Bạn hữu, kẻ thù, đối thủ hay nhà đầu tư?

Tác giả: CHÂU GIANG THEO ECONOMIST
Bài đã được xuất bản.: 12/07/2012 02:00 GMT+7 Quan hệ giữa Ấn Độ và Trung Quốc bị kìm hãm theo nhiều hướng.
Các mối liên hệ văn hóa giữa hai nước từng tồn tại từ rất lâu, từ
những nghiên cứu thiên thực cho tới những bài thánh ca của đạo
Phật, nhưng ngày nay khó có ai nhớ đến nó. Chuyên gia kinh tế
đoạt giải Nobel, Amartya Sen, đã than phiền như vậy. Sau một thời gian yêu mến nhau trong những năm 1950, Trung Quốc đã tấn công Ấn Độ trong một cuộc chiến
tranh biên giới năm 1962, và kể từ đó hai bên tiếp tục tranh cãi nhau về đường biên giới ở khu vực núi cao.
Người Ấn Độ ghen tị với sự nổi lên về kinh tế của Trung Quốc, nhưng tự an ủi mình bằng cách chỉ trích rằng
Trung Quốc thiếu dân chủ. Ngoài biểu hiện khô khan của tình anh em tại các hội nghị thượng đỉnh, mà gần đây
nhất là diễn đàn G20 tại Mexico ngày 18-19/6, Trung Quốc dường như không nghĩ nhiều đến Ấn Độ. Dòng vốn
đầu tư không đáng kể. Vẫn chưa có đường bay trực tiếp giữa Bắc Kinh hay Thượng Hải với Mumbai – trung tâm thương mại của Ấn Độ. Và một thay đổi lớn đã diễn ra trong cấu trúc thương mại của Ấn Độ. Khi Ấn Độ bắt đầu tự do hóa nền kinh tế
của mình năm 1991, phương Tây vẫn còn chế ngự nền kinh tế toàn cầu, và vì vậy Ấn Độ hướng tới phương
Tây để làm thương mại. Nhưng sự nổi lên của Trung Quốc hiện đã thay đổi mọi thứ – đối với cả Ấn Độ. Trung
Quốc hiện là đối tác thương mại hàng hóa lớn thứ ba của Ấn Độ, và là lớn nhất nếu tính cả Hong Kong. Đối
với các nước láng giềng Đông Á của Trung Quốc, việc giao thương chủ đạo với Trung Quốc là một việc quá
quen, nhưng người Ấn Độ vẫn cố để quen dần với điều này. Trên thực tế, tăng cường thương mại với Trung Quốc tốt cho Ấn Độ. Nước này nhập khẩu các loại hàng hóa
chính từ Trung Quốc, với việc các công ty được hưởng thiết bị giá rẻ và tốt. Tập đoàn khổng lồ Reliance
Group đã mua các trang thiết bị cho các trạm phát điện và mạng lưới viễn thông – một phần tiền chi trả lấy từ
các khoản cho vay cạnh tranh của Trung Quốc. Các công ty Trung Quốc thường giành phần thắng trong các
thương vụ như vậy. Ảnh minh họa Nhưng đối với Ấn Độ, mối liên kết với Trung Quốc cũng làm họ bối rối. Cứ mỗi đôla hàng xuất khẩu sang
Trung Quốc, Ấn Độ lại nhập tới 3 đôla, tạo ra một mức thâm hụt thương mại lên tới 40 tỷ USD tính đến tháng
3/2012, chiếm 2% GDP. Trung Quốc chiếm 1/5 tổng thâm hụt thương mại của Ấn Độ với thế giới, và chiếm
một nửa nếu không kể dầu mỏ. Trước những vấn đề trong cán cân thanh toán của Ấn Độ (cụ thể là đồng
rupee đã giảm giá 1/5 trong năm 2011) ngay cả các thương nhân Trung Quốc cũng lo ngại rằng sự không nhất
quán trong thương mại song phương là không lành mạnh. Và chuyện này đang ngày một lớn. Ban đầu, sản xuất hàng hóa quy mô nhỏ của Ấn Độ có xu hướng là hàng
khá tinh tế. Khi các công ty Trung Quốc chuyển sang các dạng sản xuất phức tạp hơn, họ sẽ khó sống hơn
các công ty Ấn Độ. Saif Qureishi của công ty Kryfs chuyên sản xuất lõi biến thế sử dụng trong mạng lưới
điện, cho biết Trung Quốc đã chiếm 1/3 thị trường biến thế của Ấn Độ và sẽ hạ gục các công ty địa phương. Trong khi đó, Ấn Độ không sản xuất nhiều hàng mà Trung Quốc muốn mua, một lỗ thủng mà các quy định thời
thuộc địa của Anh từng nút lại với việc xuất khẩu thuốc phiện của Ấn Độ. Xuất khẩu chính của Ấn Độ ngày
nay sang Trung Quốc chỉ là nguyên liệu đầu vào, chủ yếu là khoáng sản và bông. Nhưng thành công của các
loại hàng xuất khẩu này không ổn định. Trong hai năm qua, các dòng sông chảy xuống Goa ở bờ biển phía
Tây Ấn Độ đã tràn ngập các xà lan chở vàng quặng bán sang Trung Quốc. Nhưng một vụ trấn áp cuối năm
2011 về khai thác mỏ bất hợp pháp đã khiến khối lượng sụt giảm 1/5. Tháng Ba vừa qua, Ấn Độ đã cấm xuất khẩu bông vì lo ngại thiếu mặt hàng này phục vụ nhu cầu trong nước. Ấn Độ trên thực tế chủ trương thúc đẩy bảo hộ. Do không có thỏa thuận tự do thương mại song phương với
Trung Quốc nên Ấn Độ thường cộng thêm thuế vào hàng nhập khẩu của Trung Quốc, gần đây nhất là thiết bị
điện. Doanh số bán hàng của công ty viễn thông Huawei tại Ấn Độ bị sụt giảm một nửa sau khi vấp phải thuế
chống bán phá giá và bị gán mác nguy cơ an ninh. Các công ty của Trung Quốc cũng than phiền những khó
khăn về thị thực. Hơn thế, Ấn Độ muốn thúc đẩy xuất khẩu sang Trung Quốc. Tại hội nghị thượng đỉnh G20, họ đã đạt một thỏa
thuận tăng hạn ngạch bán gạo. Ấn Độ cũng muốn các công ty hàng đầu trong các ngành công nghiệp, trong đó
có dược, sản xuất xe hơi và IT tiếp cận tốt hơn vào thị trường Trung Quốc. Tuy nhiên, điều tốt cho các công
ty đa quốc gia của Ấn Độ có thể không phải là tạo công ăn việc làm mới hay ngoại hối cho Ấn Độ. Tata Sons,
công ty có hoạt động kinh doanh lớn nhất ở Trung Quốc, chủ yếu bán xe Range Rover, sản xuất tại Anh, và
các dịch vụ IT mà sử dụng chủ yếu nhân công là người địa phương ở Trung Quốc. Ngoài ra, thâm hụt thương mại cũng có vẻ dừng lại. Nhưng Trung Quốc có thể làm nhiều hơn để giúp cho việc
này nếu có cơ hội. Thêm nhiều khoản vay từ các ngân hàng Trung Quốc có thể là tốt – nhưng Ấn Độ vẫn lo
lắng, và chỉ một ngân hàng Trung Quốc được phép mở chi nhánh tại đây. Nhiều đầu tư trực tiếp nước ngoài
hơn nữa cũng có thể hữu ích. Năm 2011, Narendra Modi, Thủ hiến bang Gujarat, đã thăm Trung Quốc để thúc
đẩy đầu tư. Ấn Độ dường như thường coi FDI là món quà của mình các công ty đa quốc gia phương Tây. Không cần phải thế. Bang Maharashtra đã trở thành nơi đặt một trong các nhà máy đầu tiên của Trung Quốc
tại Ấn Độ, chuyên sản xuất máy đào và các loại máy xây dựng khác. Ông Richard Deng, chủ công ty Sany
này cho biết đã đầu tư 70 triệu USD và tuyển dụng 460 nhân công địa phương và dự kiến sẽ tăng gấp đôi quy
mô công ty. Chủ ngân hàng Exim Bank của Ấn Độ, T.C.A. Ranganathan cho biết đã có 10 công ty Trung Quốc
đã hoặc đang xây nhà máy ở Ấn Độ, và 100 công ty đã mở văn phòng tại đây. Bất chấp nỗi lo sợ người nước ngoài thường trực (do khác biệt về văn hóa), các chủ doanh nghiệp Trung
Quốc đều đồng ý rằng sẽ mở rộng sản xuất tại đây. Ông Sun Haiyan, của công ty sản xuất thiết bị thiên năng
Trina Solar, cho biết là một công ty toàn cầu, Trina Solar phải sản xuất tại từng địa phương. Ông Wu Rong,
thuộc công ty viễn thông ZTE, cho biết công ty ông chủ yếu tuyển nhân viên là người bản địa và sẽ gia tăng
sản xuất tại Ấn Độ. Trong khi đó, công ty Huawei đang xây dựng một trung tâm nghiên cứu mới tại Bangalore.
Lãnh sự Trung Quốc tại Mumbai, Niu Qingbao, cho biết các công ty của Trung Quốc rất ham đầu tư vào cơ sở hạ tầng. Liệu đây có phải là sự khởi đầu của một làn sóng đầu tư từ Trung Quốc? Ấn Độ cần nguồn vốn, và kinh
nghiệm trong sản xuất cũng như cơ sở hạ tầng, từ bên ngoài. Trung Quốc thì có thể đầu tư các nguồn vốn dư
thừa của mình ra nước ngoài, không chỉ bằng trái phiếu chính phủ như đã làm với đầu tư vào Mỹ. Đầu tư của
Trung Quốc vào Ấn Độ là một ý tưởng hợp thời, chỉ cần hai bên có thể tin tưởng lẫn nhau./.
—-
Nguồn:tuanvietnam.vietnamnet.vn/Ban-huu-ke-thu-doi-thu-hay-nha-dau-tu/8867853.epi

Advertisements

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
Bài này đã được đăng trong Archives, Articles, India, International relations, Teaching và được gắn thẻ , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s