CUBA: NHỮNG PHÉP MÀU CỦA RAUL CASTRO

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ năm, ngày 28/2/2013

(Tạp chí Politique internationale Số 136)

“Và sau Fidel, điều gì sẽ xảy ra?” vấn đề tương lai của cuộc cách mạng Cuba từ lâu chỉ là câu hỏi này. Fidel Castro, sau khi lên nắm quyền ngày 1/1/1959, đã độc quyền giữ nó đến mức khiến tất cả mọi người, những người ở Cuba cũng như ở nước ngoài đều nghĩ rằng chế độ mà ông đã lãnh đạo trong suốt gần một nửa thế kỷ sẽ không thể tồn tại khi không có ông. Thế rồi, ngày 31/7/2006, Líder máximo (lãnh tụ tối cao) ốm nặng. Ông đã rút lui khỏi sân khấu, bàn giao lại chính quyền cho người em trai út trong một sự kế tiếp hoàn hảo. Kể từ đó, câu hỏi trên đã thay đổi một chút: và sau Raul điều gì sẽ xảy ra? Bởi lẽ ông này năm nay đã 81 tuổi và người ta không thấy bóng dáng một vị thế tử nào xuất hiện trong hàng ngũ cầm quyền.

Nhưng, những tháng gần đây, có một ẩn số khác nổi lên trên chính trường Cuba: “Và sau Chávez, điều gì sẽ xảy ra?”. Câu hỏi này thoạt đầu bất ngờ, thực tế nhấn mạnh kết quả của một thập kỷ xích lại gần về kinh tế và hệ tư tưởng giữa Cuba và Vênêxuêla – gần gũi đến mức mà có một thời, thậm chí một liên minh giữa hai nước đã được gợi ra vào năm 2007.

Kể từ tháng 6/2011 và từ khi ông nhận được thông báo về căn bệnh ung thư của mình, Tổng thống Vênêxuêla Hugo Chávez, 57 tuổi, đã phải 3 lần phẫu thuật liên tiếp ở Cuba. Tại đó, ông cũng trải qua một loạt những lần điều trị bằng hóa chất và tia phóng xạ, rời khỏi Caracát cả hàng tuần lễ nhưng không vì thế mà giao quyền lãnh đạo cho người khác. Thực chất bệnh ung thư của ông vẫn còn là một điều bí ẩn: tình trạng sức khỏe của ông là một bí mật quốc gia. Nhưng những triển vọng về sự hồi phục của ông là không chắc chắn sau lần thứ ba bị đột quỵ và phẫu thuật lại hồi tháng 3/2012.

Sự nghi ngại về tương lai của đồng minh Vênêxuêla còn khiến các nhà cầm quyền ở La Habana lo lắng hơn điều mà người ta giả định trong khi các phương tiện thông tin đại chúng Cuba im lặng gần như tuyệt đối về chủ đề này. Vả lại, không phải ngẫu nhiên mà Hugo Chávez lại được chạy chữa tại chính Cuba: dù Cuba hoàn toàn không nói ra, người ta vẫn biết rằng việc ông này tiếp tục nắm quyền ở Caracát, đối với nhà cầm quyền theo tư tưởng Castro là một thách thức mang tính sống còn của chính họ. Vì một lý do đơn giản: từ năm 1998, nền kinh tế Cuba phần lớn dựa vào sự giúp đỡ của Vênêxuêla và vào chức tổng thống của Hugo Chávez. Mối quan hệ gần như cha, con giữa ông và Fidel Castro không phải là điều xa lạ.

Chưong trình đổi dầu hỏa lấy các bác sĩ

Trong một vài năm, Vênêxuêla đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Cuba và bỏ xa các đối tác đứng sau: năm 2010, lượng hàng hóa và dịch vụ trao đối giữa hai nước về của cải và dịch vụ, chiếm gần 40% toàn bộ khối lượng trao đổi của Cuba, với những điều kiện đặc biệt thuận lợi dành cho La Habana. Theo những điều khoản của hiệp định song phương

được ký năm 2000, Caracát giao hơn 100 000 thùng dầu/ngày (đáp ứng hơn hai phần ba nhu cầu của Cuba) với giá ưu đãi, và được thanh toán một phần thông qua hình thức vay tín dụng với thời hạn 15 năm – một ân huệ đối với nền kinh tế Cuba, đang thiếu tiền mặt và chỉ có khả năng vay ở mức tối thiểu.

Đổi lại, Cuba giúp đỡ các chương trình-xã hội của Vênêxuêla bằng việc đưa tới nước này 40 000 chuyên gia (y tế, giáo dục, thể thao, kỹ thuật) trong thời hạn 2 năm. Chính họ là những người thực thi một phần các chính sách xã hội của Caracát, – chẳng hạn như Barrio Adentro (phụ trách chương trình bảo hiểm y tế phòng ngừa và toàn diện ở những khu Vực khó khăn), Robinson (xóa nạn mù chữ), hoặc như chương trình Phẫu thuật kỳ diệu (phẫu thuật mắt miễn phí cho những người nghèo nhất).

Những năm gần đây, việc xuất khẩu các hoạt động dịch vụ theo một dạng mới đã trở thành nguồn thu nhập lớn nhất của Cuba: được Caracát trả 6 tỷ USD mỗi năm, kể từ giờ, nó kiếm tiền cho hòn đảo này hơn rất nhiều so với ngành du lịch (2,4 tỷ USD năm 2010), xuất khẩu niken (800 triệu USD năm 2011) hay còn nữa là kiều hối, của những người sống lưu vong (ước chừng 1 tỷ USD, chủ yếu là từ Mỹ). Dù sao hoạt động này, với giá trị gia tăng lớn nhưng tác động còn yếu đối với phần còn lại của nền kinh tế quốc gia, vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường Vênêxuêla.

Ngoài ra, hai nước đã hợp tác cùng đầu tư trong nhiều dự án chiến lược đối với sự phát triển của Cuba như: xây dựng hoặc mở rộng 3 nhà máy lọc dâu (ở Cienfuegos, Santiago và Matanzas); xây dựng các nhà máy (sản xuất amôniac và PVC); cũng như cải tạo nhũng mỏ khai thác niken ở phía Đông hòn đảo này. Đó là những dự án có qui mô lớn và sẽ được triển khai từ nay cho đến tận cuối thập kỷ.

Mối đe dọa về một “thời kỳ đặc biệt” mới

Pavel Vidai, nhà kinh tế thuộc Trung tâm nghiên cứu kinh tế Cuba, cho rằng trong trường hợp Vênêxuêla ngừng trợ cấp thì hòn đảo này có thể sẽ phải chịu tác động của một sự suy thoái kéo dài “trong một, hai hoặc thậm chí là 3 năm”, cùng với việc GDP giảm 9%. Nhà nghiên cứu này cho rằng: “Cuba không có nhiều phạm vi hoạt động, cho nên điều quan trọng là phải đẩy nhanh quá trình mở rộng tự do hóa kinh tế và những chính sách cải cách”. Đó là những cải cách đã được Raul Castro cam kết từ khi ông làm chủ tịch (tạm quyền vào mùa Hè năm 2006, sau đó được bầu chính thức từ tháng 2/2008). Với một giọng điệu mới, trái với thói quen dương dương tự đắc, ông đã đưa ra nhiều nhận xét đôi khi tàn nhẫn về sự tàn tạ của nền kinh tế quốc gia, và như vậy có lúc xé toạc bức màn che đậy của cơ quan tuyên truyền.

Bởi vì bất chấp những tỷ lệ tăng trưởng được công bố ở mức hai con số (mà các cơ quan quốc tế nghi ngờ cách tính toán), mô hình Cuba vẫn thể hiện những sự trục trặc về cơ cấu, đã dẫn tới một sự thâm hụt rất lớn trong cán cân thương mại năm 2008. Đến mức để đối phó với sự khủng hoảng trong thanh toán ngoại tệ, các nhà cầm quyền đã quyết định đóng băng, mà không báo trước, những tài khoản ngân hàng của các doanh nghiệp nước ngoài ở Cuba, vào khoảng một tỷ USD, khiến cho những hoạt động của họ trở nên đặc biệt bấp bênh trong vòng hơn một năm – và do đó việc họ tiếp tục những đầu tư ở hòn đảo này trở thành mạo hểm.

Lĩnh vực nông nghiệp phải chịu một sự quản lý tập trung quá mức (80% ruộng đất bị quốc hữu hóa và cơ quan duy nhất đứng ra thu mua và phân phối, Acopio, đặc biệt không hiệu quả) đã khiến các vùng nông thôn kiệt quệ. Kết quả: đất nước trở lại với tình trạng hơn một nửa diện tích đất trồng trọt bị bỏ hoang. Một thất bại phải trả giá đắt và đặt ra vấn đề về an ninh lương thực – Cuba phải nhập khẩu 80% lượng lương thực mà họ tiêu thụ. Thêm vào đó, họ đang trong quá trình phi công nghiệp hóa: phần của khu vực hai (khu vực kinh tế kém phát triển hơn) rõ ràng đã thụt lùi kể từ khoảng 25 năm, chuyển từ 28% năm 1989 xuống 13,4% năm 2009. Còn về các dịch vụ, đã phát triển quá mức (năm 2009, chiếm“77% GDP), những dịch vụ này không dựa vào bất kỳ việc sản xuất của cải nào.

Đặc biệt là phần ít ỏi của các khoản đầu tư (dưới 10% GDP) và sự hư hỏng nói chung của các cơ sở hạ tầng bảo đảm cho sự tăng trưởng. Người ta cho rằng 40% bất động sản đang trong tình trạng tồi tệ cùng với việc thiếu gần nửa triệu nhà ở. Mạng lưới đường sắt và đường bộ ở trong một tình trạng thảm hại, không đủ các phương tiện vận tải để chuyên chở hàng hóa và hành khách: ở các tỉnh lẻ, việc vận chuyển phần lớn được đảm bảo bằng những phương tiện được gọi là “thay thế” – những chiếc xe thô sơ do ngựa kéo với một chiếc đèn dầu thay cho đèn pha. Sự tương phản có thể thấy rõ giữa các dịch vụ xã hội đặc biệt phát triển (nhất là giáo dục và y tế) và các dịch vụ cơ bản bị bỏ mặc.

Người ta tính rằng cứ 10 người dân mới có gần một người có điện thoại cố định và phải đến 2008, dân chúng mới được phép sử dụng điện thoại di động cũng như máy tính. 60% lượng nước sạch đã bị thất thoát trước khi tới được các vòi nước do các hệ thống đường ống dẫn nước của mạng lưới phân phối hư hỏng. Việc cắt điện, tạm chấm dứt trong cố gắng “cách mạng năng lượng” hồi năm 2005 (hỗ trợ các nhà máy nhiệt điện bằng một mạng lưới máy phát điện dùng diesel), đã quay trở lại mạnh mẽ, làm tê liệt cả lĩnh vực nhà ở cũng như công nghiệp.

Trong hoàn cảnh nguy kịch này, lệnh cấm vận do Oasinhtơn áp đặt lên Cuba, có hiệu lực từ năm 1962, và được tăng cường . vào năm 1992 và 1996, đang đè nặng lên nền kinh tế của hòn đảo này và đặc biệt tới sự hội nhập quốc tế của họ: giá các giao dịch cao hơn từ 5 đến 10% so với giá mà những trao đổi trực tiếp với nước láng giềng liền kề này cho phép, những sức ép đối với các ngân hàng quốc tế và nhất là sự vắng mặt của các hãng du lịch Mỹ, cơ hội để kiếm được hàng tỷ USD mỗi năm. Nhưng lệnh cấm vận của Mỹ – được gọi là sự phong tỏa chống Cuba – không ngăn cản hòn đảo này buôn bán hoàn toàn hợp pháp với 176 nước…cũng như với chính Mỹ: tiếp theo một văn bản pháp lý sửa đổi bổ sung được Oasinhtơn bỏ phiếu thông qua năm 2000 cho phép bán (nhưng không mua) thực phẩm và thuốc men, chính Mỹ đã trở thành nước cung cấp lớn nhất các thực phẩm nông nghiệp cho Cuba! Nhất là, lệnh cấm vận này không phải là nguyên nhân gây ra những trục trặc mang tính cơ cấu gắn với mô hình kinh tế tập trung và nhà nước hóa mà Raúl Castro hiện đang tìm cách hợp lý hóa.

Những cải cách chăng? Không phải, đó chỉ là “cập nhật mô hình”

Năm 2011, Đảng Cộng sản Cuba (đảng duy nhất được phép hoạt động) đã triệu tập Đại hội Sáu, vốn được chờ đợi từ 10 năm nay. Đây là dịp để các nhà cầm quyền chấp nhận một danh sách gồm 300 biện pháp- nhằm hiện đại hóa nền kinh tế Cuba, về mặt chính thức, đây không phải là Vấn đề quá độ: từ này cũng giống như từ cải cách đã bị loại bỏ ở Cuba; người ta nói đến việc “cập nhật mô hình”, để phù hợp với những “đường hướng lớn”.

Các biện pháp mở rộng tự do từng bước đã được tiến hành: bỏ các mức lương trần để trả lương theo sản phẩm, giao quyền sử dụng khu đất của nhà nước bị bỏ hoang cho nhũng người sản xuất nhỏ (1,5 triệu hécta đất canh tác đã được giao trong thời hạn 10 năm cho gần 160 000 người để phục hồi sản xuất nông nghiệp).

Nhưng trọng tâm của dự án còn đi xa hơn nữa: phát huy tính cạnh tranh của các doanh nghiệp Nhà nước (hai phần ba trong số này hiện làm ăn không có lãi) và xây dựng lại lĩnh vực tư nhân. Những biện pháp được dự kiến mang tính cấp tiến đối với một xã hội đã quen với sự bao cấp của nhà nước. Cho đến lúc đó, Cuba vẫn khoe khoang việc mọi người đều có công ăn việc làm như là một dẫn chứng chính đáng cho sự thành công của họ. Từ nay, Vấn đề là phải sa thải hàng loạt: 500 000 nhân viên nhà nước sẽ bị thất nghiệp từ nay đến năm 2015. Những điều kiện, được nghiệp đoàn duy nhất đưa ra: một tháng lương đền bù cho 10 năm thâm niên, và buộc phải tự xoay xở để ống. Một thông báo tàn nhẫn sau 50 năm chế độ kinh tế tập thể với một lĩnh vực tư nhân thực sự không tồn tại.

Để sử dụng hết số lượng lớn người lao động này trong “lĩnh Vực ngoài nhà nước”, hai phương thức được vạch ra: làm việc đơn lẻ hay trong các doanh nghiệp nhỏ, đơn giản và mở rộng dần; và các hợp tác xã, một hệ thống cho đến khi đó mới chỉ được thực hiện trong lĩnh Vực nông nghiệp. Hoạt động và thu nhập sẽ được thả nổi, miễn là đóng các khoản lệ phí và thuế, ý tưởng này đồng thời nhằm hợp thức hóa các hoạt động không chính thức hiện phát triển rất nhanh để thu thuế.

Nhưng thay vì chỉ rõ những lĩnh vực hoạt động bị loại trừ khỏi những cải cách này, các nhà cầm quyền lại lập một danh sách chỉ quy định những việc làm được cho phép: một bản kê khai chi tiết 178 ngành nghề, tất cả đều là hoạt động dịch vụ, và phần lớn không cần có tay nghề (từ bán đồ ăn nhẹ cho đến bán đĩa CD lậu, sửa chữa lặt vặt hay chọc cười trẻ em). Như vậy, không có các hoạt động sản xuất và những người có bằng cấp không thể hành nghề mà họ đã được đào tạo (kiến trúc sư, kế toán, bác sĩ, V.V…).

Những hạn chế này thể hiện sự nghi ngại của các nhà cầm quyền theo tư tưởng Castro trước những mầm mống của sự độc lập về kinh tế. Năm 1994, Cuba từng phải cho phép doanh nghiệp nhỏ ra đời để ngăn chặn sự khủng hoảng của “thời kỳ đặc biệt”. Nhưng ngay từ khi có những dấu hiệu phục hồi đầu tiên, năm 1996, họ đã dần dần thu lại các giấy phép và đánh thuế nặng hơn. Kết quả là: năm 2009, chỉ còn có 141 000 doanh nghiệp nhỏ trong tổng số 4,9 triệu người trong tuổi lao động.

Lần này, từ khi có đạo luật mới của Raúl, người ta thống kê được 371000 doanh nghiệp nhỏ (hai phần ba trong số những người mới Vốn là những người không công khai việc làm, như vậy chứng tỏ đa số những hoạt động không chính thức trước đây nay được hợp pháp hóa), và các nhà cầm quyền cho rằng đến cuối năm 2012, con số này sẽ là 600 000. Những hoạt động phổ biển nhất ư? Cửa hàng bán thức ăn nhanh mang đi, vận chuyển tư nhân (taxi tập thể) và đối với những ai may mắn có được một ngôi nhà còn trong tình trạng tốt thì cho các khách du lịch nước ngoài thuê phòng trọ.

Nhờ một chính sách cải cách về quyền sở hữu, cuối năm 2011, dân chúng có thể mua bán nhà ở, xe cộ, trước đó vẫn bị cấm đoán. Và từ nay, đối với những chủ doanh nghiệp nhỏ, việc tuyển lựa nhân viên là hợp pháp, điều trước đây chỉ được cho phép trong khuôn khổ gia đình. Nhưng liệu điều đó có đủ để sử dụng hết hàng trăm nghìn người bị sa thải theo dự kiến và phục hồi nền kinh tế?

Về ngắn hạn, những biện pháp manh mún này bắt đầu đem lại một vài kết quả: sản xuất nông nghiệp được thúc đẩy đôi chút, những thay đổi đáng kể trong lĩnh vực bất động sản, xuất hiện một cơ cấu kinh tế vi mô. Đối với Nhà nước, đó là một biện pháp giảm chi tiêu nhưng lại tăng thu nhập – kèm theo nguy cơ một bộ phận dân chúng không có nguồn sống vì cùng với việc cho phép của lĩnh vực tư nhân hoạt động là việc từ bỏ Nhà nước phúc lợi (mất dần vai trò cung cấp, cải cách các hệ thống y tế và giáo dục…). Vượt quá những kết quả kinh tế, những hậu quả xã hội của bước ngoặt này đã nhấn mạnh hơn những bất bình đẳng trong nước.

Quả thực, trong một đất nước mà tiết kiệm và vay tín dụng gần như là không tồn tại, thì những sự đầu tư vi mô phần lớn được thực hiện nhờ vào tiền do các gia đình từ Miami và những nơi khác gửi về, điều này vạch rã trong xã hội một đường phân chia tương thích với một đường khác, ít được tranh luận công khai: đa số người Cuba lưu vong từ lâu là người “da trắng”, nên các gia đình người “da trắng” đã nhận được nhiều nhất các kiều hối. Trên thực tế, người “da đen” và người lai bị gạt ra ngoài lề trong ván bài kinh tế mới này.

Trong giai đoạn quyết định đối với tương lai kinh tế và xã hội của hòn đảo này, một số nhà trí thức cách mạng theo phái chỉ trích tìm cách thúc đẩy sự phát triển của một lĩnh vực hợp tác, tự quản lý, có thể sẽ làm bớt đi tình trạng bất bình đẳng và tăng cường sự đoàn kết – một hình thức tham gia chưa bao giờ được các nhà cầm quyền Cuba từ Che Guevara cho tới Fidel Castro ưa thích.

Nhất là, giới lãnh đạo chính trị không coi tiến trình cải cách này là một bước quá độ khả dĩ. Tháng 7/2009, Raúl Castro đã tuyên bố trước Quốc hội rằng: “Tôi không được bầu làm chủ tịch để thiết lập chủ nghĩa Tư bản ở Cuba mà là để bảo vệ, xây dựng và hoàn thiện chủ nghĩa Xã hội chứ không phải là hủy diệt nó”.

Câu nói có thể được coi là hoa mỹ nhưng, 3 năm sau đó, quan điểm của chính quyền về vấn đề này vần không thay đổi. Phó chủ tịch Marino Murillo, ngôi sao đang lên, giám sát những cải cách, đã nhấn mạnh trước báo chí nước ngoài vào cuối tháng 3/2012 rằng: “Chúng tôi đang cập nhật hóa mô hình kinh tế nhưng chúng tôi không nói đến cải cách chính trị: Sẽ không có cải cách chính trị ở Cuba”.

Người ta biết rằng Raúl Castro bị ảnh hưởng bởi những mô hình của Trung Quốc hay Việt Nam, những nước mà ông đã tới thăm nhiều lần, nơi mà sự mở cửa kinh tế đã không làm tổn hại đến sự độc quyền chính trị của đảng duy nhất. Không hề thiết lập một giai đoạn quá độ “ngược lại, vấn đề là củng cố hệ thống hiện nay bằng cách cố gắng làm cho nó có thể đứng vững được – đồng thời vẫn giữ được sự độc quyền về quyền lực.

Từ màu đỏ sang màu xanh ôilu: giới quân sự nắm quyền chỉ huy

Trên bàn cờ nói đúng ra là mập mờ của việc kế tục Castro, một thể chế đã giữ một vị trí ngày càng lớn trong những năm gần đây: Lực lượng vũ trang cách mạng Cuba (FAR). Kể từ khi được bổ nhiệm vào mùa Hè năm 2006, Raúl Castro đã thay thế gần như toàn bộ êkíp lãnh đạo đương chức dưới thời anh trai ông. Thế hệ những người trẻ đầy tham vọng chính trị được đặt biệt danh là những “Taliban” vì sự cuồng tín của họ đối với Fidel Castro (Felipe Pérez Roque, Hassan Pérez, Otto Rivero) đă biến mat khỏi chính trường, cũng như êkíp những nhà quản lý thực dụng đã chỉ đạo quá trình mở cửa trong những năm 1990 (Carlos Lage, José Luis Rodriguez, Francisco Soberón). Thay vào vị trí của họ, là các quân nhân, những chiến hữu lâu năm của Raúl Castro (ông là Tổng tư lệnh tối cao các Lực lượng vũ trang cách mạng trong suốt 50 năm, từ 1959 đến 2008), từ nay chiếm phần lớn nhất của chiếc bánh không chỉ trong lĩnh vực chính trị mà cả trong lĩnh vực kinh tế. Điều là điều mới mẻ.

Vai trò chính trị của giới quân sự Sierra Maestra từ năm 1956 đến năm 1959) đã có trước Đảng Cộng sản (được thành lập vào năm 1965) và hội tụ tính hợp pháp về phương diện lịch sử để cầm quyền. Vai trò kinh tế của họ thì mới có gần đây.

Trong vòng 20 năm trở lại đây, FAR đã bắt đầu cơ cấu lại một cách triệt để: được Liên bang Xôviết trợ cấp cho đến năm 1989, quân đội đã phải giảm mạnh quân số của họ (từ 235 000 người trong những năm 1980 xuống còn khoảng 55 000 trong những năm 2000). Ngay từ năm 1986, FAR đã triên khai một chương trình tự chủ về tài chính, thông qua việc chấp nhận các phương pháp tư bản chủ nghĩa (phân cấp quản lý, thống kê kế toán); hệ thống được gọi là “cải tiến doanh nghiệp” này dựa vào quyền tự trị của mỗi xã hội, mang tính tự túc (nếu không muốn nói là phải sinh lời).

Trước tiên chỉ giới hạn ở lĩnh Vực quân sự, những phương pháp này sau đó đã được mở rộng ra nhiều lĩnh vực chủ chốt khác dưới sự chỉ đạo của quân đội. Một tầng lớp quân nhân-nhà quản lý hùng mạnh đã phát triển mà người ta thường gặp trong những khu dân cư Kohly, Siboney và Jaimanitas ở La Habana. Từ nay, họ kiểm soát phần lớn nền kinh tế quốc gia: theo một nghiên cứu được thực hiện vào đầu những năm 2000, những doanh nghiệp chịu sự quản lý của quân đội đã tạo ra “89% giá trị xuất khẩu, 59% thu nhập về du lịch, 24% thu nhập từ các dịch vụ, 60% từ các giao dịch bằng ngoại tệ, 66% từ việc bán lẻ bằng ngoại tệ”, và sử dụng “20% lực lượng lao động thuộc lĩnh Vực công”… Những người mặc đồng phục có mặt trong những lĩnh vực năng động nhất, những người mà người ta gọi là “đang nổi lên”, và hoạt động trong những lĩnh vực có lợi nhuận cao như du lịch, viễn thông, thuốc lá, thương mại cũng như trong những lĩnh vực chiến lược như vận tải và phân phối.

Giới quân nhân doanh nghiệp này, thường là các tướng lĩnh, các đảng viên nhưng chỉ phụ thuộc vào anh em Castro, tập trung quyền lực kinh tế và chính trị mà không cần phải bận tâm đến một chút đối lực nào – một sự tù mù có lợi cho tệ tham nhũng ở qui mô lớn, theo những lời đồn đại dai dẳng (thí dụ mới đây nhất là trường hợp tướng Rogelio Acevedo, giám đốc hãng hàng không dân dụng trong suốt 2 thập kỷ, bị sa thải vào đầu năm 2010). Nói rộng hơn, những thành viên của các lực lượng vũ trang và an ninh được hưởng những đặc quyền có tính quyết định trong một xã hội lâu nay vẫn tự nhận là công bằng (họ được hưởng những đãi ngộ về nhà ở, xe ô tô, thực phẩm, nghỉ phép cũng như về y tế và chế độ hưu trí tốt hơn rất nhiều so với chế độ chung).

Bất chấp quyền lực ngày càng tăng của họ, giới tinh hoa này vẫn ít được dân chúng biết đến và không xuất hiện trên báo chí Cuba. Họ được liên kết bằng sự trung thành, thậm chí bằng những mối quan hệ gia đình không lộ ra ngoài: chẳng hạn Luis Alberto Rodriguez, giám đốc của GaeSA nắm toàn bộ các hoạt động kinh tế trong lĩnh vực quân sự, không phải ai khác mà chính là con rể của Raúl Castro. Không có bất cứ một bức ảnh nào về ông này và các mối quan hệ gia đình của ông với người bố vợ đầy thế lực không bao giờ được nói tới. Trong khi thiếu một êkíp chuyển tiếp chính trị nên giờ đây, giới quân sự dường như đứng ở vị trí tốt nhất cho sự kế tục sau Castro: ở Cuba, người ta nói đến quyền lực màu xanh ôliu. Màu quân phục của họ.

Đảng duy nhất và độc quyền về thông tin

Chỉ trong vài năm, Raúl Castro đã áp đặt một quan điểm quản lý về chính trị, khẳng định mình như là một nhà quản lý quan tâm đến tính hiệu quả – chứ không phải đến tính đa nguyên: ở Cuba, mọi ý kiến bất đồng đều bị trừng phạt. Tuy nhiên, số tù nhân chính trị đã giảm: cái chết trong tù của Orlando Zapata Tamayo (một phần tử chống đối đã chết hồi tháng 2/2010 sau nhiều ngày tuyệt thực) và việc huy động các gia đình tù chính trị (Phong trào Những Phụ nữ trang-phục trắng), năm 2011, đã khiến nhà cầm quyền bối rối và buộc họ phải trả tự do cho hơn một trăm tù chính trị. Phần lớn số tù nhân này đã bị trục xuất đến Tây Ban Nha, là nước khi đó đứng làm trung gian hòa giải bên cạnh Giáo hội Công giáo Cuba. Tuy nhiên, những quyết định trả tự do này, được hoan nghênh ở nước ngoài, không làm thay đổi khuôn khổ pháp lý hình sự hóa những sự bất đồng chính kiến ở Cuba.

Và nếu như hiện nay có tương đối ít tù chính trị ở Cuba (theo Ủy ban Nhân quyền Cuba, năm 2012, số tù chính trị được ước tính vào khoảng 50 so với hơn 300 năm 2004) thì ngược lại nhỮng hành động trấn áp và hăm dọa ở mức độ thấp lại tăng mạnh. Chỉ trong tháng 3/2012, chính Ủy ban này đã thống kê được 1.158 vụ thẩm vấn tùy tiện và giam giữ người, từ vài giờ cho đến vài ngày, một nửa trong số đó xảy ra vào dịp Giáo hoàng Benedict 16 đến Cuba từ ngày 26 đến ngày 28/3, nhằm ngăn chặn cuộc biểu tình trong các buổi lễ misa công khai được tố chức tại Santiago và La Habana.

Quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội và tự do báo chí được Hiến pháp đảm bảo chỉ khi nào “phù hợp với những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội”… Sự kiểm soát thông tin đặc biệt có hiệu quả: chỉ tồn tại hai tờ nhật báo quốc gia, mỗi tờ khoảng một chục trang, mà thực ra là các cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Cuba (Granma) và của Đoàn Thanh niên Cộng sản (Juventud rebelde). Vô tuyến truyền hình (gồm 4 kênh quốc gia và một tờ báo hình) do một quân nhân chỉ đạo; còn các ăng ten chảo bắt được các kênh nước ngoài chỉ được phép sử dụng ở những khách sạn dành cho khách du lịch. Người dân Cuba nào dám lắp đặt lậu loại ăng ten này sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc.

Trong bối cảnh những phát biểu công khai trước đám đông cũng bị các nhà cầm quyền kiểm soát hoàn toàn thì lĩnh vực tin học và nhất là Internet đã đem lại những cơ hội bày tỏ các ý kiến riêng tư (tuy nhiên ngoài La habana, phần còn lại của Cuba, được trang bị rất ít). -Từ giữa những năm 2000, không gian đầy tiềm năng này đã thách thức sự độc quyền về thông tin của Nhà nước Cuba và bị nhà cầm quyền xác định rõ là mối đe dọa.

Internet và “cuộc cải tổ của cácdân mạng”

Sự giám sát Internet ở Cuba đặc biệt có hiệu quả: ngược lại với Trung Quốc hoặc thậm chí với Tuynidi của Tổng thống Ben Ali trước khi nước này sụp đố, việc giám sát này được thực hiện không phải qua sàng lọc hay phong tỏa các trang web mà trực tiếp từ đầu nguồn, thậm chí bằng cách hạn chế truy cập mạng. Hòn đảo này chỉ có một nhà cung cấp mạng, thuộc Nhà nước, và các dịch vụ chỉ dành cho các khách sạn, các cơ quan hành chính nhà nước. Năm 2009, doanh nghiệp này chỉ công bố 27 000 hợp đồng Internet, tức là khoảng 0,25 % số dân Cuba, tỷ lệ thấp nhất ở châu Mỹ (có một chợ đen cho những kêt nối bất hợp pháp, chủ yếu ở La Habana, nhưng đã bị trấn áp mạnh mẽ).

Với điều kiện tiên quyết là có giấy phép, một số nhà chuyên môn (bác sĩ, giáo sư đại học, viên chức cao cấp) có thể từ nhà riêng của họ, sử dụng một mạng nội bộ “Intranet” của chính phủ không kết nối Internet để trao đổi các thư điện tử trong nước và với nước ngoài. Khoảng 16% số dân được cung cấp dịch vụ Intranet hạn chế này, với tốc độ thông tin hết sức chậm.

Để vào mạng Internet thực sự, cần phải đến các quán cà phê Internet trong các khách sạn. Ngoài việc có thể bị kiểm tra giấy chứng minh, trên thực tế mức giá quá cao của những nơi này khiến cho những dịch vụ như vậy không thể tới được người dân (chỉ một giờ truy cập ở lưu lượng thấp đã ngốn mất một nửa tháng lương – khoảng 6 euro).

Cho đến gần đây, các nhà cầm quyền vẫn đổ lỗi cho lệnh cấm vận của Mỹ khiến cho khả năng kết nối yếu kém, buộc họ phải chuyển sang liên lạc qua vệ tinh quá tốn kém. Một đường cáp quang nối Cuba với Vênêxuêla đã được lắp đặt, nhằm tăng gấp 3000 lần dung lượng của đường truyền ở hòn đảo này. Nhưng kể từ ngày khai trương vào đầu năm 2011, và lúc đó được chào đón bằng một bài xã luận của Fidel Castro, không có bất cứ một tin tức nào lọt tới các phương tiện thông tin đại chúng Cuba, và những lời đồn đại dai dẳng về một công trình làm ẩu cùng với những vụ bắt giữ vì tham nhũng. Dù thế nào đi nữa, khả năng truy cập Internet cũng không tăng lên đối với dân chúng.

Bất chấp những giới hạn rõ ràng hẳn là không thể vượt qua được này, người dân Cuba vẫn hoàn toàn nắm bắt được những cơ hội để phát biểu và trao đổi thông qua các blog. Gần như không tồn tại vào năm 2007, số lượng những blog này đã tăng lên theo cấp số nhân: tháng 6/2009, một nghiên cứu đã thống kê được 1. 000 blog Cuba, (một phần tư được viết từ hòn đảo này, còn lại từ nước ngoài).

Mọi đề tài đều được đề cập đến trong đó, nghiêm trọng hoặc nhẹ nhàng và đôi khi có những blog được viết rất chuyên sâu: những bí mật quân sự, nỗi nhớ quê hương của những người sống lưu vong, những chứng cứ về cuộc chiến tranh ở Ănggôla hoặc những tranh luận về tình trạng vô chính phủ của Cuba đầu thế kỷ này… Tất cả tạo nên một diễn đàn trao đổi và tranh luận chưa từng có, tuy nhiên bị hạn chế do những khó khăn về truy cập Internet ở hòn đảo này (người ta không thể theo dõi trực tiếp mà các đĩa CD-Rom tập họp lại do đó: sự tương tác bị giảm chậm), nhưng một số người đã gọi bước tiến triển mới mẻ này là “cuộc cải tổ của các cư dân mạng”.

Biểu tượng của hiện tượng này, Yoani Sanchez, một nhà ngôn ngữ học khoảng ba mươi tuổi, là một trong số những người đầu tiên viết blog từ Cuba năm 2007 mà không cần dùng tên giả. Blog của anh, “Thế hệ Y”, bày to sự thất vọng về hiện thực của Cuba, được lưu hành ở Cuba trên đĩa CD- Rom hay thiết bị USB. Ở nước ngoài, sự thành công của nó càng tăng: với hàng triệu lượt truy cập mỗi tháng và được nhiều giải thưởng về báo mạng trên toàn thế giới. Còn bà Yoani, một người làm việc không mệt mỏi bất chấp những sự hăm dọa (bà và chồng bà bị theo dõi và đe dọa, riêng bà bị cấm ra khỏi lãnh thổ), đã thoát khỏi sự giám sát để truy cập Internet ở những quán cà phê Internet trong các khách sạn và, với tính sáng tạo, bà đã tìm cách phát triến việc sử dụng các công nghệ mới ở Cuba đế tạo ra bấy nhiêu khả năng mới cho các công dân bày tỏ ý kiến.

Có lúc bị lấn át, các nhà cầm quyền cố gắng giành lại quyền kiểm soát lãnh địa mới này. Họ không ngần ngại nói đến “cuộc chiến tranh mạng” và các chiến dịch vu khống trên các phương tiện thông tin đại chúng Cuba thường xuyên công kích những hình thức ngôn luận độc lập mới, bị tố cáo là con bài của Mỹ. Năm 2002, một trường đại học Khoa học thông tin (UCI) đã được mở ngay tại nơi trước đây là trung tâm nghe trộm của Liên Xô ở Lourdes, phía Nam của La Habana. Các sinh viên của trường có trách nhiệm giám sát Internet và đối phó với các website quốc tế liên quan đến tình hình Cuba. Sau hết, nhiều blog và tài khoản Twitter đã được tạo ra, đặc biệt là bởi các nhà báo chính thức (họ được phép truy cập Internet

để làm việc): thường ít mang tính cá nhân, nhiệm vụ của họ là chuyển tiếp một cách có hệ thống những thông tin của báo chí quốc gia tới nước ngoài, hay phục vụ như là những người phát ngôn được sử dụng làm công cụ phát ngôn không chính thức cho một chính phủ đôi khi trở thành tù nhân của chính sở thích giữ bí mật của mình.

Sự bắt đầu giống như một triển vọng

Không được tiếp cận với Internet hay với các kênh truyền hình vệ tinh (và như vậy là với một sự thông tin đa chiều), không có những khả năng thông tin “vô hạn” mà các mạng xã hội cho phép, bức tranh toàn cảnh xã hội Cuba rất khác với các nirớc đã trải qua “Mùa Xuân Arập”: dân chúng vẫn bị tách rời manh mún, không có khả năng chia sẻ kinh nghiệm hay tập hợp nhau.

Các đảng đối lập, xuất hiện trong những năm 1980 xung quanh các phong trào bảo vệ nhân quyền, đã bị thâm nhập và bị cô lập một cách triệt để. Đã có những sáng kiến hay của một xã hội dân sự còn rụt rè (tổ chức các cuộc tranh luận được quay phim để phố biến rộng rãi, những trung tâm đào tạo công dân chủ yếu đặt ở các nhà thờ), nhưng chúng diễn ra đơn điệu và do đó ít thu hút được sự quan tâm của dân chúng: sự kiểm soát xã hội, thông qua những tổ chức quần chúng, vẫn rất mạnh và khiến người ta e dè. Trong hoàn cảnh này, cách ứng xử hai mặt (không nói điêu người ta nghĩ, không làm điều người ta nói) vẫn là chiến lược phản kháng phổ biến nhất, cho dù đó không phải là điều thấy được rõ nhất.

Những người “không thích hợp” chọn cách ra đi hơn là phải chịu một sự cô lập khó khăn trong xã hội. Cuộc di dân vẫn tiếp tục, một cách lặng lẽ nhưng ngày càng tăng thêm: mỗi năm, Cuba mất đi 35 000 người. Từ năm 1994, nửa triệu người đã lựa chọn sự ra đi! Di cư trở thành lựa chọn tương lai của phần lớn thanh niên Cuba. Điều này không liên quan trực tiếp tới vấn đề chính trị – nói đúng ra phần lớn những người ra đi là những người vô chính trị – cũng không chỉ vì lý do kinh tế. Điều thúc đẩy các thế hệ trẻ ra đi chủ yếu là do những mâu thuẫn của một chế độ coi các công dân suốt đời như những đứa trẻ: những người được đào tạo trình độ cao không tìm được việc làm; tình trạng kinh tế bấp bênh; những mức lương nhà nước quá thấp, không cho phép họ sống một cách lương thiện; tính thụ động và thái độ nghi ngờ đối với sáng kiến tư nhân; tóm lại, một quyền lực chính trị không rõ ràng đã không dành bất kỳ khả năng nào cho sự tham gia cũng như cho sự đổi mới thế hệ.

Kêt quả: những thống kê gần đây đã cho thấy một sự thiếu hụt dân số trong độ tuổi từ 25 đến 35, do sự ra đi ngày càng nhiều của lớp thanh niên. Một tổn thất thực sự đối với một đất nước đã biết đào tạo nguồn nhân lực đặc biệt (6,5 triệu người Cuba tốt nghiệp trung học hoặc đại học) nhưng không thể giữ được họ.

Trước tình hình này, nhà cầm quyền Cuba dường như không định tìm ra giải pháp nào khác ngoài cách “thay đổi tất cả để không thay đổi gì”, ít ra trong một thời gian nữa. Trong khi chờ thắng ván bài dựa vào sự thay đổi từ từ nền kinh tế để phát triển (thay vì đa nguyên) thì sự giúp đỡ của Vênêxuêla là một phao cứu sinh cần thiết dành cho họ. cần thiết, nhưng đặc biệt mong manh trong hoàn cảnh hiện nay.

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
This entry was posted in Archives, Articles, Teaching and tagged , , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s