lãnh đạo Công ty dầu mỏ quốc gia Iran.

Nếu tiết mục thăng bằng trên dây này thành công, Bắc Kinh – nước trước hết và trước tiên bảo vệ lợi ích của mình, không ủng hộ phương Tây, nương tay với cả Iran lẫn Xyri và các nước Arập, Ixraen và Palextin – sẽ cho thấy lúc này có thể sử dụng nguy cơ phổ biến hạt nhân để kéo giá dâu mỏ xuống, thứ nguyên liệu mà Trung Quốc ngày càng tiêu thụ nhiều.

Dẫu sao, do ý thức được nguy cơ khi xuất hiện bên cạnh một nước tàn sát dân mình để tồn tại, Đảng cộng sản Trung Quốc sẽ phải canh chừng hình ảnh cua mình ở trong nước, một yếu tố chủ chốt giúp đảng này có tính hợp pháp và quan trọng không kém các nguồn cung ứng dầu mỏ, không bị quá xấu do Internet được sử dụng quá rộng rãi và giới trí thức ly khai phản kháng.

Trừng phạt sẽ chỉ tốn công vô ích

Ông Reza Pahlavi, con trai cả của cựu vương Iran, hiện đang sống lưu vong tại Mỹ, cho rằng chỉ trừng phạt kinh tế thì không đủ để buộc Chính phủ Iran phải nhượng bộ. Ông muốn tập hợp phe đối lập Iran để tiến hành cuộc chiến phi bạo lực chống chính quyền hiện tại và kêu gọi cộng đồng quốc tế, đặc biệt là các nước quân chủ Vùng Vịnh, hành động “càng nhanh càng tốt” và hỗ trợ phe đối lập Iran trong cuộc chiến này. Dưới đây là cuộc trả lời phỏng vấn của ông trên tạp chí “Arabies”.

Hỏi: Ông vừa có một quyết định quan trọng… Ông sẽ kiện Chính phủ Iran, đặc biệt là giáo chủ Ali Khamenei, đã phạm tội ác chống nhân loại… Tại sao vào cuối năm 2011 ông mới đưa ra quyết định này? Ông chờ đợi gì từ một Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc cho đến lúc này đã cho thấy họ bất lực trước Xyri?

Trả lời: Đây không phải lần đầu tiên người ta lo ngại nhân quyền bị vi phạm ở Iran. Từ năm 2009, nhịp độ và quy mô các vụ vi phạm không thể chối cãi gia tăng. Quốc hội Iran có cả một kế hoạch nhằm tăng áp lực và cho phép chính quyền được tự do can thiệp theo ý muốn. Đó sẽ là thảm họa… Không thể chờ thêm được nữa, nên tôi quyết định kiện đích danh Ali Khamenei. Ông ta mới là người quyết định tối cao, người phán xử cuối cùng và chúng tôi phải gây áp lực mạnh hơn nữa đối với chế độ Têhêran. Tôi thấy cộng đồng quốc tế đã có thái độ rõ ràng hơn về vai trò mà họ có thể thực hiện khi hỗ trợ nhiều xã hội chịu đau khổ dưới các chế độ độc tài. Ví dụ như Libi, rồi Xyri… Cũng không nên quên rằng Iran từng là nguyên nhân chính gây ra thảm họa này và họ vẫn hỗ trợ các chế độ đàn áp khác. Ngoài các biện pháp trừng phạt trong lĩnh vực kinh tế và ngoại giao, hành động của tôi có thể là một cơ sở quan trọng và hữu ích.

Hỏi: Sau tất cả các cuộc cách mạng đó, trong đó một số đã dẫn đến sự sụp đổ của các nhà độc tài, hình như ông đã quyết định tận dụng làn sóng của “Mùa Xuân Arập”? Ông định dựa vào sức mạnh cách mạng đó để lật đổ chế độ hiện nay ở Têhêran chăng?

Trả lời: Đúng thế. Điều đó là chắc chắn. Và tôi nghĩ rằng rất nhiều trong số các cuộc cách mạng “Mùa Xuân Arập” đó cỏ thể lấy cảm hứng từ những gì đã xảy ra ở Iran cách đây một thập kỷ.

Hỏi: Chắc ông muốn nói đến cuộc bầu cử tổng thống năm 2002…?

Trả lời: Đúng vậy. Phong trào đó có thể mang lại nhiều hy vọng, ít nhất cũng cho thế hệ không thể chấp nhận nói “không” được nữa, dù ở Ai Cập, Libi hay một nước nào khác. Tôi nghĩ rằng cộng đồng quốc tế đã thấy rõ hiện nay không ai chấp nhận nguyên trạng và như vậy cần vượt ra ngoài khuôn khổ ngoại giao. Đã đến lúc phải đi theo hướng này và bây giờ chính là lúc phải hành động.

Tuy nhiên, có thể dư luận ở các nước phương Tây bắt đầu lo sợ trước sự lớn mạnh của một số nhóm được gọi là “Hồi giáo chính trị”. Tôi nghĩ đến phái Hồi giáo cực đoan ở Ai Cập và cả ở Tuynidi. Tôi muốn trấn an phần nào tâm trạng của phương Tây. Iran là một nước đã có 33 năm kinh nghiệm về Chính phủ tôn giáo và chúng tôi đang ở lối ra của đường hầm. Điều đó gần giống như bước vào giai đoạn hồi sinh… Đối với người Iran chúng tôi, vấn đề tôn giáo luôn được đề cập theo nghĩa thế tục hay truyền thống, có nghĩa là có sự tách biệt rõ ràng và dứt khoát giữa tôn giáo và Nhà nước.

Ở các nước này, hiện chưa biết các phần tử tôn giáo có tôn trọng quy định của dân chủ hay không, hay lại rơi vào guồng máy cực đoan. Tôi hy vọng cộng đồng quốc tế vẫn sẽ cảnh giác. Bởi vì nếu tình hình ở các nước này không thuận lợi thì không nên tiếp tục chính sách hỗ trợ nữa, kể cả khi chưa biết Hồi giáo chính trị có lên nắm quyền hay không.

Tại Iran, tình hình không thể xấu hơn hiện nay. Trường hợp Iran có thể phục vụ lợi ích của mình theo nghĩa người ta cảm thấy có khả năng kiểm soát thế tục và dân chủ. Nhưng điều đó cũng có thể tác động tới tất cả các nước đang hứng chịu làn gió “Mùa Xuân Arập”. Cũng như người Iran có thể lấy cảm hứng từ kết quả tích cực ở các nước này.

Hỏi: Ông có cảm thẩy mình có một sứ mệnh tập hợp phe đối lập hay không? Trong số những người chống lại nền quân chủ của cha ông trước đây, hiện có nhiều người dường như giờ đây lại hướng về phía ông… Ổng có khẳng định điều đó không?

Trả lời: Đúng thế. Nhưng đặc biệt, tôi khẳng định rằng đối với tôi đó không phải là một vai trò mới. Tôi vẫn luôn làm điều đó, nhưng yêu cầu hiện nay mạnh mẽ hơn, đặc biệt là ở trong nước. Hơn nữa là vì cũng không còn nhiều cá nhân có thể đóng vai trò này… Thêm vào đó, tôi nghĩ đơn giản rằng có thể mình là người duy nhất có khả năng làm việc này. Và tôi cũng nghe thấy nhiều nhóm nói ra điều đó, kể cả phái cộng hòa. Đó nhất

thiết không phải là những người theo phái quân chủ. Điều này là chắc chắn. Nhưng qua suy nghĩ và hành động của tôi, họ biết tôi là ứng cử viên tự nhiên để làm việc này.

Hỏi: Thực sự Iran không thể có tương lai với một nền quân chủ lập hiến…

Trả lời: Tôi lại nghĩ rằng hình thái cuối cùng của chế độ không quan trọng lắm một khi chế độ đó thích hợp với nguyên lý dân chủ. Đó là sự lựa chọn mà người Iran phải thực hiện. Điều quan trọng đối với tôi là nội dung của chế độ đó. Trên thế giới có một số nền quân chủ và cộng hòa lập hiến hoàn toàn phù hợp với dân chủ.

Trái lại, nội dung cần phải ăn nhập với vấn đề thế tục, trong một hệ thống phải là dân chủ. Và chắc chắn dư luận Iran, tuy còn có ý kiến khác nhau về hình thái, sẽ phải thống nhất về điểm này. Phe đối lập bác bỏ nhiều nhất là nội dung này và chính trên cơ sở đó mà lúc này tôi muốn tập hợp và mời các nhóm chính trị khác nhau của Iran hợp tác trong khuôn khổ một dự án chung. Sự hợp tác đó sẽ kéo dài đến ngày chúng tôi có thể tổ chức ở Iran bầu cử tự do, điều hiện nay vẫn chưa thể lên kế hoạch được vì chế độ hiện

nay vẫn còn tại vị…

Như vậy, phải thống nhất để cùng nhau làm việc về 4 nền tảng chính: nhân quyền, toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Iran, thế tục – nghĩa là tách bạch rõ ràng tôn giáo và Nhà nước, và chắc chắn là tổ chức bầu cử tự do…

Chúng tôi sẽ phải trao quyền lực vào tay đồng bào mình và họ sẽ là người quyết định. Đó là điều mà tôi dự định thực hiện. Chính xung quanh chủ đề đó mà tôi muốn tập hợp và thống nhất phe đối lập. cần phải đoạn tuyệt với tình trạng nhiều phe phái như hiện nay, nếu không muốn nói là sự “hỗn tạp”. Không những để có thể lãnh đạo phong trào ở trong nước mà còn để liên hệ với cộng đồng quốc tế sớm muộn sẽ cần có người đối thoại… Nhưng khi định giúp người Iran chúng tôi, cộng đồng quốc tế cần có một người nào đó để nói chuyện và một địa chỉ để thực hiện.

Hỏi: Địa chỉ đó liệu có thể ở Pari không? ông đã gặp Ngoại trưởng Pháp Alain Juppé và nước Pháp dường như sẵn sàng giúp ông tiến hành cuộc chiến từ lãnh thổ của họ như giáo chủ Ali Khamenei đã từng làm từ lâu đài Neauphle…

Trả lời: Ngoài chính sách của chính phủ hiện nay, Pháp là một nước mà tôi luôn có cảm giác đánh giá cao Iran. Tôi cũng có cảm giác đại bộ phận người Pháp đánh giá cao người Iran và hiểu nền văn hóa của người Iran hơn các nước khác… Pháp luôn vun đắp mối quan hệ với Iran và giới trí thức Pháp luôn quan tâm đến vấn đề Iran. Tôi thấy đó là một nền tảng lý tưởng, nhất là với chính sách hiện nay của Chính phủ Pháp. Tổng thống Nikolas Sarkozy đã cho thấy ông có quyết tâm và sự mạnh bạo cần thiết để hỗ trợ như trong trường họp Libi. Điều đó khiến tôi tin tưởng nhất. Chúng tôi có thể trông cậy vào sự hỗ trợ và giúp đỡ của Pháp hơn là của các nước khác. Cụ thể những hành động đó chắc chắn sẽ được dư luận Pháp úng hộ vì ho hiểu rằng điều đó là cần thiết để tránh những mối nguy hiểm lớn nhất: nguy cơ cách mạng lan rộng, phát triển chủ nghĩa cực hữu tôn giáo, khủng bố Người Pháp hiểu rằng thay đổi chế độ ở Iran không những có lợi cho Iran mà cho cả hòa bình thế giới và lợi ích của phương Tây, trong đó có lợi ích của Pháp.

Hỏi: Ông nói đến mối đe dọa hạt nhân Iran, song ông phản đối mọi cuộc can thiệp quân sự vào Iran… Đối với ông, liệu đó có phải là hướng người dân Iran tới một cuộc nổi dạy khổng?

Trả lời: Nhân dân (Iran-TTXVN) đã sẵn sàng làm việc đó, nhưng họ không thể một mình làm việc đó. Vì đó sẽ là lấy trứng chọi đá. Đúng là có một số phong trào biết cách sử dụng hành động bất tuân của dân chúng và phi bạo lực, chẳng hạn ở nhiều nước thuộc khối Đông Âu cũ, nhưng làm được như vậy cũng phải nhờ đến sự hỗ trợ của thế giới tự do có thể hỏi những người như Natan Sharansky – một nhân vật ly khai thuộc Liên Xô trước đây, Vaclav Havel hay Lech Walesa. Tôi nghĩ họ sẽ trả lời rằng họ thành công trong việc lật đổ các chế độ áp bức họ không phải vì không có sự hỗ trợ nào. Người dân không có vũ khí và phải đối mặt với một cơ câu maphia bán quân sự áp đặt phương thức điều hành bằng sức mạnh và sự tàn ác Chúng tôi không thể theo cách làm đó và giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực. cần phải dựa vào thái độ bất tuân của dân chúng có kỷ luật, nhưng chúng tôi không thể làm điều đó trong thế cô lập. Tuy nhiên, cũng không nên để thế giới nghĩ rằng chỉ có trừng phạt từ bên ngoài mới có thể giải quyết được vấn đề. Bởi lẽ nếu mục đích của trừng phạt vẫn là buộc chế độ đo phải thương lượng thì đó sẽ công dã tràng. Có bằng chứng cho thấy chế độ Têhêran không sẵn sàng thương lượng và không thể cùng tồn tại với bất kỳ ai. Như vậy phải nghĩ đến một chính sách nhằm thay đổi chế độ…

Nhưng đến lúc đó lại phải hiểu rằng một yếu tố áp lực bên trong là cần thiết. Nếu muốn tránh xảy ra tình hình xung đột quân sự thì không thể chỉ dựa vào áp lực không chắc chắn từ bên ngoài. Vậy chỉ còn một giải pháp: trực tiếp giúp đỡ các lực lượng dân chủ ở Iran. Nhưng lại phải tìm cách nào tốt nhất đế làm việc đó. Chính vì vậy, việc thành lập một hội đồng của phe đối lập là rất quan trọng, thậm chí mang tính sống còn… Bởi lẽ cộng đồng quốc tế sẽ qua đó xác định các lực lượng sẽ cùng với họ giải quyết vấn đề.

Hỏi: Câu hỏi cuối cùng liên quan đến các nước láng giềng của Iran… Arập Xêút, Baranh, Các tiểu vương quốc Arập thống nhất, Cata và Côoét đều lo ngại trước cách hành xử của chế độ Têhêran… Lúc này ông có cảm thấy các chế độ đó nhìn nhận ông như giải pháp thay thế đáng tin cậy giúp toàn khu vực tìm được hình thái cân bằng và ổn định hay không?

Trả lời: Tôi tin rằng các nhà lãnh đạo các nước này biết rõ rằng chừng nào chế độ hiện nay còn tại vị, mối đe dọa sẽ vẫn còn… Đây không phải là lần đầu tiên họ cảm thấy bị đe dọa, mà họ đã cảm thấy thế ngay từ đầu nhưng phải đến lúc này tình hình có thể nghiêm trọng hơn và, trong trường hợp xảy ra xung đột quân sự, họ có thể là nạn nhân đầu tiên của đòn đánh trả của Iran… Giờ đây, họ không thể ngồi yên mà phải hành động. Thách thức đã được đưa ta, chiến tranh đã bất đầu. vấn đề không phải là để cho chế độ đó uy hiếp mình nữa mà các nước nói trên phải đóng vai trò trong việc hỗ trợ phong trào dân chủ Iran.

Tôi kêu gọi các nước này. Tôi đã suy nghĩ trong 32 năm về vấn đề này… Tôi biết rõ rằng sự tồn tại của chúng tôi phụ thuộc trước hết vào việc thay đổi chế độ ở Iran và không phải chỉ trông chờ vào lực lượng nước ngoài vì sớm hay muộn họ sẽ rời sân khấu và để chúng tôi lại một mình…

Tôi muốn nói với các nước này: “Các bạn cần phải hành động vì đã có chúng tôi và chúng tôi có thể giúp các bạn và chúng tôi có thể tự giúp mình. Qua chúng tôi, các bạn có thể gặt hái được thành quả của việc giúp đỡ đó. Đây là lúc đưa ra một quyết định lớn lao…” Như tôi đã nói ở trên, đối với các nước này không phải là lúc sợ bị cáo buộc là can thiệp nữa, vì chế độ ở Iran sẽ đe dọa họ.

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
This entry was posted in Archives, Articles, International relations and tagged , , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s