MỸ GIA TĂNG VIỆN TRỢ QUÂN SỰ VÀ SỰ HIỆN DIỆN TRÊN TOÀN CẦU

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

TTXVN (Prêtôria 25/5)

Theo “Mạng tin toàn cầu”, chính sách trở lại châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ đã làm gia tăng số lượng các cuộc tập trận và sự hiện diện quân sự của nước này ở khu vực này. Ngoài ra, sự tăng cường các hoạt động quân sự tại Trung Đông, các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái và việc tăng cường những nỗ lực phục hồi các mối quan hệ quân sự với châu Phi đang nằm trong chính sách ưu tiên của Lầu Năm Góc.

Việc đào tạo, giúp đỡ và viện trợ quân sự cho các nước cũng là một hoạt động quan trọng trong chính sách đối ngoại của Mỹ nhưng vấn đề này thường bị dư luận bỏ qua hoặc bị đánh giá thấp. Tuy nhiên, các hoạt động này là một công cụ rất quan trọng được sử dụng để tăng cường ảnh hưởng toàn cầu của Mỹ. Năm 2012, Báo cáo quốc phòng của Mỹ cho thấy nước này đang triển khai chính sách đặt trọng tâm vào hợp tác quân sự với các nước.

Mỹ đang triển khai một số hoạt động liên quan đến huấn luyện và hỗ trợ quân sự trên toàn cầu. Là quốc gia có viện trợ quân sự nước ngoái lớn nhất thế giới, Mỹ đang thực hiện nhiều hình thức viện trợ, hợp tác cung cấp trang thiết bị quân sự cho hơn 150 quốc gia trong năm 2013 (134 quốc gia trong năm 2012), chiếm 75% các quốc gia trên toàn cầu. Hiện nay chưa có thỏa thuận pháp lý nào về việc triển khai các hoạt động viện trợ quân sự và cách làm thế nào để các hoạt động này có hiệu quả. Mặc dù bị cắt giảm ngân sách nhưng Chính phủ Mỹ vẫn đề nghị ngân sách cho công tác an ninh lên tới 9,8 tỷ USD trong năm tài chính năm 2013.

Chương trình viện trợ quân sự nước ngoài gồm ba chương trình chính như sau:

– Tài trợ cho việc mua sắm các thiết bị quốc phòng, cung cấp dịch vụ và đào tạo;

– Các hoạt động gìn giữ hòa bình theo yêu cầu của Liên hợp quốc;

– Chương trình giáo dục và đào tạo quân sự quốc tế (IMET) để tổ chức các chương trình huấn luyện cho các quan chức quân sự nước ngoài.

Để tránh sự phản đối của Quốc hội đối với các quốc gia nằm trong “danh sách đen” và các quốc gia vi phạm nhân quyền, Bộ Quốc phòng Mỹ cũng phải sử dụng nhiều cách khác nhau để giảm tính minh bạch của các chương trình. Ví dụ, Chương trình Trao đổi đào tạo kết hợp chung (JCET) đã cho phép các lực lượng đặc biệt Mỹ triển khai các hoạt động đào tạo cho quân đội Inđônêxia để đàn áp người dân Timor Leste. Cũng như với nhiều quốc gia bị cho là vi phạm nhân quyền khác, Mỹ triển khai hợp tác quân sự dưới danh nghĩa tạo điều kiện cho binh sĩ làm quen với các địa hình ở nước ngoài. Mỹ cũng triển khai đào tạo quân đội các nước châu Phi để “gìn giữ hòa bình” theo Sáng kiến đối phó với khủng hoảng ở châu Phi (ACRI). Ngày nay, lực lượng đặc biệt của Mỹ đang hoạt động tại hơn 70 quốc gia trên thế giới.

Viện trợ quân sự chính thức của Mỹ tập trung vào huấn luyện lực lượng an ninh, tài trợ mua sắm thiết bị quân sự, tăng cường khả năng thực thi pháp luật chống buôn bán chất ma tuý và các vấn đề liên quan đến không phổ biến vũ khí hạt nhân. Mục tiêu chiến lược của Mỹ trong hợp tác quân sự được đề cập trong Chiến lược An ninh Quốc gia, một báo cáo hàng năm được Tổng thống trình bày trước Quốc hội. Theo đó, có ba mục tiêu cốt lõi là:

– Tăng cường an ninh của Mỹ;

– Thúc đẩy sự thịnh vượng kinh tế của đất nước;

– Phát huy dân chủ ở nước ngoài.

Bộ Quốc phòng Mỹ luôn nhấn mạnh rằng việc phát triển viện trợ quân sự là nhằm xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa Mỹ với các nước khác, thông qua đó hỗ trợ cho các mục tiêu và chính sách đối ngoại của nước này. Việc triển khai chính sách quốc phòng cũng luôn gắn chặt với việc đào tạo các nhà lãnh đạo các quốc gia. Đến nay, nhiều quốc gia có các nguyên thủ là những người xuất thân từ các khóa đào tạo quân sự của Mỹ. Việc triển khai các chương trình đào tạo là kênh quan trọng để Mỹ phát triển quan hệ với các nhà lãnh đạo các quốc gia, cải thiện quan hệ thân thiện với các quốc gia đồng minh. Các hợp đồng xuất khẩu vũ khí cũng được cho là phục vụ lợi ích chính sách đối ngoại, bởi vì nó thường gắn liên với việc trao đổi các lợi ích cơ bản liên quan đến việc sử dụng các cảng biển, không phận trong các trường hợp khấn cấp và các cơ hội khác nhau để triển khai hoạt động quân sự.

Ngày 5/4/2013, Nhà Trắng công bố một chính sách mới về hỗ trợ lĩnh vực an ninh của Mỹ. Mục tiêu của chính sách này là để “giúp các quốc gia đối tác xây dựng năng lực bền vững để giải quyết các thách thức an ninh chung; thúc đẩy đối tác hỗ trợ các chính sách và lợi ích của Mỹ; tăng cường an ninh tập thể, các thỏa thuận quốc phòng, các tổ chức đa quốc gia và phát huy các giá trị toàn cầu”. Chính sách này đưa ra trong bối cảnh những tranh cãi nóng bỏng liên quan đến tác động của các hoạt động đào tạo và hỗ trợ quân sự ở những nơi như Ápganixtan, Irắc và Mali. Ngày 7/4, tờ New York Times xuất bản một bài báo với tiêu đề “Một bài học không hiệu quả cho Lầu Năm Góc?” gây nhiều tranh cãi. Bài báo này chỉ trích việc một lượng lớn ngân sách và các nguồn lực được đầu tư cho các lực lượng nước ngoài đã không hiệu quả và thiệt hại cuối cùng là Mỹ phải gánh chịu.

Đối vi khu vực Mỹ Latinh

Trong thời gian Chiến tranh Lạnh, Mỹ luôn tài trợ cho việc vũ trang và đào tạo quân đội ở các nước khu vực Trung Mỹ nhằm phục vụ các mục tiêu chiến lược của Mỹ như En Xanvađo, Goatêmala, Ônđurát và Nicaragoa (trước cuộc cách mạng Sandinista năm 1979). Oasinhtơn hỗ trợ các lực lượng vũ trang của chính phủ các nước độc tài tàn bạo chỉ vì họ chống Cộng. Các chế độ này đã giết hại hàng chục nghìn người dân của chính họ. Hàng trăm kẻ vi phạm nhân quyền đã tốt nghiệp từ các trường học của Mỹ như Đại học quân sự Fort Benning, bang Georgia, số này cũng từng tham dự các khóa học tại Trường Đào tạo Sĩ quan chỉ huy và Tham mưu Fort Leavenworth tại bang Kansas, trường Chiến tranh đặc biệt John F. Kennedy tại FortBragg, bang Bắc Carolina và Trường tình báo tại FortHuachuca, bang Arizona.

Học viên tại các trung tâm này được học cách chống lại các kẻ thù trong nước bao gồm các đối thủ chính trị dân sự, lực lượng du kích vũ trang nhưng không có các khóa học về việc đảm bảo thể chế dân chủ.

Ngày nay, Mỹ đưa ra “Sáng kiến Merida”, một hiệp ước quốc tế về an ninh khu vực với sự tham gia của Mỹ, Mêhicô và các quốc gia Trung Mỹ nhằm đẩy lùi những hoạt động buôn bán ma túy và tội phạm có tổ chức. Sáng kiến này cũng “giúp đỡ” quân đội các nước trong khu vực đảm nhận tốt hơn nhiệm vụ của mình. Mặc dù năm 2009, Mỹ lên án cuộc đảo chính quân sự tại Ônđurát nhưng sau đó, Wikileaks tiết lộ rằng Chính quyền Obama đã cử các quan chức Bộ Ngoại giao gặp “Tổng thống” mới bất hợp pháp của Ônduras để giúp phối họp việc thực hiện “Sáng kiến Merida”.

Đối với khu vực châu Phi

Đầu tháng 1/2013, Tư lệnh Bộ chỉ huy quân sự của Mỹ ở châu Phi đã lên tiếng thừa nhận rằng quân đội Mỹ đã sai lầm khi đào tạo quân đội Mali, lực lượng đang chiến đấu chống lại các phiến quân Hồi giáo từ miền Bắc. Phát biểu trong diễn đàn tại trường Đại học Howard ở Oasinhtơn, Tư lệnh Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại châu Phi (AFRICOM) tướng Carter Ham, cho biết lực lượng của họ đã thất bại trong việc đào tạo quân đội Mali về “năng lực và phẩm chất quân sự”. Theo đó, có nhiều thông tin cho thấy quân đội Mali đã giết hại người Arập và người Tuareg khi họ thiết lập được trật tự ở miền Bắc. Tướng Ham cũng cho biết quân đội Mali được huấn luyện nhiều về chiến thuật, nhưng không đủ phẩm chất để Đào tạo trở thành một người lính do đó Mỹ không thể đầu tư thời gian cần thiết để tập trung hình thành các khả năng, phẩm chất quân sự. Theo Liên đoàn Nhân quyền quốc tế (FIDH), quân đội Mali đã thực hiện một loạt vụ hành quyết khi thực hiện các chiến dịch quân sự để tái chiếm miền Bắc. Một số người đã bị giết chỉ đơn giản bởi vì họ không có các giấy tờ tùy thân. Trong khi đó, Liên hợp quốc cho biết có khoảng 7100 thường dân Mali đã chạy sang các quốc gia láng giềng kể từ ngày 10/1 để lánh nạn. Nhiều báo cáo cho thấy việc thực hiện tàn sát người Arập và người Tuareg là do các binh sĩ thuộc miền Nam trong quân đội Mali thực hiện. Điều này cho thấy một cuộc xung đột sắc tộc đang diễn ra dưới danh nghĩa là các chiến dịch quân sự của phương Tây chống lại quân nổi dậy Hồi giáo. Báo cáo của FIDH cũng đưa ra đề nghị cần phải tổ chức một cuộc điều tra độc lập các cáo buộc đối với các binh sĩ Mali và phải có những hình phạt thích đáng đối với các hành vi xâm phạm nhân quyền.

Trước đây, mức độ tín nhiệm về dân chủ đã giúp Mali trở thành một trong những đối tác quan trọng nhất trong Hợp tác chống khủng bố tại khu vực sa mạc Xahara. Tuy nhiên, Mali đã thất bại trong việc chống lại các chiến binh thánh chiến để giành quyền kiểm soát lãnh thổ. Việc hỗ trợ đào tạo quân sự của Mỹ đã không tạo được ảnh hưởng ngăn cản cuộc đảo chính quân sự do Đại úy Amadou H. Sanogo, người đã được Mỹ đào tạo, cầm đầu. Hiện nay, quân đội Mali đang bị cáo buộc về nhiều hành vi vi phạm nhân quyền đối với người dân ở miền Bắc. Trong ba năm qua, Mỹ đã tài trợ mỗi năm khoảng 400.000 USD cho Mali. Thời điểm đó, Mali là một trong những nước nhận được sự hợp tác quân sự ưu tiên của Mỹ.

Trong năm 2013, Lữ đoàn số 2 “Dagger” thuộc sư đoàn bộ binh số 1 của Mỹ sẽ gửi quân đến 35 quốc gia tại châu Phi. Đây là một phần trong kế hoạch tăng cường đào tạo các quốc gia để nâng cao năng lực chống khủng bố, tạo cơ hội cho Mỹ có một lực lượng được đào tạo bài bản và đủ khả năng giải quyết các vấn đề liên quan đến lợi ích của Mỹ. Nhiệm vụ này sẽ bắt đầu vào mùa Xuân năm nay và chuẩn bị cho các lữ đoàn thuộc Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương và Bộ Chỉ huy châu Âu của Mỹ trong năm tới. Theo kế hoạch chính thức, các đội quân của Mỹ sẽ chỉ có nhiệm vụ huấn luyện và đào tạo, không được phép tiến hành các hoạt động quân sự khi không được phép của Bộ trưởng Quốc phòng. Lữ đoàn số 2 đang triển khai các hoạt động huấn luyện chiến đấu, sau đó sẽ chuyển sang các hướng dẫn các kỹ năng khác như ngôn ngữ, văn hóa và thông tin dữ liệu về các quốc gia khác tại châu Phi.

Nhiệm vụ hỗ trợ đào tạo quân sự của Mỹ tập trung vào châu Phi trong bối cảnh bạo lực diễn ra tràn lan trên khắp Bắc Phi, các nước phương Tây đi đầu là Pháp và Liên minh châu Phi (AU) đã triển khai can thiệp quân sự ở Mali. Việc triển khai các hoạt động hỗ trợ quân sự của Mỹ vẫn tiếp tục tại các quốc gia như Libi, Xuđăng, Angiêri và Nigiê, nơi các nhóm al-Qaeda đã hoạt động rất mạnh. Ngoài ra, các hoạt động này cũng được tiến hành tại Kênia và Uganda đế chống lại các chiến binh al-Shabaab. Tướng Carter Ham cũng lưu ý rằng quân đội Mỹ có các máy bay không người lái loại nhỏ có khả năng đem lại hiệu quả rất lớn khi triển khai tại châu Phi. Tuy nhiên, tướng Carter Ham cũng thừa nhận phải có sự cho phép đặc biệt mới được đưa loại vụ khí này vào hoạt động. Đến nay, quân đội Mỹ đã lên kế hoạch cho gần 100 cuộc tập trận, chương trình huấn luyện và các hoạt động khác trên khắp lục địa châu Phi.

Tại Xyri

Chính phủ Mỹ thường tuyên bố không can dự đến các hoạt động quân sự tại Xyri nhưng một số nguồn tin đã cho thấy Mỹ đang đào tạo và vũ trang cho phe đối lập Xyri, nhũng kẻ có thể đã giết hại những lính thủy của Mỹ tại Irắc cách đây vài năm. Được biết nhũng “kẻ nổi loạn” tại Xyri đang có vũ khí hóa học và có thể đã sử dụng, ngoài ra lực lượng này còn nổi tiếng về các vụ hành quyết bằng hình thức chặt đầu các tù nhân. Theo một số nhà phân tích, sự hỗ trợ của Mỹ đang làm kéo dài cuộc xung đột này tại khu vực Trung Đông. Nhiều tháng nay, Mỹ đã và đang đào tạo một số phi công chiến đấu cho lực lượng đối lập Xyri ở Gioócđani với mục tiêu củng cố lực lượng để chiến đấu lật đổ chế độ của Tổng thống Bashar al- Assad trong khi đó vẫn hỗ trợ cho các tổ chức hoạt động ôn hòa khác tại Xyri. Hiện nay, các nỗ lực đào tạo quân sự cho lực lượng nổi dậy tại Xyri đang diễn ra rất mạnh mẽ. Việc đào tạo được triển khai từ cuối năm 2012 tại một địa điểm bí mật với thành viên chủ yếu là người Sunni và người thuộc bộ tộc Bedouins, những người vốn từng là thành viên của Quân đội Xyri. Lực lượng này cũng không phải là thành viên của nhóm nổi dậy mạnh nhất, Quân đội Xyri Tự do (FSA). Tuy nhiên, Mỹ và các nước khác đang rất lo ngại về vai trò ngày càng tăng của nhóm phiến quân cực đoan trong hàng ngũ nổi dậy, trong đó có một số liên kết với mạng lưới al- Qaeda. Chính phủ Mỹ rất khó khăn khi xác định chính xác đối tượng mà họ huấn luyện quân sự và vẫn khẳng định không cung cấp vũ khí cho quân nổi dậy tại Xyri.

Kết luận

Hợp tác đào tạo và huấn luyện quân sự của Mỹ được coi như nền tảng cho mối quan hệ chiến lược quan trọng, mối quan hệ bền vũng giữa sĩ quan – sĩ quan và sự cải thiện hiệu quả hoạt động trên chiến trường. Hành động này đều bắt nguồn từ các kế hoạch đảo chính, lạm dụng nhân quyền và nắm quyền lãnh đạo trong tương lai.

Bộ Quốc phòng Mỹ lập luận rằng việc hình thành một mạng lưới hỗ trợ rộng rãi thông qua đào tạo là một biện pháp không tốn kém và rất hiệu quả để thiết lập các mối quan hệ quân sự chặt chẽ trên thế giới. Tuy nhiên, các ví dụ tại Pakixtan và Ápganixtan cho thấy lập luận này không phải lúc nào cũng đúng. Chính sách hỗ trợ vũ trang và giúp đỡ chính phủ nước ngoài, đặc biệt là đối với quốc gia vi phạm nhân quyền, phạm phải tội ác chiến tranh sẽ góp phần làm gia tăng chế độ độc tài, khủng hoảng nhân đạo và bất ổn, trong khi cũng tạo ra những mạo hiểm tăng cao cho an ninh toàn cầu (Điển hình như Bin Laden đã được Mỹ đào tạo để chống lại Liên Xô tại Ápganixtan, sau đó chính Bin Laden đã trở thành kẻ thù số 1 của Mỹ). Trong rất nhiều trường hợp, Mỹ tăng cường hỗ trợ khả năng của các chính phủ, quân đội hoặc “những kẻ nổi dậy” đàn áp người dân, gây chiến với các quốc gia láng giềng, phát động các cuộc nội chiến như đang diễn ra ở Xyri. Chính sách này sẽ tạo thuận lợi để Inđônêxia đào tạo quân đội thực hiện các hành động đàn áp ở Timor Leste. Quân đội Mali không thể chống lại những kẻ cực đoan nhưng lại có thể gây ra các vụ liên quan đến vi phạm nhân quyền. Các khoản tiền khổng lồ viện trợ cho quân đội Ai Cập cũng gây ra những cáo buộc nghiêm trọng về vi phạm nhân quyền tại nước này hoặc việc các sinh viên tốt nghiệp từ các trung tâm đào tạo quân sự tại Mỹ đã gây ra vụ bạo động tại Trung Mỹ trong những năm 1980. Vì vậy, nếu Mỹ thực sự là một quốc gia tôn trọng quyền con người thì nước này không nên hỗ trợ những người đang tiến hành đàn áp người dân thông qua hợp tác viện trợ quân sự.

***

Theo mạng “Tin châu Phi”, với chính sách chuyển trọng tâm sang châu. Á – Thái Bình Dương của Tổng thống Mỹ Barack Obama, Bộ Quốc phòng nước này đang bố trí lại lực lượng và định hướng chiến lược sang khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Để thực hiện kế hoạch này, quân đội Mỹ sẽ từng bước rút dần ra khỏi các cuộc xung đột và điểm nóng trên thế giới trong đó có châu Phi. Tuy nhiên, thời gian gần đây, Mỹ đã tăng cường sự hiện diện quân sự tại châu Phi thông qua việc can dự vào cuộc xung đột ở Xômali, Libi, Mali và Cộng hòa Trung Phi với việc triển khai mạnh mẽ hàng nghìn binh sĩ. Lực lượng này được bố trí rải rác tại các nước như Cộng hòa Gibuti, Cộng hòa Trung Phi và Nigiê với lý do chính thức là chống mạng lưới khủng bố Al-Qaeđa và các phần tử cực đoan. Trong một báo cáo gửi ủy ban quân lực Thượng viện Mỹ, Tướng David M. Rodriguez, Tư lệnh Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại châu Phi (AFRJGOM), ước tính quân đội nước này cần phải tăng cường các hoạt động thu thập tin tức tình báo tại châu Phi gấp 15 lần hiện nay. Tướng David M. Rodriguez cũng nhấn mạnh trong phiên điều trần trước Quốc hội: “Tôi tin rằng các tin tình báo được bổ sung là rất cần thiết để bảo vệ lợi ích của Mỹ và hỗ trợ cho các đồng minh, đối tác thân thiết. Cuộc khủng hoảng gần đây ở Bắc Phi thể hiện sự biến động mạnh mẽ của môi trường an ninh châu Phi”. Ngoài ra, tướng Rodriguez cũng cho biết AFRICOM cần triển khai thêm máy bay không người lái để tăng cường thực hiện các nhiệm vụ trinh sát. Hiện nay, AFRICOM chỉ nhận được 50% kết quả các yêu cầu về thông tin tình báo cho khu vực Bắc Phi và chỉ có 7% cho toàn bộ lục địa châu Phi.

Khi AFRICOM được thành lập, nó đã không có điều kiện đề mở trụ sở và các căn cứ ngay tại châu Phi. Trong thực tế, một mạng lưới các căn cứ nhỏ dần được thiết lập cùng với một căn cứ cho các lực lượng đặc biệt hoạt động tại Kênia. Quốc hội Mỹ chỉ trích chính quyền vì đã không thể có biện pháp ứng phó nhanh chóng với cuộc tấn công khủng bố hồi tháng 9/2012 vào trụ sở cơ quan đại diện ngoại giao Mỹ ở Benghazi (Libi), làm đại sứ và ba viên chức khác thiệt mạng. Kể từ đó, Bộ Quốc phòng Mỹ đã tăng cường khả năng quân sự để phản ứng trong thời gian ngắn nhất với các tình huống bất ngờ tại châu Phi. Trong “Tạp chí Tin tức quốc phòng hàng tuần” ra ngày 24/1/2013, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Ashton Carter cho biết nước này sẽ xây dựng một lực lượng tinh nhuệ tại châu Phi để đáp ứng mọi yêu cầu của cuộc chiến trong tương lai.

  1. AFRICOM – công cụ quân sự của Mỹ m rộng sự hiện diện ti châu Phi

Năm 2005, Lầu Năm Góc đưa ra Sáng kiến chống khủng bố xuyên sa mạc Xahara (TSCTI) để tăng cường sự hiện diện của Mỹ ở châu Phi. Các quốc gia gồm Mali, Cộng hòa Sát, Nigiê đã tham gia sáng kiến này ngay từ giai đoạn đầu tiên và giờ đây Angiêri, Marốc, Xênêgan, Nigiêria, và Tuynidi cũng tham gia hợp tác quân sự với Lầu Năm Góc. Sau đó, việc hợp tác trong TSCTI đã được Lầu Năm Góc chuyển giao cho AFRICOM.

Ngày 1/1/2008, AFRICOM đã được tách ra từ Bộ Chỉ huy quân đội Mỹ tại châu Âu (USEUCOM) và bắt đầu hoạt động độc lập như một Bộ Chỉ huy riêng biệt với trụ sở chỉ huy đóng tại Stuttgart, CHLB Đức. AFRICOM chịu trách nhiệm điều hành các hoạt động quân sự của Mỹ và thúc đẩy các mối quan hệ quân sự với 54 quốc gia châu Phi, khu vực chịu trách nhiệm (AOR) bao gồm tất cả các nước của châu Phi, ngoại trừ Ai Cập (thuộc Bộ Quốc phòng). AFRICOM có văn phòng tùy viên quân sự tại 38 quốc gia châu Phi và nhiều văn phòng đặt tại Đức, Italia và vùng Sừng châu Phi. Hạm đội 6 của Mỹ có trách nhiệm đảm bảo các vấn đề liên quan đên hoạt động hải quân tại châu Phi. Ngoài ra, Mỹ còn có Lực lượng tác chiến hỗn hợp tại vùng Sừng châu Phi để sẵn sàng triển khai hành động trong trường hợp khẩn cấp. Quân số của AFRICOM có khoảng 2.000 nhân viên, bao gồm binh sĩ, nhân viên dân sự, các nhà thầu và nhân viên địa phương, trong đó có khoảng 1.500 người làm việc tại trụ sở Bộ Chỉ huy. Quân số còn lại làm việc trong các đơn vị tại Anh; Mỹ và các cơ quan ngoại giao tại châu Phi để triển khai các chương trình của Bộ Quốc phòng hợp tác với nước chủ nhà. AFRICOM luôn bị hạn chế về lực lượng và phụ thuộc rất lớn vào Bộ Quốc phòng đối với các nhiệm vụ cần thiết để thực hiện nhiệm vụ của mình.

Khi thành lập, AFRICOM có nhiệm vụ “hỗ trợ các hoạt động quân sự của Mỹ cho các chính sách của nước này ở châu Phi thông qua mối quan hệ quân sự với 54 quốc gia châu Phi”. Phát biểu tại Tổ chức hoạt động hòa bình quốc tế ngày 27/10/2008 tại Oasinhtơn, Tướng Kip Ward, sau đó là Tư lệnh của AFRICOM đã xác định cụ thể nhiệm vụ của tổ chức này như sau “phối hợp với các cơ quan của Chính phủ Mỹ và đối tác quốc tế để thực hiện cam kết an ninh lâu dài thông qua các chương trình hợp tác quân sự, hoạt động tài trợ quân sự và các hoạt động quân sự khác, nhằm thúc đẩy môi trường ổn định, an toàn, từ đó hỗ trợ cho chính sách đối ngoại của Mỹ tại châu Phi”.

Tiến sĩ J. Peter Pham, một cố vấn hàng đầu của Chính phủ Mỹ và Bộ Quốc phòng nước này cho biết nhiệm vụ chính của AFRICOM là “bảo vệ quyền tiếp cận để khai thác nguồn tài nguyên phong phú của châu Phi… và chống lại việc tiếp cận khai thác độc quyền nguồn tài nguyên này của các nước khác, đặc biệt là Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Nga”

  1. Hoạt động quân sự

Trong khi các cuộc tập trận chung giữa Mỹ và Hàn Quốc được thông tin rầm rộ trên các phương tiện truyền thông toàn cầu trong tháng Ba vừa qua, thì cũng có hai hoạt động quân sự lớn được thực hiện với sự phối hợp của các lực lượng quân đội Mỹ, Anh, Pháp, Canada và một số quốc gia châu Phi. Các cuộc tập trận là một phần trong kế hoạch hàng năm để chống lại hoạt động của các phần tử khủng bố tại châu Phi.

Tháng 2/2013, cuộc tập trận hải quân mang tên Obangame Express 2013 đã được triển khai tại Vịnh Ghinê với mục tiêu nâng cao khả năng hoạt động chống cướp biển và đảm bảo an ninh hàng hải. Cuộc tập trận này quy tụ nhiều nước châu Phi, châu Âu và các đối tác hàng hải Đại Tây Dương cùng hợp tác với nhau, chia sẻ thông tin, kỹ năng giám sát và khả năng thực thi pháp luật tại các vùng lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế. Cuộc tập trận gồm các hoạt động huấn luyện cho tác chiến trên biển, trên không, đảm bảo thông tin liên lạc và trao đổi thông tin trong khu vực. Các nước tham gia cuộc tập trận này gồm Bỉ, Bênanh, Braxin, Camơrun, Cốt Đivoa, Ghinê Xíchđạo, Pháp, Gabông, Hà Lan, Nigiêria, Cộng hòa Cônggô, CH Dân chủ Xao Tômê và Prinxipê, Tây Ban Nha, Tôgô và Mỹ.

Tháng 3/2012, AFRICOM cũng thực hiện cuộc diễn tập Operation Flintlock, một hoạt động được thực hiện hàng năm bắt đầu từ năm 2005. Cuộc diễn tập Operation Flintlock với sự tham gia của hơn 1.100 binh lính từ 20 quốc gia châu Phi, châu Âu và Bắc Mỹ đã diễn ra tại làng Weizen, Môritani với mục tiêu rèn luyện các kỹ năng.

Cũng trong tháng 3/2012, một cuộc tập trận mang tên Express Sahara 2013 cũng được triển khai. Mục tiêu của cuộc tập trận này là tăng cường phối hợp trong lĩnh vực hàng hải giữa Mỹ, châu Âu và các quốc gia châu Phi. Tham gia Express Sahara 2013 có hải quân của các nước Mỹ, Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Cápve, Cốt Đivoa, Gambia, Liberia, Xênêaan, Xiêra Lêôn, Môritani và Marốc. Cuộc tập trận này bao gồm rất nhiều hoạt động như diễn tập của tàu chiến, máy bay, công tác cứu thương, thông tin liên lạc và chia sẻ thông tin trong khu vực. Sự kiện này đã được tổ chức hàng năm kể từ năm 2011. Đây là một trong bốn cuộc tập trận hàng hải tại khu vực châu Phi theo khuôn khổ “Quan hệ đối tác châu Phi- APS”, một sáng kiến hàng hải toàn cầu do Mỹ đưa ra nhằm tăng cường hợp tác với quân đội các nước châu Phi.

Cuối tháng 12/2012, Mỹ đã thành lập lực lượng phản ứng nhanh của AFRICOM. Phát biểu tại Đại học George Oasinhtơn, Tư lệnh lực lượng AFRICOM khi đó, tướng Carter Ham cho biết AFRICOM hiện được trang bị một khả năng mới khi đã thành lập một lực lượng phản ứng nhanh. Lực lượng này sẽ phối hợp chặt chẽ với lực lượng phản ứng nhanh của USEUCOM để đối phó với các tình huống cần thiết. Lực lượng này hiện đang đóng quân tại căn cứ Fort Carson, bang Colorado (Mỹ).

Theo một số nguồn tin, AFRICOM từ chối đưa ra bất kỳ bình luận thêm gì về nơi đóng quân của lực lượng đặc biệt tinh nhuệ này vì lý do phải bảo mật thông tin về nơi đóng quân. Theo chuyên gia tư vấn an ninh Jim Gavrilis, căn cứ vào quy mô nhỏ của lực lượng quân sự Mỹ tại châu Phi nên khả năng các lực lượng phản ứng nhanh sẽ được triển khai làm nhiệm vụ một cách luân phiên.

Phát biểu trước ủy ban Thượng viện ngày 6/3/2013, Tướng Carter Ham cho rằng “một đơn vị mới đảm trách các cuộc khủng hoảng trên biển tại châu Phi có thể sẽ sớm được triển khai như là một phần trong nỗ lực mở rộng nhằm tăng cường khả năng của AFRICOM để đối phó với các mối đe dọa khủng bố mới nổi tại lục địa này”. AFRICOM cũng đang tìm cách triển khai các lực lượng đặc nhiệm tại ba khu vực chiến lược ở Nam Âu và Tây Phi nhằm tăng cường khả năng phản ứng nhanh khi có yêu cầu. Tướng Carter Ham cũng cho biết khả năng phản ứng của AFRICOM đang dần được tăng cường.

Tháng 1/2013, Mỹ đã triển khai khoảng 100 sĩ quan huấn luyện đến 6 nước sẽ có đóng góp binh sĩ cho châu Phi đang chuẩn bị triển khai đến Mali. Việc đào tạo cho binh sĩ Nigiê, Nigiêria, Buốckina Phaxô, Xênêgan, Tôgô và Gana là sự can dự lớn nhất của Mỹ cho đến nay để chuẩn bị cho lực lượng châu Phi (hiện đang được 15 nước Cộng đồng kinh tế các nước Tây Phi – ECOWAS – tập hợp). Mỹ cũng cam kết giúp đỡ triển khai máy bay và binh sĩ cho ECOWAS khi tham gia giải quyết tình hình Mali. Những hoạt động này có thể do máy bay của Mỹ thực hiện hoặc thuê lực lượng không quân của Nigiêria, Nam Phi hay của bất kỳ một hãng hàng không thương mại nào.

Ngày 28/1/2013, Mỹ đã ký Thỏa thuận về quy chế của các lực lượng (SOFA) với Nigiê. Mỹ cũng có khoảng 24 SOFA với các nước châu Phi. Ví dụ, quân đội Mỹ đang thực hiện một chương trình thí điểm để triển khai khoảng 30 đơn vị quân đội quy mô nhỏ đến hơn 30 nước châu Phi để thực hiện nhiệm vụ đối tác xây dựng và hỗ trợ các hoạt động ngoài khuôn khổ Đại sứ quán Mỹ. Cũng trong ngày 28/1/2013, Chính phủ Nigiê tuyên bố công khai đồng ý cho phép Mỹ triển khai căn cứ quân sự máy bay không người lái trên lãnh thổ nước này. Căn cứ này đặt tại tỉnh Agadez giáp Mali, Angiêri và Libi. Tổng thống Barack Obama tuyên bố căn cứ quân sự này đi vào hoạt động vào ngày 21/1 với nhiệm vụ hỗ trợ các đơn vị máy bay không người lái đã được Mỹ triển khai tại Cộng hòa Gibuti. Ông Obama cũng cho biết đội ngũ 100 binh sĩ được trang bị mạnh có thể hỗ trợ cho chiến dịch can thiệp quân sự do Pháp dẫn đầu được thực hiện tại Mali. Điều thú vị là động thái này được đưa ra chỉ một tháng sau khi Mỹ đồng ý cho Pháp triển khai quân và sự hỗ trợ vào Mali.

Theo tờ New York Times, “việc Mỹ thành lập thêm các căn cứ quân sự máy bay không người lái mới sẽ bổ sung cho hệ thống các căn cứ máy bay không người lái đã được Mỹ triển khai tại châu Phi trong những năm gần đây. Các máy bay này có nhiệm vụ giám sát các mục tiêu cần thiết và được thiết kế giống như máy bay dân sự”. Lầu Năm Góc cũng đã mở rộng các hoạt động và xây dựng thêm một căn cứ quân sự hiện diện lâu dài tại châu Phi ở Camp Lemonnier của Cộng hòa Gibuti với nhiệm vụ như là trung tâm triển khai các hoạt động chống khủng bố tại Xômali và Yêmen.

  1. Đẩy lùi ảnh hưởng của Trung Quốc

Bản chất của việc thành lập AFRICOM là nhằm chống lại sự hiện diện ngày càng tăng của Trung Quốc tại châu Phi và bảo vệ các lợi ích của Mỹ đang bị đe dọa. Sự có mặt của Trung Quốc tại châu Phi là một câu chuyện về sự thành công. Nền kinh tế năng động của Trung Quốc có nhu cầu lớn về dầu mỏ và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác để phát triển. Trung Quốc nhập khẩu xấp xỉ khoảng 2,6 triệu thùng dầu thô mỗi ngày mà một nửa trong số đó dành cho tiêu dùng. Ước tính khoảng 1/3 trong số đó được nhập từ các nước châu Phi.

Các thỏa thuận kinh tế dài hạn của Trung Quốc đối với nguồn nguyên liệu thô từ châu Phi chủ yếu để đổi lấy viện trợ của Bắc Kinh và các thỏa thuận phân chia sản phẩm và bản quyền. Khi so sánh với các biện pháp thắt lưng buộc bụng do IMF thực hiện, Trung Quốc thường chào mời cho vay những khoản tiền lớn, cho vay ưu đãi để xây dựng đường giao thông, trường học, điều luôn được các nước châu Phi đánh giá rất cao.

Về các khoản cho vay phát triển, trái ngược với những điều kiện khi cho vay của Ngân hàng thế giới, các khoản viện trợ của Trung Quốc thường không đi kèm điều kiện và thường tập trung vào các dự án cơ sở hạ tầng nâng cao đời sống cho người dân.

Ví dụ điển hình là SINOPEC, một công ty dầu khí nhà nước của Trung Quốc. Để đổi lấy việc tiếp cận được nguồn dầu mỏ ở Ănggôla, công ty này đã đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, các bệnh viện và các tòa nhà làm việc của chính phủ. Trung Quốc coi các nước giàu tài nguyên châu Phi là các đối tác kinh tế hấp dẫn, khác với những gì mà phương Tây đã dành cho lục địa này.

Chỉ vài tháng trước khi Mỹ quyết định thành lập AFRICOM, Trung Quốc đã tổ chức hội nghị thượng đỉnh tại Bắc Kinh – Diễn đàn hợp tác Trung Quốc-châu Phi (FOCAC) với sự tham dự của gần 50 nguyên thủ, cùng các bộ trưởng của các nước châu Phi vào tháng 10/2006. Năm 2008, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào tuyên bố khoản vay ưu đãi 3 tỷ USD dành cho châu Phi trong ba năm (cùng với khoản tín dụng 2 tỷ USD mà Trung Quốc đã hứa trước đó) và sẽ mở rộng viện trợ cho châu Phi. Trong bốn năm tiếp theo, thương mại Trung Quốc-châu Phi đạt 166 tỷ USD vào năm 2011. Trong 10 năm (2001-2011), xuất khẩu của châu Phi sang Trung Quốc từ mức 5,6 tỷ USD đã tăng lên 93 tỷ USD. Tháng 7/2012, Trung Quốc cam kết cho châu Phi vay 20 tỷ USD trong vòng ba năm, tăng gấp đôi so với nhũng gì Chính phủ Trung Quốc cam kết ba năm trước đó.

Châu Phi rõ ràng đang ngày càng trở thành lục địa cạnh tranh ảnh hưởng giữa Mỹ và Trung Quốc, vốn là các quốc gia đều tìm cách mở rộng vai trò và đảm bảo sự tiếp cận của mình đối với các nguồn tài nguyên châu Phi.

Kết luận

Cạnh tranh gay gắt đối với các nguồn tài nguyên chiến lược như dầu mỏ, khí đốt, urani, vàng, sắt là đặc điểm nổi bật của tình hình tại châu Phi chứ không chỉ đơn thuần là cuộc chiến chống khủng bố. Nhiệm vụ của AFRICOM là đẩy Trung Quốc và các đối thủ khác như Nga ra khỏi lục địa này, hoặc ít nhất là làm tê liệt khả năng tiếp cận các nguồn tài nguyên của số này và cuộc chiến chống khủng bố là lý do ngụy trang tốt cho sự hiện diện của AFRICOM tại lục địa Đen.

Khi nói về Mali và các điểm nóng khác, các phương tiện truyền thông quốc tế thường đề cập đến các sai lầm của Mỹ và phương Tây sau đây: Trong cuộc phỏng vấn trên truyền hình vào tháng 3/2013, Ngoại trưởng Nga Lavrov cho rằng “Pháp đang chiến đấu chống lại các phần tử ở Mali từng thực hiện hành động vũ trang ở Libi chống lại Gaddafi”. Nga cũng liên tục lặp lại rằng tình trạng bất ổn ở Bắc Phi đã chứng tỏ thực tế rằng phong trào “Mùa Xuân Arập” được các nước phương Tây ủng hộ chỉ tạo nên sự hỗn loạn và bất ổn, là điều kiện để sản sinh ra các phần tử khủng bố, Mỹ và NATO đã ủng hộ Nghị quyết 1973 của Liên hợp quốc về Libi chống lại những cảnh báo của Nga và Trung Quốc về việc không nên hành động như vậy. Sự can thiệp của NATO đã tạo nên phản ứng dây chuyền giống như khu vực Sahel của châu Phi. Giờ đây, tất cả chúng ta đang phải đối mặt với những tác động này. Trong khi ủng hộ những nỗ lực chống khủng bố ở châu Phi, Nga cũng đồng thời chỉ trích các nước phương Tây (trong đó có Mỹ và Pháp) vì đã trang bị vũ khí cho lực lượng nổi dậy tại Libi. Giờ đây các chiến binh giàu kinh nghiệm và vũ khí đã lan tràn ra toàn khu vực châu Phi. Sự hiện diện của Mỹ ở Nigiê có thể kích động các cuộc tấn công. Giống như sự hiện diện của quân đội Mỹ tại Irắc đã kích động thêm các cuộc tấn công chống lại quân đội nước ngoài. Lực lượng quân sự, ngay cả khi được sử dụng chỉ với mục đích gìn giữ hòa bình, cũng không phải là điều duy nhất mà châu Phi cần.

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
This entry was posted in Archives, Articles, International relations and tagged , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s