Tranh giành ảnh hưởng ở Biển Đông

phapluattp.vn

Bài 1: Tài nguyên, chủ quyền và quyền lực

Mới đây, ông Leszek Buszynski, chuyên gia Trung tâm Nghiên cứu Quốc phòng và Chiến lược, thuộc ĐH Quốc gia Úc, đã có một bài viết quy mô đánh giá tổng quát diễn biến tranh chấp chủ quyền trên biển Đông cùng quá trình Trung Quốc tăng cường hải quân và tranh giành ảnh hưởng với Mỹ đăng trên tờ Washington Quarterly số mùa xuân 2012.

Pháp Luật TP.HCM xin lược thuật bài viết này.

Bài viết mở đầu với phần giới thiệu bối cảnh tranh chấp chủ quyền trên biển Đông: “Hai năm qua, nguy cơ xung đột leo thang chỉ từ những vụ việc tương đối nhỏ đã gia tăng trên biển Đông. Xuất hiện những tranh chấp ít có khả năng đi đến đàm phán hay có giải pháp. Ban đầu, tranh chấp nổi lên sau Thế chiến II, khi các quốc gia ven biển – Trung Quốc và ba nước khác trong khối ASEAN là Indonesia, Malaysia và Philippines, sau đó đến Việt Nam – tranh nhau chiếm hữu các hòn đảo ở đó”.

Dầu hỏa và khí đốt

“Khoảng những năm 1990, vấn đề tiếp cận mỏ dầu và khí của biển Đông cũng như các nguồn cá và tài nguyên biển bắt đầu làm phức tạp hóa tình hình đòi chủ quyền. Khi nhu cầu năng lượng trên toàn cầu gia tăng, các bên có yêu sách đã thiết lập những kế hoạch nhằm khai thác trữ lượng hydrocarbon của biển và không có gì lạ, tranh chấp đã nảy sinh từ đó, đặc biệt là giữa Trung Quốc và Việt Nam” – Leszek Busynski viết.

Ông phân tích tình hình năng lượng của các bên liên quan như sau:

“Với việc nhu cầu năng lượng toàn cầu gia tăng, những nước tiêu thụ nhiều như Trung Quốc buộc phải tìm kiếm các nguồn mới để thỏa mãn nền kinh tế đang phình to của mình. Vào năm 2009, Trung Quốc trở thành nước tiêu thụ dầu lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Mỹ và lượng tiêu thụ của họ chắc chắn sẽ tăng gấp đôi trước thời điểm năm 2030 để họ trở thành nước tiêu thụ dầu nhiều nhất thế giới. Vào năm 2010, họ nhập khẩu 52% lượng dầu của mình từ Trung Đông và cả Saudi Arabia và Angola cộng lại sẽ chiếm 66% lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc. Trung Quốc đã và đang đa dạng hóa nguồn cung cấp năng lượng để giảm sự phụ thuộc vào dầu nhập khẩu; họ cũng tìm cách đẩy mạnh khai thác ngoài khơi, xung quanh khu vực lòng chảo Châu Giang (Pearl River) và biển Đông”.

“…Việt Nam là nước sản xuất dầu lớn trong khu vực. Năm 2010, Công ty quốc doanh Petro Vietnam sản xuất 24,4 triệu tấn, tức là 26% tổng sản lượng của Việt Nam, từ ba mỏ trên biển Đông. Do sản lượng ở các mỏ đã đi vào hoạt động đang bị suy giảm, Petro Vietnam đã ký 60 hợp đồng thăm dò và khai thác dầu khí với các công ty ngoại quốc khác nhau, nhằm khai thác nguồn năng lượng mới. Tuy nhiên, các mỏ mới này ít có khả năng bù đắp được cho thiệt hại: Khi Việt Nam tìm cách khai thác mỏ mới, nguy cơ là sẽ xảy ra xung đột mới với Trung Quốc – nước đã liên tục, nhất quán phản đối việc Việt Nam ký hợp đồng khai thác với các công ty dầu quốc tế trên biển Đông.

Trung Quốc chỉ trích các nước ASEAN liên quan đã xâm phạm vào vùng biển của họ và tuyên bố họ có quyền chống lại. Chẳng hạn vào ngày 26-5-2011, hai tàu hải giám Trung Quốc đã cắt cáp thăm dò dầu khí của một tàu khảo sát Việt Nam đang trên đường tìm kiếm mỏ dầu và khí trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, cách bờ biển phía nam Việt Nam khoảng 120 km. Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố những đoạn băng cho thấy một con tàu Trung Quốc quả thật đã cắt đứt cáp nối với con tàu Bình Minh của Việt Nam. Khương Du, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc, tuyên bố rằng tàu Trung Quốc đang tiến hành “các hoạt động khảo sát và thực thi quyền trên biển hoàn toàn bình thường trong khu vực thuộc quyền tài phán của Trung Quốc”. Tới ngày 9-6, một tàu cá Trung Quốc tương tự đã làm rối cáp của một con tàu khảo sát khác của Việt Nam.

Philippines cũng gặp nhiều rắc rối với Trung Quốc. Manila đã cố gắng nâng cao tính hiệu quả của hoạt động sản xuất dầu, đặt mục tiêu tăng sản lượng 60% cho đến cuối năm 2011, một điều mà họ ít có khả năng đáp ứng. Họ dự định mời chào 15 hợp đồng trong vài năm tới, khai thác dầu khí ngoài khơi đảo Palawan, trong một khu vực mà Trung Quốc đã tuyên bố chủ quyền. Năm 2011, Philippines tố cáo là có tới bảy vụ việc Trung Quốc phá rối họ. Một trong các vụ đó là vào ngày 2-3, hai tàu tuần tra Trung Quốc gây sự với một tàu thăm dò dầu ở khu vực Philippines tuyên bố chủ quyền, cách Palawan 250 km về phía tây. Họ rời khỏi khu vực sau khi Philippines điều không quân đến. Ngày 5-4, Manila đệ trình thư phản đối chính thức lên LHQ và vận động ASEAN ủng hộ để cùng có một lập trường chung về vấn đề này. Vài ngày sau, Trung Quốc có phản ứng đáp trả, chính thức buộc tội Philippines “xâm nhập” vùng biển của họ”.

Cuộc chiến tranh vì cá

“Việt Nam cho biết tính từ năm 2005 đến nay, 63 tàu cá cùng 725 ngư dân đã bị phía Trung Quốc bắt trên biển Đông; sau đó tất cả họ đều bị đòi tiền phạt với mức cắt cổ thì mới được thả. Trong một vụ việc gây sự chú ý lớn của dư luận Việt Nam, một tàu tuần tra Trung Quốc đã bắt tàu cá Việt Nam cùng 12 ngư dân khi họ đang hoạt động quanh khu vực quần đảo Hoàng Sa, tháng 3-2010. Đây không phải lần đầu tiên Trung Quốc làm điều này và Bộ Ngoại giao Việt Nam phản đối ầm ĩ.

Trung Quốc áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá hằng năm trên biển Đông, họ coi đó là một cách bảo tồn đàn cá của mình. Lần đầu tiên Trung Quốc ban lệnh cấm đó là vào năm 1999, từ tháng 6 tới tháng 7 hằng năm và tới năm 2009 thì họ mở rộng lệnh cấm thành ra từ ngày 16-5 đến ngày 1-8 mỗi năm. Mức độ cấm rất mơ hồ – họ chủ ý giữ sự mơ hồ như vậy – mặc dù lệnh cấm trùm lên một khu vực bao quanh quần đảo Hoàng Sa nhưng lại không vươn xa xuống phía nam tới quần đảo Trường Sa. Việt Nam phản đối kịch liệt, bởi lẽ lệnh cấm ảnh hưởng tới sinh kế của các ngư dân Việt. Để thực thi lệnh cấm và bảo vệ các tàu cá của mình, Trung Quốc phái đến khu vực cái mà họ gọi là “tàu ngư chính” (tuần tra nghề cá) nhưng thực chất đó chính là những tàu hải quân bí mật. Trung Quốc cũng đã tuyên bố kế hoạch tăng cường lực lượng hải giám lên 16 máy bay và 350 tàu biển từ nay tới năm 2015. Số máy bay và tàu này sẽ được sử dụng để giám sát hoạt động tàu bè trên biển, thực hiện các nhiệm vụ khảo sát, “bảo vệ an ninh hàng hải” và thanh kiểm tra các tàu nước ngoài hoạt động “trên vùng biển của Trung Quốc”.

Khi nhu cầu thì tăng lên mà dự trữ cạn kiệt, tranh chấp về cá chắc chắn sẽ gia tăng trên biển Đông, đặc biệt khi các nước có yêu sách đều nâng cấp hải quân và lực lượng tuần tra bờ biển”.

Tranh giành quyền lực

Sau các phân tích về mâu thuẫn xung quanh vấn đề năng lượng (dầu hỏa, khí đốt) và nguồn cá, Leszek Busynski đi đến nhận định, trên thực tế nếu chỉ có vậy thôi thì tranh chấp trên biển Đông không nhất thiết sẽ đưa đến căng thẳng và xung đột, vì có thể kiểm soát mọi việc thông qua cơ chế hợp tác đa phương, tham khảo nhiều tiền lệ khác nhau trên thế giới.

Tuy nhiên, ông cho rằng nguyên nhân quan trọng của tranh chấp hiện nay là cạnh tranh quyền lực giữa Mỹ và Trung Quốc. “Giờ đây, vấn đề đã đi quá xa, vượt ra khỏi phạm vi các yêu sách về chủ quyền và quyền tiếp cận các nguồn năng lượng, khi mà biển Đông đã trở thành trọng tâm chú ý của mối quan hệ cạnh tranh Mỹ-Trung trên vùng biển phía Thái Bình Dương. Kể từ khoảng năm 2010, biển Đông bắt đầu được gắn với những vấn đề chiến lược to lớn hơn, xoay quanh chiến lược hải quân của Trung Quốc và sự hiện diện chủ động hơn của Mỹ trong khu vực. Điều này khiến cho tranh chấp trở nên nguy hiểm và là một lý do để lo ngại, nhất là khi Mỹ đã tái khẳng định lợi ích của họ ở châu Á-Thái Bình Dương và thúc đẩy quan hệ an ninh với các nước ASEAN liên quan”.

Bất chấp phản đối từ phía Trung Quốc, cả Việt Nam và Philippines đều có kế hoạch xúc tiến các dự án thăm dò khai thác khí đốt, hợp tác với các công ty nước ngoài.

Tác giả Leszek Busynski đã nhầm lẫn khi đưa Indonesia vào số các quốc gia có liên quan đến tranh chấp chủ quyền trên biển Đông. Nói chính xác thì số này bao gồm Trung Quốc, lãnh thổ Đài Loan, Philippines, Malaysia, Brunei và Việt Nam – hoặc tuyên bố chủ quyền toàn diện hoặc tuyên bố chủ quyền một phần quần đảo và khu vực biển Trường Sa. Indonesia không tham gia và cũng không chiếm hữu hòn đảo nào. Ngoài ra, cách diễn đạt “sau đó đến Việt Nam” cũng sai, vì gây hiểu nhầm rằng Việt Nam chỉ tham gia tranh chấp chủ quyền trên biển Đông như một nước đến sau.

HOÀNG THƯ lược thuật

———–

Nguồn: http://phapluattp.vn/2012032411009793p1017c1079/tranh-gianh-anh-huong-o-bien-dong-bai-1-tai-nguyen-chu-quyen-va-quyen-luc.htm

——–

BÀI 2: Cuộc tranh giành địa vị siêu cường

01/04/2012 – 01:55

Mỹ có thể phải đối diện với nguy cơ bị gạt ra khỏi tây Thái Bình Dương, đó là lý do vì sao chính quyền Obama không có mấy lựa chọn ngoài việc khẳng định lợi ích của mình trên biển Đông – Leszek Buszynski.

Mỹ có thể phải đối diện với nguy cơ bị gạt ra khỏi tây Thái Bình Dương, đó là lý do vì sao chính quyền Obama không có mấy lựa chọn ngoài việc khẳng định lợi ích của mình trên biển Đông – Leszek Buszynski.

Tăng cường hải quân

“Chiến lược hải quân của Trung Quốc có ba nhiệm vụ mang tính chất hướng dẫn sự phát triển năng lực hải quân.

– Thứ nhất là ngăn chặn Đài Loan tuyên bố độc lập, ngăn Mỹ triển khai hải quân để ủng hộ Đài Loan…

– Thứ hai là bảo vệ các tuyến giao thương và nguồn cung cấp năng lượng của Trung Quốc qua Ấn Độ Dương và eo biển Malacca, nơi 80% lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc được vận chuyển qua…

– Thứ ba là nâng cao khả năng phản công hạt nhân trong khu vực tây Thái Bình Dương…

Để thực hiện ba nhiệm vụ trên, trong hai thập niên qua, Trung Quốc đã phát triển bốn lớp tàu ngầm mới và sáu lớp tàu khu trục mới. Họ đặt mục tiêu phát triển hải quân viễn dương và như Tư lệnh, Đô đốc Vũ Thắng Lợi tuyên bố vào tháng 4-2009, Trung Quốc sẽ thiết lập một “hệ thống phòng thủ trên biển” để bảo vệ “an ninh hàng hải và công cuộc phát triển kinh tế”. Hải quân viễn dương cần phải có tàu sân bay và thế là tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc – Thi Lang – thiết kế lại tàu sân bay Varyag trọng tải 32.000 tấn của Xô Viết – đã được đưa vào thử nghiệm trên biển từ ngày 10 đến 14-8-2011.

Về vũ khí hạt nhân, Trung Quốc có bốn tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo (xin gọi tắt là tên lửa). Tên lửa đầu tiên của Trung Quốc là chiếc Xia hiện giờ đã lạc hậu, được thiết kế năm 1981 và mang được 12 tên lửa đạn đạo JL-1 (SLBM) với tầm bắn 2.700 km, không đủ để tấn công lục địa Hoa Kỳ. Năm 2004, hai tên lửa lớp Jin hiện đại hơn đã được triển khai… Dự kiến trong những năm tới Trung Quốc sẽ phát triển ít nhất năm tàu lớp Jin nữa.

Trung Quốc cần nơi trú ẩn cho hải quân để ngăn ngừa các cuộc tấn công trên biển và trên không. Tàu sân bay và tên lửa cũng cần phải có biển rộng để hoạt động; nếu không, trong một khu vực bị giới hạn thì chúng trở thành gần như vô dụng. Chỉ có vài nơi dọc bờ biển Trung Quốc là có thể làm nơi trú ẩn cho hải quân của họ, ở đó có thể tổ chức hoạt động phòng thủ và cũng có thể tiếp cận với biển rộng. Một nơi là ở Hoàng Hải (Biển Vàng), có một căn cứ tàu ngầm ở Xiaopingdao, gần Đại Liên. Một nơi khác là đảo Hải Nam và khu vực biển nửa khép kín ở phía bắc biển Đông… Bất kỳ vị trí nào khác xa hơn về phía bắc đều rất dễ bị Mỹ đánh phá từ biển xa vào.

Vì lý do đó, Trung Quốc đã và đang xây dựng căn cứ ngầm ở Sanya trên đảo Hải Nam, nơi sẽ chứa cả tên lửa lẫn tàu sân bay và các tàu hộ tống… Trung Quốc cho rằng khi Hải Nam xây dựng xong căn cứ hải quân thì quần đảo Hoàng Sa ở phía nam sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đường hàng không và đường biển cho Hải Nam. Điều đó giải thích vì sao Bắc Kinh rất nhạy cảm với các tàu khảo sát của Mỹ và tại sao năm tàu hải quân Trung Quốc đã đụng độ với tàu Impeccable của Mỹ khi Impeccable đi vào vùng biển 121 km tính từ đảo Hải Nam vào ngày 9-3-2009.

Bảo vệ Hải Nam là một chuyện, bảo vệ đường đi của tàu sân bay và tên lửa ra biển lớn là một chuyện khác. Vì việc này, Trung Quốc cần phải tuần tra xung quanh quần đảo Trường Sa hoặc ít nhất họ cũng cần ngăn chặn các cường quốc bên ngoài can thiệp vào những hoạt động của hải quân Trung Quốc trong một khu vực sẽ mở rộng tới tận eo Malacca. Năm 2009, nguyên Phó Tổng Tư lệnh Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc tướng Trương Lý, đã kêu gọi xây một sân bay và một cảng biển tại bãi đá Vành Khăn (Mischief Reef) trong khu vực Philippines tuyên bố chủ quyền ở quần đảo Trường Sa, mà hiện giờ do Trung Quốc chiếm. Ý định của họ là thực hiện các cuộc tuần tra trên không tại khu vực để yểm trợ các tàu cá Trung Quốc và để thể hiện chủ quyền của Trung Quốc trên biển Đông.

Tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc có tên là Thi Lang được “tái chế” từ tàu sân bay của Xô Viết

Dự báo tương lai tranh chấp

Sau đây là một số nhận định của tác giả Leszek Buszynski:

“Việc chính quyền Hồ Cẩm Đào tìm cách làm giảm căng thẳng quả thật được rất nhiều người hoan nghênh nhưng đã qua rồi cái thời Mao Trạch Đông hoặc Chu Ân Lai có thể kiểm soát chính sách của Trung Quốc chỉ đơn giản bằng các nghị định. Việc hoạch định chính sách ở Trung Quốc đã trở nên khó khăn hơn nhiều, vì quyền lực phân tán hơn và ít chấp nhận can thiệp trực tiếp từ bên trên hơn. Trung Quốc có thể tuyên bố hữu nghị với thế giới bên ngoài nhưng năng lực hải quân của họ vẫn tiếp tục mở rộng ra theo những kế hoạch dài hạn (hàng thập niên). (…) Áp lực đè lên các nước ASEAN ở biển Đông sẽ dâng cao và cạnh tranh với Mỹ sẽ ngày càng quyết liệt”.

Tác giả cho rằng trường hợp xấu nhất là Trung Quốc rơi vào con đường đối đầu với Mỹ và cả khu vực. “Quả thật, có nguy cơ là một quân đội nặng đầu óc dân tộc chủ nghĩa sẽ thách thức quyền lãnh đạo của đảng trong quá trình chuyển giao từ chính quyền Hồ Cẩm Đào (mùa hè năm nay) và đưa đến một lập trường cứng rắn hơn trong các vấn đề như biển Đông”.

Tuy nhiên, “kịch bản bi quan này không nhất thiết là chắc chắn sẽ xảy ra, bởi lẽ giới lãnh đạo chính trị ở Trung Quốc là những người theo chủ nghĩa Nhà nước can thiệp rất mạnh và chắc chắn họ sẽ ra tay ngăn ngừa kết cục đó. Nếu giới lãnh đạo kiềm chế sự hung hăng của Trung Quốc trên biển Đông, nếu họ kiềm chế được nhu cầu phải độc quyền kiểm soát toàn bộ khu vực, nếu họ duy trì được tự do hàng hải cho các nước khác cũng như cho mình và nếu lãnh đạo mới thực hiện được lời đảm bảo của Đới Bỉnh Quốc rằng vấn đề biển Đông quả thật sẽ được để lại cho các thế hệ sau giải quyết thì Bắc Kinh có thể khiến cho việc họ phát triển hải quân Trung Quốc trở thành một việc khả dĩ chấp nhận được đối với khu vực. Theo cách đó, Trung Quốc cũng sẽ tránh được đối đầu trực tiếp với Mỹ”.

Trong một diễn văn trước Ban Thư ký ASEAN vào ngày 22-1-2010, Quốc vụ khanh Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc tuyên bố Trung Quốc không định làm bá quyền, không muốn “tống cổ Mỹ khỏi châu Á” và “vấn đề biển Đông sẽ dành cho các thế hệ tương lai giải quyết”. Mặc dù vậy, có những quan điểm cho rằng trong khi vẫn nói là “để thế hệ sau giải quyết”, từ giờ tới lúc đó, Trung Quốc vẫn sẽ tiếp tục lấn dần biển Đông theo chính sách “tằm ăn rỗi”.

ĐOAN TRANG lược thuật

—–

Nguồn: http://phapluattp.vn/20120401120257175p0c1112/cuoc-tranh-gianh-dia-vi-sieu-cuong.htm

Advertisements

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
Bài này đã được đăng trong Archives, Articles, International relations và được gắn thẻ , , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s