Biển Đông : Chiến lược “việc đã rồi” của Trung Quốc

Thuy My – 12 5- 2012

Người dân Philippines đốt cờ TQ trước ĐSQTQ tại Manila ngày 08/05/2012 đòi Bắc Kinh rút khỏi Scarborough.

(Le Monde 12/05/2012) Một cuộc đối thoại vào năm 1988 giữa Tổng thống Philippines là bà Corazon Aquino và Đặng Tiểu Bình vẫn làm cho cư dân mạng Trung Quốc thú vị, mỗi khi có sự căng thẳng giữa Trung Quốc và Philippines về vấn đề lãnh hải tại Biển Đông.

« Về mặt địa lý, thì quần đảo này nằm gần Philippines hơn ! »– bà Aquino đã nói với ông Đặng về quần đảo Trường Sa, mà Trung Quốc gọi là Nam Sa, như thế. Trường Sa vốn là một trong những chủ đề tranh chấp giữa Trung Quốc và các nước láng giềng Đông Nam Á. Đặng Tiểu Bình trả đũa ngay : « Về mặt địa lý, thì Philippines cũng chẳng ở xa Trung Quốc là bao! ».

Nếu cuộc đối thoại này chưa bao giờ được chính thức công nhận, thì một câu nói khác mà không ai có thể nghi ngờ, đã được phát biểu trong thời điểm diễn ra hội nghị khu vực ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á) hồi tháng 7/2010 tại Hà Nội (Việt Nam). Bực tức với những điều được xem là chỉ trích Trung Quốc từ các nước thành viên, Ngoại trưởng Trung Quốc đã trả lời: « Trung Quốc là một nước lớn, còn những nước khác là nước nhỏ. Đó là một thực tế ! ».

Liệu lý lẽ của kẻ mạnh sẽ chiếm ưu thế tại Biển Đông ? Cuộc đối đầu kỳ lạ đã kéo dài từ đầu tháng Tư giữa Philippines và Trung Quốc – với các tàu đánh cá và tàu hải giám tại vùng đảo san hô Scarborough, các bãi đá ngầm phần lớn bị ngập khi thủy triều lên – đã chứng minh cho chiến lược này của Trung Quốc.

Scarborough (Trung Quốc gọi là Hoàng Nham đảo) nằm cách vùng duyên hải Trung Quốc trên 1.200 km, không thuộc vùng biển bao la (rộng lớn bằng Địa Trung Hải) được bao bọc bằng đường lưỡi bò mà Trung Quốc cho là có « chủ quyền lịch sử ». Nhất là tầm quan trọng về quân sự của vùng biển này : hòn đảo lớn Hải Nam của Trung Quốc trấn giữ Vịnh Bắc bộ ở phía bắc Biển Đông là nơi có căn cứ tàu ngầm lớn của Trung Quốc. Từ căn cứ này có thể phóng đi các hỏa tiễn, mà trong tương lai có thể đảm bảo khả năng trấn áp bằng vũ khí nguyên tử của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Trong số ba nhóm đảo lớn và đảo đá ngầm tại Biển Đông, Trung Quốc chỉ kiểm soát thực tế có một phần nhỏ (như quần đảo Hoàng Sa, mà Trung Quốc gọi là Tây Sa). Tuy nhiên Bắc Kinh lại yêu sách chủ quyền trên toàn bộ vùng này, gây thiệt hại cho các nước láng giềng (nhất là Philippines và Việt Nam, nhưng còn có cả Brunei, Malaysia và Indonesia), vốn không hề muốn bị cưỡng đoạt các nguồn lợi hải sản và năng lượng tại đây. Nhà Trung Quốc học Jean-Pierre Cabestan giải thích :« Hiện tại thì Trung Quốc có vẻ chưa muốn thay đổi nguyên trạng chiếm đóng lãnh thổ, nhưng chủ yếu tìm cách chiếm lấy các vùng biển liên quan ».

Một chuyên gia nước ngoài về hải quân tại Bắc Kinh phân tích : « Trung Quốc muốn sử dụng « chính sách đặt trước việc đã rồi », « trong khi vẫn tránh can thiệp bằng phương tiện quân sự : hải quân chính thống của Trung Quốc chẳng bao giờ dính líu vào. Ngược lại, Bắc Kinh gửi ra tuyến đầu các lực lượng bán quân sự ».

Các lực lượng này, đôi khi được trang bị vũ khí hạng nhẹ, gồm có năm cơ quan khác nhau. Trong đó có hai cơ quan mà đội tàu được nhanh chóng hiện đại hóa, và can thiệp thường xuyên vào các tranh chấp tại Biển Đông. Đó là cơ quan hải giám (CMS) trực thuộc Quốc gia Hải dương cục, tức dưới quyền Bộ Đất đai và Tài nguyên ; và cơ quan Kiểm ngư, trực thuộc Bộ Nông nghiệp. Ba cơ quan kia là hải quan, tuần duyên (cảnh sát) và cơ quan an ninh hàng hải thuộc Bộ Giao thông.

Hiện nay bốn tàu hải giám đang bảo vệ hơn chục chiếc tàu cá Trung Quốc đánh cá gần đảo san hô Scarborough, không cho Philippines kiểm tra, trong khi đây là vùng đặc quyền kinh tế của Philippines. Chiếc tàu tuần tra hiện đại nhất của Kiểm ngư là chiếc Yuzheng-310 (dài 110 m) cũng đã hiện diện tại vùng biển kế cận Scarborough từ ngày 20/4. Cơ quan Kiểm ngư dự kiến trang bị thêm bốn chiến tàu tuần tra tương tự có trọng tải trên 3.000 tấn, từ nay đến năm 2015.

Tổ chức phi chính phủ International Crisis Group chuyên giám sát các cuộc xung đột, trong bản báo cáo ngày 23/4 đã nhận định, việc sử dụng các cơ quan này để chiếm dụng hải phận là nguồn gốc của các rủi ro. Xin trích : « Việc mở rộng sử dụng các lực lượng bán quân sự và cảnh sát trong các tranh chấp chủ quyền làm gia tăng nguy cơ gây ra các vụ đụng độ. Nói chung, một chiến hạm của hải quân thường biết kìm chế hơn là các lực lượng này, vốn hiểu biết một cách giới hạn về các hệ quả ngoại giao. Trong khi đó các lực lượng bán quân sự thường hành động mạnh dạn hơn vì ít phải chịu hậu quả sự việc ».

Một chuyên gia về hải quân ở Bắc Kinh ghi nhận, nếu chiến lược này cho phép có được vùng đệm và giúp tiến hành tấn công một cách gián tiếp, nhờ đó chính quyền trung ương dễ dàng chối bỏ trách nhiệm, thì nó cũng lại là một điểm yếu. Trung Quốc thường gặp vấn đề về việc phối hợp hành động giữa các lực lượng vốn thường ganh đua lẫn nhau, cần có sự hỗ trợ giám định từ bên ngoài để có thể chỉ huy nhất quán.

Một thành tố khác trong sự tiến công của Bắc Kinh, là việc triển khai ngư dân Trung Quốc ở khắp mọi nơi. Các chương trình tài trợ rộng rãi tại các tỉnh duyên hải Trung Quốc kích thích các đội tàu hiện đại hóa, và đi đánh cá ở các vùng biển ngày càng xa hơn. Trong lãnh vực này Trung Quốc cũng đè bẹp các láng giềng : tỉnh Hải Nam, trên lý thuyết thì trải rộng quyền hành chính trên toàn bộ quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, hiện đang điều tới Biển Đông chiếc Hải Nam Bảo Sa 001 – một tàu công xưởng khổng lồ 32.000 tấn, trên đó có 600 công nhân chuyên chế biến hải sản.

Các tranh chấp lãnh hải giữa Trung Quốc và các nước láng giềng đã từng dẫn đến các cuộc chiến quan trọng. Chẳng hạn năm 1974, Trung Quốc đã đánh nhau với Việt Nam để chiếm quyền kiểm soát quần đảo Hoàng Sa. Từ năm 2002, Bắc Kinh và các nước ASEAN đã ký kết bộ quy tắc ứng xử nhằm thúc đẩy các giải pháp hòa bình. Và tất cả các nỗ lực nhằm liên kết các nước ASEAN trong một mặt trận thống nhất đều bị Bắc Kinh nhanh chóng vô hiệu hóa.

Chuyên gia về hải quân trên đây nhận xét : « Trong các hồ sơ này, Trung Quốc làm mọi cách để các tranh chấp được duy trì ở mức song phương, bác bỏ mọi ý định đưa ra giải quyết trước các định chế đa phương ». Ông nói thêm : « Người ta cũng nhận thấy Bắc Kinh sử dụng tối thiểu các từ ngữ pháp lý thích hợp, để liên tục dựa vào cái mà họ gọi là « quyền lịch sử » của họ ». Dấu hiệu chứng tỏ sự hai mặt của Bắc Kinh là, tuy phê chuẩn Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (CNUDM) năm 1996, nhưng sau đó Trung Quốc lại ban hành một đạo luật ngăn trở Công ước này « làm ảnh hưởng đến các quyền lịch sử của Trung Quốc ».

Các quyền lịch sử này – được các quốc gia tại Biển Đông cho là « quá quắt » – liên quan đến một quan niệm có định nghĩa về pháp lý mù mờ. Quan niệm này lợi dụng huyền thoại về một đế quốc Trung Hoa hùng mạnh, mà tuyên truyền cộng sản không ngừng tán tụng « sự phục hưng huy hoàng » sau giai đoạn thuộc địa nhục nhã – gần như là kiểu nước Ý của Mussolini với tham vọng tái khẳng định uy quyền trên Địa Trung Hải, coi như « ao nhà » của mình.

Một blogger Trung Quốc thường bình luận về thời sự quốc tế giải thích : « Cần phải hiểu rằng Trung Quốc không coi là khu vực này được đặt dưới luật lệ quốc tế. Quy luật bất thành văn là tianxia (tức Thiên Hạ – hoàng đế Trung Hoa là Thiên tử, cai quản bất kỳ lãnh thổ nào dưới bầu trời này). Có nghĩa là một hệ thống các nước chư hầu chầu quanh đế quốc trung tâm của châu Á ».

Các chuyên gia Mỹ vào năm 2010 cho rằng thái độ của Trung Quốc cho thất ý định của Bắc Kinh, muốn thiết lập một loại chủ thuyết tương tự như chủ thuyết Monroe trên thực tế tại Biển Đông (Tổng thống Mỹ Monroe trong một bài diễn văn năm 1823 đã nhấn mạnh châu Mỹ là của người Mỹ, các nước châu Âu không được can thiệp vào, và ngược lại).

Một sự cố nghiêm trọng có thể xảy ra tại Biển Đông hay không ?  Chiến lược của Trung Quốc tuy cứng rắn nhưng lại bị hạn chế phần nào vì buộc phải cẩn trọng, cũng như tính thực dụng : mở cửa và phát triển kinh tế vẫn là hai ưu tiên của Bắc Kinh hiện nay. Và đảng Cộng sản không muốn có những xáo động trước đại hội Đảng lần thứ 18 vào tháng 10 tới, thời điểm chuyển giao quyền lực giữa ê-kíp lãnh đạo đương nhiệm và lớp kế tục.

Nhưng với dư luận công chúng Trung Quốc vốn gắn bó sâu sắc với các « quyền lịch sử » trên biển, tất cả những « sai lầm trong tính toán » có thể gây ra những hậu quả bất ngờ. Nhất là khi bối cảnh chính trị trong nước hiện đang chao đảo. Một chuyên gia về xung đột tại Bắc Kinh phân tích : « Với sự hỗn độn hiện nay trong quân đội và chính quyền tại Trung Quốc, nhất thiết không nên giảm thiểu tầm quan trọng của các sự cố dù nhỏ nhất ».

——

http://thuymyrfi.blogspot.fr/2012/05/bien-ong-chien-luoc-viec-roi-cua-trung.html

Advertisements

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
Bài này đã được đăng trong Archives, Articles, International relations và được gắn thẻ , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s