Học giả Mỹ bàn về biển Đông

 

1. Học giả Mỹ bàn về ngoại giao nước lớn tại biển Đông

TVN – 09/03/2012 06:00:00 AM (GMT+7)

Tuần Việt Nam tiếp tục giới thiệu độc giả báo cáo mới nhất của các chuyên gia cố vấn Mỹ về biển Đông. Sau đây là nhận định của Ian Storey về chính sách ngoại giao của Trung Quốc tại khu vực này trong thời gian tới.

Các hành động ngày càng xác quyết của Trung Quốc tại biển Đông đang làm dấy lên mối lo ngại tại Đông Nam Á và xa hơn thế, vì chúng có thể đe dọa sự tiếp cận tới các hải trình quan trọng, làm tăng nguy cơ xảy ra xung đột vũ trang hoặc khủng hoảng trên biển và có thể làm xấu đi các quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc. Nhưng bất chấp những căng thẳng này, Trung Quốc ít có lẽ không cố tìm cách giải quyết các tranh chấp tại biển Đông bằng vũ lực, vì chi phí cho việc này sẽ lớn hơn nhiều những lợi ích nó có thể đem lại. Thực vậy, giới chức Trung Quốc nhiều khả năng sẽ tiếp tục chính sách mà họ đang áp dụng từ hơn hai thập kỷ qua: đó là nhấn mạnh cam kết hướng tới hòa bình, ổn định và hợp tác đồng thời khẳng định các đòi hỏi tài phán và mở rộng sự hiện diện vật chất của Trung Quốc tại biển Đông.

Tài liệu này sẽ phân tích các lợi ích của Trung Quốc tại biển Đông, các nỗ lực ngoại giao của nước này nhằm vừa trấn an các nước láng giềng, vừa củng cố các yêu sách của mình tại các khu vực tranh chấp. Sau đó, tác giả sẽ thử giải thích tại sao Trung Quốc thích ngoại giao song phương hơn là đa phương, nhưng tại sao trong hai thập kỷ qua, nước này lại tiến hành đàm phán hai thỏa thuận với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Kết luận cuối cùng của bài phân tích sẽ là các động lực cơ bản định hình chính sách của Trung Quốc ít khả năng thay đổi và vì vậy, sự nguyên trạng sẽ có thể kéo dài.

Lợi ích của Trung Quốc tại biển Đông

Trung Quốc có ba lợi ích chủ chốt tại biển Đông, và các lợi ích này có liên quan đến nhau. Đầu tiên, họ muốn khẳng định chủ quyền đối với cái mà họ coi là các quyền lịch sử của mình, bao gồm chủ quyền đối với tất cả các hình thái địa chất và có thể toàn bộ vùng trời phía trên vùng biển này. Thứ hai, họ muốn đảm bảo sự tiếp cận, dựa trên nền tảng các quyền lịch sử kể trên, với các nguồn tài nguyên biển, đặc biệt là cá, dầu mỏ, khí thiên nhiên và các khoáng sản dưới lòng biển. Thứ ba, họ muốn đảm bảo rằng các tuyến thông thương trên biển (SLOCs) được an toàn vì các tuyến thương mại huyết mạch này có vai trò sống còn đối với sự thịnh vượng kinh tế và các khát vọng quyền lực của Trung Quốc.

Đòi hỏi chủ quyền. Trung Quốc đòi “chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo tại biển Đông và các vùng nước liền kề”. Họ lập luận cho các yêu sách của mình dựa trên sự phát hiện, thời gian sử dụng lịch sử và sự kiểm soát về hành chính của các chính phủ liên tiếp của Trung Quốc từ triều đại nhà Hán thế kỷ thứ hai trước Công nguyên. Trung Quốc hỗ trợ cho các yêu sách của mình bằng các bản đồ đối chiếu, các phát minh khảo cổ và các kỷ lục lịch sử.

Tuy nhiên, không một bằng chứng nào kể trên phù hợp với luật pháp quốc tế hiện đại, vốn ủng hộ các yêu sách chủ quyền của những quốc gia có thể chứng minh sự quản lý một cách liên tục và hiệu quả. Trung Quốc không thể chứng minh điều này vì chính quyền trung ương của họ yếu kém trong thời loạn lạc trong nước và các cuộc xâm lược của nước ngoài thế kỷ 19 và 20, vì vậy không thể quản lý hiệu quả các đảo trên.

Điều này một phần giải thích tại sao Trung Quốc không muốn trình các yêu sách của mình lên trọng tài pháp lý quốc tế. Tuy nhiên, cần phải ghi nhận rằng các yêu sách lịch sử của các bên khác cũng thiếu thuyết phục.

Một trong các tài liệu lịch sử quan trọng nhất mà Trung Quốc viện dẫn cho các đòi hỏi của mình là một tấm bản đồ có từ thời Chính phủ Quốc dân đảng ở Trung Quốc năm 1947, trong đó vẽ một đường đứt đoạn đi qua bờ biển phía Tây của Philippines, tới bờ biển Borneo và sau đó tiếp tục đi lên phía Bắc dọc bờ biển phía Đông của Việt Nam. Sau khi lập nước năm 1949, Trung Quốc đã coi tấm bản đồ này như một trong các căn cứ cho các yêu sách của mình tại biển Đông. Ngày nay, các bản đồ chính thức của Trung Quốc tại Đông Nam Á vẽ 10 nét đứt, nhưng các bản đồ tại Trung Quốc chỉ có 9 nét, chính vì vậy họ thường quy chiếu tới đường 9 đoạn này.

Trung Quốc đã chính thức trình bản đồ này lên một tổ chức quốc tế lần đầu tiên vào ngày 7/5/2009, khi nó được kèm với một biên bản kiện lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa (CLSC) của LHQ về một bản phúc trình chung của Malaysia và Việt Nam. Bất chấp thực tế là tấm bản đồ này đã tồn tại 6 thập kỷ, Trung Quốc vẫn phải giải thích ý nghĩa của đường 9 đoạn và chứng minh nó phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật biển của LHQ (UNCLOS) năm 1982, mà nước này đã phê chuẩn năm 1996.

Bản đồ trên có thể được hiểu theo hai cách. Trước tiên là 9 nét đứt đánh dấu các khu vực chung chung xung quanh các hình thái địa chất chính mà Trung Quốc đòi hỏi. Ít nhất một trong các hình thái địa chất này là một đảo, tức là kèm theo nó là một vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) rộng 200 hải lý theo luật pháp quốc tế. Các hình thái địa chất lớn khác là các bãi đá ngầm, loại được phép kèm theo vùng nước dài 12 hải lý nhưng không tạo ra một EEZ riêng. Cách hiểu này có lẽ phù hợp hơn với luật pháp quốc tế ghi trong UNCLOS. Nó cũng phù hợp với các quy định pháp luật quốc gia của Trung Quốc năm 1992, trong đó đòi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Đông Sa, Trung Sa, Scarborough Shoal, Điếu Ngư/Senkaku, Penghu và Dongsha. Dù các yêu sách chính xác của Trung Quốc vẫn còn rất mập mờ, nhưng cách tiếp cận này nhìn chung phù hợp với luật pháp quốc tế.

Cách hiểu thứ hai là đường 9 đoạn giới hạn các “vùng biển lịch sử” của Trung Quốc tại biển Đông – tức là Trung Quốc đòi toàn bộ vùng biển nằm trong lòng đường đứt đoạn này. Theo quan sát của Đại sứ Lưu động của Singapore, và cựu Chủ tịch Hội thảo của LHQ về Luật Biển lần thứ 3 Tommy Koh, đòi hỏi như vậy của Trung Quốc không phù hợp với luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, hành vi ngày càng xác quyết của Trung Quốc đối với các nước có tranh chấp – như gây sức ép để các tập đoàn năng lượng nước ngoài không tham gia thăm dò ngoài khơi, áp đặt lệnh cấm đánh bắt và quấy nhiễu các hoạt động thăm dò dầu khí của các công ty dầu mỏ Đông Nam Á – cho thấy Bắc Kinh đang áp dụng các hiểu thứ hai.

Các quan chức Đông Nam Á coi đây là một diễn biến đáng lo ngại. Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario đã mô tả tấm bản đồ này “thực sự trao cho Trung Quốc chủ quyền đối với biển Đông”, và cựu Thứ trưởng của Singapore và chuyên gia về luật S. Jayakumar cho rằng tấm bản đồ này “gây hoang mang và khuấy động” vì nó không có căn cứ nào dựa trên UNCLOS và có thể “được hiểu là một yêu sách đối với toàn bộ các khu vực biển nằm trong đường 9 đoạn”. Cách hiểu này hủy hoại một số tiêu chuẩn của luật pháp quốc tế và gây nguy hại đến quyền tự do hàng hải.

Sự mở rộng các yêu sách của Trung Quốc, các hành vi xác quyết định kỳ của họ và việc họ từ chối giải thích tấm bản đồ trên đã gây lo ngại trên toàn Đông Nam Á. Việt Nam bác bỏ các yêu sách của Trung Quốc, Indonesia và Philippines đã chính thức khởi kiện đường 9 đoạn lên LHQ, và Singapore đã gọi điện tới Bắc Kinh yêu cầu làm rõ các yêu sách của mình. Nhưng Chính phủ Trung Quốc khước từ.

Tài nguyên biển. Biển Đông là một trong những vựa cá lớn nhất thế giới, chiếm tới 1/10 sản lượng đánh bắt cá toàn thế giới. Kho cá này, dù đang nhanh chóng suy giảm, không chỉ đóng vai trò tối quan trọng đối với an ninh lương thực của các nước châu Á mà còn là một nguồn thu nhập của ngư dân trong khu vực. Tuy nhiên quan trọng hơn, biển Đông còn chứa trong lòng nó những mỏ dầu khí lớn. Và một kết quả của các căng thẳng hiện nay trong khu vực là các công ty năng lượng quốc tế đã không thể hoàn tất các thăm dò chi tiết tại biển Đông, khiến các đánh giá về trữ lượng tiềm năng không giống nhau. Trung Quốc ước tính khoảng từ 100-200 tỷ thùng dầu đang nằm dưới lòng biển này, trong khi Nga và Mỹ đưa ra con số 1,6 – 1,8 tỷ thùng.

Trung Quốc ngày càng quan tâm tới nguồn tài nguyên dầu mỏ tiềm năng kể từ đầu những năm 1990, khi giá năng lượng và nhu cầu năng lượng toàn cầu đều tăng. Các hành động của Trung Quốc một phần xuất phát từ suy nghĩ rằng biển Đông là “một vùng Vịnh mới”. Sự phụ thuộc của Trung Quốc vào dầu mỏ nhập khẩu ngày càng tăng – dầu nhập từ nước ngoài chiếm 52% tổng lượng dầu tiêu thụ tại Trung Quốc vào năm 2009, con số này đã tăng lên 55% vào năm 2010 – an ninh năng lượng đã trở thành một khía cạnh quan trọng hơn trong tranh chấp tại biển Đông. Điều này giúp giải thích tại sao hành vi quấy nhiễu của Trung Quốc gần đây đối với các tàu thăm dò dầu khí được chính phủ các nước Đông Nam Á cho phép.

Thông qua các bình luận trên báo chí nhà nước, Trung Quốc đã cáo buộc một số nước Đông Nam Á có yêu sách trên biển Đông đang “chiếm đoạt” tài nguyên biển tại biển Đông, nguồn tài nguyên mà Trung Quốc cho là của mình dựa theo các “quyền lịch sử” quốc gia. Bắc Kinh liên tiếp khẳng định rằng các hành động của các công ty năng lượng nước ngoài tại biển Đông vi phạm chủ quyền của Trung Quốc. Họ kêu gọi các nước khác đòi chủ quyền phải ngừng thăm dò tài nguyên tại các khu vực mà Trung Quốc đòi chủ quyền, nhưng cả Việt Nam và Philippines đều bác bỏ yêu cầu này vì các đòi hỏi mở rộng của Trung Quốc không thuyết phục.

An ninh của các hải trình. Tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc phụ thuộc vào an ninh của các tuyến SLOCs, con đường xuất khẩu hàng hóa của nước này tới các thị trường quốc tế, đồng thời đưa hàng hóa, nguyên liệu đầu vào và tài nguyên năng lượng nhập khẩu vào Trung Quốc. Theo một số ước tính, 80% năng lượng nhập khẩu của Trung Quốc đi qua các chốt chiến lược tại Đông Nam Á – eo biển Malacca, Singapore, các eo biển Lombok, Makkassar và Sunda – và biển Đông. Tính dễ bị tổn thương về mặt chiến lược này được mọi người gọi là “tiến thoái lưỡng nan Malacca”.

Các năng lực của Hải quân của PLA đã được cải thiện trong thập kỷ qua, nhưng lực lượng này vẫn chưa có khả năng kiểm soát thực sự đối với các SLOCs ở xa, như các hải trình đi qua Ấn Độ Dương. Tuy nhiên, Trung Quốc đã ngày càng thể hiện sự ảnh hưởng lớn hơn đối với các tuyến SLOCs gần, đặc biệt là tại biển Đông. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm hai bên của các tuyến này, và đây là lý do quan trọng giải thích tại sao Trung Quốc tìm cách kiểm soát các quần đảo này.

Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/63321/hoc-gia-my-ban-ve-ngoai-giao-nuoc-lon-tai-bien-dong.html

2. Chính sách của Trung Quốc trong mắt học giả Hoa Kỳ (Chính sách nước đôi của Trung Quốc ở Biển Đông)

TVN – 10/03/2012 06:00:00 AM (GMT+7)

Chính sách của Trung Quốc liên quan đến các tranh chấp biên giới trên bộ và trên biển tại biển Đông tương đối nhất quán từ cuối những năm 1970.

Trung Quốc đã tìm cách trấn an những nước có yêu sách khác bằng cách liên tiếp nhấn mạnh các ý định hòa bình của mình trong khu vực và thiện chí tham gia hợp tác quản lý các nguồn tài nguyên biển, trong khi tìm cách kéo dài các cuộc thảo luận về vấn đề này để có thời gian củng cố các yêu sách của mình tại biển Đông. Với việc củng cố các năng lực quân sự và tăng sự tự tin về chính trị, Trung Quốc đã hành xử xác quyết hơn tại biển Đông. Họ đáp lại những chỉ trích về cách hành xử của mình bằng việc hòa giải mang tính chiến thuật, nhưng các nền tảng của chính sách vẫn không thay đổi. Một số quan chức Đông Nam Á đã gọi chính sách nước đôi này là “miệng nói tay làm”.

Trấn an các nước láng giềng trong khu vực. Cuối những năm 1970, Đặng Tiểu Bình đã đưa ra một công thức để “giải quyết” tranh chấp: các bên nên gạt sang một bên vấn đề chủ quyền và cùng nhau khai thác nguồn tài nguyên biển. Tuy nhiên, không rõ liệu ông Đặng hay người kế nhiệm ông đã bao giờ coi đây là một đề xuất thực tế hay chưa. Trung Quốc chưa bao giờ thể hiện thiện chí gạt sang một bên các yêu sách lãnh thổ hay đề xuất một khuôn khổ cho sự hợp tác khai thác như thế. Tuy nhiên, ý tưởng này vẫn là câu thần trú trong chính sách của Trung Quốc, và đến nay vẫn vậy.

Nhiều năm qua, Trung Quốc nhấn mạnh rằng tranh chấp tại biển Đông là một vấn đề song phương. Tuy nhiên, cuối những năm 1990, họ đã đưa ra một quyết định chiến lược là kéo ASEAN tham gia vấn đề này ở khía cạnh ngoại giao, và kết quả là ký kết Tuyên bố về cách ứng xử của các bên tại biển Đông (DOC) năm 2002. Thỏa thuận này nhằm giảm căng thẳng và xây dựng niềm tin bằng việc thực thi các biện pháp xây dựng lòng tin hợp tác (CBMs). Nhưng Trung Quốc vẫn tiếp tục đóng vai trò kẻ phá quấy, cả trong việc thương lượng thỏa thuận và các nỗ lực thực thi sau đó. Mỗi khi Trung Quốc có vẻ đưa ra một nhượng bộ, như ký kết thỏa thuận hay nhất trí các hướng dẫn thực thi vào năm 2011, thì ngay sau đó họ lại chặn đứng việc thực thi các hướng dẫn hay bất kỳ CBMs nào.

Trung Quốc đã tìm cách củng cố các đòi hỏi chủ quyền của mình tại biển Đông trong một số năm qua. Sau khi họ gửi phản đối lên Ủy ban CLCS năm 2009, thì đầu năm 2010 các quan chức cấp cao Trung Quốc liên tục nói với các đồng cấp Mỹ rằng biển Đông là một “lợi ích cốt lõi”. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton cho biết Ủy viên Quốc vụ Đới Bỉnh Quốc – vị cố vấn có tầm ảnh hưởng lớn nhất về chính sách đối ngoại của Trung Quốc cho giới lãnh đạo cấp cao – đã nhắc lại thái độ xác quyết này tại cuộc Đối thoại Chiến lược và Kinh tế Mỹ – Trung tại Bắc Kinh tháng 5/2010. Một số quan sát viên cho đây là một cách để đẩy vấn đề biển Đông lên ngang tầm với các vấn đề cực kỳ nhạy cảm như Đài Loan và Tây Tạng. Điều này có nghĩa là tranh chấp tại biển Đông là không thể thương lượng và Trung Quốc đã chuẩn bị để sử dụng vũ lực để bảo vệ các yêu sách của mình.

Việc Trung Quốc coi biển Đông là một “lợi ích cốt lõi” cũng gây lo ngại trong toàn khu vực. Tại cuộc họp của Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) tháng 7/2010, 12 quốc gia – trong đó có tất cả các nước thành viên ASEAN có yêu sách biển Đông – đã thể hiện những lo ngại về các diễn biến tại biển Đông, khiến Trung Quốc cũng phải ngạc nhiên. Sau đó, các quan chức chính phủ và các học giả Trung Quốc đã ngừng coi biển Đông là lợi ích cốt lõi. Đáng chú ý là Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào không sử dụng cụm từ này trong chuyến thăm cấp nhà nước tới Mỹ tháng 1/2011.

Tuy nhiên, vấn đề này lại nổi lên vào tháng 8/2011, khi một bài xã luận được Tân Hoa Xã đưa một lần nữa nhấn mạnh “chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc đối với các vùng biển, quần đảo và các vùng nước xung quanh”, và cho rằng các khu vực này là một phần “lợi ích cốt lõi của Trung Quốc”. Gần như ngay sau đó, Chính phủ Trung Quốc đã công bố Sách Trắng mang tên “Sự phát triển hòa bình của Trung Quốc”, trong đó liệt kê chủ quyền là một trong các “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc, bên cạnh an ninh quốc gia, sự toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất dân tộc. Sách Trắng cũng khẳng định quyền của Trung Quốc “cương quyết bảo vệ” bốn điểm chìa khóa này. Dù tài liệu trên không nêu đích danh biển Đông, nhưng nó cũng cho thấy Bắc Kinh coi khu vực này là một trong các lợi ích cốt lõi của mình.

Trung Quốc khẳng định rằng họ sẵn sàng tham gia đàm phán song phương với các nước đòi chủ quyền khác, nhưng các cuộc đàm phán này không hấp dẫn các nước liên quan. Tuy nhiên, Trung Quốc tiếp tục nhấn mạnh cách giải quyết song phương, hơn là đa phương, và kịch liệt bác bỏ cái mà họ gọi là “quốc tế hóa” tranh chấp. Vì vậy, Trung Quốc phản đối thảo luận vấn đề tại các cuộc họp an ninh của khu vực như ARF và Hội nghị thượng đỉnh Đông Á. Trên thực tế, Trung Quốc đã gạt được vấn đề này ra khỏi chương trình nghị sự của ARF cho đến năm 2010, đến khi 12 nước bày tỏ lo ngại về các hành động ngày càng xác quyết của Trung Quốc tại biển Đông. Trung Quốc chắc chắn sẽ cố để tranh chấp biển Đông không được đem ra giải quyết tại nhóm làm việc về an ninh biển do Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN+ thành lập tháng 10/2010.

Bắc Kinh hoàn toàn bác bỏ vai trò của các bên thứ ba trong tranh chấp, đặc biệt là Mỹ, nước mà họ cáo buộc là can thiệp, hay “xía vào việc của người khác”. Trung Quốc cho rằng lợi ích ngày càng lớn của Mỹ tại biển Đông xuất phát từ các lợi ích mà họ không nói ra như sử dụng tranh chấp làm cái cớ để mở rộng sự hiện diện quân sự tại châu Á, và cảnh báo các nước Đông Nam Á – đặc biệt là Việt Nam – không nên khuyến khích sự can dự của Mỹ. Khi Ngoại trưởng Clinton gợi ý rằng Mỹ sẽ tạo điều kiện cho các cuộc đàm phán về thực thi DOC, Trung Quốc đã kiên quyết phản đối.

Trung Quốc cũng phản đối sử dụng trọng tài pháp lý quốc tế, một phần vì cách này sẽ cho phép sự can dự của một thể chế đa phương, trong khi họ không có cơ sở đủ mạnh. Trung Quốc đã từ chối đề xuất của Philippines năm 2011 trình các yêu sách lãnh thổ chồng lấn và yêu sách biên giới lên Tòa án Luật biển Quốc tế (ITLOS), cơ quan được thành lập theo UNCLOS để giải quyết các tranh chấp biển giữa các quốc gia đã phê chuẩn công ước này. Đề xuất này nhằm có được sự ủng hộ của khu vực đối với các nỗ lực quốc tế hóa trong giải quyết tranh chấp biển Đông. Nhưng Trung Quốc đã loại bỏ điều khoản về ITLOS khi phê chuẩn UNCLOS, tức là nước này sẽ hầu như chắc chắn tiếp tục phản đối đề xuất trên.

Dù một số quốc gia Đông Nam Á đã trình các tranh chấp lãnh thổ của mình lên Tòa án Công lý Quốc tế xét xử, Trung Quốc gần như chắc chắn cũng sẽ phản đối một việc đưa vấn đề biển Đông lên tòa án này.

Sự hiện diện của Trung Quốc tại biển Đông. Trong hai thập kỷ qua, Trung Quốc đã ngày càng mở rộng sự hiện diện vật chất tại biển Đông. Việc này diễn ra một cách chậm chạp nhưng vững chắc, một phần là kết quả của sức ép tài nguyên, nhưng cũng là một nỗ lực nhằm tránh gây hoang mang thái quá đối với các nước láng giềng.

Trung Quốc đã mở rộng sự hiện diện của mình ban đầu bằng cách tăng các chuyến tuần tra của các tàu lớn của Hải quân và các cơ quan thực thi pháp luật về biển, như Cơ quan Quản lý nghề cá khu vực biển Đông và cơ quan Giám sát biển Trung Quốc (CMS). Nước này thường xuyên sử dụng các cơ quan dân sự thực thi pháp luật biển, thay vì sử dụng Hải quân, để củng cố các yêu sách về tài phán của mình tại biển Đông, vì việc sử dụng tàu chiến sẽ chỉ làm leo thang căng thẳng.

Tuy nhiên, các báo cáo định kỳ cho thấy tàu chiến của Hải quân Trung Quốc bắn súng vào các tàu đánh cá và đối đầu với các lực lượng hải quân các quốc gia Đông Nam Á tại biển Đông. Năm 2010, báo chí Nhật Bản đã nói về một cuộc chạm trán giữa các lực lượng Hải quân Trung Quốc và Malaysia, và tháng 2/2011, một tàu khu trục của Hải quân Trung Quốc được đưa tin là đã bắn cảnh cáo các tàu cá Philippines gần cồn san hô Jackson.

Cơ quan Quản lý nghề cá khu vực biển Đông là cơ quan đầu tiên thực thi lệnh cấm đánh bắt cá đơn phương mà Trung Quốc đưa ra hàng năm. Các tàu của CMS thì đe dọa một số tàu thăm dò của Philippines và Việt Nam năm 2011. Tháng 3/2011, hai tàu CMS đã quấy nhiễu tàu MV Veritas Voyager của Philippines gần bãi Cỏ Rong (phía Tây đảo Palawan), và buộc tàu này phải rút lui. Hai tháng sau đó, ngày 26/10, các tàu của CMS đã công khai cắt cáp thăm dò địa chất của tàu Bình Minh 02 của Việt Nam, khi tàu này đang hoạt động trong EEZ của Việt Nam. Sau đó vào ngày 9/6, tàu cá Trung Quốc được trang bị đặc biệt đã cắt cáp của một tàu thăm dò khác của Việt Nam, tàu Viking 2.

Các sự cố trên cho thấy Trung Quốc đang sử dụng các năng lực hải quân không chỉ để thực thi các yêu sách tài phán của mình, mà còn để gửi đi một thông điệp tới các nước tại Đông Nam Á có đòi hỏi chủ quyền về cái giá phải trả nếu thách thức Trung Quốc.

Các quan chức Trung Quốc đã tuyên bố rằng nước này sẽ không sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp. DOC và Hiệp ước Bằng hữu và Hợp tác của ASEAN năm 1976, mà Trung Quốc gia nhập năm 2003, đều cấm sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp giữa các nước. Trên thực tế, Hải quân Trung Quốc đã không tham gia vào một cuộc đụng độ quân sự nghiêm trọng tại biển Đông kể từ sau khi tấn công các lực lượng của Việt Nam tại cồn san hô Jackson năm 1988, làm hơn 70 người Việt Nam thiệt mạng. Trung Quốc hiểu rằng hành động quân sự công khai sẽ phản tác dụng vì nó sẽ hoàn toàn hủy hoại lập luận “phát triển/nổi lên hòa bình” của họ, khiến một số nước ASEAN củng cố quan hệ chiến lược với Mỹ.

Tuy nhiên, việc hiện đại hóa lực lượng Hải quân đã tạo cho Trung Quốc các năng lực gây sức ép đối với các nước đòi chủ quyền khác, và nếu cần, sử dụng vũ lực một cách dứt khoát. Một số nhân vật cứng rắn trong quân đội được báo chí đưa là đã muốn sử dụng vũ lực để “dạy một bài học” cho các nước Đông Nam Á, nhưng hiện tại, không có bằng chứng nào cho thấy đấy là một sự chuyển hướng gì đó mà chỉ là một cái nhìn thiểu số trong lực lượng vũ trang. Vì vậy, khi Hải quân và các cơ quan thực thi luật pháp biển trở nên năng động hơn và xác quyết hơn tại biển Đông, nguy cơ ngày càng lớn là một sự cố vô tình trên biển có thể leo thang thành một cuộc khủng hoảng ngoại giao và quân sự nghiêm trọng hơn. Sự thiếu vắng các cơ chế đề phòng xung đột giữa các nước có đòi hỏi chủ quyền khiến kịch bản này càng đáng lo ngại hơn.

Hành xử của Trung Quốc trong sáu tháng đầu năm 2011 rõ ràng cho thấy chính sách nước đôi của họ, vừa trấn an nước khác vừa củng cố yêu sách của mình. Nhằm sửa chữa một số hỏng hóc về ngoại giao mà các hành động của Trung Quốc gây ra năm 2010, các quan chức cấp cao nước này – gồm Thủ tướng Ôn Gia Bảo, Bộ trưởng Ngoại giao Dương Khiết Trì và Bộ trưởng Quốc phòng Lương Quang Liệt – đã công du Đông Nam Á để trấn an các nước trong khu vực, rằng sự nổi lên của Trung Quốc là hòa bình và có lợi về kinh tế, và nước này không tìm cách bá chủ. Về tranh chấp biển Đông, các vị lãnh đạo cấp cao này nhấn mạnh sự ủng hộ đối với DOC, tôn trọng tự do hàng hải và mong muốn hợp tác khai thác nguồn tài nguyên biển. Tại cuộc Đối thoại Shangri-La tháng 6 tại Singapore, Tướng Lương đã giảm căng thẳng bằng cách nhận định rằng tình hình tại biển Đông đã “ổn định” và nói rằng Trung Quốc muốn “hòa bình và ổn định”.

Nhưng như đã nói ở trên, các căng thẳng từ tháng Ba đã bùng lên sau các hành động xác quyết của các tàu tuần tra Trung Quốc ở ngoài khơi bờ biển Philippines và Việt Nam, làm rộng thêm khoảng cách giữa lời nói và hành động của Trung Quốc.

Dù Trung Quốc không chiếm một đảo nào kể từ năm 1995 sau khi chiếm đảo Vành Khăn mà Philippines cũng đòi chủ quyền, nhưng thông tin về việc các tàu Trung Quốc tháo dỡ vật liệu xây dựng, dựng một số trụ cột và thả phao ở gần Iroquois Reef-Amy Douglas Bank (phía Tây Nam bãi Cỏ Rong) hồi tháng 5/2011 có thể cho thấy một sự thay đổi trong chính sách. Nếu thông tin này là có thực – trên thực tế chính quyền Philippines không đưa ra bằng chứng thuyết phục – thì đó sẽ là sự vi phạm nghiêm trọng nhất kể từ khi DOC được ký kết, vì một trong các điều khoản quan trọng của văn bản này cấm chiếm đóng các đảo chưa có người ở.

Dù Trung Quốc không chiếm thêm một hình thái địa chất nào tại quần đảo Trường Sa từ năm 1995, nhưng họ tích cực xây dựng cơ sở hạ tầng quân sự tại Hoàng Sa và trên 9 đảo mà họ chiếm đóng tại Trường Sa.

Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/63480/chinh-sach-nuoc-doi-cua-trung-quoc-o-bien-dong.html

3. Học giả bàn về ý đồ “chia để trị” của Trung Quốc tại biển Đông

TVN – 11/03/2012 06:00:00 AM (GMT+7)

Các nước Đông Nam Á đòi chủ quyền tỏ ra không hài lòng với kiểu khăng khăng với cách tiếp cận song phương của Trung Quốc. Vì Trung Quốc là bên liên quan mạnh nhất, các nước khác e là nước này đang cố ý “chia để trị” và sẽ mạnh hơn trong các cuộc thương lượng song phương. Hơn nữa, Trung Quốc chỉ ủng hộ các cuộc đối thoại song phương khi họ là một bên liên quan.

Chính sách song phương của Trung Quốc với các nước đòi chủ quyền khác. Trung Quốc nhấn mạnh rằng tranh chấp biển Đông chỉ có thể được giải quyết thông qua các đối thoại song phương, dù vấn đề mang bản chất đa phương. Mặc dù vậy, trong hai thập kỷ qua không hề diễn ra một cuộc đối thoại thực sự nào giữa Trung Quốc với bất kỳ quốc gia đòi chủ quyền nào tại Đông Nam Á, có thể vì sự bất cân bằng về quyền lực, sự thiếu chân thành từ phía Trung Quốc, sự thiếu vắng các cơ chế hiệu quả, và gần đây nhất là việc các bên chính có quan điểm ngày càng cứng rắn hơn. Các lãnh đạo cấp cao của Trung Quốc thảo luận về tranh chấp với các đồng cấp Đông Nam Á tại các cuộc họp cấp cao, nhưng các tuyên bố cuối cùng của hội nghị thường không cụ thể và không đi xa hơn những tuyên bố chung chung về sự cần thiết của việc duy trì hòa bình và ổn định tại biển Đông.

Các nước Đông Nam Á đòi chủ quyền tỏ ra không hài lòng với kiểu khăng khăng với cách tiếp cận song phương của Trung Quốc. Vì Trung Quốc là bên liên quan mạnh nhất, các nước khác e là nước này đang cố ý “chia để trị” và sẽ mạnh hơn trong các cuộc thương lượng song phương. Hơn nữa, Trung Quốc chỉ ủng hộ các cuộc đối thoại song phương khi họ là một bên liên quan. Không có chuyện Chính phủ Trung Quốc sẽ thừa nhận hiệu lực hay tính pháp lý của một thỏa thuận qua thương lượng giữa hai hay nhiều nước Đông Nam Á liên quan đến các yêu sách lãnh thổ chồng lấn của họ tại biển Đông. Trung Quốc đã thể hiện điều này hồi tháng 5/2009, khi kịch liệt phản đối phúc trình chung của Malaysia và Việt Nam lên CLCS liên quan đến một khu vực đáy biển ở phía Nam biển Đông. Trong một giác thư của mình, Trung Quốc nhắc lại “chủ quyền không thể tranh cãi của mình đối với các quần đảo tại biển Đông và các vùng nước liền kề” và cho rằng phúc trình của Malaysia và Việt Nam đã “vi phạm nghiêm trọng chủ quyền, các quyền chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc tại biển Đông” và kêu gọi ủy ban trên không xem xét phúc trình đó.

Trước mọi cuộc đàm phán song phương nghiêm túc, Trung Quốc đều muốn nhấn mạnh hai điều kiện: rằng chủ quyền của họ đối với các đảo trên biển Đông là không thể tranh cãi, và rằng các nước có yêu sách phải gạt sang một bên yêu sách chủ quyền của mình và cùng tham gia khai thác tài nguyên với Trung Quốc theo công thức của Đặng Tiểu Bình.

Trung Quốc đã tuyên bố như vậy về quần đảo Hoàng Sa. Việt Nam cũng đòi chủ quyền đối với quần đảo này nhưng Bắc Kinh từ chối thảo luận vấn đề này với Hà Nội với lý do việc họ chiếm đóng quần đảo này năm 1974 đã khép lại vấn đề này. Tranh chấp Hoàng Sa vì vậy trở nên thực sự không thể thương lượng.

Hơn nữa, Trung Quốc chưa bao giờ nói rõ công thức của ông Đặng sẽ được thực thi như thế nào. Các câu hỏi lớn vẫn không có lời đáp, như Các hoạt động hợp tác thăm dò sẽ diễn ra ở đâu? Nước nào sẽ tham gia? Đài Loan có được phép tham gia hay không? Và chi phí và lợi nhuận sẽ được chia sẻ như thế nào?

Vào năm 2005, Trung Quốc, Philippines và Việt Nam đã nhất trí hợp tác thăm dò địa chấn trong ba năm về biển Đông, mang tên Thỏa ước hợp tác thăm dò địa chấn biển (JMSU). Tuy nhiên, trước khi nghiên cứu này được thực thi, JMSU đã trở thành chủ đề của một cuộc tranh cãi chính trị tại Philippines khi họ phát hiện rằng một số hoạt động thăm dò được tiến hành ở ngoài khơi Philippines, vi phạm hiến pháp nước này. Thỏa thuận này đã hết hiệu lực vào tháng 6/2008 và không được gia hạn thêm.

Triển vọng hợp tác khai thác càng ít khả thi sau khi Trung Quốc trình bản đồ có vẽ đường 9 đoạn lên CLCS năm 2009. Cả Việt Nam và Philippines đều nhận thấy rằng bản đồ của Trung Quốc không có cơ sở luật pháp quốc tế và không thể trở thành căn cứ cho một thỏa thuận hợp tác khai thác tài nguyên vì nó bao chùm trên 80% diện tích biển Đông – bao gồm các khu vực chồng lấn với EEZ của họ. Hai nước này cho rằng hợp tác khai thác chỉ có thể diễn ra tại các khu vực được tất cả các bên thừa nhận là đang có tranh chấp. Nhưng lại rất khó phân định giữa các khu vực có tranh chấp và không thể tranh cãi, chừng nào Trung Quốc chưa nói rõ các yêu sách của mình.

Bất chấp các chướng ngại lớn này, Philippines gần đây đã đề nghị một nỗ lực hợp tác khai thác mới gọi là Vùng Hòa bình, Tự do, Bằng hữu và Hợp tác (ZoPFF/C). Đó là một tiến trình gồm hai bước. Đầu tiên là tách biệt các khu vực đang tranh chấp như quần đảo Trường Sa khỏi các khu vực mà Philippines không coi là có tranh chấp, như các vùng bờ biển và thềm lục địa. Như đã nói ở trên, Manila cho rằng các yêu sách của Trung Quốc đối với gần như toàn bộ khu vực biển Đông là không có hiệu lực và họ định khởi kiện bản đồ đường 9 đoạn của Bắc Kinh tại ITLOS. Thứ hai, các nước có yêu sách sẽ rút các lực lượng quân sự của mình khỏi các đảo đang chiếm đóng và thiết lập một khu vực hợp tác chung để quản lý tài nguyên biển.

Các ngoại trưởng ASEAN đã nhất trí xem xét kế hoạch này của Philippines vào tháng 7/2011, và đến tháng Chín, một cuộc họp của đại diện pháp lý từ các nước thành viên đã kết luận rằng đề xuất của Philippines có cơ sở pháp lý. Tuy nhiên, Trung Quốc phản đối ZoPFF/C. Báo chí đưa tin họ đã thể hiện sự phản đối tại hội nghị của các chuyên gia tư pháp ASEAN, và các bài xã luận trên báo chí nhà nước đã nhạo đề xuất này là một “trò lừa đảo” và cáo buộc Philippines không chân thành. Thiếu sự ủng hộ của Trung Quốc, đề xuất trên có ít cơ hội trở thành hiện thực.

Trong số 6 nước có đòi hỏi chủ quyền, chỉ Việt Nam và Trung Quốc đã thiết lập một cơ chế chính thức đề giải quyết tranh chấp. Năm 1994, hai nước này đã thành lập một nhóm làm việc chung để thảo luận về các tranh chấp tại biển Đông. Các cuộc thương lượng song phương giữa Trung Quốc và Việt Nam đã giải quyết thành công các tranh chấp, trong đó có các vấn đề liên quan biên giới trên bộ và tại vịnh Bắc Bộ. Tuy nhiên, quá trình giải quyết tranh chấp tại biển Đông đã bị đóng băng, chủ yếu vì Trung Quốc từ chối thảo luận về quần đảo Hoàng Sa, và vì cả hai bên đều không muốn thỏa hiệp các yêu sách chủ quyền của mình. Tuy nhiên, quá trình này đã được nối lại.

Trong một cuộc phỏng vấn hồi tháng 5/2011, Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Hồ Xuân Sơn cho biết hai bên đã tiến hành 5 vòng đàm phán nhằm thiết lập “các nguyên tắc hướng dẫn” về một giải pháp cho tranh chấp này. Hai vòng đàm phán đã diễn ra sau đó vào tháng 6 và tháng 8/2011, bất chấp căng thẳng gia tăng trong quan hệ Việt – Trung. Truyền thông Việt Nam đưa tin một “thỏa thuận sơ bộ” đã đạt được trong vòng đàm phán thứ 7 vào tháng 8/2011. Nhưng chi tiết của “thỏa thuận” này vẫn mập mờ và chỉ nhắc lại cam kết của hai bên đối với DOC, tầm quan trọng của việc tránh các hành động có thể “làm phức tạp thêm” tranh chấp, và cam kết không sử dụng vũ lực. Tuy nhiên cuối tháng đó, các quan chức quốc phòng Việt Nam và Trung Quốc đã nhất trí tiếp tục “các cuộc tham vấn và thương lượng”.

Trung Quốc chưa thiết lập một cơ chế ngoại giao chính thức để thảo luận về biển Đông với Philippines, Malaysia hay Brunei. Philippines đang tiến hành các cuộc đối thoại an ninh và quốc phòng thường niên với Trung Quốc, nhưng không rõ liệu tranh chấp tại biển Đông có được nói tới trong các cuộc họp này hay không. Tổng thống Philippines Benigno Aquino gần đây đã bác bỏ các cuộc đàm phán song phương với Trung Quốc về tranh chấp này, thay vào đó muốn đưa các yêu sách của Philippines lên ITLOS. Malaysia dường như thuận hơn trong các cuộc đàm phán song phương với Trung Quốc, nhưng không có bằng chứng nào cho thấy các cuộc thảo luận thực sự đã được diễn ra giữa hai nước này. Giữa Trung Quốc với Brunei cũng vậy.

Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/63485/y-do–chia-de-tri–cua-trung-quoc-tai-bien-dong.html

4. Hậu quả của việc không thực thi DOC tại biển Đông

TVN – 12/03/2012 05:00 GMT+7

Trung Quốc đã định hình được các nội dụng của thỏa thuận nhằm phản ánh các chính sách và lợi ích của họ. Đặc biệt, Trung Quốc đã thành công trong việc xóa bỏ sự ám chỉ tới phạm vi địa lý của thỏa thuận (Việt Nam muốn nêu rõ tên Hoàng Sa) và xóa bỏ một điều khoản cấm nâng cấp các cơ sở hạ tầng vốn có tại các đảo chiếm đóng.

Chính sách ngoại giao đa phương của Trung Quốc với ASEAN về biển Đông. Dù ưu tiên đối thoại song phương, nhưng cũng đã tham gia vào ngoại giao đa phương với ASEAN từ đầu những năm 2000 nhằm đánh bóng hình ảnh của mình trong khu vực và cải thiện quan hệ với Đông Nam Á sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997 -1998.

Cam kết ngoại giao giữa Trung Quốc và ASEAN đã dẫn tới DOC năm 2002, nhưng 9 năm kể từ khi tuyên bố này được ký kết, các bên đã không thể thực thi các điều khoản ghi trong đó. Trung Quốc rất giỏi gây trở ngại cho tiến trình này, họ không bao giờ thực sự nghiêm túc trong việc thực thi thỏa thuận. Một bước đột phá đã xảy ra tháng 7/2011, khi hai bên cuối cùng ký các Nguyên tắc hướng dẫn thực thi DOC. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, bản hướng dẫn này ít có khả năng giảm căng thẳng, ít nhất trong ngắn hạn.

DOC kêu gọi các bên phát triển một bộ quy tắc chính thức về cách ứng xử của các bên tại biển Đông (COC), nhưng khả năng đạt một bộ quy tắc như vậy rất ít vì sự phản đối của Trung Quốc và các vấn đề liên quan đến các nước giữ cương vị Chủ tịch ASEAN trong 4 năm tới.

Nguồn gốc của DOC có thể xuất phát từ các va chạm gia tăng tại biển Đông giữa những năm 1990 sau khi Trung Quốc chiếm đóng đảo Vành Khăn. Nhằm giảm căng thẳng, ASEAN đã nhất trí soạn thảo một bộ quy tắc ứng xử. Vì tính phức tạp của tranh chấp chủ quyền, bộ quy tắc này không được xem là một cơ chế giải quyết xung đột mà chỉ là một cách quản lý xung đột nhằm tạo ra một môi trường mang tính xây dựng cho một giải pháp chính trị hoặc pháp lý sau này cho vấn đề. ASEAN đã thăm dò ý kiến Trung Quốc vào năm 1999 về việc tham gia các cuộc thảo luận, nhưng Bắc Kinh phản ứng lạnh nhạt, cho rằng Tuyên bố chung ASEAN – Trung Quốc năm 1997 đã đại diện cho bộ quy tắc ứng xử chính trị cấp cao nhất. Tuy nhiên, đầu năm 2000, Trung Quốc đã thay đổi quan điểm và nhất trí thảo luận một bộ quy tắc ứng xử với ASEAN. Đây là một sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc cuối những năm 1990, theo đó thừa nhận giá trị của các khuôn khổ đa phương trong việc truyền tải thông điệp rằng sức mạnh đang lên của Trung Quốc không đặt ra một mối đe dọa nào đối với sự ổn định của khu vực.

Trong hai năm thảo luận sau đó, Trung Quốc đã định hình được các nội dụng của thỏa thuận nhằm phản ánh các chính sách và lợi ích của họ. Đặc biệt, Trung Quốc đã thành công trong việc xóa bỏ sự ám chỉ tới phạm vi địa lý của thỏa thuận (Việt Nam muốn nêu rõ tên Hoàng Sa) và xóa bỏ một điều khoản cấm nâng cấp các cơ sở hạ tầng vốn có tại các đảo chiếm đóng. Trung Quốc, được Malaysia hỗ trợ, cũng thành công trong việc đặt tên thỏa thuận này là “Tuyên bố” chứ không phải là “Bộ quy tắc” như Việt Nam và Philippines mong muốn. Đây không đơn thuần là vấn đề từ vựng: một tuyên bố sẽ là một tuyên bố chính trị về ý định của các bên chứ không phải là một công cụ pháp lý với các biện pháp chế tài hoặc trừng phạt. Tuy nhiên, để làm hài lòng Hà Nội, dự thảo cuối cùng đã khẳng định rằng mục đích cuối cùng của các bên là lập ra một bộ quy tắc chính thức về biển Đông.

DOC được ký kết tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN ngày 4/10/2002 tại Phnom Penh (Campuchia). Các bên tham gia ký kết nhất trí tuân theo các tiêu chuẩn quốc tế về cách hành xử, như giải quyết hòa bình các tranh chấp và nhất trí không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; tôn trọng tự do hàng hải; thực hiện “kiềm chế” để không “làm phức tạp thêm hoặc leo thang” tranh chấp (quan trọng hơn, không “đưa người đến sống” tại các hình thái địa chất đang hoang hóa); cùng nhau thực hiện các CBMs ; tiến hành đối thoại và tham vấn; và nỗ lực hướng tới một bộ quy tắc về ứng xử.

Căng thẳng đã giảm trong nửa đầu những năm 2000, và DOC thường xuyên được viện dẫn như một lý do giải thích việc này. Tất cả các bên tranh chấp tôn trọng điều khoản không đưa người đến sống tại các hình thái địa chất đang hoang hóa, nên dù các cuộc đấu khẩu vẫn tiếp diễn nhưng không leo thang đáng kể, và JMSU năm 2005 đã được hợp lý hóa theo Khoản 6 của DOC, trong đó kêu gọi hợp tác nghiên cứu khoa học.

Tuy nhiên trên thực tế, DOC ít liên quan đến những các động lực của tranh chấp. Ngoại trừ JMSU, không biện pháp xây dựng lòng tin nào được nhắc tới trong DOC tồn tại trên thực tế, chủ yếu vì ASEAN và Trung Quốc không đạt tiến bộ về một khuôn khổ thực thi thỏa thuận này. Phải đến năm 2004 các quan chức cấp cao mới nhất trí thiết lập một Nhóm Làm việc Hỗn hợp để soạn thảo các hướng dẫn thi hành. Trong vòng 4 năm sau đó, nhóm này chỉ họp 3 lần – vào năm 2005, 2006 và họp không chính thức vào năm 2008 – và không đạt thỏa thuận nào.

Trở ngại chính không phải là bản chất hay địa điểm diễn ra các hoạt động hợp tác, mà là một điểm rất nhỏ về thủ tục: Trung Quốc phản đối đưa vào bản hướng dẫn thực thi này một điều khoản (Khoản 2) nói rằng các thành viên ASEAN sẽ tham vấn lẫn nhau trước các cuộc họp với các quan chức Trung Quốc. ASEAN thấy rất khó chấp nhận quan điểm của Trung Quốc, vì Hiến chương của Hiệp hội năm 2007 quy định các thành viên “hợp tác và bày tỏ các quan điểm chung” trong quan hệ với bên ngoài. Tuy nhiên, các quan chức ASEAN đã phải chịu nhượng bộ sau khi đã cố gắng làm dịu những lo ngại của Trung Quốc và nhắc lại điều khoản này 21 lần mà vẫn không được. Vì Trung Quốc không thể ngăn cản các thành viên ASEAN bàn bạc tham vấn, nên họ tìm cách cản trở việc thực thi.

Căng thẳng leo thang trong những năm 2009 – 2010 đã cho thấy hậu quả của việc không thực thi DOC. Các căng thẳng này cũng đã thách thức độ đáng tin cậy của ASEAN và tuyên bố được nhắc đi nhắc lại thường xuyên của Hiệp hội này, tự coi mình là “trung tâm” của kiến trúc an ninh châu Á. Ở cương vị Chủ tịch ASEAN năm 2010, Việt Nam đã đặt ưu tiên cho vấn đề này và đã đạt thành công nho nhỏ: Nhóm Làm việc Hỗn hợp đã gặp nhau hai lần trong năm 2010 – tại Hà Nội vào tháng Tư và tại Côn Minh (Trung Quốc) và tháng 12 – nhưng cũng không đạt thỏa thuận nào. Indonesia cũng thúc đẩy vấn đề này khi đảm nhiệm cương vị Chủ tịch luân phiên ASEAN năm 2011: Nhóm Làm việc Hỗn hợp đã họp tháng Tư tại Medan, vào đúng thời điểm các căng thẳng leo thang rất nhanh tại biển Đông. Trung Quốc đã áp dụng các chiến thuật cương quyết hơn trong thời gian từ tháng 3 – 4/2011, trong đó có việc quấy nhiễu các tàu thăm dò của Việt Nam và Philippines. Giữa năm đó, căng thẳng tại biển Đông đã leo thang đến cực điểm kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh.

Tuy nhiên, cuối tháng 7/2011, bế tắc cuối cùng đã được khai thông khi ASEAN, vì sự cần thiết phải thúc đẩy tiến trình DOC và cũng là để thử các cam kết nhiều lần của Trung Quốc về việc thực thi tiến trình này, đã nhất trí thông qua tuyên bố chính thức rằng các thành viên Hiệp hội sẽ tham vấn trước khi gặp Trung Quốc. Thực vậy, phiên bản cuối cùng của Khoản 2 nói rằng các bên có ý định “thúc đẩy đối thoại và tham vấn”. Tuy nhiên, theo một báo cáo, biên bản sơ lược của cuộc họp giữa các quan chức ASEAN và Trung Quốc cho thấy ASEAN định tiếp tục các cuộc tham vấn trước như vậy. Trung Quốc có vẻ đã chấp nhận điều khoản này vì một thỏa thuận với ASEAN giúp đánh lạc hướng sự chỉ trích về hành vi hiếu chiến gần đây của họ, và vì bản hướng dẫn cũng là một thành công ngoại giao của Bắc Kinh.

Bản hướng dẫn thi thành cực kỳ mập mờ và sẽ không ảnh hưởng tới các lợi ích của Trung Quốc hay ngăn cản nước này theo đuổi chính sách của mình tại biển Đông. Văn bản này nói rằng DOC sẽ được thực thi “từng bước”, sự tham gia các dự án hợp tác sẽ là tự nguyện và các CBMs sẽ được quyết định qua đồng thuận. Nói tóm lại, bản hướng dẫn không đi xa hơn những điều khoản tương tự trong DOC.

Trung Quốc hài lòng ra mặt với kết quả này, vì họ chẳng phải nhượng bộ gì mà lại được tiếng là có thái độ xây dựng. Ngoại trưởng Dương Khiết Trì nói rằng việc ký kết bản hướng dẫn thi hành DOC “có ý nghĩa to lớn”. Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario lại đưa ra nhận định thực tế hơn khi nói đây là một bước tiến về phía trước, đồng thời cảnh báo “các yếu tố cần thiết để bản hướng dẫn thi hành là một thành công vẫn còn chưa đầy đủ” và DOC vẫn “chưa có chân”. Tuy nhiên, thỏa thuận giữa Trung Quốc – ASEAN không mở đường cho các cuộc đối thoại về việc vạch ra và tiến hành các CBMs như thế nào. Quá trình này sẽ là phép thử xem liệu Trung Quốc có chân thành đối với việc thực thi CBMs, hay họ sẽ cố kéo dài quá trình này.

ASEAN đã nhượng bộ với Trung Quốc, coi đây như một bước tiến hướng tới một bộ quy tắc ứng xử chính thức. Ngoại trưởng Indonesia Marty Natalegawa nhấn mạnh điều này khi ông phát biểu với báo giới tại ARF rằng sự nguyên trạng tại biển Đông “không phải là một lựa chọn” và “đạt được bản hướng dẫn thực thi DOC rồi, chúng ta phải tiến về phía trước để đạt một bộ quy tắc ứng xử”. Ông nhấn mạnh rằng hiện giờ việc hình thành bộ quy tắc là “cuộc chơi chính” tại biển Đông.

Tuy nhiên, Trung Quốc không ủng hộ quan điểm này. Ngoại trưởng Dương nói nước ông để ngỏ cửa cho một thỏa thuận như vậy “vào một thời điểm thích hợp”, câu mà các quan chức Trung Quốc thường dùng để nói đến một mục đích xa vời. Trung Quốc thích thực thi DOC đầu tiên, trước khi chuyển sang một bộ quy tắc chính thức. Nhận thấy sự miễn cưỡng của Trung Quốc trong việc thúc đẩy bộ quy tắc, ASEAN đã quyết định đưa ra sáng kiến.

Theo tuyên bố cuối hội nghị Ngoại trưởng ASEAN tháng 7/2011, các nước thành viên đã bắt đầu thảo luận về một bộ quy tắc ứng xử, và các quan chức cấp cao đã đề nghị trình một báo cáo về tiến bộ đạt được lên Hội nghị Cấp cao ASEAN tháng 11/2011. Tuy nhiên, báo cáo của Chủ tịch cho thấy có ít tiến bộ cụ thể. Nó chỉ khẳng định tầm quan trọng của DOC, nhấn mạnh sự cần thiết “phải tăng cường nỗ lực” để hoàn thành một bộ quy tắc ứng xử khu vực, hoan nghênh việc thông qua bản hướng dẫn thực thi DOC đạt được tháng 7/2011, hoan nghênh một cuộc thảo luận giữa ASEAN nhằm xác định “các yếu tố có thể là quan trọng cho một bộ quy tắc ứng xử khu vực”, và nhấn mạnh “tầm quan trọng của một cách tiếp cận dựa trên quy tắc trong việc quản lý và giải quyết tranh chấp”.

Nhưng quan điểm của ASEAN về vai trò của Trung Quốc vẫn chưa rõ ràng. Nếu Trung Quốc được mời tham gia các cuộc thảo luận về khung sườn của bộ quy tắc, họ có thể sẽ tìm cách kéo dài các cuộc thảo luận và làm phai nhạt các đề xuất, như đã làm với DOC. Nếu ASEAN lập được một sườn quy tắc cho chính mình và đề nghị các nước khác gia nhập, Trung Quốc hầu như chắc chắn sẽ từ chối vì họ không hề tham gia các cuộc thảo luận.

Triển vọng không mấy lạc quan này về bộ quy tắc ứng xử càng trở nên mờ mịt hơn khi chiếc ghế Chủ tịch ASEAN lại đổi chủ. Tiến bộ hạn chế vừa đạt được trong hai năm qua là kết quả của việc Việt Nam và Indonesia tích cực thúc đẩy các nỗ lực khi đảm nhận cương vị Chủ tịch ASEAN năm 2010 và 2011. Nhưng động lực ngoại giao này ít khả năng tồn tại trong bốn năm tới. Campuchia đảm nhận chức Chủ tịch ASEAN trong năm 2012. Chính phủ của ông Hun Sen có quan hệ mật thiết về kinh tế và chính trị với Trung Quốc và sẽ không muốn làm tổn hại đến các quan hệ này chỉ vì Trường Sa. Phnom Penh cũng có quan hệ mật thiết với Hà Nội, nhưng ít khả năng ho sẽ tích cực thúc đẩy bộ quy tắc ứng xử trong thời gian giữ chức Chủ tịch.

Đến năm 2013, Brunei đảm nhận cương vị luân phiên này. Dù Brunei cũng là một nước có đòi hỏi chủ quyền, họ lại chưa bao giờ có sáng kiến lớn nào về biển Đông. Myanmar và Lào sẽ đảm nhận chức Chủ tịch vào năm 2014 và 2015. Cũng như Campuchia, cả hai nước này đều rất thân với Trung Quốc và sẽ không coi biển Đông là một ưu tiên trong nhiệm kỳ của mình.

Kết luận

Các lợi ích của Trung Quốc tại biển Đông sẽ mở rộng trong các thập kỷ tới khi chủ nghĩa dân tộc gia tăng, cơn khát tài nguyên của nước này ngày càng lớn và an ninh tại các hải trình trở nên ngày càng quan trọng. Chính sách của Trung Quốc sẽ vẫn nhất quán, cả về nội dung và cách thức tiến hành. Trung Quốc sẽ không nhượng bộ các yêu sách chủ quyền của mình. Họ sẽ tiếp tục nhấn mạnh chủ nghĩa song phương, dù các cuộc đàm phán nghiêm trúc ít khả năng xảy ra. Họ sẽ bác bỏ một bên thứ ba hay trọng tài pháp lý, và sẽ ngày càng sử dụng các tài sản trên biển của mình để khẳng định các đòi hỏi lãnh thổ và tài phán của mình, đồng thời gửi tới các nước Đông Nam Á thông điệp về mối nguy hiểm nếu dám thách thức.

Nhưng Trung Quốc sẽ không sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp vì làm như vậy sẽ gây tổn hại lớn đến hình ảnh quốc tế cũng như ngoại giao khu vực của họ, và những cái giá này sẽ là quá lớn so với những gì thu được. Các nỗ lực của Trung Quốc nhằm mở rộng kiểm soát trên thực tế tại biển Đông vì vậy sẽ tăng mạnh. Sự nguyên trạng nhiều khả năng sẽ vẫn được bảo toàn trong tương lai gần, và vì vậy, căng thẳng sẽ tiếp tục lúc lên lúc xuống như thủy triều.

Nguồn: http://www.baomoi.com/Home/TheGioi/tuanvietnam.vietnamnet.vn/Hau-qua-cua-viec-khong-thuc-thi-DOC-tai-bien-Dong/8045103.epi

CHÂU GIANG DỊCH TỪ CNAS

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
This entry was posted in Archives, Articles, International relations and tagged , , , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s