Những vết rạn trong nền tảng toàn cầu

TVN – 23/03/2012 06:00:00 AM (GMT+7)

Thái độ thách thức của Trung Quốc đối với các tiêu chuẩn về biển hiện tại tạo ra những vết nứt trong một trật tự toàn cầu mà các nước đã tạo ra sau hai cuộc chiến tranh thế giới nhằm thúc đẩy hòa bình và thịnh vượng. Trong bối cảnh này, vai trò lãnh đạo hiệu quả và liên tục của Mỹ sẽ là cần thiết để chống lại các thách thức từ Trung Quốc và củng cố nền tảng của trật tự toàn cầu hiện nay.

Trung Quốc khẳng định các lợi ích của mình bằng những cách thức đe dọa các tiêu chuẩn nền tảng đang điều chỉnh thông lệ toàn cầu trên biển. Xu hướng này được thể hiện rõ nhất tại biển Đông, nơi các chính sách và hoạt động của Trung Quốc đang thách thức sự ổn định và an ninh. Trung Quốc đang thách thức các chuẩn mực này theo hai cách.

Thứ nhất, họ thách thức các quy định đã được thiết lập trong Công ước Luật Biển của LHQ (UNCLOS), vốn cho phép các nước được hưởng vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa. Trên thực tế, Trung Quốc viện dẫn một “đường chín đoạn” lịch sử để biện hộ cho các quyền tài phán của mình trên biển, thay vì dựa vào quy định về EEZ hay thềm lục địa. Quan điểm như vậy gây bất đồng với các nước láng giềng của Trung Quốc.

Thứ hai, Trung Quốc thách thức quyền của các lực lượng hải quân tiến hành các hoạt động quân sự, tập trận và thu thập thông tin tình báo trong EEZ của các nước khác. Dù Trung Quốc thực chất hưởng lợi từ trật tự hiện nay, nhưng quan điểm của Bắc Kinh về một số tiêu chuẩn quan trọng điều khiển các hoạt động quân sự thông qua hệ thống toàn cầu lại khác với cách hiểu của Mỹ và các nước khác.

Các hành động như trên của Trung Quốc vừa gây bất ổn tại biển Đông và làm suy yếu các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế vốn nhằm đẩy lùi bất ổn quốc tế và tránh xung đột vũ trang. Thái độ thách thức của Trung Quốc đối với các tiêu chuẩn về biển hiện tại tạo ra những vết nứt trong một trật tự toàn cầu mà các nước đã tạo ra sau hai cuộc chiến tranh thế giới nhằm thúc đẩy hòa bình và thịnh vượng.

Nhiều thập kỷ qua, trật tự này đã mở ra khả năng tiếp cận với các thị trường, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thương mại, cũng như các cơ chế để giải quyết tranh chấp một cách hòa bình. Châu Á – và đặc biệt tại Đông Á – đã hưởng lợi rất lớn từ hệ thống toàn cầu này, với việc Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Indonesia và Đài Loan được lần lượt xếp hạng nền kinh tế lớn thứ 2, 3, 12, 15 và 19 thế giới. Bất chấp các vết nứt trong trật tự này, vai trò lãnh đạo hiệu quả và liên tục của Mỹ sẽ là cần thiết để chống lại các thách thức của Trung Quốc và củng cố nền tảng của trật tự toàn cầu hiện nay.

Ba trụ cột của toàn cầu hóa hiện đại

Sự tiếp cận cởi mở và dựa trên thị trường đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thương mại là một trong các trụ cột của toàn cầu hóa hiện đại. Đây là một sự khác biệt quan trọng so với toàn cầu hóa một thế kỷ trước đây và là một lực lượng quan trọng giúp duy trì ổn định, cho phép tất cả các nước tiếp cận với các phương tiện để phát triển và tăng trưởng. Đặc biệt, hệ thống này từng tạo điều kiện nhiều nhất cho sự nổi lên về kinh tế của Trung Quốc.

Khác với Nhật Bản và Đức, những nước ngay từ đầu thế kỷ trước đã bị các cường quốc thực dân cứng rắn cô lập khỏi các nguồn tài nguyên mà họ cần để gia tăng tài sản và quyền lực, Trung Quốc ngày nay có khả năng cạnh tranh giành nguồn tài nguyên dựa trên nền tảng công bằng hợp lý với các cường quốc đã được thiết lập. Trung Quốc được hưởng lợi rất lớn từ việc họ không mất công phá vỡ hệ thống để gia nhập nó. Nói cách khác, thế kỷ đó đã bắt đầu tuy nó đã kết thúc. Theo Alan Taylor, vào năm 1911 “các thị trường vốn toàn cầu đã hội nhập đến mức độ ấn tượng như ngày nay”. Vốn nước ngoài trên GDP đã tăng bền vững từ năm 1870 -1914, giảm mạnh trong thời gian từ năm 1914 đến những năm 1980 vì hai cuộc chiến tranh thế giới và Chiến tranh Lạnh, rồi lại tăng trong hai thập kỷ cuối thế kỷ 20. Tương tự, thương mại thế giới tính trên GDP đạt 10% vào năm 1870, đã tăng lên 21% vào năm 1914, giảm xuống còn 9% vào năm 1938 và tăng trở lại 27% vào năm 1992.

Tuy nhiên, có những khác biệt lớn về cấu trúc giữa thế giới toàn cầu hóa năm 1911 với toàn cầu hóa ngày nay. Năm 1911, các đế quốc rộng lớn chế ngự toàn cầu, nhất là tại các lục địa Á – Âu – Phi và các vùng ngoại biên. Đế chế Anh và các thuộc địa của họ bao gồm Vương quốc Anh; Canada, New Zealand; Nam Phi; tiểu lục địa Ấn Độ; phần lớn phía Đông, Tây và Nam châu Phi; Malaysia, phần lớn Nam Mỹ, Trung Mỹ và các đảo Carribbea; Hong Kong và các lãnh thổ nhượng quyền khác tại Trung Quốc; và vô số đảo trên toàn cầu. Tổng cộng, Anh kiểm soát 25% diện tích lãnh thổ thế giới và cũng chừng đó phần trăm dân số, vì vậy họ chế ngự phần lớn nguồn tài nguyên và các thị trường toàn cầu. Tương tự, Pháp kiểm soát Đông Dương, Madagascar và các đảo khác tại Ấn Độ Dương và khoảng 1/3 châu Phi. Nga chế ngự phần trung tâm Á – Âu, tương đương khoảng 20% diện tích lãnh thổ toàn thế giới, và người Hà Lan, Bồ Đào Nha, Đức và Italy kiểm soát trực tiếp các lãnh thổ hải ngoại, nguồn tài nguyên và các thị trường của nó.

Năm 1911, chỉ có 45 quốc gia độc lập hoàn toàn, trong đó 21 nước ở Bắc và Nam Mỹ, chiếm gần 47%. Như vậy chỉ 24 quốc gia có chủ quyền kiểm soát toàn bộ lãnh thổ châu Âu, châu Phi, nhiều nơi ở châu Á, các quần đảo châu Á, Australia và Đại Tây Dương, cũng như dân cư và nguồn tài nguyên của mảnh đất rộng lớn này. Trung Quốc, dù độc lập trên danh nghĩa, nhưng cũng chỉ có vậy. Cuối năm 1911, tàn dư cuối cùng của triều đại nhà Tần một thời oanh liệt đã sụp đổ, và một nước cộng hòa yếu kém mới chỉ bắt đầu vươn lên từ đống tro tàn. Tại nhiều khu vực, đặc biệt ở dọc bờ biển, sự ổn định được duy trì không chỉ nhờ các chính quyền bản địa mà còn nhờ 8 nước ngoài với các lãnh thổ nhượng quyền tại Trung Quốc. Ngược lại, năm 2011 có tới 197 quốc gia độc lập trên thế giới.

Một điểm khác biệt giữa năm 1911 và 2011 là sự phân bố rộng rãi hơn của quyền lực chính trị đã cho phép các cư dân bản địa tiếp cận nguồn tài nguyên và các thị trường. Tuy nhiên, dù các điều kiện chính trị địa phương tạo cơ hội cho địa phương tiếp cận rộng rãi – và kiểm soát – lợi nhuận thu được từ nguồn tài nguyên địa phương, nhưng số lượng ngày càng nhiều quốc gia tham gia hệ thống thương mại toàn cầu đã thúc đẩy cạnh tranh và các nguyên tắc thị trường.

Trụ cột thứ hai của toàn cầu hóa hiện đại là sự phát triển của các thể chế quốc tế giúp tăng cường sự ổn định về chính trị, kinh tế và quân sự, giúp các quốc gia tiếp cận được các nguồn tài nguyên và các thị trường. Năm 1911, các Công ước Hague – một số thỏa thuận giới hạn tập trung ban đầu vào việc tiến hành chiến tranh – là các thỏa thuận quốc tế duy nhất lúc đó để ngỏ cho tất cả quốc gia tham gia. Chúng chỉ tồn tại một thập kỷ, và một số Công ước Hague chưa bao giờ được toàn cầu công nhận. Chúng đã thiết lập thể chế quốc tế thường trực duy nhất trên thế giới, đó là Tòa án Trọng tài Thường trực, bắt đầu hoạt động khi chiến tranh thế giới thứ nhất chấm dứt phong trào hướng tới sự hợp tác quốc tế. Mục đích của tòa án này là hỗ trợ các nước trong vai trò một trọng tài phân xử tranh chấp, nhưng nó không được thừa nhận rộng rãi khi mới thành lập và chỉ phân xử một số ít trường hợp. Một phần điều này là vì tồn tại tương đối ít tiêu chuẩn và luật pháp quốc tế được toàn cầu công nhận vào năm 1911 để tòa áp dụng. Vì vậy, sự tích lũy sức mạnh quốc gia – nhất là sức mạnh quân sự – vẫn là cách chủ yếu để các nước trở nên giàu có. Vì một số ít các nước có chủ quyền lại kiểm soát rất nhiều lãnh thổ, tài nguyên và thị trường theo hệ thống thuộc địa, nên các lãnh đạo này có lợi thế để phát triển sức mạnh quân sự và có thể ngăn cản một cường quốc mới nổi muốn có được sự giàu có tương tự. Vì thế, các nước mới nổi nói chung không có lựa chọn nào ngoài việc phải phá vỡ hệ thống vốn có bằng vũ lực để phát triển. Vì vậy, các chuẩn mực và đạo luật cấm sử dụng vũ lực xuất hiện rất chậm.

Nhưng khi các tiêu chuẩn này bắt đầu xuất hiện nhiều hơn – đặc biệt là sau chiến tranh thế giới I – các nước mới nổi cuối cùng lại bác bỏ chúng. Họ cho rằng các tiêu chuẩn này là sự ràng buộc của các nước nguyên trạng như Anh và Pháp, vì muốn duy trì vai trò bá chủ toàn cầu của mình nên cấm các nước mới nổi như Đức và Nhật làm giàu, trở nên hùng mạnh và có ảnh hưởng. Các tiêu chuẩn, quy định và thể chế ngày nay đã xuất hiện từ sau cuộc chiến tranh thế giới II nhằmể quản lý những thay đổi về quyền lực kinh tế mà không dẫn tới chiến tranh tái diễn. Kiến trúc thể chế quốc tế đồ sộ và hệ thống luật pháp quốc tế đã phát triển hiện nay tạo một cấu trúc tiêu chuẩn mạnh để đảm bảo khả năng tiếp cận với các nguồn tài nguyên dựa trên nguyên tắc thị trường, đảm bảo sự độc lập của các quốc gia có chủ quyền, bảo vệ các nước này tránh khỏi ngoại xâm và đảm bảo tự do thương mại của hàng hóa toàn cầu.

Trụ cột thứ ba của toàn cầu hóa là sự ổn định tại các vùng biển quốc tế. Nền tảng của sự ổn định này gồm hai yếu tố. Một là tự do tiếp cận với sức mạnh biển đảm bảo thương mại và bảo vệ chủ quyền quốc gia. Sức mạnh biển bao gồm cả lực lượng hải quân và các lực lượng thực thi pháp luật biển của các quốc gia ven biển, như lực lượng bảo vệ bờ biển. Hai là một nền tảng pháp lý cho phép thực thi các quyền chủ quyền đối với tài nguyên biển tại các khu vực địa lý đặc biệt trên biển, trong khi đảm bảo tự do quốc tế trong việc tiếp cận và sử dụng các khu vực này để tiến hành hầu như tất cả các hoạt động không liên quan đến tài nguyên.

  • Còn tiếp

Châu Giang (dịch từ CNAS)

———–

http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/65305/nhung-vet-ran-trong-nen-tang-toan-cau.html

———-

Thử thách trật tự địa chính trị trên biển Đông

TVN -24/03/2012 05:00 GMT+7

Tại các vùng biển chung, sức mạnh hải quân giúp tạo sự ổn định trên biển, từ đó tạo điều kiện cho sự vận hành tốt của hệ thống toàn cầu và đem lại lợi ích kinh tế cho các quốc gia.

Quản lý các vùng biển chung

Sức mạnh hải quân dựa trên các quyền rộng lớn về tiếp cận các đại dương trên thế giới để đảm bảo an ninh khu vực, tránh nguy cơ xung đột giữa các quốc gia; khả năng tiếp cận như vậy cho phép các quốc gia răn đe và ngăn cản các nước khác theo đuổi chính sách xâm lược. Hiến chương Liên hợp quốc (LHQ) quy định các khái niệm này trong lời mở đầu, nói rằng LHQ được thiết lập “để thống nhất sức mạnh của chúng ta nhằm duy trì hòa bình và ổn định quốc tế, và đảm bảo, thông qua việc chấp nhận các nguyên tắc và lập ra các biện pháp, rằng các lực lượng vũ trang không được sử dụng, trừ phi để bảo vệ lợi ích chung”.

Bên cạnh gìn giữ hòa bình giữa các quốc gia, sức mạnh hải quân cũng đảm nhận một vai trò cảnh sát. Trong một số trường hợp hãn hữu, nó có thể thực thi quyền tài phán chung để trấn áp các hoạt động tội phạm trên biển, như hải tặc hay buôn người. Vai trò cảnh sát của lực lượng hải quân cũng có thể hỗ trợ đặc quyền thực thi luật pháp của các nước đối với tàu thuyền của mình và của các nước ven biển trong các vùng nước thuộc quyền tài phán của mình khi cần.

Như vậy, hải quân được huy động một cách hiệu quả để trấn áp các hoạt động buôn bán ma túy bất hợp pháp; chống chủ nghĩa khủng bố xuyên quốc gia; phổ biến vũ khí thông thường và phổ biến vũ khí giết người hàng loạt. Nhiệm vụ này một phần thực hiện lời kêu gọi của Hiến chương LHQ “thể hiện khoan dung và cùng chung sống hòa bình với nước khác như các láng giềng tốt, và … sử dụng bộ máy quốc tế để thúc đẩy sự tiến bộ kinh tế và xã hội cho tất cả các dân tộc”.

Có thể vì không quốc gia nào có chủ quyền đối với các vùng biển chung, nên các thể chế quốc tế đã phát triển để thúc đẩy luật pháp quốc tế về việc quản lý các vùng biển này. Trong thế kỷ từ 1911 đến 2011, một số khía cạnh quan trọng của luật pháp quản lý các vùng biển chung đã thay đổi đáng kể, vì các tiến bộ kỹ thuật mở ra khả năng khai thác dầu khí dưới lòng biển và vì sức ép đè lên vựa cá lớn này do đánh bắt quá tải trong khi lại thiếu cơ quan quản lý có thẩm quyền. Kết quả là các quốc gia ven biển ngày càng giành quyền thực thi quyền tài phán và điều khiển nhiều hoạt động trên biển, đặc biệt là các hoạt động liên quan đến tài nguyên. Bất chấp các xu hướng này, các nước đã duy trì các tiêu chuẩn chính cho phép họ sử dụng hải quân để ngăn chặn các mối đe dọa trên biển nhằm đảm bảo an toàn thương mại và an ninh quốc gia.

Thông qua quá trình này, biển đã biến đổi từ một không gian rộng lớn không được quản lý thành một khu vực mà hơn 40% diện tích của nó trở thành đối tượng để thể hiện quyền lực quốc gia. Nếu như vào năm 1911, chỉ có ba dạng không gian đại dương – là nội thủy, lãnh hải (chỉ rộng 3 hải lý), và biển cả – thì ngày nay, có một loạt các quyền tài phán trên biển, bao gồm các khu vực tiếp giáp, các vùng nước thuộc quần đảo và thềm lục địa mở rộng. Khi các dạng tài phán khác nhau này phát triển trong thế kỷ 20, Mỹ đảm bảo rằng các tiêu chuẩn tiếp cận tự do vẫn được duy trì – trong khi các quốc gia ven biển vẫn ngày càng có nhiều quyền đối với tài nguyên biển – nhằm đảm bảo hải quân thực hiện hiệu quả chức năng an ninh của mình và sử dụng hợp pháp vào thời điểm và địa điểm cần thiết.

Dù một số người cố lập luận theo cách khác, khả năng tiếp cận tự do tới các vùng biển chung vẫn luôn là trọng tâm trong các ý tưởng của Mỹ về chiến lược an ninh và chính sách pháp lý. Thực vậy, Mỹ đã liên tiếp lao vào các cuộc chiến tranh để bảo vệ các giá trị này. Lần sử dụng sức mạnh quân sự đầu tiên của nước Mỹ mới chào đời là lần cử hải quân đi bảo vệ tự do của các vùng biển bị hải tặc tấn công ở ngoài khơi bờ biển Bắc Phi. Một nguyên nhân chính của cuộc chiến tranh giữa Anh và Mỹ năm 1812 là việc các tàu chiến Anh ép buộc các thuyền nhân Mỹ, và việc Anh âm mưu giới hạn hoạt động thương mại giữa Anh với Pháp và các lãnh thổ thuộc địa.

Trong những năm đầu thế kỷ 20, như một quan sát viên gần đây ghi nhận: Chính sách của Mỹ trong thời chiến tranh thế giới thứ nhất tập trung chủ yếu vào sự vận chuyển an toàn của một lượng lớn binh lính Mỹ và hỗ trợ hậu cần qua các vùng biển mà tàu ngầm Đức kiểm soát trên Đại Tây Dương, như họ đã làm trong một chiến lược liên minh với các lực lượng vũ trang đồng minh trên đất liền ở Bắc Âu. Khi xung đột bùng phát trở lại trong hai thập kỷ cuối, sự phối kết hợp giữa các lực lượng trên biển và trên bộ vẫn là trọng tâm của đại chiến lược Mỹ. Mỹ cung cấp các công cụ mà Winston Churchill cần, nhưng chỉ sau khi họ được đi qua biển an toàn.

Ngày nay, Trung Quốc thách thức quyền cơ bản về tự do tiếp cận biển vì các mục đích quân sự, dù chính họ đang được hưởng lợi rất nhiều từ sự ổn định trên biển ở khu vực và trên thế giới mà các lực lượng hải quân Mỹ và đồng minh gìn giữ nhiều năm qua kể từ năm 1978, khi ông Hoa Quốc Phong đưa ra chính sách Mở cửa và Phát triển hòa bình của Trung Quốc. Sự ổn định trên biển đó, được đảm hải quân Mỹ đảm bảo, đã tạo điều kiện cho hơn ba thập kỷ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và hướng tới xuất khẩu của Trung Quốc, vốn chủ yếu dựa vào thương mại bằng đường biển. Tuy nhiên, Trung Quốc lại khăng khăng ép Mỹ và các lực lượng hải quân Đông Á chấp nhận các tiêu chuẩn khắt khe hơn liên quan đến quốc gia ven biển và sự tác động của hải quân nước ngoài tại các vùng biển mới được phát triển trong thế kỷ 20, đặc biệt là EEZ. Hơn nữa, Trung Quốc thách thức các nước láng giềng của mình và tất cả các quốc gia biển bằng yêu sách mở rộng và toàn diện đối với biển Đông.

Thử thách nền tảng trật tự trên biển Đông

Công ước luật biển của LHQ (UNCLOS) có lẽ là nền tảng an ninh biển quan trọng nhất để áp dụng với biển Đông. Nó xác định các giới hạn chủ quyền và tài phán trên biển của quốc gia ven biển và cân bằng một cách cẩn thận giữa các quyền và nghĩa vụ của quốc gia ven biển với các quyền và nghĩa vụ quốc tế sao cho bảo vệ hợp lý các lợi ích của cả các quốc gia ven biển và cộng đồng quốc tế. Luật pháp quốc gia và các chính sách của Trung Quốc hủy hoại nền tảng cho trật tự này theo hai cách.

Thứ nhất, Trung Quốc đòi quyền không loại trừ đối với các khu vực rất rộng trên biển Đông theo cách mà UNCLOS không ủng hộ. Cơ chế pháp lý mà qua đó Trung Quốc đòi quyền này là Luật về Lãnh hải và Vùng tiếp giáp năm 1992 của Trung Quốc, theo đó nước này có chủ quyền đối với tất cả các quần đảo trên biển Đông – quần đảo Đông Sa (Pratas), Hoàng Sa, Trung Sa (Macclesfield Bank), và cả Trường Sa. Luật quốc tế chỉ thừa nhận chủ quyền lãnh thổ của một quốc gia có người sống tự nhiên trên đảo hoặc ít nhất duy trì sự quản lý và kiểm soát hiệu quả đối với đảo đó, bao gồm cả khả năng ngăn chặn người khác. Trung Quốc chiếm Hoàng Sa và có thể khẳng định sự quản lý hiệu quả đối với Trung Sa. Các lực lượng của Đài Loan (ROC) chiếm quần đảo Đông Sa, và vì Trung Quốc và Đài Loan là một thực thể chủ quyền, nên Trung Quốc cũng có thể đòi chủ quyền ở đây. Tuy nhiên, tình hình tại Trường Sa rất  khác. Có hơn 100 hình thái địa chất nhỏ, chỉ khoảng 53 trong số này bị chiếm đóng hoặc kiểm soát bởi một quốc gia đòi chủ quyền. Trung Quốc chỉ chiếm 8 trong số 53, tuy nhiên luật Trung Quốc khẳng định chủ quyền của nước này đối với toàn bộ Trường Sa.

Thứ hai, luật năm 1998 của Trung Quốc về Vùng đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa khẳng định quyền tài phán của nước này đối với một vùng rộng 200 hải lý tính từ tất cả các lãnh thổ của Trung Quốc. Trong bản phúc trình tháng 4/2011 lên LHQ, Trung Quốc đã lần đầu tiên chính thức đòi toàn bộ EEZ rộng 200 hải lý xung quanh từng đảo trong quần đảo Trường Sa. Thông qua cơ chế pháp lý này, luật pháp và chính sách quốc gia của Trung Quốc khẳng định quyền tài phán đối với gần như toàn bộ biển Đông, tương ứng với đường 9 đoạn. Thái độ quả quyết này đã gây bất đồng với các nước đòi chủ quyền khác – nhất là Việt Nam và Philippines – những nước cho rằng EEZ của họ được tính dựa trên đường bờ biển và các tiêu chuẩn của UNCLOS. Suy nghĩ của các nước này hoàn toàn hợp pháp.

Gây bất đồng với các nước láng giềng, Trung Quốc cũng tìm cách giới hạn quyền của các lực lượng hải quân nhằm đảm bảo rằng các bất đồng này không leo thang thành xung đột. Luật pháp và chính sách của Trung Quốc thách thức trật tự biển quốc tế hiện nay bằng cách đảo lộn sự cân bằng hiện tại giữa các quyền của quốc tế và của quốc gia ven biển được hoạt động tự do tại EEZ. Điều 58 của UNCLOS quy định “trong vùng đặc quyền kinh tế, mọi quốc gia được hưởng quyền tự do hàng hải, hàng không… và sử dụng vùng biển liên quan đến các quyền tự do này một cách phù hợp với luật pháp quốc tế”. Tuy nhiên, các học giả và quan chức Trung Quốc lại diễn đạt UNCLOS và các tiêu chuẩn hiện nay theo cách thách thức quyền của các lực lượng hải quân nước ngoài được hoạt động tại EEZ của Trung Quốc. Nước này tìm cách phá hoại để hải quân nước ngoài không thể tiến hành các hoạt động duy trì ổn định trên biển, trong đó có biển Đông.

Sự cố EP-3, sự cố Impeccable và nhiều va chạm quân sự Mỹ – Trung ít được báo chí đưa tin nữa là kết quả của các âm mưu của Trung Quốc nhằm thực thi quyền này một cách thái quá đối với vùng biển ngoại vi của mình. Những người cho rằng Mỹ sẽ không bao giờ cho phép các hoạt động thu thập thông tin và tình báo tương tự ở ngoài khơi bờ biển nước mình thì nên nhớ lại kinh nghiệm của Mỹ trong thời chiến tranh Lạnh. Trong nhiều thập kỷ liền, Mỹ đã cho phép các đơn vị thu thập tình báo của Không quân và Hải quân Nga hoạt động ngoài khơi bờ biển Mỹ, và trong gần như toàn bộ thời gian diễn ra Chiến tranh Lạnh thì tiêu chuẩn quốc tế về lãnh hải chỉ là 3 hải lý. Đây không phải là một tập tục được hoan nghênh nhưng lại được coi là hợp pháp. Ngày nay, tàu ngầm  và máy bay của Nga vẫn tiếp tục tiến hành những hoạt động như vậy mà không hề bị Mỹ phản đối.

Các chính sách chống can thiệp của Trung Quốc có thể chỉ nhằm mở rộng quyền tài phán và kiểm soát của nước này đối với biển Đông và các vùng biển gần khác, nhưng các thực tế này sẽ có tác động lớn dù Trung Quốc không có ý định gây ra tác động đó. Một nguyên tắc quan trọng trong luật pháp quốc tế là luật phát triển khi các tiêu chuẩn mà nó ủng hộ cũng phát triển. Như vậy, nếu các quốc gia khác chấp nhận quan điểm của Trung Quốc, theo đó luật biển cho phép họ cấm các hoạt động quân sự của nước ngoài tại EEZ của mình, thì Trung Quốc có lẽ sẽ đưa một chuẩn mực mới vào luật và có thể làm thay đổi sự cân bằng hiện tại giữa các quyền trên biển của quốc tế và quốc gia ven biển. Một nguyên tắc khác là luật quốc tế áp dụng như nhau ở mọi nơi. Như vậy, nếu Trung Quốc thay đổi được các tiêu chuẩn tại Đông Á, thì các quốc gia khác trong khu vực sẽ khẳng định quyền tương tự. Như vậy, các hành động của Trung Quốc có tác động nghiêm trọng đến các tiêu chuẩn toàn cầu vốn bảo vệ an ninh và ổn định trên biển.

Trung Quốc dường như  đã gây sức ép với ít nhất một trong các nước láng giềng của mình để chấp nhận quan điểm của họ về luật biển. Ngày 15/5/2011, Vương quốc Thái Lan trở thành nước mới nhất gia nhập UNCLOS. Tuyên bố phê chuẩn của Thái Lan phản ánh cách hiểu của chính phủ nước này rằng tự do hàng hải không bao gồm quyền của các hải quân nước ngoài tiến hành diễn tập quân sự tại EEZ của nước này “hoặc các hoạt động khác có thể ảnh hưởng tới các quyền hoặc lợi ích của quốc gia ven biển”. Theo quan điểm của Thái Lan, các hoạt động này và những hoạt động “phi hòa bình” không nói rõ khác không thể được tiến hành nếu không có sự đồng thuận của quốc gia ven biển. Cách hiểu này giống gần như nguyên văn những tuyên bố của các quan chức và học giả Trung Quốc.

Dù đại đa số các nước hiện công nhận và ủng hộ cách hiểu truyền thống về luật biển, ủng hộ tự do tiếp cận của các lực lượng biển, nhưng sự ủng hộ dành cho một cách hiểu hạn chế hơn vẫn tồn tại ở vòng cung địa chiến lược quan trọng trên toàn bộ phía Nam lục địa Á – Âu từ vùng Vịnh Aden đến biển Nhật Bản. Giống như Trung Quốc, Kenya, Somalia, Iran, Pakistan, Ấn Độ, Bangladesh, Myanmar, Thái Lan, Malaysia và Triều Tiên đều bày tỏ ủng hộ ở một mức nào đó đối với các tiêu chuẩn chống can thiệp trên biển như một vấn đề chính sách quốc gia. Quan điểm này đang lớn lên một cách chậm chạp, nhưng nó vẫn lớn và có thể tác động tiêu cực đến lợi ích của các quốc gia dựa vào sự ổn định và an ninh trên các vùng biển chung để phát triển đất nước. Những nước ủng hộ tiếp cận mở trên biển cần công khai và liên tục chống lại quan điểm đang lớn dần này nhằm củng cố yếu tố quan trọng là ổn định khu vực và toàn cầu này.

Thêm vào đó, các tuyên bố ủng hộ các tiêu chuẩn này phải được hỗ trợ bởi các hoạt động tác chiến và diễn tập, vì việc các quốc gia ven biển phản đối tự do đi lại đối với các chiến dịch của hải quân tại EEZ cũng có thể gây trở ngại cho khả năng Mỹ và các nước khác sử dụng hải quân của mình để thực hiện các nhiệm vụ cảnh sát chống lại các mối đe dọa phi truyền thống trong khu vực. Chẳng hạn hải tặc là một vấn đề dai dẳng tại biển Đông, dù nó không được chú ý nhiều bằng vấn đề hải tặc ở vùng Sừng châu Phi. Tuy nhiên, các chính phủ trong khu vực đã nhận ra vấn đề này, và vào năm 2010, cuộc diễn tập khu vực trên biển mang tên Phối hợp sẵn sàng và Tập huấn trên biển (CARAT) – gồm một loạt các cuộc tập trận giữa hải quân Hoa Kỳ với các lực lượng vũ trang Đông Nam Á – đã được tiến hành bên cạnh các chuyến thăm, đáp tàu, tìm kiếm và các hoạt động bắt giữ nhằm giúp xây dựng năng lực của khu vực chống lại hải tặc.

  • Còn tiếp

——-

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2012-03-14-thu-thach-trat-tu-dia-chinh-tri-tren-bien-dong

Advertisements

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
Bài này đã được đăng trong Archives, Articles, International relations, Teaching và được gắn thẻ , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s