NHỮNG BẰNG CHỨNG VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI HOÀNG SA – TRƯỜNG SA

TS. Hãn Nguyên Nguyễn Nhã

Tham luận tại Hội thảo về Biển Đông ngày 28/8 tại Hà Nội

1. Chưa hề có nước nào như ở Việt Nam trước năm 1909 qua châu bản, văn bản chính quyền  từ trung ương đến địa phương ghi rõ việc xác lập và hành xử chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa.
2. Chưa hề có nước nào như ở Việt Nam trước năm 1909 có sách ghi điển chế, luật định của triều đình định lệ hàng năm sai thủy quân đi xác lập, thực thi chủ quyền tại Hoàng Sa , Trường Sa.
3.Chưa hề có nước nào như ở Việt Nam trước năm 1909, chính sử,  sách địa lý ghi rõ việc xác lập chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.
4. Chưa hề có nước nào như ở Việt Nam trước năm 1909, lại có nhiều tư liệu phương Tây từ thế kỷ 19 trở về trước và của chính  Trung Quốc ghi rõ việc xác lập và hành xử chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.
5.Chưa hề có nước nào như Việt Nam mà người phương Tây và nhà nước Việt Nam từ thế kỷ 19 trở về trước đã vẽ bản đồ xác định rất rõ “Paracel tức Hoàng Sa” và ghi chú Hoàng Sa thuộc xứ Đàng Trong của Vương quốc An Nam tức Việt Nam.

Mặt mạnh của Việt Nam về tranh cãi chủ quyền tại Hoàng Sa & Trường Sa là học thuật nắm rất chắc sự thật lịch sử  quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa & Trường Sa. Song Việt Nam chưa làm tốt, quảng bá rộng rãi , phát huy tác dụng  mặt mạnh của mình. 

Nếu làm được như thế thì ngay cả nhân dân Trung Quốc nếu muốn trái đất này và ngay cả đất nước mỉnh tồn tại và phát triển, không thể để xảy ra bi kịch Á Châu  như các học giả quốc tế trong Hội thảo quốc tế Biển Đông lần thứ ba vừa qua tại Hà Nội ái ngại xảy ra như  bi lịch Ấu châu  thế kỷ trước vì sự hung dữ của chính quyền ở Châu Ấu. Mọi nước phải tôn trọng sự thật và lẽ phải, không thể chấp nhận sự hung dữ, trái với luật pháp quốc tế như chính quyền Trung Quốc hiện nay.

Về pháp lý quốc tế nhất là hiệp định Genève lại có khả năng phản bác luận điểm mạnh nhất của Trung Quôc cũng như Hiến Chương LHQ cấm sử dụng võ lực và Công Uớc LHQ về Luật biển năm 1982.

Như chúng ta đã biết năm 1909, Chính quyền Quảng Đông tuyên bố “Paracel” là đất vô chủ (res- nullius),  đã cho tàu chiến đến thám sát, thực hiện chủ quyền theo cách thức Phương Tây như bắn 21 phát súng đại bác, cắm cột mốc chủ quyền, khi ấy Việt Nam bị Pháp đô hộ, mất quyền tự chủ ngoại giao. Trước đó, năm 1898 Trung Quốc đã nêu lý do “Paracel” không thuộc chủ quyền của Trung Quốc, đã dứt khoát  từ chối yêu cầu của công ty bảo hiểm Anh đòi Trung Quốc  bồi thường việc dân Hải Nam hôi của tàu Le Bellona của Đức đắm năm 1895 và tàu Imazi Maru của Nhật đắm năm 1896.

Sự thật là thế và bởi “Paracel” không  thuộc chủ quyền Trung Quốc, nên các bằng chứng của Trung Quốc đưa ra hoàn toàn mang tính suy diễn, xuyên tạc, hoàn toàn không đúng sự thật. Việc đăng ký chính thức “Đường Lưỡi bò” và “thành lập Thành phố Tam Sa”đã  không dựa vào sự thật lịch sử  cũng như không có  bất cứ cơ sở  pháp lý  quốc tế nào!

Chính vì vậy, từ năm 2011, tôi  nỗ lực tập hợp một tập hồ sơ tư liệu về chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Hoàng Sa dịch ra tiếng Anh và sau đó  các thứ tiếng như tiếng Trung, Pháp…Ngày 16/6/ 2012 tại Hội thảo về Biển Đông ở Đại học Harvard, tôi đã đặt vấn đề làm sao nhanh chóng giúp tôi hoàn chỉnh bản tiếng Anh tập hồ sơ này, thì được trả lời phải thuê một người  hay nhóm người tập trung nhiều tháng mới làm xong được. Song cho đến nay bản dịch Tiếng Anh vẫn chưa hoàn chinh.

Tập Hồ sơ tư liệu được tóm tắt 11 trang và toàn văn hơn 500 trang, bao gồm nguyên văn Bản phân tích  sự tranh chấp chủ quyền tại Hoàng Sa & Trường Sa của Quân Đội Mỹ ở Thái Bình Dương năm 1960, các đoạn trích nguyên văn 37 cuốn sàch địa lý, du ký của Phương Tây  từ thế kỷ 19 trở về trước, 3 bài tham luận chọn lọc trong các hội thảo ở trong và ngoài nước cùng toàn  văn luận án tiến sĩ sử học bao gồm cả các phụ bản  “ Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại Hòang Sa & Trường Sa” của tác giả.

Tập Hồ sơ tư liệu Chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa & Trường Sa bằng Tiếng Anh này chứa đựng những măt mạnh, cụ thể như sau:

1. Chưa hề có nước nào như ở Việt Nam trước năm 1909 qua châu bản, văn bản chính quyền  từ trung ương đến địa phương ghi rõ việc xác lập và hành xử chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Tài liệu rất quý giá là châu bản triều Nguyễn (thế kỉ XIX), là các văn bản của triều đình nhà Nguyễn hiện đang được lưu trữ tại Kho lưu trữ Trung ương 1 ở Hà Nội. Ở đó người ta tìm thấy những bản tấu, phúc tấu của các đình thần các bộ như bộ Công, và các cơ quan khác hay những Dụ của các nhà vua về việc xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa dưới triều Nguyễn như việc vãng thám, đo đạc, vẽ hoạ đồ Hoàng Sa, cắm cột mốc… Chẳng hạn như Dụ ngày 18 tháng 7 năm Minh Mạng thứ 16 (1835) trong Châu bản tập Minh Mạng số 54, trang 92 có đoạn viết: “vua Minh Mạng ra chỉ dụ giao cho Bộ Công phạt cai đội Hoàng Sa Phạm Văn Nguyên 80 trượng vì tội trì hoãn thời gian công tác hay phạt 80 trượng giám thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiệm, Nguyễn Văn Hoằng chưa chu tất việc vẽ bản đồ Hoàng Sa. Trong khi đó lại thưởng dân binh đội Hoàng Sa Võ Văn Hùng, Phạm Văn Sanh, mỗi người một quan tiền vì đã có công hướng dẫn hải trình của thủy quân đi Hoàng Sa”. Hoặc như Dụ ngày 13 tháng 7 Minh Mạng 18 (1837) trong tập Châu bản Minh Mạng 57, trang 245 có đoạn cho biết trước có phái thủy sư, giám thành, binh dân hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định đi Hoàng Sa đo đạc, cắm mốc, vẽ hoạ đồ, trừ bọn Phạm Văn Biện gồm bốn tên can tội đã có chỉ phạt trượng, còn binh dân đi theo lặn lội biển cả cực khổ, thưởng mỗi tên binh đinh một tháng lương dân phu mỗi tên 2 quan tiền. Cùng với đó còn có Phúc tấu của Bộ Công ngày 12 tháng 2 năm Minh Mạng thứ 17 (1836 ) trong tập châu bản Minh Mạng 55 trang 336, ghi lời châu phê của vua Minh Mạng: “Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4, 5 thước, rộng 5 tấc, khắc sâu hàng chữ: “Năm Bính Thân (Minh Mạng thứ 17), họ tên cai đội thủy quân phụng mệnh đi đo đạc, cắm mốc ở Hoàng Sa để lưu dấu”. Vua cũng phê rằng “thuyền đi đâu, phải cắm cột mốc đến đó để lưu dấu. Phúc tấu cũng còn ghi chánh đội trưởng Phạm Hữu Nhật được phái từ Thuận An  vào Quảng Ngãi để đi công tác Hoàng Sa”. Hoặc Tấu của tỉnh Quảng Ngãi ngày 19 tháng 7 Minh Mạng 19 (1838) xin miễn thuế cho hai chiếc “bổn chinh thuyền”. Trong tập Châu bản Minh Mạng số 64 trang 146 có đoạn viết rằng ngày 19 tháng 7 Minh Mạng thứ 19 (1838):“Xin chiếu lệ miễn thuế năm nay cho hai chiếc “bổn chinh thuyền” đã đưa binh dân đến Hoàng Sa đo đạc giáp vòng từ  hạ tuần tháng 3 tới hạ tuần tháng 6, hoàn tất công vụ nay đã trở về”.

Gần đây, một gia đình ở xã An Hải, huyện đảo Lý Sơn đã trao tặng Bộ Ngoại giao một văn bản là giấy lệnh viết trên hai tờ (bốn trang), đây là tờ tư và tờ lệnh công tác Hoàng Sa của quan Bố chánh, Án sát tỉnh Quảng Ngãi (triều vua Minh Mạng vào năm 1834), ghi rõ ông Võ Văn Hùng đã tuyển chọn một bọn gồm 10 người, đứng đấu là Đặng Văn Siểm, người thôn Hoa Diêm, phường An Hải huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi có thể đảm nhận công việc lái thuyền. Nhân đấy mà cấp cho bằng này để đi một thuyền dẫn các thủy thủ trên thuyền theo quân của phái viên và Võ Văn Hùng cùng đến Hoàng Sa thi hành việc công.

Tại Huế cũng mới phát hiện tờ Tâu số 664 ngày 27 tháng 12 năm Bảo Đại thứ 13(15-2-1939) của Phạm Quỳnh, Tổng lý Ngự tiền văn phòng Nội các thời Minh Mạng, tâu xin vua Bảo Đại phê chuẩn thưởng tặng cho người có công phòng thủ Hoàng Sa, thể hiện sự thực thi chủ quyền liên tục tại Hoàng Sa (Paracels) suốt triều Nguyễn từ vua đầu tiên Gia Long đến vua cuối cùng Bảo Đại. Đây là tờ Châu bản thời Bảo Đại, đánh máy bằng chữ quốc ngữ, với lời phê: “Chuẩn y” và chữ ký tắt BĐ (Bảo Đại) đều bằng bút chì màu đỏ, khổ giấy cỡ 21,5×31,0cm.

Gần đây nhất, với công trinh nghiên cứu khoa hoc :  « Font tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với huyện đảo Hoàng Sa-Thành Phố Đà Nẵng »,TS Trần Đức Anh Sơn vừa công bó một số phát hiện mới cuả ông Trần Văn Quyền, giảng viên Khoa Xã Hội,ĐH Phú Xuân Huế đã phát hiện quyển  sách « Khải đồng thuyết ước » , sách giáo khoa dạy trẻ học vỡ lòg bang chữ Hán , khắc in thời vua Tự Đức thứ 6 , năm 1853,trang15-16 có vẽ Hoàng Sa .

Châu bản triều Nguyễn ngày 2 tháng 4 nhuận năm Minh Mệnh thứ 19 (1838)

Dịch nghĩa:   Bộ Công tâu:

Vâng mệnh chiếu xét khoản cử người đến Hoàng Sa, Bộ thần đã bàn xin đến hạ tuần tháng 3 ra khơi đến [Hoàng Sa để] đo vẽ khảo sát toàn bộ xứ đó, đến hạ tuần tháng 6 thì trở về. Vâng theo sự phê chuẩn của nhà vua, [Bộ thần] đã sao gửi cho 2 tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi thực hiện và tuyển chọn các viên Thị vệ, Khâm thiên giám thành cùng Thủy sư, binh thuyền phái đi trước. Nay tiếp nhận được tờ tư của tỉnh Quảng Ngãi trình bầy cụ thể từng mục rằng binh thuyền ở kinh được phái đi, ngày 21 tháng 3 đã đến. Dân thuyền tỉnh Bình Định ngày 3 tháng 4 cũng đã đến. Viên dẫn đường Phạm Văn Sênh ngày 9 tháng đó cũng đã đến. Theo sự trình bày chi tiết của Phái viên thì từ ngày 10 đến ngày 26 tháng 4, gió Đông liên tục thổi, không tiện cho việc ra khơi. Viên Cai tỉnh quan sát cũng thấy như vậy và khẩn thiết xin đợi đến khi có gió Nam thổi thì thuận tiện cho việc đưa thuyền ra khơi ngay và tiếp tục báo về.

Bộ thần vâng mệnh chiếu xét: Việc đi khảo sát đo đạc ở Hoàng Sa đã có hạn định rõ ràng là hạ tuần tháng 3 thì xuất phát ra khơi, nhưng vì hướng gió và con nước chưa tiện, kéo dài [hạn định] đến hạ tuần tháng 4 mà vẫn chưa ra khơi được là quá hạn. [Bộ thần] căn cứ vào sự thực tấu trình đầy đủ. Thần Lê Văn Côn vâng mệnh soạn thảo.Thần Hà Duy Phiên, thần Phạm Thế Trung vâng mệnh đọc duyệt.

Xuất xứ: Bộ Công. Nơi lưu trữ: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I. Ký hiệu: Tập 68, tờ 21.

2. Chưa hề có nước nào như ở Việt Nam trước năm 1909 có sách ghi điển chế, luật định của triều đình định lệ hàng năm sai thủy quân đi xác lập, thực thi chủ quyền tại Hoàng Sa , Trường Sa

Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, quyển 221 như sau: “Năm  thứ 17 (Minh Mạng,1836) chuẩn y lời tâu rằng: Hoàng Sa thuộc khu vực ngoài biển rất là hiểm  yếu. Minh Mạng năm thứ 15, đã phái biền binh thủy quân và giám thành đến nơi xem xét, vì có gió lụt, nên chưa thăm dò được nơi đích xác. Năm qua lại phái ra và đã dựng miếu, dựng bia. Còn việc hoạ đồ chỉ được một chỗ chưa được rõ ràng. Có lẽ hàng năm cần phải đi thám dò khắp chỗ thuộc đường bể. Nay cần tư cho Quảng Ngãi, Bình Định chiếu lệ năm trước, thuê bắt thuyền dân và bắt người đi trước đều đều đến tỉnh Quảng Ngãi, vẫn phái biền binh thủy quân và giám thành cưỡi một chiếc thuyền sơn đen lái đến đích Chữ Hoàng Sa. Không cứ đảo nào, cửa bể nào thuyền chạy đến, sẽ đếm nơi ấy chiều dài, chiều ngang, bề cao, bề rộng, chu vi đều bao nhiêu và bốn bề nước bể nông hay sâu? Có cát ngầm, đá mỏm hay không, ở hình thế hiểm trở hay bình thường, xem đo tỏ tường, vẽ thành dồ bản. Lại chiếu khi khởi hành, do cửa bể nào ra bể, trong phương hướng nào mà lái đến nơi ấy, cứ theo đường thủy đã đi khấu tính ước được bào nhiêu dặm đường? Lại ở chốn ấy  trông vào bờ bể đối thẳng là tỉnh hạt nào? Là phương hướng nào? Ước lượng cách bờ bao nhiêu dặm đường? Ghi nói minh bạch trong hoạ đồ để vẽ trình lên. Lại từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chiếu theo lệ ấy mà làm”.

3.Chưa hề có nước nào như ở Việt Nam trước năm 1909, chính sử,  sách địa lý ghi rõ việc xác lập chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Trước hết Đại Việt sử ký tục biên (1676-1789) do các sử thần thời Lê – Trịnh biên soạn theo lệnh của Trịnh Sâm năm 1775, có đoạn viết: “Tám người thuộc đội Hoàng Sa xã An Vĩnh huyện Bình Sơn phủ Quảng Ngãi đi thuyền nhỏ vào bãi Hoàng Sa giữa hải đảo tìm thấy hóa vật, bị gió dạt vào cửa sông Thanh Lan huyện Văn Xương phủ Lô Châu (nước Thanh). Quan địa phương đó xét hỏi đúng sự thực rồi đưa về nguyên quán. Thế Tông Hiếu Vũ Hoàng đế ta, sai Cai bạ Thuận Hóa là Thức lượng hầu viết thư đáp lại nước Thanh. Ngoài biển xã An Vĩnh có nhiều đảo lớn gồm hơn 130 đảo, cách nhau một ngày đi thuyền, hoặc vài canh giờ. Trên đảo có chỗ có suối nước ngọt. Ở  bãi cát lại có ốc vằn, tục gọi là ốc tai voi, ốc xà cừ, ốc hương và hải trùng, hải xâm, đồi mồi… Đặt đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người xã An Vĩnh xung vào đội ấy, cắt lượt nhau đi thuyền đến đảo mò tìm sản vật. Mỗi năm cứ tháng ba ra đi, mang lương ăn sáu tháng, đi thuyền ra biển ba ngày ba đêm mới đến đảo. Ở đấy tha hồ tìm nhặt, được sản vật gì, bao nhiêu, đến kì tháng Tám thuyền cửa Eo, đem đến Phú Xuân nộp. Trong khoảng ấy cũng có người mò được tiền bạc, chì, thiếc, nồi đồng, súng, khí giới, ngà voi, bát bằng đá…”.

… “Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất hoặc người thôn Tứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản. Chẳng qua là lấy các thứ hải vật, còn vàng bạc của qúy ít khi lấy được…

“Hoàng Sa chính gần phủ Liêm Châu, đảo Hải Nam, người đi thuyền có lúc gặp thuyền đánh cá Bắc quốc, hỏi nhau ở trong biển. Tôi đã từng thấy một đạo công văn của quan chính đường huyện Văn Xương, Quỳnh Châu, gởi cho Thuận Hoá nói rằng: năm Kiền Long thứ 18 có 10 tên quân nhân xã An Vĩnh, đội Cát Liềm, huyện Chương Nghĩa, phủ Quảng Ngãi nước An Nam ngày tháng 7 đến Vạn Lý Trường Sa tìm kiếm các thứ, có tám tên lên bờ tìm kiếm, chỉ để hai tên giữ thuyền, bị gió đứt dây thuyền, giạt vào Thanh Lan cảng, quan ở đấy xét thực đưa trả về nguyên quán. Nguyễn Phúc Chu [chép nhầm, chính là Nguyễn Phúc Khoát] sai cai bạ Thuận Hoá là Thức lượng hầu làm thư trả lời” (quyển 2, từ tờ 82b – 85a).

Sang  triều Nguyễn từ năm 1802 đến 1909, năm bắt đầu bị tranh chấp, có rất nhiều tài liệu chính sử, sách địa lý minh chứng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như  Dư địa chí (1821) của Phan Huy Chú – nhà nghiên cứu bách khoa của Việt Nam đã viết cuốn này trong bộ Lịch triều hiến chương loại chí. Lịch triều hiến chương loại chí là một công trình biên khảo bách khoa lịch sử lớn gồm 49 quyển, ghi chép đủ mọi phép tắc của các triều đại Việt Nam. Chính Dư địa chí quyển 5, ở phần Quảng Nam, có nói đến phủ Tư Nghĩa. Hầu hết nội dung nói về phủ Tư Nghĩa là nói đến Hoàng Sa. Chứng tỏ Hoàng Sa rất quan yếu đối với phủ Tư Nghĩa hồi bấy giờ. Qua nội dung Phan Huy Chú đã viết, thấy rất rõ ông đã sử dụng sách Phủ biên tạp lục của Lê Qúi Đôn, đã tóm gọn nhiều nội dung của sách này. Ngoài tả cảnh vật của Hoàng Sa, ông cho biết: “Tiền Vương lịch triều (các chúa Nguyễn) đặt đội Hoàng Sa 70 tên cũng lấy dân An Vĩnh luân phiên sung vào”. Song có dị bản đã chép nhầm tháng giêng thay vì tháng ba, như Phủ biên tạp lục cho biết hàng năm “từ tháng ba đội Hoàng Sa đi làm nhiệm vụ cũng 3 ngày 3 đêm bằng 5 chiếc tiểu điếu thuyền đến Hoàng Sa rồi cũng tháng tám về đến cửa Eo tới thành Phú Xuân và cũng mang theo lương thực cho 6 tháng”. Hoặc Hoàng Việt dư địa chí(1833) không đề tên tác giả, thường gọi là cuốn Địa dư Minh Mạng được khắc in vào năm Minh Mạng thứ 14 (1833), sau đó được tái khắc in nhiều lần. Người ta thấy nội dung có nhiều điều giống Dư địa chí, song đôi chỗ có khác nhau về từ hoặc thêm, bớt và nhất là cách trình bày. Thay vì Dư địa chí gồm 5 quyển, thì Hoàng Việt địa dư chí chỉ có hai quyển với cấu trúc khác nhau. Hoặc Đại Nam thực lụcphần tiền biên quyển 10, soạn năm 1821 khắc in năm 1844 của Quốc sử quán triều Nguyễn tiếp tục khẳng định việc xác lập chủ quyền của Đại Việt cũng bằng hoạt động của đội quân Hoàng Sa và đội Bắc Hải. Hoặc  Đại Nam thực lục chính biên(đệ nhất kỷ khắc in năm 1848, đệ nhị kỉ khắc in xong năm 1864, đệ tam kỉ khắc in xong năm 1879) của Quốc sử quán triều Nguyễn có cả thảy 11 đoạn viết về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với nhiều nội dung mới, phong phú, rất cụ thể về sự tiếp tục xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo này. 

-Trong bộ sách Đại Nam nhất thống chí (soạn xong năm 1882, năm 1910 soạn lần hai và khắc in) cũng của Quốc sử quán triều Nguyễn đã xác định Hoàng Sa thuộc về tỉnh Quảng Ngãi và tiếp tục khẳng định hoạt động đội quân Hoàng Sa và đội quân Bắc Hải do đội Hoàng Sa kiêm quản.  Trong quyển III Quốc triều chính biên toát yếu của Quốc sử quán triều Nguyễn, đời vua Minh Mạng, có ba đoạn văn liên quan đến việc xác lập chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa. Ngoài ra trong các bản đồ của Việt Nam như Đại Nam thống nhất toàn đồ có vẽ Hoàng Sa và Vạn lí Trường Sa trong cương vực của Việt Nam…

4. Chưa hề có nước nào như ở Việt Nam trước năm 1909, lại có nhiều tư liệu phương Tây từ thế kỷ 19 trở về trước và của chính  Trung Quốc ghi rõ việc xác lập và hành xử chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Có thể nêu ra đây một số tài liệu chính như: – Nhật ký trên tàu Amphitrite (năm 1701) xác nhận Paracels là một quần đảo thuộc về nước An Nam.  Hồi ức về Nam Kỳ (Le Mémoire sur Cochinchine) của Jean Baptiste Chaigneau (1769-1825) viết vào các năm cuối đời Gia Long (hoàn tất năm 1820) đã khẳng định năm 1816 vua Gia Long đã xác lập chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Paracel.  Thế giới, lịch sử và mô tả về tất cả các dân tộc cùng tôn giáo, cách cư xử và tập quán của họ (Univers, histoire et description de tous les peuples, de leurs religions, moeurs et coutumes) của Giám mục Taberd xuất bản năm 1833 cho rằng hoàng đế Gia Long chính thức khẳng định chủ quyền trên đảo Hoàng Sa năm 1816.  Tạp chí Hiệp hội châu Á Bengal quyển VI (The Journal of the Asiatic Society of Bengal, Vol VI) đăng bài của Giám mục Taberd xác nhận vua Gia Long chính thức giữ chủ quyền quần đảo Paracels.  Tạp chí Hiệp hội Địa lý Luân Đôn năm 1849 (The Journal of Geographycal Society of London) đăng bài của Gutzlaff ghi nhận chính quyền An Nam lập ra những trưng thuyền và một trại quân nhỏ để thu thuế ở Paracels…

Ngoài ra, gần đây người ta còn phát hiện gần  trăm đầu sách địa lý của phương Tây ghi rõ Paracel  thuộc “Vương quốc An  Nam”, được viết bằng các thứ tiếng Ý, Pháp, Đức, Anh, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan… Có thể kể các cuốn tiêu biểu như: Biagio Soria với Vũ trụ học lịch sử, thiên văn học và vật lý quyển VI (La cosmografia istorica, astronomica e fisica, tomeVI – Napoli, 1828), Adriano Balbi & Malta Brunvới Bản tóm tắt mới về địa lý (Nuovo Compendio di geografia – Milano, 1865); Wilhelm Hoffmann với Mô tả về Trái Đất (Beschreibung der erde – Stuttgart, 1832); Carl Ritter với Tên và quyền sở hữu, sách Địa lý châu Á của Carl Ritter (Namen und Sach Derzeichnik zu Carl Ritter’s Erdkunde von usien – Berlin, 1841); Thomas Keith với Hệ thống địa lý (A system of geographia – London, 1826); cùng các cuốn sách khác như: Từ điển địa lý mô tả tất cả các khu vực trên thế giới(Dictionnaire géographique universel contenant la description de tous les lieux du globe quyển VII – Paris 1830); Những lá thư khai trí về châu Á, châu Phi và châu Mỹ quyển 3 (Lettres édifiantes et curieuses concernant l’Asie, l’Afrique etl’Amérique, Tome 3 – Paris, 1843); Phần hiện đại của lịch sử thế giới quyển 7 (The modern part of an universal history Vol 7 – London 1759)…

Về chính tài liệu của Trung quốc trước tiên là Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán (người Trung Quốc) năm 1696 .Trong quyển 3 của Hải ngoại kỷ sự đã nói đến Vạn Lý Trường Sa tức Hoàng Sa và đã khẳng định Chúa Ngãi đã hành sử chủ quyền của mình trên quần đảo này như sau:

“Bởi vì có những cồn cát nằm thẳng bờ biển, chạy dài từ Đông Bắc qua Tây Nam; động cao dựng đứng như vách tường, bãi thấp cũng ngang mặt nước biển; mặt cát khô rắn như sắt, rủi thuyền chạm phải ắt tan tành; bãi cát rộng cả trăm dặm, chiều dài thăm thẳm chẳng biết bao nhiêu mà kể, gọi là “Vạn Lý Trường Sa”, mù tít chẳng thấy cỏ cây nhà cửa; nếu thuyền bị trái gió trái nước tấp vào dầu không tan nát cũng không gạo không nước, trở thành ma đói mà thôi. Quãng ấy cách Đại Việt bảy ngày đường, chừng bảy trăm dặm. Thời Quốc vương trước, hằng năm sai thuyền đi đánh cá đi dọc theo bãi cát, lượm vàng bạc khí cụ của các thuyền lui tấp vào. Mùa thu nước dâng cạn, chảy rút về hướng Đông bị một ngọn sóng  đưa thuyền có thể trôi xa cả trăm dặm; sức gió chẳng mạnh, sợ có hiểm hoạ Trường Sa”.

Thích Đại Sán đã kể lại kinh nghiệm hải trình qua vùng Hoàng Sa tức Vạn Lý Trường Sa và cho biết ước lượng khoảng cách từ vùng Hoàng Sa đến Đại Việt khoảng bảy ngày đường. Những tài liệu của Việt Nam như đã cho biết giữa các đảo phải đi đến  mất 1 ngày đường, nên nếu phải trải qua hàng  trăm dặm tới  Đại Việt đi mất tới 7 ngày đường, trong khi từ bờ biển Việt Nam đi tới đảo gần nhất của quần đảo Hoàng Sa chỉ mất 3 ngày 3 đêm là hợp lý.           

Thích Đại Sán viết “Thời Quốc Vương trước, ở đây hàng năm sai thuyền đi đánh cá đi dọc theo bãi cát, lượm vàng bạc, khí cụ của các thuyền bị đắm ở Vạn Lý Trương Sa” cũng phù hợp với các tài liệu Việt Nam về hoạt động đội Hoàng Sa, song rõ hơn là xác định thời gian trước thời Quốc Vương Nguyễn Phúc Chu (1691 – 1725), có nghĩa là ít ra cũng ở  thời Nguyễn Phúc Trăn (1687 – 1691) hoặc các Chúa Nguyễn khác. Trong thời gian này, chưa có tranh chấp nên Thích Đại Sán là người Trung Quốc đã có thái độ khách quan ghi nhận chủ quyền của Đại Việt đối với Hoàng Sa như  trình bày ở trên. Cũng như các phần lãnh thổ khác của Đại Việt, chẳng bao giờ có các văn bản của triều đình Trung Quốc xác nhận. Truyền thống chiếm hữu lãnh thổ của phương Tây cũng chẳng bao giờ công bố cho các nước khác được biết. Chỉ có thực tế lịch sử xảy ra như thế nào thì những người am hiểu tường tận như Thích Đại Sán biết rõ sự việc xảy ra ở Đại Việt xứ  Đàng Trong đã ghi nhận như thế.

Sau đó đến các bản đồ cổ Trung Quốc do chính người Trung quốc vẽ từ năm 1909 trở về trước đều minh chứng Tây Sa và Nam Sa chưa thuộc về Trung Quốc.

Khảo sát tất cả các bản đồ cổ của Trung Quốc từ năm 1909 trở về trước, người ta thấy tất cả các bản đồ cổ nước Trung Quốc do người Trung Quốc vẽ không có bản đồ nào có ghi các quần đảo Tây Sa, Nam Sa hay bất cứ các đảo nào mà Trung Quốc suy diễn là Tây Sa và Nam Sa có nằm trong các bản đồ cổ ấy. Tất cả các bản đồ cổ ấy đều xác định đảo Hải Nam là cực Nam của biên giới phía Nam của Trung Quốc.

Chẳng hạn ngoài bản đồ được dư luận quan tâm còn rất nhiều bản đồ cổ khác của Trung Quốc như Dư địa đồ đời Nguyên của Chu Tư Bản được vẽ thu nhỏ lại trong sách Quảng Dư đồ của La Hồng Tiên quyển 1, thực hiện năm 1561, phần cực Nam lãnh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam.
.

Thiên hạ thống nhất chi đồ đời Minh trong Đại Minh nhất thống chí, năm 1461, quyển đầu, đã vẽ cực nam Trung Quốc là đảo Hải Nam .

Hoàng Minh đại thống nhất tổng đồ đời Minh, trong Hoàng Minh chức phương địa đồ của Trần Tổ Thụ, năm 1635, quyển thượng đã vẽ phần cực nam Trung Quốc là đảo Hải Nam.

Lộ phủ, châu huyện đồ đời Nguyên vẽ lại trong Kim cổ dư đồ của Nguyễn Quốc Phụ đời Minh, năm 1638, quyển hạ đã vẽ phần cực nam Trung Quốc là đảo Hải Nam.

Hoàng triều phủ sảnh, châu, huyện toàn đồ đời Thanh, khuyết danh, năm 1862, vẽ theo Nội phủ địa đồ gồm 26 mảnh mang tên Đại Thanh Trực Tỉnh Toàn Đồ” đã vẽ phần cực nam Trung Quốc là đảo Hải Nam.

Hoàng triều nhất thống dư địa tổng đồ trong tập Hoàng triều nhất thống dư địa tổng đồ (khuyết danh), năm 1894, đã vẽ phần cực nam Trung Quốc là đảo Hải Nam.

Quảng Đông tỉnh đồ trong Quảng Đông dư địa toàn đồ, do quan chức tỉnh Quảng Đông soạn năm 1897, có lời tựa của tổng đốc Trương Nhân Tuấn đều không thấy bất kỳ quần đảo nào ở biển Nam Trung Hoa.

Đại Thanh đế quốc, trong tập Đại Thanh đế quốc toàn đồ do Thường Vụ An Thư Quán Thượng Hải, 1905, tái bản lần thứ 4 năm 1910, đã vẽ phần cực Nam lãnh thổ Trung quốc là đảo Hải Nam .

Đại Thanh đế quốc vị trí khu hoạch đồ (1909), cũng như bản đồ trên đã vẽ phần cực nam Trung Quốc là đảo Hải Nam .

Sau năm 1909, nhiều bản đồ Trung Quốc đã vẽ Tây Sa, Nam Sa trong lãnh thổ của Trung Quốc, trong đó có Trung Quốc cương giới biến thiên đồ năm 1939, đã vẽ ranh giới thuộc quốc đời Thanh xuống tận gần Indonesia, gồm cả Triều Tiên.

Ngoài ra, một số tư liệu cổ mà Trung Quốc trưng ra để chứng minh sự phát hiện sớm của người Trung Quốc (mà thực ra chỉ là suy diễn không có cơ sở vững chắc để chứng minh chủ quyền của Trung Quốc) lại đều là các tài liệu viết về nước ngoài như Giao Châu dị vật chí của Dương Phù. Xứ Giao Châu là Việt Nam cũng chỉ “Bắc thuộc” một thời gian nhất định. Cũng thế các tác giả trên đã dẫn Chư Phiên Chí của Triệu Nhữ Quát (chứ không phải Triệu Nhữ Thích), đời Nam Tống (1225) có nhắc đến Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Đường ở Phiên Quốc, có nghĩa nước khác chứ không phải Trung Quốc. Tư liệu cổ Trung quốc cũng dẫn Phù Nam truyện của Khang Thái (đời Ngô Tam Quốc), Nam Châu dị vật chí của Vạn Chấn (đời Ngô).Chư  Phiên đồ đời Tống lại xác định giới hạn của Trung Quốc với các nước khác ở Giao Dương tức Giao Chỉ Dương. Giao Chỉ Dương hay biển Giao Chỉ lại là Vịnh Bắc Bộ trong khi Hoàng Sa, Trường Sa lại cách xa Vịnh Bắc Bộ… Như thế các tài liệu cổ trên đã gián tiếp chứng minh Hoàng Sa và Trường Sa mà Trung Quốc gọi là Tây Sa, Nam Sa không thuộc về Trung Quốc mà thuộc các nước khác mà Trung Quốc gọi là Phiên Quốc, hay Giao Châu, Nam Châu.

Sau khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng Hoàng Sa tháng 1 năm 1974, nhiều đoàn khảo cổ Trung Quốc đến các đảo thuộc quần đảo này và gọi là “phát hiện” nhằm nhiều cổ vật như tiền cổ, đồ sứ, đồ đá chạm trổ trên các hòn đảo này, song đều không có giá trị gì để minh xác chủ quyền Trung Quốc bởi đồng tiền La Mã đã từng được phát hiện ở Óc Eo (An Giang), ở miền Nam Việt Nam nhưng không thể chứng minh rằng Óc Eo (An Giang) thuộc chủ quyền La Mã. Các nhân viên khảo cổ Trung Quốc còn phát hiện được 14 ngôi miếu cô hồn và cho rằng chúng có từ thời Minh Thanh. Trong các ngôi miếu cô hồn ấy lại có 2 ngôi miếu ở đảo Vĩnh Hưng, tức đảo Phú Lâm (Ile Boisée) đã được nhóm Hàn Chấn Hoa biên chép lại từ bài báo “Từ quần đảo Tây Sa trở về” trên Đại Công báo Hương Cảng , ngày 31 tháng 3 năm 1957, ghi rõ:

Trên đảo Vĩnh Hưng [Phú Lâm] hiện nay có 2 ngôi miếu mà ngư dân tự xây dựng nên. Miếu mặt Nam gọi là “Cô hồn miếu”, miếu ở mặt Bắc gọi là “Hoàng Sa Tự” (Hàn Chấn Hoa, Lâm Kim Chi, Ngô Phượng Bân, Ngã quốc Nam Hải chư đảo sử liệu hội biên, thiên thứ 1, trang 115).

“Hoàng Sa tự” là bằng chứng hiển nhiên vết tích của việc xác lập chủ quyền của Việt Nam mà các vua chúa Việt Nam, trong có thời Minh Mạng sai thủy quân ra Hoàng Sa xây dựng miếu, chùa như đã trình bày trong chương này.

5.Chưa hề có nước nào như Việt Nam mà người phương Tây và nhà nước Việt Nam từ thế kỷ 19 trở về trước đã vẽ bản đồ xác định rất rõ “Paracel tức Hoàng Sa” và ghi chú Hoàng Sa thuộc xứ Đàng Trong của Vương quốc An Nam tức Việt Nam.

Năm 1494, Giáo Hoàng Alexandre VI đã dùng quyền lực tinh thần để phân các vùng ảnh hưởng trên thế giới cho hai nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Sự phân chia này được chính thức hoá trong hiệp ước Tordesillas 1494. Do đấy, các đội thương thuyền của Bồ Đào Nha đã đi về phương Đông tức Ấn Độ và Trung Quốc. Bồ Đào Nha đã thiết lập một thương điếm ở Ma Cao (Trung Quốc) từ năm 1511 và biến Ma Cao thành thuộc địa từ 1557. Từ đó các thương thuyền qua lại Biển Đông và có những nhà hàng hải Bồ Đào Nha thám hiểm vùng Biển Đông trong đó có đảo Hoàng Sa.

Nhà hàng hải Bồ Đào Nha Fernão Mendes Pinto, một giáo sĩ Dòng Tên đã viết cuốn sách du ký Peragrinacão (dịch ra tiếng Pháp là Pérégrination nói về  chuyến du hành năm 1545, được xuất bản tại Lisbonne năm 1614.trong đó FM., Pinto đã mô tả về quần đảo Hoàng Sa mà ông gọi là Pulo Pracela  (Pracela tiếng Bồ Đào Nha có nghĩa là san hô, Pulo có nghĩa là đảo, cù lao). Cũng trong thời gian này, các nhà truyền giáo đi theo các thương thuyền đã đến truyền đạo vào Đàng Ngoài của Việt Nam vào 1533. Con đường hàng hải vào đầu thế kỷ XVI từ Malacca đến Macao đã bắt đầu gặp trở ngại, các thương thuyền bị đụng vào các bãi đá ngầm ở Biển Đông. Qua những cuộc khảo sát với rất nhiều nhật ký hải trình của các nhà thám hiểm Bồ Đào Nha trong nửa sau thế kỷ XVI đã nói về một dải cao tầng bãi đá ngầm Pullo Sissir (Baixos de Pullo Sissir), (vĩ độ 10) mà người ta thấy rất nguy hiểm, càng ngày người ta càng thấy rất rộng, bao quát cả một vùng đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngày nay, tương tự như những hiểu biết của các nhà địa lý của Việt Nam cùng thời

Cũng giống như các nhật ký hải trình, các tấm hải đồ của các nhà hàng hải Bồ Đào Nha trong nửa sau thế kỷ XVI phản ánh một quan niệm, hiểu biết chung về một quần đảo mà họ gọi là Pracel  giống như một dải “ruban” dài hay như một lưỡi dao dài cong chứ không gãy khúc, kéo dọc suốt ngoài khơi với bờ biển Đàng Trong lúc bấy giờ. Những tấm bản đồ hiếm có tìm thấy xưa nhất có ghi nhận quần đảo Hoàng Sa (Parcel) của người Bồ Đào Nha còn là những bản đồ vào giữa thế kỷ XVI. Đó là bản đồ Bartholomen Velho, năm 1560, được ghi lại trong sách của P.Y. Manguin và bản đồ khuyết danh trong cuốn Livro da Marinharia, ghi lại trong cuốn Peregrination của F.M. Pinto. Hai tấm bản đồ có ghi niên đại 1560 tương đối giống nhau đã phản ánh trung thực sự hiểu biết lúc bấy giờ của người phương Tây về Hoàng Sa. Nói chung người phương Tây lúc bấy giờ mà tiêu biểu là người Bồ Đào Nha chưa hiểu biết rõ về Hoàng Sa cũng chưa biết các đảo này thuộc về chủ quyền của nước nào. Hình dáng Hoàng Sa mà người Bồ ghi hàng chữ J Do Pracel trên cũng ở phía Bắc một dải dài  những chấm nhỏ chạy từ khoảng Cù Lao Chàm ở ngoài khơi Hội An, được gọi là Pulo Campello tới Cù Lao Thu (đảo Phú Quý) được ghi bằng Pulo Sissir, ngoài khơi Phan Thiết ngày nay. Cái dải dài rộng và những chấm đậm ở phía Bắc, càng về phía Nam càng hẹp lại và tận cùng bằng cái chấm nhỏ giống như một dải “ruban” nhọn phía dưới. Dải “ruban” Pracel ấy trong Livro da Marinharia của FM Pinto được ghi nhiều chấm hơn, phía Bắc đậm hơn, bề ngang phần dưới hẹp hẳn.

Đến cuối thế kỷ XVI, bản đồ Fernao Vaz Dourado, năm 1590 cho thấy người Bồ Đào Nha cũng chưa tăng sự hiểu biết gì thêm. Song người Hà Lan đã bắt đầu hoạt động rất mạnh ở vùng này với bằng chứng là bản đồ của Van – Langren năm 1595 hết sức phong phú, rất nhiều chi tiết nhất là tại vùng Trung Bộ. Tại Bắc Bộ cũng có nhiều chi tiết rõ hơn nhất là sông Hồng đã được vẽ bắt nguồn từ Vân Nam ghi là Suinam. Ở phía Tây Bắc Pracel có đảo Hải Nam được ghi là I Ainam. Ở phía Đông Bắc và Đông thì không có ghi địa danh nào cả, song lại được vẽ bởi những chấm đậm và liền nhau. Điều đặc biệt ở bản đồ Van – Langren (1595) trên phần đất liền, ngoài địa danh rất đáng lưu ý là  mũi Varella còn có  bờ biển  ghi là Costa da Pracel ở đối diện với Pulo Canton (Cù Lao Ré) thuộc địa phận tỉnh Quảng Ngãi.

Từ thế kỷ XVI, các nhà hàng hải và thám hiểm Bồ Đào Nha, rồi sau đó Hoà Lan đã khảo sát và vẽ những bản đồ về quần đảo. Hoàng Sa gọi là Parcel hay Pracel được vẽ trên bản đồ thành suốt một vệt dài hình lưỡi kiếm từ vĩ độ 17 Bắc xuống tới vĩ độ 10 Bắc. Càng xuống phía Nam, càng hẹp như đã trình bày ở trên đây. Sang thế kỷ XVII, các chúa Nguyễn ở Đàng Trong bắt đầu quan tâm đến Biển Đông. Bản đồ xưa nhất có ghi Bãi Cát Vàng ở Biển Đông còn lưu giữ đến ngày nay là bản đồ của Đỗ Bá Công Đạo trong Toản tập thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (năm 1686).

Sang thế kỷ XVIII, những cuộc khảo sát Biển Đông của các công ty Đông Ấn rất kỹ càng. Từ cuộc thám hiểm đo đạc của phái bộ Kergariou – Locmacria vào những năm 1778 – 1787 ở Biển Đông đã giúp cho người phương Tây hiểu biết rõ hơn, trung thực hơn, không còn lờ mờ và sợ hãi như những huyền thoại trước đây về Biển Đông. Các hải trình tương đối an toàn hơn, tuy họ không hề phủ nhận sự nguy hiểm và hoạ đắm tàu ở khu vực quần đảo Paracel.

Từ đây trở đi bắt đầu có những bản đồ của Phương Tây vẽ rất chính xác, ghi  rất rõ về chủ quyền của Việt nam tại quần đảo Paracel tức Hoàng Sa của Việt Nam . Tiểu biểu nhất là bản đồ An Nam Đại Quốc Họa Đồ vẽ năm 1838 của giám mục Taberd.

Bản đồ này được đính sau cuốn Tự điển Việt –  La Tinh  nhan đề Latino – Anamiticum của giám mục Taberd từng làm thông dịch cho vua Minh Mạng từ tháng 11 năm 1826, xuất bản năm 1838. Bản đồ có chiều dài 80cm, ngang 44cm in trên loại giấy thường để in hoạ đồ. Nhan đề bản đồ được in bằng ba thứ tiếng: chữ Hán, chữ Quốc Ngữ và chữ La Tinh.

+ Paracels  là địa danh mà người phương Tây chỉ quần đảo ở Biển Đông suốt thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX chính là Cát Vàng hay Hoàng Sa của Việt Nam. Trong bản đồ này có ghi chú “Paracel seu Cát Vàng” . Tại Biển Đông không có đảo Hải Nam của Trung Quốc mà chỉ có đảo của Việt. Đảo ở khoảng vĩ độ 170 Bắc và kinh độ hơn 1110 Đông, có vẽ một số đảo (bằng một số dấu chấm) và ghi hàng chữ  “Paracel seu Cát Vàng”. Từ  seu ( tiếng La Tinh) = “có nghĩa là”,  Cát Vàng (tiếng Nôm) tức là “Hoàng Sa” (tiếng Hán Việt).  Paracel = Cát Vàng = Hoàng Sa, là một khẳng định rõ ràng nhất quán chứ không phải suy diễn như Tây Sa của Trung Quốc. Điều này đã phản bác rất mạnh mẽ sự xuyên tạc của Trung Quốc cho Hoàng Sa chỉ là ở ven bờ.

-Địa danh Paracel ghi bên cạnh những chấm đánh dấu các đảo ở khoảng vĩ  độ 160Bắc (ngang vĩ độ cửa Tư Dung, Thừa Thiên )  lên đến vĩ độ 170 Bắc khoảng Cửa Tùng (Quảng Trị) và kinh độ  111,018 Đông. Điều này đã phản ảnh sự hiểu biết về Hoàng Sa của người phương Tây đã rất chính xác và Hoàng Sa không còn chung với quần đảo Trường Sa nữa.

Trên phần đất liền ghi hàng chữ dài: “An Nam Quốc Seu Imperium Anamiticum” cùng hàng chữ “Cocincina interior” seu “An Nam Đàng Trong”, ở phía Nam “Lũi Sầy” seu “Murus magnus separans Olim Utrumque regne” và “Cocincina exterior”, Đàng Ngoài seu “Tunquinum”, chứng tỏ nội dung bản đồ được vẽ không phải ở thời điểm 1838, mà đã được vẽ từ trước đó. Song bản đồ lại ghi các địa danh mới ra đời sau này như Bình Định Thành, Định Tường Thành… nên năm vẽ An Nam đại quốc hoạ đồ phải là  sau khi Nguyễn Ánh đã chiếm thành Quy Nhơn.

Bản đồ vẽ bờ biển miền Nam Trung Bộ rất chính xác, còn miền Bắc, nhất là giáp ranh với Lào chưa thật chính xác. Sự hiểu biết của người Tây phương về Việt Nam rất phong phú. Dù sao cho tới đầu thế kỷ XIX, người phương Tây đã biết rất rõ về Việt Nam và Hoàng Sa.

Về phía nhà nước Việt Nam còn  rất ít bản đồ được lưu giữ đến ngày nay, dù triền đình Nhà nguyễn đã hàng năm sai thủy quân đi vẽ bản đồ, một phần do chiến tranh tàn phá. Hiện chúng ta còn  Toản tập An Nam lộ đồ hay Toản tập An Nam tứ chí lộ đồ thư hoặc Thuận Hoá Quảng Nam địa đồ nhật trình có vẽ “Trường Sa” ở ngoài xã Du Trường (Cù Lao Ré và đi mất 2 ngày! 

Bản đồ tổng quát quan trọng nhất còn lưu giữ từ năm 1838 thủy quân triều Minh Mạng đã vẽ được một bản đồ chung về Hoàng Sa. Bản đồ tiêu biểu còn lại đến ngày nay là Đại Nam nhất thống toàn dồ vẽ năm 1838.

Trong khi việc đo đạc, vẽ bản đồ,  chính sử, địa chí  đã ghi chép rất nhiều . Đại Nam thực lục tiền biên, quyển 8 còn chép: “Năm Tân Mão, Hiến Minh Hoàng Đế năm thứ 20 (1711), mùa hạ, tháng 4 (âm lịch), sai đo bãi cát Trường Sa dài ngắn, rộng hẹp bao nhiêu”. Cho dù bãi cát “Trường Sa” ở đây chính là Bãi Hoàng Sa ở ngoài biển hay ở đất liền cũng có bãi gọi là “Trường  Sa”, thì đoạn văn ghi trên đã khẳng định một điều rằng chúa Nguyễn đã có kế hoạch đo đạc các bãi cát ! Đo đạc các bãi cát trong đất liền đâu có quan trọng mà còn làm, huống chi bài cát dài ở ngoài biển còn có nhu cầu đo đạc hơn nhiều nhất là cần thiết cho hàng hải, tất cũng phải đo đạc không sớm thì chầy!

Trước khi lên ngôi hoàng đế 1802, Nguyễn Ánh cũng đã được anh em Dayot giúp đo đạc hải trình ở Biển Đông trong đó có vùng quần đảo Hoàng Sa.

Lúc đầu đội Hoàng Sa có trách nhiệm  xem xét đo đạc thủy trình như thời Gia Long, tháng giêng, năm Ất Hợi (1815), Phạm Quang Ảnh, thuộc đội Hoàng Sa được lệnh ra đảo Hoàng Sa xem xét đo đạc thủy trình. Phạm Quang Ảnh hiện được thờ tại từ đường tộc họ Phạm (Quang) tại thôn Đông, xã Lý Vĩnh, xưa là phường hay hộ An Vĩnh tại huyện đảo Lý Sơn (Cù Lao Ré). Đến năm Gia Long thứ 15, năm Bính Tí (1816), vua Gia Long lại ra lệnh cho cả thủy quân phối hợp với đội Hoàng Sa đi ra Hoàng Sa để xem xét và đo đạc thủy trình…

Sang đến đời Minh Mạng, việc đo đạc thủy trình chủ yếu giao cho thủy quân có trách nhiệm và thuê thuyền của dân hướng dẫn hải trình.

Đại Nam thực lục chinh biên, đệ nhị kỷ, quyển 165: “Xem từ năm nay về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chọn phái thủy quân biền binh và giám thành đáp một chiếc thuyền ô  nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, giao cho 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, thuê 4 chiếc thuyền của dân hướng dẫn ra xứ Hoàng Sa”.

Đo đạc thủy trình hay hải trình là đo đạc đường đi ngoài biển. Đây là một trong những nhiệm vụ chỉ đạo của Bộ Công cốt để đảm bảo an toàn cho các thuyền bè đi trên biển trong đó có vùng biển Hoàng Sa . Việc đo đạc thủy trình và sau đó vẽ bản đồ ở Hoàng Sa do Bộ Công chỉ đạo cùng với thủy quân phối hợp với giám thành,với địa phương Quảng Ngãi và đội Hoàng Sa.

Mỗi lần đi đo đạc phải chọn được thợ lái có năng lực, biết được các nơi đường biển nông sâu, khó dễ, cát ngầm, đá mỏm mà tránh, còn phải biết lấy núi nào làm chuẩn, biết chiều trời, tiết gió để chuyển phương hướng, nên tiến hay dừng. Theo sáchKhâm định Đại Nam hội điển sự lệ, quyển 220  của triều Nguyễn thì Bộ Công tâu rằng người nào mười phần am hiểu thông thạo thì cho vào hạng ưu, thạo tám chín phần là hạng bình, thạo năm sáu phần là hạng thứ, châm chước bàn đinh, ai đáng đề bạt bổ nhiệm làm chánh đội trưởng, ngoại ủy đội trưởng, ai đáng cấp tiền gạo gấp đôi… thì kê sách tâu rõ đợi chỉ gia ân. Những lời dụ và bàn được chuẩn y như sau: “Thơ lại thủy sư thì cửa biển hiểm hay dễ, xem gió, trông khí trời, nghiên núi, dò nước, nhìn kiếm tìm hướng, nhớ rõ địa cầu, ai được mười phần am hiểu thông thuộc là hạng ưu, ai được tám chín phần là hạng bình, ai được có năm sáu phần là hạng thứ. Các tên dư hạng ưu mà nguyên là chánh đội trưởng thì đề bạt bổ nhiệm làm cai đội, nguyên là  đội trưởng thì đề bạt bổ nhiệm làm chánh đội trưởng suất đội, ai là ngoại ủy đội trưởng thì đề bạt bổ nhiệm làm đội trưởng, gặp khi có khuyết thì ưu tiên bổ nhiệm ngay” .

Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, quyển 220 cũng chép: “Như trong một năm, sai phái đường bể nhiều lần, được xong xuôi ổn  thoả cả, hoặc trong một lần mà đi ngoại quốc, cũng là không phái ra ngoại quốc mà hằng gặp sóng gió khác thường, thuyền rất nguy khốn, mà tự mình chủ trì tiến ngừng phải tốt, rốt cuộc được xong xuôi yên ổn thì đều là hạng ưu. Phàm trong năm ấy sai phái đường bể hai lần, không cứ xa gần, được xong xuôi yên ổn cả thì là hạng bình. Sai phái đường bể một lần xong xuôi yên ổn là hạng thứ. Phái đi không được xong xuôi yên ổn là hạng liệt”.

Trên đây là quy định chung cho thuỷ quân đi biển và thủy quân đi đến Hoàng Sa vừa là dịp để khảo hạch và cũng là dịp luyện tập thủy quân, căn cứ vào đó mà thưởng phạt. Có thể đối với việc đo đạc ở Hoàng Sa, thưởng phạt đặc biệt hơn. Vì thế từ thời vua Minh Mạng năm thư 17, việc phái thủy quân ra Hoàng Sa hàng năm rất đều đặn. Cũng có khi vì gió bão phải đình lại, sau lại tiếp tục. Tỷ như năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) có dụ chỉ của vua Thiệu Trị đình hoãn, đến năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) cũng cho đình hoãn do Bộ Công tâu xin  hoãn. Sau đó đến thời Tự Đức không còn ghi chép trong sử sách nữa bởi theo phàm lệ sách Đại Nam thực lục chính biênthời Tự Đức những việc đã thành lệ rồi không còn chép nữa.                                                                            

Thời gian đi vãng thám đo đạc ở Hoàng Sa thì bắt đầu triều Nguyễn theo lệ khởi đi vào mùa xuân, (kể từ kinh thành Huế đến Quảng Ngãi), song cũng tùy năm sớm trễ khác nhau. Từ kinh thành Huế, thuỷ quân tới Quảng Ngãi nghỉ ngơi và chuẩn bị cũng mất một thời gian đáng kể. Như năm Minh Mạng 19 (1838) lúc đầu ấn định khởi hành hạ tuần tháng 3, nhưng vì gió Đông nổi lên liên tục kèm theo mưa lớn, tới hạ tuần tháng 4 vẫn chưa khởi hành được. Lúc đầu kế hoạch tính đo đạc giáp vòng Hoàng Sa từ hạ tuần tháng 3 đến hạ tuần tháng 6 là hoàn tất công việc. Sau dù có đi trễ, thời gian hoàn tất tháng 6 vẫn không thay đổi.      

Nếu chậm trễ mà có lý do chính đáng thì không sao, song nếu tùy tiện thì bị phạt, hay làm không chu tất cũng bị phạt. Nếu hoàn  tất tốt đều được thưởng. Trong khi năm Minh Mạng thứ 16 (1835), cai đội Phạm Văn Nguyên trên đường công tác đi Hoàng Sa về chậm trễ, đã có chỉ giao Bộ Công trị tội và bị  phạt  80 trượng, song cho phục chức cai đội. Tộc họ Phạm Văn hiện có nhà thờ họ và lăng mộ tộc họ ở thôn Đông xã Lý Vĩnh (trước đây là phường An Vĩnh). Hiện có hàng trăm hậu duệ đang sống tại huyện đảo Lý Sơn. Các viên giám thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiện, Nguyễn Văn Hoằng vẽ hoạ đồ Hoàng Sa chưa chu tất cũng bị phạt mỗi người 80 trượng. Song cùng đi chuyến này những người trong đội Hoàng Sa  như Võ Văn Hùng (tộc họ Võ hiện còn từ đường ở thôn Tây, xã An Vĩnh, xưa là phường An Vĩnh, thuộc huyện đảo Lý Sơn), Phạm Văn Sanh (hiện họ Phạm Văn còn từ đường và khu “lăng” mộ ở thôn Đông, xã An Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn) hướng dẫn, đo hải trình vất vả, được thưởng mỗi người 1 quan tiền  Phi Long ngân tiền và bình thệ, dân phu 2 tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định đi theo cũng được thưởng mỗi người 1 quan tiền. Cũng thế vào năm Minh Mạng 18 (1837), do khởi hành chậm trễ, những người được kinh phái như thủy sư suất đội Phạm Văn Biện, tỉnh phái hướng dẫn Võ Văn Hùng, Phạm Văn Sanh (lần trước được thưởng) đều bị phạt. Trong khi các dân binh hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định đi theo vẫn được thưởng 2 quan tiền. Những chi tiết trên đã minh hoạ rất hùng hồn việc thực thi chủ quyền của Việt Nam trong việc đo đạc thủy trình và vẽ bản đồ.

Nhiệm vụ đo đạc ở Hoàng Sa được quy định cũng rất rõ ràng có ghi trong Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ quyển 165 cũng như Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, quyển 221 như sau:

Không cứ đảo nào, cửa  bể nào thuyền chạy đến, sẽ đo nơi ấy chiều dài, chiều ngang, bề cao, bề rộng, chu vi bao nhiêu, rà bên bờ nước bể nông hay sâu. Có cát ngầm, đá mỏm hay không, ở tình thế hiểm trở hay bình thường, xem đo tỏ tường vẽ thành đồ bản, chiếu khi khởi hành, do cửa bể nào ra bể, trông phương hướng nào mà lái đến nơi ấy, cứ theo đường thủy đã đi khấu tính ước được bao nhiêu dặm đường? lại ở chốn ấy trông vào bờ bể đối thẳng là tỉnh hạt nào? và phương hướng nào? Ước lượng cách bờ bao nhiêu dặm đường? Ghi nói minh bạch trong hoạ đồ để về trình lên. Lại từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chiếu theo lệ ấy mà làm”.

Như thế việc đo đạc phải kết hợp với việc vẽ hoạ đồ mà chuyên viên vẽ hoạ đồ lại là các viên giám thành .

Việc đo đạc để vẽ bản đồ về Hoàng Sa dưới triều Nguyễn đã được bắt đầu từ thời Gia Long 14 (1815), song đến đời Minh Mạng mới được thúc đẩy mạnh. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835) các viên giám thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Văn Hoàng vẽ hoạ đồ Hoàng Sa chưa chu tất đã bị phạt mỗi người 80 trượng như đã nêu trên. Tấu của Bộ Công vào năm Minh Mạng thứ 17 (1836) cũng chỉ vẽ được một nơi và cũng chưa biết rõ nên làm thế nào. Theo dụ vua Minh Mạng ngày 13 tháng 7 năm thứ 18 (1837), thủy quân đi Hoàng Sa vẽ thành đồ bản 11 nơi, tuy nhiên chưa được chu đáo lắm. Theo tấu Bộ Công ngày 21 tháng 6 Minh Mạng thứ 19 (1838), thủy quân đệ trình sau khi đo đạc 3 nơi với 12 hòn đảo đã vẽ được 4 bức đồ bản, 3 bức vẽ riêng và 1 bức vẽ chung, song cũng chưa vẽ rõ ràng lắm, Bộ Công phải yêu cầu vẽ lại tinh vi hơn .

Kỹ thuật đo đạc và vẽ bản đồ Hoàng Sa của Việt Nam vào thời kỳ nhà Nguyễn  tuy có kỹ, chu đáo hơn trước, song vẫn còn lạc hậu so với kỹ thuật tân tiến của phương Tây lúc bấy giờ , nhất là chưa xác định được toạ độ theo kinh độ và vĩ độ trên toàn địa cầu. Vì thế, các hải đồ tuy có nhiều chi tiết, song không phải chỉ có hải đồ là có thể đi biển chính xác mà lúc nào cũng cần đến những người từng trải đã từng lái thuyền đến các vùng biển đã đi qua. Các hải đồ về Hoàng Sa vốn được các giám thành vẽ hoặc được lưu ở vệ giám thành, hoặc ở thủy quân và Bộ Công. Rất tiếc qua cuộc binh biến ngày 4/7/1885 và cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp vào năm 1946, kinh thành bị đốt phá, đã không còn giữ lại những tập bản đồ qúi giá về Hoàng Sa đã được vẽ rất kỹ lưỡng.

Ngoài bản đồ An Nam Đại quốc họa đồ của Giám mục Taberd, người ta còn thấy rất nhiều bản đồ do phương Tây vẽ từ thế kỷ 18, có ghi chú rõ Paracel thuộc Vương quốc An Nam hay Đàng Trong (Cochinchine). An Nam Đại quốc họa đồ (bản đồ 1) dài 80cm5 rộng 44cm của Giám mục Taberd xuất bản năm 1838 khẳng định “Paracel seu Cát Vàng” (seu, trong tiếng La tinh có nghĩa “hoặc” hay “là”) Paracel hay là Cát Vàng tức Hoàng Sa, nằm trong cuốn từ điển Latinh – Annam ghi rõ ở tọa độ địa lý hiện nay và nằm trong vùng biển của Việt Nam.
Từ tập hồ sơ tư liệu bắng Tiếng Anh này, tôi mong muốn cũng là thông điệp học thuật gửi đến nước Mỹ, nước Việt Nam nhất là tới các bạn trẻ Việt Nam ở trong và ngoài nước như sau:
Một là phải quí trọng giới học thuật có tầm nhìn xa, chất xám của đất nước..Nước Mỹ là nước rất quí trọng học thuật, quí trọng những người nghiên cứu, những nhà khoa học đã góp phần phát triển đất nước họ, nên tôi đã nỗ lực tạo sự kiện học thuật ở Mỹ trong năm 2011 và 2012 vừa qua về chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa của một người đã dành gần 40 năm nghiên cứu, tìm hiểu sự thật lịch sử chủ quyền để các nhà nghiên cứu tại Mỹ và chính quyền Mỹ biết rõ sự thật lịch sự để hỗ trợ cho sự thật lịch sử hầu bảo vệ trật tự, sự công bằng, hòa bình vững bền của thế giới.
Giới trẻ Việt Nam nên nỗ lực góp sức phát triển về học thuật, mỗi người có kế hoạch nhỏ xây dựng đất nước tương lai thật hùng cường.
Hai là mọi người Việt Nam phải bừng tỉnh, thoát khỏi những hệ lụy của thời lệ thuộc, chia cắt, hận thù, chối bỏ nhau.
Hoàng Sa & Trường Sa không những vốn là những hòn đảo có tầm chiến lược, cổ họng của Việt Nam mà luôn gắn liền với những biến chuyển lịch sử quan hệ quốc tế.
Khởi đầu từ năm 1909 khi chính quyền Quảng Đông cho là đất vô chủ, bắt đầu tổ chức thám sát, chiếm hữu chủ quyền  khi chế độ thực dân đang phát triển mạnh, Việt Nam đang bị Pháp đô hộ mất quyền tự chủ ngoại giao, nạn nhân của việc  đổi chác quyền lợi của chính quyền thực dân Pháp với chính quyền Quảng Đông theo chủ nghĩa quốc gia bành trướng. Năm 1938, 39 Nhật chiếm đóng Hoàng Sa, Trường Sa dùng bàn đạp tấn công Đông Dương. Năm 1946 lợi dụng Nhật bại trận, được Đồng minh giao giải giới quân đội Nhật quân Tưởng Giới Thạch đã chiếm đóng Hoàng Sa và Trường Sa cho đến năm 1950 mới rút, trong khi đó quân Pháp và quân đội quốc gia Việt Nam đóng xen kẽ.. Tháng 4 năm 1956 Pháp rút khỏi Đông Dương, lợi dụng khoảng trống lực lượng ở Biển Đông, Trung Quốc chiếm đảo Phú Lâm,  đảo lớn nhất quần đảo Hoàng Sa, quân Đài Loan chiếm đảo Itu-Aba , đảo lớn nhất quần đảo Trường Sa, xen kẽ với quân đội VNCH. Lợi dụng sự đối đầu giữa hai chính quyền Nam Bắc trong thời chiến tranh lạnh cũng như chiến tranh nóng ở Việt Nam, Trung Quốc đã cố tình tranh thủ sự ủng hộ chủ quyền tại Hoàng Sa , Trường Sa thuộc Trung Quốc. Ngày 20 tháng 1 năm 1974  lợi dụng Mỹ rút khỏi Việt Nam, Trung Quốc chiếm toàn bộ Hoàng Sa. Năm 1975 Việt Nam thống nhất sau khi chiếm giữ các đảo do quân đội VNCH đóng ở quần đảo  Trường Sa, đã  tuyên bố chủ quyền của Việt Nam ở cả Hoàng Sa & Hoàng Sa thì Trung Quốc cho là  đã lật lọng.
Như thế sau bao biến động, Việt Nam thống nhất sau năm 1975 đã lại khẳng định chủ quyền của mình tại Hoàng Sa & Trường Sa.
Ba là mọi người Việt Nam không phân biệt chính kiến, sắc tộc, địa phương, phải tỉnh táo , khôn ngoan, cảnh giác, không làm gì cho đất nước suy hèn.
Để tránh nguy cơ mất thêm đất, mất thêm đảo cũng như mất nước khi mà tham vọng bá quyền, bành trướng , biến thành thuộc quốc, quận huyện  quá lộ rõ của Trung Quốc, mọi người Việt Nam ở trong, ngoài  chính quyền, ở trong và ngoài nước, phải cảnh giác, không làm gì cho đất nước suy hèn. Thời Trần sau khi tiêu diệt nhà Lý nhờ hội nghị Diên hồng,toàn dân đoàn kết mà chống chọi được với đế quốc Nguyên Mông hùng mạnh hàng đầu thế giới thời ấy, dù có chú của vua vì tư lợi đã theo giặc. Nên nhớ ông cha ta dù phải cầu phong, triều cống song luôn tự xưng Đại Hoàng đế và Đại Cồ Việt , Đại Việt!
Hãy từ  bỏ ý tưởng lợi ích phe phái, nhân danh này nọ, đạp đổ cho bõ ghét, cổ súy manh động, nối giáo cho giặc của một số người. Phải để lợi ích dân tộc lên trên hết cũng như số phận của hơn 80 triệu đồng bào ruột thịt.
Bốn  là phải nắm lấy thời cơ có một không hai xây dựng đất nước hùng cường. Thế nước, thế toàn cầu nhiều chuyển biến, thời cơ có một không hai, bắt chước người Nhật  đã tận dụng thời thế sau thế chiến thứ hai tuy là nước bại trận đã khai thác triệt để hợp tác với nước cựu thù là Mỹ đề phát triển đất nước hùng cường không thua kém ai.
Phải lấy mối nhục tụt hậu, mối nhục bị hiếp đáp, chất men yêu nước “ Hoàng Sa” làm động cơ xây dựng nội lực đất nước hùng cường! Phải góp phần thúc đẩy đột phá về giáo dục, trước hết là giáo dục đại học. Phải tận dụng chất xám hàng trăm ngàn chuyên gia các ngành nghề đang sống ở nước ngoài để xây dựng đất nước hùng cường…
Sự thật lịch sử chỉ là một. Song thường xảy ra sự bóp méo lịch sử và đã đưa đến những sai lầm tai hại kể cả gây chiến tranh !
Trong lịch sử loài người , đã có thời hầu như trong các chế độ chuyên chế đã từng xảy ra sự bóp méo lịch sử, song chưa từng thấy sự chà đạp sự thật lịch sử một cách thô bạo như Trung  Quốc đã và đang làm khi trình Ủy Ban đăng ký thềm lục địa Liên Hiệp Quốc về Đường lưỡi bò hay đường chín khúc bao gồm gần 80% Biển Đông là nội thủy, vùng nước lịch sử của Trung Quốc mà các nhà hàng hải thường gọi là Biển Nam Trung Hoa.
Nếu dựa vào tên gọi là Biển Nam Trung Hoa và cho là vùng đất lịch sử, ao nhà của Trung Quốc thì thật là kỳ quái bởi như thế, Ấn Độ Dương sẽ được Ấn Độ cho là vùng nước nội thủy của Ấn Độ chăng ?
Nếu cho rằng trước năm 1885, như học giả Trung Quốc Vương Hàn Lĩnh từng phát biểu, Việt Nam là thuộc quốc của Trung Quốc thì đó là sự ngộ nhận lịch sử tai hại.
Không kể thời gian hơn 1000 năm Bắc thuộc tới thế kỷ X và 30 năm Minh thuộc thế kỷ XV, người Việt đã nổi dậy thành công dành độc lập rồi ! Trong suốt thời gian độc lập tự chủ, các vương triều kể cả triều Nguyễn tuy luôn nạp cống và cầu phong làm An Nam Quốc Vương, Việt Nam Quốc Vương song không như các vua chư hầu thời Trung Cổ ở Châu Âu, các vua Việt Nam luôn tự xưng hoàng đế từ Đinh Tiên Hoàng Đế thế kỷ X và đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt hay Đại Việt !
Nếu bảo rằng nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay đã lặt lọng thì chính năm 1972 khi Trung Quốc ký thông cáo chung Thượng Hải đã lặt lọng vói Việt Nam rồi.
Vả lại theo hiệp định Genève quy định rất rõ lãnh thổ dưới vĩ tuyến 17 thuộc quyền quản lý của chính quyền phía Nam mà chính quyền phía Nam là Việt Nam Cộng Hòa và Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam chưa bao giờ trừ bỏ chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa.
Cái gì của Cesar phải trả lại cho Cesar
Tập hồ sơ tư liệu này không những cung cấp thông tin chính xác đem lại sự thật lịch sử mà còn là thông điệp của lẽ phải, rất cần cho việc xây dựng trật tự thế giới.

Bản đồ vẽ từ thời Nhà Thanh ghi lại cực nam TQ là Hải Nam

*Bài tham luận có 2 phần, tại đây đăng toàn vă Phần Một.

—-Teu

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
This entry was posted in Archives, Articles, Teaching and tagged , , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s