CHỦ NGHĨA XÃ HỘI MANG MÀU SẮC CUBA

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ Năm, ngày 2/5/2013

TTXVN (Niu Yoóc 26/4)

Ngày 24/4, ” Tạp chí Chính trị Thế giới” của Mỹ đăng bài viết của tác giả William M. LeoGrande, giáo sư trường Các vấn đề công thuộc Đại học Tổng hợp Mỹ ở thủ đô Oasinhtơn, trong đó cho biết kể từ khi nắm quyền lãnh đạo đất nước vào tháng 7/2006, Chủ tịch Cuba Raul Castro đã phát động một chiến dịch lớn để đưa nền kinh tế Cuba bước vào thế kỷ 21. Như nguyên Chủ tịch Cuba Fidel Castro thừa nhận mô hình siêu tập trung được nhập khẩu từ Liên Xô trong những năm 1960 “không còn hiệu quả với chúng tôi nữa”.

Khi ông Raul lên nắm quyền, nền kinh tế Cuba vẫn chưa phục hồi hoàn toàn khỏi “Giai đoạn Đặc biệt” – cuộc suy thoái sâu sắc sau sự sụp đổ của Liên Xô và mất 3 tỷ USD viện trợ hàng năm. Mặc dù nền kinh tế Cuba đã và đang dần dần phát triển từ những năm 1990, các khoản lợi nhuận vẫn chủ yếu từ du lịch và xuất khẩu dịch vụ y tế. Sản xuất hàng hóa thực tế ở Cuba vẫn dưới mức năm 1989 và nhiều công ty nhà nước kinh doanh thua lỗ. Sản xuất nông nghiệp yếu kém tới mức nước này phải nhập khẩu 70% lương thực với chi phí 1,5 tỷ USD mỗi năm. Chủ tịch Raul chỉ rõ vấn đề trọng tâm là năng suất thấp. Phát biểu trước Đại hội Đảng Cộng sản tháng 4/2011, ông nói: “Không nước nào hoặc người nào có thể chi tiêu nhiều hơn những gì họ có”. Ông Raul Castro là một người cộng sản trước anh trai của ông, nhưng luôn là con người thực dụng hơn. Thậm chí trước khi Chủ nghĩa Cộng sản châu Âu sụp đổ, ông Raul đã thúc đẩy ngành công nghiệp quốc phòng của Cuba áp dụng các kỹ thuật quản lý của phương Tây để nâng cao năng suất. Trong Giai đoạn Đặc biệt, ông thuyết phục Chủ tịch Fidel sử dụng các cơ chế thị trường để khởi động lại nền kinh tế, mở cửa thị trường nông sản tự do và hợp thức hóa các doanh nghiệp nhỏ. Nhưng dưới thời ông Fidel, những cải cách như vậy rất hạn chế. Ngay sau khi nhậm chức Chủ tịch, ông Raul bắt đầu thẳng thắn chỉ trích nền kinh tế, quy thất bại cho các chính sách của Cuba chứ không phải các biện pháp cấm vận của Mỹ. Ông cho rằng Cuba cần “tháo gỡ những vấn đề khó khăn đang ngăn chặn sự phát triển của lực lượng sản xuất”, trong đó có quá nhiều quy chế. Năm 2008, Chính phủ bắt đầu xóa bỏ những lệnh cấm mà người dân Cuba cảm thấy đặc biệt trầm trọng, ví dụ hợp pháp hóa việc mua bán máy tính và điện thoại di động và xóa bỏ quy định không cho phép người Cuba ở trong các khách sạn du lịch. Năm 2011, Chính phủ hợp pháp hóa bất động sản tư nhân, thị trường ô tô và cho phép người dân Cuba được mua bán trực tiếp với nhau mà không cần qua cơ quan trung gian của nhà nước. Gần đây nhất, Chính phủ xóa bỏ các giấy phép xuất cảnh cần thiết khi du lịch nước ngoài. Hiện nay người dân Cuba được cấp hộ chiếu để đi du lịch bất cứ khi nào và bất cứ nơi nào họ muốn. Những thay đổi đó đã đem lại uy tín chính trị cho Chính phủ để tiến hành các cải cách kinh tế sâu rộng ở Cuba.

Chiến lược quan trọng trên được công bố tháng 11/2010 với nhan đề: “Các nguyên tắc chỉ đạo chính sách kinh tế và xã hội của Đảng và Cách mạng” trong đó đề ra 291 điểm để “cập nhật” mô hình kinh tế của Cuba. Sau khi thảo luận rộng rãi, tài liệu sửa đổi được thông qua tại Đại hội Đảng năm 2011. Kể từ đó, Quốc hội nỗ lực hoạt động để cụ thể hóa nghị quyết của Đảng thành luật pháp. Thay đổi quan trọng nhất của các nguyên tắc chỉ đạo là: “khu vực phi nhà nước” gồm các hợp tác xã và công ty tư nhân được công nhận là một bộ phận kinh tế năng động và lâu dài của nền kinh tế chứ không phải một thành phần phụ thuộc. Để chuẩn bị chiến lược chính trị nhằm thực hiện các nguyên tắc chỉ đạo, Đảng Cộng sản Cuba khẳng định “từ bỏ những định kiến đối với các ngành phi nhà nước của nền kinh tế” trong đội ngũ cán bộ cũng như dân chúng. Thực tế, tiến trình cải cách được bắt đầu trong lĩnh vực nông nghiệp trước khi các nguyên tắc chỉ đạo được soạn thảo. Năm 2008, để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, Nhà nước chấm dứt chế độ phân phối để các sản phẩm của địa phương có thể bán tại địa phương, điều chỉnh giá sản phẩm thu mua của nông dân cá thể và bắt đầu cho nông dân thuê đất nhàn rỗi. Cuối năm 2012, Chính quyền đã phân phối 3,5 triệu mẫu đất cho nông dân. Các nông trường quốc doanh trở thành các hợp tác xã và các hợp tác xã chia đất của họ thành các trang trại gia đình. Các thị trường nông sản phát triển trên cả nước, từ các chợ lớn ở Lahabana đến các chợ ven đường để đáp ứng nhu cầu của xã hội. Những hạn chế nhằm ngăn chặn sự phát triển của các công ty nhỏ từ những năm 1990 cũng đang được nới lỏng. Một số thuế thu mua được sửa đổi và lệnh cấm thuê người lao động bị xóa bỏ. Chính phủ cũng hủy bỏ các hạn chế về quy mô kinh doanh, chẳng hạn xóa bỏ quy định các cửa hàng ăn tư nhân không được rộng quá 12 chỗ ngồi, do đó giới kinh doanh nhỏ có thể phát triển. Chính phủ cũng hợp pháp hóa các hợp tác xã phi nông nghiệp và các công ty kinh doanh tư nhân được phép ký hợp đồng với các công ty nhà nước, từ đó mở ra thị trường tiềm năng rất lớn cho họ. Trước khi tiến trình cải cách bắt đầu, chỉ 15% lực lượng lao động làm việc trong lĩnh vực phi nhà nước, chủ yếu trong các trang trại tư nhân, nhưng cuối năm 2012 tỷ lệ đó tăng lên 23% và các nhà kinh tế Cuba dự đoán con số đó sẽ tăng lên 40% vào năm 2016. Trong số những trở ngại cho sự phát triển của các công ty nhỏ là thiếu các thị trường bán buôn và tín dụng. Nguyên tắc chỉ đạo cam kết khắc phục cả hai vấn đề, và các ngân hàng đang cung cấp các khoản vay cho các công ty nhỏ. Các khoản kiều hối từ Mỹ gửi về nước đã tạo nên một nguồn vốn mới. Trước năm 2009, Chính phủ Mỹ hạn chế người Mỹ gốc Cuba gửi tiền về nước cho người thân không quá 1.200 USD/năm và các cuộc khảo sát ở Cuba cho thấy số người tiếp nhận chủ yếu sử dụng khoản tiền đó để chi tiêu hàng ngày chứ không hề tiết kiệm hoặc đầu tư. Từ khi Tổng thống Barack Obama xóa bỏ các hạn chế năm 2009, các khoản kiều hối từ Mỹ gửi về Cuba tăng từ 1,4 tỷ USD lên 2,3 tỷ USD hàng năm. Miami trở thành chủ ngân hàng và thị trường bán buôn cho các công ty kinh doanh nhỏ người Cuba bất chấp các biện pháp cấm vận. Thực tế, những cải cách đó dường như rất giống giai đoạn đầu của các cải cách “Đổi mới” ở Việt Nam, được bắt đầu vào năm 1986 nhằm tạo ra một “nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” và các cải cách năm 1978 của Đặng Tiểu Bình nhằm xây dựng “chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc”. Như một quan chức Cuba đã nghỉ hưu nhận xét, mô hình Cuba là “chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Cuba”. Chủ tịch Raul cũng khẳng định: “Tôi được bầu làm Chủ tịch không phải để khôi phục chủ nghĩa tư bản ở Cuba và cũng không từ bỏ Cách mạng. Tôi được bầu lên để bảo vệ, duy trì và tiếp tục phát triển chứ không phải để tiêu diệt chủ nghĩa xã hội”. Nhưng để thực hiện điều đó ông phải đối mặt với một số thách thức, trong đó thách thức lớn nhất là làm thế nào để các công ty nhà nước làm ăn hiệu quả.

Cải cách kinh tế của Cuba hay như người Cuba thích gọi là “cập nhật” nền kinh tế là nhằm áp dụng các cơ chế thị trường để tăng năng suất lao động. Phát biểu trước Quốc hội tháng 8/2012, Chủ tịch Raul Casíro nói: “Chúng ta phải xóa bỏ quan niệm cho rằng Cuba là nước duy nhất trên thế giới mà ở đó mọi người có thể sống mà không cần làm việc”. Đến nay những thay đổi được thực hiện trong khu vực kinh doanh nhỏ và nông nghiệp cho thấy các nhà rãnh đạo Cuba rất nghiêm túc. Nông nghiệp đang trải qua giai đoạn tư nhân hóa thực sự và khu vực tư nhân sẽ trở thành một thành phần đóng góp rất lớn cho GDP của cả nước. Nhưng cuộc thử nghiệm thực sự của tiến trình cải cách sẽ diễn ra trong khu vực nhà nước, hiện vẫn sử dụng hầu hết lực lượng lao động Cuba và tạo ra hơn 80% GDP. Mục tiêu của Chính phủ Cuba là không tư nhân hóa khu vực nhà nước mà hiện đại hóa để khu vực này sản xuất hiệu quả. Mô hình cải thiện kinh doanh là mô hình tương tự đã được Chủ tịch Raul Castro áp dụng trong ngành công nghiệp quốc phòng trong những năm 1980. Các công ty nhà nước sẽ phải chấp nhận các hoạt động kế toán tiêu chuẩn và phải kinh doanh có lãi. Kiểm soát các quyết định của công ty sẽ phân cấp từ các bộ ngành trung ương đến các giám đốc công ty – những người được quyền sa thải lao động không cần thiết. Theo ước tính của Chính phủ, hiện nay Cuba có khoảng một triệu nhân viên trong khu vực nhà nước làm những công việc cần phải loại bỏ. Các công ty nhà nước kinh doanh không có lãi sẽ bị đóng cửa. Nhưng có hai câu hỏi lớn liên quan đến việc cập nhật mô hình này của Cuba. Trước hết, liệu Chính phủ có quyết tâm chính trị thúc đẩy tiến trình cải tố kinh tế quan trọng như vậy cho đến khi hoàn thành hay không? Có bằng chứng cho thấy nhũng người bảo thủ trong bộ máy quan liêu nhà nước và Đảng Cộng sản đang chống lại sự thay đổi bằng cách làm chậm lại tiến trình cải cách. Điều này không có gì mới, đặc biệt trong khu vực nhà nước – nơi các chương trình cải cách kinh doanh được tiến hành từ năm 1998, nhưng chưa được áp dụng trong 1/3 công ty nhà nước vào thời điểm ông Raul trở thành Chủ tịch vào năm 2006. Năm 2011, ông Raul cảnh báo sẽ không tha thứ cho các quan chức không hành động. Ông nói: “Chúng ta phải bình tĩnh nhưng cũng kiên nhẫn đối mặt với sự phản đối thay đổi có ý thức hay vô thức. Tôi cảnh báo bất cứ kẻ quan liêu nào rằng việc phản đối việc thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc chỉ đạo kinh tế đã được đa số nhân dân ủng hộ đều là vô ích”. Để bảo đảm các chính sách đó trở thành hiện thực, ông Raul thành lập một ủy ban thực hiện, đứng đầu là Phó Chủ tịch Marino Murillo, nguyên Bộ trưởng Kinh tế và Kế hoạch, để báo cáo thường xuyên tiến độ.

Câu hỏi thứ hai là tiến trình cải cách gây ra những hậu quả xã hội và chính trị gì? Ông Castro cam kết sẽ không để Cuba bị “sốc tâm lý” và “không ai bị bỏ lại phía sau”. Nhưng nếu các lực lượng thị trường được tự do hoàn toàn, sự chênh lệch thu nhập của Cuba chắc chắn sẽ tăng, thậm chí lớn hơn hai thập kỷ qua. Sẽ có người thắng kẻ thua. Nhũng người được giáo dục tốt, sống ở các thành phố phát triển kinh tế năng động hơn và được tiếp cận với ngoại tệ mạnh sẽ có điều kiện thuận lợi để phát triển trong một môi trường kinh tế tự do hơn. Những người có tay nghề thấp hoặc cao tuổi, sống ở các khu vực nông thôn, không có thân nhân ở nước ngoài gửi tiền về và có nguy cơ chịu sự phân biệt đối xử. Chính phủ cam kết duy trì hệ thống phúc lợi tập thể – vấn đề mà cuộc cách mạng tự hào nhất bao gồm chăm sóc y tế miễn phí, giáo dục miễn phí và an sinh xã hội bảo đảm. Nhưng các khoản trợ cấp khác của nhà nước cho người tiêu dùng đang bị xóa bỏ, kể cả thẻ phân phối mà ông Raul gọi là “một gánh nặng không thể chịu nổi” của tài chính nhà nước. Thay vì trợ cấp tiêu dùng cho của tất cả mọi người, Chính phủ sẽ chỉ trợ cấp cho người nghèo. Khi công ăn việc làm được tạo ra nhiều ở khu vực tư nhân, Chính phủ có kế hoạch sa thải tới một triệu nhân viên khu vực nhà nước, chiếm 20% lực lượng lao động. Nhưng kế hoạch đầu tiên trong năm 2010 sẽ chỉ sa thải 500.000 nhân viên trong sáu tháng đã bị hoãn vô thời hạn, bởi vì không có vị trí để họ làm việc. Các nhà lãnh đạo Cuba rất lo ngại bất ổn xã hội sẽ xảy ra khi thay đổi kinh tế quyết liệt như vậy. Do đó ông Raul cho biết tốc độ thay đổi sẽ chậm và chắc “để không phạm sai lầm. Đối với những người khuyến khích chúng tôi thay đổi nhanh hơn, chúng tôi khẳng định sẽ tiếp tục nhưng không vội vàng bằng biện pháp được cân nhắc kỹ”. Tốc độ được cân nhắc cũng sẽ cho phép điều chỉnh các cải cách nếu môi trường chính trị đòi hỏi điều đó. Bản thân cuộc cách mạng đang bị đe dọa trong quá trình này. Những người sáng lập chế độ đang dần rời khỏi chính trường. Thông báo ý định từ chức Chủ tịch sau khi kết thúc nhiệm kỳ năm 2018, ông Raul quyết tâm sửa chữa nền kinh tế trước khi trao lại cho thế hệ lãnh đạo tiếp theo. Tiến trình cải cách đã tạo ra hy vọng mới cũng như những lo lắng trong người dân Cuba. Nếu cải cách bị trì hoãn hoặc thất bại, người dân sẽ thất vọng, từ đó giáng một đòn nặng vào tính hợp pháp của chế độ cũng như các nhà lãnh đạo mới chưa được thử thách đang nắm chính quyền. Nhưng ngay cả sự thành công cũng sẽ tạo nên một thách thức mới cho thế hệ tiếp theo: Trong một nền kinh tế được thúc đẩy bởi yêu cầu tính hiệu quả của thị trường cũng như bởi lý tưởng của những người sáng lập cuộc cách mạng, liệu Cuba có thể duy trì các giá trị công bằng xã hội đã từng thúc đẩy cuộc cách mạng năm 1959 và là bản chất tư tưởng của cuộc cách mạng chưa từng thấy hay không?.

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
This entry was posted in Archives, Articles, Teaching and tagged , , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s