Vòng cung dầu lửa bất ổn: Gót chân Asin của Ấn Độ

Devindra Sethi

DV- 7:08 AM, 06/12/2012

Bài viết của Thuyền trưởng Devindra Sethi – người đã hồi sinh hai tàu sân bay INS Viraat và Vikrant cho Ấn Độ, nhấn mạnh vào yếu điểm của Ấn Độ là vấn đề an ninh năng lượng.

Thuyền trưởng Sethi là cựu sinh viên của Học viên Quốc phòng Quốc gia, Cao đẳng Quản lý Quốc phòng, Cao đẳng Chiến tranh Hải quân của Ấn Độ và Học viện Chiến tranh ở St. Petersburg, Nga. Chính ông đã có công tân trang, sửa chữa hai tàu sân bay trên để có thể tiếp tục chiến đấu cho Hải quân Ấn Độ những năm 1990.
Dưới đây là nội dung bài viết:
Cựu Tổng thống Mỹ- Dwight D. Eisenhower có câu nói nổi tiếng: “Lịch sử không ủy thác việc đảm bảo tự do cho những kẻ hèn yếu hoặc nhút nhát“. Câu hỏi thú vị là, những điều trong câu nói này đang ứng vào Ấn Độ như thế nào?
Sau khi giành được độc lập năm 1947, cả đất nước Ấn Độ chìm trong nghèo khổ với hơn 80% dân số mù chữ.  Con người bị bỏ đói vì hầu hết lương thực thực phẩm được xuất sang nước ngoài để đáp ứng các yêu cầu của Đế chế Anh.
Cơ sở về công nghiệp của Ấn Độ gần như không tồn tại. Chính quyền lúc đó bòn rút từng đồng thuế để nuôi dưỡng cái miệng háu ăn khổng lồ củaRaj – tên gọi của ách thống trị Anh ở tiểu lục địa Ấn Độ (gồm cả Pakistan và Bangladesh).
Theo  một nghiên cứu từ ĐH Cambridge, đã có hàng nghìn tỷ USD (tính theo thời giá hiện nay) đã chuyển từ Ấn Độ sang túi Đế chế Anh trong suốt 250 năm dưới ách cai trị tối tăm.
Ngày nay, nền kinh tế của Ấn Độ đã phải trải qua một hành trình dài và đạt được nhiều cải thiện đáng kể. Điều này đã cho phép nước này tăng cường sức mạnh quân sự của mình (mặc dù tỷ lệ GDP dành cho quốc phòng hiện có 2%).
Căn cứ quân sự được xây dựng với sự hỗ trợ hào phóng của Liên Xô từ những năm 1960 hiện được hiện đại hóa. Tuy nhiên, Ấn Độ đang thực hiện theo nguyên tắc: nội địa hóa, từ mua sắm, xây dựng cho tới các hệ thống chiến lược.
Tuy nhiên, Ấn Độ vẫn có gót chân Achilles trong vấn đề an ninh năng lượng. Việc nhập khẩu dầu và khí đốt chiếm khoảng 70% trong danh mục hàng hóa nhập khẩu của đất nước, ngay cả khi nước này nỗ lực vất vả trong việc phát triển năng lượng hạt nhân, mặt trời, gió và các nhà máy điện thủy triều.
Trong khi đó, hầu hết các tàu chở dầu, khí đốt từ Trung Đông để cung cấp cho các cái mồm háu đói của châu Á, đều phải đi qua vịnh Hormuz và Vịnh Aden thông qua biển Arab đến eo biển Malacca.
Việc đi lại trong Vịnh Ba Tư đang ngày càng nhiều khó khăn và rắc rối từ các nhân tố: sự bất trắc từ mùa xuân Arab, việc rút các lực lượng của Mỹ khỏi Afghanistan, nạn cướp biển và câu hỏi xoay quanh chương trình hạt nhân của Iran. Do đó, khu vực trên – cầu nối năng lượng của Ấn Độ, có thể được mô tả như một vòng cung bất ổn.

Nỗi lo cướp biển của những tàu chở dầu qua khu vực vịnh Ba Tư ngày càng gia tăng khiến các nước khát năng lượng như Ấn Độ lo ngay ngáy.

Chuyến thăm Saudi Arabia hồi đầu năm của Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ A.K Anthony vói một phái đoàn quân sự cấp cao hoành tráng gồm đại diện lục quân, hải quân và không quân làm nhiều thành viên trong thế giới Arab phải nhíu mày.
Chỉ trong hai ngày chuyến thăm với nhiều hoạt động sôi nổi và trao đổi ngoại giao quốc phòng, nó đã dẫn tới một thỏa thuận tập trung vào một loạt các vấn đề an ninh và quốc phòng đang nổi cộm trong khu vực.
Các bên liệt kê và nhấn mạnh tới nạn cướp biển, khủng bố, các nhóm tội phạm lớn, chiến tranh thủy lôi và hỗ trợ thiết kế nhà máy thủy điện ở Biển Đỏ và bờ biển phía đông của khu vực Saudi Arabia dưới sự giúp sức của Hải quân Ấn Độ.
Khả năng khắc phục điểm yếu
Hải quân Ấn Độ chắc chắn có một kho kiến thức lớn về chiến tranh chống thủy lôi và đã sở hữu và chỉ huy hạm đội tàu quét thủy lôi (MCMS) 19 chiếc (6 tàu đang đồn trú tại Mumbai) vào những năm 1980 đầy sóng gió (giai đoạn chiến tranh Iran-Iraq và Chiến dịch Brasstacks).
Tuy nhiên, số tài sản của Hải quân Ấn Độ trong lĩnh vực này đã giảm sút đáng kể, phần lớn là do quy hoạch kém. Do đó, các nhà hoạch định quốc phòng của Ấn Độ cần nhanh chóng đầu tư để khắc phục tình hình.
Trong môi trường chiến tranh duyên hải và thủy lôi, số lượng tàu chuyên dụng sẵn sàng có ảnh hưởng quan trọng tới việc xử lý những vật liệu cực kỳ nguy hiểm, dễ nổ dưới nước.

Tàu quét thủy lôi của Hải quân Ấn Độ.

Xuất phát từ thực tế trên, Bộ trưởng Anthony tìm cách đạt được sự chấp thuận cho việc nhập khẩu thêm 5 triệu tấn dầu thô mỗi năm từ Arab Saudi. Điều này sẽ làm giảm bớt mối quan tâm về an ninh năng lượng của Ấn Độ khi những căng thẳng trong khu vực gia tăng.
Ngoài ra, sự hồi sinh của các mỏ dầu do Exxon Mobil khai thác ở Iran được New Delhi xem xét một cách tích cực và có thể cho phép Ấn Độ thiết lập lại liên kết kinh doanh với người bạn cũ trong khu vực.
Những tiến bộ về hợp tác hàng hải trong các lĩnh vực dân sự, kinh doanh, quốc phòng với Iraq cũng dần dần gia tăng.
Các đơn vị của Hải quân Ấn Độ cần phải được tăng cường trong thập kỷ tới. Các nhà hoạch định của Ấn Độ phải thúc đẩy nền ngoại giao hàng hải của quốc gia và phối hợp chặt chẽ với Mỹ để giảm nguy cơ xung đột trong khu vực.
Sự ổn định của các quốc gia vùng Vịnh là một yêu cầu tối cao cho hòa bình trong khu vực và xa hơn nữa – một nền tảng quan trọng cho an ninh năng lượng Ấn Độ để đáp ứng với yêu cầu tiếp tục phát triển kinh tế nhanh chóng.

Mạnh Thắng (theo Diplomat)

—-

Nguồn: http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Vong-cung-dau-lua-bat-on-Got-chan-Asin-cua-An-Do/201212/246543.datviet

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
This entry was posted in Archives, Articles, India, International relations and tagged . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s