Tác động chiến lược của cuộc xung đột Biển Đông

Tác động chiến lược của cuộc xung đột Biển Đông (I)

(Toquoc)- Động thái của Trung Quốc tại Bãi Cỏ Mây bộc lộ chiến lược của Trung Quốc muốn tiếp tục cuộc leo thang lấn chiếm Biển Đông.

Cuộc tập trận của ba hạm đội hải quân Trung Quốc diễn ra vào trung tuần tháng 5, kết thúc ngày 24/5. Đây là cuộc tập trận quy mô thứ hai có sự tham gia của ba hạm đội trùng hợp với thời điểm tàu sân bay USS Nimitz đang có mặt trên Biển Đông tiến hành diễn tập từ ngày 21-23/5. Cũng vào thời điểm này, 1 tàu khu trục hải quân, 2 tàu Hải giám và 30 tàu cá Trung Quốc đã xâm nhập khu vực gần Bãi Cỏ Mây, thuộc quần đảo Trường Sa, nơi quân đội Philippines hiện diện trên một tàu chiến cũ bị đánh đắm vào năm 1999 thành một tiền đồn để kiểm soát Bãi Cỏ Mây.

Cả Mỹ, Trung Quốc và Philippines đều quan tâm đến Bãi Cỏ Mây, dù nó lúc nổi lúc chìm, vì nó nằm cách Đá Vành Khăn mà Trung Quốc chiếm năm 1995 khoảng 65 km về phía Tây Bắc. Bãi Cỏ Mây còn là cửa ngõ chiến lược vào Bãi Cỏ Rong – khu vực được cho là giàu dầu mỏ và khí tự nhiên nằm trong tầm kiểm soát của Philippines.

Trung Quốc “leo thang thách thức và thử thách giới hạn của đối thủ”

Động thái leo thang của Trung Quốc tại Bãi Cỏ Mây là một đòn thử phản ứng của các bên tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông cũng như Mỹ và các nước lớn liên quan có lợi ích tại Biển Đông.

Hãng Thông tấn Trung ương Đài Loan (CNA) tối ngày 30/5 vạch trần âm mưu của Bắc Kinh, cho rằng từ việc giành quyền kiểm soát đối với bãi cạn Scarborough không có quân ra đồn trú tới việc tranh giành quyền kiểm soát bãi Cỏ Mây có quân đồn trú đã ngày càng lộ rõ chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông, đó là “leo thang thách thức và thử thách giới hạn của đối thủ”. Nếu Bãi Cỏ Mây bị Trung Quốc giành quyền kiểm soát, họng pháo của Bắc Kinh sẽ hướng tới các đảo bãi khác thuộc quần đảo Trường Sa.


Cụm cứ điểm của Trung Quốc tại Đá Vành Khăn, nơi Trung Quốc đặt các thiết bị chỉ huy cho 7 điểm chiếm đóng trái phép ở Trường Sa

Trải qua hơn 60 năm, chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông dần dần chuyển từ phòng thủ sang tiến công. Đặc biệt, khi xem xét sự kiện bãi cạn Scarborough, người ta thấy Trung Quốc càng có xu hướng sử dụng ưu thế trên biển và phương thức dùng vũ khí theo kiểu không đổ máu để uy hiếp Philippines nhằm giành quyền kiểm soát ở đây. 25 năm đầu sau khi xây dựng chính quyền, mối uy hiếp về quốc phòng của Trung Quốc chủ yếu đến từ đất liền. Từ bán đảo Triều Tiên ở phía Đông Bắc tới Ấn Độ ở phía Tây Nam và Liên Xô trước đây ở phía Bắc đều đã xảy ra chiến tranh với quy mô lớn nhỏ khác nhau, khiến cho lực lượng lục quân trở thành trọng điểm xây dựng quân đội Trung Quốc lúc đó. Ở hướng biển, về cơ bản, Trung Quốc không đủ lực để quan tâm tới Biển Đông và Biển Hoa Đông.

Năm 1974, tuy lực lượng hải quân còn mỏng yếu, Trung Quốc vẫn ra tay cướp quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa của Việt Nam) từ tay chính quyền Nam Việt Nam. Nhưng đó là do lúc ấy chính quyền Nam Việt Nam đang lung lay, chuẩn bị sụp đổ, còn đồng minh của Trung Quốc, miền Bắc Việt Nam lại đang bận tấn công giải phóng miền Nam. Cho nên, Trung Quốc mới nhân cơ hội này cướp lấy Hoàng Sa. Hành động này của Trung Quốc được cho là có sự may mắn. Nhưng cho dù như thế nào, sau cuộc chiến này, Trung Quốc cuối cùng cũng đặt được chân lên các đảo ở Biển Đông. Trong khi đó, các nước xung quanh Biển Đông đã nhắm đến quần đảo Trường Sa, nơi có nhiều đảo hơn và phân bố cũng rộng hơn.

Hơn 10 năm sau, nghĩa là từ nửa cuối của thập niên 80 của thế kỷ trước, các nước như Việt Nam, Philippines và Malaixia đã cắm được cờ ở quần đảo Trường Sa. Lúc này, Trung Quốc mới vội vàng ra tay, cưỡng chiếm 6 đảo, trong đó có đảo đá Vĩnh Thử (đảo Đá Chữ Thập của Việt Nam) và năm 1988, sau trận hải chiến với Việt Nam, Trung Quốc đã giành được quyền kiểm soát đối với đảo đá Xích Qua (bãi Gạc Ma của Việt Nam).

Cuộc hải chiến bãi Gạc Ma là trận đánh thứ hai của Trung Quốc ở Biển Đông, cũng là trận đánh đầu tiên ở quần đảo Trường Sa. Nhờ cuộc hải chiến này, Trung Quốc đã mở được cánh cửa để tranh chấp chủ quyền quần đảo Trường Sa với các nước liên quan như Việt Nam, Philíppin và Malaixia… Năm 1995, Trung Quốc lại tiến thêm một bước, chiếm đảo Mỹ Tế (đảo Đá Vành Khăn) gần Philippines. Cộng thêm 6 đảo mà Trung Quốc giành quyền kiểm soát vào năm 1988, tới nay Trung Quốc đã đưa quân đội tới đóng ở 7 đảo thuộc quần đảo Trường Sa.

Dù vậy, trước năm 2010, ngoài việc cố thủ ở quần đảo Hoàng Sa và 7 đảo thuộc quần đảo Trường Sa, trong vấn đề tranh chấp Biển Đông, Trung Quốc vẫn thiên về tuyên bố ngoại giao hơn là hành động thực chất. Nhưng từ năm 2010 trở đi, Trung Quốc rõ ràng đã chuyển sang xu hướng cứng rắn trong vấn đề Biển Đông. Trước tiên là việc quân đội Trung Quốc bắt đầu cử tàu chiến, tàu công vụ tới tuần tra dày đặc ở vùng biển thuộc quần đảo Trường Sa, nơi Philippines và Việt Nam chuẩn bị thăm dò khai thác dầu khí. Hành động này quả thực đã khiến Philippines phải dừng kế hoạch khai thác dầu ở vùng biển thuộc bãi Lễ Nhạc (bãi Cỏ Rong).

Tiếp đó, Trung Quốc đã thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” thực hiện quyền quản lý đối với các đảo ở Biển Đông, chủ động hơn trong việc điều tra thủy văn Biển Đông. Hơn nữa, Trung Quốc còn khuyến khích ngư dân ra quần đảo Trường Sa đánh bắt cá, trực tiếp dẫn ngư dân ra đây tuyên bố chủ quyền trước Việt Nam và Philippines. Sau sự kiện bãi cạn Scarborough, Trung Quốc càng thể hiện sức mạnh trực tiếp hơn. Bắc Kinh đã sử dụng tàu hải giám để bảo vệ ngư dân Trung Quốc tác nghiệp tại vùng biển thuộc đảo Hoàng Nham và đối đầu với tàu chiến của Philippines. Ở vòng ngoài, Bắc Kinh sử dụng tàu chiến làm nhiệm vụ sẵn sàng chi viện. Nhờ cách dùng “binh đao” theo kiểu không đổ máu này, Bắc Kinh đã giành được quyền kiểm soát đối với đảo Hoàng Nham, chỉ còn thiếu mỗi việc là đưa quân ra đồn trú, biến nơi đây trở thành cứ điểm chuyển tiếp quan trọng trong việc chuyển hướng xử lý vấn đề Biển Đông từ phòng thủ sang tấn công.


Sau khi giành quyền kiểm soát đối với bãi cạn Scarborough vốn không có quân đồn trú, vào tháng 5/2013, Trung Quốc lại hướng tầm mắt vào chiếc tàu quân sự phế liệu mắc cạn ở bãi Cỏ Mây đang có binh sĩ Philippines đồn trú. Trung Quốc sử dụng tàu chiến, tàu hải giám và tàu cá trực tiếp uy hiếp, khiến Philippines không dám tiếp viện cho quân đồn trú trên đó. Mục đích của Trung Quốc không ngoài việc khiến Philippines gặp phải khó khăn, nản lòng phải rút binh sĩ đi và giành lấy quyền kiểm soát bãi Cỏ Mây.

Căng thẳng ở Biển Đông diễn biến nguy hiểm

Christian Le Miere, chuyên gia cấp cao về hải quân và an ninh hàng hải thuộc Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS), ngày 29/5, cho rằng vụ giết hại ngư dân đảo Đài Loan (ngày 9/5) cho thấy hình ảnh một Biển Đông khá mới mẻ. Đó là nguy cơ sử dụng khu vực biển này làm nơi giải quyết những bức xúc, bất đồng liên quan đến nhiều vấn đề khác nhau. Vụ việc càng chứng tỏ Biển Đông vẫn là một khu vực bất ổn và rất dễ bùng phát thành xung đột với sự hiện diện của quân đội các nước, các bên có tuyên bố chủ quyền. “Ngoại giao pháo hạm” đã được áp dụng để tạo sức mạnh răn đe ngay tại vùng biển quốc tế.

Tại Singapore, Mỹ đã triển khai siêu hạm USS Freedom. Là một trong 4 tàu tác chiến ven bờ tối tân của Hải quân Mỹ, USS Freedom sẽ có mặt ở đảo quốc Singapore trong một vài năm tới. Việc Mỹ tăng cường hiện diện quân sự sẽ tác động đáng kể tới tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông cũng như bức tranh chiến lược tại khu vực này./.

Hoài Nam

Nguồn: http://toquoc.vn/Sites/vi-vn/details/7/ho-so-quoc-te/116919/tac-dong-chien-luoc-cua-cuoc-xung-dot-bien-dong-i.aspx

—–

Tác động chiến lược của cuộc xung đột Biển Đông (II)

(Toquoc)-Chính sách bên miệng hố chiến tranh của Trung Quốc thúc đẩy hình thành tập hợp lực lượng và cân bằng quyền lực mới ở Đông Nam Á/Đông Á.

Tác động chiến lược của cuộc xung đột Biển Đông (I)

Kết quả của việc xây dựng quân đội và lực lượng hải quân của Trung Quốc đã và đang được thể hiện rất rõ trong các cuộc xung đột Biển Đông hiện nay. Trung Quốc là cường quốc thống trị khu vực đã và đang sử dụng tất cả các công cụ mạnh mẽ để đạt được mục tiêu chiến lược kiểm soát toàn bộ Biển Đông.

Tranh chấp Biển Đông đã phát triển quy mô quốc tế, gây lo ngại toàn cầu

Tạp chí Á-Âu (Mỹ) gần đây có bài phần tích nêu rõ, tranh chấp Biển Đông đã phát triển tới quy mô quốc tế và gây nên mối lo ngại toàn cầu trên cơ sở “bảo vệ các lợi ích chung toàn cầu”, “tự do hàng hải” và “sử dụng không hạn chế các tuyến đường biển quốc tế”. Do đó, tranh chấp ở Biển Đông chuyển từ cuộc xung đột do Trung Quốc phát động chống các nước ASEAN thành Trung Quốc chống lại Mỹ và cộng đồng quốc tế. Về địa chiến lược, Biển Đông không phải “vùng biển nội địa của Trung Quốc”. Về chiến lược và quân sự, Biển Đông nằm ở vị trí quan trọng không những cho phép kiểm soát Đông Nam Á mà toàn bộ khu vực Nam và Đông Á. Do tầm quan trọng chiến lược đó, việc mở rộng hoạt động ra toàn bộ Tây Thái Bình Dương dẫn đến căng thẳng Mỹ-Trung.

Trung Quốc có các mục tiêu chiến lược quan trọng trong các cuộc xung đột leo thang ở Biển Đông. Chiến lược Lớn của Trung Quốc gồm 2 mục tiêu gồm: thứ nhất, buộc Mỹ rút khỏi Đông Á và Tây Thái Bình Dương bằng cách sử dụng chính sách bên miệng hố chiến tranh quyết đoán ở tất các vùng biển Tây Thái Bình Dương khiến Mỹ mệt mỏi hoặc thụ động; thứ hai, Trung Quốc sẽ xây dựng và phát triển sức mạnh hải quân gần ngang bằng sức mạnh của hải quân Mỹ ở Tây Thái Bình Dương. Mục tiêu cơ bản lớn hơn của Trung Quốc là phát triển các khả năng sức mạnh ngày càng tăng của lực lượng hải quân không những dọc bờ biển Trung Quốc mà cả ở Ấn Độ Dương. Chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông chủ yếu xoay quanh 3 trụ cột: thứ nhất, đề phòng/ngăn chặn/gây khó khăn cho việc quốc tế hóa các bất đồng Biển Đông bằng mọi giá; thứ hai, chia rẽ sự đoàn kết của ASEAN để ngăn chặn khu vực hóa các tranh chấp; thứ ba, thường xuyên gia tăng sức ép các tranh chấp Biển Đông ở mức khiến Mỹ không thể can thiệp quân sự trực tiếp, nhưng khu vực sẽ là một điểm tạo sức épchiến lược.


Hai chuỗi phòng vệ hải đảo được Mỹ thiết lập từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, là đối tượng mà hải quân Trung Quốc đang nỗ lực vượt qua, thông qua một số hành lang hẹp

Vì vậy, trong chừng mực nào đó, Mỹ sẽ can thiệp để bảo vệ sự thống trị chiến lược ở châu Á-Thái Bình Dương và bảo vệ an ninh của các liên minh quân sự cũng như các mối quan hệ chiến lược mới của Mỹ trong khu vực. Đây là một khuôn khổ chiến lược, trong đó cuộc xung đột Biển Đông phải được xem xét trong thập kỷ thứ hai của thế kỷ 21. Hiện nay vấn đề kinh tế và an ninh năng lượng dường như đứng thứ hai. Các yếu tố quyết định chiến lược sẽ làm lu mờ những cuộc tranh cãi về pháp lý và chủ quyền Biển Đông.

Tranh chấp Biển Đông đã và đang tạo nên những tác động chiến lược toàn cầu. Những phát triển trong cuộc xung đột Biển Đông ngày càng thu hút sự quan tâm của các nước ngoài khu vực và quốc tế. Sự mất đoàn kết ở khu vực Đông Nam Á và thiếu khả năng quân sự trong khu vực để ngăn chặn những hành động quyết đoán của Trung Quốc trong các cuộc xung đột Biển Đông đang mở đường cho các nước liên quan đến khu vực Biển Đông đứng về phía các nước bị Trung Quốc bao vây và đe dọa. Mỹ là sức mạnh đối trọng; Nhật Bản và Ấn Độ được đánh giá là các đối trọng hỗ trợ Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương để kiềm chế chính sách bên miệng hố chiến tranh của Trung Quốc. Nga là một cường quốc châu Á-Thái Bình Dương cũng sẽ bị lôi kéo tham gia sau khi Mátxcơva tuyên bố chiến lược trở lại châu Á-Thái Bình Dương. Trong cuộc xung đột Biển Đông không chỉ Mỹ có những hành động công khai ngăn chặn Trung Quốc mà Nhật Bản và Ấn Độ cũng có những hành động chống lại Trung Quốc về chính trị, nếu không nói là về quân sự. Các nước châu Á nhận thấy Trung Quốc không phải là một quốc gia có trách nhiệm về an ninh và sự ổn định của châu Á. Và tình trạng leo thang ngày càng tăng của các tranh chấp Biển Đông đã gây ra một số tác động chiến lược lớn.

Xung đột Biển Đông gây nên sự phân cực và thúc đẩy sự cân bằng cơ cấu quyền lực ở châu Á-Thái Bình Dương. Quan điểm thù địch và xung đột của Trung Quốc về các tranh chấp Biển Đông hiện đang làm tăng sự phân cực chiến lược của châu Á. Sự phân cực châu Á dẫn đến “sự cân bằng mới giữa các cơ cấu quyền lực ở châu Á-Thái Bình Dương”.

Năm 2013, xuất hiện của cơ cấu “cân bằng sức mạnh” mới

Trọng tâm chiến lược ngăn chặn Trung Quốc của Mỹ là “Chuỗi đảo thứ nhất” – một chuỗi đảo chiến lược chạy gần như song song với các nước ven Biển Đông Á ở Tây Thái Bình Dương.

Tây Thái Bình Dương có tầm quan trọng chiến lược đối với Mỹ vì nó giúp Mỹ xây dựng vành đai phòng thủ bên ngoài Lục địa Mỹ và tạo bàn đạp gần Trung Quốc để can thiệp quân sự khi cần thiết. Do nó có vị trí địa lý gần Trung Quốc và thuận lợi cho việc triển khai quân sự, Mỹ và các nước đồng minh có thể bao vây Trung Quốc bằng quân sự Trong chuỗi đảo chỉ có một số hành lang cho phép hải quân Trung Quốc thoát ra Thái Bình Dương.

Năm 2013, khu vực châu Á-Thái Bình Dương chứng kiến sự xuất hiện của cơ cấu “cân bằng sức mạnh” mới. Nói rộng hơn, Mỹ tăng cường cơ cấu liên minh quân sự hiện có ở Đông Bắc Á trên cơ sở Nhật Bản, Hàn Quốc và Philippines; khẳng định sự hiện diện của Mỹ trong những mối quan hệ an ninh với các nước ven Biển Đông bằng cách tìm kiếm các mối quan hệ chiến lược với Việt Nam, Indonesia và phát triển quan hệ đối tác chiến lược quan trọng với Ấn Độ, ngoài ra mở cửa chiến lược với Myanmar.

Trung Quốc coi Mỹ là mối đe dọa số một. Điều này dẫn đến mối quan hệ Mỹ-Trung Quốc rất mỏng manh, không chắc chắn và đây có thể là sự khởi đầu của một cuộc chiến tranh lạnh.

Các cuộc xung đột Biển Đông ngày càng leo thang là thách thức tiềm tàng nhất mà Trung Quốc có thể tạo ra để chống lại Mỹ.

Cam kết với ổn định và an ninh ở khu vực Biển Đông của Mỹ cần được cụ thể hóa rõ ràng, tin cậy và hiệu quả. Nếu xu hướng này không được thúc đẩy vì lo ngại rủi ro và chiến lược bao vây Trung Quốc, lúc đó Mỹ cũng có thể tự chôn vùi chiến lược ở châu Á-Thái Bình Dương.

Mặc dù khá muộn, nhưng các nước ASEAN nhận thấy mối đe dọa Trung Quốc là thực tế và mối đe dọa chủ yếu diễn ra trên biển. Các nước ASEAN đang nỗ lực xây dựng các khả năng ngăn chặn của lực lượng hải quân và hải giám để chống lại Trung Quốc.

Cuộc đối đầu xung đột của Trung Quốc trên Biển Đông đánh thức Nhật Bản và Ấn Độ tăng cường hiện đại hóa quân đội. Chính sách bên miệng hố chiến tranh mạnh mẽ của Trung Quốc trong các cuộc xung đột Biển Đông đã phát đi lời cảnh báo Nhật Bản và Ấn Độ phải xem xét các khả năng răn đe của họ nhằm chống lại Trung Quốc. Nhật Bản và Ấn Độ nhận thấy cần tạo ra một đối trọng châu Á để chống lại sức mạnh quân sự của Trung Quốc. Hai nước đều bị ảnh hưởng trước sự quyết đoán và chính sách bên miệng hố chiến tranh của Bắc Kinh trong các tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc. Nhật Bản đang áp dụng các biện pháp theo hướng tự vệ lớn hơn về sức mạnh răn đe và phòng thủ chống Trung Quốc. Chính sách bên miệng hố chiến tranh của Trung Quốc ở quần đảo Senkaku có lẽ buộc Nhật Bản phải tạo ra khả năng quân sự độc lập chứ không thể lệ thuộc vào chiếc ô an ninh của Mỹ. Nhật Bản cho rằng việc kiểm soát toàn bộ Biển Đông của Trung Quốc có thể gây khó khăn kinh tế và chiến lược cho Nhật Bản, do đó Tôkyô sẽ tìm cách ngăn chặn tình huống đó. Các cuộc xung đột Biển Đông và diễn biến trên biển Hoa Đông khiến Nhật Bản không những phải xem xét lại Hiến pháp Hòa bình mà còn xây dựng khả năng quân sự răn đe Trung Quốc. Cuối cùng Ấn Độ cũng nhận rõ bản chất, ý đồ và hành động của Trung Quốc qua các vụ tranh chấp biên giới, bao vây chiến lược và thách thức hải quân Ấn Độ ở Ấn Độ Dương. Hiện nay Ấn Độ nổi lên như một bên tham gia liên quan đến an ninh và ổn định ở Biển Đông. Gần đây Ấn Độ và Nhật Bản tỏ ra quan tâm hơn đến cuộc xung đột Biển Đông và sự nhất trí chiến lược “Phòng thủ Chung Toàn cầu”.

Tuyên bố chiến lược trở lại châu Á-Thái Bình Dương gần đây của Nga cho thấy một đối thủ mới và mạnh hơn xuất hiện trong khu vực và sẽ tác động đến các cuộc xung đột tương lai./.

Hoài Nam (Gt)

—–

Nguồn: http://www.toquoc.vn/Sites/vi-vn/details/7/ho-so-quoc-te/117038/tac-dong-chien-luoc-cua-cuoc-xung-dot-bien-dong-ii.aspx

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
This entry was posted in Archives, Articles, India, International relations, Teaching and tagged , , , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s