TRUNG QUỐC: NHỮNG TRANH CHẤP VỀ ĐƯỜNG BIÊN GIỚI PHẢN ÁNH LỊCH SỬ KHỐC LIỆT

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ Năm, ngày 16/5/2013

TTXVN (Hồng Công 13/5) Trung Quốc hiện đang vướng vào những cuộc tranh chp lãnh hải, lãnh thổ đầy rc ri với các nước láng giềng như Nhật Bản và n Độ. Thời báo châu Á trực tuyến số ra ngày 3/5 đăng bài viết của tác giả Peter Lee, trong đó cho rằng những cuộc tranh chấp của Trung Quốc đã phản ánh lịch sử ác liệt trong khu vực. Dưới đây là nội dung bài viết:

Hai cuộc tranh chấp lãnh thổ của Trung Quốc đã mở ra cánh cửa dẫn tới hai hướng đi cạnh tranh đến tương lai của châu Á. Cánh cửa thứ nhất – cuộc đối đầu bất ngờ giữa Trung Quốc và Ấn Độ ở khu vực Ladakh – dẫn tới sự phát triển hơn nữa của cơ chế an ninh khu vực châu Á hiện nay như một mạng lưới các mối quan hệ song phương. Đằng sau cánh cửa thứ hai – cuộc khủng hoảng đang hết sức căng thẳng xung quanh tranh chấp quần đảo Điếu Ngư/Senkaku ở biển Hoa Đông – có vẻ như dẫn tới một cơ chế đa cực với một bên tham gia độc lập mới đầy sức mạnh, sự bất ổn và cả sự nguy hiểm. Tương lai an ninh châu Á sẽ đi theo một trong những hướng đi này, nhưng là hướng nào?

Nhũng sự kiện ở khu vực biên giới giữa Ấn Độ và Trung Quốc có hương vị riêng biệt thường thấy, như năm 1962 đã xảy ra căng thẳng ở Ladakh. Một lần nữa, Trung Quốc đang bị đổ lỗi là đã gây ra một vụ xâm nhập trái phép. Và lại một lần nữa, có vẻ như sức ép quốc tế đang khiến câu chuyện trở nên phức tạp hơn.

Báo chí Mỹ kể câu chuyện này là các lực lượng Trung Quốc đã xâm nhập quá Ranh giới Kiểm soát thực tế ở khu vực Depsung Bulge 19 km để dựng các lều trại tại một khu vực hoang vắng có độ cao khoảng 5.000m so với mực nước biển và nằm gần đèo Karakorum. Vụ xâm nhập này được coi là một phần chiến dịch của Trung Quốc nhằm chia cắt các vị trí của Ấn Độ ở Aksai Chin và vụ việc này đã cho thấy sự nhu nhược có xu hướng sẵn sàng nhân nhượng của Chính phủ Ấn Độ do Thủ tướng Manmohan Singh đứng đầu.

Vụ việc này được coi là không thể lý giải được khi Trung Quốc trở nên ngang ngược với Ấn Độ chỉ ngay trước chuyến thăm cấp nhà nước của Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường tới Niu Đêli. Như thường lệ, khi đương đầu với một câu chuyện được tường thuật lại và có vẻ không hợp lý, phản ứng là “sự lệch pha” của các bên ở Trung Quốc đối với sự bất hợp lý, trong trường hợp này là việc các binh sĩ của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa (PLA) xâm nhập vào vùng đất của nước khác và gây rối. Điều này thể hiện sự bất lực của Đảng Cộng sản và Nhà nước Trung Quốc trong việc kiểm soát quân đội của nước này.

Hãng tin AP của Mỹ đã cung cấp nội dung tóm tắt một cuộc phỏng vấn: Manoj Joshi, một chuyên gia phân tích quốc phòng thuộc Quỹ Nghiên cứu Quan sát viên có trụ sở ở Niu Đêli, nói rằng thời gian xảy ra vụ xâm nhập đã làm dấy lên những câu hỏi về việc “liệu có một cuộc “nội chiến” bên trong ban lãnh đạo Trung Quốc hay không, hoặc liệu có ai đó đang tìm cách “chơi” Thủ tướng Lý Khắc Cường hay không”.

Trên thực tế, có vẻ như vụ lộn xộn này nằm trong sự soi xét của phương Tây chứ không phải trong sự soi xét của Đảng Cộng sản Trung Quốc và PLA.

Dựa vào một nguồn tin từ một cuộc họp quân sự của Ấn Độ, tờ Điện tín ở Calcutta đã đăng tải một đồ họa. Bức đồ họa này minh họa rằng dường như không có “Ranh giới Kiểm soát Thực tế” trong khu vực tranh chấp nói trên, một ranh giới đã được cả Ấn Độ và Trung Quốc thừa nhận. Thay vào đó, có hai “Ranh giới Nhận thức”. Trung Quốc tuyên bố họ kiểm soát một vùng đất rộng 10 km ở khu vực đó. Vì thế, có một dải đất rộng 10 km không có người ở và là vùng đất hoang vắng mà những người “kiểm soát thực tế” có thể chiếm lấy.

Trong quá khứ, cả hai bên đều đã tuần tra vùng đất hoang vắng không có người ở này nhưng không thiết lập các cơ sở lâu dài ở khu vực đó để vùng đất này không trở thành trọng tâm của một cuộc cạnh tranh trong việc khẳng định quyền kiểm soát, và là một phần của một cuộc tranh cãi lớn hơn.

Cho đến nay, vấn đề tranh cãi không phải là PLA đã điều chuyển quân đến khu vực đó mà là các binh sĩ Trung Quốc giờ đây đang dựng trại – những cơ sở không mang tính chất lâu dài – phù hợp với tiền lệ dĩ hòa vi quý truyền thống đối với khu vực này. Cùng thời điểm đó, Trung Quốc đang yêu cầu Chính phủ Ấn Độ dỡ bỏ những boongke và những kho quân sự lâu dài khác trong khu vực. Những cơ sở quân sự đó rất có thể thể hiện một nỗ lực của quân đội Ấn Độ nhằm chuyển “sự kiểm soát về mặt nhận thức” ở khu vực tranh chấp thành “sự kiểm soát thực tế”.

Trên mạng Internet đã xuất hiện những lời khẳng định rằng vụ xâm nhập của các binh sĩ Trung Quốc là nhằm ứng phó với việc quân đội Ấn Độ thiết lập một căn cứ lâu dài ở Rika Nullah, nằm trong khu vực tranh chấp. (Cần phải chỉ rõ là một “căn cứ lâu dài” ở khu vực Aksai Chin bị bao vây bởi sự hoang vắng lạnh lẽo có lẽ chỉ ỉà một số tấm mạ kim loại được đựng thành một căn lều.)

Nếu điều này là đúng thì một câu chuyện hợp lý hơn xuất hiện.

Như thông tin đăng tải trên tờ Thời báo Ấn Độ cho thấy, vụ tranh chấp xung quanh “quyền kiểm soát về mặt nhận thức” đối với khu vực Depsung Bulge giống như thứ gì đó bất đồng không thể tránh khỏi và cần được giải quyết bởi cả hai bên đã đổ tiền của, đầu tư cơ sở hạ tầng và đưa các lực lượng vào khu vực đó để thể chế hóa “sự kiểm soát thực tế” của họ, cũng như cuộc đua giành những vùng lãnh thổ “kiểm soát về mặt nhận thức” đầy hữu ích nhưng không quan trọng đến mức đặc biệt sống còn, trước khi tấm rèm che an ninh được hạ xuống vì những sự cai trị tốt đẹp và hy vọng là cả hòa bình đối với khu vực biên giới được xác định rõ ràng và được đảm bảo.

Cuộc tranh chấp đang tiếp diễn trong suốt nửa tháng qua giữa các binh sĩ ở độ cao 5.000 m so với mực nước biển, theo cách nào đó có thể gói gọn trong vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng dọc theo Ranh giới Kiểm soát Thực tế dài 4.057 km vốn chưa được giải quyết ổn thỏa. Trung Quốc đã cần mẫn tăng cường khu vực này trong hơn hai thập kỷ và giờ đây đã phản đối những nỗ lực muộn màng của Ấn Độ trong việc thực hiện các hành động đối nghịch lại.

Việc Ấn Độ tái kích hoạt các sân bay hiện đại ở Daulat Beg Oldie, Fukche và Nyoma, cũng như việc xây dựng một số đồn bốt quân sự tạm thời và các boongke ở Chumar và Fukche gần Ranh giới Kiểm soát Thực tế ở phía Đông Ladakh trong 4-5 năm qua trên thực tế đã khiến Trung Quốc nổi giận. Ví dụ, đường băng ở Daulat Beg Oldie nhìn ra khu Yực đèo Karakoram chiến lược, trong khi sân bay Fukche chỉ nằm cách Ranh giới Kiểm soát Thực tế có 5 km.

Là một phần của một chiến lược toàn diện nhằm chính thức hóa và khẳng định sự kiểm soát của mình đối với các khu vực biên giới, có lẽ Chính phủ Ấn Độ đã quyết định rằng đây là lúc chiếm trọn khu vực Depsung Bulge. Có hai khả năng, hoặc là quân đội Ấn Độ (không giống như PLA), có một lịch sử lâu dài và huy hoàng trong việc thúc đẩy những ưu tiên và đặc quyền của họ mà không đếm xỉa gì đến sự lãnh đạo dân sự, quyết định những mong muốn của họ trong việc tạo ra một “khoảnh khắc Senkaku” của riêng họ, với việc sử dụng tranh chấp khu vực Depsung Bulge như một canh bạc lãnh thổ. Hoặc là Trung Quốc đã quyết định thực hiện một vụ xâm nhập vô cớ vào khu vực Depsung Bulge để có một quân bài mặc cả nhằm buộc Chính phủ Ấn Độ lùi bước trong một số động thái tăng cường quân sự mạnh mẽ và đáng báo động ở Ladakh. Tuy nhiên, khả năng này là không nhiều, không phải bởi sự hào phóng của Chính phủ Trung Quốc trong việc tuân thủ luật pháp thiết yếu, mà bởi điều đó sẽ không đạt được hiệu quả. Quân đội Ấn Độ (và dư luận không thể tránh khỏi của họ – ý kiến công khai của những người theo chủ nghĩa dân tộc Ấn Độ) sẽ không để cho Chính phủ Ấn Độ đánh mất những tài sản quân sự ở những vùng lãnh thổ biên giới rõ ràng của nước này.

Trong bất kỳ trường hợp nào, Chính phủ Trung Quốc, quan tâm đến việc đánh giá những ý định của Chính phủ Ấn Độ, đã cử 50 binh sĩ dựng 5 lều trại ở Rika Nullah. Quân đội Ấn Độ cũng đã cử các binh sĩ của họ dựng các lều trại đối diện.

Vụ rắc rối giờ đây khiến Thủ tướng Lý Khắc Cường phải tìm kiếm một giải pháp hợp lý trong cuộc gặp sắp tới với Thủ tướng Manmohan Singh để thoát khỏi cuộc tranh chấp lố bịch này.

Trong kế hoạch lớn về nhiều vấn đề, Trung Quốc có lẽ mong muốn có các mối quan hệ tốt đẹp với Ấn Độ. Nhật Bản lại là một vấn đề khác, và cuộc tranh chấp quần đảo Điếu Ngư/Senkaku trên biển Hoa Đông – một vùng đất khác không quan trọng nhưng đầy khó khăn – thì gây nhiều bối rối hơn.

Ngoại giao thế giới đang tập hợp lại trong nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Mỹ Barack Obama. Chiến lược dịch chuyển trọng tâm trở lại châu Á mang tính đối đầu của Mỹ là liều moócphin đối với “sự tái cân bằng,” một sách lược tạo ra một nơi mà Trung Quốc ở bên trong cấu trúc đó cùng với Ấn Độ với tư cách là các quan sát viên. Họ có thể suy tính về một trường hợp tương tự đáng báo động hơn so với khát vọng của những người dân tộc chủ nghĩa Ấn Độ về một cuộc tấn công trong cuộc chiến tranh năm 1962: những nét tương tự giữa Đức trong những năm 1930 và Nhật Bản của Thủ tướng Shinzo Abe ngày nay.

Xét thấy vị trí của Nhật Bản trong trật tự thế giới ngày nay tốt hơn nhiều so với vị trí tương tự của Đức vào năm 1933: sẵn sàng xóa bỏ những hạn chế giải trừ quân bị được áp đặt bởi những kẻ chiến thắng Nhật Bản (Hiệp ước Véc-xây đối với Đức và Hiến pháp hòa bình đối với Nhật Bản) và lại đảm đương vai trò là một thành viên đầy đủ (không bị hạn chế) của cộng đồng toàn cầu.

Sự thiếu kiên nhẫn đối với những đòi hỏi quá đáng của nước ngoài bị làm trầm trọng thêm bởi sự bất ổn kinh tế được tạo ra bởi cùng một nhóm những người nước ngoài, những người đang làm cho hệ thống quân sự bị tê liệt (Đại Suy thoái đối với Đức; Đại khủng hoảng đối với Nhật Bản) và sự thay đổi tương đối trùng hợp từ một nước láng giềng lớn nhung bị kiệt quệ và tê liệt sang một nước tăng trưởng nhanh chóng và trở thành một lực lượng đầy đe dọa (Liên Xô với Đức; Trung Quốc với Nhật Bản).

Với trật tự cũ thiếu uy tín, sự tái sinh dân tộc trở thành một vấn đề mang tính khẩn cấp và được báo trước bởi một nhà lãnh đạo đã quyết tâm đánh đổ những sự kiềm chế đã gông cùm các lĩnh vực quân sự và kinh tế, và huênh hoang khắp nơi trên thế giới trong dáng vẻ làm hài lòng và kích động cả đất nước (Hitler ở Đức và Shinzo Abe ở Nhật Bản).

Những vùng lãnh thổ dễ bị tổn thương được bảo vệ (Rhineland của Đức, Senkaku của Nhật Bản) và những vùng lãnh thổ đã mất nhưng đã giành lại được (Saar của Đức và có lẽ với Nhật Bản là quần đảo bị Liên Xô chiếm giữ mang tên Kurile, Tôkyô gọi là Vùng lãnh thổ phương Bắc). Một chương trình kích thích kinh tế đầy rủi ro (với một phần là các khoản chi lớn cho lĩnh vực quân sự) đã được đưa ra để chuyển sự toàn vẹn chủ quyền và tinh thần dân tộc sang sự sống còn của đất nước (Đức thực hiện ồ ạt chính sách kích thích kinh tế của Keynes và chương trình kinh tế “Abenomics” (kinh tế Abe) của Nhật Bản).

Một chính sách đối ngoại quyết liệt mới đòi hỏi những liên minh được tăng cường để đối phó với nước láng giềng lớn không thân thiện (Hiệp ước chống Quốc tế Cộng sản đối với Đức và sự xây dựng chiến lược dịch chuyển trọng tâm trở lại châu Á của Mỹ đối với Nhât Bản).

Dĩ nhiên, những điểm tương đồng còn lâu mới hoàn toàn giống nhau. Không giống như Đức Quốc xã, Nhật Bản mới không chuẩn bị để lao vào một cuộc tìm kiếm đầy tai hại đối với không gian sinh tồn (thuyết của Phát xít Đức) và sự tái hội nhập cấp tiến thông qua hoạt động xâm chiếm. Nhật Bản cũng không coi sự tồn tại của bản thân bị đe dọa bởi những lực lượng nước ngoài nằm trong thực thể xã hội của họ.

Những một lần nữa chủ nghĩa dân tộc mới đã được trao quyền và gây lo lắng thường xuyên tìm thấy một mục tiêu trong nước.

Ngày 30/4 vừa qua, nhật báo Asahi Shimbun đã nhắc lại về cuộc biểu tình đáng sợ ở Tôkyô – hồi tháng 1/2013 – để phản đối việc Mỹ đóng căn cứ ở đảo Okinawa. Vụ việc đó xảy ra khi những người biểu tình từ tỉnh Okinawa, bao gồm cả các Thị trưởng, các thành viên hội đồng lập hiến địa phương và các thành viên nghiệp đoàn lao động, tập trung biểu tình phản đối việc triển khai máy bay vận tải OsPrey MV-22 tới một căn cứ quân sự của Mỹ ở tỉnh miền Nam Nhật Bản này.

Trong cuộc tuần hành ngày 27/1 ấy, những người biểu tình đến từ Okinawa đã hô to: “Các người là những kẻ phản bội”. Những người khác thì gào lên: “Hãy cút khỏi Nhật Bản”.

Một nhóm phụ nữ có tên gọi là Soyokaze và những tổ chức khác đã kêu gọi người dân Nhật Bản ngăn chặn sự phản kháng của những người Okinawa. Những đoạn video về cuộc tuần hành sau đó nhanh chóng lan tràn trên mạng Internet, thu hút một làn sóng lớn những ý kiến bình luận của những người theo chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và những người theo thuyết âm mưu.

Nhiều tấm áp phích nói rằng người Okinawa đang tìm cách tính toán làm suy yếu quốc phòng của Nhật Bản và tiếp tay cho Trung Quốc trong cuộc tranh chấp quần đảo Điếu Ngư/Senkaku.

Những bình luận điển hình nói rằng “những kẻ cánh hữu ở Okinawa là gián điệp của Trung Quốc” và những người biểu tình “đang nhận hỗ trợ tài chính từ Trung Quốc”.

Một phụ nữ – người công kích cuộc biểu tình trong một bài viết trên mạng Internet, nói rằng trong suốt một khoảng thời gian khi những mối đe dọa bên ngoài đối với Nhật Bản đang gia tăng, những cuộc biểu tình như vậy đã phủ bóng đen lên quan hệ an ninh Nhật – Mỹ và phục vụ những lợi ích của Trung Quốc. Người phụ nữ này cũng nói bà tin rằng Trung Quốc đã tài trợ cho các hoạt động phản đối căn cứ quân sự Mỹ ở tỉnh Okinawa.

Những người khác thì tin rằng Bắc Triều Tiên đứng đằng sau phong trào phản đối căn cứ quân sự Mỹ ở tỉnh Okinawa. Một người đàn ông khoảng 40 tuổi bình luận rằng “những người đang phản đối máy bay OsPrey MV-22 là những người thuộc sắc tộc Triều Tiên ở Nhật Bản”.

Takeshi Taira, 51 tuổi, Phó Tổng Biên tập Thời báo Okinawa nói rằng ông có cảm giác Okinawa đã trở nên thù địch. Nhà báo kỳ cựu này nhận định: “Rõ ràng điều này hoàn toàn khác với những gì tôi nghĩ về những người ở đất liền của Nhật Bản”.

Thời báo Okinawa đã lên kế hoạch phân phát khoảng 1.000 bản sao của một ấn bản đặc biệt phản đối máy bay OsPrey MV-22 tại cuộc biểu tình ở Ginza. Tuy nhiên, cuối cùng tờ báo này đã hủy bỏ ý tưởng đó vì họ không thể đảm bảo an toàn cho các nhân viên của mình.

Trong khi chúng ta đang giải quyết vấn đề sử dụng tư tưởng vào việc tái xác định (nhưng vẫn chưa được chấp nhận rộng rãi) những mục tiêu quốc gia, cũng cần phải nói điều này: Nhờ nhận được tỷ lệ ủng hộ cao trong các cuộc bỏ phiếu thăm dò ý kiến và được củng cố bởi những thành tích lớn của thị trường chứng khoán, Thủ tướng Shinzo Abe đã gia tăng mức độ thắng thắn hơn về chương trình nghị sự bảo thủ của ông, trong đó có việc sửa đổi Hiến pháp và ít thể hiện sự hối lỗi của Nhật Bản hơn về quá khứ chiến tranh – một lập trường gây nên những căng thẳng gay gắt trong quan hệ giữa Nhật Bản với Trung Quốc và Hàn Quốc, nơi những ký ức về chủ nghĩa quân phiệt của Tôkyô vẫn còn hằn sâu.

Nhiều người bảo thủ ở Nhật Bản coi Hiến pháp hòa bình, không thay đổi kể từ khi được thông qua vào năm 1947 trong thời kỳ đồng minh xâm chiếm do Mỹ đứng đầu, là một sự hiện thân của phong cách phương Tây, có tính chất cá nhân chủ nghĩa hơn mà họ tin là đã làm xói mòn những truyền thống được định hướng theo nhóm của Nhật Bản.

Những ý kiến chỉ trích coi kế hoạch của Thủ tướng Shinzo Abe nhằm giảm bớt những thủ tục cho việc sửa đổi Hiến pháp và sau đó tìm kiếm sự thay đổi Điều 9 Hiến pháp hòa bình là một chiến lược “lén lút” nhằm giúp ông này tránh xa hơn khỏi tầm theo dõi của công chúng.

Giáo sư Luật Bruce Ackerman thuộc Đại học Yale của Mỹ nhận định: “Quan ngại thực sự là khoảng hai năm sau, chúng ta chuyển sang một sự tái định nghĩa về một “Nhật Bản mới” là một nước độc tài, theo chủ nghĩa dân tộc”.

Các chuyên gia về Hiến pháp cho biết dự thảo Hiến pháp sửa đổi của đảng Dân chủ Tự do (LDP) cầm quyền, được đảng này thông qua năm ngoái, sẽ phủ nhận khái niệm cơ bản về nhân quyền nói chung, điều mà những nhân vật bảo thủ ở Nhật Bản lập luận là một quan điểm phương Tây không phù hợp với văn hóa và những giá trị truyền thống của Nhật Bản.

Giáo sư Lawrence Repeta thuộc Đại học Meiji của Nhật Bản nhận xét: “Hiến pháp hiện nay bảo vệ một danh sách dài nhũng quyền cơ bản – tự do bày tỏ, tự do tôn giáo. Rõ ràng là các nhà lãnh đạo của LDP và các chính trị gia nào đó ở Nhật Bản phản đối một hệ thống bảo vệ các quyền cá nhân theo mức độ đó”.

Dự thảo sửa đổi Hiến pháp của LDP đã xóa bỏ sự bảo đảm đối với các quyền con người cơ bản và quy định những nghĩa vụ, như sự phục tùng đối với một “lợi ích chung và trật tự chung” mơ hồ. Quân đội sẽ được trao quyền để duy trì “trật tự chung” đó.

Cần phải chỉ ra là Hiến pháp sửa đổi đặc biệt không được ưa thích ở Nhật Bản. Sự sửa đổi chủ chốt sẽ dẫn đến việc thay đổi Điều 9 thành cho phép “tự vệ tập thể”, nghĩa là thực hiện các hoạt động quân sự thay mặt một đồng minh khi bản thân Nhật Bản không bị tấn công, bị 56% số người được hỏi phản đối trong cuộc thăm dò của báo Asahi, và chỉ có 33% ủng hộ. (Nhật Bản dưới thời ông Shinzo Abe lãnh đạo đã tuyên bố quyền cử binh sĩ ra nước ngoài để sơ tán công dân Nhật Bản và để tham gia các cuộc tấn công trước nhằm mục đích phòng vệ quốc gia. May mắn là việc đưa “quyền xâm lược dù không bị gây hấn” vào Hiến pháp Nhật Bản không nằm trong nghị trình, ít nhất là cho đến thời điểm hiện nay”.

Tuy nhiên, việc sửa đổi Hiến pháp là một vấn đề liên quan nhiều đến quyết tâm chính trị hơn là ý nguyện quốc gia.

Thủ tướng Shinzo Abe đang tìm kiếm một chiến thắng lớn trong cuộc bầu cử Thượng viện vào tháng 7/2013 để chuyển đổi sự ủng hộ của cử tri hiện nay đối với ông thành một sự ủng hộ đa số 2/3 đối với LDP. Khi đó LDP có thể thúc đẩy thông qua một dự luật cho phép Hiến pháp có thể được sửa đổi chỉ bằng đa số phiếu – một điều mà có lẽ sẽ có lợi cho LDP, đặc biệt là trong trường hợp chương trình kinh tế của ông Abe và vấn đề Senkaku thất bại sớm hơn dự kiến và sự thống trị chính trị của LDP bị suy giảm.

Dựa vào mức độ uy tín cá nhân cao và sự lộn xộn trong phe đối lập, ông Shinzo Abe không phải giải tán Quốc hội để giành được một vị thế chi phối trên chính trường Nhật Bản. Tuy nhiên, chiếc nồi chủ nghĩa dân tộc cần phải duy trì tình trạng sôi sục, vì thế đừng trông đợi mọi thứ sẽ lắng xuống trong các vấn đề Senkaku, Dokdo và Yasukuni trong thời gian trước khi diễn ra bầu cử Thượng viện Nhật Bản.

Vấn đề ở đây không phải là Nhật Bản của thế kỷ 21 là nước Đức của những năm 1930. Vấn đề là một sự kết hợp về thời gian, sự bất ổn, mối đe dọa, cơ hội, tình hình chính trị và tham vọng đã tháo sợi xích ràng buộc các lực lượng (tốt đẹp hoặc tồi tệ – thẳng thắn mà nói, chủ yếu là tốt đẹp) đã bị kiềm chế trong hơn một nửa thế kỷ.

Do sự lo lắng xuất phát từ thực tế đối với sự lớn mạnh của Trung Quốc và sự suy thoái tương đối của Nhật Bản, những kẻ bảo thủ ở Nhật Bản đang đi đầu trong một nỗ lực nhằm xác định lại chính thể quốc gia và vai trò quốc tế của Nhật Bản theo cách thức tiềm ẩn sự bất ổn định hơn so với vấn đề lo ngại truyền thống – một Trung Quốc đang trỗi dậy.

Trong thời điểm đất nước ở vào tình thế cấp bách và chính trị có nhiều thay đổi, có một cơ hội cho các nhà lãnh đạo với những quan điểm mạnh mẽ và không nhất thiết được ưa chuộng để hành động một cách táo bạo (nếu không muốn nói là mạo hiểm) trong việc thực hiện sáng kiến chính trị, xác định chương trình nghị sự quốc gia và đặt ra phương hướng cho đất nước ở thời điểm trọng yếu trong lịch sử trước khi thời gian, hoàn cảnh và các cuộc bầu cử cùng đóng sập cánh cửa cơ hội.

Và một sự phối hợp những chính sách mạo hiểm, các nhà lãnh đạo chưa được kiểm chứng, ý kiến công chúng chưa trọn vẹn, những lợi ích quyền lực, và một môi trường kinh tế và chiến lược nguy hiểm có thể dẫn đến những kết quả không mong muốn vượt ra ngoài giới hạn bất ổn mất phương hướng mà chúng ta kỳ vọng về Nhật Bản ở thập kỷ trước.

Vụ tai tiếng của Trung Quốc xung quanh sự kiện các binh sĩ nước này xâm nhập khu vực Ladakh có thể được xem là sự bất ổn tiềm tàng khi Trung Quốc và các nước láng giềng của họ phát triển các công cụ kinh tế, quân sự và ngoại giao để chính thức hóa việc kiểm soát những gì họ đã có và quản lý những tranh chấp đã sục sôi trong nhiều thập kỷ qua.

Tuy nhiên, nếu như Thủ tướng Shinzo Abe thành công trong việc tái định vị Nhật Bản trong vai trò là một nhà trung gian quyền lực độc lập ở châu Á – cụ thể là bằng cách gia tăng sự ủng hộ của Nhật Bản đối với sự kháng cự của Philíppin, Đài Loan và Việt Nam đối với những tham vọng của Trung Quốc, bao gồm cả ủng hộ quân sự – hiện trạng khu vực có thể bị xáo trộn và những tranh chấp này có khả năng dễ đổ vỡ hơn nhiều so với những va chạm song phương cũ, quen thuộc và thường vô nghĩa giữa Trung Quốc với các nước láng giềng của họ.

Trớ trêu thay, triển vọng của Nhật Bản – một nước sắp thành cường quốc vũ khí hạt nhân – trên thực tế phụ thuộc vào thái độ của Mỹ rằng những tranh chấp biển đảo của Trung Quốc nên được đa phương hóa khiến cho Chính quyền Obama và truyền thông Mỹ sôi sục.

Cho dù là Chiến tranh Thế giới lần thứ Ba không nằm trong nghị trình, sự bùng nổ của Nhật Bản với vai trò là một lực lượng độc lập ở châu Á là tin tức xấu đối với Mỹ và cuộc tìm kiếm của họ đối với sự can dự và kiểm soát ở Tây Thái Bình Dương. Kết quả là, chiến lược chuyển trọng tâm trở lại châu Á, tức là “những nền dân chủ châu Á – cộng thêm Việt Nam – tương đương với sự kiềm chế mềm đối với Trung Quốc nằm ngoài chương trình. “Tái cân bằng”, nghĩa là chế độ quản lý chung đối với các cường quốc khu vực bao gồm cả Trung Quốc, nằm trong chương trình. Tôi tin rằng “quản lý Nhật Bản” cũng nằm trong đó, như một lĩnh vực mà Mỹ và Trung Quốc có khả năng chia sẻ những mối quan tâm chung và nối lại tình hữu nghị giữa hai nước.

Thái độ quyết liệt của Nhật Bản đối với Hàn Quốc cũng là một điều may mắn bất ngờ đối với Trung Quốc trong nỗ lực của nước này nhằm hàn gắn những quan hệ kinh tế và quan hệ chiến lược với Hàn Quốc. Trung Quốc đang cảnh giác trong việc tiếp tục thực hiện ngoại giao phản công và thúc đẩy một sự thay thế cho câu chuyện không được ủng hộ về “kẻ bắt nạt Trung Quốc” đã chi phối sự đàm luận ở Đông Á trong những năm qua.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh phát biểu tại cuộc họp báo thường kỳ ở Bắc Kinh hôm 2/5 rằng “những diễn biến liên quan đến Nhật Bản được các nước láng giềng theo dõi chặt chẽ vì những lý do lịch sử”. Phát biểu này của bà Hoa Xuân Oánh là câu trả lời cho câu hỏi của một phóng viên về những bình luận của các nhà lãnh đạo Nhật Bản gần đây đối với các vấn đề lịch sử. Bà Hoa Xuân Oánh cũng bày tỏ hy vọng rằng Nhật Bản có thể trung thành với sự phát triển hòa bình và lấy lịch sử làm tấm gương. Bà Hoa Xuân Oánh nhấn mạnh, “lịch sử giống như một tấm gương”, đồng thời nói rằng một nước có thể thực sự có tương lai chỉ sau khi đối diện trung thực với quá khứ.

Chúng ta hãy hy vọng và trông đợi rằng tấm gương của lịch sử trong thập kỷ sắp tới sẽ phản ánh điều gì đó tốt đẹp hơn những năm 1940.

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
This entry was posted in Archives, Articles, India, International relations, Teaching and tagged , , , , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s