TÁC ĐỘNG CHIẾN LƯỢC VÀ TRIỂN VỌNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ Sáu, ngày 24/5/2013

TTXVN (Niu Yoóc 23/5)

“Tạp chí ÁÂu” ngày 6/5 nhận định an ninh và ổn định của khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong thế kỷ 21 sẽ gặp nguy hiểm khi Trung Quốc đẩy mạnh các chương trình hiện đại hóa quân đội mặc dù không có bất cứ mối đe lớn nào đối với an ninh của Trung Quốc. Tham vọng phát triển ngang hàng chiến lược với Mỹ về vai trò sức mạnh toàn cầu và chiếm ưu thế chiến lược ở châu Á-Thái Bình Dương của Trung Quốc cũng gây ra hậu quả tương tự. Sự xuất hiện các tranh chấp ngày càng tăng trên Biển Đông có thể được coi là hậu quả tất yếu do Trung Quốc áp dụng chính sách bên miệng hố chiến tranh quyết đoán, sử dụng sức mạnh quân sự và gây sức ép chính trị các nước yếu hơn về quân sự ở Đông Nam Á.

Tranh chấp Biển Đông giữa Trung Quốc và các nước láng giềng Đông Nam Á âm ỉ nhiều thập kỷ qua, đặc biệt từ năm 2008-2009 và sau khi Trung Quốc tuyên bố Biển Đông là “lợi ích cốt lõi”, từ đó Trung Quốc sẵn sàng gây chiến để bảo vệ các tuyên bố chủ quyền của họ. Cộng đồng quốc tế không có gì ngạc nhiên trước sự quyết đoán như vậy của Trung Quốc, bởi vì Trung Quốc âm mưu sử dụng xung đột chứ không phải các sáng kiến để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ. Các tranh chấp Biển Đông không thể coi là xung đột giữa một bên là Trung Quốc với bên kia là các nước láng giềng ASEAN ở Biển Đông – nơi Trung Quốc khẳng định toàn bộ chủ quyền lịch sử đối với quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là Nam Sa và Tây Sa) và các vùng đất rải rác trên biển. Hiện nay tranh chấp Biển Đông phát triển tới quy mô quốc tế và gây nên mối lo ngại toàn cầu trên cơ sở “bảo vệ các lợi ích chung toàn cầu”, “tự do hàng hải” và “sử dụng không hạn chế các tuyến đường biển quốc tế”. Do đó, tranh chấp hiện nay ở Biển Đông chuyển từ cuộc xung đột do Trung Quốc phát động chống các nước ASEAN thành Trung Quốc chống lại Mỹ và cộng đồng quốc tế. Về địa chiến lược, Biển Đông không phải “vùng biển nội địa của Trung Quốc”, về chiến lược và quân sự, Biển Đông nằm ở vị trí quan trọng không những cho phép kiểm soát Đông Nam Á mà toàn bộ khu vực Nam và Đông Á. Do tầm quan trọng chiến lược đó, việc mở rộng hoạt động ra toàn bộ Tây Thái Bình Dương dẫn đến căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc. Đến nay, khu vực Tây Thái Bình Dương, trong đó có Biển Đông, nằm dưới sự thống trị của Mỹ. Mỹ không hề có ý đồ từ bỏ sự thống trị chiến lược này. Tây Thái Bình Dương cũng rất quan trọng với Trung Quốc, do đó Bắc Kinh có thể áp dụng mọi biện pháp để phá vỡ ưu thế quân sự trên biển của Mỹ. Các cuộc tranh chấp Biển Đông ngày càng tăng một phần cũng do sự cạnh tranh chiến lược này. Chính sách bên miệng hố chiến tranh quyết đoán của Trung Quốc trong các cuộc xung đột Biển Đông cơ bản xuất hiện sau 2 thập kỷ Mỹ không chú trọng chiến lược ở Tây Thái Bình Dương mà chủ yếu tập trung sức mạnh quân sự ở khu vực Bancăng, Ápganixtan và Irắc. Điều này tạo điều kiện cho Trung Quốc xây dựng một lực lượng hải

quân ngày càng mạnh mà không có bất cứ hành động ngăn chặn nào của Mỹ. Kết quả của việc xây dựng quân đội và lực lượng hải quân của Trung Quốc đã và đang được thể hiện rất rõ trong các cuộc xung đột Biển Đông hiện nay. Hơn nữa, “Chiến lược Bao vây Trung Quốc” và “Tâm lý không muốn rủi ro” của Mỹ là những nhân tố khiến Bắc Kinh tin rằng, hành động quyết đoán của họ ở Biển Đông sẽ không bị thách thức. Hành động quyết đoán của Trung Quốc trên Biển Đông không hoàn toàn tập trung vào việc khai thác các khu vực có nguồn dự trữ dầu mỏ dưới đáy Biển Đông. Trung Quốc có các mục tiêu chiến lược quan trọng trong các cuộc xung đột leo thang ở Biển Đông. Chiến lược Lớn của Trung Quốc gồm 2 mục tiêu chủ yếu thúc đẩy chiến lược Biển Đông gồm: thứ nhất, buộc Mỹ rút khỏi Đông Á và Tây Thái Bình Dương bằng cách sử dụng chính sách bên miệng hố chiến tranh quyết đoán ở tất các vùng biển Tây Thái Bình Dương khiến Mỹ mệt mỏi hoặc thụ động; thứ hai, Trung Quốc sẽ xây dựng và phát triển sức mạnh hải quân gần ngang bằng sức mạnh của hải quân Mỹ ở Tây Thái Bình Dương. Mục tiêu cơ bản lớn hơn của Trung Quốc là phát triến các khả năng sức mạnh ngày càng tăng của lực lượng hải quân không những dọc bờ biển Trung Quốc mà cả ở Ấn Độ Dương. Chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông chủ yếu xoay quanh 3 trụ cột: thứ nhất, đề phòng/ngăn chặn/gây khó khăn cho việc quốc tế hóa các bất đồng Biển Đông bằng mọi giá; thứ hai, chia rẽ sự đoàn kết của ASEAN để ngăn chặn khu vực hóa các tranh chấp; thứ ba, thường xuyên gia tăng sức ép các tranh chấp Biển Đông ở mức khiến Mỹ không thể can thiệp quân sự trực tiếp, nhưng khu vực sẽ là một điểm tạo sức ép chiến lược. Cùng với chính sách bên miệng hố chiến tranh của Trung Quốc là những mối nguy hiểm do toan tính sai lầm trong các động thái chiến lược của Trung Quốc trong những cuộc xung đột Biển Đông, từ đó tăng thêm sự thù địch vũ trang. Vì vậy, trong chừng mực nào đó Mỹ sẽ can thiệp để bảo vệ sự thống trị chiến lược ở châu Á-Thái Bình Dương và bảo vệ an ninh của các liên minh quân sự cũng như các mối quan hệ chiến lược mới của Mỹ trong khu vực. Đây là một khuôn khổ chiến lược, trong đó cuộc xung đột Biển Đông phải được xem xét trong thập kỷ thứ 2 của thế kỷ 21. Hiện nay vấn đề kinh tế và an ninh năng lượng dường như đứng thứ hai. Các yếu tố quyết định chiến lược sẽ làm lu mờ những cuộc tranh cãi về pháp lý và chủ quyền Biển Đông.

Tranh chấp Biển Đông đã và đang tạo nên những tác động chiến lược toàn cầu. Hiện nay tranh chấp Biển Đông không chỉ là mối quan tâm của khu vực Đông Á, Tây Thái Bình Dương và khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Những phát triển trong cuộc xung đột Biển Đông ngày càng thu hút sự quan tâm của các nước ngoài khu vực và quốc tế. Sự mất đoàn kết ở khu vực Đông Nam Á và thiếu khả năng quân sự trong khu vực để ngăn chặn những hành động quyết đoán của Trung Quốc trong các cuộc xung đột Biển Đông đang mở đường cho các nước liên quan đến khu vực Biển Đông đứng về phía các nước bị Trung Quốc bao vây và đe dọa. Mỹ là sức mạnh đối trọng; Nhật Bản và Ấn Độ được đánh giá là các đối trọng hỗ trợ Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương để kiềm chế chính sách bên miệng hố chiến tranh của Trung Quốc. Nga là một cường quốc châu Á-Thái Bình Dương cũng sẽ bị lôi kéo tham gia sau khi Mátxcơva tuyên bố chiến lược trở lại châu Á-Thái Bình Dương. Trong cuộc xung đột Biển Đông không chỉ Mỹ có những hành động công khai ngăn chặn Trung Quốc mà Nhật Bản và Ấn Độ cũng có những hành động chống lại Trung Quốc về chính trị, nếu không nói là về quân sự. Chính sách bên miệng hố chiến tranh quyết đoán và sử dụng sức mạnh của Trung Quốc trong các cuộc xung đột Biển Đông càng làm gia tăng nỗi lo ngại của châu Á về sức mạnh quân sự Trung Quốc. Các nước châu Á nhận thấy Trung Quốc không phải là một quốc gia có trách nhiệm vê an ninh và sự ổn định của châu Á. Và tình trạng leo thang ngày càng tăng của các tranh chấp Biển Đông đã gây ra một số tác động chiến lược lớn.

+ Xung đột Biển Đông gây nên sự phân cực và thúc đẩy sự cân bằng cơ cấu quyền lực ở châu Á-Thái Bình Dương. Quan điểm thù địch và xung đột của Trung Quốc về các tranh chấp Biển Đông hiện đang làm tăng sự phân cực chiến lược của châu Á. Sự phân cực châu Á dẫn đến “sự cân bằng mới giữa các cơ cấu quyển lực ở châu Á-Thái Bình Dương”. Tham vọng chiến lược ngày càng tăng của Bắc Kinh đối với khu vực châu Á, trong đó Trung Quốc là trung tâm, thể hiện rất rõ. Thay đổi từ Chiến lược Lớn trên cơ sở “sức mạnh mềm” sang thực hiện “sức mạnh cứng” của Trung Quốc đã tạo nên sự phân cực chiến lược của châu Á-Thái Bình Dương. Sự thay đổi Chiến lược Lớn của Trung Quốc tạo nên nhận thức rằng mối đe dọa Trung Quốc nhấn chìm châu Á-Thái Bình Dương. Việc xâm lược bằng sức mạnh quân sự, gây sức ép chính trị và quân sự của Trung Quốc trong các cuộc xung đột Biển Đông nhằm chống lại các nước láng giềng ASEAN không những phản bội lòng tin của các nước mà còn làm mất uy tín của Trung Quốc là một nước láng giềng có trách nhiệm và yêu chuộng hòa bình. Trong lịch sử, châu Á-Thái Bình Dương từng chứng kiến các hình thức “cân bằng quyền lực” khác nhau ở những thời điểm khác nhau. Nhưng việc Mỹ can thiệp quân sự vào khu vực Bancăng trong những năm 1990, Ápganixtan và Irắc trong những năm 2000 đã làm đảo lộn “cân bằng quyền lực” tồn tại trong khu vực. Khoảng trống chiến lược tiếp theo dẫn đến việc Trung Quốc tăng cường xây dựng quân đội mà không hề có sự ngăn chặn nào của Mỹ. Các cuộc xung đột Biển Đông diễn ra trong giai đoạn sau năm 2009 và các tác động chiến lược của chúng buộc Mỹ phải quay lại chiến lược trở lại châu Á-Thái Bình Dương và khôi phục sự cân bằng bị Trung Quốc làm đảo lộn. Năm 2013, khu vực châu Á-Thái Bình Dương chứng kiến sự xuất hiện của cơ cấu “cân bằng sức mạnh” mới. Nói rộng hơn, Mỹ tăng cường cơ cấu liên minh quân sự hiện có ở Đông Bắc Á trên cơ sở Nhật Bản, Hàn Quốc và Philíppin; khẳng định sự hiện diện của Mỹ trong những mối quan hệ an ninh với các nước ven Biển Đông bằng cách tìm kiếm các mối quan hệ chiến lược với Việt Nam, Inđônêxia và phát triển quan hệ đối tác chiến lược quan trọng với Ấn Độ, ngoài ra mở cửa chiến lược với Mianma.

+ Xung đột Biển Đông sẽ dẫn đến hậu quả chiến lược. Tây Thái Bình Dương là điểm giao nhau giữa các lợi ích chiến lược và cạnh tranh sức mạnh giữa Mỹ và Trung Quốc. Đây cũng là khu vực giao nhau của sự cạnh tranh sức mạnh khu vực giữa Trung Quốc và Nhật Bản, giữa Trung Quốc với Việt Nam và Philíppin về tranh chấp Biển Đông. Ban đầu Mỹ có xu hướng không can dự các tranh chấp khu vực với Trung Quốc và tỏ ra “thờ ơ chiến lược” trước những phát triển trong môi trường an ninh Tây Thái Bình Dương. Nhưng cuối cùng Mỹ phải sử dụng chiến lược ngăn chặn chống Trung Quốc ở Tây Thái Bình Dương. Trọng tâm chiến lược ngăn chặn Trung Quốc của Mỹ là “Chuỗi đảo thứ nhất” – một chuỗi đảo chiến lược chạy gần như song song với các nước ven Biển Đông Á ở Tây Thái Bình Dương. Tây Thái Bình Dương có tầm quan trọng chiến lược đối với Mỹ vì nó giúp Mỹ xây dựng vành đai phòng thủ bên ngoài Lục địa Mỹ và tạo bàn đạp gần Trung Quốc để can thiệp quân sự khi cần thiết. Do nó có vị trí địa lý gần Trung Quốc và thuận lợi cho việc triển khai quân sự, Mỹ và

các nước đồng minh có thể bao vây Trung Quốc bằng quân sự; trong chuỗi đảo chỉ có một số hành lang cho phép hải quân Trung Quốc thoát ra Thái Binh Dương. Quan trọng hơn, Trung Quốc tuyên bố chủ quyền toàn bộ các đảo trên Biển Đông và Biển Hoa Đông. Những hòn đảo tranh chấp đó nằm trong tay Trung Quốc sẽ giúp Trung Quốc thiết lập các căn cứ để triển khai các tài sản quân sự như một phần của chiến lược “Chống xâm nhập” nhằm đáp trả sự can thiệp của Mỹ bằng sức mạnh không quân và hải quân. Do đó Tây Thái Bình Dương được mệnh danh là một điểm nóng giữa Trung Quốc và Mỹ – nơi có thể xảy ra xung đột trừ khi hai bên tiến hành các cuộc đàm phán để tháo gỡ ngòi nổ của xung đột và Trung Quốc từ bỏ chính sách bên miệng hố chiến tranh trên Biển Đông.

+ Phản ứng toàn cầu đối với chính sách bên miệng hố chiến tranh ngày càng tăng của Trung Quốc trong các tranh chấp Biển Đông. Phản ứng toàn cầu về chính sách bên miệng hố chiến tranh leo thang của Trung Quốc trong các tranh chấp Biển Đông được thể hiện rõ nhất trong các bài phát biểu tại Đối thoại Shangri-La tháns 6/2012 ở Xinhgapo. Các chủ đề chung trong các bài phát biểu đó là cộng đồng quốc tế và các cường quốc cam kết với an ninh “chung toàn cầu” và “tự do trên các vùng biển quốc tế” và không nước nào có quyền tuyên bố các vùng biển quốc tế là lãnh thổ quốc gia. Mỹ, Anh và Pháp khẳng định cam kết với an ninh và sự ổn định của Đông Nam Á. Do đó các tranh chấp Biển Đông không còn là tranh chấp khu vực. Mối lo ngại quốc tế trước ý đồ của Bắc Kinh nhằm áp đặt chủ quyền toàn bộ Biển Đông và cam kết mập mờ đối với an ninh cũng như sự ổn định ở Đông Nam Á sẽ phát đi những tín hiệu thích hợp cho Trung Quốc. Lo ngại những phản ứng như vậy, các quan chức cấp cao của Trung Quốc đã lảng tránh và không tham dự hội nghị….

+ Tác động chiến lược quan trọng nhất là Trung Quốc tạo ra một cuộc chiến tranh lạnh mới ở châu Á-Thái Bình Dương. Trung Quốc coi Mỹ là mối đe dọa số một. Điều này dẫn đến mối quan hệ Mỹ-Trung Quốc rất mỏng manh, không chắc chắn và đây có thể là sự khởi đầu của một cuộc chiến tranh lạnh. Những nghi ngờ, tuyên bố và chính sách bên miệng hố chiến tranh được thể hiện qua các hành động chống Mỹ của Trung Quốc khiến người ta nhớ lại các giai đoạn của cuộc Chiến tranh Lạnh đầu tiên. Nhưng cuộc chiến tranh lạnh mới này không giống Chiến tranh Lạnh đầu tiên ở chỗ, nó có tất cả các cơ hội trở thành một cuộc “chiến tranh nóng” giữa Mỹ và Trung Quốc do một số bất đồng dễ dàng xảy ra xung đột ở châu Á và nhiều vấn đề chiến lược khác. Năm 2013, bức tranh quan hệ Trung-Mỹ thậm chí còn tồi tệ hơn do Trung Quốc chỉ trích gay gắt chính sách trở lại châu Á và chiến lược tái cân bằng sức mạnh quân sự ở châu Á- Thái Bình Dương của Mỹ. Các cuộc xung đột Biển Đông ngày càng leo thang là thách thức tiềm tàng nhất mà Trung Quốc có thể tạo ra để chống lại Mỹ.

+ Tranh chấp Biển Đông tác động đến chiến lược khu vực. Các tranh chấp/đối đầu/xung đột khu vực không xảy ra trong giai đoạn Mỹ không quan tâm đến khu vực. Chúng xuất hiện từ môi trường an ninh liên quan đến bối cảnh quá khứ, hiện tại và tương lai gần. Do đó, các tranh chấp Biển Đông phải được xem xét trong toàn bộ môi trường an ninh châu Á trong thế kỷ 2.1. Do nhận thức về cam kết an ninh và ổn định cũng như các ý đồ không rõ ràng của Mỹ ở Biển Đông nói riêng và châu Á-Thái Bình Dương nói chung, Trung Quốc đã lợi dụng điều đó để thúc đẩy chính sách bên miệng hố chiến tranh và hành động quyết đoán nhằm giành quyền kiểm soát toàn bộ Biển Đông. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng nhận thấy ASEAN có nguy cơ trở thành một đối trọng chống lại Trung Quốc. Nhưng hành động quyết đoán và chính sách bên miệng hố chiến tranh của Trung Quốc không khuất phục được các nước mà trái lại buộc các nước ASEAN tăng cường mua sắm vũ khí và lao vào cuộc chạy đua vũ trang. Mặc dù khá muộn, nhưng các nước ASEAN nhận thấy mối đe dọa Trung Quốc là thực tế và mối đe dọa chủ yếu diễn ra trên biển. Các nước ASEAN đang nỗ lực xây dựng các khả năng ngăn chặn của lực lượng hải quân và hải giám để chống lại Trung Quốc. Tất cả các nước ASEAN, dù có tranh chấp hay không tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc ở Biển Đông, chắc chắn phải đoàn kết với nhau vì một lý do đơn giản: an ninh và ổn định của Đông Nam Á là tối thượng. Hợp tác an ninh khu vực là một mục tiêu của ASEAN khi Trung Ọuốc phát triển mạnh và quyết đoán. Tác động qụan trọng này thể hiện các nước ASEAN không những đang nâng cấp khả năng quân sự của họ mà các cường quốc khác có lợi ích an ninh và ổn định ở Biển Đông cũng có thể tham gia xây dựng các khả năng ngăn chặn của ASEAN.

Cuộc đối đầu xung đột của Trung Quốc trên Biển Đông đánh thức Nhật Bản và Ấn Độ tăng cường hiện đại hóa quân đội. Quan điểm bất đồng của Trung Quốc không chỉ dừng lại trong các cuộc xung đột Biển Đông, bởi vì Trung Quốc cũng có tranh chấp lãnh thổ với Nhật Bản và Ấn Độ. Chính sách bên miệng hố chiến tranh mạnh mẽ của Trung Quốc trong các cuộc xung đột Biển Đông đã phát đi lời cảnh báo Nhật Bản và Ấn Độ phải xem xét các khả năng răn đe của họ nhằm chống lại Trung Quốc. Nhật Bản và Ấn Độ có nhiều lợi ích an ninh ở châu Á, do đó hai nước nhận thấy cần tạo ra một đối trọng châu Á để chống lại sức mạnh quân sự của Trung Quốc. Hai nước đều bị ảnh hưởng trước sự quyết đoán và chính sách bên miệng hố chiến tranh của Bắc Kinh trong các tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc. Nhật Bản đang áp dụng các biện pháp theo hướng tự vệ lớn hơn về sức mạnh răn đe và phòng thủ chống Trung Quốc. Chính sách bên miệng hố chiến tranh của Trung Quốc ở quần đảo Senkaku có lẽ buộc Nhật Bản phải tạo ra khả năng quân sự độc lập chứ không thể lệ thuộc vào chiếc ô an ninh của Mỹ. Nhật Bản cho rằng việc kiểm soát toàn bộ Biển Đông của Trung Quốc có thể gây khó khăn kinh tế và chiến lược cho Nhật Bản, do đó Tôkyô sẽ tìm cách ngăn chặn tình huống đó. Các cuộc xung đột Biển Đông và diễn biến trên biển Hoa Đông khiến Nhật Bản không những phải xem xét lại Hiến pháp Hòa bình mà còn xây dựng khả năng quân sự răn đe Trung Quốc. Cuối cùng Ấn Độ cũng nhận rõ bản chất, ý đồ và hành động của Trung Quốc qua các vụ tranh chấp biên giới, bao vây chiến lược và thách thức hải quân Ấn Độ ở Ấn Độ Dương. Hiện nay Ấn Độ nổi lên như một bên tham gia liên quan đến an ninh và ổn định ở Biển Đông. Gần đây Ấn Độ và Nhật Bản tỏ ra quan tâm hơn đến cuộc xung đột Biển Đông và sự nhất trí chiến lược “Phòng thủ Chung Toàn cầu”. Rõ ràng, những phát triển của quân đội Nhật Bản và Ấn Độ sẽ tạo ra đối trọng chống Trung Quốc ở hai đầu của Biển Đông. Đây sẽ là nguồn động viên để các nước ASEAN không còn có quan điểm trung lập trong các tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc. Trước tình hình đó, Trung Quốc đang đẩy mạnh chính sách bên miệng hố chiến tranh trong các cuộc xung đột Biển Đông nhằm thực hiện mục tiêu xóa bỏ tình đoàn kết hợp tác trong ASEAN để tổ chức này không thể hình thành một mặt trận đoàn kết hợp tác chống Trung Quốc ở Biển Đông. Thực tế, Trung Quốc đã thành công trong việc phá hoại sự đoàn kết nội bộ của ASEAN trong Hội nghị Bộ trưởng ASEAN tại Phnôm Pênh vào tháng 8/2012 bằng cách mua chuộc và lôi kéo Campuchia không đưa vấn đề Biển Đông vào Tuyên bố Chung ASEAN và điều đó rất quan trọng cho quan điểm bất đồng của Trung Quốc ở Biển Đông. Và tương lai Trung Quốc sẽ tiếp tục theo đuổi chiến lược chia rẽ nội bộ ASEAN khi quốc tế tăng cường sức ép Trung Quốc giải quyết các tranh chấp Biển Đông.

Triển vọng giải quyết xung đột rất khó khăn. Tiến trình giải quyết xung đột chủ yếu xoay quanh 3 vấn đề: giảm bớt hành động leo thang; thay đổi thái độ hoặc phương pháp tiếp cận xung đột; biến đổi mối quan hệ của các lợi ích xung đột. Do quan điểm cứng rắn và không nhượng bộ trong các tranh chấp Biển Đông, Bắc Kinh công khai tuyên bố quyền chủ quyền của Trung Quốc đối với Biển Đông là “không thể đàm phán”. Tuyên bố đó cho thấy rõ ràng Bắc Kinh không sẵn sàng tham gia các tiến trình giải quyết xung đột. Hơn nữa khi Trung Quốc tuyên bố Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” và để bảo vệ lợi ích cốt lõi Trung Quốc sẵn sàng tiến hành chiến tranh. Điều đó thể hiện rõ các ý đồ chiến lược của Trung Quốc. Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng triển vọng giải quyết các tranh chấp Biển Đông có 3 nhân tố lệ thuộc lẫn nhau gồm: Trung Quốc kiềm chế các hoạt động liên quan đến tranh chấp Biển Đông; ASEAN thể hiện sự đoàn kết khu vực để thúc đẩy hợp tác và đề ra một số biện pháp ngăn chặn Trung Quốc; Mỹ cam kết mạnh mẽ để bảo đảm ngăn chặn chính sách bên miệng hố chiến tranh mạnh mẽ của Trung Quốc trong các tranh chấp Biển Đông. Nhưng chắc chắn Trung Quốc sẽ không hành xử hạn chế kể cả hành động cũng như các tuyên bố trong các tranh chấp Biển Đông. Nhân tố đoàn kết của ASEAN cũng rất khó khăn. Bởi vì Trung Quốc đã, đang và sẽ tiếp tục ý đồ chia rẽ nội bộ ASEAN như họ đã thực hiện năm 2012. Trong khi đó, Mỹ không hề có bất cứ mối quan hệ liên minh an ninh nào với các nước ASEAN có tranh chấp chủ quyền Biển Đông với Trung Quốc, trừ Philíppin. Hiện nay cam kết duy nhất của Mỹ với tranh chấp Biển Đông là “bảo vệ các lợi ích chung toàn cầu” và “tự do hàng hải” trên các vùng biển quốc tế, do đó Mỹ phải duy trì sức mạnh vượt trội ở khu vực Tây Thái Bình Dương. Nhưng vẫn còn phải xem các động thái của Mỹ để đạt được các lợi ích chiến lược ở mức độ nào khi Mỹ triển khai chính sách bao vây ngăn chặn Trung Quốc và các chính sách khác.

Trong tranh chấp Biển Đông, Trung Quốc là cường quốc thống trị khu vực đã và đang sử dụng tất cả các công cụ mạnh mẽ để đạt được mục tiêu chiến lược kiểm soát toàn bộ quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các khu vực khác trên Biển Đông. Từ trước đến nay, Trung Quốc vẫn khẳng định toàn bộ chủ quyền xung quanh các quần đảo tranh chấp đó thuộc Trung Quốc. Hiện nay, chiến lược cứng rắn của Bắc Kinh đã phát triển xa hơn ASEAN để thách thức hải quân Mỹ, Ấn Độ và các nước nhập khẩu dầu lửa quốc tế khác. Sự quyết đoán của Trung Quốc đã mở rộng đến vùng biển phía Bắc và biển Hoa Đông chống lại Nhật Bản. Rõ ràng, Trung Quốc đưa ra các hình thức và thái độ chính sách quyết đoán để đạt được ý đồ thay đổi trật tự hiện nay ở châu Á-Thái Bình Dương, vấn đề quan trọng nổi lên là triển vọng giải quyết xung đột Biển Đông sẽ ra sao? Đến nay, không dấu hiệu nào cho thấy Trung Quốc sẽ tham gia các sáng kiến và thậm chí những công ước cũng như luật pháp quốc tế nhằm giải quyết các tranh chấp, Bắc Kinh quả quyết, Trung Quốc chỉ sẵn sàng đối thoại song phương với từng nước tuyên bố chủ quyền chồng lấn ở Biển Đông. Tuyên bố này cho thấy Bắc Kinh kiên quyết không tham gia mọi tiến trình giải quyết tranh chấp đang gây nên những tác động khu vực và quốc tế rộng lớn hơn.

Tóm lại, từ lâu các tranh chấp và xung đột trên Biển Đông chỉ được coi là tranh chấp lãnh thổ pháp lý và chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và một số dải đất nằm rải rác trên Biển Đông giữa một Trung Quốc quyết đoán về quân sự và các nước tuyên bố chủ quyền có sức mạnh quân sự yếu hơn ở Biển Đông. Một số nước ASEAN muốn duy trì một mặt trận hợp tác vững chắc để ngăn chặn hành động quyết đoán của Trung Quốc ở Biển Đông. Nhưng ý đồ và hành động tiếp tục chia rẽ ASEAN nhằm thực hiện các mục tiêu chiến lược của Trung Quốc có thể gây khó khăn cho ASEAN. Hiện nay, tranh chấp Biển Đông dần dần phát triển lên mức chiến lược cao hơn và nơi đây đã biến thành khu vực cạnh tranh chiến lược nhằm giành quyền kiểm soát Tây Thái Bình Dương giữa Trung Quốc và Mỹ. Tuyên bố chiến lược trở lại châu Á-Thái Bình Dương gần đây của Nga cho thấy một đối thủ mới và mạnh hơn xuất hiện trong khu vực và sẽ tác động đến các cuộc xung đột tương lai. Cam kết với ổn định và an ninh ở khu vực Biển Đông của Mỹ cần được cụ thể hóa rõ ràng, tin cậy và hiệu quả. Nếu xu hướng này không được thúc đẩy vì lo ngại rủi ro và chiến lược bao vây Trung Quốc, lúc đó Mỹ cũng có thể tự chôn vùi chiến lược ở châu Á-Thái Bình Dương. Tranh chấp Biển Đông có thể dần dần biến thành cuộc chiến tranh lạnh toàn cầu thứ hai, nhưng lần này diễn ra tại châu Á- Thái Bình Dương. Cuộc chiến tranh lạnh mới được bắt đầu từ những hành động quyết đoán và chính sách bên miệng hố chiến tranh của Trung Quốc, không có nền tảng tư tưởng nhưng bị chi phối bởi một cuộc cạnh tranh chiến lược vì quyền kiểm soát Tây Thái Bình Dương giữa Trung Quốc và Mỹ, ban đầu ở mức độ tranh cãi, dần dần trở nên căng thẳng hơn và cuối cùng dẫn đến xung đột.

***

TTXVN (Hồng Công 22/5)

Bài viết của Kim Vĩnh Minh, nghiên cứu viên Trung tâm nghiên cứu pháp luật học thuộc Viện Khoa học Xã hội Thượng Hải, đăng trên tờ “Tín báo” ngày 12/5.

Chính phủ Philíppin không để ý tới sự phản đối của chính phủ Trung Quốc, tự ý đưa vấn đề tranh chấp Nam Hải (Biển Đông) ra Tòa án luật biển quốc tế. Trước sự phản đối hoặc không chấp nhận xét xử của phía Trung Quốc, Tòa án luật biển quốc tế đã chỉ định trọng tài viên cho phía Trung Quốc. Tranh chấp Biển Đông đã xuất hiện khuynh hướng và xu thế phát triển “tự pháp hóa”. Cái gọi là “tranh chấp Biển Đông” chủ yếu bao gồm hai loại hình: tranh chấp lãnh thổ quần đảo Nam Sa (Trường Sa) và tranh chấp ranh giới vùng biển, giữa chúng vừa có quan hệ lại vừa có sự khác biệt. Tranh chấp lãnh thổ quần đảo Nam Sa là tranh chấp chủ yếu của vấn đề Biển Đông, tranh chấp ranh giới biển là vấn đề thứ yếu.

Do lục địa chi phối biển là nguyên tắc quan trọng của Luật quốc tế, nói cách khác, về vấn đề Biển Đông, chỉ có xác định được vấn đề thuộc lãnh thổ quần đảo mới có thể phân chia vùng biển đang tranh chấp chồng lấn. Đối với các vấn đề tranh chấp biển giữa các nước có liên quan, giải quyết hòa bình là nguyên tắc và cách thức mà các nước cần phải tôn trọng. Nhưng Philíppin dựa vào quy định của điều 286 tại “Công ước Liên hợp quốc về luật biển” (UNCLOS), đã đơn phương đệ trình vấn đề tranh chấp Biển Đông lên Tòa án luật biển quốc tế để làm trọng tài, cách làm như vậy có hợp lý không?

Hậu quả của việc đơn phương đệ trình lên Tòa án

Điều 286 của UNCLOS quy định, tiền đề của việc đệ trình lên trọng tài là: trình tự đối thoại song phương đã kết thúc hoặc không, có hiệu quả, vẫn chưa thể được giải quyết. Nếu phía Philíppin cho rằng đối thoại song phương với phía Trung Quốc, bao gồm cả việc trao đổi ý kiến đã kết thúc, và cho rằng tranh chấp Biển Đông giữa Trung Quốc và Philíppin đã hết

cách giải quyết thì mới có thể đệ trình lên Tòa án. Nhưng những tổn hại do việc này gây ra sẽ do phía Philíppin gánh chịu, bao gồm sử dụng các biện pháp phi hòa bình để giải quyết tranh chấp, bởi vì phía Philíppin đơn phương cho rằng đối thoại song phương đã kết thúc.

Hành vi hoặc cách làm của Philíppin trong việc đưa tranh chấp Biển Đông lên trọng tài cũng đã đi ngược lại nhận thức chung “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” – DOC. Điều 7 của DOC quy định các bên liên quan thông qua hình thức các bên đồng ý để tiến hành thương lượng, đối thoại về các vấn đề liên quan, bao gồm việc tiến hành thương thảo định kỳ về vấn đề tôn trọng DOC, nhằm thúc đẩy quan hệ láng giềng tốt đẹp và nâng cao độ minh bạch, tạo sự hài hòa, hợp tác và hiểu biết lẫn nhau, thúc đẩy dùng cách thức hòa bình để giải quyết tranh chấp giữa các bên.

Vì thế, từ nay về sau, trong các văn bản có hiệu lực ràng buộc pháp lý giữa các nước có liên quan thảo luận việc làm thế nào đưa ra Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC), có thể loại bỏ sự tham gia của Philíppin bởi nước này đã đi ngược lại nhận thức chung trong quy tắc của DOC.

Căn cứ vào điều 286 của UNCLOS, việc đơn phương đệ trình tranh chấp lên Tòa án quốc tế có quyền giải quyết hoặc Tòa án luật biển quốc tế phải có giải thích liên quan đến bản công ước hoặc bất cứ tranh chấp nào thích hợp. Vậy tranh chấp Biển Đông có thuộc phạm vi giải thích hay tranh chấp thích hợp của UNCLOS?

Mục đích chủ yếu của Philíppin khi đệ trình vấn đề tranh chấp Biển Đông lên trọng tài là hy vọng Tòa án trọng tài của Tòa án luật biển quốc tế tuyên bố đường chín đoạn mà Trung Quốc vạch ra trên Biển Đông là “phi pháp”, là vi phạm cơ chế của UNCLOS, qua đó nhằm giành được “chủ quyền” và “chủ quyền biển” trên Biển Đông, mưu đồ loại bỏ “trở ngại” cho việc Philíppin tiến hành khai thác dầu mỏ và khí tự nhiên ở vùng biển phía Tây của Philíppin.

Tòa án luật biển quốc tế không có quyền giải quyết

Vấn đề là Tòa án trọng tài không thể phù hợp với chế độ và nguyên tắc của UNCLOS để phán xét vấn đề địa vị pháp lý của đường chín đoạn ở Biển Đông của Trung Quốc, không thuộc về giải thích có liên quan tới UNCLOS hay bất cứ tranh chấp thích hợp nào. Do cộng đồng quốc tế tồn tại lý luận luật liên thời gian nên việc tạo ra quyền lợi phải được phân định căn cứ vào luật cùng thời với nó; sự tồn tại kéo dài của quyền lợi phải được xác định dựa vào các luật được ban hành và có hiệu lực vào thời điểm đó.

Liên quan đến ngày tháng và bối cảnh ra đời đường chín đoạn tại Biển Đông của Trung Quốc, vốn không thể thích hợp vận dụng UNCLOS để xác định vấn đề địa vị pháp lý của nó. Tòa án trọng tài cũng không có cách nào để đưa ra phán quyết về vấn đề địa vị pháp lý của đường lưỡi bò.

Ngoài ra, Tòa án trọng tài cũng không có cách phán xử đối với vấn đề như tranh chấp lãnh thổ quần đảo Nam Sa trừ khi nước liên quan ký kết hiệp định cho Tòa án luật biển quốc tế có quyền giải quyết. Vậy nếu giữa các nước liên quan không có ký kết hiệp định quốc tế giải quyết tranh chấp thì Tòa án quốc tế hoặc Tòa án luật biển quốc tế sẽ không có quyền giải quyết.

Hơn nữa, ngày 25/8/2006, Trung Quốc đã trình lên Tổng Thư ký liên hợp quốc tuyên bố bằng văn bản không chấp nhận bất cứ sự phán xử trọng tài hoặc tư pháp quốc tế nào về phân chia biển, tranh chấp lãnh thổ, tranh chấp hoạt động quân sự… Vì thế, cũng không thích hợp với trình tự trọng tài tranh chấp đã được quy định tại khoản 3 điều 297 của UNCLOS.

Tạo dựng dư luận bất li cho Trung Quốc

Trên thực tế, đối với những vấn đề như tranh chấp lãnh thổ quần đảo Nam Sa, cần dựa theo lý luận về lãnh thổ của Luật quốc tế mà xác định sự quy thuộc của nó, chứ không thích hợp vận dụng nộì dung điều khoản của UNCLOS. Bởi vì lời nói đầu của UNCLOS chỉ rõ mục đích của công ước này, trong tình hình liên quan đến chủ quyền của tất cả các nước, là nhằm xây dựng một trình tự pháp lý biển; nó còn chỉ ra đối với những việc mà bản công ước này chưa quy định, sẽ tiếp tục lấy quy tắc và nguyên tắc của luật quốc tế chung làm căn cứ chuẩn.

Trên thực tế, đối với vấn đề phân chia ranh giới biển tại Biển Đông thì mới có thể vận dụng quy phạm mang tính chế độ của UNCLOS.

Có thể thấy, hành vi đưa tranh chấp Biển Đông lên Tòa án luật biên quốc tế của Philíppin là sai trái, cũng sẽ không bao giờ được phía Trung Quốc chấp nhận. Đồng thời, Tổ trọng tài do Tòa án luật biên quốc tế lập ra cùng không có quyền giải quyết về vấn đề này. Hiện nay, mục đích chủ yếu của việc thành lập Tổ trọng tài xét xử tranh chấp Biển Đông của Tòa án luật biển quốc tế là để tạo dựng không khí dư luận bất lợi cho Trung Quốc, nhằm tạo hiện tượng giả rằng Trung Quốc khiêu chiến với nguyên tắc quốc tế, vì thế chúng ta phải có nhận thức rõ ràng, chính xác về vấn đề này.

Trong tình hình hiện nay, dựa vào cách thức hòa bình, đặc biệt là thông qua biện pháp chính trị là cách thức giải quyết có hiệu quả và có khả năng thực hiện đối với tranh chấp Biển Đông giữa các nước liên quan, cần phải kiên trì. Vì thế, các nước liên quan phải thể hiện thành ý, quay trở về quỹ đạo giải quyết bằng cách thức chính trị và phát triển đàm phán hiệp thương nhằm giải quyết hợp lý vấn đề tranh chấp Biển Đông, cùng nhau hưởng lợi tài nguyên, xác lập và đảm bảo hòa bình và an ninh cho khu vực.

Advertisements

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
Bài này đã được đăng trong Archives, Articles, International relations và được gắn thẻ , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s