IRAN VÀ VŨ KHÍ HẠT NHÂN

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ hai, ngày 10/12/2012

(Tạp chí Foreign Affairs, s tháng 9-10/2012)

Phải chăng một Iran có vũ khí hạt nhân sẽ làm cho Trung Đông trở nên an toàn hơn?

Một bước đi quá xa

Kenneth Waltz (nhà khoa học chính trị Mỹ) có lẽ đúng khi cho rằng một Iran được trang bị vũ khí hạt nhân có thể được ngăn chặn để không cố tình sử dụng vũ khí hạt nhân hoặc không chuyển giao một thiết bị hạt nhân cho các phần tử khủng bố (trong bài “Tại sao Iran cần có bom” tháng 7- 8/2012). Nhưng ông đã rất sai lầm khi cho rằng nước Cộng hòa Hồi giáo này có thể sẽ trở thành một bên tham gia quốc tế có trách nhiệm hơn nếu nước này bước qua ngưỡng cửa hạt nhân. Trong khi đưa ra lập luận đó, Waltz miêu tả sai những động cơ của Iran và hiểu nhầm lịch sử một cách tồi tệ. Và bất chấp thực tế rằng Waltz là một trong những nhà lý luận có uy tín nhất thế giới về quan hệ quốc tế, ông không đưa việc nghiên cứu khoa học chính trị quan trọng vào những ảnh hưởng của vũ khí hạt nhân, bao gồm những phát hiện gần đây cho thấy các nước mới có vũ khí hạt nhân thường liều lĩnh và hiếu chiến trong cuộc xung đột ở mức độ thấp hơn.

Có lý trí nhưng nguy him

Waltz lưu ý một cách đúng đắn rằng các nhà lãnh đạo Iran, bất chấp giọng điệu cuồng tín của họ, về cơ bản là có lý trí. Vì ban lãnh đạo của Iran không muốn tự sát, không chắc chắn rằng một Iran được trang bị vũ khí hạt nhân sẽ cố tình sử dụng một thiết bị hạt nhân hoặc chuyển giao nó cho các phần tử khủng bố. Tuy nhiên, mặc dù nước Cộng hòa Hồi giáo này là có lý trí, nước này vẫn nguy hiểm, và nó có thể trở nên thậm chí nguy hiểm hơn nếu nó phát triển vũ khí hạt nhân.

Chính phủ Iran hiện bảo trợ cho các tổ chức khủng bố và hỗ trợ lực lượng chiến binh khắp Trung Đông, một phần chứng tỏ khả năng trả đũa chống lại Mỹ, Ixraen, và các nước khác nếu họ tấn công Iran hoặc làm xói mòn những lợi ích của nước này. Nếu lo ngại duy nhất của ban lãnh đạo Iran là sự tồn tại của chính mình và ban lãnh đạo này tin rằng chỉ riêng một sự răn đe hạt nhân có thể mang lại cho nó sự bảo vệ đầy đủ, lúc đó với tư cách là một quốc gia có vũ khí hạt nhân, nước này có thể giảm bớt sự ủng hộ đối với các bên được ủy nhiệm để tránh các cuộc tranh chấp không cần thiết với các cường quốc hạt nhân khác.

Nhưng Iran không phải là một quốc gia nguyên trạng, và sự ủng hộ của nước này đối với các phần tử khủng bố và lực lượng chiến binh không chỉ là nhằm phòng thủ và trả đũa. Sự ủng hộ đó là một công cụ tấn công, nhằm gây sức ép và đe dọa các nước khác, gián tiếp mở rộng ảnh hưởng của Iran, và thúc đẩy chương trình nghị sự theo đường lối xét lại của mình, chương trình tìm cách làm cho Iran trở thành một cường quốc nổi bật ở Trung Đông, ủng hộ cuộc kháng chiến chống Ixraen và “các cường quốc cao ngạo” ở phương Tây, thúc đẩy nhãn hiệu tư tưởng cách mạng Hồi giáo của mình, và khẳng định sự lãnh đạo của mình trong thế giới Hồi giáo rộng lớn hơn.

Têhêran hiện nay điều chỉnh sự hỗ trợ của mình đối với lực lượng chiến binh và việc bảo trợ chủ nghĩa khủng bố nhằm giảm thiểu những rủi ro của một cuộc đối đầu trực tiếp với các nước hùng mạnh hơn. Nhưng nếu các nhà lãnh đạo Iran nhận thấy rằng một kho vũ khí hạt nhân đem lại một sự ngăn chặn về căn bản mạnh mẽ hơn chống lại sự trả đũa, thì họ có thể sẽ theo đuổi các mục tiêu khu vực của họ một cách hăng hái hơn.

Cụ thể, một Têhêran được trang bị vũ khí hạt nhân cung cấp cho các chiến binh Hezbollah và Palextin vũ khí thông thường tinh vi hơn, tầm xa hơn, và chính xác hơn để sử dụng chống Ixraen. Trong một nỗ lực nhằm tăng cường những khả năng răn đe của các đồng minh này, Iran có thể xem xét trao cho họ các vũ khí có “khả năng lưỡng dụng”, khiến cho Ixraen phải phán đoán không biết các hệ thống này là hệ thống thông thường hay được trang bị nguyên liệụ hóa học, sinh học, hay hạt nhân. Một Iran được trang bị vũ khí hạt nhân có thể cũng cho phép các lực lượng mà họ ủy quyền sử dụng các hệ thống vũ khí tiên tiến thay vì dự trữ chúng, vì nghe nói Têhêran đã huấn luyện Hezbollah sử dụng vũ khí trong cuộc chiến tranh năm 2006 của tổ chức chiến binh này với Ixraen.

Một Iran được trang bị vũ khí hạt nhân, tin rằng mình có khả năng ngăn chặn mạnh mẽ và vì thế có thể thực hiện hành động bạo lực ở nước ngoài mà gần như không bị trừng phạt, cũng có thể, gia tăng tần suất và quy mô của các cuộc tấn công khủng bố vào các mục tiêu của Mỹ và Ixraen do Hezbollah và Lực lượng Quds, cánh quân hoạt động bí mật thuộc Lực lượng vệ binh Cách mạng Hồi giáo tinh hoa của Iran tiến hành. Và một Iran táo bạo hơn có thể gia tăng số lượng các lực lượng Vệ binh Cách mạng mà nước này đã triển khai đến Libăng, cho phép hải quân nước này can dự vào các cuộc biểu dương lực lượng thường xuyên hơn ở Địa Trung Hải, và tự khẳng định mạnh mẽ hơn ở Vịnh Pécxích và Eo biển Hormuz.

Để tăng cường hơn nữa hình ảnh của mình trong con mắt của các cử tọa trong nước và khu vực với tư cách là nhà lãnh đạo khối kháng chiến chống phương Tây, một Iran được trang bị vũ khí hạt nhân có thể ứng phó với các cuộc khủng hoảng khu vực bằng cách đe dọa sử dụng tất cả các phương tiện sẵn có của mình để đảm bảo sự tồn tại của chế độ Assad ở Xyri, Hezbollah hay các tổ chức Palextin. Và Iran có thể được khuyến khích đóng vai trò là kẻ phá hoại trong tiến trình hòa bình Ixraen – Palextin bằng cách khuyến khích các cuộc tấn công của lực lượng chiến binh trên quy mô lớn và có thể tìm cách gây mất ổn định đối với các nước láng giềng thông qua hoạt động ngoại giao gây sức ép và lật đổ ở Irắc và các nước vùng Vịnh.

Ảnh hưởng đang gia tăng của những người theo đường lối cứng rắn “có nguyên tắc” ở Têhêran làm cho những khả năng đó thậm chí có thể trở thành hiện thực hơn. Thế giới quan của những người có nguyên tắc được định hình bởi niềm tin tư tưởng của họ vào điều không thể tránh được là sự suy thoái của Mỹ, sự thất bại của Ixraen, và sự nổi lên của Iran. Họ coi cuộc cạnh tranh với Mỹ và Ixraen là trò chơi được mất ngang nhau. Nếu Iran có vũ khí hạt nhân, những người có nguyên tắc này sẽ coi nó là sự khẳng định những niềm tin của họ và đẩy Chính phủ Iran đi xa hơn nữa theo hướng nguy hiểm và khiêu khích.

Chắc chắn, một Iran không có vũ khí hạt nhân đã can dự vào nhiều hoạt động gây mất ổn định. Nhưng được trang bị vũ khí hạt nhân, Têhêran có thể sẽ gia tăng gây rắc rối và tận dụng khả năng ngăn chặn của mình để hạn chế những lựa chọn phản ứng khả thi đối với các nước bị đe dọa.

Nghịch lý n định – mt n định

Waltz lập luận: “Lịch sử cho thấy khi các nước có bom hạt nhân, họ cảm thấy ngày càng dễ bị tồn thương và nhận thức sâu sắc rằng vũ khí hạt nhân của họ làm cho họ trở thành mục tiêu tiềm tàng trong mắt của các nước lớn. Nhận thức này ngăn chặn các nước có vũ khí hạt nhân hành động liều lĩnh và hiếu chiến”.

Trong khi viết bài này, Waltz bỏ qua một chặng đường dài trong lịch sử của các cường quốc hạt nhân đang nổi lên mà đang ứng xử một cách khiêu khích. Chẳng hạn, năm 1950 nhà lãnh đạo Liên Xô Joseph Stalin đã bật đèn xanh cho Bắc Triều Tiên xâm lược Hàn Quốc, do đó mở đầu cuộc Chiến tranh Triều Tiên. Stalin rõ ràng đã cho rằng (không đúng) Mỹ không có khả năng ứng phó vì lúc đó Liên Xô đã phát triển vũ khí hạt nhân của riêng mình. Waltz cũng cho rằng Trung Quốc ít hiếu chiến hơn sau khi thử vũ khí hạt nhân 1964. Nhưng năm 1969, Mao Trạch Đông đã cho phép quân đội Trung Quốc tấn công các lực lượng của Liên Xô ở biên giới Trung-Xô. Cuộc tấn công này nhằm cảnh báo Mátxcơva chớ nên khiêu khích ở biên giới và huy động sự ủng hộ trong nước Trung Quốc cho cuộc cách mạng của Mao. Giống như Stalin trước ông, Mao có thể tin rằng những khả năng về vũ khí hạt nhân mới có của Trung Quốc sẽ hạn chế được cuộc xung đột hệ lụy. (Cuối cùng, các cuộc đụng độ biên giới đã gây ra một cuộc khủng hoảng lớn hơn Mao nghĩ, làm tăng khả năng về một cuộc tấn công hạt nhân của Liên Xô, và Trung Quốc đã nhượng bộ).

Waltz cũng khẳng định rằng “Ấn Độ và Pakixtan đều trở nên thận trọng hơn từ khi thử vũ khí hạt nhân”. Nhưng việc phát triển vũ khí hạt nhân của Pakixtan trên thực tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho chiến lược can dự của nước này vào cuộc xung đột cường độ thấp chống Ấn Độ, khiến cho tiểu lục địa này trở nên dễ bị khủng hoảng hơn. Như nhà khoa học chính trị S. Paul Kapur cho thấy, khi những khả năng hạt nhân của Ixlamabát gia tăng, tính dễ thay đổi của sự kình địch Ấn Độ-Pakixtan cũng, tăng lên. Từ năm 1998, khi cả Ấn Độ lẫn Pakixtan công khai thử các thiết bị hạt nhân, Ixlamabát dường như sẵn sàng hơn trong việc hỗ trợ các nhóm binh sĩ chiến đấu ở vùng Casmia tranh chấp và ủng hộ các tổ chức tiến hành các cuộc tấn công khủng bố ở những nơi khác ở Ấn Độ. Hơn nữa, năm 1999, Pakixtan đã cử các lực lượng thông thường được cải trang là lực lượng nổi dậy vượt qua Tuyến Kiểm soát ở quận Kargil thuộc Casmia, gây ra một cuộc chiến tranh có giới hạn với Ấn Độ. Hành động này được khuyến khích bởi lòng tin của người Pakixtan rằng sự răn đe hạt nhân của họ đã tạo ra những hạn chế rõ ràng về khả năng trả đũa của Ấn Độ bằng vũ khí thông thường. Hơn nữa, trong thập kỷ qua, các binh sĩ được Pakixtan hậu thuẫn đã can dự vào các cuộc tấn công khủng bố nổi bật ở bên trong Ấn Độ, bao gồm cuộc tấn công khủng bố năm 2001 vào tờa nhà quốc hội ở Niu Đêli và cuộc tấn công Mumbai năm 2008.

Waltz viết rằng “các nhà hoạch định chính sách và dân thường ở thế giới Arập, châu Ẩu, Ixraen, và Mỹ sẽ cảm thấy an tâm từ thực tế lịch sử đã chứng minh rằng ở đâu những khả năng hạt nhân nổi lên, thì sự ổn định cũng vậy”. Trên thực tế, hồ sơ lịch sử cho thấy cuộc cạnh tranh giữa một Iran được trang bị vũ khí hạt nhân và những kẻ thù chính của nước này có thể đi theo mô thức được biết đến là‘’nghịch lý n định – bất ổn định ” trong đó cái gọi là sự ổn định được tạo ra bởi khả năng bảo đảm hủy diệt lẫn nhau gây ra sự mất ổn định lớn hơn bằng cách tiến hành các hành động khiêu khích, các cuộc tranh chấp, và xung đột dưới ngưỡng hạt nhân dường như là an toàn.

Chẳng hạn, trong cuộc Chiến tranh Lạnh, sự răn đe hạt nhân đã ngăn chặn được cuộc chiến tranh thông thường trên quy mô lớn hoặc hạt nhân giữa Mỹ và Liên Xô. Tuy nhiên, đồng thời các siêu cường đã trải qua một số cuộc khủng hoảng trực tiếp và đối mặt với một loạt cuộc chiến tranh mượn tay kẻ khác đẫm máu ở Triều Tiên, Việt Nam, Ápganixtan, và Ănggôla, Nicaragoa, En Xanvađo, và các nơi khác. Một bài phân tích mang tính thống kê gần đây của nhà khoa học chính trị Michael Horowitz đã chứng minh rằng các nước lớn có vũ khí hạt nhân thiếu kinh nghiệm có xu hướng dễ xảy ra khủng hoảng hơn so với các dạng nước khác, và nghiên cứu của nhà khoa học chính trị khác, Robert Rauchhaus, đã cho thấy các nước có vũ khí hạt nhân có nhiều khả năng hơn can dự vào các cuộc tranh chấp quân sự hóa ở mức độ thấp với nhau, cho dù họ ít có khả năng hơn can dự cuộc chiến tranh trên toàn quy mô.

Nếu sự răn đe diễn ra theo cách Waltz nghĩ, thì một Iran được trang bị vũ khí hạt nhân có thể làm giảm nguy cơ xảy ra một cuộc chiến tranh thông thường lớn giữa các nước Trung Đông. Nhưng lịch sử cho thấy sự phát triển vũ khí hạt nhân của Têhêran sẽ khuyến khích chủ nghĩa phiêu lưu của Iran, dẫn đến khủng hoảng thường xuyên hơn và mạnh mẽ hơn ở Trung Đông. Các cuộc khủng hoảng đó kéo theo nguy cơ cố hữu nào đó về một cuộc trả đũa hạt nhân xuất phát từ sự tính toán sai lầm, một sự cố, hay việc sử dụng trái phép – một nguy cơ hiện không còn tồn tại nữa.

Mối đe dọa sẽ đặc biệt ở mức độ cao vào thời kỳ đầu sau khi Iran tham gia câu lạc bộ hạt nhân. Chẳng hạn, một khi các siêu cường đạt được sự cân bằng hạt nhân sơ bộ trong Chiến tranh Lạnh, số cuộc khủng hoảng trực tiếp đã giảm, và những rủi ro đi kèm của sự leo thang hạt nhân cũng giảm bớt. Nhưng trong những năm đầu của cuộc Chiến tranh Lạnh, các siêu cường dính líu vào một số cuộc khủng hoảng, và trong ít nhất một sự kiện – cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962 – họ đã đến gần một Cách nguy hiểm cuộc chiến tranh hạt nhân. Tương tự, mối quan hệ mang tính răn đe ổn định giữa Iran, một mặt, và Mỹ và Ixraen, mặt khác, có thể sẽ nổi lên qua thời gian, nhưng những năm đầu dễ xảy ra khủng hoảng sẽ làm sởn tóc gáy. Mặc dù tất cả các bên đều có sự quan tâm sâu sắc về việc không để cho các sự kiện vượt ra ngoài tầm kiểm soát, nguy cơ còn lại của sự leo thang vô tình xuất phát từ những thập kỷ thiếu tin cậy và thù địch, việc thiếu các tuyến thông tin liên lạc, và những sai lầm có tổ chức không phải là không đáng kể – và những hậu quả của thậm chí một tình huống có khả năng thấp có thể mang tính tàn phá.

Một mi đe dọa thực sự

Vì Waltz lạc quan về những ảnh hưởng của quá trình hạt nhân hóa của Iran, ông kết luận rằng “Mỹ và các đồng minh của Mỹ không cần phải chịu những nỗi đau như vậy để ngăn chặn không cho Iran phát triển một vũ khí hạt nhân”. Waltz tin rằng tác dụng duy nhất của hoạt động ngoại giao tiếp tục là duy trì “các tuyến thông tin liên lạc mở”, mà “sẽ làm cho các nước phương Tây cảm thấy dễ chịu hơn để có thể sống với một Iran có vũ khí hạt nhân”, và lập luận rằng “các biện pháp trừng phạt hiện nay đối với Iran có thể được giảm bớt”.

Waltz đã sai. Mối đe dọa từ một Iran được trang bị vũ khí hạt nhân có thể không phải nghiêm trọng như một số người nghĩ, nhưng nó sẽ làm cho một Trung Đông vốn dễ thay đổi thậm chí dễ xay ra xung đột hơn. Việc ngăn chặn Iran vượt qua ngưỡng cửa hạt nhân vì thế vẫn là một ưu tiên hàng đầu của Mỹ. Vì một cuộc tấn công quân sự phòng ngừa vào cơ sở hạ tầng hạt nhân của Iran bản thân nó có thể mở đầu một loạt hậu quả không thể đoán trước được và gây mất ổn định, giải pháp tốt nhất và bền vững nhất cho sự thách thức hạt nhân của Iran là tìm kiếm một giải pháp thương lượng thông qua sự kết hợp sức ép kinh tế và ngoại giao. Có thể phản đối việc vội vàng đi tới chiến tranh với Iran mà không lập luận, như Waltz đã làm, rằng một Iran được trang bị vũ khí hạt nhân sẽ làm cho thế giới trở thành một nơi tốt đẹp hơn.

Những giải đáp của Waltz

Trong khi lập luận rằng một Iran được trang bị vũ khí hạt nhân sẽ đem lại một mối đe dọa không thế chấp nhận được cho Mỹ và các đồng minh của Mỹ, Colin Kahl bác bỏ lý lẽ của Waltz cho rằng các nước có xu hướng trở nên thận trọng hơn khi họ có vũ khí hạt nhân và cho rằng Waltz giảm thiểu mối đe dọa tiềm tàng của một nước Cộng hòa Hồi giáo táo bạo. Ông cáo buộc Waltz hiểu sai lịch sử và cho rằng Waltz đánh giá quá cao sự ổn định do sự răn đe hạt nhân mang lại. Trên thực tế, chính Kahl hiểu lầm hồ sơ lịch sử và không nắm được những hậu quả của sự răn đe hạt nhân.

Theo quan điểm của Kahl, các nước mới có vũ khí hạt nhân không nhất thiết ứng xử như các cường quốc nguyên trạng và thay vào đó có thể theo đường lối xét lại ở mức độ cao. Trong khi tìm kiếm một tiền lệ, ông làm nổi bật thực tế rằng Liên Xô đã khuyển khích Bắc Triều Tiên phát động một cuộc xâm lược nguy hiểm tiềm tàng đối với Hàn Quốc vào năm 1950, ngay sau khi Liên Xô thử quả bom hạt nhân đầu tiên của mình. Nhưng Kahl không giải thích bối cảnh của quyết định đó. Vào thời điểm trước đó, Ngoại trưởng Mỹ Dean Acheson đã công khai xác định những cam kết an ninh của Mỹ ở châu Á; việc bảo vệ Hàn Quốc không nằm trong số những cam kết đó. Mỹ cũng đã đánh tín hiệu không quan tâm đến việc bảo vệ Hàn Quốc bằng cách giảm vũ trang cho họ với đủ vũ khí để đẩy lùi một cuộc xâm lược do Liên Xô hậu thuẫn của Bắc Triều Tiên. Vì vậy Liên Xô đã có lý do chính đáng để cho rằng Mỹ sẽ không phản ứng nếu Bắc Triều Tiên tấn công. Dưới ánh sáng của những thực tế này, thật khó cho rằng việc Stalin khuyến khích cuộc xâm lược này là một ví dụ về hành vi ứns xử táo bạo, theo đường lối xét lại. Trái với những lý lẽ của Kahl, việc mở đầu cuộc Chiến tranh Triều Tiên không phải là bằng chứng về chủ nghĩa phiêu lưu hạt nhân cua Liên Xô, và do đó nó không nên được hiểu là một câu chuyện cảnh báo khi xem xét sự tác động tiềm tàng mà việc sở hữu một kho vũ khí hạt nhân sẽ gây ra đối với hành vi ứng xử của Iran.

Kahl dường như chấp nhận rằng vũ khí hạt nhân tạo ra sự ổn định – hay ít nhất sự ổn định dưới một hình thức nào đó. Nhưng ông lưu ý – như hầu hết các học giả vẻ vấn đề hạt nhân đã làm – kể cả chính mình – rằng sự ổn định hạt nhân cho phép xảy ra bạo lực ở mức độ thấp hơn. Lợi dụng sự bảo vệ mà các kho vũ khí nguyên tử của họ mang lại, các nước được trang bị vũ khí hạt nhân có thể cảm thấy tự do hơn để tiến hành các cuộc tấn công nhỏ hơn, triển khai chủ nghĩa khủng bố, và can dự vào hành vi ứng xử gây khó chịu nói chung. Nhưng câu hòi là những hành vi ứng xử gây khó chịu đó có ý nghĩa như thế nào so với hòa bình và ổn định mà vũ khí hạt nhân mang lại.

Kahl nêu lên ví dụ về Pakixtan, vũ khí hạt nhân của nước này có thể làm tăng tinh thần sẵn sàng tiến hành một cuộc chiến tranh cường độ thấp chống Ấn Độ, khiến cho tiểu lục địa này trở nên dễ xảy ra khủng hoảng hơn. Như Kahl đã lập luận đúng, sự thèm khát vũ khí hạt nhân gia tăng của Pakixtan vì liều lĩnh có thể đã đóng vai trò trong việc thúc đẩy cái gọi là cuộc Chiến tranh Kargil giữa Án Độ và Pakixtan năm 1999. Nhưng cuộc Chiến tranh Kargil là cuộc chiến tranh thứ 4 do hai nước tiến hành, và nó mờ nhạt so với ba cuộc chiến tranh mà họ đã tiến hành trước khi hai nước phát triển vũ khí hạt nhân. Trên thực tế, cuộc xung đột Kargil là một cuộc chiến tranh chỉ theo các nhà khoa học xã hội, những người định nghĩa một cách kỳ quặc “chiến tranh” là bất cứ cuộc xung đột nào làm thiệt mạng 1.000 người trở lên trên chiến trường. Theo những chuẩn mực lịch sử, tỉ lệ thương vong đó ít hơn nhiều so với một cuộc đụng độ. Không chứng minh được rằng các nước mới có vũ khí hạt nhân không bị ảnh hưởng bởi lôgích răn đe, cuộc Chiến tranh Kargil hỗ trợ lập luận cho rằng vũ khí hạt nhân ngăn chặn các cuộc xung đột nhỏ trở thành các cuộc chiến tranh lớn. Quả thực, vũ khí hạt nhân là vũ khí thúc đẩy hòa bình duy nhất mà thế giới từng biết, và không có lý do gì để tin rằng mọi việc sẽ khác nếu Iran có những vũ khí đó.

Kahl cũng băn khoăn rằng một Iran được trang bị vũ khí hạt nhân có thể tăng cường hỗ trợ các tố chức khủng bố. Chủ nghĩa khủng bố là bi kịch cho những ai mà cuộc sống của họ bị khủng bố hủy hoại và làm nhụt chí các nước phải hứng chịu nó. Nhưng con số thương vong hàng năm do hoạt động khủng bố quốc tế gây ra là tương đối nhỏ so với con số thương vong do các cuộc chiến tranh lớn gây ra. Tất nhiên, giống như Kahl, Waltz sẽ không hoan nghênh việc Iran gia tăng sự hỗ trợ đối với Hezbollah hay việc Iran gia tăng cung cấp thêm vũ khí tiềm tàng cho các chiến binh Palextin. Và Waltz cũng hy vọng về một giải pháp hòa bình cho cuộc xung đột Ixraen-Pakixtan và các cuộc tranh chấp giữa Ixraen và các nước láng giềng của nước này. Nhưng vài thập kỷ qua không có lý do gì để tin rằng có thể dễ dàng đạt được các mục tiêu đó, và Waltz muốn nhìn thấy khả năng xảy ra chiến tranh lớn giảm bớt thông qua sự ổn định hạt nhân, cho dù cái giá phải trả là sự gia tăng các hoạt động gây rối loạn và xung đột ở mức độ thấp.

Đúng vài tháng trước trên tạp chí này, Kahl đã bày tỏ sự phản đối mạnh mẽ về cuộc tấn công ngăn chặn đã được đề nghị vào các cơ sở hạt nhân bị nghi ngờ của Iran, đồng thời cảnh báo rằng nó có thể gây ra một cuộc chiến tranh khu vực (trong bài “Không phải thời điểm để tấn công Iran”, số ra tháng 3,4 năm 2012). Waltz đã đồng ý. Nhưng Kahl và Waltz có quan điểm khác nhau về những gì mà Mỹ có thể đạt được trong giải pháp cuối cùng của mình với nước Cộng hòa Hồi giáo này. Kahl dường như tin rằng Mỹ có thể từ bỏ hành động quân sự liều lĩnh và vẫn ngăn chặn Iran không đế nước này có vũ khí hạt nhân thông qua sự kết hợp các biện pháp trừng phạt và ngoại giao. Waltz rất nghi ngờ điều đó. Nếu không sử dụng lực lượng quân sự, thật khó hình dung làm thế nào có thể ngăn chặn được Iran không sở hữu vũ khí hạt nhân nếu nước này quyết tâm làm như vậy. Kết quả đó có thể làm gia tăng đáng tiếc hoạt động khủng bố và xung đột ở mức độ thấp hơn. Nhưng lợi ích của sự ổn định khu vực sẽ nhiều hơn phí tổn.

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
This entry was posted in Archives, Articles, International relations and tagged , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s