Sự thật về “đường lưỡi bò” – cuồng vọng của Trung Quốc trên Biển Đông

 

Petrotimes

Kỳ 1: Những ngộ nhận về “đường lưỡi bò”

8:50 sáng | Tháng Tư 5, 2012

LTS: Dư luận trong và ngoài khu vực đặc biệt quan ngại trước việc Trung Quốc huy động 13 bộ ngành để thực hiện bản đồ “đường lưỡi bò” bởi điều này không những bộc lộ cuồng vọng của Bắc Kinh trong việc muốn hiện thực cái gọi là “cơ sở lịch sử của tuyên bố chủ quyền đường chữ U”, mà còn thể hiện rõ thái độ bất chấp một sự thật hiển nhiên: Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam và là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam.

Giới chuyên môn đều cho rằng, việc huy động 13 bộ, ngành để thực hiện bản đồ “đường lưỡi bò” cho thấy Trung Quốc muốn chiếm diện tích lớn nhất, giành nhiều quyền lợi nhất tại khu vực này, nhưng không muốn đưa tranh chấp ra bất cứ hội nghị đa phương, cũng như bỏ ngoài tai kiến giải của các nước ngoài khu vực và cộng đồng quốc tế.

Quan điểm của Trung Quốc và phản đối của dư luận

Theo báo cáo từ Ủy ban Khảo sát, Đo lường và Thông tin địa lý quốc gia Trung Quốc (NASMG), 13 bộ, ngành (trong đó có Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Thương mại) đã bắt đầu tiến hành khảo sát địa lý Biển Đông để vẽ bản đồ biển và các quần đảo. Theo Global Times, việc vẽ bản đồ Biển Đông được coi là một bước để phục vụ mục đích tăng cường khai thác dầu khí ở khu vực này.

Ngày 26/3/2012, 13 bộ, ngành hợp thành Tiểu ban Chỉ đạo điều phối Giám sát quản lý thị trường bản đồ và Tuyên truyền giáo dục ý thức lãnh thổ quốc gia Trung Quốc (gọi tắt là Tiểu ban Chỉ đạo điều phối) thông báo, trong năm 2012, Trung Quốc sẽ tiếp tục triển khai công tác nghiên cứu liên quan đến bản đồ Biển Đông, biên soạn và sản xuất bản đồ có liên quan đến Biển Đông hoặc các hòn đảo trên Biển Đông, đồng thời sẽ công bố cho xã hội, nhằm tuyên bố chủ trương của Trung Quốc. 13 bộ, ngành gồm Cục Thông tin địa lý đo vẽ bản đồ quốc gia, Bộ Tuyên truyền, Bộ Giáo dục, Bộ Công nghiệp và Thông tin, Bộ Công an, Bộ Nội vụ, Bộ Thương mại, Tổng cục Hải quan, Tổng cục Xuất bản Thông tin – Tổng cục Công Thương, Văn phòng Thông tin Quốc vụ viện, Cục Bảo mật Quốc gia…

Giới phân tích coi việc vẽ lại bản đồ Biển Đông và Hoa Đông nhằm giành lợi thế trong cuộc tranh chấp chủ quyền biển đảo, hay nói một cách khác, đó là sự chuẩn bị cho cuộc xâm lược bằng bản đồ.

Trước đó (14/9/2011), tờ China Daily đã dẫn lời Chủ tịch Viện Khảo sát và bản đồ Trung Quốc Trương Kế Tiên – trong tương lai gần, ngành khoa học bản đồ của Trung Quốc sẽ mở rộng phạm vi từ đất liền đến 3 triệu km2 lãnh hải thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Giới truyền thông đưa tin, không phải bây giờ Trung Quốc mới đưa ra những yêu sách phi lý xung quanh “đường lưỡi bò” (còn gọi đường chữ U, với 9 đoạn đứt khúc), nhưng lần này Bắc Kinh đang dọn đường để công bố tọa độ của “đường lưỡi bò”. Đây được coi là một bước leo thang mới trong tranh chấp biển bởi với việc công bố tọa độ của đường chữ U, Trung Quốc chính thức “vạch ranh giới biển, nhằm xác định chủ quyền”.

Điều đáng nói là Trung Quốc đã và đang bất chấp sự chỉ trích, lên án của giới chuyên môn cũng như cộng đồng quốc tế xung quanh đường chữ U, với 9 đoạn đứt khúc bởi điều này không có cơ sở, đồng thời thể hiện rõ sự mập mờ của Bắc Kinh ở Biển Đông. Sự mập mờ thể hiện rõ trong việc Trung Quốc luôn tìm mọi cách để tuyên truyền về cái gọi là “bản đồ chữ U”, “bản đồ Tây Sa”, “Nam Sa” nhằm tạo tâm lý “đường lưỡi bò” là của Trung Quốc!? Giới truyền thông đưa tin, Trung Quốc đã gửi cho Liên Hiệp Quốc bản sao vùng bản đồ có các chấm “chín khúc” trên Biển Đông, nhưng người ta hiện vẫn không rõ Trung Quốc muốn tuyên bố chủ quyền ở những nơi nào và đây là vấn đề thực sự gây khó khăn.

Cách đây gần 10 tháng (20/6/2011), nhiều học giả quốc tế từng lên tiếng phản bác các lập luận của học giả Trung Quốc xung quanh “đường lưỡi bò” tại Hội thảo quốc tế về an ninh Biển Đông do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế của Mỹ tổ chức ở Washington. Giáo sư, Tiến sĩ Peter Dutton thuộc Đại học Hải quân Mỹ không đồng tình với cách giải thích của Trung Quốc về ý nghĩa của đường chữ U liên quan tới lịch sử bởi quyền tài phán đối với các vùng biển, lịch sử không liên quan với nhau, phải tuân theo Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS).

Hơn nữa, việc dùng lịch sử để giải thích chủ quyền làm xói mòn các quy tắc của UNCLOS, Giáo sư, Tiến sĩ Peter Dutton nhấn mạnh. Giám đốc Ủy ban Pháp quyền Đại dương của Mỹ, bà Caitlyn Antrim cũng khẳng định, tuyên bố đường chữ U không có cơ sở theo luật quốc tế bởi cơ sở lịch sử là rất yếu và rất khó bảo vệ. Quan điểm này cũng được Giáo sư Carlyle Thayer đến từ Học viện Quốc phòng Australia đồng tình – việc học giả Trung Quốc sử dụng “di sản lịch sử” để giải thích về tuyên bố chủ quyền một lần nữa bộc lộ việc thiếu cơ sở pháp lý theo luật quốc tế trong tuyên bố chủ quyền này. Khi đó, Giám đốc phụ trách chính trị và an ninh của Ban Thư ký ASEAN, ông Termsak Chalermpalanupap đã nhấn mạnh: “Tôi không cho rằng UNCLOS công nhận lịch sử là cơ sở để tuyên bố chủ quyền”.

Cũng trong ngày 20/6/2011, Singapore đã thúc giục Trung Quốc nói rõ hơn về phạm vi tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông vì cho rằng, dù không tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông, nhưng nước này là quốc gia thương mại lớn và những vấn đề liên quan đến tự do hàng hải trong khu vực có thể tác động đến lợi ích của Singapore. Ngày 19/11/2011, Tổng thống Mỹ Barack Obama từng chính thức nêu vấn đề Biển Đông ra trước diễn đàn Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS) tại Bali, Indonesia và đại biểu nhiều nước cũng đã lên tiếng bác bỏ lập luận của Bắc Kinh về vấn đề chủ quyền trên Biển Đông.

Giới chuyên môn cho rằng, đường yêu sách 9 đoạn hay đường chữ U, “đường lưỡi bò” ra đời cách đây 65 năm do một công dân Trung Hoa Dân quốc vẽ. Trong bản đồ này, “đường lưỡi bò” là một đường đứt khúc gồm 11 đoạn, nhưng được vẽ tùy tiện, không có tọa độ cụ thể. Năm 1953, bản đồ có “đường lưỡi bò” do Trung Quốc xuất bản chỉ còn 9 đoạn, bỏ đi 2 đoạn trong Vịnh Bắc Bộ và theo bản đồ này, đường yêu sách hình chữ U chiếm tới 80% diện tích Biển Đông. Điều đáng nói là kể từ khi xuất bản bản đồ có “đường lưỡi bò” tới tháng 5/2009, Trung Quốc mới gửi công hàm tới Liên Hiệp Quốc cùng bản đồ thể hiện đường yêu sách 9 đoạn trên Biển Đông.Việc này cũng đồng nghĩa với một sự thật, cho tới trước tháng 5/2009, Trung Quốc chưa bao giờ chính thức đưa ra yêu sách về “đường lưỡi bò” bởi nó không có cơ sở pháp lý và lịch sử, được vẽ ra một cách tùy tiện, không có tọa độ của các điểm cụ thể và không được quốc tế công nhận.

Ngay sau khi Trung Quốc chính thức đưa yêu sách “đường lưỡi bò”, cộng đồng quốc tế đã lập tức phản đối bởi thứ nhất, yêu sách về “đường lưỡi bò” hoàn toàn đi ngược lại Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 mà Trung Quốc là một bên tham gia; vùng biển mà “đường lưỡi bò” bao trùm không thể là lãnh hải hay vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của Trung Quốc. Thứ hai, cho tới nay, các văn bản pháp luật về biển của Trung Quốc đều không đề cập tới yêu sách “đường lưỡi bò”. Thứ ba, thực tiễn các quốc gia ven Biển Đông cũng như các quốc gia ngoài khu vực đều phủ nhận yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc; Thứ tư, “đường lưỡi bò” của Trung Quốc đã xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của 5 quốc gia là Việt Nam, Philippines, Indonesia, Malaysia và Brunei. Nhiều nhà phân tích từng chỉ rõ tham vọng hướng Nam luôn là ý đồ của Trung Quốc từ nhiều năm qua, đặc biệt trong thời gian gần đây ý đồ này càng thể hiện rõ hơn thông qua các hoạt động từ quân sự, kinh tế đến chính trị.

Chủ quyền bất biến của Việt Nam

Về vấn đề chủ quyền lãnh thổ trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Việt Nam có đầy đủ căn cứ pháp lý và chứng cứ lịch sử chứng minh rằng, Việt Nam đã chiếm hữu thật sự hai quần đảo này ít nhất từ thế kỷ XVII khi nó chưa thuộc chủ quyền của bất kỳ quốc gia nào. Từ thế kỷ thứ XVII đến thế kỷ XIX, Nhà nước phong kiến Việt Nam đã triển khai nhiều hoạt động thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo như cử các đội Hoàng Sa ra quần đảo đo đạc, thể hiện trên bản đồ, dựng bia, lập miếu, quản lý và tổ chức đánh bắt hải sản tại quần đảo Hoàng Sa. Các văn bản pháp lý của Nhà nước phong kiến Việt Nam như Châu bản, Sắc chỉ hiện đang được lưu giữ tại các trung tâm lưu trữ của Việt Nam đã khẳng định rõ chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

“Đường lưỡi bò” của Trung Quốc bị tạp chí uy tín thế giới Nature lật tẩy

Trong thời kỳ Pháp thuộc (cuối thế kỷ XIX nửa đầu thế kỷ XX), Pháp đã nhân danh Việt Nam tiếp tục thực thi quyền quản lý đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; từ những năm 30 của thế kỷ XX Pháp quy thuộc hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa vào các tỉnh đất liền của Việt Nam và cho quân đồn trú ở hai quần đảo này; sau đó theo Hiệp định Geneva, Pháp đã chuyển giao hai quần đảo cho chính quyền Sài Gòn – Chính phủ Việt Nam Cộng hòa.

Sau năm 1975, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quản lý các đảo ở Trường Sa. Như vậy, việc thực thi chủ quyền lãnh thổ của các Nhà nước Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đã được tiến hành một cách thực sự, hòa bình và liên tục, phù hợp với luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, năm 1956 Trung Quốc đã đưa quân đội chiếm các đảo phía Đông quần đảo Hoàng Sa, năm 1974 Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa; và năm 1988, Trung Quốc dùng vũ lực chiếm một số bãi đá ngầm ở quần đảo Trường Sa. Hành động này của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, đi ngược lại tinh thần Hiến chương Liên Hiệp Quốc và đã bị nhiều quốc gia trên thế giới lên án.

Giới nghiên cứu cũng quan tâm tới một thực tế – theo một số bản đồ cổ của người Trung Quốc vẽ từ thời xưa đều ghi rõ Biển Đông là Giao Chỉ dương, Đông Dương đại hải hoặc Đông Nam hải. Điều này đồng nghĩa với việc, tại sao Biển Đông từ tên gọi Giao Chỉ dương (thế kỷ XV) lại bị người phương Tây ghi nhầm là biển Nam Trung Hoa (hay biển Trung Hoa) như hiện nay. Điều này cũng đã được giới chuyên môn giải thích và chính từ sự nhầm lần của người phương Tây trước đây nên Trung Quốc mới có sự ngộ nhận phi lý.

Ngoài ra giới nghiên cứu cũng chỉ rõ, ngay từ Hội nghị Hòa bình San Francisco 1951, đại diện của Chính phủ Việt Nam khi đó đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và không có nước nào tham dự Hội nghị này phản đối, trong khi dự thảo nghị quyết do Liên Xô khi đó đưa ra nhằm trao hai quần đảo này cho Trung Quốc đã bị 48/51 phiếu chống. Điều đó cho thấy, đòi hỏi về chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đã bị bác bỏ; còn chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đã được thừa nhận tại một hội nghị quốc tế quan trọng sau Chiến tranh thế giới thứ II.

Thời gian gần đây, Trung Quốc tiếp tục có các hoạt động tại khu vực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, cụ thể là: Tổng Công ty Dầu mỏ ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc (CNOOC) tiến hành mời thầu dầu khí 19 lô ở khu vực phía bắc Biển Đông trong đó có lô 65/24, cách đảo Cây (Tree Island) thuộc quần đảo Hoàng Sa khoảng 1 hải lý; ngày 2/3/2012, biên đội tàu hộ vệ 11 của Trung Quốc tiến hành huấn luyện bắn đạn thật ở vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa; ngày 7/3/2012, tại kỳ họp thứ 5 Chính hiệp khóa XI, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Trung Quốc đã phát biểu về việc Tổng cục Du lịch Trung Quốc và chính quyền tỉnh Hải Nam đang hợp tác để mở rộng hoạt động du lịch tại quần đảo Hoàng Sa; ngày 12/3/2012, trên “Diễn đàn cường quốc” của mạng Nhân dân, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Cục trưởng Cục văn vật quốc gia Trung Quốc cho biết, trong giai đoạn Quy hoạch 5 năm lần thứ 12, Trung Quốc sẽ xây dựng trung tâm khảo cổ dưới đáy “Nam Hải” (Biển Đông) và trạm công tác “Tây Sa” (Hoàng Sa); chính quyền tỉnh Hải Nam tổ chức cuộc đua thuyền buồm Cúp Ty Nam từ Tam Á đến quần đảo Hoàng Sa vào ngày 28/3/2012…

Ngày 15/3/2012,  người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị nêu rõ: Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam. Những hoạt động nêu trên của Trung Quốc vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa; vi phạm luật pháp quốc tế; trái với tinh thần Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông ký năm 2002 giữa ASEAN và Trung Quốc, đi ngược lại nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước và không có lợi cho việc phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và Trung Quốc. Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, chấm dứt các hoạt động xâm phạm chủ quyền của Việt Nam tại khu vực quần đảo Hoàng Sa, đóng góp thiết thực vào việc duy trì hòa bình và ổn định trên Biển Đông”.

Trước việc ngày 30/3/2012, chính quyền tỉnh Hải Nam, Trung Quốc vẫn tiếp tục tổ chức cuộc đua thuyền buồm “Cúp Ty Nam” xuất phát từ Tam Á đến quần đảo Hoàng Sa, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lương Thanh Nghị nêu rõ: “Việc Trung Quốc tổ chức đua thuyền buồm tới quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, đi ngược lại chính cam kết của Trung Quốc là không có các hành động làm phức tạp thêm tình hình ở Biển Đông. Việt Nam kiên quyết phản đối và yêu cầu phía Trung Quốc chấm dứt ngay hoạt động nêu trên, tuân thủ DOC, đóng góp thiết thực vào việc duy trì hòa bình và ổn định trên Biển Đông”.

Hồng Thất Công – Tuấn Quỳnh (tổng hợp)
(Báo Năng lượng Mới số 108, ra ngày 3/4/2012)

——-

http://www.petrotimes.vn/chinh-tri/2012/04/su-that-ve-duong-luoi-bo-cuong-vong-cua-trung-quoc-tren-bien-dong

—–

Kỳ II: Trung Quốc gia tăng hoạt động tại Biển Đông

(Petrotimes) – Dư luận rất quan tâm tới tuyên bố của Ủy viên Chính hiệp, Phó tổng thư ký Hội Khoa học Quân sự Trung Quốc, Thiếu tướng La Viện khi đề xuất 5 biện pháp, trong đó có thành lập “Đặc khu Biển Đông” nhằm khẳng định chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông và để bảo vệ tốt hơn quyền lợi biển của Trung Quốc, cần phải tập hợp các lực lượng thực thi pháp luật bảo vệ chủ quyền, thành lập lực lượng cảnh sát bờ biển quốc gia mang tính chất bán quân sự trong năm 2012.

Tướng La Viện còn đề nghị công bố sách trắng về Biển Đông để chứng minh chủ quyền lịch sử của Trung Quốc trên các quần đảo và vùng biển tại khu vực này. Tuy nhiên, Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về Biển Đông thuộc Học viện Quốc phòng Australia coi ý tưởng thiết lập “Đặc khu Biển Đông” của tướng La Viện là một hành vi vừa khiêu khích, vừa bất khả thi, thậm chí có thể vấp phải một liên minh chống Trung Quốc được Mỹ và quốc tế hậu thuẫn. Nguyên Bí thư tỉnh ủy Phúc Kiến Trần Minh Nghĩa đề xuất, Trung Quốc cần thành lập Bộ Hải dương để tăng cường chiến lược biển như phát triển ngành hàng không vũ trụ. Một số quan chức Trung Quốc còn đề xuất những biện pháp hành chính để thực thi “Đặc khu Biển Đông”.

Theo đó, Trung Quốc sẽ tuần tra định kỳ ở vùng biển tranh chấp trên Biển Đông và biển Hoa Đông để giúp ngư dân Trung Quốc được bảo vệ và tăng cường sự kiểm soát của Bắc Kinh. Điều này đồng nghĩa với việc thay đổi chính sách phòng thủ bị động trước đây, chuyển sang thực thi một cách chủ động nhằm bảo vệ lợi ích trên biển của Trung Quốc. Giới truyền thông đưa tin, phân cục Nam Hải (Biển Đông) của Cục Hải dương Quốc gia Trung Quốc vừa có thông báo, biên đội tuần tra trên biển của Hải giám Trung Quốc đã hoàn thành nhiệm vụ tuần tra, đã tiến hành đến gần quan sát và theo dõi các đảo, bãi đá, bãi cạn… trên Biển Đông.

Trung Quốc đã cho hạ thủy giàn khoan Ocean Oil 708 trong năm 2011

Ngày 8/3/2012, Quốc vụ viện Trung Quốc phê chuẩn Kế hoạch bảo vệ hải đảo quốc gia sau khi công bố Luật Bảo vệ hải đảo trước đó. Theo đó, tới năm 2020 Trung Quốc sẽ tăng cường bảo vệ sinh thái, tiêu chuẩn hóa trình tự khai thác và tăng cường bảo vệ hải đảo. Tân Hoa xã cũng dẫn lời lãnh đạo Cục Hải dương quốc gia Trung Quốc Lưu Tứ Quý cho biết, Bắc Kinh đã xây dựng khung pháp lý về việc tuần tra trên biển để bảo vệ “lợi ích quốc gia”. Theo đó, Bắc Kinh sẽ triển khai tàu ngư chính và máy bay tới vùng biển ngoài khơi tỉnh Okinawa phía nam Nhật Bản và quần đảo Trường Sa ở Biển Đông. Quân đội Trung Quốc tiết lộ, có thể đưa tàu sân bay Thi Lang vào hoạt động tại các vùng biển tranh chấp trong năm nay sau khi hoàn tất các cuộc chạy thử. Riêng trong năm 2011, Trung Quốc đã gia tăng các hoạt động trên Biển Đông dưới chiêu bài Ngư Chính, Hải giám, Hải tuần… để gia tăng phức tạp tình hình tại khu vực này.

Cách đây 9 tháng (tháng 7/2011), tạp chí Tranh Minh của Hongkong có đăng bài “Quân đội Trung Quốc chia thành 3 phái trong việc sử dụng vũ lực đối với tranh chấp ở Biển Đông”. Trung tuần tháng 4/2011, Bộ Chính trị nêu chỉ thị 4 điểm đối với “Báo cáo về tình hình tranh chấp các đảo ở Biển Đông” của Tổng cục Tham mưu Quân giải phóng Trung Quốc. Ngày 10/6/2011, Bộ Chính trị thông qua Nghị quyết thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương đối với khủng hoảng ở Biển Đông do Phó chủ tịch nước Tập Cận Bình làm Trưởng ban, Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương Từ Tài Hậu và Phó thủ tướng Vương Kỳ Sơn làm Phó trưởng ban. Với nhiệm vụ nắm bắt tình hình và dự báo về sự phát triển, biến động và các sự kiện đột phát ở Biển Đông; Đánh giá và trình các phương châm, quyết sách chiến lược trước tình hình phát triển và biến động ở Biển Đông; Đưa ra quyết sách giải quyết ngay khi xảy ra biến động quân sự và sự kiện đột phát ở tiền tuyến Biển Đông; Xử lý các báo cáo xin ý kiến về tranh chấp quân sự, kinh tế ở khu vực tiền tuyến Biển Đông.

Giới quân sự Trung Quốc cũng đã đề xuất cần duy trì sự hiện diện ở Biển Đông trên 5 lĩnh vực, từ hành chính, luật pháp, quân sự đến kinh tế và dư luận. Ngoài ra, tờ Văn hối còn đăng tải “Hai sách lược bảo vệ quyền lợi ở Biển Đông”, đó là không sợ bao vây, tranh thủ số đông; chuyển đấu võ sang đấu văn. Giới chuyên môn cũng cho rằng, Trung Quốc đang triển khai thực hiện 3 mũi tiến công. Thứ nhất, tăng cường giao lưu, giảm bớt sự can thiệp của Mỹ vào Biển Đông. Thứ hai, dùng lợi ích kinh tế chia rẽ ASEAN. Thứ ba, gia tăng hành động nhằm khuất phục các nước có tranh chấp chủ quyền Biển Đông.

Ngày 7/9/2011, Giáo sư Madhav Das Nalapat, Chủ tịch Ủy ban Hòa bình UNESCO, Giáo sư địa – chính trị tại Trường đại học Manipal, Ấn Độ từng vạch rõ tham vọng của Trung Quốc tại Biển Đông trong bài viết trên tờ The National. Tờ Jakarta Post của Indonesia cũng từng đăng tải 3 kiến giải của Giám đốc điều hành Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) Rizal Sukma xung quanh những tranh chấp ở Biển Đông. Thứ nhất, mọi tranh chấp lãnh hải ở Biển Đông đều khó giải quyết bởi bản chất của nó là tranh chấp chủ quyền. Thứ hai, vấn đề Biển Đông phức tạp bởi giá trị chiến lược của vùng biển này. Không những được coi là khu vực giàu tài nguyên, đặc biệt là về dầu khí, mà còn là tuyến đường biển quan trọng đối với giao thông và thương mại thế giới. Thứ ba, Trung Quốc là cường quốc đang lên, do đó việc kiểm soát Biển Đông sẽ củng cố ưu thế chiến lược của Trung Quốc.

Ocean Oil của Trung Quốc còn đặt tên là “Hàng không mẫu hạm dầu khí trển biển”

Tờ Global Times số ra ngày 22/3/2012 có bài viết “Các công ty phương Tây và các nước xung quanh Biển Đông đã khoan hơn 1.000 giếng để khai thác dầu khí”. Nhưng trước đó (26/12/2011), Hãng Reuters đã dẫn lời một quan chức COSL, đơn vị dịch vụ dầu khí chuyên biệt của Tổng Công ty Dầu mỏ Ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc (còn gọi là Tập đoàn Dầu mỏ Quốc gia Trung Quốc, viết tắt là CNOOC) cho biết, Trung Quốc sẽ sớm đưa tàu khảo sát nước sâu đầu tiên là Ocean Oil 708 đến vùng Biển Đông. Tàu Ocean Oil 708 có khả năng hoạt động thăm dò dưới độ sâu 3.000m và khoan sâu tới 600m dưới đáy biển, là một trong những thiết bị nước sâu mà CNOOC dự kiến sử dụng để mở rộng khả năng hoạt động tại vùng nước sâu ở Biển Đông.

Tàu Ocean Oil 708 có thể chịu được gió giật cấp 12 và sẽ được sử dụng trong giai đoạn thăm dò ban đầu, như thám hiểm địa chất tại Biển Đông. Khi đó, giới truyền thông cũng cho biết, Tập đoàn CNOOC cũng đang chuẩn bị khoan mũi đầu tiên tại khu vực phía bắc Biển Đông bằng giàn khoan Ocean Oil 981, được mệnh danh là “Hàng không mẫu hạm dầu khí trên biển” của Trung Quốc. Giới truyền thông đưa tin, tại lễ đặt tên “Offshore Oil Aircraft Carrier” – “Hàng không mẫu hạm dầu khí trên biển” cho giàn khoan Offshore Oil 981 của Trung Quốc ngày 23/5/2011, Chủ tịch CNOOC cho biết, thiết bị khoan dầu dưới biển sâu này đã bắt đầu chuyển động và nó rất cần thiết cho việc thực hiện chiến lược khai thác dầu ngoài khơi của Trung Quốc. CNOOC cũng cho công bố 19 khu vực trên Biển Đông sẽ hợp tác với nước ngoài thăm dò và khai thác, trong đó có 6 khu vực ở biển sâu, 3 khu vực ở phía tây và 3 khu vực ở phía đông Biển Đông.

Giới chuyên môn cho biết, hệ thống khoan dầu Offshore Oil 981 là một trong 20 giàn khoan “khủng” trên thế giới. Giới truyền thông đưa tin, CNOOC đã đầu tư 15 tỉ NDT (2,3 tỉ USD) cho việc mua giàn khoan được coi là hiện đại nhất thế giới này, gồm cả một cần cẩu nổi và các thiết bị hỗ trợ khác. Giàn khoan dài hơn 650m, gồm 5 tầng với tổng chiều cao là 136m, diện tích boong tương đương với sân vận động tiêu chuẩn, có đầy đủ hệ thống phục vụ cho 160 nhân viên làm việc và nghỉ ngơi. 9 máy phát điện đủ đáp ứng nhu cầu điện cho một thành phố 200.000 dân. Lượng tiêu hao dầu diesel từ 100 đến 150 tấn/ngày hoặc 200 tấn trong điều kiện mưa bão và đủ sức chống đỡ với bão mạnh cấp 10. Do đó, giàn khoan có trang bị khoang dầu với dung tích 4.500 tấn đủ cho máy phát điện chạy liên tục 30 ngày. Mỗi ngày giàn khoan này ngốn chi phí vào khoảng 981.100 tới 1,5 triệu USD.

Theo trang web của Chính phủ Trung Quốc (www.china.org.cn) cho biết, CNOOC đã dành 6 tỉ NDT (khoảng 922,37 triệu USD) để phát triển giàn khoan Ocean Oil 981 nặng 31.000 tấn, có thiết kế đặc biệt chuyên phục vụ cho lĩnh vực khai thác dầu khí nước sâu tối đa 3.000m, độ sâu giếng khoan 12.000m. Tuy nhiên, Ocean Oil 981 chỉ là một phần trong dự án 15 tỉ NDT phát triển đội tàu thăm dò nước sâu để tăng cường khai khoáng và chế xuất nguồn tài nguyên trên biển. Dự kiến đến năm 2020, Trung Quốc sẽ duy trì ổn định sản lượng 50 triệu tấn/năm tại khu vực khai thác gần bờ và nâng sản lượng ở khu vực nước sâu lên 40-50 triệu tấn/năm. CNOOC và các đối tác (Công ty Husky Energy của Canada và Tập đoàn Chevron của Mỹ) sẽ đẩy mạnh công tác thăm dò vùng nước sâu ở Biển Đông trong những năm tới. Kế hoạch sản xuất lớn đầu tiên là Dự án Liwan 3-1 lớn nhất và sâu nhất của Trung Quốc, khánh thành năm 2009 với chi phí 35 tỉ NDT (tương đương 5,53 tỉ USD). Dự án này dự kiến sẽ đi vào hoạt động vào năm 2014, với sản lượng dự kiến đạt 14,2 triệu m3 trong năm 2015. Ngoài tham vọng chinh phục các giếng dầu ở Biển Đông, CNOOC còn muốn đưa thiết bị khoan dầu nước sâu ra nước ngoài.

Ngày 23/2/2012, CNOOC cho biết kế hoạch thương thuyết để đầu tư vào xưởng lọc dầu đầu tiên tại vùng vịnh Hồ Albert ở miền Tây Uganda. Theo dự kiến, xưởng lọc dầu này sẽ hoạt động năm 2015 với sản lượng 200.000 thùng dầu/ngày. Được biết, trước khi CNOOC có kế hoạch này, Hãng Total của Pháp và Công ty Tullow Oil của Anh cũng muốn tham gia dự án có kinh phí lên tới 1,5 tỉ USD. Trước đó (21/7/2011), CNOOC từng đạt thỏa thuận chi 2,1 tỉ USD để mua lại Công ty Năng lượng OPTI của Canada. Đây là động thái mới nhất của Trung Quốc trong việc mua lại các cơ sở sản xuất dầu tại Bắc Mỹ. 7 năm trước (2005-2012), CNOOC từng mua 17% cổ phần của nhà máy sản xuất dầu MEG Energy (Canada). Năm 2003, CNOOC đã ký với Australia một hợp đồng khai thác khí trị giá 348 triệu USD.

Tổng Công ty Dầu mỏ ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc (CNOOC) được thành lập ngày 15/2/1982 và hiện có 57.000 nhân viên cùng khoản ngân sách đăng ký trị giá 94,9 tỉ NDT. Gần 3 năm trước (17/7/2009), CNOOC thông báo việc liên doanh với Sinopec Group với tỉ lệ góp vốn 50:50 trong việc tiêu thụ và thu mua dầu mỏ với Tập đoàn Dầu khí Marathon Oil Corporation tại mỏ dầu ở vùng biển nước sâu thuộc lô số 32 ngoài khơi Angola.

Theo đó, liên doanh này chi 1,3 tỉ USD để mua lại 20% quyền lợi của Marathon Oil Corporation tại mỏ dầu cách bờ biển khoảng 150km, cùng độ sâu từ 1.400m tới 2.200m. Một trong những hợp đồng được coi là lớn nhất trong việc vươn ra bên ngoài của CNOOC diễn ra 2 năm trước. Ngày 5/4/2010, CNOOC hoàn tất việc ký hợp đồng trị giá 3,1 tỉ USD với Tập đoàn CP Năng lượng Bridas tại Argentina (BEH) nhằm mua lại 50% cổ phần của công ty con Bridas. CNOOC cho biết, thương vụ này phù hợp với chiến lược tăng trưởng và mở rộng hoạt động của tập đoàn tới Mỹ Latinh, đồng thời thiết lập nền tảng cho tăng trưởng tương lai trong khu vực và các nước khác.

Tính đến nay Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Lào, Philippines và Singapore đều đã kêu gọi việc tìm ra giải pháp hòa bình và sử dụng UNCLOS để giải quyết tranh chấp tại Biển Đông. Đây là tuyên bố chung được 7 thành viên ASEAN đưa ra khi cùng tham dự Hội nghị các quốc gia thành viên UNCLOS (diễn ra từ ngày 13 đến 17/6/2011 tại New York, Mỹ). Hội nghị các quốc gia thành viên UNCLOS năm 2011 là lần thứ 21 các nước họp mặt để bàn về các vấn đề liên quan tới Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982.

Theo Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982, chỉ có “quốc gia quần đảo” mới được phép áp dụng các quy định của Công ước trong việc vạch đường cơ sở để tính chiều rộng các vùng biển, thềm lục địa của cả quần đảo cấu thành “quốc gia quần đảo”. Hoàng Sa và Trường Sa không phải là quốc gia quần đảo mà là các quần đảo thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển, vì thế không được áp dụng các quy định đối với quốc gia quần đảo nói trên. Hơn nữa, các đảo trong hai quần đảo này có diện tích rất nhỏ, điều kiện môi sinh môi trường cực kỳ khắc nghiệt, không thích hợp cho đời sống con người, không có đời sống kinh tế riêng. Vì vậy, chúng cũng chỉ có thể được phép có vùng lãnh hải 12 hải lý bao quanh mỗi đảo nổi tính từ đường cơ sở của chúng.

Trang tin của Hãng Thông tấn trung ương Đài Loan (CNA) trưa 2/4 thông báo Tổng thống Philippines Benigno Aquino III sẽ tới Phnom Penh (Campuchia) tham sự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 20. Văn phòng Tổng thống Philippines cho biết, tại hội nghị ASEAN lần này, tranh chấp chủ quyền Biển Đông là một trong những mối quan tâm của ông Aquino. Trợ lý Ngoại trưởng Philippines Teresita Barsana tiết lộ, bất chấp việc Trung Quốc phản đối, Tổng thống Aquino sẽ vẫn đưa ra sáng kiến Khu vực Biển Đông hòa bình, tự do, hữu nghị và hợp tác (ZoPFF/C), đồng thời đề nghị đưa ZoPFF/C vào Quy tắc ứng xử giữa các bên tại Biển Đông (COC). Theo trợ lý Barsana, Philippines là một trong những nước dự thảo COC nên nước này có quyền đưa ra ý tưởng của mình. Tuy nhiên, trợ lý Barsana cũng thừa nhận ZoPFF/C có thể phải đối mặt với thách thức lớn vì khuynh hướng chính trị trong nội bộ ASEAN không giống nhau.

Hồng Thất Công – Tuấn Quỳnh (tổng hợp)
(Báo Năng lượng Mới số 109 ra ngày 6/4/2012)

—–

http://www.petrotimes.vn/chinh-tri/2012/04/su-that-ve-duong-luoi-bo-cuong-vong-cua-trung-quoc-tren-bien-dong-2

Advertisements

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
Bài này đã được đăng trong Archives, Articles, International relations, Teaching và được gắn thẻ , , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s