VỊNH CAM RANH VÀ SUBIC – TẤM LÁ CHẮN CHO AN NINH BIỂN ĐÔNG

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ Sáu, ngày 1/3/2013

TTXVN (Tôkyô 26/2)

Nhật báo “Sankei Express ” s ra mới đây đã đăng bài phân tích của Chuyên gia bình luận chính trị Hiroyuki Noguchi đánh giá về vai trò chiến lược và vị thế địa-chính trị quan trọng của hai quân cảng Cam Ranh của Việt Nam và Subie của Philippin đi với an ninh trên Biển Đông. Nội dung bài bình luận như sau:

Bản đồ in trên tấm hộ chiếu mới của Trung Quốc đã trở thành một vấn đề gây tranh cãi thời gian qua. Tấm bản đồ này vẽ đường chín đoạn hình chữ u “gói gọn” một khu vực rộng lớn từ phía Đông Đài Loan tới sát bờ biển của các nước Philippin, Brunây, Malaixia và Việt Nam. Vùng biển nằm trong đường chín đoạn đó chiếm tới 80% Biển Đông gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà nhiều nước cùng tuyên bố chủ quyền. Với cách in ấn bản đồ như vậy, Bắc Kinh dường như muốn sử dụng hộ chiếu để tuyên bố rằng đường chín đoạn này “tương ứng với lãnh hải của Trung Quốc”.

Các nét đứtt này được dư luận đặt cho nhiều cái tên như “đường chín đoạn” dựa vào số nét đứt trên bản đồ, “đường chữ U” và “đường lưỡi bò” căn cứ vào hình thù uốn lượn của nó. Cái “lưỡi bò” tham lam ấy muốn liếm sạch tài nguyên biển đi kèm với những tuyên bố chủ quyền đối với nhiều quần đảo trên Biển Đông. Đây rõ ràng là hiện tượng bất bình thường và là hành động trái với lẽ thường bởi không có bất kỳ nước nào chấp nhận hành động này của Bắc Kinh. Thoạt nghe cụm từ “lưỡi bò” có vẻ hài hước nhưng bản chất của nó phản ánh tham vọng mở rộng địa giới của Trung Quốc. Điều đáng chú ý là trên cái lưỡi bò vốn “không thể ăn được” ấy, người ta vẫn có thể nhận ra “phương pháp chế biến” của Bắc Kinh. Nếu dùng một cái que nướng xiên lưỡi bò này từ Đông sang Tây, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra Trung Quốc đang có ý đồ nhòm ngó hai quân cảng quan trọng là Cam Ranh của Việt Nam và Subie của Philippin.

Lịch sử đầy biến động của Vịnh Cam Ranh

Bất cứ một hải cảng tốt nào với địa thế của một vịnh nước sâu đều phải mang một dấu ấn lịch sử đầy biến động và Vịnh Cam Ranh cũng không phải là một ngoại lệ. Vào thời kỳ thực dân Pháp thống trị, Cam Ranh được Pari sử dụng làm cứ điểm trọng yếu của quân đội Pháp. Thậm chí, trong Chiến tranh Nga-Nhật (1904-1905), hải cảng này cũng trở thành địa điểm neo đậu và tiếp vận của hạm đội Hải quân Nga. Tuy nhiên, do sức ép của đế quốc Nhật Bản và Anh, một đồng minh của Nhật thời kỳ đó, hạm đội của Nga gặp phải trở ngại khi tiếp vận nên hạm đội bị mất sĩ khí chiến đấu. Sau đó, Cam Ranh rơi vào tay Nhật Bản trong Chiến tranh Thái Bình Dương (1941-1945). Cuộc chiến Thái Bình Dương kết thúc, hải cảng này lại về tay người Pháp. Trong Chiến tranh Việt Nam (1960-1975), cảng Cam Ranh là một cứ điểm của quân đội Mỹ. Từ năm 1979 đến năm 2002, Liên Xô và tiếp đó là Nga, thuê lại Cam

Ranh từ Chính phủ Việt Nam. Qua chặng đường lịch sử dài, cảng Cam Ranh đã liên tục chứng kiến sự thay đổi chủ sở hữu đến chóng mặt.

Thực tế là từ giữa những năm 1980 đến nửa đầu những năm 1990, Trung Quốc cũng nhiều lần ngỏ ý muốn thuê Vịnh Cam Ranh, thậm chí còn hăm dọa Việt Nam. Tuy nhiên, Việt Nam từ chối đề nghị này và tiếp tục cho Liên Xô và sau đó là hạm đội Thái Bình Dương của Nga thuê quân cảng này. Bởi lẽ nếu để Trung Quốc thuê Cam Ranh, Việt Nam có thể vô tình cung cấp một căn cứ địa để Trung Quốc phô trương mối đe dọa quân sự ngay trước mắt các quốc gia Đông Nam Á. Hơn nữa, từ những năm 1970, hai nước Việt- Trung xuất hiện những cuộc giao tranh trên biển và trên bộ. Đặc biệt, nguồn tài nguyên phong phú dưới đáy Biển Đông nhiều khả năng sẽ là mồi lửa cháy âm ỉ trong tương lai.

Việt Nam, vốn luôn có thái độ cảnh giác trước Trung Quốc, không đời nào có thể chấp nhận cho Trung Quốc thuê Vịnh Cam Ranh trong khi Trung Quốc đang ngày càng nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của quân cảng này.

Lẽ dĩ nhiên là Mỹ sẽ không đứng ngoài cuộc. Năm 1995, Việt Nam và Mỹ bình thường hoá quan hệ. Năm 2000, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ và Tổng thống Mỹ thăm Việt Nam. Năm 2003, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam thăm Mỹ và tàu Hải quân Mỹ ghé hải cảng Việt Nam. Năm 2005, Thủ tướng Việt Nam thăm Mỹ. Năm 2006, tại cuộc Hội đàm cấp Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ- Việt, hai nước quyết định cử sĩ quan Việt Nam sang học tập tại Mỹ. Năm 2007, Mỹ sửa đổi quy chế buôn bán vũ khí quốc tế (ITAR) cho phép bán vũ khí không gây sát thương cho Việt Nam như rađa tuần duyên và máy bay tuần tra trên không, Năm 2009, hai bên đạt thoả thuận sửa chữa tàu chiến của Hải quân Mỹ. Năm 2010, tàu sân bay của Mỹ ghé thăm một hải cảng của Việt Nam và sĩ quan quân đội Việt Nam lên thăm tàu. Trong khi tâm lý e dè do từng là cựu thù trong Chiến tranh Việt Nam vẫn còn hiện hữu, Mỹ và Việt Nam đã nhanh chóng cải thiện quan hệ một cách đáng kinh ngạc.

Việt Nam vi đường lối ngoại giao đa phương

Năm 2012, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta đã nhấn mạnh đến mối quan hệ tốt đẹp Việt-Mỹ trước các tướng lĩnh trên tàu hậu cần của Hải quân Mỹ khi đó đang neo đậu tại Vịnh Cam Ranh. Tuyên bố trên của ông Panetta là nhằm kiềm chế Trung Quốc.

Trong bối cảnh đó, năm 2010, Việt Nam tuyên bố chính thức mở cửa cảng Cam Ranh cho các tàu quân sự như tàu sân bay và tàu ngầm nước ngoài neo đậu. Năm 2012, Việt Nam cũng cho biết sẽ chấp nhận để tàu chiến Nga neo đậu ở Cam Ranh. Một khi cả Nga và Mỹ đều sửa chữa và tiếp vận ở Vịnh Cam Ranh thì hiệu quả kiềm chế Trung Quốc là rất lớn.

Trong khi Ấn Độ đang cảnh giác trước sự hiện diện của Hải quân Trung Quốc trên Ấn Độ Dương, Inđônêxia và Malaixia thì tuần tra ở vùng biển xa nhằm đối phó với Trung Quốc, còn Ôxtrâylia thì chuẩn bị nguy cơ Hải quân Trung Quốc tiến vào Nam Thái Bình Dương, hải quân các nước trong khu vực cũng đã bắt đầu để mắt đến Cam Ranh.

Rõ ràng, Vịnh Cam Ranh sẽ trở thành “giao lộ” quan trọng của hải quân các nước vốn đang lo ngại sự gia tăng sức mạnh của Hải quân Trung Quốc. Trung Quốc – hiện đang có một căn cứ quân sự ở đảo Hải Nam nằm rất gần với Vịnh Cam Ranh – không có lý do gì phải cần đến hải cảng này. Về điểm này có thể thấy rõ kế sách quyết đoán của Việt Nam là muốn tăng cường “phòng tuyến chung chống Trung Quốc” ở khu vực Bắc Biển Đông.

Mặc dù vậy, tại cuộc hội đàm cấp cao với Trung Quốc, Việt Nam cố gắng tránh xảy ra xung đột Việt-Trung như ký thoả thuận nguyên tắc về vấn đề trên biển hồi năm 2011. Thay vào đó, cả Mỹ và Trung Quốc bất kể thế nào cũng không muốn ở thế đối đầu hoặc đẩy tình hình căng thẳng lên quá cao. Chính “mối quan hệ có mức độ” với Mỹ và Trung Quốc như vậy đã đưa việt Nam vào thế phải thực hiện đường lối ngoại giao đa phương.

Hai quân cảng là chìa khoá cho thế trận “Việt Nam-Philíppin chung chiến hào”

Kể từ sau Chiến tranh Lạnh, Vịnh Cam Ranh – chủ thể chính trong chiến lược ngoại giao đa phương của Việt Nam – từng mất đi tầm quan trọng về mặt chiến lược. Nằm ở phía bên kia Biển Đông là Vịnh Subie, một cứ điểm xuất kích của Hải quân Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam và cũng là căn cứ lớn nhất của Hải quân Mỹ ở châu Á. Năm 1991, Vịnh Subie đã đóng cửa theo yêu cầu của Philippin. Nhân cơ hội này, năm 1995, Trung Quốc bắt đầu tăng cường chiến lược bành trướng hải dương với việc cho xây dựng cơ sở quân sự trên đảo Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa. Giật mình trước động thái này của Bắc Kinh, Philippin nối lại các cuộc tập trận chung quy mô lớn Mỹ- Philíppin và Manila ngả theo quân đội Mỹ. Trong cuộc hội đàm cấp ngoại trưởng Mỹ-Philíppin năm 2011, phía Mỹ đã đồng ý viện trợ tăng cường trang bị cho quân đội Philippin. Manila có kế hoạch phát triển Căn cứ quân sự Subie trước đây thành một đặc khu kinh tế và xây dựng các khu nghỉ dưỡng phục vụ cho mục đích du lịch. Tuy nhiên, Bộ Quốc phòng Philippin lại tỏ ý “chờ đợi” nối lại hoạt động của Subie với tư cách một căn cứ quân sự. Manila cũng đang nhất trí với phương án sử dụng Vịnh Subie làm nơi neo đậu, tiếp nhiên liệu và sửa chữa tàu của Hải quân Mỹ.

Hai nước Việt Nam và Philippin đã ký bản ghi nhớ hợp tác quốc phòng năm 2010. Tại Đại hội đồng Liên hợp quốc năm 2012, Philippin bất ngờ phê phán sự bành trướng trên biển của Trung Quốc khi yêu cầu “giải quyết một cách hoà bình” tranh chấp chủ quyền và khu vực.

Tổng tải trọng của các tàu chiến Trung Quốc gộp lại là trên 1,34 triệu tấn, vượt gấp đôi toàn bộ đội tàu hải quân của các nước Đông Nam Á cộng lại. Một vấn đề nữa là có nhiều nước thấy lo ngại trước sự bành trướng của Trung Quốc nhưng mỗi nước lại có một thế đứng và cách xử trí khác nhau đối với Bắc Kinh.

Dầu sao, một khi cả Hà Nội và Manila cùng tăng cường thế trận “Việt Nam-Philíppin chung chiến hào” đối phó với Trung Quốc, các cường quốc ở Thái Bình Dương như Mỹ, Nhật Bản và Ôxtrâylia sẽ phải tính chuyện sử dụng sao cho hiệu quả nhất cả hai quân cảng Cam Ranh và Subie trong thế trận này.

Advertisements

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
Bài này đã được đăng trong Archives, Articles, International relations, Teaching và được gắn thẻ , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s