Chiến tranh trăm năm giữa Pháp và Anh

biên dịch: hongsonvh 

Vi đây là cuộc chiến kéo dài đến gần 120 năm lúc đánh lúc nghỉ giữa Anh và Pháp cùng các đồng minh của họ nên để cho bạn đọc dễ hiểu người sưu tầm sẽ lập bố cục như sau:

-Giới thiệu tổng quát về chiến tranh trăm năm ( nguyên nhân, diễn biến chính, nội bộ hoàng tộc các phe …)
-Tóm tắt diễn biến của chiến tranh trăm năm theo dòng lịch sử
-Giới thiệu về vũ khí, trang bị, chiến thuật của các bên tham chiến
-Giới thiệu chi tiết những trận đánh lớn, những danh tướng trong chiến tranh trăm năm

Vì cách bố cục như vậy nên không tránh khỏi việc các sự kiện sẽ bị lặp đi lặp lại, mong các bác đón đọc và góp ý

Giới thiệu tổng quát về chiến tranh trăm năm

Chiến tranh trăm nămlà một loạt các trận chiến diễn ra từ năm 1337-1453 giữa Nhà Valois và Nhà Plantagenet-vốn còn được gọi là Nhà Anjou ( đến từ vùng Anjou nước Pháp), để tranh giành ngôi nước Phá lúc này bị bỏ trống sau khi chi nhánh trưởng của dòng Capetian-dòng Hoàng tộc của vua Pháp bị tuyệt tự. Nhà Valois tuyên bố kế thừa ngai vị Vua của Pháp, trong khi Nhà Plantagenet cũng tuyên bố đòi hỏi này. Các vị vua Nhà Plantagenet là những người cai trị Vương quốc Anh từ thế kỷ 12 và có nguồn gốc từ các vùng Anjou và Normandy của Pháp.

Cuộc xung đột kéo dài 116 năm nhưng vẫn được điểm vào bởi một số thời kỳ hòa bình, trước khi cuối cùng nó kết thúc với việc trục xuất Nhà Plantagenets ra khỏi nước Pháp (ngoại trừ hạt Calais). Cuộc chiến cuối cùng là một chiến thắng cho nhà Valois, những người đã thành công trong việc chiếm lấy quyền kiểm soát mà nhà Plantagenet nắm giữ lúc ban đầu và trục xuất phần lớn người Anh ra khỏi nước Pháp vào những năm của thập kỷ 1450. Tuy nhiên, cuộc chiến tranh đã làm nhà Valoi gần như kiệt quệ trong khi nhà Plantagenet lại làm giàu cho bản thân họ bằng cách có được những số tiền rất lớn cướp bóc được từ lục địa. Còn bản thân người Pháp thì lại bị thiệt hại nghiêm trọng từ cuộc chiến bởi vì hầu hết các cuộc xung đột đều xảy ra trên lục địa và chính xác hơn là ở trên lãnh thổ nước Pháp.

“Chiến tranh trăm năm” trong thực tế là một loạt các cuộc xung đột và thường được chia thành ba hoặc bốn giai đoạn: Cuộc chiến của Nhà Edward (1337-1360), Cuộc chiến của Nhà Caroline (1369-1389), Cuộc chiến của Nhà Lancaster (1415-1429), và sự suy giảm vận may của Nhà Plantagenet sau khi có sự xuất hiện của Joan of Arc (1412-1431). Một số cuộc xung đột khác tại thời đó ở châu Âu cũng đã có trực tiếp liên quan đến cuộc xung đột này: Chiến tranh thừa kế Breton, Nội chiến Castilian, Cuộc chiến của hai Peters và cuộc Khủng hoảng 1383-1385. Thuật ngữ ” chiến tranh Trăm năm” “là một thuật ngữ sau này được phát minh bởi các nhà sử học hiện đại để miêu tả sự kiện này.

Cuộc chiến tranh còn có ý nghĩa lịch sử của nó ở một số yếu tố. Mặc dù nó là một cuộc xung đột chủ yếu ở các triều đại, chiến tranh cũng tạo động lực cho ý thức hệ dân tộc của cả người Pháp và người Anh. Về mặt Quân sự, nó cũng đã thấy sự ra đời của những loại vũ khí mới và những chiến thuật mới-những loại vũ khí và chiến thuật mới này đã bào mòn hệ thống quân đội kiểu cũ của phong kiến mà lực lượng kỵ binh hạng nặng chiếm ưu thế và cũng bắt đầu đánh bại sự thống trị của kỵ binh hạng nặng ở Tây Âu. Lần đầu tiên quân đội thường trực được sử dụng trong chiến tranh ở Tây Âu kể từ thời điểm Đế quốc La Mã phương Tây sụp đổ, do đó nó đã thay đổi vai trò của nông dân. Bởi tất cả những đặc điểm này, cũng như khoảng thời gian kéo quá dài của nó, nó thường được xem là một trong những cuộc xung đột quan trọng nhất trong lịch sử chiến tranh thời Trung cổ. Ở Pháp các quốc nạn như nội chiến, dịch bệnh, nạn đói và các đội quân cướp bóc … đã làm giảm dân số của nước Pháp xuống khoảng một nửa.

Nguyên nhân của cuộc xung đột có thể bắt đầu từ năm 1066, khi William, Công tước xứ Normandy, Dẫn đầu cuộc xâm lược vào nước Anh. Ông đã đánh bại quân đội Anh dưới sự chỉ huy của Vua Harold II tại Trận Hastings ( mời các bác quay lại trang 7 cùng toppic để tham khảo chi tiết ) và đã tự mình lên ngôi vua của nước Anh. Trong khi đó với chức danh Công tước của Normandy, ông vẫn là một chư hầu của vua Pháp và được yêu cầu phải thề trung thành lời thề với vua Pháp thay mặt cho vùng đất của mình tại Pháp, đối với một vị vua phải thề trung thành với một vị vua khác được coi là một điều nhục nhã, và các vị vua Anh người gốc Norman đã thường cố gắng để tránh phải làm việc này. Về phía Pháp, những vị quốc vương dòng Capetian luôn cảm thấy bực bội vì một vị vua nước láng giềng đang nắm giữ quá nhiều đất đai ( các vùng đất của Anh tại Pháp là Aquitani, Normandy, Angevin, Brittany… ) trong vùng lãnh thổ riêng của họ và họ tìm cách để hóa giải các mối đe dọa mà nước Anh đã áp đặt vào nước Pháp.

Sau khoảng thời gian lâm vào nội chiến và bất ổn ở Anh vốn được biết đến như Thời Anarchy (1135-1154), triều đại Anglo-Norman đã được kế thừa bởi các vị vua dòng Angevin. Ở đỉnh cao quyền lực Công tước xứ Angevin kiểm soát vùng Normandy và Anh quốc cùng với các vùng đất khác như Maine, Anjou,Touraine, Poitou, Gascony, Saintonge và Aquitaine (Tập hợp của những vùng đất này đôi khi còn được gọi là Đế quốc Angevin). Vua của nước Anh trực tiếp cai trị nhiều vùng lãnh thổ trên lục địa châu Âu hơn so với bản thân vua của nước Pháp. Tình trạng này – trong đó các vị vua nhà Angevin phải nợ tình trạng lệ thuộc trước một nhà cai trị ( vua Pháp ) mà trên thực tế người này yếu hơn họ rất nhiều – là một nguyên nhân của cuộc xung đột liên tục. Vua John của Anhquốc thừa kế đã thừa kế những tài sản rất lớn từ Vua Richard I ( Risa Sư tử tâm ). Tuy nhiên, vua Philip II của Pháp đã có những hành động dứt khoát để khai thác những điểm yếu của vua John cả trên mặt pháp lý và quân sự, và vào năm 1204 ông ta đã thành công trong việc giành giật từ tay nhà nhà Angevin quyền kiểm soát hầu hết các vùng đất thuộc Anh ở trên lục địa Âu châu. Những trận chiến tiếp theo như Trận Bouvines (1214), cùng với trận chiến Saintonge (1242) và cuối cùng là Chiến tranh Saint-Sardos (1324), đã lấy đi toàn bộ những vùng đất mà nhà Angevin đang nắm giữ trên lục địa này chỉ trừ một số lãnh đại nhỏ xíu ở xứ Gascony và thậm chí toàn bộ lãnh địa công tước xứ Normandy đã rơi vào tay vua Pháp.

Đến thế kỷ 14, rất nhiều người trong giới quý tộc Anh vẫn còn nhớ có một thời gian các bậc tiền bối đời trước của họ đã kiểm soát những vùng giàu có ở tại lục địa châu Âu, chẳng hạn như Normandy-nơi mà họ luôn luôn coi là quê hương của tổ tiên của họ. Họ coi đó là động lực để giành lại quyền sở hữu vùng lãnh thổ này.

Khủng hoảng trong Triều đình Pháp: 1314-1328

Các sự kiện cụ thể là nguyên nhân để dẫn đến chiến tranh đã xảy ra ở Pháp, nơi mà những người con trai trưởng thuộc dòng Trực hệ của Nhà Capetian đã liên tục kế thừa lẫn nhau trong nhiều thế kỷ. Đó là triều đại dài nhất liên tục nhất trong thời trung cổ ở châu Âu. Năm 1314, vua Philip IV trực hệ trưởng của Nhà Capetian đã qua đời để lại ba người thừa kế nam: Louis X, Philip V và Charles IV. Isabella-người con thứ tư của vua Phillip IV đã kết hôn với Edward II của Anh và năm 1312 bà này đã sinh hạ một cậu con trai được đặt tên là Edward Windsor-đây là người thừa kế tiềm năng cho ngai vàng của Anh quốc ( qua người cha của ông) và Pháp quốc (qua ông nội của ông).

Louis X-con trai trưởng và là người thừa kế của Philip IV đã chết trong năm 1316, chỉ để lại di chúc truyền ngôi cho John I-người con trai được sinh ra sau khi ông mất nhưng rồi cậu bé mới đã được sinh ra cũng đã chết cùng năm đó và một con gái được đặt tên là Joan-mặc dù ông này không công nhận cô bé.

Khi xảy ra cái chết của Louis X và John I thì Philip V-người con trai thứ hai của Philip IV, tìm cách chiếm ngai vàng cho mình bằng cách tung những tin đồn rằng cô cháu gái Joan là một kết quả của một cuộc ngoại tình của mẹ cô (và do đó bị cấm không được kế vị). Một viện chứng hỗ trợ cho đòi hỏi của ông này là điều luật Salic, nó khẳng định rằng phụ nữ không thể kế thừa ngôi vua Pháp. Khi chính Philip V chết trong năm 1322 thì con gái của ông cũng bị gạt sang một bên và quyền đòi hỏi ngai vàng lại được lọt vào tay người chú-Charles IV-người con trai thứ ba của Philip IV.

Năm 1324, Charles IV của Pháp và Edward II của Anh quốc-anh rể của ông đã chiến đấu với nhau trong một trận chiến ngắn Saint-Sardos ở Gascony. Sự kiện chính của cuộc chiến là cuộc vây hãm ngắn gọn pháo đài La Réole của Anh ở Garonne. Quân đội Anh được chỉ huy bởi Edmund của Woodstock, Bá tước xứ Kent đã bị buộc phải đầu hàng sau một tháng bị bắn phá từ các khẩu pháo công thành của quân Pháp sau khi ông này không thấy có quân tiếp viện. Cuộc chiến là một thất bại hoàn toàn cho quân Anh và chỉ còn Bordeaux và một dải hẹp ven biển thuộc lãnh địa công tước Aquitaine là vẫn nằm trong tay người Anh.

Thu hồi lại những vùng đất đã bị mất này đã trở thành một tâm điểm của nền ngoại giao của người Anh. Cuộc chiến thất bại cũng đã càng làm mất uy tín của vua Edward II trước các quý tộc Anh ( ông này cũng là người đã thua te tua trước người Scotland ở trận Bannockburn năm 1314) và đã dẫn đến việc ông này bị lật đổ khỏi ngôi vị vào năm 1327và con trai của ông-Edward of Windsor đã trở thành vua Edward III của Anh quốc. Charles IV qua đời năm vào 1328 chỉ để lại một người con gái và một đứa trẻ chưa sinh-người cũng đã được xác định là một bé gái. Do đó chi trưởng của Triều đại Capetian đã kết thúc và tạo ra một cuộc khủng hoảng trong kế thừa ngôi vị vua Pháp.


Bản đồ thể hiện mối quan hệ họ hàng giữa Philip VI-vua Pháp và Edward III-vua Anh

Trong khi đó tại Anh, Hoàng tử Edward Windsor trẻ tuổi đã trở thành vua Edward III của Anh năm 1327. Cũng là cháu trai của Charles IV của Pháp quốc, Edward là người gần gũi nhất của Charles và là hậu duệ duy nhất còn sống nam của Philip IV. Bằng kiến giải luật phong kiến theo kiểu Anh thì Edward III là người thừa kế ngai vàng hợp pháp của nước Pháp.

Tuy nhiên các quý tộc Pháp lại cảm thấy ngần ngại trước viễn cảnh phải có một vị vua người nước ngoài-đặc biệt người đó lại chính là vua của nước Anh. Họ khẳng định, dựa trên giải thích của họ về Luật Salic cổ xưa thì thừa kế của hoàng tộc không thể truyền cho phụ nữ hoặc cho con cái của họ. Do đó, nam giới cao tuổi nhất của nhà triều đại Capetian sau Charles IV là Philip Valois-cháu nội của Philip III của Pháp quốc sẽ là người thừa kế hợp pháp trong con mắt của người Pháp. Ông đã đảm nhận chức vụ nhiếp chính sau cái chết của Charles IV và được phép lên ngôi sau khi người vợ góa của Charles sinh con gái. Philip Valois đã lên ngôi như Philip VI-vị vua đầu tiên của Nhà Valois-nhánh thứ của nhà Capetian.

Joan II của Navarre-con gái của Louis X, cũng có một yêu cầu về tính pháp lý cho việc thừa kế ngôi vua Pháp nhưng không đủ sức mạnh để biến nó thành hiện thực. Vương quốc Navarre cũng không có tiền lệ nhà cầm quyền là phụ nữ (Nhà Capettian thừa hưởng nó qua Joan I của Navarre-bà của bà này) và như vậy theo hiệp ước bà và chồng-Philip của Évreux, được cho phép để thừa kế vương quốc này, tuy nhiên cùng vẫn hiệp ước này buộc Joan và chồng phải chấp nhận việc Philip VI nối ngôi tại Pháp và phải bỏ quyền thừa kế vùng lãnh địa Champagne và Brie cho vua Pháp để đổi lấy những lãnh địa kém hơn. Joan và Philip của Évreux sau đó đã sinh ra một người con trai-Charles II của Navarre năm 1332, sau đó Charles thay thế Edward III làm người thừa kế nam của Philip IV và là họ hàng gần với Louis X, mặc dù Edward vẫn là người thừa kế nam có họ hàng gần với Saint Louis, Philip IV và Charles IV.

Vào đêm trước của cuộc chiến tranh: năm 1328-1337

Sau khi Philip VI kế thừa ngai vàng thì người Anh vẫn kiểm soát vùng Gascony. Vùng này sản xuất các loại hàng quan trọng là muối và rượu vang và có lợi nhuận rất cao. Đó là một vùng đất phong riêng biệt nằm lọt thỏm vào vùng đất của vương quốc Pháp hơn là một lãnh thổ của nước Anh. Sở hữu của vùng đất này là một tranh chấp quyết liệt giữa hai vị vua. Philip VI thì muốn Edward công nhận chủ quyền của mình, Edward lại muốn chiếm lại những vùng đất đã bị mất bởi cha. Một thỏa hiệp ” homage ” đã không làm hài lòng không bên nào đã được ký kết vào năm 1329, nhưng trong năm 1331 vì phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng ở quê nhà, Edward đã chấp nhận Philip là Vua của Pháp quốc và từ bỏ tuyên bố của ông về ngôi vua Pháp. Trong thực tế người Anh vẫn giữ vùng Gascony, đổi lại Edward từ bỏ tuyên bố của ông như là một vị vua hợp pháp của nước Pháp.


Bản đồ nước Pháp năm 1328 cho thấy vùng Guyene vẫn còn nằm trong tay người Anh

Năm 1333, Edward III tiến hành một cuộc chiến tranh chống lại David II của Scotland, Một đồng minh thuộc Auld Alliance Pháp, và bắt đầu cuộc chiến tranh giành độc lập lần Thứ hai của Scotland ( thời Trung cổ người Scotland luôn đứng về phía người Pháp để chống lại người Anh, thậm chí vua Philip XII đã từng thành lập một đội ngự lâm quân toàn người Scotland). Philip nhìn thấy cơ hội để đòi lại vùng Gascony trong khi nước Anh đang tập trung sự chú ý về phía bắc. Tuy nhiên, cuộc chiến tranh này ít nhất ban đầu lại là một thành công nhanh chóng cho quân Anh và vua David đã buộc phải chạy trốn sang Pháp sau khi bị đánh bại bởi vua Edward và Edward Balliol tại Trận Hill Halidon vào tháng Bảy. Năm 1336, Philip đã lên kế hoạch cho một chuyến chinh phạt để khôi phục David lên ngôi Scotland và cũng để chiếm lấy vùng Gascony.

Chiến tranh trăm năm giai đoạn của nhà Edward năm 1337-1360

Chiến tranh của nhà Edward là giai đoạn đầu tiên của chiến tranh Trăm năm, nó kéo dài từ năm 1337-1360, từ khi bùng nổ chiến tranh cho đến khi ký kết Hiệp ước Brétigny. Thời kỳ 23 năm này được đánh dấu bằng những chiến thắng cực kỳ đáng kinh ngạc của Edward III của Anh quốc và Hoàng tử Đen-con trai của ông, đó là hai Trận đánh Crécy và Poitiers. Trong trận chiến cuối cùng, vua John II của nước Pháp đã bị bắt tù binh và trong những năm sau đó nước Pháp đã gần như hoàn toàn lâm vào hoàn cảnh vô chính phủ và nội chiến. Kết quả là, nước Pháp đã bị buộc phải ký một hiệp ước hòa bình nhục nhã. Hòa bình chỉ kéo dài chín năm cho đến giai đoạn thứ hai của cuộc chiến trăm năm nổ ra đó là cuộc chiến của nhà Caroline.

Vùng đất thấp năm 1337-1341

Trong khi nước Pháp trong đầu thế kỷ 14 ngày càng chở nên là một vương quốc phong kiến tập quyền, Các tiểu bang Đức của Đế quốc La Mã Thần thánh đã trở thành bị phân tán ( quyền lực thực tế ở trong các vương hầu của từng bang, không còn nằm trong tay Hoàng đế nữa ). Điều này có nghĩa rằng là các thành bang Vùng đất thấp lúc này trên thực tế trở thành có chủ quyền, các vương hầu của họ có sức mạnh ngang ngửa với nhà vua Pháp. Trong tháng 8 năm 1337, phần lớn trong số họ đã ký một hiệp ước liên minh với nước Anh. Đổi lại cho sự phục vụ của phong kiến họ, Edward III đã hứa sẽ trả các khoản phí lớn. Một tiểu bang láng giềng là quận quốc Flander, một thái ấp nằm lọt vào trong Vương quốc Pháp, có những khó khăn của riêng nó-ngành công nghiệp dệt vải lớn của nó hoàn toàn phụ thuộc vào bông nhập khẩu từ Anh. Nhưng thương mại (giữa Flander và Anh) đã bị cấm vận bởi chính phủ Anh năm 1336 và vào tháng 12 tình hình đã trở nên quá nghiêm trọng đến mức những người thợ thủ công đã nổi loạn. Vị bá tước đã bị buộc phải trốn và một chính phủ mới được thành lập tại Ghent do thương nhân Jacob van Artevelde cầm đầu. Philip VI đã buộc phải chấp nhận tình trạng trung lập của Flanders.

Do những khó khăn liên tiếp về quản lý hành chính và tài chính, Edward đã không thể vượt qua Channel để đến Antwerp trước khi tháng 7 năm 1338. Vào lúc đó thì Kho bạc của người Anh đã trống rỗng. Để nộp phí đã hứa với đồng minh của mình, Edward đã bị buộc phải vay mượn rất nhiều từ các nhà ngân hàng lớn Bardi và Peruzzi và nhiều nhà cho vay nặng lại địa phương. Những nỗ lực này đã buộc Edward phải một lần nữa trì hoãn cuộc xâm lược của ông vào Pháp.

Vì sự đe dọa của cuộc xâm lược của quân Anh đã tạm thời qua đi, chính phủ Pháp có thể chi dùng tài nguyên của nó ở nơi khác. Trong khi người Anh còn thiếu một hạm đội có tổ chức và thay vào đó họ phải sử dụng tàu buôn cồng kềnh, thì người Pháp đã thuê tầu Galley từ Genoa, Và với hạm đội này họ đã có thể tấn công hầu như bất cứ lúc nào vào bờ biển nước Anh. Portsmouth đã bị đột kích, Southampton đã bị bao vây và Guernsey đã bị chiếm giữ. Trong tháng 12 năm 1338 xứ Gascony đã xâm lược. Oliver Ingham-quan trấn thủ của xứ Gascony là một chỉ huy có năng lực nhưng hầu như không nhận được sự giúp đỡ từ nước Anh nên ông đã bị buộc phải chấp nhận phòng ngự thụ động. Trong tháng 4 năm 1339 lâu đài quan trọng của Penne ở Agenais và hai thành phố Blaye và Bour ở Garonne rơi vào tay Pháp, mở ra một hướng tấn công vào công quốc từ phía Bắc.

Các chiến dịch của Pháp trên biển được tiếp tục vào mùa xuân năm 1339, nhưng với ít thành công hơn nhiều so với năm trước. Trên bờ biển Anh, lính nghĩa vụ ở các quận đã được huy động với những chi phí rất lớn và những kẻ cướp đã bị đánh đuổi ra khỏi bờ biển nước Anh trước khi kịp gây nhiều thiệt hại. Trong tháng 8 đã có những cãi về các khoản chi trả trong đội ngũ Genovese-> kết quả là một cuộc binh biến và hầu hết các tầu Galley đã quay trở lại Italy.

Mặc dù thực tế thì các cuộc tấn của Pháp chỉ gây ít thiệt hại nhưng nó có tác dụng kéo nguồn tài nguyên cuảngười Anh ra khỏi vùng biên giới khác của nó và tình hình của người Anh tại Scotland đã ngày càng trở nên xấu đi. Trong tháng 8 người Scotland chiếm lại Perth, một trong những cứ điểm mạnh nhất của người Anh mới được xây dựng ở phía bắc Firth of Forth. Vào lúc này vua Edward III đã không còn được cho vay bởi các chủ ngân hàng Ý. Nhưng thay vào đó ông đã nhận được khoản cho vay khổng lồ từ William Pole, vương miện của Edward đã được mang đi thế chấp và một số người bạn của ông cũng đã được gửi đi làm con tin như là một sự bảo đảm. Lãi suất cao chưa từng có là đến 50% năm.

Sợ rằng kế hoạch của ông sẽ bị sụp đổ ngay, Edward rất cần có một số kết quả quân sự tích cực. Cuối cùng vào tháng 9, ông đã phát động một cuộc xâm lược vào nước Pháp, cùng với các đồng minh mới của ông. Người Anh tấn công dữ dội vào Cambrésis và Thiérache, Nhưng không chiếm được bất cứ nơi nào có giá trị. Hết lương thực, Edward III thách người Pháp đánh trận tại La Chapelle ngay 23 tháng 10 năm 1339, nhưng Philip VI, người đã thân chinh chỉ huy quân Pháp, đã từ chối giao chiến và quân đội Anh-Đức đã được phép rút lui qua biên giới.

Trong năm 1339, quan hệ Anh-Flemish ngày càng trở nên thân thiện hơn khi Jacob van Artevelde đã củng cố được vị trí của mình ở Flanders. Đến tháng 12 Flemings đã sẵn sàng để chính thức gia nhập liên minh chống Pháp. Tuy nhiên, ở đỉnh cao của thời trung cổ, nổi loạn chống lại nhà vua mở hợp pháp của mình là một trong những trọng tội. Vì vậy, để bảo đảm sự liên minh với Flanders, và để loại bỏ các tội lỗi của những người nổi loạn ra khỏi cuộc chiến của ông, vào ngày 26 tháng 1 năm 1340 Edward tự xưng làm vua của nước Pháp ở quảng trường chợ chính ở thành phố Ghent. Ngay sau đó, ông đã bỏ đến nước Anh và để lại một sự lo lắng sâu sắc cho Quốc-hội.

Năm 1340 tình hình trên biển đã xoay chiều. Ở Genoa, người Anh đã ngoại giao để thuyết phục các viên thuyền trưởng nhận tiền và ở lại cảng và vào tháng Giêng, một hạm đội nhỏ của Anh đã đột kích vào Boulogne và đốt cháy hạm đội tầu Galley của Pháp đang đóng ở trong cảng. Vì đã cháy sạch các tầu Galley của mình, người Pháp đã bị buộc phải trưng dụng các tàu buôn. Để chuẩn bị cho cuộc xâm lược tiếp vào Anh, hạm đội Pháp đã tập trung ở bờ biển Flanders. Ngày 24 tháng 6, hai hạm đội đã gặp nhau trong Trận Sluys. Kết quả là trận này đã kết thúc với chiến thắng thuộc về người Anh và họ đã phá hủy gần như toàn bộ hạm đội Pháp. Có thể có đến 18.000 người Pháp đã thiệt mạng và 190 tàu bị bắt. Đây là một đòn đánh đặc biệt mạnh vào vùng Normandy-nơi đã cung cấp phần lớn tàu bè và thủy thủ cho quân Pháp. Sau đó người Anh đã thống trị English Channel cho đến hết phần còn lại của cuộc chiến để ngăn chặn một cuộc xâm lược của người Pháp.

Những nguy cơ nghiêm trọng trong hệ thống phòng thủ của Gascony cũng được giảm bớt trong một thời gian. Hai trong ba quý tộc gốc Pháp ở phía tây nam, Bá tước Armagnac và Bá tước Foix từ lâu đã là những kẻ thù truyền kiếp. Lúc này mối hận thù đã bùng nổ thành chiến tranh. Người thứ ba-Bertrand-Aiz Albret, công khai đào thoát sang phía người Anh, kéo theo một số rất lớn các bạn bè của ông, những người chịu ảnh hưởng và các chư hầu. Quân nổi loạn (pro Anh) đã không thành công trong việc chiếm bất kỳ nơi nào có tầm quan trọng thực sự, nhưng các cuộc xung đột này đã lan sang cả các tỉnh trước đó chưa bị ảnh hưởng bởi cuộc chiến.

Vào mùa xuân năm 1340, Philip VI lên kế hoạch để phá vỡ liên minh chống Pháp bằng cách tấn công vào các đồng minh của Edward III. Quân đội Pháp xâm lược Hainaut vào tháng 5. Nhưng khi nghe được tin tức về thảm họa tại Sluys, ông đã chuyển sự chú ý của mình vào mối đe dọa mới. Edward III chia quân đội của mình thành hai đạo. Đạo quân đầu tiên do Robert của Artois-một quý tộc Pháp lưu vong chỉ huy, xâm lược Artois. Nhưng trong một trận chiến với các đơn vị đồn trú ở Saint-Omer ngày 26 tháng 6, hầu hết đội quân này đã bị tiêu diệt và Robert đã bị buộc phải rút lui. Cùng ngày Edward III đã xuất hiện trước các bức tường của thành phố Tournai-một trong những thành phố lớn nhất của Pháp. Cuộc bao vây kéo dài và trong tháng 9 Philip VI đã xuất hiện cùng với quân đội lớn của Pháp. Philip VI lại một lần nữa từ chối không chịu chiến đấu với quân Anh trong một trận chiến mở. Với các đồng minh của ông lúc này ở trong tình trạng bên bờ vực thẳm, Edward chẳng có thể làm gì nhiều ngoài việc thương lượng. Trong thỏa thuận ngừng bắn Esplechin, Ngày 25 tháng 9 năm 1340 các bên đã nhất trí một thỏa thuận ngừng bắn trong 9 tháng.

Thỏa thuận ngừng bắn đã đánh dấu sự kết thúc của một liên minh lớn chống lại vương quốc Pháp. Tất cả các Hoàng thân Đức đã nhất trí với hiệp ước này, chỉ có các thị dân của Flanders là không chịu chấp nhận. Đổi lại cho việc chi ra một số tiền lớn, Edward III đã chẳng đạt được một mục tiêu nào có giá trị về quân sự, ở Anh đã có những thế lực quay ra chống lại ông và nhất là cuộc chiến ở Scotland đã về cơ bản lại bị thất bại. Gần như chở nên phá sản, Edward bị buộc phải cắt lỗ- Edward was forced to cut his losses ( ờ chắc cũng giống như chơi chứng vậy). Đối với những người ủng hộ, ông không thể đủ khả năng để thanh toán những khoản họ đã ứng trước ( ứng ra để chi cho quân khí, tầu bè vv). Các sử gia đương thời đã tuyên bố rằng các ngân hàng lớn như Bardi và Peruzzi ở Florence nằm trong số những ngân hàng đã bác bỏ các khoản vay của ông, dựa vào các bức thư của Giovani Villanni xứ Florentine. ( Giovani Villanni là một đại tài phiệt trong lĩnh vực tài chính ngân hàng của xứ Florence)

Tuy nhiên, vấn đề này đơn giản chỉ là Villanni không phải là một nguồn tài chính độc lập, anh trai của ông là một thành viên của ngân hàng Peruzzi. Villanni nói rằng Edward nợ ngân hàng Bardi 900,000 đồng florin vàng (£ 135,000) và Peruzzi 600.000 đồng florin vàng (£ 90,000) . Tuy nhiên, hồ sơ của nhà Peruzzis cho thấy rằng họ chưa bao giờ có nhiều tiền đến vậy để cho Edward III vay. Edward đã không có khả năng thanh toán đối với tất cả các khoản vay của ông và lại vẫn phải trả lại một khoản tiền mặt hoặc bằng những thứ có giá khác cho khoản len mà Hoàng gia đã mua, một nguyên tắc xuất khẩu của nền kinh tế Anh vào thời điểm đó.

Hơn nữa, lúc này xứ Florence lại đang trải qua một thời gian tranh chấp nội bộ và Acciaiuoli-công ty tài chính lớn thứ ba cũng đã bị phá sản và họ không có tiền để cho Edward vay. Những khoản mà Edward III đã vay nhưng không thể thanh toán này chỉ góp phần vào làm trầm trọng thêm cho những vấn đề tài chính của xứ Florence chứ không phải là nguyên nhân làm họ phá sản. ( thời Trung cổ các thành phố của nước Ý rất nổi danh trong làm dịch vụ, đây nhá Milan sản xuất áo giáp, vũ khí bán khắp châu Âu, Genoa cho thuê lính bắn nỏ và tầu chiến còn Florence cho thuê tài chính ).

Xứ Brittany năm 1341-1345

Ngày 30 tháng 4 năm 1341 John III, Công tước xứ Brittany chết mà không có con, dẫn đến Chiến tranh thừa kế vùng Breton. Quyền thừa kế vùng này bị tranh chấp giữa John de Montfort và Charles de Blois, với hầu hết các quý tộc đều ủng hộ Charles de Blois. John de Montfort phải ra tay hành động và nhanh chóng Nantes-thủ phủ của vùng này và sau đó đánh chiếm ngân khố của công quốc ở tại Limoges. Đến giữa tháng 8, John de Montfort đã chiếm hầu hết toàn bộ các vùng đất của công quốc, bao gồm cả ba thành phố chính, Nantes, Rennes và Vannes. Tính đến thời điểm này, cuộc khủng hoảng về thừa kế chỉ là một công việc hoàn toàn trong nội bộ công quốc, nhưng sau đó những tin đồn đến được tai Philip VI của nước Pháp rằng John de Montfort đã nhận được các tác nhân hỗ trợ từ nước Anh. Thế là Charles de Blois lại trở thành ứng cử viên chính thức của người Pháp. Dù ban đầu không dự định như vậy nhưng lúc này John de Montfort bị bắt buộc phải nhận sự hỗ trợ từ Edward III.

Thỏa thuận ngừng bắn đã được gia hạn cho đến tháng 6 năm 1342, vào khi đó Edward III đã có đủ khả năng ngăn chặn từ bất kỳ hành động tấn công nào từ Pháp. Không gì có thể cản trở nước Pháp khuất phục một chư hầu nổi loạn. Vào tháng 11, sau một cuộc bao vây ngắn, John de Montfort đã bị buộc phải đầu hàng tại Nantes bởi các công dân của thành phố. Đây chắc chắn phải là một cuộc xung đột đẫm máu. Ông đã được mời chào những điều kiện an toàn để giải quyết bằng thương lượng với Charles de Blois, nhưng khi khi sự kiện này xảy ra thì đơn giản ông chỉ bị ném vào tù.

Vào lúc này thì Joanna của Flanders-vợ của John de Montford lại đứng lên nắm quyền chỉ huy những người ủng hộ nhà Montfort. Cho rằng vùng đất của bà ở phía đông là không tiện cho việc phòng thủ, bà cho thành lập trụ sở tại Hennebont ở miền tây Brettany. Trong khi đó ở Paris người ta sợ rằng Edward III sẽ đổ bộ xuống Calais một khi hiệp ước ngưng bắn hết hạn. Do đó lực lượng chính của quân đội Pháp bị thu hồi và Charles de Blois bị bỏ lại để theo đuổi yêu cầu của ông bằng lực lượng riêng của mình. Charles đã sớm chứng tỏ mình hoàn toàn có khả năng về quân sự, Rennes và Vannes đã bị công phá và rất nhiều chỉ huy của nhà Montfort đã phải đào thoát.

Trong xứ Gascony chiến tranh đã trở thành hàng loạt các cuộc xung đột trong giới quý tộc Gascon. Bất chấp thỏa thuận ngừng bắn chính thức ở trong năm 1341, các trận chiến đã không bao giờ được chấm dứt. Sự vi phạm trắng trợn nhất là người Anh chiếm lại thành phố Bourg mùa xuân 1342, Pháp thành công trong việc tái chiếm lại nhiều vùng đất của Anh chỉ để rồi hầu hết trong số này đã rơi trở lại vào bàn tay của người Anh vào năm sau.

Trong cuối tháng 11, Edward III đã xuất hiện với đội quân của ông tại pháo đài Brest. Ông gần như cùng một lúc hành quân để tấn công vào Vannes. Cuộc bao vây kéo dài và một quân đội Pháp đã được tập hợp để giao chiến với quân của ông, nhưng ngày 19 tháng 1 năm 1343, trước khi có thể xảy ra bất kỳ trận chiến lớn nào, hai vị vua đã thoả thuận một cuộc ngưng bắn mới. Thỏa thuận ngừng bắn mới này kéo dài cho đến tháng 9 năm 1346. Vannes đã được ủy quyền cho Giáo hoàng. Về phần John de Montfort-ông này vẫn ngồi trong tù, con trai của ông mới chỉ là một trẻ sơ sinh và gần lúc đó vợ của ông đã phát điên, những vùng lãnh thổ dưới sự kiểm soát của nhà Montfort trong thực tế được quản lý từ London với một đơn vị đồn trú thường trực lớn đóng tại Brest.

Thỏa thuận ngừng bắn Malestroit năm 1343-1345

Lý do chính thức cho cuộc ngưng bắn dài như vậy là để cho phép có thời gian chuẩn bị cho một hội nghị hòa bình và đàm phán về một nền hòa bình lâu dài bởi vì cả hai vương quốc đều bị kiệt sức vì chiến tranh. Ở Anh gánh nặng thuế má đã trở nên quá tải và ngoài việc việc buôn bán lông cừu đã gặp rất nhiều khó khăn ( cho ngành dệt len ). Edward III đã phải dành nhiều năm tiếp theo trả chậm hết các khoản nợ to lớn của mình.

Tại Pháp, Philip VI đã có những khó khăn tài chính của chính mình. Pháp đã không có một hệ thống quản lý và cơ quan thuế vụ các cấp trong cả nước (như ta là Tổng cục thuế và Sở thuế hê hê như vậy là ta văn minh hơn nước Pháp vào thế kỷ 14 nhiều các bác ạ). Thay vào đó, Hoàng gia đã phải đàm phán với các hội đồng tỉnh khác nhau. Theo quy định của tập quán phong kiến ​​cổ điển, hầu hết trong số họ đã từ chối trả tiền thuế trong thời gian có thỏa thuận ngừng bắn. Thay vào đó Philip VI phải sử dụng đến việc in ấn thêm tiền kim loại và các biện pháp không phổ biến khác. Ngoài ra giới quý tộc Pháp đã không có ấn tượng tốt cuộc chiến đã nổ ra (nước Pháp cũng chẳng chiếm được nhiều đất đai mà còn thua trỏng vó ở trận Sluys). Trong mắt họ, Edward III đã cư xử như một vị vua thực sự gan góc trong chiến trường, trong khi Philip VI đã tỏ ra hèn nhát và luôn lẩn tránh cuộc chiến ( nhưng đây lại là cái may của người Pháp vì nếu có đánh trận thực sự thì gần như toàn bộ giới Đại quý tộc Pháp sẽ hoặc bị giết hoặc ngồi tù ở Anh). Nhiều quý tộc Pháp đã bị phá sản vì phải bỏ tiền ra trang bị các dụng cụ chiến tranh tốn kém ( chỉ khi nào thắng trận thì nhà vua mới có tiền để trả lại cho họ-tình huống của người Anh cũng tương tự). Trong một cuộc chiến tranh mang nặng mầu sắc phòng thủ sẽ không có cướp bóc, không có những trận chiến mà có thể sẽ mang lại những khoản tiền chuộc lớn.

Năm 1343 Oliver Ingham được gọi trở lại Anh và Nicholas Beche được bổ nhiệm làm quan Tổng trấn xữ Gascony thay ông kia. Ông này cố duy trì cuộc ngưng bắn lâu nhất có thể. Không có chiến dịch quân sự lớn nào, nhưng ông cũng không thành công trong việc khôi phục lại hòa bình và chấm dứt nội chiến. Các quý tộc Gascon luôn tin rằng chiến tranh là một đặc quyền cổ xưa ( các nhà quý tộc chỉ biết khua gươm, múa kiếm, trong hòa bình không ai thuê họ cả -> khả năng chết đói cao hê hê) và khi tình hình tài chính của nước Pháp bị suy thoái thì chiến tranh luôn kết hợp với cướp bóc. Các băng nhóm routiers đầu tiên ( lính đánh thuê tự do ) bắt đầu xuất hiện vào lúc này. Đây là những băng nhóm lớn gồm các chiến binh chỉ trên danh nghĩa dưới sự kiểm soát của người Anh. Thông thường, họ sẽ bất ngờ chiếm một thị trấn hoặc một lâu đài có tầm quan trọng chiến lược của địa phương. Từ căn cứ này, họ sẽ cướp bóc các khu vực xung quanh cho đến khi không có thứ gì có giá trị còn lại và sau đó họ lại chuyển sang vị trí khác mầu mỡ hơn. Lực lượng này không chỉ hoàn toàn tàn phá vùng đất nơi họ đã đi qua, mà còn làm cho dân chúng địa phương phải tập trung nguồn lực của họ vào phòng thủ ở cấp độ địa phương và do đó các khoản tài chính nộp lên chính quyền trung ương ở Paris ngày càng ít đi và càng làm cho tình hình tài chính của Pháp càng suy xụp.

Người Anh chiến thắng vào năm 1345-1351

Ngày 05 tháng 7 năm 1346, Edward III dong buồm từ Portsmouth với khoảng 750 tàu và 7,000-10,000 lính bắt đầu một cuộc tấn công lớn từ Englis Channel. Đi cùng với ông là Edward, Hoàng tử đen (Edward của Woodstock)-con trai của ông mới gần 16 tuổi, gần đây đã được phong làm Hoàng tử xứ Wales. Ngày 12 tháng 7, Edward đã đổ bộ xuống Hague trong Bán đảo Cotentin của vùng Normandy. Jean Froissart đã viết trong quấn biên niên sử của ông như sau:

Khi nhà vua Anh đến Saint-Vaast Hogue, nhà vua bước ra khỏi con tàu của mình, và đặt bước chân đầu tiên của ông ta lên mặt đất, ông đã bước hụt và ngã một cú rất nặng làm ông bị giập và chảy máu mũi. Các hiệp sĩ đã xốc ông lên và nói: “. Thưa Chúa công, Chúa đã lắc con tàu của ngài, dường như hôm nay không phải là một ngày tốt lành mà có vẻ như đây là một dấu hiệu xấu đối với chúng ta” Sau đó nhà vua nhanh chóng trả lời “Vậy sao? đây là một dấu hiệu tốt đối với ta, vì các vùng đất mà ta muốn có”. Những câu trả lời của ông làm cho tất cả người của ông đã cảm thấy vui trở lại. Sau đó trong ngày và đêm sau nhà vua cho dựng một ngôi lều trên cát và trong khi chờ đợi những con tàu chở ngựa và hành lý khác của họ. Nhà vua đã phong chức cho hai Thống Chế, một là lãnh chúa Godfrey của Harcourt và người kia là Bá tước của Warwick và Bá tước Arundel giữ chức nguyên soái . Và ông giao cho Bá tước Huntingdon nhiệm vụ bảo vệ hạm đội tàu của mình với một trăm kị sỹ và bốn trăm cung thủ: số binh sỹ còn lại được ông biên chế thành 3 chiến đoàn ( từ nguyên văn là three battles, vua Edward có từ 7-> 10 nghìn lính đem chia 3, nếu gọi là trung đoàn, tiểu đoàn là quá nhiều-tạm dịch chiến đoàn hoặc đạo binh) Một chiến đoàn hành quân bên phải ông, sát với bờ biển, một chiến đoàn khác ở bên trái và nhà vua thì đi cùng với chiến đoàn ở giữa và đêm đến tất cả lại cùng hạ trại ở một chỗ.

Quân Anh hành quân xuyên qua Normandy. Philip đã tập hợp một đội quân lớn để chống lại ông ta và Edward đã chọn để hành quân về vùng đất thấp phía bắc, tiến hành cướp bóc những vùng ông đã đi qua hơn là cố gắng để chiếm và giữ các vùng lãnh thổ. Trong thời gian này, ông đã có hai trận chiến thành công, đó là trận đột kích vào Caen và Trận Blanchetaque. Cuối cùng không thể lẩn tránh mãi đội quân của Philip, Edward đã bố trí lực lượng của mình cho trận chiến và Philip đã tấn công vào của quân đội ông tại Trận Crécy nổi tiếng. Lực lượng quân đội Pháp với số lượng lớn hơn rất nhiều lần đã thực hiện một loạt các cuộc tấn công từng phần vào bộ binh Anh và cung thủ trường cung xứ Wales, và tất cả các cuộc tấn công đã bị đánh tan tác với tổn thất nặng nề cho đến khi người Pháp buộc phải rút lui. Crécy là một thất bại tan nát đối với người Pháp.

Edward hành quân tiến về phía Bắc mà không bị cản trở và tiến hành bao vây Calais-thành phố ven biển trên English Channel, ông chiếm giữ nó trong năm 1347. Một chiến thắng của Anh trước người Scotland trong Trận Cross of Neville đã dẫn đến việc bắt giữ vua David II của Scotland và làm giảm rất nhiều mối đe dọa từ Scotland. (như vậy là người Anh đã chiến thắng trên cả hai mặt trận Scotland ở phía Bắc và Pháp ở phía Nam).

Năm 1348, bệnh dịch hạch Black Death đã bắt đầu quét qua châu Âu và ở cả Anh và Pháp đều phải chịu hậu quả rất lớn. Sự kiện này ngăn cản nước Anh tài trợ và phát động bất kỳ cuộc tấn công lớn nào vào nước Pháp. Tại Pháp, Philip VI qua đời năm vào 1350 và được thay thế bởi John II (“John the Good”)-con trai ông.

Sự sụp đổ của chính phủ Pháp năm 1351-1360

Các cuộc xung đột lẻ tẻ với giữa người Pháp với Anh vẫn tiếp tục, trong đó có sự kiện mang tính mã thượng đáng chú ý chẳng hạn như Trận chiến Ba mươi trong năm 1351, trong đó Chateau Josselin đã chọn ra 30 hiệp sĩ nổi tiếng nhất của Pháp để đánh bại 30 hiệp sĩ của người Anh ( người Pháp luôn thua người Anh ở lực lượng cung thủ bắn trường cung-những bình dân người xứ Wales, còn các Hiệp sỹ Pháp luôn đánh thắng và trên phân Hiệp sỹ Anh ). Để phù hợp với truyền thống mã thượng, người Pháp đã cho chuộc lại rất nhiều hiệp sỹ Anh vốn bị đánh bại, bao gồm cả những người như Robert Knolles và Hugh Calveley-những người sau này tiếp tục chiến đấu chống người Pháp một cách thành công hơn.

Sau khi bệnh dịch Cái chết đen đã qua đi và người Anh đã có thể phục hồi tình hình tài chính, Edward Hoàng tử đen-con trai của Edward III đã xâm lược nước Pháp vào năm 1356 tại xứ Gascony và giành một chiến thắng lớn trong Trận Poitiers, nơi mà các cung thủ Anh lặp lại cùng một chiến thuật đã được sử dụng tại Crécy và vị quý tộc xứ Gascon-Captal de Buch ( lúc này ở xứ Gascon các quý tộc rất hăng hái làm lính đánh thuê cho người Anh) đã chỉ huy một đợt phản công thành công bằng kị binh và bắt tù binh John II của Pháp quốc-nhà vua mới của nhà Valois cùng với rất nhiều quý tộc của Pháp. John đã buộc phải ký một thỏa thuận ngừng bắn với Edward và trong khi ông vắng mặt thì chính phủ Pháp đã bắt đầu sụp đổ. Tiền chuộc John được đề ra là hai triệu Ecu (đọc là Equy), nhưng John tin rằng ông ta phải có giá trị nhiều hơn thế và nhấn mạnh rằng tiền chuộc của ông phải được nâng lên thành bốn triệu đồng Equy (đúng là bác này được mệnh danh là the Good có khác).

Cuối năm đó (1356) Hiệp ước London lần thứ 2 đã được ký kết, trong đó khoản tiền chuộc bốn triệu Ecu được bảo đảm bằng việc các thành viên trong hoàng tộc của gia đình Valois đến London và ở lại làm con tin trong khi John trở về Pháp để huy động khoản tiền chuộc bản thân mình. Theo một phần của hiệp ước thì người Anh được sở hữu các vùng Normandy, Brittany, Anjou, Maine và tất cả những bờ biển từ Flanders cho Tây Ban Nha, do đó khôi phục lại nguyên trạng của Đế quốc Angevin (đất tổ tiên của nhà Plantagenet). Bởi là những con tin thuộc hoàng tộc-họ hoàn toàn được quyền tự do đi lại và khi vua John đã quay về nước Pháp, một số các con tin đã nhanh chóng tìm cách trốn thoát trở về Pháp. John the Good là người nghĩa hiệp và cực kỳ giữ chữ tín, đã sợ rằng từ danh dự của ông sẽ bị mất đi và quay trở lại Anh để chịu tù đầy, cuối cùng ông đã chết ở Anh như một tù nhân vào năm 1364 và đã được đưa tang trong một đám tang long trọng và được tôn vinh như là một người đàn ông tuyệt vời bởi nhà Plantagenet (bỏ qua sự ngốc nghếch và tí gàn dở, cám hấp thì ông đúng là một người đàn ông tuyệt vời).

Năm 1358, một cuộc khởi nghĩa nông dân ở Pháp được gọi là Jacquerie ( hội người đi giày cỏ ) đã nổ ra. Nó có nguyên nhân một phần bởi những thiệt hại của người dân ở nông thôn do chiến tranh và thù hận của họ với giới quý tộc địa phương. Được lãnh đạo bởi Guillaume Kale (Carle hoặc Cale), họ được gia nhập lực lượng bởi nông dân ở các làng khác và bắt đầu trong vùng Beauvais ở phía Bắc Paris, họ đã có những hành động tàn bạo chống lại các quý tộc và phá hủy nhiều lâu đài trong vùng. Toàn bộ các nhóm nổi dậy đã bị đánh bại vào mùa hè sau đó tại trận chiến Mello và sự trả thù là cực kỳ khủng khiếp.


Bản đồ nước Pháp sau Hòa ướcBrétigny, lãnh của Pháp màu xanh, lãnh thổ của Anh mầu đỏ, lãng thổ Anh kiểm soát 90% mầu hồng, lãnh thổ Anh kiểm soát 70 % có mầu trắng

Edward III đã tiến hành xâm lược nước Pháp với hy vọng lợi dụng sự bất mãn của người dân Pháp để chiếm ngôi vua, nhưng mặc dù quân đội Pháp đã không chống nổi ông ta ở những vùng này, ông cũng đã không thể chiếm nổi Paris hoặc Rheims từ Charles V Dauphin ( nhà Valoi có gia huy là một chú cá heo nên có biệt hiệu là Dauphin ) và ông này đã phải chấp nhận thương thảo Hiệp ước Brétigny. Theo Hiệp ước này thì Edward chấp nhận từ bỏ đòi hỏi ngôi vua nước Pháp nhưng lại mở rộng được lãnh thổ của ông ta ở Aquitani và khẳng định chủ quyền của Anh ở Calair.

Hiệp ước Brétigny

Hiệp ước Brétigny là một Hiệp ước quốc tế được ký ngày 08 tháng 5 năm 1360, giữa Vua Edward III của Anh quốc và Vua John II (the good) của nước Pháp. Nó đã được làm chi tiết bởi Hiệp ước Calais ký ngày 24 tháng 10 cùng năm. Hiệp ước này đã được ký kết tại Brétigny-một ngôi làng ở gần Chartres và đánh dấu sự kết thúc của giai đoạn đầu tiên của chiến tranh Trăm năm (1337–1453), cũng như đỉnh cao của quyền bá chủ của người Anh ở trên Lục địa. Hiệp ước đã được ký kết vài năm sau khi vau John bị bắt làm tù binh chiến tranh tại Trận Poitiers ( ngày 19 tháng 9 năm 1356). Các cuộc xung đột tiếp theo ở Paris giữa Étienne Marcel và nhà Dauphin (một nhánh của nhà Valoi-sau này Vua Charles V) và sự bùng phát của cuộc khởi nghĩa nông dân Jacquerie làm suy yếu sức mạnh thương lượng của Pháp. Hiệp ước đã không dẫn đến hòa bình lâu dài, nhưng nó đã tạo ra khoảng thời gian chín năm nghỉ ngơi trong chiến tranh năm trăm. Trong những năm sau đó, lực lượng Pháp lại tham gia vào những trận chiến chống lại liên minh Anglo -Navarrais (Nguyên soái Pháp – Bertrand du Guesclin đã chiến thắng tại Cocherel vào ngày 16 tháng 5 năm 1364) và Bretons.

Các đòi hỏi lớn của người Anh, những người muốn mang lại càng nhiều càng tốt những lợi thế trong tuyên bố chủ quyền của họ trong Hiệp ước London năm trước, đã tạo khó khăn trong các cuộc đàm phán và các cuộc thảo luận cho các điều khoản của hiệp ước đã được bắt đầu sớm trong tháng 4 và kéo dài hơn một tháng. Theo điều khoản của hiệp ước này Edward III đã thu được Guyenne và Gascony, Poitou, Saintonge, Aunis, Agenais, Périgord, Limousin, Quercy, Bigorre, lãnh thổ công tước của Gauré, Angoumois, Rouergue, Montreuil-sur-Mer, Ponthieu, Calais, Sangatte, Han và Guînes. Nhà vua Anh được nắm giữ những vùng đất này một cách rõ ràng, không phải trả tiền và cũng không phải làm nghĩa vụ chư hầu vì chúng. Ngoài ra hiệp ước này còn quy định rằng danh hiệu vua của tất cả các hòn đảo mà nhà vua Anh sau đó nắm giữ sẽ không còn thuộc Quyền bá chủ của nhà vua nước Pháp nữa.

Về phía mình, nhà vua nước Anh phải từ bỏ công quốc Touraine, các lãnh địa công quốc Anjou và Maine và quyền bá chủ đối với xứ Brittany và Flanders. Ông cũng phải từ bỏ tất cả các tuyên bố lên ngôi vua Pháp. Các điều khoản của Hiệp ước Brétigny có ý nghĩa để gở rốI những trách nhiệm phong kiến mà chúng đã gây ra rất nhiều cuộc xung đột và sâu xa hơn thì người Anh quan tâm đến lãnh thổ Anh ở Pháp sẽ tập trung vào một phiên bản mở rộng của vùng Aquitaine.

John II đã phải trả ba triệu đồng Ecu vàng để trả tiền chuộc của mình và sẽ được thả tự do sau khi ông đã trả một triệu. Đây cũng là lần đầu tiên đồng frăng được đúc ra và nó tương đương với một phần năm đồng Livre. Như là một sự đảm bảo cho việc thanh toán tiền chuộc bản thân mình, John đã hai con trai của ông, một số hoàng tử và quý tộc, bốn cư dân của Paris, và hai công dân từ một trong 19 thị trấn chính của nước Pháp. Hiệp ước này được phê chuẩn và hai vị vua cùng con trai của họ đã tuyên thệ vào ngày 24 tháng 10 năm 1360 tại Calais. Đồng thời các điều kiện đặc biệt liên quan đến mỗi chương quan trọng của hiệp ước và các điều khoản từ bỏ trong đó các vị vua từ bỏ quyền của họ trên các lãnh thổ mà họ đã trao đổi cho nhau đã được ký kết. Cuối cùng thì Edward III đã quay lại Anh và nghỉ ngơi. ( Ông này không bao giờ còn tham chiến với người Pháp nữa ).

Khi Louis I-Công tước xứ Anjou-con trai yêu của John II (Một trong những con tin) đã trốn thoát khỏi Anh năm 1362, John II đã tự đến một mình để làm tù nhân (sự việc này đã đề cập ở trang trước). Ông qua đời năm 1364 trong khi bị giam cầm và Charles V đã kế nhiệm ông làm vua của nước Pháp. Năm 1369 với lý do rằng Edward III đã không tuân thủ các điều khoản của hiệp ước Brétigny, vua Pháp lại tuyên chiến một lần nữa.

Vào thời gian vua Edward III của Anh quốc qua đời trong năm 1377, quân đội Anh đã bị đẩy lui trở lại vào sâu lãnh thổ của họ ở phía tây nam của Bordeaux.

Chiến tranh kế vị xứ Castile

Cuộc nội chiến xứ Castile đầu tiên kéo dài ba năm kể từ năm 1366 đến 1369. Nó trở thành một phần của cuộc xung đột lớn hơn dữ dội hơn sau đó giữa Vương quốc Anh và Vương quốc của Pháp trong chiến tranh trăm năm. Các trận chiến chủ yếu diễn ra ở Vương quốc Castile và các vùng biển ven đất liền giữa lực lượng địa phương và lực lượng liên quân của Peter-nhà vua trị đang vì với lực lượng của Henry của Trastámara-anh trai ngoài giá thú của ông ta về quyền vương của Castile.


Tranh vẽ trận chiến Najera Froissart trong nội chiến xứ Castile, phe của Perter ở bân trái và được người Anh hỗ trợ, phe của Henry ở bên phải và được người Pháp hỗ trợ

Nguyên nhân

Peter đã được gọi là người ủng hộ ông là “ Quan tòa” và bởi kẻ dèm pha ông là “ Gã thô thiển”. Đối với giới quý tộc có địa vị xã hội cao cấp thì ông là một bạo chúa. Ông đã mở rộng quyền lực của hoàng tộc và đã tham gia vào một cuộc chiến tranh với xứ Aragon (Còn gọi là “Cuộc chiến của hai Peters” vì vua của xứ Aragon cũng tên là Peter).

Henry-người anh em ngoài giá thú của ông nhanh chóng thu được sự hỗ trợ của giới quý tộc không chỉ ở địa phương mà còn ở Pháp, Aragon và Giáo hoàng. Năm 1366, ông chính thức lật đổ người anh trai vốn là vua của Castile, León, Toledo và Seville rồi tự xưng làm vua tại tu viện Las Huelgas.

Xung đột

Peter đã trốn sang Bayonne, Một thành phố ở xứ Gascony nằm trong quyền quản lý của Anh. Ở đó, ông đã yêu cầu Edward, Hoàng tử đen, chi viện để đổi lấy đất ở Castile và đã được ông kia chấp nhận. Với đội quân do vị hoàng tử Anh chỉ huy, ông trở quay trở lại Castile và tái khẳng định quyền lực của mình trong năm 1367 và buộc Henry phải quay trở về Pháp sau khi Peter chiến thắng trong Trận Najera (Navarette). Nhưng Henry đã từ chối, tuy nhiên tài ngoại giao rất xuất sắc của ông đã làm cho người Anh và đồng minh của họ-bao gồm cả bản thân Hoàng tử xứ Wales đã rút quân. Trong năm 1368, Henry và Charles của Pháp đã ký Hiệp ước Toledo theo đó Castile chi viện cho Pháp một hạm đội tại Vịnh Biscay để đổi lấy viện trợ quân sự của Pháp trên bộ.

Henry đã trở lại xứ Castile vào năm 1369 và đã giết chết Peter tại Trận Campo de Montiel. Ông được tôn xưng làm Henry II và ngay lập tức củng cố cai trị của mình bằng cách loại bỏ những người Người Do Thái ra khỏi những chức vụ cao cấp trong triều đình. Tại thời điểm này Castile trở thành một đồng minh một đồng minh trung kiên của người Pháp trong cuộc chiến tranh đang tiếp diễn của họ.

Cuộc chiến của nhà Karoline năm 1369 -> 1389

Cuộc chiến của nhà Caroline là giai đoạn thứ hai của chiến tranh Trăm năm giữa Pháp và Anh sau cuộc chiến của nhà Edward. Cuộc chiến này được đặt theo tên Charles V của nước Pháp ( Charles còn được viết là Karles sau đó biến đổi thành Karoline), người đã nối lại cuộc chiến trăm năm sau khi Hiệp ước Brétigny ký năm 1360 đã kết thúc. Trong tháng 5 năm 1369, Hoàng tử Đen-con trai của Edward III của Anh quốc đã từ chối một giấy triệu tập không hợp lệ từ nhà vua Pháp ( thực ra là để tạo cớ) yêu cầu ông đến Paris và Charles phản ứng bằng cách tuyên bố chiến tranh. Ông ngay lập tức đảo ngược được những thiệt hại về mặt lãnh thổ tại vùng Brétigny và ông đã thành công trong phần lớn cuộc đời của mình. Charles VI-người kế nhiệm ông vốn là một người ít có năng lực, đã ký kết hòa bình với Richard II-cũng lại là người con trai ít có năng lực của Hoàng tử đen trong năm 1389. Thỏa thuận ngừng bắn này đã được kéo dài nhiều lần cho đến khi chiến tranh được nối lại trong năm 1415.

Triều đại của Charles V đã thấy cảnh người Anh bị đẩy lùi trở lại. Mặc dù John de Montfort người yêu cầu quyền thừa kế Lãnh địa công tước Brittany vốn được người Anh hậu thuẫn đã đánh bại và giết chết Charles của Blois-người mà nước Pháp hậu thuẫn trong Trận Auray trong năm 1364, nhưng cuối cùng John và người thừa kế của ông đã vẫn phải hòa giải với vua Pháp. Chiến tranh Kế vị Breton đã kết thúc trong thắng lợi của người Anh, nhưng đã không mang đến cho họ những lợi thế lớn. Trong thực tế, người Pháp nhận được lợi thế từ việc cải thiện chiến thuật chiến tranh từ người chỉ huy đến từ xứ Breton-Bertrand du Guesclin-Nguyên soái của nước Pháp, người đã bỏ đi khỏi xứ Breton và phục vụ cho nhà vua Charles và trở thành một trong những vị tướng thành công nhất của ông.

Vào khoảng thời gian đó, một cuộc chiến tranh ở Tây Ban Nha đã làm phân tán những nguồn lực của Hoàng tử đen từ năm 1366. Cuộc nội chiến Castile vốn là cuộc đọ sức giữa Pedro the Cruel, người có con gái là Constance và Isabella đã kết hôn với John của Gaunt và Edmund của Langley vốn là anh em của Hoàng tử đen, để chống lại Henry của Trastámara. Trong năm 1369 với sự hỗ trợ của Du Guesclin, Henry đã lật đổ Pedro để trở thành Henry II của Castile. Sau đó ông này đã tuyên chiến với nước Anh vốn liên minh với người Bồ Đào Nha.

Chiến tranh hai mươi năm

Ngay đầu năm 1370 John Chandos-quan trấn thủ người Anh ở Poitou đã bị giết chết tại một chiếc cầu ở Château Lussac. Cái chết của vị chỉ huy này là một đòn đáng kể giáng vào người Anh. Jean de Grailly III, Đại úy de Buch …cũng bị bắt và bị tống giam bởi Charles-người không cảm thấy bị ràng buộc bởi những quy định về tinh thần mã thượng “lỗi thời”. Du Guesclin tiếp tục tiến hành một loạt các chiến dịch được lên kế hoạch cẩn thận, tránh những nơi có lực lượng Anh mạnh mẽ đang chiếm đóng và ông chiếm lại hết thành phố này đến thành phố khác, bao gồm cả Poitiers trong năm 1372 và Bergerac trong năm 1377. Du Guesclin-người mà theo sử gia Jean Froissart cho biết, đã khuyên nhà vua Pháp không nên tấn công trực diện vào người Anh trong vùng này và ông đã thành công với chiến thuật Fabian ( tránh tấn công đối diện, tăng cường tấn công quấy rối, nhỏ và lẻ tẻ ) Mặc dù trong hai trận đánh lớn duy nhất mà ông đã tham gia chiến đấu, trận Auray (1364) và trận Najera (1367), ông đều bị đánh bại và bị bắt tù binh bởi Hoàng tử Đen ( sau đó nhà vua Pháp lại bỏ tiền chuộc ông về ). Phản ứng của người Anh đối với chiến thuật của Du Guesclin là họ khởi động một loạt các cuộc tấn công phá hoại của các đội quân chinh phạt được gọi là Chevauchées, nhằm một nỗ lực tạo nên một cuộc chiến tranh Tổng lực để xóa sổ vùng nông thôn và đất canh tác của Pháp ( trong nội chiến Hoa kỳ phe miền Bắc mặc dù mạnh hơn nhưng cũng phải chơi bửn như vậy mới thắng được phe miền Nam ). Nhưng Du Guesclin luôn từ chối để bị lôi kéo vào những trận chiến mở. Ông tiếp tục gặt hái được những thành công và tiếp tục chỉ huy quân đội Pháp cho đến khi qua đời vào năm 1380.

Trong năm 1372 sự thống trị trên biển của người Anh vốn đã được duy trì từ sau Trận Sluys, đã bị đảo chiều ít nhất là ở trong Vịnh Biscay, sau khi hạm đội Anh đã bị thất bại thảm hại trước một hạm đội liên quân Pháp-Castile tại Trận La Rochelle. Thất bại này làm suy yếu tuyến đường thương mại và nguồn cung cấp trên biển của người Anh cũng như đe dọa vào lãnh địa của họ ở xứ Gascon.

Trong năm 1376, Hoàng tử đen đã chết trẻ ( ở tuổi 36 ) và trong tháng 4 năm 1377, vua Edward III của Anh gửi Adam Houghton-Quan chưởng ấ́n đến để đàm phán hòa bình với Charles V của Pháp, nhưng rồi vào tháng 6 bản thân Edward cũng đã chết, Houghton đã bị gọi về Anh. Richard của Bordeaux-người vốn không được kính trọng đã được kế thừa và lên ngôi vua của Anh quốc. Không phải cho đến khi Richard bị lật đổ bởi người anh em họ của ông-Henry Bolingbroke vốn gốc Nhà Lancaster, thì người Anh mới nối lại yêu cầu của họ về ngôi vua nước Pháp ( và sự kiện Nhà Lancaster cướp ngôi vua chính là nguyên nhân của cuộc nội chiến kéo dài đến hơn 30 năm ở Anh quốc vào thế kỷ 15) dù gì thì cuộc chiến vẫn được tiếp tục cho đến khi điều ước hòa binh đầu tiên của một loạt các điều ước đã được ký kết vào năm 1389.

Charles V cũng chết trong tháng 9 năm 1380 và được kế vị bởi Charles VI-người con trai vị thành niên của ông, và vị vua trẻ đã bị điều hành bởi các quan nhiếp chính vốn là ba người chú của ông. Khi nằm trên giường bệnh Charles V đã cho bãi bỏ sắc thuế mà triều đình cần để tài trợ cho những nỗ lực chiến tranh. Khi các quan nhiếp chính đã cố gắng để áp đặt lại sắc thuế này thì một cuộc nổi dậy của dân chúng được gọi là Harelle đã nổ ra ở Rouen. Khi sắc thuế này đến được các thành phố khác của Pháp thì cuộc nổi dậy lây lan rộng khắp và bạo lực đã nổ ra ở Paris và hầu hết các thành phố khác của Pháp ở phía Bắc. Các quan nhiếp chính đã buộc phải bãi bỏ sắc thuế này để chấn an dân chúng. ( thế là chả còn tiền để uýnh nhau nữa ).

Thời kỳ hòa bình thứ 2 năm 1398 ->1415

Nội chiến giữa phe phái Armagnac–Burgundy

Cuộc nội chiến Armagnac-Burgundy là một cuộc nội chiến xảy ra ở nước Pháp giữa phe Armagnac và phe Burgundian từ năm 1407->1435 AD. Nó xảy ra trong khi nước Pháp đang bị tàn phá bởi “ Chiến tranh Trăm năm” với người Anh và cuộc chiến tranh xung quanh sự ly khai ở vùng phía Tây khỏi Đức giáo hoàng ( một phần của chiến tranh tôn giáo).

Nguyên nhân của nội chiến

Nguyên nhân của cuộc chiến tranh bắt nguồn từ thời trị vì của Charles VI của Pháp và cuộc đối đầu giữa hai hệ thống nền kinh tế, xã hội và tôn giáo khác nhau. Một mặt là nước Pháp-rất mạnh mẽ trong nông nghiệp, với một hệ thống phong kiến và tôn giáo mạnh mẽ và phía kia là Anh-một đất nước có khí hậu mưa nhiều với những đồng cỏ và chăn nuôi cừu và nơi mà các nghệ nhân, các tầng lớp trung lưu, thành phố đã ngày càng có vị trí quan trọng. Nhà Burgundy được hưởng lợi từ mô hình của người Anh ( một số vùng của xứ Flanders thuộc quyền kiểm soát của công quốc Burgundy, có buôn bán và sản xuất vải len là những thị trường chính cho len của Anh)trong khi nhà Armagnac lại bảo vệ mô hình của Pháp. Trong cùng một cách, sự ly khai của giáo phái phương Tây ( the Western Schism) đã hậu thuẫn cho phong trào chống lại Giáo hoàng Clement VII-vốn có trụ sở ở Armagnac tại Avignon, bị phản đối bởi người Anh vốn ủng hộ Giáo hoàng Urban VI ở Rome.

Từ 1393 năm Charles VI của Pháp bị điên, Nữ hoàng Isabeau của Bavaria chủ trì một Hội đồng nhiếp chính-bao gồm những quý tộc quan trọng của vương quốc. Philip Bold, Công tước xứ Burgundy-bác của Charles VI-là người đóng vai trò nhiếp chính trong thời gian vua còn nhỏ tuổi (1380-1388) là một người có ảnh hưởng lớn đến hoàng hậu (ông đã tổ chức các cuộc hôn nhân hoàng gia trong thời gian làm nhiếp chính). Ảnh hưởng này dần dần chuyển sang Louis I de Valois, Công tước của Orléans-anh trai của nhà vua và người ta nghi ngờ rằng ông này là tình nhân của nữ hoàng. Sau cái chết của Philip Bold, John the Fearless-con trai của ông này làm công tước xứ Burgundy (ông là người ít liên quan đến Isabeau) một lần nữa bị mất ảnh hưởng tại Triều đình. Những người chú bác khác của Charles VI có ít nhiều ảnh hưởng trong thời gian nhiếp chính này là Louis II của Napoli và John, Công tước của Berry – những người từng đứng ra hòa giải giữa phe Orléans (sau này trở thành Armagnac) và phe Burgundy. Sự tranh dành ảnh hưởng cứ tăng dần dần và cuối cùng kết quả là tạo ra một cuộc nội chiến thực sự.

Để phản đối việc mở rộng lãnh thổ của Công tước của Burgundy (bao gồm lãnh địa ở Flanders), công tước xứ Orléans mua đã bỏ tiền ra mua vùng Luxembourg trong năm 1402.

Trong khi Louis của Orléans nhận được 90% thu nhập của ông ta từ kho bạc của hoàng gia, để đi mua đất đai và các pháo đài ở vùng đệm miền đông của vương quốc mà người Burgundy luôn coi đó là vùng đất săn bắn của họ, John the Fearless (người không có uy tín cao như cha của ông) thấy rằng ngân khố của hoàng gia quá keo kiệt với mình (Philip nhận được 200.000 đồng Livre / năm, nhưng bản thân John phải thỏa mãn với 37.000 đồng Livre / năm).

Công tước của Orléans là con rể của John Galéas Visconti và dù nhiều hay ít ông vẫn giữ danh hiệu sở hữu thái ấp phong kiến vùng bán đảo này-Orléans, muốn Charles VI can thiệp quân sự để ủng hộ của mình. Hơn nữa, có vẻ như ông còn muốn cho vua Pháp phá vỡ thỏa thuận ngừng bắn với Anh, thậm chí cho đến lúc đó còn cố gây chiến với Henry IV của Anh, điều mà John the Fearless không cho phép bởi vì ngành công nghiệp ở xứ Flemish phụ thuộc hoàn toàn vào len nhập khẩu từ Anh và (nền công nghiệp này) sẽ bị hủy hoại bởi một lệnh cấm vận đối với hàng hoá từ Anh.

Louis của Orléans-người em của nhà vua là “người cứ hí lên như một con ngựa đực khi ở bên cạnh gần như tất cả các phụ nữ xinh đẹp”, ông này bị cáo buộc muốn dụ dỗ hoặc tệ hơn là “dê cụ” với Margaret của Bayern-nữ công tước của Burgundy. Hơn nữa và thậm chí có tin đồn rằng ông này cũng ”dê cụ” với cả nữ hoàng và–như phe Burgundy tuyên truyền-là người cha thực sự của hoàng tử Charles, người thừa kế ngai vang (vua Charles VII tương lai). chắc chắn Louis đã được gần gũi nữ hoàng và được hưởng lợi từ lòng nhân từ của nhà vua-người em trai, nên ông đã thành công trong việc lật đổ Công tước xứ Burgundy trong hội đồng nhiếp chính.

Bị lật đổ khỏi quyền lực và bị giễu cợt bởi Louis là quá nặng nề với John the Fearless. Lợi dụng sự giận dữ ngày càng tăng lên trong số những người phải nộp thuế-luôn luôn phải chịu áp lực trong thời bình và ông này lưu ý rằng các khoản thuế của họ để tài trợ cho những khoản chi lễ hội phục vụ cho Triều đình ( cho giới quý tộc ăn chơi trác táng chứ không phải quốc kế dân sinh hoặc gìn giữ quốc gia), John bắt đầu chiến dịch để hỗ trợ, tài trợ cho chính sách mị dân của mình (ví dụ: hứa hẹn cắt giảm thuế và cải cách nhà nước-một chế độ quân chủ có giới hạn). Do đó ông đã thu được ủng hộ từ giới thương gia, người dân nghèo và các trường đại học.

John đã đe dọa Paris trong năm 1405 bằng một cuộc biểu dương lực lượng của mình, nhưng ngay cả điều này cũng không đủ để chứng minh và khôi phục lại ảnh hưởng của ông. Do đó ông quyết định loại bỏ đối thủ của mình-người làm ông tức giận, Louis của Orléans bị sát hại ở trên phố Vieille du Temple ở Paris ngày 23 tháng 11, năm 1407, trong khi ông ta đến chỗ ở của nữ hoàng tại Hôtel Barbette sau khi bà ta sinh con. Sau đó Thomas de Courteheuse tin nhắn từ nhà vua tới Louis rằng Charles VI của Pháp rất muốn ông ta đến khách sạn Saint-Paul. Khi rời khỏi Hôtel Barbette, Louis đã bị đâm chết bởi mười lăm tay sát thủ đeo mặt nạ do Raoulet d’Anquetonville-một thuộc cấp của công tước Burgundy thuê mướn. Lực lượng hộ tống và các đầy tớ của Louis đã vô dụng trong việc bảo vệ ông. John có sự hỗ trợ của đông đảo người dân Paris và sinh viên của các trường đại học, những người mà ông đã giành được sự ủng hộ của họ bằng cách hứa hẹn việc ra một sắc lệnh tương tự như của năm 1357. Đến lúc lấy lại được quyền lực, ông cũng công khai thừa nhận vụ ám sát-chứ không phải che dấu nó, ông đã công bố nó trong một bài hát ca ngợi việc hành thích một bạo chúa được sáng tác bởi Jean Petit-nhà thần học của đại học Sorbonne. Do đó cuối cùng vụ ám sát đã châm ngòi một cuộc nội chiến kéo dài 30 năm.

Diễn biến của cuộc nội chiến phe phái

Với ý định trả thù cho cha mình, Charles của Orléans ủng hộ kẻ thù của các công tước nhà Burgundy bất cứ nơi nào ông ta có thể nhưng ngay cả như vậy, trong 1409, một hiệp ước hòa bình được ký kết tại Chartres dường như để chấm dứt xung đột. Tuy nhiên, vào ngày 15 tháng 4 năm 1410, tại đám cưới của Charles (Con trai của Louis d’Orléans) và Bonne d’Armagnac tại Gien, Công tước của Orléans và cha vợ mới của ông và các Đại quý tộc của Pháp thành lập một liên minh chống lại John của Burgundy và người ủng hộ ông ta. Cuộc hôn nhân làm cho phe Orleans có một thủ lĩnh mới để thay thế Louis (Bernard VII, Bá tước của Armagnac-cha vợ mới của Charles , người bảo trợ mới cho Công tước và cũng trở thành người bảo trợ của mẹ ông ta-Valentina Visconti) và tạo ra một cái tên mới cho phe này (phe Armagnac). Các thành viên khác của phe này bao gồm các công tước của Bourbon, Berry và Brittany, cũng như các côngtước của Alençon và Clermont.

Bernard VII-cha vợ của Charles d’Orléans tuyển dụng những binh lính ở Midi- những Écorcheur (quân lột da), vốn chiến đấu với sự tàn bạo chưa từng có. Với lực lượng này làm quân xung kích họ, ông đã tàn phá các vùng lân cận của Paris và tiến vào khu ngoại ô Saint-Marcel. Một hiệp ước mới được ký kết tại Bicêtre ngày 02 tháng 11 năm 1410 đã đình chỉ được chiến sự, nhưng cả hai bên đã lại huy động quân đội một lần nữa vào đầu mùa xuân năm 1411. Tháng 10 năm 1411, với quân đội hùng mạnh lên đến 60.000 người công tước xứ Burgundy tiến vào Paris và tấn công quân của công tước Bretons vốn liên minh với nhà Armagnacs, người đã bị chặn tại La Chapelle. Cuối cùng ông ta (công tước xứ Burgundy) đã phải rút, nhưng trong đêm ngày 09 tháng 11, ông rời qua Porte Saint-Jacques và cho quân của mình tuần hành trên khắp Saint-Cloud và quyết tâm đánh bại đội quân Écorcheur của nhà Armagnacs. Sau đó, John the Fearless truy đuổi hoàng thân Orléans và các đồng minh của họ đến tận Bourges, rồi công tước Orléans đã bị bao vây, nhưng sau đó quân đội hoàng gia xuất hiện trước mặt thành phố vào ngày 11 tháng 6 năm 1412. Một hòa bình đã được ký kết tại Bourges trong ngày 15 tháng 7 năm 1412 và được xác nhận tại Auxerre ngày 22 tháng 8.

Người Anh đã lợi dụng tình hình bằng cách hứa hẹn hỗ trợ cho cả hai phe hoặc mua sự trung lập của họ. Phe Armagnac đã ký kết một hiệp ước với Henry V của Anh quốc trong năm 1412, để ngăn chặn một liên minh Anh-Burgundy, vì vậy họ đã nộp Guyenne với ông ta (Henry V của Anh quốc) và đã công nhận chủ quyền của ông ta ở Poitou, Angoulême và Périgord. Tất cả cùng, John the Fearless cũng thương thuyết với người Anh, kể từ khi một lệnh cấm vận xuất khẩu len của Anh có thể hủy hoại nền thương mại vải len của Flanders.

Năm 1413, John the Fearless hỗ trợ cho cuộc nổi loạn Cabochien và do đó đã nổ ra một cuộc tàn sát tại Paris. Dân Paris quá sợ hãi đã kêu gọi phe Armagnacs chi viện. Quân đội của họ chiếm lại thành phố vào năm 1414. Khi Henry V của Anh quốc nối lại chiến sự trong năm 1415, công tước xứ Burgundy vẫn giữ thái độ trung lập đối với ông ta (Henry V), để Henry có thể đánh bại toàn diện quân đội Pháp (chủ yếu cónòng cốt từ nhà Armagnacs) tại trận Agincourt vào tháng 10 năm 1415.

John the Fearless-công tước xứ Burgundy, ông cũng bị ám sát để trả thù cho cái chết của Công tước d’Orléans, việc ông bị ám sát đã đẩy hẳn xứ Burgundy về phía người Anh và làm cho người Pháp càng đuối thế.

Ngày 29 tháng 5, năm 1418, nhờ sự phản bộị của Perrinet Leclerc và sự hỗ trợ của các thợ thủ công và trường đại học, Paris đã được bàn giao cho Jean de Villiers de L’Isle-Adam, đại úy của một đội quân ủng hộ công tước xứ Burgundy. Sau đó vào ngày 12 tháng 6 Bernard VII và những người nhà Armagnacs khác đã bị tàn sát bởi một đám đông. Do đó John đã trở thành chủ nhân của Paris lại một lần nữa và ông tham gia vào các cuộc đàm phán với người Anh, dường như ông có vẻ sẵn sàng chào đón tuyên bố của nhà vua nước Anh về ngai vàng Pháp. Tình huống trở nên bắt buộc đối với nhà Dauphin (Hoàng tộc Pháp) để thương lượng tìm kiếm một sự xích lại gần với người Burgundy một lần nữa để tránh một liên minh Anh-Burgundy. Về phần mình, John the Fearless đã trở thành chủ nhân của một phần lớn vương quốc sau khi ông ta chiếm được Paris, nhưng tình hình tài chính của ông đã cạn kiệt. John đã phải buộc tiến hành một cuộc họp với Charles VII của Pháp-nhà Dauphin để ký kết một nền hòa bình có lợi, do đó một vài cuộc hội họp đã được tổ chức.

John the Fearless-Công tước xứ Burgundy đã bị ám sát trên cầu Montereau trong ngày 10 tháng 9 năm 1419 trong một cuộc họp với nhà Dauphin của Pháp (vua Charles VII tương lai của Pháp), Thủ phạm là tay chân của phe Armagnac-những người sợ rằng Charles có thể ngả theo quan điểm chính trị của phe Burgundy. Sự kiện này ngăn chặn tất cả các hành động hòa giải và do đó cho quân đội Anh tiếp tục thành công trên chiến trướng.


Phần lãnh thổ ở Pháp mà người Anh và của họ đồng minh là người Burgundy trong năm 1435

Hiệp ước Troyes và Hậu quả của nó

Sau đó Philip the Good-Công tước mới của Burgundy, đã gia nhập vào một liên minh với người Anh (đây là điều mà người cha của ông đã luôn luôn tránh) kết quả tạo ra hiệp ước Troyes. Hiệp ước này đã công bố rằng Charles VII là một người con hoang của Louis d’Orléans chứ không phải là người thừa kế của Charles VI, do đó làm cho Charles VI không có người thừa kế nam hợp pháp và Catherine của Valois-con gái của Charles VI đã kết hôn với Henry V-vua của nước Anh vì thế ông này muốn đòi vương miện của Pháp và Charles VI đã được trả lại quyền lực trong năm 1392, ngay trước khi ông này bị điên. Hiệp ước yêu cầu Henry trở thành nhiếp chính thay mặt Charles VI cho những vùng đất ở phía đông nam nước Pháp cho đến khi Charles qua đời. Người cháu hợp pháp trong tương lai của ông ( Charles VI) sẽ có quyền sở hữu của cả Pháp và Anh. Như đã biết trước, hiệp ước này đã bị lên án bởi nhà Armagnacs-những người lý luận rằng “vương miện thuộc về nhà vua chứ không phải ngược lại”. Tuy nhiên Henry V đã chết bất đắc kỳ tử ở đầu tháng 8 năm 1422 và sự can thiệp của Joan d’Arc là cần thiết để Charles VII được hợp pháp bởi một hành động thiêng liêng và đăng quang tại Reims vào ngày 17 tháng 7 năm 1429, sớm hơn một năm trước sự đăng quang của người kế nhiệm của Henry V (Henry VI của Anh mới chín tuổi) vào ngày 16 tháng 12 năm 1430 tại Notre Dame de Paris.

Kết thúc cuộc nội chiến giữa các phe phái

Để tái chiếm lại các lãnh thổ của Pháp vốn bị người Anh chiếm đóng, Charles VII muốn cô lập và chia rẽ người Anh với người Burgundy. Năm 1435, ông đã ký kết hiệp ước Arras với Philip the Good và công nhận nền độc lập của Burgundy. Thỏa thuận này chính thức chấm dứt chiến tranh và cho phép Charles VII trên thực tế chiếm lại tất cả các lãnh địa của người Anh ở trên lục địa châu Âu và chỉ để lại cho họ mỗi hạt Calais vào.năm 1453.

Chiến tranh trăm năm, cuộc chiến của nhà Lancaster năm 1415->1429

Cuộc chiến của nhà Lancaster là giai đoạn thứ ba của chiến tranh trăm năm giữa Anh và Pháp. Nó kéo dài từ năm 1415, khi Henry V của Anh xâm lược Normandy, đến năm 1429 khi thành công của người Anh đã bị đảo chiều bởi sự xuất hiện của Joan of Arc. Cuộc chiến này bắt đầu sau một thời gian dài hòa bình từ 1389 ở cuối cuộc chiến của nhà Caroline. Nó được gọi là cuộc chiến của nhà Lancaster bởi vì nó được khởi đầu theo kế hoạch của Henry IV-người đầu tiên của Nhà Lancaster ngồi lên trên ngai vàng của nước Anh. Mặc dù kế hoạch của ông không bao giờ trở thành hiện thực trong triều đại của ông, nhưng người con trai thiện chiến của ông ( Henry V ) đã hồi sinh cho nó và đã đạt đến đỉnh cao quyền lực cho Nhà Lancaster tại Pháp với việc một vị vua Anh lên ngôi vua Pháp tại Paris.

Anh chiến thắng tại trân Agincourt và khoảng thời gian sau đó

Henry V chối đề nghị của phe Armagnac trong năm 1414 để khôi phục lại biên giới năm 1369, mà ông này yêu cầu quay trở lại với các vùng lãnh thổ đầy đủ của Henry II. Trong tháng 8 năm 1415, ông đã cùng với quân đội của mình đổ bộ xuống thành phố Harfleur trong vùng Normandy và chiếm giữ thành phố. Mặc dù bị cám dỗ về việc tiến trực tiếp vào Paris, ông đã chọn cách tiến hành một chiến dịch hành quân đột kích trên toàn nước Pháp rồi sau đó chiến Calais trên kênh English Channel. Trong một gợi nhớ đến chiến dịch của Crécy, ông tự cảm thấy mình rõ ràng giỏi hơn các bậc tiền bối và có ít vật tư chiến tranh hơn nhưng phải đứng lên chống lại một đội quân Pháp lớn hơn nhiều tại Trận Agincourt ở phía bắc sông Somme. Bất chấp những bất lợi của ông, chiến thắng của ông là hoàn toàn và thất bại của người Pháp đã trở thành một thảm họa với việc họ đã bị mất (bị giết hoặc bị bỏ tù) rất nhiều thủ lĩnh của phe Armagnac.

Một đội quân của Pháp, ước tính khoảng 6.000 người, cũng bị đánh tan bởi lực lượng quân Anh tại trận Valmont nhỏ hơn nhiều ở gần Harfleur vào tháng 3 năm 1416. Trong chiến dịch tiếp theo sau một chiến thắng hải quân đáng kể của Hải quân Anh Trên sông Seine (dưới sự chỉ huy của Bedford-em trai của Henry,) vào tháng 8 năm 1416, Henry đã chiếm nhiều vùng ở Normandy, kể cả Caen trong năm 1417 và Rouen vào ngày 19 tháng 1 năm 1419, đặt Normandy dưới sự cai trị của Anh sau hơn 200 năm nằm dưới sự kiểm soát của người Pháp.


Tranh vẽ Trận Agincourt, bức tranh có điểm không chính xác đó là quân Pháp chỉ có các tay nỏ chứ không có cung thủ bắn trường cung như quân Anh.

Liên minh Anh-Burgundy dẫn đến Hiệp ước Troyes

Henry V của Anh đã chính thức liên minh với Philip the Good-Công tước xứ Burgundy, người đã chiếm được Paris, sau khi nhà Armagnac ám sát John Burgundy trong năm 1419. Họ cùng nhau ép Charles VI-nhà vua điên đã ký Hiệp ước Troyes và Henry cưới Catherine của Valois-con gái của Charles và Henry sẽ là người thừa kế ngai vàng nước Pháp. Charles VII-Dauphin bị tuyên bố là bất hợp pháp. Henry chính thức tiến vào Paris một năm sau đó và thỏa thuận này đã được phê duyệt bởi General Estates of France ( Quốc-Hội Pháp). Đầu năm đó một đội quân Anh dưới quyền chỉ huy của Bá tước Salisbury, một người lính có năng lực cao, đã phục kích và tiêu diệt một lực lượng liên minh Pháp-Scotland ngay ở Fresnay, 20 dặm về phía bắc của Le Mans (tháng 3 năm 1420) – theo một sử gia quân liên minh đã mất 3.000 người cùng toàn bộ đồ đạc doanh trại của họ và bao gồm cả két bạc của người Scotland.


Tranh vẽ trận Baugé, một chiến thắng hiếm hoi của liên quân Pháp-Scotland trong năm 1421

Năm 1421, một đội quân Anh khoảng 10.000 người đã bị đánh bại bởi một đội liên quân Pháp-Scotland khoảng 6.000 người tại Trận Baugé trong đó Thomas of Lancaster, Công tước của Clarence và cũng là anh trai của Henry V đã bị giết.

Quân đội Anh-Burgundy gây áp lực vào phe Armagnac và Thái tử Charles

Sau cái chết sớm của Henry V tại năm 1422, gần như đồng thời bố vợ của ông ( Charles VI của nước Pháp ), con trai con của ông (Henry V) lên ngôi vua và thành Henry VI của Anh quốc và cũng là vua của nước Pháp, nhưng phe Armagnac vẫn trung thành với Charles Dauphin-con trai của Charles VI và chiến tranh tiếp tục nổ ra ở miền trung nước Pháp. Sau cái chết của Henry V, quân đội Anh tiếp tục làm chủ chiến trường bởi tính hiệu quả cao về chiến thuật quân sự của họ.


Tranh vẽ liên quân Pháp-Scotland bị đại bại tại trận Cravant năm 1423


Tranh vẽ trận Verneuil, trận này có thể được coi là một trận “Agincourt thứ hai“, quân đội Hải ngoại Scotland tại Pháp gần như hoàn toàn bị xóa sổ

Năm 1423, Bá tước của Salisbury, có lẽ là chỉ huy Anh xuất sắc nhất, hoàn toàn đánh bại một lực lượng Pháp-Scotland tại Cravant trên bờ Sông Yonne. Ông đích thân dẫn đầu quân đội vượt sông và của đối phương tấn công thành công một vị trí rất mạnh mẽ và trong trận chiến quân Scotland đã bị thiệt hại rất nặng nề, quân đội hải ngoại Scotland tại Pháp không còn tồn tại. Cùng năm đó quân Pháp lại thắng một trận ở La Brossinière.

Trong năm sau Bedford đã có một chiến thắng được mô tả như là một “Agincourt thứ hai“ tại Verneuil khi quân đội của ông đã phá hủy một đội quân liên quân Pháp-Scotland ước tính khoảng 16.000 lính. Đây không phải là một chiến thắng của các tay cung, mà là của những tiến bộ trong những chiếc áo giáp bọc thép tấm đã tạo cho kỵ binh một phương tiện bảo vệ lớn hơn nhiều, điều này có nghĩa là các cung thủ không thể bắn xuyên nổi áo giáp của họ, đã dẫn đến các cung thủ đóng ở bên sườn sẽ bị cuốn phăng đi. Tuy nhiên, tuy nhiên kỵ binh Anh vẫn đứng vững và tấn công dữ dội vào kẻ thù của họ, sự hỗ trợ của một cuộc tấn công của các cung thủ từ bên cánh khác của quân Anh đã phá hủy quân liên minh. Người Scotland đã bị bao vây trên chiến trường và bị tiêu diệt hầu như đến người cuối cùng – khoảng 6.500 lính Scotland đã chết ở đó bao gồm tất cả các chỉ huy của họ. Kết quả là không còn một lực lượng Scotland quy mô lớn đổ bộ vào nước Pháp một lần nữa. Người Pháp cũng đã bị trừng phạt nặng nề, tất cả các chỉ huy của họ trong trận này cũng đều bị giết hoặc bị bắt làm tù binh.

Sự xuất hiện của Joan of Arc


Tranh vẽ trận Herrings, quân Pháp-Scotland tấn công một đoàn xe chở cá trích của Anh, nhưng họ đã bị các tay cung của Anh bắn tan nát đội hình sau đó là các kị sỹ Anh xông lên làm thịt nốt những người không kịp chạy trốn

Hơn nữa, trong tháng 2 năm 1429, Sir John Fastolf-người đã chỉ huy một đoàn xe chở đồ cung cấp cho quân Anh đang bao vây thành phố Orléans, đã bị tấn công bởi một đội quân Pháp cùng với một nhóm nhỏ quân Scotland (Đa phần lính Scotland đã tử trận trong các trận đánh trước đó). Fastolf có có khoảng 1000 quân cung kỵ (cung kỵ của Tây Âu không có khả năng vừa phi vừa bắn tên như của người du mục mà thường họ phải xuống ngựa để lập đội hình chiến đấu) và một lực lượng nhỏ kị sỹ, họ tạo thành một đội hình vòng tròn xung quanh đoàn xe chở đồ cung cấp của mình. Ít hơn đối phương rất nhiều, nhưng lực lượng Anh đã đánh bại cuộc tấn công của quân Pháp trong một trận đánh được gọi là Battle of the Herrings -Trận Cá trích vì đoàn xe trở cá trích đến cho quân Anh. Trước khi bị quân Anh phản công, quân Pháp và Scotland đã bị đánh bại và bỏ chạy. Các vở kịch của Shakespeare thường đã không công bằng khi mô tả Sir John Fastolf trong vai phản diện và hèn nhát và. Trận chiến này đã thuyết phụcRobert de Baudricourt đồng ý với yêu cầu của Joan of Arc và cho một hộ tống nàng đến Triều đình Pháp ở Chinon.

Nhà Valois chiến thắng, giai đoạn từ năm 1429 -> 1453

Năm 1424, các chú bác của Henry VI đã bắt đầu tranh cãi về quyền nhiếp chính và Humphrey, Công tước của Gloucester đã kết hôn Jacqueline-Nữ bá tước của Hainaut và ông này quyết định xâm lược Hà Lan để lấy lại lãnh địa cũ của mình, sự kiện này đưa ông ta vào một cuộc xung đột trực tiếp với Philip III, Công tước của Burgundy.

Năm 1428, người Anh đã sẵn sàng để theo đuổi cuộc chiến tranh một lần nữa và họ tiến hành bao vây thành phố Orléans. Lực lượng của họ không đủ để bao vây toàn bộ thành phố, nhưng vẫn làm cho một lực lượng quân đội Pháp đông hơn lâm vào thế bị động. Năm 1429, Joan of Arc đã thuyết phục được nhàDauphin gửi nàng đến thành phố bị bao vây vì nàng nói rằng đã nhận được lới nhắn của Thiên Chúa-cho biết rằng nàng sẽ đẩy lui được người Anh. Sự có mặt của nàng đã có tác dụng nâng cao tinh thần chiến đấu của quân đội Pháp và họ đã tấn công vào vị trí cố thủ của quân Anh và buộc người Anh phải huy bỏ cuộc bao vây. Lấy cảm hứng từ Joan, người Pháp đã tấn công vào nhiều cứ điểm mạnh mẽ của quân Anh ở bên bờ sông Loire. Ngay sau đó, một đội quân Pháp khoảng 8000 binh sỹ trang bị đầy đủ đã đánh bại một lực lượng lớn cung thủ Anh tại trận Patay bằng đội kỵ binh hạng nặng làm tiên phong gồm 1500 tay thương, rồi sau đó lại đánh bại một quân đội mạnh gồm 3000 tay cung dưới sự chỉ huy của Sir John Fastolf và John Talbot, Bá tước của Shrewsbury. Chiến thắng này đã mở đường cho nhà Dauphin đi đến Reims để làm lễ đăng quang và lên ngôi vua Pháp với tên hiệu là Charles VII.


Tranh vẽ Joan of Arc chỉ huy quân Pháp tấn công vào chiến lũy của Anh vốn được lập lên để bao vây thành phố Orléans. Nàng luôn cầm cờ và đứng ở tuyến đầu nên các binh sỹ Pháp sẽ cảm thấy xấu hổ nếu họ không dám xông lên


Tranh vẽ Joan of Arc không đội mũ và dẫn đầu quân Pháp tấn công, thường thì các tranh đều vẽ nàng cưỡi ngựa, thực tế hiếm người nào lại có thể mặc giáp nặng như vậy ( trên 30 kg) mà còn chạy bộ được


Tranh vẽ Joan of Arc trong buổi lễ đăng quang cho thái tử Charles Dounphine làm vua Charles VII của nước Pháp tại Reim

Sau khi Joan bị bắt bởi người Burgundy vào năm 1430 và sau đó bị bán cho người Anh, nàng đã bị kết tội là phù thủy tại một Tòa án Tôn giáo và bị hành hình, các cuộc tiến quân của người Pháp bị đình trệ bởi các cuộc đàm phán. Tuy nhiên, năm 1435, người Burgundy dưới sự lãnh đạo của Philip III chuyển phe và ký Hiệp ước Arras và trả lại Paris cho vua Pháp. Mặc dù lòng trung thành của người Burgundy vẫn còn hay thay đổi, nhưng họ tập trung chỉ tập trung vào các cuộc chiến ở vùng đất thấp ( Hà lan ngày nay) và không có đủ lực lượng để can thiệp vào nước Pháp. Hòa ước với người Burgundy kéo dài đánh dấu sự thay đổi trong chiến tranh cũng đã cho Charles thời gian để tổ chức lại quân đội và chính phủ của ông, ông đã tiến hành thay thế đội quân theo kiểu phong kiến ​​của mình bằng một quân đội chuyên nghiệp hiện đại hơn để có thể tận dụng triệt để được ưu thế vượt trội của mình và tập trung hóa trong việc quản lyd các vùng của nước Pháp.

Vào năm 1449, người Pháp đã chiếm lại Rouen và trong năm 1450 Bá tước Clermont và Arthur de Richemont-Bá tước của Richmond của gia đình Montfort ( Arthur III, Công tước xứ Brittany tương lai) đã chộp được một quân đội Anh trong khi nó đang cố gắng để giải vây cho Caen tại Trận Formigny và đánh bại nó, quân Anh đã bị tấn công từ bên cánh và phía sau bởi lực lượng của Richemont chỉ khi họ đang áp sát đội quân của Clermont. Người Pháp đã chiếm lại được Caen vào ngày 6 tháng 7 năm 1450 cùng với Bordeaux và Bayonne trong năm 1451. Các nỗ lực của Sir Talbot để chiếm lại vùng Gascony, mặc dù ban đầu được sự hoan nghênh của người dân địa phương nhưng cuối cùng đã bị nghiền nát bởi Jean Bureau và các khẩu pháo của ông tại Trận Castillon năm 1453, nơi Talbot đã dẫn đầu một lực lượng nhỏ của Anh-Gascon trong một cuộc tấn công trực diện vào một doanh trại cố thủ của Pháp. Đây được xem là trận chiến cuối cùng của cuộc Chiến tranh Trăm năm.

Ý nghĩa của chiến tranh trăm năm

Chiến tranh năm trăm là một khoảng thời gian để tiến hóa về lĩnh vực quân sự. Tất cả vũ khí, chiến thuật, cấu trúc quân đội và ý nghĩa xã hội của chiến tranh đều đã thay đổi, một phần là để đáp ứng cho nhu cầu của cuộc chiến, một phần qua các tiến bộ trong công nghệ, KHKT và một phần thông qua các bài học trong chiến tranh.

Anh có thể được coi là một nhà nước hiện đại hơn so với Pháp. Nó có một Quốc-hội và cơ quan thuế thuế tập trung hóa. Khi nhà văn quân đội-đại tá Alfred Burne ghi chú, nước Anh đã cách mạng hóa hệ thống tuyển dụng của nó trong việc dùng một đội quân được trả lương để thay thế cho một đội quân được tuyển ra từ những người làm nghĩa vụ phong kiến. Các đội trưởng/ đại úy chuyên nghiệp đã được bổ nhiệm làm người tuyển dụng quân đội trong một thời gian được chỉ định (về mặt lý thuyết thì ngắn). Ở một mức độ nào đó, đây là một điều cần thiết vì nhiều đại quý tộc đã từ chối để tham gia vào một chiến dịch ở nước ngoài vì làm nghĩa vụ phong kiến ​​được cho là chỉ để bảo vệ vương quốc.

Trước khi nổ ra Chiến tranh Trăm năm, Lực lượng kỵ binh hạng nặng được xem là binh chủng mạnh nhất trong quân đội. Nhưng vào lúc chiến tranh kết thúc, niềm tin này đã thay đổi. Ngựa dù được thiết giáp hạng nặng ngày càng bị phủ nhận do việc sử dụng lực lượng trường cung (và sau này là súng tay-một loại vũ khí có tầm sát thương xa hơn) và các kị sỹ chiến đấu ở các vị trí phòng thủ cố định, chiến thuật này đã giúp người Anh chiến thắng ở Crécy và Agincourt. Học tập từ người Scotland, người Anh bắt đầu sử dụng những đội kỵ binh được thiết giáp hạng nhẹ-sau này gọi là dragon (Kỵ binh Đầu rồng)-Những người sẽ xuống ngựa để chiến đấu trong trận chiến. Đến cuối Cuộc chiến Trăm năm, chiến thuật này có ý nghĩa làm mờ dần vai trò của lực lượng kỵ binh hạng nặng vốn được trang bị và đào tạo đắt tiền và cuối cùng kết thúc vai trò của người hiệp sĩ bọc thép như là một lực lượng quân sự và vai trò của giới quý tộc như là một lực lượng chính trị.

Mặc dù người Anh có một lợi thế về chiến thuật, “tuy nhiên diện tích của nước Pháp là quá lớn và không đủ quân thường trực để chiếm đóng” như một nhà văn quân đội-tướng Fuller nói. Với một diện tích lớn hơn nhiều so với nước Anh (lúc này chưa có liên hiệp Anh và người Scotland luôn tỏ ra thù địch với người Anh) và có dân số đông gấp bốn lần dân số của nước Anh, nước Pháp tạo ra khó khăn cho người Anh khi muốn chiếm đóng nó.

Một vấn đề không thể giải quyết nổi đối với các chỉ huy người Anh là, trong thời đại của chiến tranh vây hãm, các có nhiều thêm lãnh thổ bị chiếm đóng thì lại càng yêu cầu nhiều đơn vị đồn trú hơn nữa. Điều này đã làm giảm đi sức mạnh tấn công của quân đội Anh khi thời gian trôi về phía cuối của cuộc chiến (người Scotland đã giải quyết vấn đề này bằng một giải pháp khôn ngoan là phá huy các thành trì -> không cần quân đồn trú mà đối phương cũng không sử dụng được sau khi tái chiếm được chúng). Quân đội của Salisbury tại Orleans chỉ bao gồm có 5.000 người, không những không đủ chỉ để bao vây thành phố mà còn có số lượng kém hơn so với lực lượng Pháp đóng trong và ngoài thành phố. Người Pháp chỉ cần phục hồi lại được một phần của sự tự tin đã bị tan vỡ (sau những trận thua mất mặt) của họ thì kết quả thất bại của quân Anh là điều trở thành không thể tránh khỏi. Tại Orleans họ đã được hỗ trợ bởi cái chết của Salisbury qua một phát đạn pháo may mắn và do cảm hứng được truyền tới bởi Joan of Arc.

Hơn nữa, sự kết thúc của liên minh với Burgundy đã đặt dấu chấm hết cho những nỗ lực của Anh tại Pháp, bất chấp các chiến dịch tích cực của John-Lord Talbot và các lực lượng của ông để trì hoãn một thất bại không thể tránh khỏi.

Tranh vẽ cái chết John Talbot-một dũng tướng của Anh trong trận Castillon đã kết thúc chiến tranh trăm năm với thắng lợi hoàn toàn thuộc về người Pháp

Cuộc chiến cũng kích thích tình cảm dân tộc. Nó đã tàn phá nhiều vùng của nước Pháp thành bình địa, nhưng nó cũng đánh thức chủ nghĩa dân tộc của người Pháp. Chiến tranh trăm cũng có tác dụng tăng tốc quá trình chuyển đổi nước Pháp phong kiến phân quyền sang một chế độ quân chủ tập quyền. Cuộc xung đột đã trở thành không chỉ là một cuộc xung đột của vua Anh với vua Pháp mà đã trở thành cuộc chiến của người Anh với người Pháp dân tộc. Có tin đồn liên tiếp tại Anh rằng người Pháp có ý định xâm chiếm và hủy diệt ngôn ngữ của người Anh. Chủ nghĩa quốc gia đã xuất hiện trong những tin đồn như vậy để thống nhất người Pháp và người Anh vào những trận chiến trong thời gian lâu hơn nữa. Chiến tranh Trăm năm về cơ bản đã làm biến mất những từ gốc Pháp trong tiếngAnh, vốn đã là ngôn ngữ của giai cấp cầm quyền và tầng lớp thương gia từ thời các cuộc chinh phục của người Norman cho đến năm 1362.

Giai đoạn sau của cuộc chiến đã cho thấy sự xuất hiện của công tước Burgundy đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực chính trị và nó khuyến khích người Anh tham gia liên minh với vùng đất ở miền nam Hà Lan trong suốt cuộc xung đột (Bây giờ là nước Bỉ-một trung tâm sản xuất vải len phong phú ​​vào thời điểm đó), để phát triển ngành công nghiệp dệt len của chính họ và ở thị trường nước ngoài. ( xứ Burgundy quay về với nước Pháp cũng chính là vì dân ở vùng này-thuộc địa của Burgundy lại tỏ ra quá thân thiện với người Anh)

Vũ khí

Cây trường cung

Loại vũ khí được tán dương nhất của người Anh là cây trường cung của những người nông dân ( nguyên gốc Yeomen-chủ đất nhỏ): nó không phải là loại vũ khí mới vào thời điểm đó, nó đóng một vai trò đặc biệt trong suốt cuộc chiến, tạo lợi thế chiến thuật cho người Anh trong một số các trận đánh chính – mặc dù vũ khí này đòi hỏi phải có tay nghề cao và quân đội Anh vốn trang bị nhẹ hơn đã chứng minh là nó (lực lượng trường cung) là một nhân tố quyết định đến kết quả cuối cùng của cuộc chiến. Người Pháp chủ yếu là dựa vào nỏ, thường được sử dụng bởi lính đánh thuê người Genova, chỉ có những người có tay nghề cao và được đào tạo tốt mới khai thác được những điểm yếu của vũ khí của đối phương bằng những trang thiết bị đặc biệt. Cây nỏ được sử dụng bởi vì nó yêu cầu rất ít đào tạo và do đó có thể nhanh chóng tuyển một lính bắn nỏ mới từ người làm nghĩa vụ quân sự và nó có một sức công phá khủng khiếp ở tầm gần đối với cả áo giáp chuỗi và áo giáp lưới. Tuy nhiên, nó có đặc điểm là nạp tên chậm, nặng nề và dễ bị thiệt hại mưa to. Cây trường cung là một loại vũ khí rất khó sử dụng và các cung thủ Anh đã phải đã thực hành từ khi còn nhỏ để trở nên thành thạo. Nó cũng đòi hỏi phải có sức mạnh lớn để sử dụng, với lực kéo thường vào khoảng 620-670 Newton (140–150 lbf) và có thể lên đến 800 N (180 lbf). Cây trưởng cung có thể bắn volley (rót dầu) tương đối chính xác, mặc dù khả năng này là đặc điểm của bất kỳ loại cung nào. Nó được sử dụng rộng rãi trong quần đảo Anh và điều này đã cho phép người Anh sử dụng nó như một vũ khí. Cây trường cung đã được phát triển thành vũ khí tầm chiến lược. Người Anh trong những trận chiến của họ với người xứ Wales và Scotland, đã học được cách sử dụng những cung thủ xuống ngựa và dựa vào địa hình của các vị trí cố định để có thể đánh bại lực lượng kỵ binh nặng từ xa. Từ khi các mũi tên bắn từ một cung có thể giết hoặc loại khỏi vòng chiến một con ngựa không được thiết giáp, một cuộc tấn công cuả lực lượng kỵ binh có thể bị chặn đứng trước khi họ tới được chỗ cuả lực lượng phòng thủ (một hiệu ứng tương đương với pháo binh của thời sau). Các cung cho phép quân đội trang bị nhẹ hơn và cơ động hơn của người Anh chọn và củng cố vị trí chiến đấu và đẩy quân đội đối phương vào một trận đánh theo kiểu bao vây. Vào thời gian chiến tranh Trăm năm sắp kết thúc, số lượng cung thủ trường cung giảm mạnh. Bởi khó khăn trong việc đào tạo một số lượng lớn các cung thủ có tay nghề cao để thay thế số thương vong đáng kể của các cung thủ trường cung tại các trận Verneuil (1424) và Patay (1429) là đáng kể. Việc cây cung ngày càng trở nên khó sử dụng và không có đủ người để sử dụng chúng. Ngoài ra, những cải tiến trong áo giáp phiến từ thế kỷ 15 có nghĩa là trong khi áo giáp được thực tế chứng minh là không bị xuyên thủng bởi các mũi tên, các cung lại vẫn là một vũ khí tĩnh và không hiệu quả. Chỉ có những cây cung mạnh nhất ở tầm gần có thể có cơ hội xuyên thủng các tấm áo giáp.

Một loạt các loại vũ khí mới cũng được bắt đầu đưa vào sử dụng trong cuộc Chiến tranh Trăm năm như: Thuốc nổ cho súng tay và pháo đã đóng vai trò quan trọng vào đầu năm 1375. Trận Castillon-trận chiến cuối cùng của cuộc chiến trăm năm, là trận đánh đầu tiên trong lịch sử châu Âu mà ở đó pháo binh là yếu tố quyết định.

Chiến tranh và xã hội

Hậu quả của các loại vũ khí mới có nghĩa là giới quý tộc không còn là yếu tố quyết định trong trận chiến; nông dân trang bị trường cung hoặc súng tay có thể dành được chiến thắng, phần thưởng và có được uy tín vốn chỉ dành cho những hiệp sĩ-những người được thiết giáp kín mít. Thành phần của quân đội đã thay đổi, từ các lãnh chúa phong kiến những người có thể hoặc không thể bỏ trốn khi chúa tể của họ triệu tập, những lính đánh thuê được trả tiền. Đến cuối chiến tranh, cả Pháp và Anh đã huy động đủ tiền qua các sắc thuế để tạo ra một đội quân thường trực, lần đầu tiên kể từ sự sụp đổ của Đế quốc La Mã phương Tây mà người ta lại thấy các đội quân thường trực ở Tây hoặc Trung Âu (không kể Đế quốc Đông La Mã). Quân đội thường trực đại diện cho một hình thức hoàn toàn mới của quyền lực của nhà vua. Quân đội này không chỉ có thể bảo vệ vương quốc của họ từ những kẻ xâm lược, mà còn có thể bảo vệ nhà vua từ các mối đe dọa nội bộ và cũng để giữ cho dân chúng trong vòng kiểm soát. Đó là một bước tiến quan trọng trong sự phát triển ban đầu đối với quốc gia tập quyền và nó cũng làm xói mòn các tập quán của thời trung cổ.

Có một niềm tin phổ biến rằng sau Trận Crécy-trận chiến lớn đầu tiên của chiến tranh, , Thời đại “ hiệp sỹ mã thượng “ đã đi vào kết thúc khi các đợt tấn công của lực lượng kỵ binh hạng nặng không còn có ý nghĩa quyết định trong trận đánh Đồng thời, có một sự hồi sinh trong các tập tục của tinh thần mã thượng, đó tầm quan trọng cao nhất của việc chiến đấu cho ai và chết để làm gì, trong một cách thượng mã nhất có thể. Khái niệm về tinh thần thượng mã bị ảnh hưởng mạnh bởi các sử thi lãng mạn của thế kỷ 12 và hãy tưởng tượng các hiệp sĩ tái hiện những câu chuyện này trên chiến trường.. Có người đã kể rằng Bertrand Du Guesclin bước vào trận chiến với một mắt nhắm và một mắt mở và tuyên bố ” Tôi sẽ không mở con mắt còn lại vì danh dự của người phụ nữ của tôi cho đến khi tôi sẽ giết được ba người Anh.” Các Hiệp sĩ thường mang màu sắc ( tóc, áo?) của người phụ nữ của họ vào trận chiến.

Tại Pháp, trong thời gian Vua John II bị giam cầm, the Estates General (Hội hiệp thương) cố đoạt lấy quyền lực của nhà vua. Hội hiệp thương là một cơ quan đại diện của ba nhóm người theo truyền thống có quyền tư vấn tại Pháp: giáo sĩ, quý tộc và thị dân. Lần đầu tiên dưới thời Philip IV ” the Fair “, Hội hiệp thương có quyền xác nhận hoặc không đồng ý với các sắc thuế chính mà các vị vua của nước Pháp dùng để huy động tiền. Dưới sự lãnh đạo của một thương gia tên là Etienne Marcel, Hội hiệp thương đã cố gắng để buộc nền quân chủ phải chấp nhận một cái gọi là thỏa thuận Đại Pháp lệnh (the Great Ordinance). Giống như thỏa thuận Magna Carta của người Anh, Đại Pháp lệnh cho rằng Hội hiệp thương cần giám sát việc thu, chi số tiền thuế thu được, quyết định một cách độc lập trước các yêu cầu của nhà vua, có quyền hạn nhất định về mặt tư pháp và thường đóng một vai trò lớn hơn trong chính phủ. Các quý tộc đã đóng một vai trò quyết định trong Hội hiệp thương, tuy nhiên trong năm 1358 đã nổ ra một cuộc nổi dậy của nông dân được gọi là Jacquerie. Nông dân tức giận về thuế cao của quý tộc và chính sách lao động cưỡng bức đã nổi lên giết chóc và đốt phá ở phía bắc nước Pháp. Một trong những nạn nhân của họ đã được chứng minh lại chính là Etienne Marcel và không có sự lãnh đạo của ông Hội hiệp thương đã bị chia rẽ.

Nước Anh và Chiến tranh Trăm năm

Những ảnh hưởng của cuộc Chiến tranh Trăm năm ở Anh cũng đưa ra một số câu hỏi về mức độ của chính quyền hoàng gia. Giống như người Pháp, người Anh đã trải qua một cuộc nổi loạn nghiêm trọng chống lại nhà vua trong một khoảng thời gian tiếp sau cái chết của Edward III khi người cháu trai của ông vẫn chưa đến tuổi trưởng thành. Được gọi là phong trào Nông dân nổi dậy hay còn là cuộc nổi dậy của Wat Tyler, cuộc nổi dậy năm 1381 đã cho thấy một số lượng lên đến 100.000 nông dân tiến vào London để phản đối việc nộp thuế quá cao để tài trợ cho chiến tranh và nỗ lực của giới quý tộc để bần cùng hoá thân phận của người nông dân Anh. Đám đông đã sát hại các quan chức chính phủ và người thu thuế và đốt cháy nhà của họ. Nhà vua trẻ-Richard II, gặp những người nông dân ở bên ngoài lâu đài của mình, xoa dịu sự bạo lực của họ bằng cách hứa hẹn sẽ đáp ứng nhu cầu của họ. Đồng thời, các điệp viên của nhà vua đã giết chết Wat Tyler, một nhà lãnh đạo chủ chốt của cuộc nổi dậy và Richard II đã đuổi những người nông dân trở lại nhà của họ ở vùng nông thôn. Tuy nhiên, sau khi họ về nhà ông này đã không giữ lời hứa của mình và vẫn giữ mức thuế cao.

Ban đầu thành công của các chiến dịch mang lại sự giàu có cho bản thân giới quý tộc và triều đình Anh. Khi chiến tranh tiếp diễn, chi phí để bảo vệ và duy trì vùng chiếm đóng tỏ ra quá nặng nề và Hoàng gia Anh về cơ bản bị phá sản, ngược lại sự giàu có làm cho nước Pháp liên tục tập hợp lại được các quý tộc và quân đội của họ. Khi triều đình Anh bắt đầu có một cách tiếp cận hợp lý hơn đối với nước Pháp, nhiều quý tộc người Anh đã đang nắm giữ các vùng đất tại lục địa châu Âu và đã bị bỏ rơi trong quá trình này liền đã bị vỡ ảo tưởng với Hoàng gia Anh. Những bất đồng này đã trở thành một trong những yếu tố chính góp phần vào Cuộc chiến của Hoa Hồng.

Vào cuối cuộc chiến, nước Anh đã phải quay lại quốc đảo, ngoại trừ Calais. Hoàn toàn ở rìa của châu Âu, tương lai của nó dường như là rất tối tăm. Tuy nhiên, việc châu Âu khám phá ra Tân thế giới ở bên ngoài ranh giới phía tây của bờ biển Đại Tây Dương vào năm 1492 có nghĩa là quốc gia trên biển cả như nước Anh đã rất phù hợp để tận dụng cơ hội mới cho nền thương mại và phiêu lưu vùng chinh phục những vùng đất mới

Những trận đánh lớn

  • Năm 1337, tháng 11-Trận Cadsand: Khởi đầu các hành động thù địch. Quân phòng thủ người Flemish của hòn đảo Cadsand đã bị làm cho rối loạn do đầu tiên các cây trường cung của Anh được sử dụng trên Lục địa châu Âu.
  • Năm 1340, 24 tháng 6 -Trận Sluys: Edward III đã phá hủy hạm đội Pháp-Genova của Philip VI ở ngoài khơi bờ biển Flanders, nước Anh được đảm bảo sẽ không bị xâm chiếm và rằng phần lớn các trận chiến sẽ nổ ra ở đất Pháp.
  • 1345, Ngày 21 tháng 10 -Trận Auberoche: Một chiến thắng của các tay cung của Henry-Bá tước của Derby khi chống lại một đội quân Pháp tại Auberoche thuộc xứ Gascony.
  • 1346, 26 tháng 8 -Trận Crécy: Cung thủ trường cung người Anh đánh bại hoàn toàn đội kỵ binh Pháp ở gần sông Somme vùng Picardy. Những người chết bao gồm:Năm 1346, Tháng chín 4-1347, 03 Tháng Tám -Cuộc bao vây Calais: Calais nằm dưới sự kiểm soát của người Anh.
    • Vua John của Bohemia
    • Công tước của Lorraine
    • Bá tước của Flanders
    • Công tước Alençon
    • Bá tước của Blois
    • Nam tước Rohan
    • Lord của Laval
    • Lord của Chateaubriant
    • Lord của Dinan
    • Lord của Redon
    • 1.542 Hiệp sĩ thiệt mạng
    • 2.300 tay nỏ người Genova tử trận
    • 10.000 bộ binh thiệt mạng
  •  
  • Năm 1350, 29 tháng 8 –tại Les sur Mer Espagnols: Người Anh đánh bại hạm đội hạm đội Castile trong một trận cận chiến.
  • Năm 1351, ngày 26 tháng 3 Trận chiến Ba mươi: Ba mươi Hiệp sỹ Breton từ Chateau Josselin đã được Beaumanoir chọn ra và đánh bại ba mươi Hiệp sĩ người Anh và người Breton dưới quyền Pembroke và Sir Robert Bramborough, Bramborough đã bị giết.
  • Quân đội Pháp dưới sự chỉ huy của De Nesle đã bị đánh bại bởi quân Anh dưới sự chỉ huy của Bentley tại Mauron Anh, De Nesle đã thiệt mạng.
  • Năm 1356, Ngày 19 tháng 9 -Trận Poitiers: Edward-Hoàng tử đen đã bắt tù binh vua John II của Pháp, quân đội Pháp rơi vào hỗn loạn. Những người bị bắt và giết ở phía Pháp:
    • 2.500 bị giết và bị thương
    • 2.000 bị bắt, bao gồm
      • John II
      • 17 lãnh chúa
      • 13 Bá tước
      • 5 Nam tước
      • 100 + hiệp sĩ
  • Năm 1364, Ngày 29 tháng 9 -Trận Auray: Kết thúc Chiến tranh thừa kế BretonNăm 1367, 03 tháng 4 -Trận Najera: Hoàng tử đen đã đánh bại một đội quân người Castile và Pháp trong trận Najera ở Castile.
    • Bị giết: Charles của Blois, Công tước xứ Brittany
    • Bị bắt: Bá tước của Auxerre & Du Guesclin
  •  
  • Năm 1370, tháng 3 -Trận Pontvallain: Bertrand du Guesclin đánh bại một đội quân đột kích của người Anh, kết thúc danh hiệu vô địch của người Anh trong trận đánh mở.
  • Năm 1372, ngày 22 tháng 6 -Trận La Rochelle: hạm đội Castilian-Pháp đánh bại hạm đội Anh, dẫn đến mất ưu thế tại các cuộc tấn công và cướp biển và ven biển của Pháp.Năm 1380, Fernando Sánchez de Tovar chỉ huy của hạm đội Castilian bao vây và đánh phá các thành phố cảng của người Anh.
    • Bị bắt: John của Hastings, Bá tước Pembroke, 400 hiệp sĩ và 8.000 binh lính
  •  
  • 1385 -Trận Aljubarrota: Nuno Alvares Pereira, Chỉ huy một đội quân nhỏ của Bồ Đào Nha-Anh, đánh bại lực lượng Castile-Pháp tại Bồ Đào Nha.
  • 1385 -Jean de Vienne, thành công trong việc tăng cường hải quân Pháp, đổ bộ một đội quân lên Scotland, nhưng rồi lại buộc phải rút lui.
  • Năm 1415, ngày 25 tháng 10 -Trận Agincourt: cung thủ trường cung Anh dưới sự chỉ huy của Henry V đã đánh bại quân Pháp dưới sự chỉ huy của Charles d’Albret.Năm 1416, Anh đánh bại số lượng lớn quân đội Pháp tại Valmont gần Harfleur
    • Các chỉ huy Pháp bị bắt gồm:
      • Thống chế Pháp Jean Le Maingre
      • Charles, Công tước d’Orléans
      • John I, Công tước của Bourbon
      • Louis, Bá tước của Vendôme
    • Các chỉ huy Pháp thiệt mạng gồm:
      • Antoine của Burgundy, Công tước Brabant và Limburg
      • Philip của Burgundy, Công tước của Nevers và Rethel
      • Charles I d’Albret, Công tước của Dreux, Nguyên soái của Pháp
      • John II, Bá tước của Bethune
      • John I, Công tước Alençon
      • Frederick của Lorraine, Bá tước của Vaudemont (Sinh 1371)
      • Robert, Bá tước của Marles và Soissons
      • Edward III của Bar ( Đất công tước Bar mất đi sự độc lập của nó như là một hệ quả của cái chết của ông)
      • John VI, Bá tước của Roucy
      • Jean I de Croÿ và hai con trai của ông
      • Waleran III của Luxembourg, Bá tước của Ligny
      • Jan I van Brederode
      • George Edward Stewart III, Lãnh chúa Shetland – Scotland
      • 7,000-10,000 thương vong (chủ yếu bị giết) và khoảng 1.500 tù binh quý tộc
    • Anh thiệt mạng:
      • Edward của Norwich, 2 Công tước xứ York
      • Michael de la Pole, 3 Bá tước Suffolk
      • Ít nhất 112 người chết, không rõ người bị thương
  •  
  • Năm 1417, Hải quân Anh dưới sự chỉ huy của Bedford chiến thắng trên sông Seine.
  • Năm 1418, tháng bảy 31-1419, tháng 19 -Cuộc bao vây Rouen: Henry V của Anh giành được một chỗ đứng chân ở Normandy.
  • 1419 -Trận La Rochelle: hạm đội Pháp-Castile đánh bại hạm đội Anh-Hanseatic.
  • Năm 1421, ngày 22 tháng 3 -Trận Bauge: Lực lượng Pháp và Scotland dưới sự chỉ huy của Bá tước Buchan đánh bại một lực lượng rõ ràng đông hơn của người Anh dưới sự chỉ huy của Công tước của Clarence.
    • Chỉ huy Anh bị bắt tù binh:
      • John Beaufort, 3 Bá tước Somerset
      • Thomas Beaufort, Bá tước Perche
      • John Holland, 2 Công tước của Exeter
      • Lord Fitz Walter
    • Chỉ huy Anh thiệt mạng:
      • Thomas của Lancaster, 1 Công tước của Clarence
      • John Grey, Bá tước 1 Tankerville
      • John de Ros, 8 Baron de Ros
      • Sir Gilbert de Umfraville
  • Năm 1423, tháng bảy 31 -Trận Cravant: Quân đội Pháp và Scotland bị đánh bại tại Cravant trên bờ của dòng sông Yonne.
    • Pháp thiệt mạng: 6.000
    • Pháp bị bắt: 2.000 bao gồm
      • John Stewart, 2 Earl của Buchan
      • Louis, Bá tước của Vendôme
  • Năm 1424, 17 tháng 8 -Trận Vernuil: Các lực lượng Pháp-Scots là đánh bại.Năm 1426, 06 tháng 3 -quân đội Pháp đang bao vây dưới sự chỉ huy của Arthur de Richemont bị phân tán bởi một lực lượng nhỏ sự chỉ huy của Sir Thomas Rempstone có biệt hiệu “The Rout của St James” của Anh.
    • Scotland thiệt mạng: 4.000 bao gồm
      • John Stewart, 2 Earl của Buchan
      • Archibald Douglas, 4 Earl của Douglas
  •  
  • Năm 1428, October 12-1429, tháng 8 -Cuộc vây hãm Orléans: lực lượng Anh dưới sự chỉ huy của Bá tước Salisbury, Bá tước Suffolk, và Talbot ( Bá tước của Shrewsbury) bao vây Orleans và bị buộc phải rút lui sau khi quân đội tăng viện đi kèm với Joan of Arc đến thành phố này.
  • Năm 1429, 12 tháng 2 -: Trận Herrings quân Anh dưới sự chỉ huy của Sir John Fastolf đánh bại quân đội Pháp và Scotland.
  • Năm 1429, ngày 17 tháng 7 -Trận Patay: một trận đánh đảo ngược của trận Agincourt và Crécy, một đội quân Pháp dưới sự chỉ huy của La Hire, Richemont, Joan of Arc, và các chỉ huy khác đã đánh tan các cung thủ Anh dưới sự chỉ huy của Lord Talbot và sau đó đã truy kích và tấn công vào các phần khác của quân Anh, giết hoặc bắt tù binh một nửa (2.200) số quân của họ. John Talbot, 1 Bá tước của Shrewsbury và Walter, Lord Hungerford bị bắt tù binh.
  • 1435 -Trận Gerbevoy: La Hire đánh bại một lực lượng Anh dưới sự chỉ huy của Arundel.
  • 1435: Quân đội Pháp chiếm lại Paris.
  • 1450, ngày 15 tháng 4 -Trận Formigny: Một đội quân Pháp dưới sự chỉ huy của Comte de Clermont đánh bại một lực lượng quân Anh dưới sự chỉ huy của Thomas Kyriell.
  • 1451: quân Pháp đánh chiếm Gascony.

1453, ngày 17 tháng 7 -Trận Castillon: Jean Bureau đánh bại Talbot để kết thúc cuộc Chiến tranh Trăm năm. Đây cũng là trận đánh đầu tiên trong lịch sử châu Âu mà việc sử dụng pháo là một yếu tố quan trọng trong việc xác định người chiến thắng. John Talbot, 1 Bá tước Shrewsbury đã thiệt mạng trong trận chiến.

Một số trận đánh tiêu biểu trong chiến tranh Trăm năm

Một số trận đánh trong cuộc chiến của nhà Edward năm 1337 -> 1360

Trận Crécy-1346

Bối cảnh

Như đã nói ở phần trước trực hệ trưởng của Nhà Capetian đã qua đời để lại ba người thừa kế nam: Louis X, Philip V và Charles IV. Isabella-người con thứ tư của vua Phillip IV đã kết hôn với Edward II của Anh và năm 1312 bà này đã sinh hạ một cậu con trai được đặt tên là Edward Windsor-đây là người thừa kế tiềm năng cho ngai vàng của Anh quốc ( qua người cha của ông) và Pháp quốc (qua ông nội của ông).

Sau khi Philip VI kế thừa ngai vàng thì người Anh vẫn kiểm soát vùng Gascony. Vùng này sản xuất các loại hàng quan trọng là muối và rượu vang và có lợi nhuận rất cao. Đó là một vùng đất phong riêng biệt nằm lọt thỏm vào vùng đất của vương quốc Pháp hơn là một lãnh thổ của nước Anh. Sở hữu của vùng đất này là một tranh chấp quyết liệt giữa hai vị vua. Philip VI thì muốn Edward công nhận chủ quyền của mình, Edward lại muốn chiếm lại những vùng đất đã bị mất bởi cha. Một thỏa hiệp ” homage ” đã không làm hài lòng không bên nào đã được ký kết vào năm 1329, nhưng trong năm 1331 vì phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng ở quê nhà, Edward đã chấp nhận Philip là Vua của Pháp quốc và từ bỏ tuyên bố của ông về ngôi vua Pháp. Trong thực tế người Anh vẫn giữ vùng Gascony, đổi lại Edward từ bỏ tuyên bố của ông như là một vị vua hợp pháp của nước Pháp.

Năm 1333, Edward III tiến hành một cuộc chiến tranh chống lại David II của Scotland. Philip nhìn thấy cơ hội để đòi lại vùng Gascony trong khi nước Anh đang tập trung sự chú ý về phía bắc. Tuy nhiên, cuộc chiến tranh này ít nhất ban đầu lại là một thành công nhanh chóng cho quân Anh và vua David đã buộc phải chạy trốn sang Pháp sau khi bị đánh bại bởi vua Edward và Edward Balliol tại Trận Hill Halidon vào tháng Bảy. Năm 1336, Philip đã lên kế hoạch cho một chuyến chinh phạt để khôi phục David lên ngôi Scotland và cũng để chiếm lấy vùng Gascony nhưng đã bị thất bại tại trận Sluys.

Để trả đũa ngày 05 tháng 7 năm 1346, Edward III dong buồm từ Portsmouth với khoảng 750 tàu và 7,000-10,000 lính bắt đầu một cuộc tấn công lớn từ Englis Channel. Đi cùng với ông là Edward, Hoàng tử đen (Edward của Woodstock)-con trai của ông mới gần 16 tuổi, gần đây đã được phong làm Hoàng tử xứ Wales. Ngày 12 tháng 7, Edward đã đổ bộ xuống Hague trong Bán đảo Cotentin của vùng Normandy.

Quân Anh hành quân xuyên qua Normandy. Philip đã tập hợp một đội quân lớn để chống lại ông ta và Edward đã chọn để hành quân về vùng đất thấp phía bắc, tiến hành cướp bóc những vùng ông đã đi qua hơn là cố gắng để chiếm và giữ các vùng lãnh thổ. Trong thời gian này, ông đã có hai trận chiến thành công, đó là trận đột kích vào Caen và Trận Blanchetaque. Cuối cùng không thể lẩn tránh mãi đội quân của Philip, Edward đã bố trí lực lượng của mình cho trận chiến và Philip đã tấn công vào của quân đội ông tại Trận Crécy nổi tiếng. Lực lượng quân đội Pháp với số lượng lớn hơn rất nhiều lần đã thực hiện một loạt các cuộc tấn công từng phần vào bộ binh Anh và cung thủ trường cung xứ Wales, và tất cả các cuộc tấn công đã bị đánh tan tác với tổn thất nặng nề cho đến khi người Pháp buộc phải rút lui. Crécy là một thất bại tan nát đối với người Pháp.

Chỉ huy của các bên đối địch
Chỉ huy bên Anh

Vua Edward III

Edward III (của Windsor) (13 tháng 11 1312 – Ngày 21 tháng 6 năm 1377) là một trong những nhà vua Anh thành công nhất thời Trung cổ. Ông đã phục hồi được quyền lực của hoàng tộc sau thời gian trị vì tai hại của cha ông-Edward II, sau đó Edward III tiếp tục chuyển đổi Vương quốc Anh thành một trong những quốc gia có lực lượng quân sự hiệu quả nhất ở châu Âu. Trong triều đại của ông đã có sự phát triển quan trọng trong cơ quan lập pháp và chính phủ đặc biệt là sự phát triển của Quốc-hội Anh cũng như sự tàn phá của bệnh dịch Black Death. Ông đã ở trên ngôi vị 50 năm, không có nhà vua Anh nào lại có thể trị vì lâu như Henry III trừ George III- vua của Vương quốc Anh.

Edward lên ngôi ở tuổi mười bốn, sau khi cha ông bị truất ngôi. Khi chỉ mới mười bảy tuổi, ông đã cầm đầu một cuộc đảo chính để chống lại, Roger Mortimer – viên quan nhiếp chính và bắt đầu cai trị với tư cách cá nhân của ông. Sau khi đánh bại, nhưng không chinh phục nổi Vương quốc Scotland, ông tuyên bố mình là người thừa kế hợp pháp ngôi vua nước Pháp trong năm 1338, bắt đầu từ những gì sẽ trở thành cuộc chiến trăm năm. Sau một số trở ngại ban đầu, cuộc chiến đã trở nên đặc biệt thuận lợi với nước Anh, những chiến thắng ở Crécy và Poitiers đã dẫn đến Hiệp ước Brétigny rất thuận lợi. tuy nhiên những năm sau của Edward lại được đánh dấu bằng thất bại trên chính trường quốc tế và những xung đột trong nước, chủ yếu là do tính cách bảo thủ và sức khỏe tồi tệ của ông.

Edward III là một con người có tính khí thất thường nhưng cũng có lòng khoan hồng lớn. Ông cũng giống như hầu hết các vị vua bình thường khác, chủ yếu là quan tâm đến chiến tranh. Trong nhiều thế kỷ sau, Edward đã bị tố cáo như là một con người phiêu lưu vô trách nhiệm bởi các nhà sử gia thuộc Whig. Nhưng hiện nay quan điểm này đã thay đổi và các nhà sử gia hiện đại đã tin rằng ông ta đã tạo ra rất nhiều thành tích.

Tiểu sử

Tuổi trẻ

Edward được sinh ra tại Windsor ngày 13 Tháng 11 năm 1312, và được gọi là Edward Windsor trong những năm đầu đời của ông. Triều đại của ông mình-Edward II, đã tràn ngập với những thất bại quân sự, các đại quý tộc nổi loạn và cận thần tham nhũng, nhưng sự ra đời của một người thừa kế nam vào năm 1312 đã tạm thời cải thiện vị trí của Edward II trên ngôi báu. Trong những gì có lẽ là một nỗ lực của cha ông để kéo lại ưu thế của hoàng gia sau nhiều năm bị bất mãn, Edward con đã được phong làm Bá tước của Chester ở lúc chỉ mới mười hai ngày tuổi và chỉ không đến hai tháng sau đó, cha ông đã lập ra cho con mình một triều đình với đầy đủ các cận thần, để ông có thể sống độc lập như thể ông là một nhà quý tộc đã trưởng thành.

Bất mãn với Edward II đã tăng lên một lần nữa khi ông trở nên mê muội vì Hugh Despenser Trẻ. Sự tham lam và bạo lực của ông đã không được nhà vua kiểm soát và ông này có rất nhiều kẻ thù. Sợ rằng phải để lại một mình Despenser ở lại Anh với rất nhiều những người muốn giết ông này, nhà vua với vợ là Nữ hoàng Isabella đến Pháp để đàm phán với ông anh vợ là-Charles IV của Pháp. Sau đó Charles yêu cầu có sự quy phục từ Edward II hoặc từ con trai ông. Nhà vua đã bị thuyết phục bởi Despenser và cha ông đã để cho Edward sang Pháp. Ở Pháp rất nhiều kẻ thù của Despenser đã tụ tập quanh Isabella và họ đã lợi dụng Edward chống lại nhà vua. Để tăng cường liên minh giữa Isabella và Hainault, ông đã đính hôn với Philippa của Hainault. Từ đó một cuộc xâm lược đã được tiến hành và quân đội của Edward II hoàn toàn bỏ rơi ông ta.

Ngày 20 tháng một năm 1327, khi Edward con được mười bốn tuổi, mẹ của ông và tình nhân của bà là Roger Mortimer đã lật đổ nhà vua. Edward lúc này đã trở thành Edward III và đăng quang vào ngày 01 tháng 2, với Isabella và Mortimer là các nhiếp chính. trên thực tế Mortimer là người cai trị Anh, nhưng ông này bị nhà vua trẻ tuổi căm gét và luôn bị làm nhục. Vào ngày 24 tháng 1 năm 1328 nhà vua mười lăm tuổi, kết hôn với Philippa của Hainault mới mười ba tuổi tại York Minster.

Mortimer biết rằng vị trí của ông là rất bấp bênh, đặc biệt là sau khi Philippa có một con trai vào ngày 15 tháng sáu năm 1330. Ông đã sử dụng quyền lực của mình để có được danh hiệu cao quý và chiếm nhiều bất động sản, rất nhiều trong số đó thuộc về Edmund FitzAlan, Bá tước đời thứ 9 của Arundel. FitzAlan, người vốn vẫn trung thành với Edward II trong cuộc đấu tranh của ông với Isabella và Mortimer, đã bị hành hình vào ngày 17 tháng 11 năm 1326. Tuy nhiên Mortimer vốn rất kiêu ngạo và có lòng tham vô đáy nên rất nhiều các quý tộc khác rất căm ghét ông ta, tất cả điều này là không qua được mắt vị vua trẻ.

Vị vua trẻ tuổi và cứng đầu đã không quên số phận của cha mình, tại sao ông đã bị đối xử như một đứa trẻ. Vào lúc gần 18 tuổi, Edward đã sẵn sàng để trả mối thù của mình. Ngày 19 tháng 10 năm 1330, Mortimer và Isabella đang ngủ tại lâu đài Nottingham Castle. Ẩn náu trong bóng đêm, một nhóm trung thành với Edward bước vào pháo đài qua một lối đi bí mật và xông vào phòng của Mortimer. Phe đảo chính tiến hành bắt giữ Mortimer nhân danh nhà vua, và ông này được đưa đến nhà Ngục tháp London. Bị tước đoạt hết đất đai và tước vị, ông đã bị kéo lê trước mặt nhà vua mới 17 tuổi và bị cáo buộc là giả mạo quyền lực của hoàng gia của Anh quốc. Mẹ của Edward có lẽ đã mang thai với Mortimer và bà cầu xin cho lòng thương xót một cách vô ích. Không có xét xử, Edward kết án tử hình Mortimer một tháng sau cuộc đảo chính. Sau khi Mortimer bị hành hình, mẹ của Edward đã bị lưu đày tại lâu đài Castle Rising nơi có báo cáo là bà đã bị sảy thai. Vào ngày sinh nhật thứ 18 của ông, Edward đã hoàn tất việc trả thù và ông đã trở thành người cai trị duy nhất ở Anh quốc.

Những năm đầu của triều đại Edward III

Edward đã lựa chọn nối lại cuộc xung đột quân sự với Vương quốc Scotland nơi mà cha và ông nội của ông đã tham chiến với những thành công khác nhau. Edward đã bác bỏ Hiệp ước Northampton vốn được ký kết trong thời gian nhiếp chính, do đó đổi mới tuyên bố về chủ quyền của Anh với Scotland và kết quả là nổ ra cuộc chiến tranh giành độc lập lần Thứ hai của Scotland.

Có ý định lấy lại những gì mà người Anh cho là của họ, ông đã giành lại quyền kiểm soát Berwick và có được một chiến thắng quyết định Anh tại Trận Hill Halidon trong năm 1333 khi chống lại lực lượng của David II-nhà vua trẻ tuổi của Scotland. Edward III lúc này đặt Edward Balliol trên ngai vàng của Scotland và yêu cầu bồi thường một khoản tiền tương đương 2.000 librates đất tại các quận phía nam – Lothians, Roxburghshire, Berwickshire, Dumfriesshire, Lanarkshire và Peebleshire. Bất chấp những chiến thắng của ông ở Dupplin và Halidon, phe nhà Bruce đã sớm bắt đầu khôi phục và vào cuối năm 1335 sau Trận Culblean thì sự chiếm đóng của nhà Plantagenet ngày càng trở nên khó khăn và phe nhà Balliol đã nhanh chóng sụp đổ.

Tại thời điểm này, năm 1336, John của Eltham, Bá tước xứ Cornwall-em trai của Edward III chết. John Fordun trong quấn Gesta AnnaliaPerth. đã tuyên bố rằng Edward đã giết chết em trai của ông trong một cuộc tranh cãi tại

Mặc dù Edward III đã phải dùng đến một đội quân rất lớn để chiến đấu ở Scotland, bởi vào năm 1337 phần lớn lãnh thổ Scotland đã được phục hồi bằng lực lượng của David II, chỉ để lại một vài lâu đài như Edinburgh, Roxburgh và Stirling thuộc sở hữu của Plantagenet. Những vị trí cỏn con này không đủ để áp đặt sự cai trị của Edward và năm 1338/ 9 Edward đã chuyển từ một chính sách chinh phục sang chính sách ngăn chặn.

Edward phải đối mặt với các vấn đề quân sự trên hai mặt trận; những thách thức từ chế độ quân chủ Pháp. Người Pháp tạo ra ba vấn đề: đầu tiên, họ đã cung cấp hỗ trợ liên tục cho người Scotland qua liên minh Pháp-Scotland. Philip VI bảo vệ cho David II sống lưu vong và hỗ trợ các cuộc tấn của Scotland vào phía Bắc nước Anh. Thứ hai, Pháp tấn công một số thị trấn ven biển Anh, dẫn đến tin đồn ở Anh về một cuộc xâm lược toàn diện. Cuối cùng, của tài sản nhà vua Anh ở Pháp đã bị đe dọa, trong 1337, Philip VI tịch thu công quốc Aquitaine và hạt Ponthieu.

Thay vì tìm kiếm một giải pháp hòa bình cho cuộc xung đột bằng cách tỏ lòng tôn kính nhà vua Pháp, Edward tuyên bố chủ quyền với vương miện của nước Pháp như là hậu duệ nam duy nhất còn sống của ông ngoại đã chết của ông, Philip IV. Tuy nhiên người Pháp viện dẫn luật Salic và bác bỏ yêu cầu này và cho rằng Philip VI-cháu trai của Philip IV mới là người thừa kế thực sự, và qua đó làm bùng nổ chiến tranh Trăm năm. Edward đã cho kết hợp biểu tượng tam sư của nước Anh và hoa huệ của nước Pháp thành gia huy trên áo choàng của mình và tự xưng làm vua của cả Anh và Pháp.

Trong cuộc chiến chống lại nước Pháp, Edward đã xây dựng liên minh với một thiểu số các hoàng thân ở Pháp. Năm 1338, Louis IV đại diện của Đế quốc La Mã Thần thánh đã hứa hỗ trợ ông. Tuy nhiên biện pháp này tạo ra những kết quả ít ỏi, chỉ có chiến dịch quân sự chính được thực hiện trong giai đoạn này của cuộc chiến là chiến thắng của hải quân Anh tại Sluys ngày 24 tháng 6 năm 1340, làm 16.000 binh lính và thủy thủ Pháp đã thiệt mạng.

Trong khi đó, áp lực tài chính vào vương quốc bị gây ra bởi các liên minh đắt tiền của Edward đã dẫn đến sự bất mãn ở quê nhà. Đáp lại, ông trở về mà không báo trước vào ngày 30 tháng 11 năm 1340. Để xóa bỏ sự rối loạn, ông đã quyết định thanh trừng chính quyền hoàng gia và phớt lờ về khoản nợ nước ngoài của Anh quốc (người đầu tiên trong số hai nhà vua không trả nợ trong lịch sử Anh quốc) và có thể ông đã góp phần vào sự sụp đổ của ngân hàng Compagnia dei Bardi. Những biện pháp này đã không mang lại sự ổn định trong nước và sau đó một bế tắc xảy ra giữa nhà vua và John de Stratford-Tổng.giám.mục Canterbury.

Edward, tại Nghị viện Anh của Tháng Tư năm 1341, đã buộc phải chấp nhận hạn chế nghiêm trọng đến đặc quyền của mình về tài chính và hành chính. Tuy nhiên, vào tháng Mười năm đó, nhà vua bác bỏ đạo luật này và đã bị Đức Tổng.giám.mục Stratford tẩy chay về mặt chính trị. Các trường hợp bất thường của Quốc.hội năm 1341 đã buộc nhà vua vào trình, nhưng trong những hoàn cảnh bình thường các quyền hạn của nhà vua trong thời Trung cổ Anh đã hầu như không giới hạn, và Edward đã lợi dụng điều này.

Vận may của chiến tranh

Sau nhiều chiến dich không có kết quả tại Lục địa châu Âu, Edward đã quyết định tiến hành một cuộc tấn công lớn trong năm 1346 và căng buồm đi Normandy với một lực lượng là 15.000 người. Quân đội của ông chiếm thành phố Caen và hành quân trên toàn miền Bắc nước Pháp. Ngày 26 tháng 8 ông đã gặp lực lượng vua của Pháp trong trận chiến Crécy và giành được một chiến thắng quyết định. Trong khi đó khi trở về nhà, William Zouche-Tổng.giám.mục York đã huy động được một đội quân để chống lại David II, người đã quay trở lại và đánh bại rồi bắt tù binh ông này (David II) tại Trận Cross of Neville vào ngày 17 tháng 10. Với biên giới phía bắc của ông đã được bảo đảm, Edward cảm thấy tự do để tiếp tục cuộc tấn công lớn của ông vào nước Pháp và tiến hành bao vây thành phố Calais, thành phố này đã thất thủ sau gần một năm bị bao vây vào tháng 8 năm 1347.

Cũng trong năm 1348, bệnh dịch Black Death đã lan vào Châu Âu và đã giết chết một phần ba hoặc hơn nữa dân số nước Anh. Điều này có nghĩa là không đủ nhân lực để tiến hành một chiến dịch lớn. Các chủ đất lớn phải vật lộn với tình trạng thiếu nhân lực và tình trạng lạm phát đã dẫn đến chi phí lao động cao vọt. Cố gắng để khắc phục tình huống này, nhà vua và Quốc.hội đã ban hành Pháp lệnh về người làm công (1349) và Điều lệ về người làm công (1351). Tuy nhiên bệnh dịch hạch đã không dẫn đến một sự cố toàn diện cho chính phủ và xã hội và số nhân khẩu được nhanh chóng phục hồi một cách đáng kể.

Năm 1356, con trai của Edward, Edward, Hoàng tử đen, đã giành một chiến thắng tuyệt vời tại trận Poitiers. Lực lượng Anh ít hơn rất nhiều không chỉ đẩy lui người Pháp mà còn bắt tù binh vua Pháp, John II. Sau khi một loạt các chiến thắng, người Anh đã nắm giữ số tài sản lớn ở Pháp, vua Pháp bị giam ở Anh và chính phủ trung ương Pháp đã gần như hoàn toàn sụp đổ. Cho dù yêu cầu bồi thường của Edward đến vương miện của Pháp ban đầu thật ra chỉ là một mánh khóe chính trị, nó bây giờ dường như là trong tầm tay. Tuy nhiên, một chiến dịch trong năm 1359 với mục đích để hoàn tất các cam kết nhưng lại không thành công. Do đó năm 1360, Edward chấp nhận Hiệp ước Brétigny, theo hiệp ước này ông từ bỏ tuyên bố của mình về ngôi vua nước Pháp nhưng được bảo đảm rằng chủ quyền của tài sản của ông ở Pháp là đầy đủ.

Thời gian sau của triều đại III

Trong thời gian đầu của triều đại của ông, Edward đã tỏ ra năng động và thành công, trong những năm sau ông đã trở nên ỳ vì những thất bại quân sự và xung đột chính trị. Các công việc hằng ngày của quốc gia đã thu hút hơn Edward hơn những chiến dịch quân sự, do đó, trong thập kỷ 1360 Edward ngày càng dựa vào sự giúp đỡ của các thuộc hạ của mình, đặc biệt là William Wykeham. Là một kẻ mới phất, Wykeham đã được bổ nhiệm làm Lord Privy Seal (quan chưởng ấn) trong năm 1363 và Lord Chancellor vào năm 1367, mặc dù những khó khăn trong sự kết nối chính trị cùng với thiếu kinh nghiệm của ông ta, Quốc.hội đã buộc ông này phải từ chức chancellorship trong năm 1371.

Càng tạo thêm các khó khăn cho Edward là những cái chết của người mà ông tin cậy nhất, một số do sự tái phát của bệnh dịch hạch từ năm 1361-1362. William Montacute- đồng hành của Edward III trong cuộc đảo chính 1330, đã chết năm 1344. William de Clinton, Người đã ở cùng với nhà vua tại Nottingham đã qua đời năm 1354. Một trong những Bá tước của năm 1337, William de Bohun, đã qua đời năm 1360 và năm tiếp theo là Henry Grosmont, có lẽ là viên đại úy ưa thích nhất của Edward đã chết vì dịch hạch. Cái chết của họ để lại phần lớn các Thành viên Quốc.hội trẻ hơn và tự nhiên là phù hợp với các hoàng tử hơn là với nhà vua.

Người con trai thứ hai của nhà vua, Lionel Antwerp, cố gắng để quy phục lực lượng tự trị của các lãnh chúa người Anglo-Ailen ở Ireland. Nhưng chiến dịch đã không thành công, và nó chỉ kéo dài sự chiếm đóng của người Anh theo Điều luật Kilkenny trong năm 1366.

Tại Pháp, trong khi đó, trong thập kỷ sau Hiệp ước Brétigny là một trong yên bình tương đối, nhưng trên 8 tháng Tư, 1364 John II đã chết trong giam cầm ở Anh, sau khi không thành công cố gắng để nâng cao tiền chuộc của riêng mình tại nhà. Ông đã được thừa kế bởi nhà vua Charles V mạnh mẽ, người đã tranh thủ được năng lực của vị Nguyên soái đầy tài năng Bertrand du Guesclin. Năm 1369, chiến tranh ở Pháp lại bắt đầu với một chiều hướng và John của xứ Gaunt-người con trai trẻ tuổi của Edward đã được trao trách nhiệm chỉ huy một chiến dịch quân sự. Những nỗ lực này đã không thành công và với Hiệp ước Bruges trong năm 1375 các tài sản lớn của Anh ở Pháp đã bị giảm xuống chỉ còn là các thị trấn ven biển Calais, Bordeaux và Bayonne.

Thất bại quân sự ở nước ngoài và áp lực liên quan đến tài chính của chiến dịch quân sự đã dẫn đến sự bất mãn chính trị tại quê nhà. Vấn đề này đã lên đến đỉnh cao ở nghị viện vào năm 1376 và trở thành cái gọi là Good Parliament. Quốc.hội được triệu tập để ban hành sắc thuế mới, nhưng House of Commons nắm lấy cơ hội để giải quyết những khiếu nại cụ thể. Đặc biệt, những lời chỉ trích đã được nhắm vào một số các cố vấn thân cận nhất của nhà vua. Lord Chamberlain William Latimer và Lord Steward John Neville, 3 Baron de Raby Neville. Alice Perrers- người tình của Edward, người đến lúc đó được coi như nắm quá nhiều quyền lực so với vị vua già, đã bị đuổi khỏi triều đình. đã bị miễn nhiệm khỏi vị trí của họ.

Tuy nhiên đối thủ thực sự của Quốc-hội, người vốn được hỗ trợ bởi những Đại quý tộc hùng mạnh như Wykeham và Edmund de Mortimer, Bá tước thứ 3 Earl của Max, lại là John của Gaunt. Cả nhà vua và Hoàng tử đen vào thời gian này mất khả năng điều hành Triều chính do bệnh tật, Gaunt đã nắm quyền kiểm soát chính phủ Anh, nhưng rồi ông này cũng đã buộc phải nhượng bộ những đòi hỏi của Quốc.hội, nhưng sau cuộc họp Quốc-hội trong năm 1377, hầu hết các thành tựu của nó đã bị đảo ngược.

Tuy nhiên bản thân Edward đã không làm gì nhiều trong thời kỳ này, sau khoảng năm 1375, ông đóng một vai trò hạn chế trong chính phủ. Khoảng 29 tháng 9, 1376 ông bị bệnh và bị áp xe (có tin đồn là ông bị bệnh lậu). Sau một thời gian ngắn hồi phục vào tháng Hai, nhà vua đã chết vì một cơn đột quỵ tại Sheen, ngày 21 tháng Sáu. Ông được kế tục bởi cháu trai mười tuổi của mình, Vua Richard II-con trai của Hoàng tử đen vì ông này cũng đã qua đời vào ngày 8 tháng 6 năm 1376.

Edward, Hoàng tử đen

Edward của Woodstock, Hoàng tử xứ Wales, Công tước xứ Cornwall, Hoàng tử của Aquitaine, (15 tháng 6 năm 1330 – Ngày 08 tháng 6 1376) là con trai cả của vua Edward III của Anh và Philippa của Hainault, và là cha của vua Richard II của Anh quốc.

Ông được gọi là Edward của Woodstock-nơi ông được sinh ra và sau này ông được gọi một cách phổ biến là Black Prince. Ông là một nhà lãnh đạo quân sự đặc biệt, chiến thắng của ông trước người Pháp ở Crécy và Poitiers làm cho ông ta trở nên rất nổi tiếng. Năm 1348 ông trở thành người đầu tiên Knight of the Garter, tổ chức mà ông là một trong những người sáng lập.

Edward qua đời một năm trước cha của ông và trở thành Hoàng tử xứ Wales đầu tiên không để trở thành vua của nước Anh, thay vào đó là con trai ông- Richard II, một cậu bé vị thành niên đã lên ngôi sau cái chết của Edward III.

Edward sinh ngày 15 tháng 6 năm 1330 tại Woodstock Palace ở Oxfordshire. Ông đã được lập làm Bá tước của Chester vào ngày 18 Tháng 5 năm 1333, Công tước xứ Cornwall ngày 17 tháng 3 năm 1337 và cuối cùng là Hoàng tử xứ Wales vào ngày 12 tháng năm 1343 khi ông mới gần mười ba tuổi. Ở Anh, Edward đã từng là một nhiếp chính tượng trưng trong thời kỳ những năm 1339, 1340 và 1342, trong khi Edward III đang tham gia vào các chiến dịch. Ông được dự kiến​​sẽ tham dự tất cả các cuộc họp Quốc-hội và ông đã tham gia vào các cuộc đàm phán với giáo hoàng về cuộc chiến tranh 1337.

Edward đã được nuôi lớn cùng với người chị em họ của ông-Joan, “The Maid Fair của Kent.” Edward đã được giáo hoàng Innocent VI làm phép rửa tội bởi vì quan hệ họ hàng của họ là tương đối gần (như khi Edward III kết hôn với Philippa của Hainault, người chị em họ của ông) và đã kết hôn với Joan trong ngày 10 tháng 10 năm 1361 tại lâu đài Windsor, cuộc hôn nhân này tạo ra một số tranh cãi, chủ yếu do thực tế là kết hôn với một người đàn bà̀ Anh là lãng phí một cơ hội để hình thành một liên minh với một thế lực ngoại quốc.

Khi ở Anh, nơi cư trú chính của Edward là ở Wallingford Castle trong Berkshire (Bây giờ Oxfordshire) hoặc Berkhamsted Castle trong Hertfordshire.

Ông từng là đại diện của nhà vua Anh tại Aquitaine, nơi ông và Joan nắm giữ một Triều đình vốn được coi là một trong những hoàng gia xuất sắc trong mọi thời gian. Đây là khu nghỉ dưỡng của các vị vua phải sống lưu vong, như James IV của Majorca và Peter của Castile.

Peter của Castile, bị đẩy khỏi ngai vàng của mình bởi anh trai ngoài giá thú-Henry của Trastámara, ông này xin dâng các lãnh địa của mình ở vịnh Biscay cho Edward vào năm 1367, để đổi lấy viện trợ của Hoàng tử đen trong việc khôi phục ngai vàng của mình. Edward đã thành công trong Trận Najera trong đó ông đánh bại hoàn toàn các lực lượng Pháp và Castilian do Bertrand du Guesclin chỉ huy.

Hoàng tử đen trở lại Anh trong tháng 1 năm 1371 và qua đời vài năm sau đó sau khi mắc một căn bệnh lâu dài có thể bị ung thư hoặc bệnh đa xơ cứng.

Edward và tinh thần thượng võ

Edward đã sống trong một thế kỷ của sự suy giảm trong lý tưởng hiệp sĩ. Sự hình thành Knight of the Garter, một tổ chức của hoàng gia Anh mà Edward là một thành viên sáng lập, thể hiện một sự thay đổi đối với chủ nghĩa quốc gia và xa rời việc tham gia các cuộc thập tự chinh-vốn vẫn là đặc trưng của quý tộc Anh trong hai thế kỷ trước. lập trường của Edward trong quá trình này dường như phần nào chia rẽ. Edward hiển thị tuân theo các nghĩa vụ đạo đức điển hình thông qua đóng góp hào hiệp của ông vào tòa Nhà thờ chính Canterbury trong suốt cuộc đời của ông.

Một mặt, sau khi bắt được John the Good-Vua của Pháp, và người con trai út của ông ta tại Poitiers, ông đối xử với họ một cách cực kỳ tôn trọng, ông còn cho phép John quay trở về nhà và cùng cầu nguyện với John tại tòa Nhà thờ chính Canterbury. Đáng chú ý là ông cũng cho phép một ngày trước Trận Poitiers để hai bên có thể thảo luận về trận chiến sắp tới và để Hồng y Périgord có thể đàn phán hòa bình.

Mặt khác, tinh thần hiệp sỹ của ông cũng bị thay thế nhiều lần bởi chủ nghĩa thực dụng. Hoàng tử đen đã sử dụng lặp đi lặp lại chiến thuật chevauchée (đốt cháy và cướp bóc các thị trấn và các trang trại) vốn không phù hợp với quan niệm của tinh thần thượng võ, nhưng nó đã khá hiệu quả trong việc hoàn thành các mục tiêu của chiến dịch của ông và làm suy yếu sự thống nhất và nền kinh tế của nước Pháp. Trên chiến trường, chủ nghĩa thực dụng áp đảo tinh thần thượng võ cũng đã được chứng minh qua việc các bên ngày càng sử dụng nhiều pháo binh, các kị sỹ xuống ngựa để chiến đấu cùng với cung thủ trường cung và tấn công ở bên cánh. Hơn nữa, ông đặc biệt có thái độ khắc nghiệt và khinh thường đối với các tầng lớp thấp trong xã hội, biểu hiện bằng các loại thuế má nặng nề khi đánh vào công quốc Aquitaine và do đó ông đã gây ra những vụ thảm sát tại Limoges và Caen. Hành vi của Edward là điển hình của một số lượng ngày càng tăng các hiệp sĩ Anh và giới quý tộc ở cuối thời Trung cổ- những người càng lúc càng ít quan tâm hơn tới lý tưởng cao cả của tinh thần thượng võ, những hành vi mà sau này sẽ ảnh hưởng nhiều đến các nước khác.

Danh sách các chiến dịch lớn mà Hoàng tử Đen tham gia và ý nghĩa của nó

  • Chiến dịch Flanders năm 1345 ở mặt trận phía Bắc-đây là một chiến dịch có rất ít ý nghĩa và kết thúc sau ba tuần khi một trong những đồng minh của Edward đã bị ám sát.
  • Chiến dịch Crécy trên mặt trận phía Bắc và nó làm tê liệt quân đội Pháp trong khoảng mười năm, cho phép người Anh tiến hành cuộc bao vây Calais mà chỉ gặp rất ít những kháng cự của quân chính quy của đối phương trước khi bệnh dịch hạch nổ ra. Ngay cả khi quân đội Pháp đã phục hồi, lực lượng họ được triển khai chỉ khoảng tương đương một phần tư quân số mà họ đã triển khai ở Crécy (như được cho thấy tại trận Poitiers). Vùng Normandy đã hầu như nằm trong sự kiểm soát của người Anh, nhưng họ lại quyết định tập trung vào miền Bắc nước Pháp, để vùng Normandy nằm dưới sự kiểm soát của chư hầu và đồng minh của nước Anh.
  • Cuộc bao vây Calais, ở đó người dân phải chịu những hoàn cảnh tồi tệ nhất và họ phải ăn thịt chó và chuột. Cuộc bao vây đã tạo cho người Anh và chư hầu khả năng kiểm soát suốt cả miền Bắc nước Pháp trước khi có nền hòa bình tạm thời do bệnh dịch hạch Cái chết đen
  • Chiến dịch phản công ở Calais, sau đó Calais vẫn nằm trong tay người Anh.
  • Les sur Mer Espagnols hoặc trong trận Winchelsea trên kênh English Channel, đó là một chiến thắng có chút ít ý nghĩa Pyrrhic (chiến thắng với cái giá đắt đỏ, thậm chí làm người chiến thắng suy kiệt), để ngăn chặn các cuộc tấn của người Tây Ban Nha vào quận Ess.e.x của Anh quốc.
  • Cuộc cướp bóc vĩ đại trong năm 1355 trong vùng Aquitaine-Languedoc, nhằm mục đích làm tê liệt nền kinh tế của miền Nam nước Pháp và gây nên sự bất mãn của nông dân Pháp với nhà vua của chính họ. Các cuộc tấn công chinh phục vào khu vực vùng “đệm” tạo cơ hội mở ra một liên minh với các nước láng giềng trong vùng Aquitaine mà xứ Navarre của Charles the Bad là một tiểu quốc đáng chú ý nhất, và gây ra xu hướng làm cho nhiều vùng thuộc nước Pháp muốn có quyền tự chủ và làm cho nước Pháp không còn là một vương quốc thống nhất nữa.
  • Cuộc chinh phục vùng Aquitaine đem lại sự kiểm soát vững chắc hơn cho người Anh vào vùng đất này để mang lại nhiều nguồn tài nguyên đất đai và vật lực để phục vụ cho nhu cầu chiến tranh của Edward.
  • Chiến dịch Poitiers ở vùng Aquitaine-Loire làm tê liệt quân đội Pháp trong vòng 13 năm, gây ra tình trạng hỗn loạn và chính sự hỗn loạn lại là căn nguyên của Hiệp ước Bretigney được ký kết trong năm 1360. Sau chiến dịch này, nước Pháp không còn bất kỳ vị chỉ huy quân đội danh tiếng nào, mọi thách thức đều dồn vào Charles the Wise (Charles VII-vị vua Pháp lên thay thế John II) và các quý tộc Pháp bị giết chết ở Crécy và Poitiers còn nhiều hơn cả bởi bệnh dịch Cái chết đen.
  • Chiến dịch Reims, chiến dịch mà sau đó hòa bình cuối cùng đã đạt được với Hiệp ước Bretigny. Tuy nhiên, theo các điều khoản tương tự, người Anh chỉ rời khỏi khoảng một phần ba các vùng đất chiếm được của Pháp chứ không là hơn một nửa như họ sẽ phải thực hiện theo Hiệp ước London. Điều này là do thất bại trong việc chiếm Reims dẫn đến sự cần thiết của một lối đi lại an toàn trong nước Pháp. Kết quả là, một hiệp ước nhỏ hơn đã được đồng ý và Edward III đã buộc phải bỏ tuyên bố của ông lên ngôi vua Pháp. Pháp vẫn còn bị buộc phải trả một khoản tiền khổng lồ khoảng bốn lần tổng sản phẩm nội địa hàng năm của Pháp để chuộc John the Good. Các khoản tiền chuộc được trả được, tuy nhiên vẫn còn thiếu một chút so với yêu cầu của người Anh và John the Good đã không bao giờ được trả lại cho người Pháp. Như vậy, chiến dịch này mang lại nhiều kết quả khác nhau, nhưng chủ yếu là có ý nghĩa tích cực cho Edward. Một điều đáng nhớ là Edward III không bao giờ thực sự từ bỏ yêu cầu của mình đối với ngai vàng của và rằng khoảng một nửa lãnh thổ của Pháp đã bị kiểm soát bởi các chư hầu của người Anh.
  • Cuộc vây hãm Limoges trong năm 1370 ở vùng Aquitaine, sau đó Hoàng tử Đen là đã phải dừng các công việc của mình lại không chỉ vì bệnh tật và các vấn đề tài chính, mà còn do sự tàn ác khủng khiếp của cuộc bao vây, quấn sử Froissar cho thấy có vụ thảm sát đến khoảng 3.000 cư dân của vùng này. Vì không có Hoàng tử, các nỗ lực chiến tranh của người Anh chống lại Charles the Wise và Bertrand Du Guesclin đã bị tiêu diệt. John of Gaunt-người anh em ruột của Hoàng tử Đen đã không quan tâm với cuộc chiến ở Pháp, mà hướng nhiều hơn sự chú ý của ông vào cuộc chiến kế vị ở Tây Ban Nha.
  • Vua Edward III và hoàng tử Đen lại dong buồm đến nước Pháp từ Sandwich với 400 tàu chở 4.000 kị sỹ và 10.000 cung thủ, nhưng sau sáu tuần vì thời tiết xấu và hướng đi bị thay đổi, họ đã phải hướng trở lại nước Anh

William de Bohun-Bá tước Northampton (năm 1312-1360)

William de Bohun, bá tước đầu tiên của Northampton, một người anh em họ và người bạn tận tâm của Edward III, đã hai lần làm trung úy của nhà vua tại Anh và trong nội chiến Bretonvà một chỉ huy hàng đầu của Anh trong giai đoạn đầu tiên trong chiến tranh Trăm năm, ông là người con trai thứ năm của Humphrey de Bohun-bá tước của Hereford và Es***, và Elizabeth-con gái của Edward I, trong tháng 10 năm 1330, ông cầm đầu vụ bắt giữ Roger Mortimer-bá tước của March tại lâu đài Nottingham, từ đó bắt đầu sự cai trị cá nhân của Edward III. Bohun từng chiến đấu ở Scotland trong đầu thập kỷ 1330 và năm 1336 đã tham gia đàm phán một thỏa thuận ngừng bắn Anh-Scotland. Trong năm 1332, Bohun nhận được vùng đất trước đây thuộc về người chú của vua, Thomas của Brotherton-Bá tước Norfolk, và trong năm 1335 kết hôn với Elizabeth, góa phụ của người thừa kế Bá tước March. Ngày 16 tháng 3 năm 1337, Bohun được được thụ phong làm Bá tước của Northampton, một trong sáu Bá tước mới được tấn phong để mở rộng số lượng các nhà quý tộc Anh nhằm tăng cường những chỉ huy quân sự trong cuộc chiến sắp tới với Pháp. Bá tước Northampton đã đàm phán cho Edward với Pháp và các đồng minh tiềm năng trong vùng đất thấp trong năm 1337-38 và, trong năm sau, được nhà vua cử làm liên lạc với Hội đồng Anh. Ông chiến đấu trong chiến dịch năm 1339 tại miền Bắc nước Pháp và trong trận chiến hải quân Sluys, chiến dịch mà ông đã cho nhà vua vay £ 800. Trong tháng 7 năm 1340, ông bị giam giữ một thời gian ngắn tại Brussels như là một con tin về các khoản nợ lớn của nhà vua và chỉ thoát khỏi đó bằng cách bỏ trốn khỏi nhà giam để về với quân đội Anh và với Edward III trong tháng 11. Bá tước Northampton đã phát biểu thay mặt nhà vua với John Stratford, tổng.giám.mục của Canterbury, trong cuộc khủng hoảng chính trị năm 1340-1341. Ông được bổ nhiệm làm trung úy của nhà vua tại Anh vào 20 tháng 7 năm 1342, Bá tước Northampton đã tiến hành một cuộc bao vây vào Brest và đánh bại Charles của Blois, ứng cử viên do Pháp hậu thuẫn cho danh hiệu công tước Morlaix vào ngày 30 tháng 9. Sau đó ông bao vây Nantes trước khi từ chức trung úy của nhà vua vào ngày 02 tháng tư năm 1343 để tham gia vào các cuộc đàm phán hòa bình được đề xuất bởi Clement VI như một phần của thỏa thuận ngừng bắn Malestroit. Với sự sụp đổ của các cuộc đàm phán, Northampton đã được tái bổ nhiệm trung úy tại Anh vào ngày 24 tháng 4 năm 1345. Ông đã chiến đấu tại Crécy trong tháng 8 năm 1346 và tại cuộc bao vây năm Calais 1347 cho đến khi tháng Giêng, khi ông một lần nữa lại từ chức chức trung ú́y ở Breton để tiến hành các cuộc đàm phán với người Pháp và Flemings. Ông được nhận vào Order of the Garter trong tháng Chín năm 1349, Ông trở về Scotland trong thập kỷ 1350 và phục vụ như là người quản lý các tù nhân của các chiến dịch rồi đô đốc của Hạm đội phía Bắc và chỉ huy trưởng của Lâu đài Carlisle. Năm 1359-60, vị bá tước trở này về Pháp và phục vụ trong Chiến dịch Rheims và chứng kiến ​​việc ký kết Hiệp ước Bretigny. Ông mất ngày 16 tháng chín 1360.

Beauchamp Thomas, Bá tước Warwick ( năm 1314-1369)

Thomas Beauchamp, bá tước thứ 11 của Warwick và là một đồng đội quan trọng và đặc biệt nhất của Edward III, ông tham gia vào hầu hết các trận đánh và chiến dịch ban đầu của chiến tranh trăm năm. Beauchamp chỉ là một đứa trẻ khi cha của ông-Guy de ự quyền sở hữu vùng đất Warwick đến Hugh Despenser the Elder-sủng thần của ông ta, nhưng vị bá tước trẻ tuổi và cuộc hôn nhân của anh ta được giao phó cho Roger Mortimer-vị bá tước tương lai của March, người có con gái kết hôn với Bá tước Warwick trong khoảng 1327. Trong tháng hai năm 1329 trong khoảng thời gian cai trị của bố vợ ông và Nữ hoàng Isabella cho phép Warwick được phong tước hiệp sĩ và chiếm lại đất đai của mình, mặc dù ông vẫn còn chưa đủ tuổi. Trong thập kỷ 1330, Warwick đã chiến đấu tại Scotland, nơi ông được bổ nhiệm làm chỉ huy quân đội trong năm 1337. Năm 1339, ông cùng với Edward III đến Pháp và năm 1340 đã có mặt tại cuộc bao vây Tournai và tham gia vào các cuộc đàm phán dẫn tới cuộc ngưng bắn Esplechin. Từ tháng 9 năm 1340 cho đến tháng 5 năm 1341, Vị bá tước này cũng bị giam cầm trong Malines như vật bảo lãnh cho việc thanh toán các khoản nợ của nhà vua. Năm 1342, Warwick phục vụ tại cuộc bao vây của Vannes tại Anh và trong năm 1346 và chiến đấu bên cạnh Edward-Hoàng tử đen, tại Crécy nơi mà ông ta đã được gặt hái đáng kể về danh tiếng quân sự được nâng cao. Warwick đã có mặt tại các cuộc bao vây Calais trong năm 1347 và đi cùng với Hoàng tử đen trong các chiến dịch Che vauchee xuyên qua miền nam nước Pháp trong năm 1355. Sử gia Geoffrey Baker viết rằng Warwick và các đồng chí của ông đã chiến đấu những con sư tử tại Poitiers trong tháng 9 năm 1356 và trong năm 1359-1360, ông này cũng tham gia Chiến dịch Rheims và là một trong những nhân chứng tại buổi lễ ký kết Hiệp ước Bretigny. Bá tước Warwick cũng đã được hào phóng ban thưởng cho sự phục vụ của ông và được bổ nhiệm làm bá tước Thống chế của quân đội Anh năm 1344 và nhận được một món quà của hơn £ 1.300 trong năm 1347. Năm 1348, nhà vua cấp cho Warwick một khoản trợ cấp hàng năm 1.000 đồng mark và cũng đã chọn ông làm một thành viên sáng lập của the Order of the GARTER, chỉ sau có Edward-Hoàng tử Đen và Henry của Grosmont-công tước vùng Lancaster. Trong thập kỷ 1360, ông cũng phục vụ cho Hoàng tử đen ở Aquitaine và tham gia thập tự chinh ở Phổ và đã dẫn đầu một phái đoàn ngoại giao đến Scotland. Về việc nối lại cuộc chiến trong 1369, Warwick đã đi cùng với John của Gaunt-công tước của Lancaster, đến Calais, nơi mà tin tức về sự xuất hiện của vị bá tước này được cho là đã thuyết phục Philip the Bold-công tước của Bourgogne, rút ​​quân đội của ông khỏi vùng này. Sau đó Warwick đã tham gia vào chiến dịch chevauche’e của Gaunt vào Normandy, khi trở về Calais vị bá tước này đã mắc phải dịch bệnh và qua đời vào ngày 13 Tháng 11 năm 1369.

CHỈ HUY QUÂN ĐỘI PHÁP

Philip VI (năm 1293-1350)

Philip VI là nhà cai trị đầu tiên trong rất nhiều thế hệ của người Pháp đã bại trận trong tay người Anh. Ông ta được sinh ra trong năm 1293 và cha của ông-Charles, Bá tước của Valois, Anjou và Maine là người em trai của vua Philip IV và cũng là ông nội của Louis IX. Mẹ của ông ta là Marguerite-con gái của vua Charles II của Naples ở niền Nam Italy. Khi mà bản thân Philip thừa kế các xứ Valois, Anjou và Maine, thì anh họ của ông-Charles trở thành vua của nước Pháp.

Đăng quang vào năm 1328, Philip VI chết vào năm 1350 và là vị vua Pháp nhà Valois đầu tiên cai trị nước Pháp tới tận năm 1589. Philip được tưởng nhớ đến như một chính trị gia sắc xảo và tinh khôn hơn là một chiến binh, và là một người cực kỳ thận trọng về những vấn đề về quân sự.

Charles II-Bá tước của Alencon

Charles II-Bá tước của Alencon, là người em trai của nhà Vua Philip VI, Ông ta là một chiến binh thực thụ hơn so với nhà vua và trước khi xảy ra thảm họa ở Crécy thì ông là một chỉ huy quân sự hoàn toàn thành công. Ví dụ như trong năm 1330 ông đã chiếm được thành phố Saintes-lúc này đang nằm trong tay người Anh ở miền phía Tây của nước Pháp bất chấp rằng ở đó có một lượng lớn quân Anh đồn trú. Người ta không biết rằng liệu những hoạt động sau khi công chiếm thành phố Saintes có được duyệt bởi Vua Philip VI không, chỉ có điều những vị trí đầu tiên của Edward III đã bị buộc phải đầu hàng. Thật không may những thành công của ông ta ở Saintes có thể làm cho vị Bá tước của Alencon một ấn tượng sai lầm về cả năng lực của ông lẫn sức mạnh của người Anh.Tuy nhiên, ông ta vẫn là một trong những cố vấn có kinh nghiệm nhất cho vua Philip và John, Công tước xứ Normandy-người con trai ốm yếu của Philip, người mà sau này trở thành vua John II , và hỗ trợ cho Charles of Blois trong những cố gắng của ông ta để tái chiếm Nantes-thủ đô mang tính lịch sử của xứ Brittany. Sự tham dự của Alencon vào cuộc thương thuyết đã phá vỡ một liên minh Anglo-Flemish ở gần Bouvines mà không phải đánh trận đã cho thấy rằng ông ta là người thông minh về ngoại giao.

John of Luxembourg

John of Luxembourg là con trai của một Hoàng đế Đức. Bản thân ông ta có một cái gì đó fgiống như một hiệp sỹ lang thang, với những kỹ năng mã thượng về tài lãnh đạo và chỉ huy cũng như là hoàn toàn trung thành với nước Pháp. Vùng Bohem mà bây giờ là một phần lãnh thổ của Cộng Hòa Séc, có triều đình địa phương của nó bị tuyệt tự sau vụ ám sát của Wencelas III in 1304. Các quý tộc người Bohem đã chuyển sang chọn Triều đình Luxembourg-một dòng tộc Đức bị ảnh hưởng nặng nề bởi người Pháp. Và kết quả là cậu bé 14 tuổi John of Luxembourg đã trở thành nhà vua của vùng Bohem vào năm 1310. Sự nhiệt tình về tinh thần mã thượng đã là động cơ để ông ta tham gia vào các chiến dịch Thập tự chinh ở Lithuania ( các năm 1328-29, 1337 và 1345) chiến dịch ở Italy (1330-31) và tại chính vùng Bohem.Sự quan tâm của John of Luxembourg là hoàn toàn về hướng về phương Tây (ý nói tuy ông ta làm vua của Bohem một vùng ở Đông Âu). Những vùng đất của tổ tiên của ông nằm ở những vùng vỡ vụn của Đế quốc Thánh thần vốn bao quanh nước Pháp. Ở đó tầng lớp quý tộc nói tiếng Pháp trong khi tầng lớp bình dân sử dụng rất đa dạng tiếng Đức vùng Đất thấp mà người Pháp đánh đống làm một như là Thiois. Trong suốt tuổi thành niên, John of Luxembourg luôn luôn là một cận thần, một người lính và một nhà ngoại giao trung thành với Triều đình Pháp. Như là một người mà Philip VI tin tưởng nhất, ông ta đã được ủy quyền quản lý miền Tây Nam nước Pháp in năm 1338 -> 39, và chiến đấu bên cạnh nhà vua ở Cambrai, và lập ra một phần của đội thương thuyết đã phá vỡ một liên minh Anglo-Flemish ở Bouvines. John of Luxembourg cũng là một trong những người hỗ trợ chính về tài chính cho chiến dịch Crécy của Philip VI trong năm 1346, vào thời gian đó ông ta chưa già lắm nhưng gần như bị mù lòa.

Carlo Grimaldi

Carlo Grimaldi, II Grand là một trong 4 gia đình đứng đầu ở Genoa thời Trung cổ. Nhà Grimanldi là Guelph, những người ủng hộ truyền thống của Giáo hoàng khi phải đối đầu với đối thủ của họ là Đế quốc La Mã Thánh thần. Như vậy suy rộng ra thì họ cũng là bạn của người Pháp, những người vốn là lực lượng ủng hộ Giáo hoàng mạnh mẽ nhất. Hậu quả là Grimaldi thường chiến đấu ở Pháp như là lính đánh thuê, chỉ huy quân sự hoăchj Đồng minh. Ranieri-bố của Carlo đã từng là Lãnh chúa của vùng Ventumiglia từ năm 1329 tới 1335 cho tới khi bị đảo chính bởi Ghibbeline ( vốn ủng hộ Đế chế). Bốn năm sau đó Genoa mệt mỏi vì cuộc cãi cọ giữa các quý tộc của nhà Guelph và Ghibbeline, đã chọn Simon Boccanegra làm Tổng trấn mới, nhưng ở vùng Ventumiglia nơi mà Carlo Grimaldi đã dành lại được quyền kiểm soát đã từ chối quyền điều hành của vị tổng trấn mới. Trong năm 1341 Carlo mua lại vùng Monaco từ nhàv Spinola và vùng này cùng với vùng Ventumiglia và Roquebrune đã trở thành những nơi tị nạn của những gia đình Genoa Guelph. Carlo Grimaldi và rất nhiều những thành viên của gia đình ông ta và những người phụ thuộc vào họ thường luôn ủng hộ Philip của nước Pháp trong cuộc chiến của ông này chống lại Edward III của nước Anh. Lãnh thổ của nhà Grimaldi thì rất nhỏ nhưng sức mạnh hải quân của họ thì hoàn toàn có giá trị. Họ cũng chuẩn bị chiến đấu với các hạm đội được cung cấp bởi đối thủ Ghibbeline của họ-nhà Doria. Lần đầu tiên trong lịch sử của nó, vùng tự trị Monaco đã được công nhận khi mà Carlo và Antoine-anh trai của ông ta được phong làm đại diện của Giáo Hội của vùng Provence. Trong năm 1346 Carlo Grimaldi đã tạm thời bị đuổi khỏi quyền lực ở Monaco bởi một cuộc đảo chính ở địa phương đúng vào lúc ông ta đang hoàn toàn cung cấp các hỗ trợ cho Philip VI và làm cho ông ta bị thương nặng trong trận chiến Crécy.

Kế hoạch xâm lược Pháp của người Anh

Nước Pháp trước khi có cuộc xâm lược của vua Anh-Edward III năm 1346

Sáu thế kỷ rưỡi sau khi sảy ra các sự kiện, người ta vẫn không thể biết được ý định ban đầu của Edward III, mặc dù có vẻ như một chiến lược lớn theo đó nhiều đội quân hội tụ về Paris từ Normandy, Flanders, Anh và Gascony là điều cực kỳ khó, Dường như Edward hy vọng sẽ chinh phục các vùng ven biển phía Bắc, sau đó thêm chúng vào Anh, nơi các đồng minh của ông đã làm rất tốt. Nếu vậy, kế hoạch đã được chứng minh là không thể và chiến dịch của Edward đã ít nhiều trở nên một chevauchee (trận càn quét) hoặc đột kích lớn. Mặt khác tất cả các chiến dịch của người Anh trong năm 1344-1359, trong đó có cả trận Crécy chỉ đơn giản là có thể gây những bất ổn về mặt chính trị để làm trầm trọng thêm những yếu điểm của Philip VI. Do đó mục đích về quân sự của Edward có thể là sẽ tăng cường, củng cố yêu cầu của ông ta về vương miện của nước Pháp

Người ta cho rằng sau khi hạm đội của Edward khởi hành quay trở về nhà thì nó đã được chất đầy chiến lợi phẩm sau sự sụp đổ của thành phố Caen, ông ta đã không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc hành quân bộ đối để đến địa điểm có đồ cung cấp mà ông ta hy vọng sẽ gặp chúng tại La Crotoy tại Ponthieu. Dường như là Edward III không muốn đánh một trận lớn với Philip cho đến khi ông liên kết với những đồng minh người Fleming, do đó, việc phải rút lui sẽ là những tin tức khó chịu nhất. Tuy nhiên một khi không thể tránh khỏi một trận chiến, thì kế hoạch của Edward III là rõ ràng ông rằng muốn đánh nhau với các kỵ binh Pháp hơn là bộ binh của họ. Do đó, ông ta đã tìm cách kích động để đối phương tung ra các đợt tấn công bằng kỵ binh ngược từ dưới thấp lên trên cao vào những đội hình bộ binh phòng ngự được chuẩn bị tốt. Một khi cuộc tấn công của người Genova bị đánh bại thì tất nhiên là chính xác những gì Edward III mong muốn đã xảy ra.

Kế hoạch phòng thủ của người Pháp

Philip VI đã hầu như không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải áp dụng một chiến lược phòng thủ, trong đó lực lượng địa phương phải cố gắng bảo vệ những thị trấn trên đường tiến quân của người Anh và quấy nhiễu những kẻ xâm lược, trong khi đó thì nhà vua nhanh tróng tập hợp một đội quân để đối mặt với họ một cách công khai. Nếu tình hình trở nên không thể đối với người Anh trong việc quản trị các vùng lãnh thổ mà họ đã chinh phục, thì sau đó một khoảng thời gian người Pháp có thể sẽ tại chiếm lại chúng. Trong thực tế đây là những gì đã xảy ra ở Normandy. Chỉ có ở Calais thì quân xâm lược mới xác định chiếm giữ những gì mà họ mới chiếm được. Sau khi quân đội của Edward III vượt qua sông Seine, Philip VI có thể đã hy vọng rằng bằng cách truy kích người Anh một cách khốc liệt, ông có thể khuyến khích họ rời khỏi Pháp mà không cần phải có một trận chiến lớn. Hy vọng này đã bị tan vỡ khi ông nhìn thấy quân Anh đã ở vào một vị trí được chuẩn bị tốt ở Crécy

Khi một trận chiến lớn trở thành là điều không thể tránh khỏi, kinh nghiệm trước đây của Philip có thể đã quay trở lại đánh lừa ông ta. Tại Cassel trong năm 1328 một cuộc tấn công kỵ binh Pháp hoàn hảo vào cánh của người Flemish đã mang lại co ông một chiến thắng nhanh chóng, những thành công khác của vua Philip tại Buironfosses năm 1339 và Bouvines năm 1340 là những trận “ bất chiến tự nhiên thành”, tại đó việc (Philip VI) cố tình lảng tránh một trận chiến quyết định đã hai lần đánh bại những chiến dịch trước đó của Edward III. Nhưng chiến thuật này đòi hỏi phải có một vị trí chính trị mạnh mẽ. Sự tàn phá được gây ra bởi người Anh kể từ khi họ đổ bộ xuống Normandy, chưa kể đến những lời chế nhạo của những người mô tả chiến thuật của ông là “hành vi của một con cáo chứ không phải là của một con sư tử”, vua Philip đã phải chịu áp lực cho một hành động dứt khoát.

Cuộc xâm lược

Một lực lượng rất lớn quân Anh được tập hợp ở Portsmouth vào tháng 5 và tháng 6 năm 1346, mặc dù không lớn như Edward III đã hy vọng. Việc tuyển binh cũng chậm hơn so với dự định. Tuy nhiên, Vua Edward III cũng phải chấp nhận nguy cơ phơi bày đất nước của mình ra cho những cuộc tấn của người Scotland ( hiện đang là Đồng minh của Pháp ) bằng việc tuyển quân ở khắp mọi nơi ngoại trừ những quận xa nhất ở phía bắc. Dường như ít nhất một nửa quân đội là những tay cung thủ, ngoài ra họ còn bao gồm thợ mỏ, thợ rèn, kỹ thuật viên cầu phà, thợ mộc, người dựng lều trại, bác sĩ giải phẫu, sỹ quan, binh lính và kị sỹ.

Kết quả là quân Anh có một lực lượng từ khoảng 10,00 và 15.000 nghìn người và cần có ít nhất là 750 chiếc tầu để vận chuyển. Sự tập trung của đội tàu này đã bị trì hoãn bởi các cơn bão và điều kiện thời tiết tương tự. Những chiếc tàu lớn nhất là những chiếc Cog 200 tấn, nhưng vì thiếu những chiếc tàu phù hợp có nghĩa là những chiếc tầu 10 tấn cũng đã được trưng dụng, chúng có thể bao gồm cả những con tàu chạy ven biển và chúng đã đưa một số lượng rất lớn thực phẩm đến điểm tập trung quân. Bản thân Edward III đã đến Porchester Castle vào ngày 1 tháng Sáu để giám sát các hoạt động. Trong lúc này chính phủ Anh đã sử dụng nhiều hình thức tuyên truyền tận dụng tình cảm chống Pháp. Sau đó quân đội đã được trả trước thêm một khoản lương từ một đến hai tuần và các cảng London, Dover, Winchelsea và Sandwich được khóa chặt để ngăn chặn tin tức về hạm đội Anh đang chuẩn bị xâm lược lược Pháp có thể bị dò gỉ. Không có chiếc tàu được phép ra khơi cho đến sau một tuần sau khi hạm đội Anh đã khởi hành, ngoại lệ duy nhất là những con tầu mà Sir Hugh Hastings và những người của ông đã dùng để đến Flanders

Mọi người hoàn toàn không được biết rằng vào lúc nào thì Edward III cho thay đổi kế hoạch cuối cùng của ông, nhưng có thể đã có một cuộc họp bí mật vào khoảng ngày 20 tháng Sáu. Trước đây người ta đã giả định rằng hạm đội sẽ giong buồm đến Gascony và các con tàu được chuẩn bị cho một cuộc hành trình kéo dài hai tuần. Nhưng sau đó Edward III hoặc là đã thay đổi kế hoạch của mình hoặc lúc này mới nói với các chỉ huy của ông về kế hoạch thật của mình, đó là tiếp đất ở bán đảo Cotentin thuộc xứ Normandy.

Một cuộc xâm lược khác được tung ra từ xứ Flanders, được hỗ trợ bởi Sir Hugh Hasting, một hiệp sĩ đến từ Norfork với một lực lượng nhỏ được chở trên 18 chiếc sà lan, bao gồm 250 cung thủ và một số kị sỹ. Ngày 24 tháng Sáu, những người đứng đầu các thành phố Ghent, Bruges và Ypres đã chấp nhận nằm dưới sự chỉ huy của người Anh và vào ngày 16 tháng 7 Hasting đã đến được Ghent, nơi mà các lực lượng Flemish đang tập hợp dưới sự chỉ huy trên danh nghĩa của Bá tước Henry xứ Flanders. Trong khi đó những thủ lĩnh của các thành bang láng giềng như Brabant và Hainault lại đồng ý hỗ trợ có Philip VI của nước Pháp, tạo thế cân bằng với liên minh của Edward.

Người Pháp biết rằng cuộc xâm lược từ nước Anh đã sắp xảy ra, nhưng họ đã bị cản trở bởi không biết điểm đến của các hạm đội Anh. Việc chuẩn bị các công trình phòng thủ đã được tiến hành từ ngày 18 tháng Ba, ở tại Brittany hoặc Gascony như là các mục tiêu dự kiến (những nơi mà người Pháp dự kiến người Anh sẽ đổ bộ xuống). Charles của Blois cho tuyển dụng một số lượng lớn binh lính ở Brittany và tuyển cả binh lính người nước ngoài, trong khi đó vào tháng Năm, Philip VI gửi lực lượng tăng viện được rút ra từ các đội quân của Công tước Normandy ở xứ Gascony.

Việc điều động này làm cho chỉ còn một vài đơn vị đồn trú rải rác và một số lính bắn nỏ người Genova ở Normandy và Picardy, nơi tình trạng khẩn cấp đã được công bố với những cố gắng thô sơ để khóa những bến cảng chỉ bằng những cây cọc gỗ nhọn. Rõ ràng là vua Philip hy vọng sẽ đánh chặn được người Anh ngay trên biển và một cuộc tổng kiểm kê các tầu vận tải có sẵn đã được thực hiện. Ít nhất là người Pháp có 78 chiếc tàu lớn đã được trưng thu và đang trang bị tăng cường những chiếc tháp bằng gỗ ở Hạ Normandy và một số lượng tầu còn lớn hơn nữa ở vùng Thượng Normandy và Picardy. Các sĩ quan và lính bắn nỏ Genova được cử lên trên các con tàu này để phục vụ như là một lực lượng phụ trợ cho một lực lượng đáng kể các tầu chiến kiểu Galley của người Genova. Thật không may là đội tàu galley của người Genova đã bị trì hoãn trong quá trình di chuyển và chỉ đến Pháp vào tháng Tám. Lực lượng tiên phong của họ đã rời Nice dưới sự chỉ huy của Carlo Grimaldi vào ngày 06 tháng 5, nhưng họ đã không thể vượt qua Vịnh Biscay sớm hơn. Sau đó họ đã bị phân tán bởi một cơn bão ở biển Đại Tây Dương và phải hạ buồm tránh bão tại cửa sông Tagus ở Bồ Đào Nha-nơi mà họ phải ở lại đó cho đến đầu tháng Bảy.

Quay trở lại Pháp, Chales của Blois đã phát động một cuộc tấn công lớn tại xứ Brittany nhưng ông này đã bị một thất bại nặng nề ở Saint-Pol de Leon vào ngày 09 tháng 6. Ở xứ Gascony Công tước xứ Normandy đã không thể có bất cứ tiến bộ nào trong cuộc bao vây của ông vào cứ điểm Aiguillon của người Anh. Một cuộc tấn công trực tiếp đã thất bại, lực lượng bao vây bị thiếu lương thực và những toán quân đi kiếm lương thảo của họ đã bị liên tục quấy nhiễu bởi những lực lượng có cảm tình với người Anh. Sau đó, vào cuối tháng Sáu Philip VI mới nhận ra rằng mối đe dọa chính là ở phía bắc và điều đến đó vị Nguyên soái của nước Pháp cùng với một phần của đội quân của Công tước xứ Normandy. Ông này được giao nhiệm vụ kiểm soát thành phố Harfleur trên cửa sông Seine và vị Bá tước của xứ Flanders cũng đã được gửi đến tham gia phòng thủ với ông. Các vị Thống chế Pháp khác có lẽ cũng đã được triệu hồi từ phía nam, những biện pháp phòng thủ, cảnh báo cũng được tăng cường dọc theo bờ biển Chanel và lệnh triệu tập đã được gửi đi để tuyển dụng gấp một đội quân ở miền Bắc nước Pháp. Người Scotland đã không phá vỡ thỏa thuận ngừng bắn của họ với người Anh, nhưng họ sẽ đột kích dọc theo biên giới phía Bắc của Anh một khi Edward phá vỡ thỏa thuận ngừng bắn của ông với nước Pháp. Bức thư cấp bách của Philip gửi đến vua David của Scotland vào tháng Sáu có viết rõ ràng rằng: “Tôi cầu xin ngài, tôi khẩn nài ngài với tất cả những gì mà tôi có thể, vì quan hệ họ hàng và tình bạn giữa chúng ta. Xin ngài hãy làm cho tôi những gì mà tôi sẽ sẵn sàng làm cho ngài trong cuộc khủng hoảng như vậy và xin ngài hãy làm điều đó một cách nhanh chóng và triệt để như là với sự giúp đỡ của Chúa mà ngài có thể. ” ( Thực tế thì vua David của Scotland đã sẵn sàng ra tay đột kích vào miền Bắc nước Anh để chia lửa cho người Pháp, nhưng rất đáng buồn là ông ta cũng đã bại trận và bị cầm tù ở Anh, hoàn cảnh của ông này cũng tệ chẳng kém Philip VI sau trận Crecy)

Edward III lên tàu vào ngày 28 tháng Sáu và sau nhiều ngày bị trái gió, ông đã cho giong buồm đến Yarmouth từ Isle of Wight, nơi ông đợi phần còn lại của hạm đội. sau đó gió không thuận lợi đã buộc toàn bộ hạm đội lớn của Anh quay trở lại Portsmouth và Forrland. Vào ngày 03 tháng 7 Edward III lại lần nữa ra lệnh khởi hành đến Yarmounth, theo sau tầu của ông là phần còn lại của hạm đội cho đến khi các con tàu thả neo ở xa tận Needles, một lần nữa gió lại đổi hướng làm cho chiếc neo chở nên không an toàn, buộc họ phải quay trở lại bến cảng Portsmouth trong một khoảng thời gian chín hoặc mười ngày. Cuối cùng, vào ngày 11 tháng 7 hạm đội lại ra khơi với gió và thủy triều hoàn hảo và tập hợp tại ngoài khơi St Helens. Tại đó Edward III đã đưa các bức thư mệnh lệnh có gắn niêm phong cho các thuyền trưởng của ông ta trước khi gần 1,000 con tàu các loại khởi hành đi Normandy. Họ đã đến đích vào trước bình minh ngày 12 và cho neo các con tàu ở ngoài một bãi biển rộng ở Saint-Marco bên ngoài Saint-Vaast-la-Hogue. Hạm đội của người Genova được gửi đến chặn họ vẫn còn ở đâu đó ở phía nam của La Rochelle, và chỉ có một số các tàu Pháp neo tại các bến cảng khác nhau đang chờ họ. Mười bốn chiếc đang đóng ở Satn-Vaast và tám chiếc tầu vũ trang nặng nhất đã bị đốt cháy bởi quân xâm lược. Các cọc gỗ dùng để chặn các bến cảng không gây ra những vấn đề nghiêm trọng cho quâm xâm lược Anh và các thị trấn bị bỏ rơi đã bị chiếm đóng.

Lực lượng chính của quân Pháp lúc này chủ yếu là đang đóng ở phía bắc của sông Seine, chỉ để lại Thống chế Robert Bertrand làm chỉ huy trưởng vùng biên giới biển với rất ít quân tuy nhiên. Tuy nhiên ông đã lên kế hoạch để sử dụng các lực lượng dân binh ở Saint-Vaast vào ngày mà người Anh đến. Vì vậy Bertrand đã tập hợp khoảng 300 người dân địa phương vốn được đào tạo rất nghèo nàn và tiến hành một cuộc phản công nhanh không thành công vào buổi sáng ngày hôm đó. Tuy nhiên sau đó người Anh đã đổ bộ được vài ngàn người lên trên bờ, do đó Bertrand phải rút lui về phía nam với các thuộc hạ của mình, đồng thời ông cố gắng tập hợp thêm lực lượng ở những địa phương mà ông đã rút quân qua.

Khoảng giữa trưa thì vua Edward đã đổ bộ lên bờ và theo Froissart, ông đã bị vấp ngã trong bước đầu tiên của mình lên bãi biển. Một số người coi hành động này như là một điềm xấu, nhưng Edward III được cho là đã trả lời “Tại sao lại vậy? Ta nhìn nhận cú ngã như là điều rất thuận lợi cho ta, đó là tín hiệu cho thấy vùng đất này muốn có ta. ” Sau đó nhà vua phong tước hiệp sĩ cho một số quý tộc trẻ tuổi để đánh dấu lần phục vụ quân sự đầu tiên của họ, trong những quý tộc trẻ tuổi này có cả Edward Hoàng tử xứ Wales-con trai ông ta. Tiếp sau đó những người thuộc Hoàng tộc leo lên một ngọn đồi để khảo sát khu vực này. Godfrey de Harcourt và Bá tước của Warwick được chỉ định làm hai Thống chế của quân Anh, Bá tước Arundel được phong làm Nguyên soái, Bá tước Huntingdon nhận được lệnh bảo vệ đội tàu chiến với 100 kị sỹ và 400 cung thủ.

Từ ngày 13-17 tháng 7 quân Anh vẫn tiếp tục đổ bộ người và đồ cung cấp và lên bờ trong khi vẫn tiếp tục đột kích ra các vùng xung quanh. Vào ngày 14 thành phố Barfleur đã bị tấn công từ cả trên đất liền và từ biển. Thành phố đã đầu hàng và một số công dân hàng đầu của nó đã bị bắt giữ để đòi tiền chuộc trong khi các thị trấn đã bị cướp phá và đốt cháy, cũng như chín chiếc tàu chiến tại bến cảng. Chiến lợi phẩm bao gồm vàng, bạc và đồ trang sức và theo Froissart, “Có rất nhiều của cải mà ngay cả những người đi theo phục vụ cho quân đội đã cảm thấy áo lông thú cũng không còn có giá trị” sau đó quân cướp phá đã cho đốt cháy Nhà thờ Abbey of Notre Dame du Voeu tại Cherbourg, mặc dù họ đã không thể chiếm được tòa lâu đài của thành phố. Trong thực tế khoảng diện tích 35 km xung quanh địa điểm đổ bộ đã bị tàn phá, cư dân của nó bị buộc phải bỏ chạy vào rừng hoặc đi bộ về phía nam và trở thành người tị nạn.

Lúc này quân Anh được chia thành ba đạo binh. Một đạo đi dọc theo bờ biển, một đạo dưới sự chỉ huy của Edward III ở hướng trung tâm, trong khi đó đạo binh thứ ba theo một con đường tiếp tục tiến vào nội địa. Giờ đây Bá tước của Northampton dường như đã được phong làm Nguyên soái và Edward III đã ra lệnh rằng không nên tàn sát và phá hủy các tài sản của dân chúng nữa, mặc dù dường như mệnh lệnh này không có ảnh hưởng vào hành vi của binh sĩ của ông. Hầu hết các con tầu của hạm đội Anh đã được gửi về quê nhà, nhưng một đội tầu lớn gồm khoảng 200 chiếc vẫn đi dọc theo bờ biển, và phá hủy hoặc bắt giữ bất cứ những con tàu của người Pháp nào mà họ tìm thấy và việc triệt phá đã tạo ra một vành đai rộng 8 km để làm suy yếu căn cứ của lực lượng hải quân Pháp.

Chevauchée ( cướp phá ) hay chinh phục?

Vào ngày 18 tháng bảy việc bốc dỡ từ các con tàu đã hoàn tất, những con ngựa đã được nghỉ ngơi, các đồ vật tư đã được sắp xếp một cách có tổ chức và bánh mì đã được nướng cho một vài ngày sắp tới, mặc dù người Anh vẫn phải đi kiếm thức ăn cho ngựa trên một địa bàn rộng lớn. Godfrey Harcourt, người mà gia đình của ông có nhiều bất động sản ở cuối phía nam của bán đảo Cotentin, đã nhanh chóng chứng tỏ giá trị của mình như là một trong những chỉ huy trinh sát hàng đầu của quân Anh. Với một lực lượng xung kích gồm 500 kị sỹ và 1,000 cung thủ, ông đã hành quân tiến về phía trước khoảng 30 km và ở bên phải của đạo binh của nhà vua. Đạo quân tiến theo đường ven biển đã thực sự được chỉ huy bởi các Bá tước của Northampton và Warwick. Đạo quân tiến theo đường nội địa hoạt động như đội hậu quân dưới sự chỉ huy của Thomas Hatfield-Giám mục Durham.

Cuối cùng thì người Anh cũng rời Saint-Vaast vào ngày 18 tháng Bảy, họ hành quân dọc theo đường hẹp để đến Valognes, nơi Edward III đã ngủ qua đêm trong một căn nhà thuộc sở hữu của Công tước xứ Normandy. Ngày hôm sau quân Anh lại đốt cháy Montebourg trước khi trú đêm tiếp theo ở điểm phân chia giữa Saint-Côme-du-Mont và Coigny, tại đây vua Edward biết được rằng cây cầu bắc qua Douve đã bị phá hỏng. Vì chỉ còn có một con đường hẹp được đắp cao khác-nhưng không thể dùng nó để vượt qua các đầm lầy xung quanh, các nhóm thợ mộc đã phải sửa chữa cây cầu này xuốt đêm. Carentan –một thị trấn lớn gần đó có dự trữ rất nhiều vật tư, nhưng rất nhiều trong số đó đã bị phá hủy khi quân Anh đốt nơi này. Chống cự là rất tối thiểu, rõ ràng bởi vì đơn vị đồn trú là người của Godfrey de Harcourt. Và có lẽ một số quân tiếp viện đã được để lại để kiểm soát thị trấn này trong khi người Anh tiếp tục di chuyển và mang theo những công dân hàng đầu của vùng này với họ để đòi tiền chuộc.

Giống như nhiều nơi khác ở bán đảo Cotentin, thị trấn Carentan đã sớm bị quân Pháp tái chiếm, đội quân đồn trú phản bội của nó đã được gửi đến Paris và bị hành hình. Ngoài ra, tất cả những gì mà Thống chế Robert Bertrand có thể làm là quấy rối đà tiến quân của các kị sỹ Anh trong khi sự kháng cự có hiệu quả lại được chuẩn bị tại Caen, nơi mà vị Nguyên soái của nước Pháp-Công tước Raoul II d’Eu, đã cho chuyển quân đội có sẵn của mình bằng tàu đến từ Harfleur. Không đủ binh lính để đồn trú ở tất cả những lâu đài trong con đường tiến quân của người Anh và chỉ một số ít trong số nhưng tòa lâu đài được bảo vệ khi Robert Bertrand liên tục phải rút lui.

Tuy nhiên người Anh đã bị kìm chân bởi những đầm lầy rộng lớn giữa Saint-Côme và Carentan, giữa Saint-Lo và Bayeux, nơi có một số con đường đắp cao đã được người Anh xây dựng lại. Bertrand đã có ý định bảo vệ Saint-Lo, nhưng cuối cùng ông nhận ra nó là không thể bởi một lần nữa người Anh đã lại xây dựng được một cây cầu vượt qua sông Vire, nên ông đành phải từ bỏ thị trấn cho số phận của nó. Đạo quân của Edward III lúc này đã phải chờ gần ba ngày ở bên ngoài Saint-Lo trước khi đạo quân ở ven biển có thể tiến lên đến chỗ của ông ta. Sau đó các cánh quân Anh tập hợp lại và chất các chiến lợi phẩm của họ vào các toa xe trước khi di chuyển về phía trước. Thời gian này các bá tước của Warwick và Suffolk-Lord Thomas Holland và Reginald Cobham và đạo quân của họ tiến về phía bên trái, đốt cháy và phá hủy tất cả những thứ lọt vào tầm ngắm của họ, trong khi ở bên cánh phải lực lượng của Godfrey de Harcourt cũng làm như vậy. Có tin đồn rằng quân Pháp đã tập trung rất đông xung quanh tu viện dòng Xitô ở Torigny, điều này đã làm cho lực lượng chính của người Anh phải thay đổi hướng về phía Cormolain; toán quân xung kích cũng tiến về Torigny và sau đó bắt kịp đạo quân chính. Trong hai ngày sau Edward di chuyển rất thận trọng, với hậu đội chỉ hơi vượt quá điểm bắt đầu của lực lượng xung kích vào buổi sáng ngày hôm trước (tiến quân theo kiểu quấn chiếu?). Khi lực lượng đi đầu của đại quân của Anh nằm trong tầm nhìn của thành phố Caen vào tối ngày 24, trong khi đó đội tàu 200 chiếc vẫn đi theo quân đội dọc theo bờ biển, họ căng buồm đi ngược lên sông Orne và đến Caen vào cùng một thời điểm. Vào thời gian này đoàn tàu đã được chất quá đầy những đồ cướp bóc đến nỗi họ không thể chở thêm tất cả các chiến lợi phẩm quân đội đã giành được.

Thành phố Caen nằm ở giữa một đồng bằng mở mà không có sự phòng vệ của điều kiện tự nhiên. Thành phố được phân chia giữa phố cổ và phố mới bởi dòng sông Odon. Những công sự đổ nát của nó được xây dựng từ thế kỷ thứ 11 bao gồm một phần là bức tường bằng gỗ và một phần là một bức tường đá với đầm lầy ở một bên. Thành lũy duy nhất đáng kể là một tòa lâu đài ở rìa phía bắc của thị trấn. Bên ngoài thành phố các tòa lâu đài Abbaye aux Dames và Hommes Abbaye aux có những bức tường phòng thủ, nhưng không có đủ binh lính để đồn trú ở đó. Lực lượng phòng thủ Caen lúc này được chỉ huy bởi Raul d’Eu, người cũng có một đơn vị nhỏ lính bắn nỏ người Genova, khoảng 800 hiệp sĩ Norman và những kị sỹ cùng với dân binh của thành phố, tổng cộng khoảng 4,000 người. Nhiều nỗ lực đã được thực hiện để tăng cường cho những bức tường phòng thủ cũ bằng các chiến hào và hàng rào những cọc nhọn, trong khi khoảng 30 chiếc tàu nhỏ điều khiển bởi lính bắn nỏ đã được thả neo trong dòng Odon ở giữa thị trấn cũ và thị trấn mới.

Edward III có nhiều binh lính, nhưng ông này lại thiếu những thiết bị bao vây hạng nặng và quân phòng thủ người Pháp từ chối hạ vũ khí, thậm chí họ còn ném phái viên của Edward III-tu sĩ Geoffrey của Maldon vào tù. Rạng sáng ngày 26 tháng 7 đội quân của Hoàng tử xứ Wales đốt chỗ họ trú qua đêm tại Cheux và tiến lên xung quanh Caen để tiến vào Dames Abbaye aux. Vua Edward thành lập sở chỉ huy ở vùng ngoại ô phía Tây trong khi hậu đội Anh dựng lều trại của họ ở xa hơn nữa. Khi nhìn thấy kích thước của quân Anh, các chỉ huy Pháp quyết định từ bỏ khu phố cổ và tập trung quân đội của họ trong thị trấn mới, nơi mà mặc dù nằm trên đảo Saint-Jean, nhưng lúc này đã bị tách biệt khỏi tòa lâu đài vốn được chỉ huy bởi vị Giám mục của Bayeux. Tương tự thì những người dân của Caen cũng tập trung ở thị trấn mới. Thật không may những chiếc tháp của đồn lũy Pont Saint-Pierre lúc đó lại ở phía bên trái của con sông này, do đó, một rào chắn được làm vội vã đã được thêm vào ở phía bắc. Tệ hơn nữa mức nước của dòng sông Odon đã xuống rất thấp trong mùa hè rất khô một cách đáng chú ý năm đó.

Vào đầu buổi sáng, khu phố cổ rõ ràng đã bị chiếm mà không có kháng cự và các đội quân thuộc quyền chỉ huy của các Bá tước Wawick, Northampton và Talbot tấn công Pont Saint-Pierre nhưng không thu được thành công. Do đó một nhóm bộ binh người Anh và xứ Wales được gửi đến cách Odon khoảng 200 mét, hoặc bằng một cây cầu tại Boucherie hoặc qua một thành lũy không có người bảo vệ. Nhưng họ vẫn phải vượt qua đội tàu của quân Pháp đóng ở giữa sông, hai chiếc tầu bị đốt cháy và phần còn lại rút lui khi người Anh tiến vào khu phố mới. Lực lượng phòng thủ Pont Saint-Pierre lúc này đã bị bao vây. Một số chiến binh người Pháp bao gồm Robert Bertrand đã chiến đấu phá vây để đến được toà lâu đài, những người khác bao gồm Count d’Eu đã phải chạy trốn đến các tòa nhà cao tầng cho đến khi họ có thể đầu hàng, nhưng rất nhiều người đã bị giết ngay tại chỗ. Những tù nhân có giá trị cao đã được đưa trở lại nước Anh cùng với Bá tước Huntingdon-ông này đang bị ốm. Nhiều vụ thảm sát, khủ.ng bố và cướp bóc sau đó: trên 2.500 cư dân của Caen đã bị thiệt mạng, 500 người trong số họ đã được chôn trong một ngôi mộ tập thể tại nhà thờ Saint-Jean.

Sau đó người Anh nghỉ ngơi trong khoảng năm ngày và họ đốt phá các vùng nông thôn xung quanh một cách có hệ thống. Ngày 29 tháng 7 vua Edward cũng đã gửi một bức thư tới Quốc-Hội Anh, yêu cầu họ tuyển gấp thêm các kị sỹ và khoảng 1,200 cung thủ từ các khu vực chưa vét sạch đàn ông, cùng với số lượng lớn tiền, đạn dược và 100 tàu mang lực lượng tăng viện tới nước Pháp. Lực lượng tiếp viện đã đổ bộ xuống tại Le Crotoy ở phía bắc của Somme trong vùng lãnh thổ của Ponthieu nơi mà người Anh đã hoàn toàn chinh phục.

Phản ứng của người Pháp

Có vẻ như Philip VI của Pháp đã có thông tin về cuộc xâm lược vào ngày 16 tháng Bảy và ông đã dành hai tuần tiếp theo để tổ chức một cuộc triệu tập quân đội tại Paris và Amiens. Ngày 22 hoặc 23 Philip đã đến nhà thờ lớn Saint Denis để nhận lá cờ thánh Oriflame thiêng liêng vốn chỉ được sử dụng trong công cuộc phòng thủ nước Pháp.

Vào ngày 25 ông tiến xuống vùng thung lũng sông Seine trong khi quân Pháp được tập hợp từ mọi hướng. Ông cũng lại tiếp tục gửi một lá thư tới vua David của Scotland, người đã tiến hành các cuộc đột kích vào Cumberland vào cuối tháng Bảy. Tuy nhiên, người Scotland lại không sẵn sàng để tiến hành một cuộc xâm lược toàn diện và họ lại ký một thỏa thuận ngưng bắn hai tháng với các lãnh chúa ở miền bắc nước Anh. Philip VI vội vã về Rouen, mối quan tâm chính của ông là làm sao để ngăn chặn không cho Edward chiếm lấy thành phố này và chặn không cho quân Anh vượt qua sông Seine. Các đội tàu galley của người Genova cũng đã đến vào đầu tháng Tám và vì đã quá muộn để ngăn chặn cuộc xâm lược này từ trên biển nên thủy thủ đoàn của nó gia nhập vào đội quân của Philip như lực lượng bộ binh. Trong khi đó vào ngày 31 Bá tước Enisieux và Philip vượt qua sông Seine và bắt đầu di chuyển một cách thận trọng về phía kẻ thù. Ngày 2 tháng Tám Giáo hoàng đã gửi hai đoàn thương lượng hòa bình và những đoàn thương thuyết này được cho là đã đến được doanh trại của người Pháp.

Vào lúc này Philip VI đã được cảnh báo về một cuộc xâm lược sắp xảy ra của người Flemish và khi đó chỉ còn có một vài đơn vị đồn trú thưa thớt của Pháp ở gần biên giới phía Bắc, hầu hết dân binh và những đơn vị khác được tập hợp tại Amiens đã được lệnh quay trở lại bảo vệ chiến tuyến ở sông Somme. Chỉ huy trên danh nghĩa của người Flemish là Bá tước Henry của Flanders, mặc dù Sir Hugh Hasting mới là chỉ huy thật sự. Ngày thứ 2 họ rời Ypres và hành quân qua Baileut để tới gần sông Lys. Ở đây có những cuộc đụng độ nhỏ ở Estaires. Merville và Saint-Venant trước khi Hugh Hasting dẫn đầu đạo quân Flemish dùng mưu mẹo đánh lừa quân Pháp để tấn công tạt sườn họ. Cuộc hành binh của họ là rất chậm chạp nhưng sau ngày 14 tháng tám họ đã đến được Bethune nơi mà họ tiến hành một cuộc bao vây.

Ngày nay người ta không biết được rằng Edward III và lực lượng Flemish thông tin liên lạc với nhau bằng cách nào, nhưng chắc chắn là họ phải có sự truyền thông với nhau. Còn đối với Philip, ông quyết định triển khai phòng thủ ở sông Seine hơn là phải chịu nguy cơ đặt bản thân nằm ở giữa các con sông và lĩnh mối đe dọa mới từ người Flemish. Quân đội của ông quay trở về Rouen và tất cả các cây cầu nối chúng với Paris đều đã bị phá hỏng hoặc bảo vệ bằng lực lượng mạnh. Các thị trấn ở phía nam của con sông được uỷ quyền phóng thích các tù nhân của họ nếu họ cần nhiều lực lượng dân binh ( từ những người bị giam trong tù ) được tập hợp tại Amien và lực lượng này lại được lệnh gia nhập với đạo quân của Philip.

Khi người Anh tiến về phía bờ phía nam của sông Seine, đã gần như có hoảng loạn ở Paris và John của Luxembourg được gửi tới để giữ các kị sỹ trong sự kiểm soát trong khi các lực lượng dân binh ở Paris chuẩn bị để phòng thủ thành phố. Rõ ràng là Edward III đã rất sáng tạo: quân đội của Philip VI vẫn còn rất nhỏ, rất nhiều binh sỹ người Genoses đã bị phân tán trong đơn vị đồn trú và Philip mắc phải một nguy cơ dàn trải rộng lực lượng quá mỏng của ông dọc theo bờ sông Seine. Trong trường hợp này Philip quyết định lập sở chỉ huy của mình tại Saint-Denis, trong khi phần lớn quân đội của ông ta lại đóng trại tại Saint-Clound ở gần đó. Xa hơn về phía Nam Công tước trẻ tuổi của xứ Normandy vẫn còn ngoan cố bao vây chiếm lấy tòa lâu đài Aiguillon. Ít nhất cho đến khi vua Philip gửi mệnh lệnh trực tiếp ra lệnh cho ông này hành quân xuống phía Bắc: trong ngày 20 Tháng 8 cuối cùng thì vị công tước đã rời trại của mình và vượt qua Garone.

Người Anh rút khỏi Caen vào ngày 31 tháng Bảy và để lại một lực lượng nhỏ để phong tỏa các tòa lâu đài. Tuy nhiên các đơn vị đồn trú của Pháp nhanh chóng chuyển sang phản công và giết chết hầu như tất cả số quân Anh được để lại ở Caen. Edward III đã hành quân qua Troarn, Argences và đến Lisieux vào ngày 1 tháng Tám. Ông bắt gặp phái đoàn thương thuyết hòa bình của hai vị Hồng y. Sau hai ngày đàm phán mà không được kết quả gì, không những vậy những binh sĩ cứng đầu người xứ Wales đã lấy trộm 20 con ngựa từ đoàn tùy tùng của các vị giáo chủ.

Được biết rằng Philip đang chuẩn bị cho một cuộc tấn công, người Anh lúc này tiến lên một cách thận trọng hơn. Họ có thể đã dừng lại để tổ chức một hội đồng quân vào hôm thứ 6 và hội đồng này quyết định thay đổi hướng tiến về phía Rouen vào ngày hôm sau và đến được con sông Seine ở điểm thuộc Elbeuf. Có thể Edward đã hy vọng chiếm lấy Rouen vào lúc nó không được bảo vệ, nhưng một trinh sát dưới sự chỉ huy của Godfrey de Harcourt đã phát hiện ra rằng quân Pháp đã ở trong thành phố và các cầu qua sông Seine đã bị phá hủy. Đây là một bước thụt lùi và lúc này Edward đã phải quyết định chấp nhận một cuộc đua tới Paris hoặc cố gắng vượt qua con sông để liên kết với đồng minh Flemish của ông ở Picardy. Cây cầu tại Pont de l’sArche đã cho thấy rằng nó được bảo vệ quá mạnh mẽ và Philip VI luôn bám sát người Anh từ bờ phía Bắc. Tuy nhiên, quân xâm lược đã tàn phá một dải đất có diện tích rộng hơn 30 km về phía nam của sông Seine. Họ đốt phá Louviers và Gaillon và đã không thành công khi tấn công một tòa lâu đài nơi mà cả Sir Richard Talbot và Sir Thomas Honland đều bị thương. Trong ngày mùng 9 người Anh cũng không thể chiếm được Vernon. Ngày hôm sau một toán quân đột kích vượt qua sông Seine và đã chiếm La Roche-Guyon bằng một cuộc tấn công, nhưng địa điểm này không phải là nơi thích hợp cho toàn bộ quân đội vượt qua sông.

Tại Freneuse các vị hồng y trở lại với đề nghị cuối cùng của Philip VI về các điều khoản của hòa bình, bao gồm cả một liên minh hôn nhân giữa hoàng tộc nhà Valois và Plantagenet, nhưng Edward đã không quan tâm tới vấn đề này. Chỉ còn lại rất ít điểm có thể vượt sông để đến đến được Paris và người Anh đã thử tất cả. Một số điểm ở trên phía thượng nguồn gần Meulan, quân Pháp đã cười nhạo, chế giễu sự thất vọng của người Anh khi họ phải tụt quần và chổng mông lên ( backside ) để qua sông. Philip VI phải chống lại sự cám dỗ để qua sông vì sợ rằng người Anh sẽ đột ngột tấn công vào Paris và vào ngày 13, ông đã quay trở lại thủ đô của mình. Ở đây (Paris) người dân đã có thể nhìn thấy khói bay lên chỉ một vài km về phía tây và phía tây nam, nơi những toán cướp phá người Anh đang hoành hành. Thậm chí Edward còn đưa ra một lời thách thức cho một cuộc chiến ở phía nam của Paris và vào ngày 15 Philip VI dẫn quân của mình về phía nam của thành phố, quân Pháp đã bài binh bố trận một cách sẵn sàng.

Tất nhiên thách thức của Edwrd là một thủ đoạn chiến thuật. Cách duy nhất để hội binh với đồng minh người Flemish của ông là xây dựng lại một trong những cầu qua sông Seine và Poissy đã được lựa chọn. Thị trấn bị tàn phá và cư dân của nó, bao gồm cả chị gái của vua Philip, đã bỏ trốn sang Paris. Lúc này các kỹ sư người Anh bắt đầu bắt tay vào làm việc và buổi chiều ngày 15 một chiếc cầu đơn về cơ bản đã được hoàn thành. Philip VI nhận được tin này và ngay lập tức cho chuyển một đơn vị trên đường hành quân từ Amiens tới để phá việc xây cầu, nhưng khi họ đến được Poissy thì quân Anh đã qua sông đủ đông để đẩy lùi họ. Nhưng không những Edward III cũng không cho toàn quân của mình vượt qua sông Seine ngay lập tức mà đợi để xem quân của mình đốt phá tới tận các cửa ô của thành phố Paris, mà cả Philip VI cũng không vội vã để hành động ngay lập tức mà đơn giản chỉ ngồi xem người Anh sẽ rẽ vào lối nào.

Cuộc chạy đua tới Somme

gày 16 Tháng 8 quân cướp phá người Anh đột kích vào hướng Chartres để tạo ấn tượng rằng Edward đang hướng về phía nam, nhưng thay vì vậy Edward cho vượt sông và chốt ở phía bắc. Ngay sau khi tin tức này được xác nhận, Philip đã cho phá hủy cây cầu ở Saint-Cloud để phòng ngừa và đồng thời ông dẫn quân của mình về phía bắc. Có thể là ông đã gửi bộ binh của mình tiến trước khi chính bản thân mình cùng xuất phát với các kỵ binh vào ngày 18 và trong ngày đầu tiên Philip đã vượt qua một khoảng cách ấn tượng dài đến 55 Km

Trong cuộc đua tới Somme này người Anh đã bắt đầu trước nhưng người Pháp đã giành chiến thắng. Quân đội của Philip VI được tăng cường thêm những đội quân sung sức bao gồm cả những người của Jaime I-vua của Majoca. Mỗi ngày người Anh trung bình tiến nhanh gấp ba lần so với lúc ở Normandy. Trước khi tới Beauvais đội tiên phong của người Anh dưới sự chỉ huy của Godfrey de Harcourt đã đánh tan lực lượng dân binh của Amiens đang trên đường tới Paris. Hoàng tử xứ Wales tại thời điểm đó muốn tấn công vào chính Beauvais, nhưng Edward đã nói với ông này rằng hãy tiếp tục tiến quân. Tại phía Bắc của Beauvais người dân ở Poix-có lẽ là những dân binh địa phương-đã tấn công vào những toán quân Anh lạc ngũ và quân của Edward đã phải tiêu tốn mất một khoảng thời gian để quay trở lại và đốt cháy thị trấn của họ để trả đũa.

Chẳng bao lâu người Anh đã phải từ bỏ một số toa xe hành lý của họ để đổi lấy tốc độ, nhưng vùng nông thôn ở phía nước lại trống rỗng và không có thực phẩm dự trữ, bắt buộc người Anh phải tung ra các toán lục lọi tìm kiếm và điều này làm chậm lại tốc độ hành quân của Edward. Lúc này người Pháp đã vượt qua người Anh, các toán quân đầu tiên của họ đã đến được Somme vào ngày 20 tháng Tám. Lực lượng bộ binh đến sau và giờ đây người dân xứ Picardy đã cảm thấy yên tâm và họ bắt đầu tấn công vào các nhóm quân xâm lược cô lập. Trong ngày 20 Edward đến được Camps-en-Amienois, khoảng 25 km về phía nam của Somme. Tuy nhiên hậu đội của quân Anh đã bị trì hoãn vì bị tấn công ở Poix và kết quả là nhà vua đã phải chờ để họ bắt kịp. Trong ngày 22 Edward phải cho các binh sĩ của ông lúc này đã quá mệt mỏi và đói dừng lại nghỉ ở Airaines-thị trấn nhỏ có phòng thủ, sau khi đội quân đồn trú của nó đã triệt thoái về Pont-Remy. Đêm đó thành phần chính của quân Pháp cũng đã đến Amiens. Lúc này Philip VI đã có ưu thế về mặt quân số và ông đã ra lệnh phá hủy hoặc đồn trú trong tất cả các cây cầu ở Somme nếu chúng có các công sự kiên cố.

Edward III có rất ít lựa chọn. Ngày 22 ông ta đã gửi các tóan quân đi để trinh sát các cầu ở Somme, trong khi một lực lượng lớn đã tiến đến Acheux để thiết lập một căn cứ tiền duyên. Các toán trinh sát – đột kích lớn hơn dưới sự chỉ huy của Godrey de Harcourt, đã cố gắng chiếm lấy cây cầu ở Pont Remy nhưng đã bị đây lui trở lại, Bá tước Warwick cũng cho biết rằng các cây cầu ở Long, Longpre và Picquigny được phòng thủ quá mạnh mẽ. Người Anh dường như bị mắc kẹt, nhưng Edward đã vào lãnh thổ nhà; Ponthieu đã từng là quận hạt của ông cho đến khi nó bị tịch thu bởi Philip VI tại thời điểm bắt đầu của cuộc chiến và một số trong các chỉ huy của ông biết về khu vực. Có thể Edward đã hệ thống phòng thủ của Abbeville từ Caubert Hill, trong khi các Bá tước Warwick và de Harcourt tấn công vào thị trấn. Dường như họ đã bị đẩy lui và chắc chắn là người Anh đã rời khỏi Airaines một cách vội vàng vào sáng ngày 23, người Pháp đầu tiên xuất hiện sau khoảng hai giờ sau khi người Anh cuối cùng rời đến Acheux. Tại Oisemont các hiệp sĩ và dân binh tại địa phương đã tiến hành một cuộc tấn công nhưng họ đã bị đánh tan bởi các cung thủ trường cung người Anh.

Edward đã có sự lựa chọn: chiến đấu tại nơi ông muốn hoặc rút lui tới Saint-Valery và lên tàu về nhà, hoặc vượt qua sông Somme ở lối qua khe cạn Blanchetaque. Cái tên này có liên quan đến một vỉa núi đá vôi lộ thiên và vỉa đá này đã làm cho lòng sông chảy một cách khá phẳng lặng và có thể nó đã được biết đến bởi các chỉ huy người Anh kể từ khi nơi này trở thành một điểm chính thức để vượt sông Somme. Rất nhiều câu chuyện khác nhau nói rằng người Anh có thông tin về địa điểm này bằng cách mua lại từ một tên vô lại người Pháp bị bắt tại Oisemont, hoặc từ một Hộ sỹ (Hiệp sỹ tập sự ) trong đội tùy tùng của một hiệp sĩ người Flemish phục vụ cho Edward và từ một người Anh vốn đã sống ở gần Oisemont nhiều năm… Vì vậy có lẽ chúng là sự giải thích cho việc Edward III chọn pháo đài này để chuyển đến đó một đội quân lớn với đoàn xe tải nặng và quan trọng hơn là về thủy triều ở địa phương.

Blanchetaque chắc chắn không phải là một nơi lý tưởng cho một đội quân lớn để vượt qua một con sông lớn. Tuy nhiên, trước khi bình minh ngày 24 tháng tám người Anh đã đến gần rìa phía nam của Saigneville và họ đợi thủy triều xuống thấp. Khoảng tám giờ sáng các kị sỹ có thể đi qua, theo sau là bộ binh và các toa xe. Thực tế là họ đã làm như vậy trong vòng một giờ, sự kiện này cho thấy họ đã vượt qua theo một hàng dọc tương đối rộng với một đội hậu cần đáng kể.

Người Pháp cũng khởi hành vào lúc bình minh, Philip VI gửi Godemar du Fay đi để canh chừng bờ phía Bắc với 500 kị sỹ và 3,000 binh sĩ bộ binh. Ông này đến vào lúc các binh sĩ Anh dẫn đầu đã vượt sông. Lính bắn nỏ người Genoses của Godemar du Fay đã gây ra một số thiệt hại cho người Anh và các kị sỹ của ông đã lao xuống con sông này để để tấn công vào đội quân tiên phong của đối phương dưới sự chỉ huy của Hugh Despenser, Reginald Cobham và Bá tước của Northampton. Nhưng người Pháp có quá ít quân nên đã bị đánh bại, một số đã bị truy kích đến tận phía đông Abbeville, những người khác có lẽ đã chạy đến phía tây, đến tận vùng đất cao giữa Port-le-Grand và Noyelles. Vào thời điểm hậu đội Anh vượt sông thì cuộc chiến đã qua. Trên bờ phía nam đội tiên phong của Pháp dưới sự chỉ huy của John Luxembourg đã bắt giữ một vài toa xe của người Anh, nhưng lúc này nước thủy triều đã tăng nhanh, quân đội của Edward III đã tiến được về phía bắc của sông Somme và Philip đã đến được phía nam.

Hiện vẫn còn nhiều tranh cãi về con đường Edward III đã đi từ Blanchetaque để đến Crécy. Trong giữa thế kỷ 14 ở phía bắc bờ biển của Somme là đầm lầy và Le Croytoy-một bến cảng nhỏ không thoát nước, bến cảng này sẽ là một hòn đảo khi thủy triều lên. Tương tự Maye và Authie-các cửa sông của Somme không bị thoát nước, đầm lầy của nó ăn sâu vào phía nội địa, do đó đây không phải là một con đường ven biển thực tiễn. Rừng của Crécy che phủ phần lớn khu vực giữa Somme và Authie và được chia cắt bởi sông tiểu Maye, trong khi đó xa hơn về phía nam rừng Cantatre vào ngày nay chỉ còn là một phần cô lập tách biệt. Phần còn lại của Ponthieu bao gồm những khu đất canh tác nông nghiệp được chấm phá bởi các làng mạc và cối xay gió.

Edward III cũng còn phải xem xét các hoạt động của đồng minh người Flemish của ông. Ngày 16 Tháng 8 quân phòng thủ của Pháp ở Bethune được chỉ huy bởi Godfrey D’Annequin đ đánh bại một cuộc tấn công mà chính trong trận này Henry Flanders đã bị thương. Trong ngày 22 d’Anneqin biết được rằng một lực lượng nhỏ hơn của người Flemish ở quanh quẩn đâu đó gần Lillers cũng đã bị thiệt hại nặng, nên ông đã liều tung ra một đợt tấn công và đã rất thành công. Các quân lính người Flemish bắt đầu quay ra cãi lẫn nhau và vào ngày 24 họ từ bỏ cuộc bao vây và rút lui về Merville.

Cùng ngày lực lượng quân Anh dưới sự chỉ huy của Sir Hugh Despenser đã chiếm Noyeller, Le Crotoy và Rue nhưng không thấy có dấu hiệu nào về việc một hạm đội Anh vốn chuyên chở các vật tư chiến tranh cần thiết sẽ xuất hiện. Philip đã không cố gắng để tấn công khi họ vượt qua sông Somme tại Blanchetaque nhưng quân Anh cũng đã quá mệt mỏi từ đầu đến chân. Trong ngày 25 Edward biết được rằng đồng minh của ông đã rút lui và Philip trở lại Abbeville để quyết định bước đi tiếp theo của ông này. Có lẽ vào thời điểm này thì Edward III đã quyết định rằng kể đó quân đội của ông không còn có thể vượt trội so với người Pháp, và họ cần phải có một chỗ đứng chân ở gần đó-đó chính là Crécy. Vì vậy Warwick. Cobham, Suffolk và Godfrey de Harcourt đã được cử lên phía trước trong khi lực lượng chính của Anh di chuyển chậm dọc theo con đường duy nhất xuyên qua khu rừng theo hướng những ngọn đồi nhìn ra Crécy để giữ chân người Pháp càng lâu càng tốt trong Abbville.

Địa hình của chiến trường

Thực địa thung lũng Vallee des Clercs nhìn từ chiếc cối xay gió nổi tiếng của Crécy

Edward đã chọn một vị trí phía bắc của thung lũng nông gần sông Maye. Đó là rìa bên cạnh của một đồng bằng nhấp nhô, với làng Estrées ở phía đông và Wadicourt ở phía bắc-đông, các thôn làng này có thể được bao quanh bởi các vườn cây ăn trái. Khoảng sống núi thấp giữa Wadicourt và Crécy dài khoảng hơn hai cây số với một chiếc cối xay gió hướng ra chính Crécy. Đằng sau đó chính là Crécy-Grand Wood, nó sẽ che chở cho một phần hậu quân và sườn bên phải của quân Anh. Thung lũng Vallee des Clercs chỉ là một vị trí sâu hơn một chỗ trũng trong các vùng đất cao tại đó vốn chạy từ Wadicourt đến Maye. Nó dài khoảng hai km và tại điểm thấp nhất của nó cũng không thấp hơn 35 mét so với vùng cao nguyên xung quanh. Một số học giả Pháp cho rằng có ba tầng đất canh tác theo kiểu bậc thang cổ xưa hoặc thời trung cổ ở phía trước của cánh quân trung tâm của người Anh, mặc dù điều này không được đề cập trong các bản tài liệu gốc. Có một điểm u bò theo hướng phía dưới cái dốc, nhưng nó không gây trở ngại cho một cuộc tấn công của kỵ binh và thậm chí còn ít cản trở hơn nữa cho bộ binh. Nếu có một hàng rào tự nhiên như vậy thì nó có thể nằm ở phần đầu của sống núi.

Vua Edward đã phác họa đội hình chiến đấu của mình với một tốc độ rất nhàn nhã trong buổi sáng ngày 26 tháng Tám. Người của ông đã được chia thành ba đạo quân trong khi họ hành quân. Đội tiên phong trên danh nghĩa thuộc quyền chỉ huy của vị hoàng tử trẻ xứ Wales, mặc dù ông có giám quân là Godfrey de Harcourt, đóng quân ở gần Crécy và theo dự kiến sẽ là nơi hứng những đợt tấn công ​​của quân Pháp, đạo quân Trung tâm hay là đạo quân nằm dưới sự chỉ huy của nhà vua hành quân vượt qua họ và đóng quân ở vị trí sống núi giữa Crécy và Wadicourt. Đạo hậu quân nằm dưới sự chỉ huy của các Bá tước Northampton và Arundel tiếp tục di chuyển xa hơn nữa và chiếm vị trí giữa đạo quân của nhà vua và Wadicourt. Khi nhìn thấy phía trước của làng Crécy quân Anh tiếp tục thành lập một đạo quân tiên phong, một đạo quân trung tâm và một đạo hậu quân, Nhưng tất cả các nhà bình luận đều cho rằng Edward đã biết rằng quân Pháp sẽ tấn công từ Vallee des Clercs. Ngựa (của các kị sỹ ) được buộc bên trong một pháo đài dã chiến được lập nên bởi các toa xe phía sau cánh phải và một loạt các hố bẫy được đào rải rác để phá vỡ các đợt tấn công của kỵ binh đối phương. Cánh quân bên phải thuộc quyền của Hoàng tử Đen xứ Wales có vẻ như đóng ở đoạn lưng chừng dốc.

Vị trí chính xác của các cung thủ Anh là một vấn đề còn phải bàn cãi. Có thể họ đã được định vị ở mỗi bên của một đạo binh như các cánh và rất gần với những kị sỹ. Cũng có thể họ đã lùi trở lại khi người Pháp tấn công nhiệm vụ của họ không phải là tham gia chiến đấu tay đôi với đối phương. Như Viillan-nhà sử người Ý công bố thì họ đứng sau những kị sỹ. Sử gia Froissart lại sử dụng thuật ngữ herce hoặc “harrow” mà cho đến nay người ta vẫn còn chưa hiểu rõ, nhưng có vẻ như các sử gia đã không chú ý tới một sự tương tự giữa thuật ngữ “ herce “ của Froissart và đội hình được gọi là El Haz “the closely pack bundle” của Don Juan Manuel-nhà lý luận quân sự Tây Ban Nha trong thế kỷ 14. Tất nhiên có thể rất nhiều nguồn cung cấp thông tin của Froissart sẽ đến từ Hoàng tử Đen sau chiến dịch Tây Ban Nha của ông. Nhìn chung, có bằng chứng cho thấy rằng các cung thủ đã đứng thành các đơn vị tương đối gần nhau và có thể di chuyển xung quanh một cách có kiểm soát.

Sau đó có những câu hỏi về các khẩu súng người Anh, rõ ràng là chúng ở bên cánh phải của người Anh. Chúng có thể là loại đã tạo ra những trận pháo kích nhỏ vốn được sử dụng trong một phần ở miền Nam Châu Âu để bảo vệ các công sự dã chiến. Đoàn xe hành lý của Edward III đã ở rất gần Crécy Grange và khu rừng, có thể chúng (các khẩu pháo) được bao quanh bởi các toa xe với một của mở đơn nhưng đủ gần để các cung thủ được cung cấp các bó mũi tên một cách nhanh chóng trong trận đánh.

Vào ngày trận đánh Vua Edward đã dậy rất sớm và cùng với Hoàng tử xứ Wales tập hợp rất nhiều thông tin liên lạc, có thể quân Anh vẫn đã đóng ngay tại chỗ họ đã chiếm vị trí trước đó. Thức ăn được nấu trong đoàn hành lý, các chiến binh được phép rời khỏi vị trí của họ trong một vài thời gian để ăn và đi vệ sinh. Mỗi cung thủ đều ký hiệu vị trí của mình với cây cung của chính anh ta, mỗi kị sỹ đều cầm chiếc mũ sắt của mình trên tay. Mệnh lệnh cuối cùng của Edward khi người Pháp đã đến trong tầm nhìn là không bắt tù binh cũng như bất kỳ chiến binh nào cũng không được rời vị trí của mình để tìm kiếm chiến lợi phẩm.

Cuộc hành quân của người Pháp tới Crécy không phải là một cuộc hành binh vô tổ chức như một số nhà sử học đã nói. Cũng không phải rằng kế hoạch của vua Philip VI là không đủ năng lực như một số người đã tin là như vậy. Tuy nhiên, ông không được toàn quyền điều khiển quân đội của mình như là Edward III. Quay trở lại Abbeville từ Blanchetaque vào ngày 24, Philip VI ở lại đó suốt ngày 25 có lẽ vì một số toán quân của mình vẫn còn trên đường tới gia nhập với ông ta. Jaime I-nhà vua lưu vong của Majorca đã đến nơi cũng như Charles con trai của John de Luxembourg, người được nhà vua phong làm vua của La Mã vào tháng Bảy năm 1346, cũng như anh rể của Edward III-Bá tước John de Hainault ( Em rể là vua Anh quốc, anh vợ là chư hầu của Pháp) và một số các vương công trẻ tuổi người Đức; vị Bá tước của Savoy và Louis-em trai của ông này đến ngày 25. Philip cũng đã biết rằng cuộc bao vây nhằm vào Bethune đã bị từ bỏ và người Anh không thể ngay lập tức hội binh với đồng minh người Flemish của họ.Quân Pháp hành quân như thế nào là một câu hỏi chưa có câu trả lời của trận Crécy, chắc chắn giờ đây lực lượng của Philip là quá lớn và được chia ra giữa Abbeville và Saint-Riquier. Ông biết rằng việc truy kích quân Anh phải được tiếp tục vào ngày hôm sau và quân đội của ông đã khởi hành vào lúc bình minh và bị buộc phải để lại các khẩu pháo của họ sau khi phải chuyển sang di chuyển với tốc độ cao. Khói đã bốc lên cao từ hướng Noyelles và đội quân tiên phong của Pháp đang dẫn đầu theo hướng đó, nhưng quân thám mã đã sớm có báo cáo rằng Anh đã không còn ở đó nữa. Tại thời điểm này quân Pháp đang căng ra dọc theo con đường từ Abbeville đến Noyelles, sau đó họ nhận được mệnh rẽ phải hướng tới Crécy và Hesdin. Đội quân tiên phong và có lẽ ngay cả Philip VI dường như đã đi được hơn nửa đường để đến Noyelles trước khi họ quay lại dọc theo con đường được gọi là “Valois Path” sau đó tiếp cận với các tuyến đường của người Anh và các tuyến này thường được gọi là “Le Che min de L’Armée”. Lúc này lực lượng bộ binh của Vua Philip được lệnh tiến lên phía trước kỵ binh để đề phòng chống lại các cuộc phục kích có thể có khi hành quân qua giữa các khu rừng Crécy và Cantatre, có lẽ quá trình hành quân này đã làm cho lính bắn nỏ người Genova bị tách rời khỏi các tấm lá chắn pavise của họ vốn lúc này đang nằm trong đoàn xe hành lý. Xung quanh khoảng thời gian này, một toán thám mã cũng đã được gửi về phía trước dưới sự chỉ huy của Miles de Noyers-viên hiệp sỹ cầm gia huy của hoàng gia, để đi cùng với Jran de Beaumont và Henri le Moine của Basle.

Phần lớn quân Pháp hành quân dọc theo con đường từ Abbeville và một số đã sử dụng những con đường khác nhau phía đông của rừng của Cantatre, trong khi những người khác thậm chí có thể đã đi trực tiếp từ Abbeville qua hướng Hesdin. Sự kiện này có thể đã gây ra trạng thái nhầm lẫn của quân Pháp khi họ đến được phía đông của Crécy. Lúc này các kị sỹ đã tạo nên một khối hỗn loạn ở phía sau lực lượng bộ binh người Genova vốn có kỷ luật hơn, các chỉ huy của họ vẫn cho rằng họ đang cố gắng để đuổi kịp người Anh vốn dường như đang rút lui về phía bắc. Bản thân con đường này thời trung cổ có thể là một con đường La Mã xuôi từ Cancy, Mancheville, Fontaine-Maye và Estrées-les-Crécy.

Có thể là bộ phận đi đầu của quân Pháp đã đi qua Foitaine vào giữa buổi chiều, các toán trinh sát nói với Philip rằng kẻ thù của ông đã thiết lập một vị trí được phòng thủ mạnh mẽ ở bên trái của đội hình hành quân của ông, có lẽ trong tầm nhìn của các toán tiền quân của quân Pháp. Có vẻ như đã có một số trì hoãn trước khi Philip ra lệnh tạm dừng. Có lẽ ông đã lên kế hoạch để hạ trại tại Estrées. Lực lượng bộ binh người Genova dưới sự chỉ huy của Carlo Grimaldi và Odone Doria đã quá mệt mỏi sau một cuộc hành quân kéo dài. Đằng sau họ là số lượng lớn các kị sỹ lúc này tỏ ra khá vô tổ chức. Phần lớn lực lượng bộ binh và dân binh người Pháp cùng với hành lý vẫn tiếp tục kéo đến, trong khi hàng đoàn những người dân địa phương kéo đi đông đặc giữa Somme và Crécy với hy vọng người Pháp sẽ một đòn tấn công để tiêu diệt. Các đội bộ binh khác có lẽ chỉ mới đến được Abbeville.Trong khi các vị thống chế của ông hết phi ngựa lên rồi lại phi xuống để cố gắng ngăn chặn các kị sỹ lúc này đang xô đẩy nhau về phía trước trong sự háo hức trừng phạt kẻ thù vốn đã tàn phá tan tành quê hương của họ, Philipl VI tổ chức một hội đồng quân sự với các chỉ huy cao cấp của mình. Ông đã nhận được những lời khuyên trái ngược nhau, chỉ huy của toán quân lại thúc giục ông phải chờ đến ngày mai trước khi tấn công các vị trí được chuẩn bị tốt người Anh, một số lại cho rằng thay vào đó là nên tấn công vào lâu đài Labroye, nơi mà họ có thể tổ chức lại và khóa hướng hành quân về phía Bắc của người Anh, một số khác lại yêu cầu tiến hành một cuộc tấn công ngay lập tức trước khi đối phương kịp đối phó. Philip đã chọn giải pháp sau cùng, dường như ông nhận ra rằng gần như sẽ không thể giữ được sự nhiệt tình của quân đội của ông nếu từ bỏ khỏi chiến trường trong tầm nhìn của kẻ thù của họ.

Khi Philip quyết định tấn công, những rối loạn có vẻ như trở nên càng tệ hơn khi đơn vị này cố gắng tranh giành vượt qua những con đường của đơn vị kia, người sau đẩy người đi đằng trước tiếp tục tiến lên. Nhà sử gia Froissart nói ” sự rối loạn này hoàn toàn bị gây ra bởi niềm tự hào vì mỗi hiệp sỹ đều muốn qua mặt người hàng xóm của ông ta, mặc dù các Thống Chế đã ra sức làm việc để giữ đội ngũ” Rất ít các chỉ huy của họ có kinh nghiệm về một cuộc chiến tổng lực, nhưng những kị sỹ Pháp vẫn rất tự tin. Các hiệp sĩ Pháp có uy tín cao nhất trong những quốc gia Thiên Chúa giáo và trong quân Pháp có nhiều cựu binh lâu năm có thứ hạng cao đặc biệt là trong số những binh sỹ người Genova.

Lực lượng quân Pháp có số lượng gần tương đương với quân Anh mà họ phải đối mặt ở sườn phía bên kia của thung lũng Vallee des Clercs, nhưng trong quân đội Pháp có thể những người đã thực sự vào trận chiến lại ít hơn. Chắc chắn là Philip đã biết về sức tàn phá của các cung thủ trường cung người Anh nhưng có lẽ ông này tin rằng lính bắn nỏ người Genova của ông có thể tạo ra một hỏa lực có thể đối trọng với sức mạnh và độ chính xác của các cung thủ Anh được bởi vì họ ( cung thủ Anh) hầu như không được mặc giáp. Dường như là Philip đã dự kiến rằng trận chiến sẽ diễn ra trong một thời gian ngắn ngủi nên bắt đầu muộn vào cuối buổi chiều một chút cũng không thành vấn đề.

Sự bài binh bố trận của quân đội hai bên

Pháp có lẽ là bí ẩn lớn nhất của trận Crécy với nhiều nguồn đã đề cập đến rằng họ được tổ chức từ 4 -> 9 đơn vị hoặc tuyến tấn công, Ngoài những bộ binh người Genova được tổ chức tốt, đội quân thực sự của Philip có thể bao gồm hai, ba hoặc bốn đoàn kỵ binh đơn lẻ vốn rất khó sử dụng (vì họ chưa từng tác chiến phối hợp), có lẽ cùng với bộ binh ở các cạnh sườn của họ hoặc vẫn còn tiếp tục kéo đến từ phía sau. Các kị sỹ dưới sự chỉ huy của Công tước Alençon và John de Luxembourg đã hình thành lên tuyến chiến đấu đầu tiên, có lẽ với đội của Alençon ở chếch về bên phải và đội của John de Luxembourg có sự hỗ trợ của các đội quân người Genova. Lực lượng riêng của Philip VI cộng với người của vua Majorca và các nhà quý tộc cấp cao khác bao gồm cả Charles con trai của John de Luxembourg có thể đã tạo nên lực lượng dự bị.

Có lẽ đạo quân của Hoàng tử xứ Wales là ở gần với người Pháp nhất. Lúc này người Pháp đã không cho phất lá cờ Oriflamme thiêng liêng lên, điều này chỉ ra rằng không có một quân xâm lược nào có thể được bắt làm tù binh và khoảng 5 giờ chiều Philip VI đã ra lệnh cho bộ binh người Genova tiến lên mà không có những chiếc khiên pavises của họ, đây là điều trái với chiến thuật đối đầu trực tiếp bình thường của họ ở Italia. Mặc dù điều phổ biến là bộ binh thường hình thành tuyến đầu trong các cuộc chiến tranh Ý, người Genova thường được sử dụng để phục vụ trong những đội quân có cấu trúc rất cao, trong những đội quân này họ được hỗ trợ bởi những đội kị binh có độ chuyên nghiệp cao. Cho nên không lấy gì làm ngạc nhiên khi họ không quen tiến lên phía trước sau khi phải ở phần cuối của một cuộc hành quân kéo dài mà không có sự chuẩn bị thích hợp và cũng không có những tấm lá chắn pavise của họ hoặc có đủ dự trữ đạn dược và với ánh nắng mặt trời đang lặn chiếu vào mắt họ. Khiếu nại của các sĩ quan chỉ huy của họ đến Công tước Alençon đã bị bỏ qua, nhưng sau đó đã được lấy làm bằng chứng để chứng minh rằng người Genova đã phản bội lại nghĩa vụ. Tuy nhiên, họ vẫn lập đội hình dưới sự chỉ huy của Ottone Doria và dường như đạo quân của Hoàng tử xứ Wales là mục tiêu của họ. Người Genova có từ 2,000-6,000 người, ít hơn rất nhiều so với các các cung thủ trường cung Anh ở phía bên kia, có lẽ ngay chỉ so với người trong đội quân của Hoàng tử xứ Wales.Trong âm thanh của tiếng kèn trống, lính bắn nỏ Genova và các tay giáo di chuyển về phía trước trong ba giai đoạn, từng bước dừng được báo hiệu bằng các tiếng hét cho phép các binh sĩ bộ binh điều chỉnh các hàng quân của họ. Truyền thuyết thường cho rằng có những con quạ bay qua khu vực này lúc họ tiến lên ( điềm xấu ), nhưng quan trọng hơn là một cơn bão bất ngờ-cơn mưa đầu tiên trong vòng sáu tuần. Sự kiện này làm cho mặt đất trơn trượt và trong ngày hôm đó sau khi mưa kết thúc đáy của chiếc thung lũng Vallée des Clers đã trở thành một chiếc đầm lầy rộng đến 250 m2 từ ngã ba của nó với sông Maye. Mưa cũng làm ướt dây của các cây nỏ của người Genova và làm cho chúng bị mất đáng kể sức công phá. Jean de Venette nói rằng các cung thủ trường cung người Anh đã cất dây cung của họ và giữ chúng khô ráo trong những chiếc mũ sắt. Tuy nhiên, điều này chỉ đơn giản là không thể làm được với những cây nỏ và dây nỏ của người Genova càng chở nên kém co dãn khiến họ dễ dàng bị chiếm ưu thể bởi các cung thủ trường cung người Anh-đối thủ của họ. Nó cũng cho phép người Anh để tận dụng loại vũ khí duy nhất vốn chiếm ưu thế của họ trên thực tế; họ có thể bắn mũi tên với tốc độ cao và có khả năng dội những trận mưa tên theo kiểu giót dầu (hoặc bắn cầu vồng). Về tính chính xác, phạm vi và sức xuyên phá… cùng các lợi thế khác cần phải có lại nằm ở phía người Genova.

Vai trò của bộ binh người Genova có thể là làm gián đoạn đội hình của kẻ thù bằng tên nỏ và rồi các kỵ binh hỗ trợ sẽ tận dụng lợi thế này để phá vỡ đội hình của đối phương. Trong thực tế, người Genova đã khai hỏa vào lần dừng lại thứ ba, khoảng 150 mét từ quân Anh. Họ đã bắn vào mục tiêu ở ngược lên trên ngọn đồi khi mặt trời xuống thấp và gần như chiếu trực tiếp vào mắt họ-đây là một bất lợi lớn cho những người đang cố nhằm trực tiếp mũi tên của mình vào đối phương. Khi bắt đầu bắn, người Genova đã trúng một cơn bão mũi tên từ cánh quân của Hoàng tử xứ Wales và những khẩu súng của người Anh cũng thêm vào tiếng ồn, sự khủ.ng bố tinh thần và thương vong. Froissart nói rằng các khẩu súng này mỗi khẩu đã bắn hai hoặc ba phát vào người Genova, các khẩu súng này sau một lần bắn thì rất khó để nạp đạn nhanh hơn so với bất kỳ loại vũ khí nguyên thủy nào. Villani đồng ý rằng tác động của các khẩu súng là đáng kể và giữ ý kiến rằng sau đó trận pháo kích vẫn tiếp tục dội xuống vào các đợt tấn công của kỵ binh Pháp trong trận chiến: “Các khẩu súng của người Anh dùng bi sắt đúc làm đạn … chúng đã tạo ra những tiếng ồn như tiếng sấm và tạo ra nhiều thiệt hại cho người và ngựa … người Genova đã liên tục bị bắn trúng bởi các cung thủ và pháo thủ … (vào cuối trận) toàn bộ đồng bằng bị bao phủ bởi xác những người đàn ông bị bắn trúng bởi các mũi tên và đạn pháo. “

Vì không có các tấm lá chắn pavise của họ, lại không đủ tầm bắn và bị đối thủ của họ chiếm ưu thế, người Genova dao động và sau đó chạy ngược trở lại. Người ta cho là họ đã bị tấn công bởi những kị sỹ Pháp-những người có nhiệm vụ giám sát họ và mặc dù điều này khó có thể xảy ra, dường như Bá tước Alençon đã kết luận rằng người Ý đã bị mua chuộc để phản bội lại vua Philip. Mặt khác, Jean de Venette cũng cho rằng một số kị sỹ đã tấn công vào bộ binh của họ, “mặc dù tất cả những người lính bắn nỏ Genova đã cầu xin với tiếng kêu lớn”. Khả năng người Anh đã chuyển làn bắn sâu vào đội hình quân Pháp đã gây ra sự nhầm lẫn này và đây cũng là dịp để đặt câu hỏi kỵ binh đã ở đâu cùng với người Genova trong thời gian tiến quân ban đầu của họ.

Ý tưởng cho rằng Philip đã ra lệnh cho các kị sỹ của mình phi ngựa qua những người Genova đang bị thương là điều gần như không thể vì nó sẽ hủy hoại sự gắn kết của một đợt tấn công của kỵ binh. Nhiều khả năng Bá tước Alençon tiến lên khi nhìn thấy một cơ hội để tung ra một đòn tấn công vào người Anh, có lẽ bởi vì tin rằng họ (người Anh) sẽ chưa sẵn sau khi chỉ phải đối mặt với người Genova. Có điều rõ ràng rằng các kị sỹ đã không quan tâm để tránh né các bộ binh đang bị thương và gây ra thương vong hơn nữa khi họ phi ngựa ngang qua. Có hay không việc người Pháp phi ngựa dẵm vào người Genova đang bị thương thực sự là điều vẫn chưa được biết. Bản thân Cralo Grimaldi cũng đã bị thương nặng mặc dù người ta không rõ rằng ông bị trúng tên khi nào.

Lúc này chỉ còn lại lực lượng kỵ binh của Philip VI đã sẵn sàng (ý là bộ binh người Genova đã hoàn toàn tan rã). tuy nhiên họ phải tấn công ngược lên trên cao và phi ngựa qua các khu vực lầy lội, qua các xác chết và người bị thương của bộ binh của họ để lại tấn công vào một kẻ thù vốn đã rất tự tin bởi chiến thắng trước đó và hầu họ ( quân Anh ) như được bảo vệ một cách không thể quan sát được bởi những chiếc hố bẫy ngựa để tiêu diệt những con ngựa của người Pháp. Không lấy gì làm ngạc nhiên khi đợt tấn công đầu tiên của Bá tước Alençon đã thất bại. Ông này dường như đã phi ngựa vượt qua các cung thủ Anh và nhằm vào chiếc cờ hiệu của Hoàng Tử xứ Wales-người vốn được bao quanh bởi những kị sỹ Anh đã xuống ngựa chiến đấu. Nhưng trước khi ông ( Bá tước Alençon ) đến được mục tiêu thì rất nhiều kỵ binh của ông đã bị trúng một hoặc nhiều cơn bão mũi tên. Nhiều con ngựa bị bắn trúng, trong khi những con ngựa khác bị lao vào những chiếc hố bẫy, các con vật này chết và bị thương nằm xếp hàng như những chú heo con nằm bú một con lợn nái.

Các mũi tên gây ra thiệt hại nhiều hơn đến những con ngựa hơn là những kị sỹ, nhưng nhiều người đã bị ngã ngựa khi cuộc tấn công thất bại. Đội hình đã bị phá vỡ, những con ngựa hoảng sợ và bỏ chạy, hoặc nằm xuống, từ chối di chuyển. Như Jean le Bel mô tả, “Những trận mưa tên của người Anh được dẫn bắn với một kỹ năng tuyệt vời vào đám lính kỵ binh làm cho những con ngựa của họ từ chối tiến lên phía trước dù chỉ một bước. Một số nhảy ngược trở lại cào cắn một cách điên loạn, một số con khác lại trở nên ghê gớm, một số lại chạy ngược trở lại phía sau ngược hướng với kẻ thù của họ, những con khác chỉ đơn giản là nằm thẳng cẳng ra mặt đất những kị sỹ của chúng thì chẳng biết có thể làm gì với chúng cả. “Những kị sỹ Anh lúc này lại nhảy lên ngựa và tấn công vào quân Pháp đang hỗn loạn. Một số nguồn tin cho rằng người Pháp đã đến được vị trí của người Anh và Bá tước Alençon đã chém đổ được lá cờ hiệu của Hoàng tử xứ Wales nhưng gần như chắc chắn đây là một huyền thoại anh hùng.Các kị sỹ của John de Luxembourg đã được gửi tiếp vào cuộc chiến, dường như họ đang di chuyển về phía trước khi chỉ huy của họ nhận ra rằng Alençon đang gặp rắc rối, Chắc chắn ông (John de Luxembourg ) đã nhận thức được tình hình và hỏi về nơi đóng quân của Charles-con trai ông cũng là vua của La Mã . Một số các cố vấn của John cảnh báo ông nên bỏ chạy, nhưng thay vào đó vị chiến binh già đã gần như mù lòa này đã ra lệnh cho các tùy tùng của ông buộc lại yên ngựa của họ trước khi chính ông dẫn họ xung phong lên tấn công vào Hoàng tử xứ Wales. Theo nhà sử gia Froissart, yêu cầu cuối cùng của ông là “Je vous requers Tres especiallement que vous me meniez si’avant que me puisse ferir un coup d’epee” ( Tôi yêu cầu các bạn đưa tôi tiến lên càng xa càng tốt trong lúc này để hy vọng rằng tôi có thể hua thanh kiếm lên một lần nữa)

Bất kể sự thật là như thế nào thì lúc này các kị sỹ của John de Luxembourg đã triển khai tấn công và lao vào cuộc chiến với tiếng thét “Prague!” của họ (John de Luxembourg là vua của vùng Bohem), họ đã tấn công vào quân Anh với những thành công lớn hơn. Theo Frossart: “Một số lãnh chúa và hiệp sĩ và hộ sỹ ở toán quân người Pháp chiến đấu bên cạnh một số người Đức và người vùng Savoy, đã vượt qua các cung thủ của Hoàng tử xứ Wales và phi ngựa ngược lên trên để tấn công các kị sỹ của ông ta (Hoàng tử xứ Wales) bằng kiếm, chiến đấu tay đôi với sự dũng cảm tuyệt vời … tất cả tinh hoa của tinh thần thượng võ Anh đều đã tập trung xung quanh để bảo vệ Hoàng tử xứ Wales ” Trong trận cận chiến này John de Luxembourg và những tùy tùng của ông đều đã bị kéo xuống từ những con ngựa của họ và bị giết chết..Buổi sáng hôm đó vua Philip đã đưa cho John của Hainault (anh vợ của Edward III) một con ngựa đen, ông này đã đưa nó cho người mang cờ hiệu của mình-Sir John de Fusselles. Cưỡi trên con ngựa chiến tuyệt vời này Fusselles đã phi ngựa xuyên qua tuyến phòng tuyến của quân Anh và đến tận phía bên kia. Tuy nhiên, con vật này đã bị giật mình bởi một mũi tên và rơi vào hố bẫy và làm cho người cưỡi nó bị mắc kẹt, phải đến khi viên kiếm đồng của Fusselles chạy xung quanh vị trí người Anh và giải phóng chủ của cậu ta trước khi họ có thể quay trở lại bằng những cách khác nhau.

Tranh vẽ cảnh John de Luxembourg đã đánh ngã và xuýt nữa bắt sống Edward-Hoàng tử xứ Wales

Hoàng tử Đen được cứu thoát và rồi ông lại tiếp tục đứng dậy chiến đấu

Trong đợt tấn công của John de Luxembourg, Hoàng tử Edward bị bắt tù binh trước khi ông được giải cứu bởi người mang cờ hiệu của mình-Sir Richard Fitz Simon. Ông này (Richard Fitz Simon ) được cho là đã phải bỏ lá cờ hiệu xuống để bảo vệ Hoàng tử của mình, nhưng điều này được coi là trái với nhiệm vụ của một hiệp sỹ mang cờ hiệu và đây có thể là một truyền thuyết để giải thích tại sao lá cờ hiệu bị hạ xuống trong một thời gian ngắn. Nguồn từ người Flesmish cho rằng Bá tước của Hainault giằng lá cờ từ tay của Fitz Simon cho đến khi ông này và Sir Thomas Daniel lại dựng nó lên một lần nữa. Trong khi đó, Bá tước của Northampton nhận được một tin nhắn từ Godfrey de Harcourt và gửi đơn vị của ông ở đó gần nhất-đơn vị được chỉ huy bởi Bá tước của Arundel, để trợ giúp cho vị Hoàng tử. Sir Thomas Norwich cũng viết thư đến nhà vua để xin tiếp viện có thể là, theo Froissart thì nhà vua Anh đã trả lời như sau ” ngài Tomas, con trai của tôi đã chết hoặc gục ngã do bị thương chưa mà nó không thể tự giúp chính mình? Trong trường hợp này thì chưa, do đó câu trả lời nổi tiếng của Edward III là ” Tôi ra lệnh rằng thằng bé phải được phép kiếm một chiếc đinh thúc ngựa ( ám chỉ danh hiệu Hiệp sỹ ) cho nó, đó là mong muốn của tôi nếu hôm nay là ngày của nó, vinh quang của ngày hôm nay thuộc về nó và những người tôi đã giao nó cho họ. ” Nhiều khả năng Edward từ vị trí của mình trên sống núi đã nhìn thấy đợt phản công của Arundel và nhận ra rằng mối nguy hiểm đã qua.

Lúc này cả hai chỉ huy của kị binh Pháp là Alençon và Luxembourg đều đã chết, nhưng người Pháp vẫn tiếp tục tiến hành tới 13 đợt tấn công bằng kỵ binh nữa, mỗi đợt tấn công của họ lại để lại rất nhiều người đã chết và bị thương ở phía trước các vị trí của người Anh. Nhất là ở trước mặt đạo quân của Hoàng tử xứ Wales mặc dù đơn vị của Bá tước Northampton cũng bị tấn công. Ở cánh trung tâm dường như Edward III chỉ gửi quân tiếp viện khi cần thiết, lực lượng tiếp viện bao gồm vị Giám mục Durham và 20 hiệp sĩ để giúp con trai mình.

Các cuộc tấn công của Pháp trở thành hoảng loạn và vỡ vụn, cho đến khi hoàng hôn xuống Edward III đã ra lệnh cho người Anh tiến lên. Những con ngựa đã được đưa ra và sau khi thành lập các đội hình controi, kị binh của người Anh bắt đầu tấn công. Hầu hết những gì còn lại của quân đội Pháp đã bỏ chạy mặc dù những tùy tùng riêng của Philip VI vẫn đứng vững với 50 -> 70 tay thương cùng với các đơn vị kỵ binh và các dân binh của vùng Orleans. Ngựa của Philip đã bị giết chết hai lần dưới chân ông và có thể ông đã bị trúng một mũi tên vào hàm và viên hiệp sỹ cầm cờ hiệu của ông đã bị giết chết, cả hai lá cờ hiệu của hoàng gia và Oriflamme đều bị bắt giữ. Cuộc chiến vẫn tiếp tục cho đến tối, bộ binh người Anh, xứ Walsh và Cornish tiến lên phía trước để giết những người bị thương và choáng váng đang nằm rải rác xung quanh Vallee des Clercs. Có những nỗ lực muộn mằn để bắt tù binh một số kẻ thù, Godfrey de Harcourt đã không thành công trong việc cố gắng để cứu mạng sống của John de Harcourt-anh trai của ông. ( ko biết ông sau chiến đấu cho phe nào)

Cuối cùng, Bá tước Hainault sống sót sau cuộc tấn công của John de Luxembourg và có lẽ cùng với một số những người khác đã túm lấy Philip VI và kéo ông ta ra khỏi bãi chiến trường. Chỉ còn một số ít người theo họ trốn đến lâu đài Labroye, nơi mà nhà vua Pháp phải rất khó khăn thuyết phục được đơn vị đồn trú nhận ra mình. Ngày hôm sau Philip đã đến Doullens. Quay lại bãi chiến trường ở Crécy, vua Edward không cho quân của mình truy kích quân Pháp đang bỏ chạy, có thể ông này cho rằng các đội quân Pháp khác còn đang kéo đến. Theo tài liệu để lại thì Edward cho chiếc cối xay gió nổi tiếng để chiếu sáng bãi chiến trường trong những giờ đầu tiên của buổi đêm, ngày hôm sau nhiều toa xe của quân Pháp đã bị đốt cháy cùng với bất cứ những thứ gì mà người Anh không thể sử dụng được.Trong suốt đêm đó và sáng sớm đầy sương mù của ngày hôm sau các binh sỹ Pháp vốn bị tách ra khỏi các chỉ huy của họ, đã đi lang thang xung quanh la hét mật khẩu khi họ cố gắng để tìm bạn bè và người thân. Nhiều người bị tìm thấy bởi người Anh và tất cả đã bị giết vì người chiến thắng vẫn bắt tù binh. Một đội quân Pháp khoảng 2,000 người vốn không biết gì về kết quả của trận chiến và đã trú đêm trên đường đến từ Abbeville. Họ là lực lượng dân binh từ Roen và Beauvais, được hộ tống bởi Bá tước Louis của Blois và Công tước Raoul của Lorraine-anh rể của ông. Edward III đã tung Warwick, Suffolk và Northampton tấn công họ, Quân Anh đã đóng giả quân Pháp ra chào đón họ và sau đó triển khai tấn công ( các chỉ huy và quý tộc Anh vào thời điểm đó sính dùng tiếng Pháp ). Sau đó những người này nhận ra sai lầm của mình và bỏ chạy mặc dù khá nhiều trong số họ đã thiệt mạng trong đó có cả công tước Raoul của Lorraine.Các nhà tu sỹ của tu viện Crécy Grange chăm sóc cho những người Anh bị thương. Những người đã qua đời trong khi cứu chữa được họ chôn cất trong trong góc của một cánh đồng mấp mô và chỗ này không bao giờ cò được sử dụng để canh tác. Người Anh cũng muốn phát hiện về toàn bộ chiến thắng của họ và Edward III ra lệnh cho Reginald de Cobham để tập hợp những người có thể nhận biết qua huy hiệu trên áo choàng để xác định những người đã chết. Không có tài liệu nào về chi tiết này còn tồn tại, nhưng theo Jean le Bel thì người Pháp bị mất 9 Bá tước, 12,000 hiệp sĩ và 15,000-16,000 người khác. Đây là một con số bị cường điệu hóa và thậm chí Geoffrey le Baker ước tính tổng số là 4,000 quý tộc và hiệp sĩ bị giết trên cả hai phía, nhưng có lẽ vẫn là quá nhiều. Một con số được công bố có vẻ đúng sự thật hơn là khoảng 1,542 người ( chỉ riêng các quý tộc và hiệp sỹ ).Nhiều người có kinh nghiệm nhất trong đoàn quân của Philip VI đã tử trận ở Crécy, nhưng thay vì cố gắng để tập hợp những lực lượng còn lại, ông này lại rút lui về Amiens, nơi ông gặp Charles-vua của La Mã và lúc này đã trở thành vua của Bohemia, John của Hainault, Bá tước của Namur và Louis Bá tước mới của Flanders. người của họ đã bị phân tán nên các chỉ huy không còn cách nào ngoài việc lên đường trở về nhà.Tuy nhiên, trước khi làm như vậy Philip VI đã ra lệnh hành hình tất cả những “kẻ phản bội” người Genova. Nhiều người đã bị giết trước khi sự giận dữ của nhà vua nguội đi và cũng không đáng ngạc nhiên khi những người Genova sống sót cũng đã đi về nhà. Philip cưỡi ngựa một phần tách biệt đến Pont Saint-Maxence qua rừng Hallate khoảng 56 km về phía bắc Paris. Trong khi đó con trai của ông-Công tước John của Normandy cuối cùng cũng đến được Paris vào ngày 08 tháng 10, trước khi quay lại đón cha mình từ Pont Saint-Maxence.

Sau trận đánh

Sau khi kết thúc trận Crécy người Anh di chuyển chậm rãi lên phía Bắc với tốc độ chỉ 16 km /ngày. Họ ở lại gần bờ biển với hy vọng nhận được nguồn cung cấp bằng đường biển, và lại một lần nữa phá hủy một khu vực rộng 30 km, công chiếm Etaples và tiến hành một cuộc tấn công bất thành công vào Montreuil-sur-Mer.

Vào ngày 1 tháng 9 quân đội của Edward nghỉ ngơi tại Neufchatel và ngày hôm sau họ dừng lại ở Womille ở phía bắc Boulogne để xem xét tình hình. Quân Anh tại Caen đã bị tiêu diệt bởi quân Pháp đồn trú trong lâu đài và Edward nhận ra rằng ông không còn có thể giữ lại vùng Normandy được nữa. Đây là một nỗi thất vọng nặng nề cho những người quý tộc gốc Norman-những người là nòng cốt của quân đội Anh. Lúc này Edward quyết định triển khai bao vây Calais thay vì Boulogne bởi vì nó sẽ là một căn cứ tốt hơn cho các hoạt động trong tương lai và gần gũi hơn với các đồng minh người Flemish của ông.

Ngày 03 tháng 9, Wisant-chiếc cảng cổ xưa đã bị phá hủy và vào ngày 4 đội quân tiên phong của quân Anh đã đến được đầm lầy bao quanh Calais. Ngày hôm đó hạm đội Anh cũng đã tấn công Boulogne nhưng đã bị đẩy lui. Sau đó họ đã liên hệ với Vua Edward, ông này lại viết một lá thư yêu cầu gửi người và vật tư cho cuộc bao vây sắp tới vào Calais. Một vài ngày sau đó, các đội tàu cung cấp vốn được chờ đợi trong nhiều ngày đã đến từ nước Anh dưới sự chỉ huy của Sir John Montgomery.

Khoảng thời gian này cuối cùng Godfrey Harcout không còn hy vọng nhận được bất cứ thứ gì từ người Anh và bỏ đi đến Brabant.Quân đội Pháp thất bại trong chiến dịch Crécy đã là đề tài tranh luận nóng bỏng trên cả hai bờ của English Channel. Rõ ràng quân đội của vua Philip đã không dàn quân đúng cách trong trận chiến, cuộc tấn công của họ đã bắt đầu quá muộn trong ngày và nhiều cuộc tấn công bằng kỵ binh của họ có phối hợp rất kém.

Tuy nhiên, sẽ là sai lầm khi đổ lỗi tất cả thất bại vào các kị sỹ Pháp hay vào lính bắn nỏ Genova. Các cuộc tấn công cũng không mất tổ chức hơn bình thường, trong khi những kị sỹ có khả năng quay lại, tập hợp để tái tạo lại những cuộc tấn công thì ta phải thấy họ có khả năng điều khiển ngựa, kỷ luật, dũng cảm và có kiểm soát một cách tuyệt vờiLý do cho sự thành công của người Anh được ưa chuộng nhất bởi các sử gia người Anh là sự vượt trội của các cây cung so với các cây nỏ. Carlo Grimandi tự thừa nhận rằng lính bắn nỏ Genova có phạm vi bắn quá ngắn so với các cung thủ trường cung Anh, trong khi Villani cho biết khi cung thủ Anh bắn được ba mũi tên thì lính bắn nỏ mới chỉ bắn được một. Các khả năng của các cung thủ trường cung chiếm ưu thế hoàn toàn so với lính bắn nỏ là hoàn toàn đúng, tuy nhiên có được kết quả đó cũng một phần do cơn mưa và cơn mưa này đã làm cho những phát bắn nỏ trở nên kém hiệu lực.Những cung thủ trường cung Anh có kỹ năng cao đã trở thành một cái gì đó tương tự như lực lượng tinh nhuệ vốn được tuyển dụng từ các gia đình quý tộc Anh, nhưng rõ ràng lại bị giới hạn cho sức mạnh quân sự mới của Anh quốc.

Điều đáng chú ý là quân Anh vẫn chỉ chiến đấu tốt ở những trận đột kích và những trận đánh mở, nhưng họ không bao giờ có được hiệu quả tương tự trong chiến tranh bao vây. Tuy nhiên, tác động tâm lý của trận đánh là rất lớn với người Anh và sự tự tin của họ tăng vọt lên cao. Những binh lính trở về nhà đã lan truyền ý tưởng rằng rất dễ dàng trong việc chiếm đóng nước Pháp và mặc dù những người này thường phải bán chiến lợi phẩm của họ thấp hơn giá trị thực sự của nó, Thomas Walsingham đã viết rằng: “Những người phụ nữ đã được lợi gì, họ là người không được sở hữu bất cứ thứ gì từ các chiến lợi phẩm của Caen và Calais và những thành phố khác ở nước ngoài dưới dạng quần áo, lông thú, mền bông và đồ dùng. “Sự thay đổi thái độ này đã làm cho Edward III dễ dàng hơn nhiều trong việc tuyển quân ở trong nước và đã có trường hợp của thăng tiến từ cung thủ-thứ hạng khiêm tốn tới kị sỹ và đội trưởng của thập kỷ 1350. Chiến thắng của Edward III cũng được coi là bằng chứng của Thiên Chúa chấp thuận cho tuyên bố về sở hữu ngai vàng của tại Pháp, như John Erghome của Yorkshire đã viết: “Thiên Chúa đã ban cho người Anh sức mạnh của vũ khí trong cuộc chiến chống người Pháp vì lợi ích mà họ có trong vương quốc Pháp” Trong khi đó Philip VI chở thành cái bia cho những lời chế giễu cụ thể.

Tại nước Pháp tác động của trận thất bại ở Crécy và sau đó là sự thất thủ của Calais là những vấn đề chính trị và quân sự, các kỵ sỹ đã học được bài học phải cảnh giác với các cung thủ trường cung Anh, không phải quá nhiều cho bản thân họ mà là cho những con ngựa dễ bị tổn thương của họ. Và các kị sỹ Pháp cũng bắt đầu xuống ngựa để chiến đấu mặc dù chiến thuật cơ bản của họ vẫn là tấn công. Chiến dịch của Edward III có thể chỉ giành chiến thắng trên một lãnh thổ nhỏ và chỉ giữ lại được Calais, nhưng hậu quả của nó là tạo ra thiệt hại rất lớn trên toàn miền Bắc nước Pháp và là một thảm họa chính trị cho Philip VI. Về tâm lý tác động là ngược lại so với những gì đã thấy ở Anh: Crécy là một cú sốc lớn cho giới quý tộc Pháp và danh tiếng của tầng lớp hiệp sĩ đã bị mai một. Quan điểm của Pháp về người Anh điển hình thường là không tốt: họ luôn cho rằng người Anh là những người bạo tàn, cặn bã đê tiện của nhân loại… và trong tương lai hai nước này còn thù địch với nhau hàng trăm năm nữa, có lẽ phải đến chiến tranh thế giới I thì họ mới chịu đứng cùng một chiến tuyến.

Ở bên ngoài nước Pháp trận Crécy có tác động ít đến nghệ thuật quân sự của các quốc gia hơn là người ta dự đoán mặc dù các cung thủ và kị sỹ người Anh đã nhanh chóng được hoan nghênh như là những lính đánh thuê ở Italia. Carlo Grimandi một lần nữa lại chở thành Lãnh chúa của Monaco và là nhà thầu quân sự hàng đầu trong việc tuyển dụng lính đánh thuê người Genova, và rồi ông ta cũng phục hồi đầy đủ để tham gia những cuộc viễn chinh khác trước khi chết vào năm 1357. Ranieri-con trai ông cũng gần như chở thành vua của Menton, và vẫn là một người chư hầu trung thành của nước Pháp cũng như hầu hết các thành viên khác của gia đình Grimaldi. Hậu duệ của Carlo Grimaldi vẫn sở hữu Monaco cho đến ngày nay.

Trận Poitiers năm 1356

Những sự kiện lớn giữa Pháp và Anh trước khi xảy ra trận Poitiers

Năm 1347 Vùng Bearn tự tuyên bố là một tiểu quốc độc lập bởi Bá tước Gaston Phoebus của Foix nhưng không được nhà vua Pháp chấp nhận. Bệnh dịch “ Black Death” loang tới Marseilles.

Năm 1349 Vùng Dauphine được mua lại từ Đế chế La Mã Thánh thần, chiếm được vùng Montperllier từ tay của xứ Aragon
Tháng 12 Bá tước Lancaster đột kích vào vùng Languedoc tới tận Toulouse sau đó lại phải tháo chạy.

Năm 1349 -> 50 Người Pháp chiếm lại các vùng Prigny, Bouin, Beauvoir và Noirmoutier ở phía nam vùng Brittany từ tay người Anh và các đồng minh của họ.

Năm 1351 -> 52 Người Anh thiết lập các đơn vị đồn trú ở tỉnh Quercy, mặc dù các thị trấn trung tâm vẫn nằm trong sự kiểm soát của người Pháp.

Năm 1355 Tháng 10 -11 Cuộc Đại đột kích của Hoàng tử xứ Wales vào vùng Languedoc đã với tới Narbon.
Tháng 11 Các đợt tấn công du kích được tiến hành bởi vua Edward III từ Calais đã tới Hesdin, nhưng nhà vua đã rút lui khi đối mặt với quân Pháp từ Amiens.
Tháng 12 ( tới tận tháng 2 năm 1356) Nhiều thị trấn ở các tỉnh Perigord, Guyenne và Agenais bị chiếm bởi quân Anh.

Năm 1356 Tháng 6 Đại diện của các thị dân vùng Languedoc tập hợp tại Beziers để bàn cách hợp tác phòng thủ.
Ngày 19 tháng 6 Bá tước Stafford mang thêm quân tăng viện và chỉ thị của vua Edward III tới Hoàng tử Đen tại Bordeaux
21 tháng 6 Phái đoàn hòa giải của Giáo hoàng rời Avignon và hướng đến triều đình Pháp.
Tháng 6 ->7 Bá tước Lancaster tiến hành đột kích khắp vùng Normandy.
Tháng 7 Southampton được tuyên bố là điểm lên tầu cho một cuộc viễn chinh tới nước Pháp. Vua John II của Pháp cử Bá tước Poitiers tới Bourges để tập hợp quân đội.
Ngày 6 tháng 7 Hoàng từ xứ Wales tiến đến La Reole, đây là điểm tập hợp của quân đội người Gascon ( quân đội người Pháp thân Anh).
Ngày 12 tháng 7 Vua John tiến hành bao vây Breteuil
Đầu tháng 8 Hạm đội của người Aragon đã đến sông Seine, bá tước Poitiers thiết lập sở chỉ huy của ông ta ở Bourges
Tháng 8 ( hoặc đầu tháng 9) Bá tước Lancaster tiến quân với mục đích hỗ trợ cho Hoàng tử xứ Wales
Ngày 4 tháng 8 Quân đội của Hoàng tử Đen đến được Bergerac được chia ra thành nhiều toán quân nhỏ để phòng thủ xứ Gascony.
Ngày 9 tháng 8 Hoàng tử Đen tiến tới Brantome
Ngày 10 tháng 8 Hạm đội của xứ Aragon đã chặn đứng việc chuyển quân tiếp viện từ Southampton đến Pháp.
Ngày 12 tháng 8 Hoàng tử xứ Wales tiến đến Rochechouart.
Ngày 18 tháng 8 Bá tước Poitiers rút khỏi Bourges và thiết lập một sở chỉ huy mới ở Decise vào ngày 21 tháng 8, ông nhận được lệnh phải giữ được vùng Loire tới khi nhà vua và nhà Dauphin ( hoàng tộc của Pháp thời đó) tới và tăng viện cho ông.
Ngày 20 tháng 8 Quân đồn trú người Navarres tại lâu đài Breteuil đã đầu hàng trước vua John.
Ngày 22 tháng 8 Hoàng tử xứ Wales tiến đến vùng Argenton.
Ngày 7 tháng 9 Hoàng tử xứ Wales đến được Tours và thiết lập sở chỉ huy tại Montlouis, các cuộc tấn công của người Anh vào Tours đều thất bại.
Ngày 8 tháng 8 Quân đội của nhà vua John đến được Meung-sur-Loire.
Ngày 10 tháng 9 Vua John hội binh với Bá tước Poitiers, vượt sông Loire và hành quân đến Amboise.
Ngày 11 tháng 9 Hoàng tử xứ Wales rút lui về phía nam, vượt qua sông Cher và Indre để đến Montbazon.
Ngày 12 tháng 9 Phái đoàn hòa giải của Giáo Hoàng đến gặp Hoàng tử Đen, cũng khoảng ngày hôm đó Quân đội Pháp dưới sự chỉ huy của Charles Dauphin ( sau này là vua Charles V của Pháp) đã tới Tours, vua John hành quân từ Amboise về hướng Poitiers.
Ngày 13 tháng 9 Hoàng tử Đen đến được thành phố La Hay thuộc vùng Creuse. Vua John đến được vùng Loches.
Ngày 14 tháng 9 Vua John đến La Haye. Hoàng tử Đen đến đến được Châtellerault và ở lại đó 3 ngày với hy vọng liên lạc được với Công tước Lancaster-người đã không thể vượt sông Loire.
Ngày 15 tháng 9 Vua John đến được vùng Chauvigny
Ngày 17 tháng 9 Hoàng tử Đen rời vùng Châtellerault, ông ta đến được vùng Chauvigny-Poitiers và thấy rằng quân Pháp đang tiến về Poitiers, đại úy de Buch tấn công vào hậu quân Pháp tại La Chaboterie, quân Anh rút lui và đóng trại trong rừng.
Ngày 18 tháng 9 Người Anh phát hiện ra rằng quân Pháp hạ trại ở giữa Poitiers và Savigny-Levescault, Hoàng tử xứ Wales dàn quân đội của ông ta ở phía Bắc của Nouaillé.
Ngày 19 tháng 9 Nổ ra trận Poitiers, Hoàng tử xứ Wales đánh bại và bắt tù binh vua John II.
Ngày 21 tháng 10 Liên quân Anh-Gascon hành quân về phía nam từ Poitiers.
Ngày 29 tháng 9 Charles Dauphine tiến vào Paris để thành lập một chính phủ Pháp mới.
Cuối tháng 9 Công tước xứ Lancaster rút lui về Brittany.
Ngày 3 tháng 10 Quân Anh và những người Breton ủng hộ họ đã bao vây không thành công Rennes.
Tháng 10 năm 1356 tới tháng 1 năm 1358 Liên quân Anh-Navarrese chiếm được phần lớn những vùng lãnh thổ của Normandy.
Tháng 12 Vùng Pont-Audemer bị tái chiếm bởi Charles Dauphine.

Trong phần lớn thời gian Trung cổ, chế độ xã hội của Pháp và Anh rất giống nhau, đặc biệt là trong các vùng trung tâm của phía Nam nước Anh và miền Bắc nước Pháp. Hơn nữa giai cấp thống trị của Anh vẫn nói tiếng Pháp và phần lớn có nguồn gốc Pháp. Ngược lại có sự khác biệt đáng chú ý trong văn hóa, ngôn ngữ và pháp luật từ miền nam nước Pháp vốn là di sản của nền văn hóa La Mã -Địa Trung Hải. Vì vậy, rất hài hước khi những tài sản đất đai lớn nhất trên đất Pháp lại thuộc về nước Anh và những đồng minh trung thành nhất của Pháp lại ở vùng Aquitaine (một vùng đất đã từng thuộc về nhà Plantagenet) ở phía tây nam Pháp, ở đó mặc dù không phải là vùng thuộc Địa Trung Hải, nhưng nó vẫn bảo quản nền văn minh Romano-Christian trong suốt thời gian đầu thời trung cổ.

Trong những thập niên đầu của cuộc chiến tranh trăm năm giữa nước Pháp và nước Anh người ta đã thấy hai chiến thắng đáng chú ý của người Anh. Đầu tiên là chiến thắng trên biển, gần cảng Sluvs năm 1340. Chiến thắng thứ hai gây nhiều ngạc nhiên hơn đối với các quốc gia châu Âu khác-đó là việc vua Edward III đã đánh bại và ghiền nát quân đội của vua Philip VI tại trận Crécy trong năm 1346. Đột nhiên, một vương quốc đã được ghi nhận vì hòa bình và thịnh vượng hơn là sức mạnh quân sự thu được từ danh tiếng của một quân đội có hiệu quả chiến đấu cao và các cung thủ trường cung vốn ngày càng được tôn trọng.
.
Hai năm sau thất bại ở Crécy, nước Pháp lại phải chịu một thảm họa lớn hơn với sự xuất hiện của Black Death-đó là bệnh dịch hạch vốn đã nhanh chóng lan rộng trên hầu như tất cả các châu Âu, nhưng dường như mới nhập vào Pháp qua cảng Địa Trung Hải và bùng phát mạnh ở thành phố cảng Marseilles. Hàng triệu người chết trong nhiều đợt dịch bệnh và một số sử gia cho rằng có đến nửa dân số Pháp đã thiệt mạng vì bệnh dịch này.

Không có gì đáng ngạc nhiên, Black Death đã làm cho cuộc chiến giữa Anh và Pháp phải tạm dừng. Thậm chí bệnh dịch hạch đã tác động đến sự sẵn có của những đàn ngựa bởi vì nó làm sụp đổ nền kinh tế dân cư ở vùng nông thôn, điều có nghĩa là không có đủ thức ăn để giữ cho những đàn ngựa còn sống. Đây là những yếu tố cực kỳ quan trọng, bởi vì vào giữa thế kỷ 14 Chiến tranh Trăm năm là một cuộc chiến tổng lực trên cả mặt trận quân sự lẫn kinh tế và nó đã mang lại sự căng thẳng nghiêm trọng về tài chính cho cả hai phía.

Khi John II lên ngôi của Pháp năm 1350, ông thừa hưởng một vương quốc bị suy yếu do nạn đói, bệnh tật và hàng loạt các cuộc tấn công cướp phá trên diện rộng của người Anh. Vị vua trẻ tuổi đã cai trị vương quốc với sự hỗ trợ của một nhóm nhỏ các Đại qúy tộc cấp cao và các đại diện của các tầng lớp quý tộc thấp hơn. Họ đều đồng thuận rằng việc cần thiết trước mắt là phải có những thứ như những sắc thuế mới. Những lãnh chúa mạnh nhất thường hội họp với nhà vua của họ trong căn cứ quyền lực địa chính trị của riêng họ và không giống như Nghị viện Quý tộc Anh, Quốc-Hội Pháp vẫn chưa phát triển. Mặt khác vua John II đã có nhiều cố gắng để cải cách chính phủ, củng cố quyền lực của hoàng gia và tăng cường sức mạnh của quân đội Pháp để có thể trỗi dậy sau những thất bại bất chấp sự khinh miệt của người Anh. Để tiếp tục kiểm soát cái chính phủ vừa mới tái cơ cấu của mình, John II đã từ bỏ lối sống lưu động giống như của Philip VI-cha của ông và dành phần lớn thời gian của mình sống ở trong hoặc gần Paris. Ông cũng đã chọn ra ba Giáo sỹ cao cấp ( giáo sỹ là tầng lớp trí thức của châu Âu thời Trung cổ ) từ tầng lớp quý tộc để làm việc như những nhà lãnh đạo quân sự và giúp đỡ ông trong việc tiến hành cải cách tổ chức trong thời gian các hiệp định ngừng bắn với nước Anh được kéo dài. Tất nhiên là không phải tất cả các chính sách mới của vua John đều là đúng đắn chẳng hạn như vào năm 1352 ông đã gả con gái của mình cho vua Charles của Navarre – vốn được biết đến trong lịch sử như là Charles the Bad ( gã tồi tệ). Sự kiện này sẽ gây ra một loạt các vấn đề nghiêm trọng trong tương lai từ Charles của Navarre vì ông này cho rằng mình có quyền lên ngôi vua của nước Pháp.

Vào năm 1355 khoảng thời gian tồi tệ nhất của bệnh dịch hạch đã qua và vương quốc đang ở giai đoạn phục hồi. Tuy nhiên, quân đội dã chiến của Pháp trong những năm của thập kỷ 1350 nhỏ hơn một cách đáng kể hơn so với chính nó hồi ở Crécy. Theo các cải cách của vua John II, quân đội thu nhỏ lại hơn nhưng vẫn cần phải có hiệu quả hơn. Ví dụ, năm 1351 nhà vua ra lệnh rằng tất cả các tay nỏ đang phục vụ cho ông được cung cấp với một chiếc dây cu roa để tăng sức mạnh và kích thước vật lý của cây nỏ. Ở những nơi khác, hình thức phòng thủ truyền thống của các đô thị đã bị lãng quên trong những thập kỷ hòa bình trước khi nổ ra chiến tranh Trăm năm, đặc biệt là ở Poitou nơi mà quân Anh đã tiến hành các cuộc đột kích khốc liệt vào năm 1356 và lên đến đỉnh điểm là trận Poitiers. Bằng những nỗ lực đáng kể đã được thực hiện để phục hồi và cải thiện hệ thống guet, arrirere-guet ( tiếng Pháp nên chịu ) và hệ thống phòng thủ ở các thành phố và thị xã. Ví dụ như ở Chatellerault những guetteur hoặc `đài quan sát ‘ là những người được đề cử bởi hội đồng thành phố để canh chừng trên chiếc đồng hồ từ tháp chuông của nhà thờ thánh St. Jacques. Đáng buồn là những nỗ lực này tỏ ra quá chậm và không hiệu quả để có nhiều ảnh hưởng vào năm 1356. Tương tự, những cố gắng để tăng cường hệ thống công sự ở đô thị và các lâu đài có rất ít ảnh hưởng và nhiều sử gia đã đổ lỗi cho thất bại vào các cải cách của vua John và sự ‘phản bội’ của các tầng lớp quý tộc trong việc thực hiện nghĩa vụ quân sự vì họ đã tỏ ra ích kỷ, chỉ tìm cách bảo vệ quyền lợi cá nhân, bè phái và vô kỷ luật.

Trong khi đó tại Anh có ít nỗ những lực cải cách hơn vì quân đội Anh đã chứng tỏ được tính hiệu quả của họ. Trong thực tế những thành công ban đầu của vua Edward đã được nhìn nhận như bằng chứng của sự hỗ trợ của Chúa cho sự nghiệp của ông. Sau khi trận chiến Crécy kết thúc, Joltn Erghome của Yorkshire đã viết: “Thiên Chúa đã ban cho người Anh sức mạnh của vũ khí trong cuộc chiến chống người Pháp vì lợi ích mà họ có trong vương quốc Pháp”… Tuy nhiên sau đó có một mối quan tâm lớn rằng người Pháp sẽ tìm cách lừa người Anh về những khoản chiến lợi phẩm của chiến thắng qua việc ký các hiệp ước hòa bình, các điều ước quốc tế và ngoại giao quanh co. Thậm chí người Anh ngày càng nghi ngờ rằng Giáo hoàng đã ủng hộ Pháp ( có vẻ như đây cũng là một nguyên nhân để người Anh tách riêng ra thành lập Giáo hội Anh giáo ). Cùng với những điều này là nỗi sợ bị người Pháp trả thù bởi vì từ trước đến lúc đó nước Pháp vẫn là một cường quốc lớn và lâu đời.

Vào gần thời gian đó, quan điểm truyền thống của Anh về việc được hưởng lợi từ những chiến thắng ban đầu của họ đã bị thách thức, ít nhất là tại những khía cạnh mà chính phủ Anh đã quan tâm tới, kể cả việc chi phí của các cuộc chinh phạt ngày càng rất lớn. Tuy nhiên, chắc chắn là có một số cá nhân được hưởng lợi từ những chiến dịch thành công. Mặc dù quân đội thời trung cổ là rất nhỏ so với tiêu chuẩn hiện đại và dân số thời trung cổ cũng rất ít nên số đàn ông tham gia quân đội đôi khi tương đương với 10 -> 15 % số nhân lực sẵn có nếu nếu so sánh với thời hiện đại. Ngoài ra ý tưởng cho rằng khi quân đội Anh ra khỏi đất nước của họ thì họ được “người Pháp trả tiền ” là một suy nghĩ sai lầm. Những cuộc chinh phạt Quân sự lớn cần đế một số tiền rất lớn cũng như lừa, ngựa, thức ăn gia súc và phương tiện vận chuyển. Cũng không phải những người đàn ông tham gia vào các chiến dịch này chỉ đơn thuần là những chiến sỹ-những kẻ vô tích sự trong thời bình. Ngược lại, trong họ bao gồm cả một số những người dân có tay nghề cao. Các Lãnh chúa quý tộc bị mất nhiều người thuê đất của họ và những người hầu cận một cách vĩnh viễn nếu họ bị tử trận. Nhưng cái giá phải trả cho bên thua thậm chí còn lớn hơn nhiều. Ngay cả khi có người còn sống sót, tiền chuộc để phóng thích những người bị giam cầm có thể sẽ phá hủy nhiều gia đình một cách vĩnh viễn.

Một thắng lợi lớn cho người Anh trong giai đoạn đầu tiên của Cuộc chiến Trăm năm là việc chiếm đóng Calais trong năm 1347. Sự kiện này giúp cho sự thống trị của người Anh ở Straits Dover thêm vững vàng và để củng cố thắng lợi này chiếc cảng đã được gia tăng dân số bằng người định cư Anh. Các cuộc đột kích của Hải quân Pháp vào bờ biển Anh đã bị triệt phá và sẽ không thể phục hồi cho đến thập kỷ 1370, mặc dù vẫn còn một số cuộc tấn công lẻ tẻ. Một điểm quan trọng tương đương là sự an toàn của tuyến vận chuyển đường biến đến và đi từ nước Anh tới vùng Aquitaine. Tuyến đường biển này sẽ tồn tại một cách an toàn cho đến khi Hạm đội tàu galley của xứ Castilian vốn là đồng minh của người Pháp xuất hiện tại English Channel.

Khi những hoạt động quân sự lớn lại được tiếp tục trong năm 1355, người Anh lại tiếp tục chiến lược trước đây của họ, đó là đột kích một cách sâu rộng vào các vùng Normandy, Brittany và các vùng đất tại tỉnh Aquitaine thuộc sự cai quản của người Pháp và gây ra những hậu quả khốc liệt cho họ. Trong khi vua Edward III của Anh cho triệu tập Nghị viện của ông ta thì vua John II cũng cho mời Etáts Generaux, hay là States General ( một hội đồng quý tộc nhưng chưa phát triển được thành Nghị viện ) vào cung điện của ông. Ngày mùng 1 tháng 9 năm 1355 vua Pháp yêu cầu ra lệnh tổng động viên và trong 10 tháng quân đội của ông đã đạt được một số chiến thắng nhỏ. Về phía người Anh, ba cuộc tấn chevauchée ( càn quét, cướp bóc ) quy mô lớn đã được tiến hành, nhưng chỉ có một cuộc có thể được coi là thành công. Cuộc chevauchée của Vua Edward III từ Calais là một thất bại, trong khi đó cuộc càn quét được chỉ huy bởi Công tước Lancaster tại Normandy cũng tương tự chỉ đạt được những kết quả ít ỏi vì các cuộc đàm phán với Charles Navarre đã bị phá vỡ.

Ngược lại, cuộc hành binh của Hoàng tử xứ Wales từ Bordeaux trên bờ biển Đại Tây Dương của Pháp đến thành phố Narbonne ở đầu bờ Địa Trung Hải đã gây ra thiệt hại rất lớn. Hiệp ước Valonges ký vào ngày 10 tháng Chín năm 1355 đã hoà giải mâu thuẫn giữa vua John II Pháp và vua Charles của Navarre ( dù là chỉ tạm thời ). Sự kiện này được xem như là một mối đe dọa đến lợi ích của người Anh và vì vậy Edward III đã ra lệnh cho con trai ông-Hoàng tử Edward của xứ Wales – người sau này sớm được biết đến như là Hoàng tử đen – khởi động một cuộc chevauchee lớn qua các vùng đất của Jean d’Arrnagnac, một người ủng hộ chính của vua John II ở phía tây nam nước Pháp. Trước khi đoàn chinh phạt này xuất quân vua Anh đã cho triệu tập Nghị viện mà nội dung của cuộc họp theo Chandos Herald là: ” Tất cả đã đồng ý để cử Hoàng tử xứ Wales tới xứ Gascony, bởi vì ông này rất nổi tiếng ở đó và tấn phong cho ông ta ngay lập tức để ông có thể lên đường với các chỉ huy là những quý tộc như Bá tước Warwick, Bá tước Salisbury, Bá tước Suffolk / Ufford, Bá tước Oxford, Bá tước Stafford, Sir Bartholomew de Bulghersh, Sir John Montagu, Lord Despenccr, Lord Mohun, Reginald Cobham, cùng với Chandos và Audley là hai có người có danh tiếng lớn được bổ nhiệm làm cố vấn …” Sau đó hầu hết các quý tộc này đều nổi bật trong trận Poitiers.

Vào cuối tháng 9 năm 1355, khoảng 1000 kị sỹ, 1.000 con ngựa, 300-400 bộ binh cung thủ và 170 tay giáo người xứ Wales đã khởi hành trước để đi Plymouth. Hòang tử cũng đã “giao kèo” với vua Edward để được cung cấp thêm 433 kị sỹ, 400 con ngựa thiết giáp và 300 bộ binh cung thủ, ông cũng cần ít nhất 833 con ngựa ngoài những con ngựa của các chỉ huy, của đoàn tùy tùng của họ và nhân viên hành chính cần thiết chứ không đề cập đến những toa xe và súc vật để chở hành lý. Một số kị sỹ được phép mua ngựa ở Gascony và những con ngựa để thay thế cho những con sẽ bị giết trong chiến đấu cũng được tìm ở đó, tất cả đều được định giá trị bởi vị Nguyên soái của Bordeaux. Những con ngựa được vận chuyển trực tiếp từ Plymouth đã chắc chắn được ‘thẩm định’ (giá trị) và đánh dấu bởi John Gevncourt và các trợ lý của ông, trong khi hai chiếc phà khác dùng để chở quân và Larnbkyn Sanddler cung cấp một số đồ trang bị cho chính ngựa của Hoàng tử xứ Wales.

Vì các trang bị quân sự phù hợp rất hiếm có ở Aquitaine, mà phần nhiều chúng được gửi đến từ nước Anh. Theo quấn sổ ‘Đăng ký’ hoặc văn bản chính thức của Hoàng tử đen, Robert Pipot của Broukford đã được cử quay trở lại nước Anh: để mua cho ông ta (Hoàng tử xứ Wales ) một ngàn cây cung, hai ngàn sợi dây cung và bốn trăm bó tên, nhưng đã không thể mua được tên ở Anh vì nhà vua ( Edward III) đã cho tịch thu để sử dụng tất cả các mũi tên có thể được tìm thấy ở đó, lúc này Hoàng tử phải cử Robert đến từng phần của thành phố Chester để bắt giữ chính những Fletcher [ những thợ thủ công chế tạo tên] để tiếp tục sản xuất tên cho Hoàng tử cho đến khi nhu cầu của ông này về các mũi tên được thỏa mãn. Hoàng tử cũng cử người đến Lincoln để tìm mua cung tên và Cornwall để tìm ngựa cho các cung kị của ông.

Khi Hoàng tử đen đến được Bordeaux trong năm 1355, một số lãnh chúa quan trọng ở địa phương đã đến gặp ông: Đó là hoàng thân d’Albret, Lord Montfferat, Mussidan, Roson, Curton và Amenien de Fossard và Đại Lãnh chúa của Pommiers và rất nhiều các hiệp sỹ quý tộc cùng với Lord Lesparre. Kết quả là khi quân đội của Hoàng tử khởi hành vào ngày 05 tháng 10 họ có sự tham gia của rất nhiều binh lính ở địa phương xứ Garcon, bao gồm cả viên đại úy de Buch. Cuộc chevauchée tiếp theo có thành tích rất đáng ghi nhận, họ ( liên quân Anh & Gascon ) hành quân trên 1.100 km (684 dặm) từ Bordeaux đến Narbonne và quay trở lại. Thậm chí Hoàng tử Edward còn định tấn công cả Toulouse nhưng việc này đã được chứng tỏ là quá khó khăn không có các dụng cụ bao vây thích hợp.

Thay vào đó, Hoàng tử vội vã vượt qua các con sông Ariege và Garonne sau đó gây sức ép vào hướng đông-những khu vực trước đây chưa bị chạm tới, quân đột kích của ông đã gây ra những thiệt hại rất lớn cho vùng này. Ngay cả những vùng ngoại ô của Carcassonne đã bị đốt phá, mặc dù các thành lũy và tòa thành của nó là không thể công chếm. Những gì tương tự cũng đã xảy ra tại Narbonne nơi mà sự kháng cự của tòa thành đã thuyết phục Hoàng tử xứ Wales rằng đây là thời gian để rút lui. Quân đội của ông bắt đầu tiến hành rút lui một cách thành công bất chấp trời mưa to, con đường qua Noddy và con sông Garonne bị ngập lụt họ vượt qua chúng một cách an toàn.

Hơn 500 khu dân cư, làng mạc và thị trấn được cho là đã bị đốt phá trong cuộc chevanchée của Hoàng tử đen trong năm 1355, và chiến dịch này đã trở thành một thảm họa cho vùng Languedoc ở miền nam nước Pháp ngay sau bệnh dịch Black Death. Hơn nữa quân đội Pháp đã bị suy yếu do có sự bất hòa giữa Bá tước Armagnac và vị Nguyên soái của vua. John II ở trong khu vực này, khiến cho họ không thể chống lại các cuộc hành quân chevanchée của Liên quân Anh-Gascon. Mặt khác quân đội của Hoàng tử đen bị mất quá nhiều ngựa: điều này được đổ lỗi khoảng cách hành quân quá xa. Trong thực tế tỷ lệ tiêu hao có lẽ bởi vì những con vật này đã không được nghỉ ngơi đầy đủ sau khi đến từ nước Anh và do đó chết vì bị lây sốt hoặc vì kiệt sức.

Sau cuộc tấn Narbonne của mình, Hoàng tử đen đã trú đông tại Bordeaux và quân đội của ông được chia làm bốn phần đóng tại các thành lũy, hoặc các thị trấn có tăng cường phòng thủ như La Réole, Sainte-Foy, Saint-Emilion và xung quanh Libourne. Đại úy de Butch, Chandos và Audley trú qua một phần mùa đông ở trong doanh trại mở và một phần tiến hành giao tranh xa hơn với quân Pháp ở xung quanh thị trấn Agen, Cahors và Porte Sainte-Marie, thậm chí họ còn tấn công cả vào lâu đài Perigueux.

Đáp lại thì quân đội Pháp đã tận dụng mùa đông năm 1355/56 một cách thành công và chiếm lại hơn 30 thị trấn và tòa lâu đài. Tuy nhiên, tin tức nhà vua Pháp đang huy động tiền để có một quân đội để đối phó với người Anh đã dẫn đến việc đồng tiền của Pháp bị mất giá một cách thảm hại. Sau đó còn tệ hơn nữa là việc John II lại cãi vã với vua Charles của Navarre và trong tháng 4 năm 1356 nhà vua đã tống ông này vào tù với tội phản quốc. Vì là vua của vùng Navarre-Charles là thành viên của Hội đồng quý tộc cao cấp của Pháp và có những vùng đất rộng lớn nằm trong lãnh thổ Pháp. Kết quả là Philip-em trai của Charles de Navarre đã thành lập một liên minh với vua Edward III của Anh. Sự kiện này đã mở ra những lợi thế về mặt chiến lược cho người Anh không chỉ ở phía tây nam nước Pháp mà còn ở cả miền Bắc nơi mà Philip đang nắm giữ những vùng đất đai lớn. Lúc này nhà vua Pháp không thể triển khai tấn công để phản ứng lại liên minh của Philip với kẻ thù, trong khi đó người Anh đã có một lý do để tấn công vì những tài sản của Philip de Navarre bị đe dọa.

Trong tháng 01 năm 1356 Hoàng tử đen đã tiến hành các cuộc tấn công để duy trì áp lực lên người Pháp ở Aquitaine. Bá tước của Warwick hoạt động trong vùng thung lũng Garomle, đi ngược dòng từ La Reole rồi chiếm Tortneins và Lairac. Các Bá tước Suffolk, Oxford và Salisbury đã dẫn đầu những cuộc đột kích đối vào Notre Dame de Rocamadour, trong khi Bartholomew de Burghersh tiến hành đột kích xa tới tận Cognac và Saintonge. Đại úy de Buch cũng hoạt động trong vùng này và lập các đơn vị đồn trú tại Rochefort, Tonnay và Taillebourg.

Sau đó Chandos và Audley rời Libourne đến thung lũng Garonne tới tận Agen, vùng này vốn được bảo vệ bởi chính Jean d’Armagnac. Tuy nhiên, vị chỉ huy quân Pháp này chỉ ở lại bên trong thị trấn được bảo vệ trong khi quân Anh tiến hành tàn phá vùng xung quanh sau đó đột kích đến tận Cahors và Porte Sainte-Marie trước khi hướng về phía Bắc tới tận Périgod. Tại đây Bá tước của Perigord đã lo sợ về một cuộc tấn công của quân Anh và yêu cầu anh trai của mình-Đức Hồng Y Talleyrand nhờ Đức Giáo Hoàng thuyết phục người Anh rời khỏi thành phố của ông. Hoàng tử Đen đã được hứa hẹn là sẽ được trả rất nhiều tiền nhưng ông này đã bị từ chối và nói rằng việc của ông là để tiến hành trừng phạt những người đã ‘nổi loạn’ chống lại quyền lực của cha ông ta tại Aquitaine. Sau đó Perigueux đã bị bắt bởi Đại úy de Captal Buch và thiết lập một lực lượng đồn trú trước khi Đại úy lại đi đánh chiếm nhiều khu vực phía đông của Saintonge.

Danh sách những vị trí bị người Anh chiếm đóng trong thời gian này là rất dài đến tháng 5 năm 1356 có tới hơn 30 thị trấn và lâu đài đã bị người Anh chiếm, đây là những vùng vốn thuộc về một phần của ‘đế chế’ Angevin tại vùng Aquitaine, đã được “phục hồi” dưới sự cai trị của Vương quyền Anh. Và một điều quan trọng đáng kể là Hoàng tử Edward đã giành lại lòng trung thành của rất nhiều lãnh chúa người Gaston. Các lãnh chúa này đã cung cấp người cho cuộc Chevauchée mà cuối cùng đã dẫn đến trận Poitiers. Điều quan trọng hơn là có nhiều lãnh chúa ở vùng biên giới phía tây bắc của vùng người Anh cai trị ngả về phía họ. Tại đây những người như Durfort, Caumont, Galard và D’Albret được xem như là những người gió chiều nào che chiều đó về chính trị, điều này cho thấy thái độ và sự đồng cảm của tầng lớp quý tộc người Garcon ở địa phương. Tuy nhiên người Pháp vẫn còn nắm giữ một số đơn vị đồn trú ở phía tây của sông Garonne, ở sâu bên trong vùng lãnh thổ này- vùng vốn bị thống trị bởi hoặc người Anh hoặc lực lượng ủng hộ người Anh.

Những đội quân tiếp viện khác được yêu cầu gửi tới từ nước Anh vào đầu năm 1356, điều này được thể hiện ở trong một bức thư của Hoàng gia ( Anh ) còn sót lại, bức thư đã chỉ thị cho Trung úy của Tòa án Tư pháp và Viên thị thần của quận Chester “… đến nổi mà nhà vua đã ra lệnh gửi cấp tốc ba trăm cung thủ cho Hoàng tử xứ Wales tại Gascony từ đại đội của Sir Richard de Stafford và khoảng hai trăm trong số họ đến từ quận Chester và một trăm người còn lại đến từ những nơi khác theo yêu cầu, đây là hai trăm cung kị tốt nhất mà họ tuyển chọn được…”. Mười ngày sau đó một mệnh lệnh khác yêu cầu 300 cung thủ tăng cường nữa được thêm vào con số này. Những tuyển dụng khác cho cuộc viễn chinh của Hoàng tử đen trong năm 1356 đã thu hút người từ Westmoreland, Yorkshire và thậm chí cả từ nước Đức.

Vào đầu mùa xuân 1356 có lệnh trưng thu những con ngựa mới cho đội quân của Hoàng tử xứ Wales. Súc vật thồ hoặc ngựa kéo xe được đặt mua và Cornwall-người nhận trách nhiệm thu mua của Hoàng tử đã đặt mua 30 con vật có khả năng mang hành lý cao nhất sẵn có cũng như cung cấp 30 người giữ ngựa. Tương tự các Bá tước của Warwick, Suffolk, Salisbury, Oxford và Stafford có những con ngựa khỏe mạnh được gửi từ nước Anh trong hai chiếc tàu vận tải vốn được để dành để chở súc vật và thực phẩm của họ. Trong khi đó súc vật, thực phẩm cũng đang được trưng thu cho chiến dịch của Công tước Lancaster tại Normandy, do đó rõ ràng ngựa và các sản phẩm từ nông nghiệp của nước Anh đang được kéo tới giới hạn. ( Sau này ngựa và lương thực của luôn được nhập khẩu từ các nước thuộc địa của họ)

CHỈ HUY CỦA CÁC BÊN ĐỐI ĐỊCH

Chỉ huy của người Anh

Edward-Hoàng tử đen là chỉ huy chung của các cuộc tấn công lớn hoặc chevauchée vốn lên đến đỉnh điểm là trận Poitiers. Ông vốn được sinh ra tại Woodstock vào ngày 13 tháng 6 năm 1330, ông là con trai cả của vua Edward III của nước Anh và Philippa của Hainault, ông được chỉ định làm Hoàng tử xứ Wales vào ngày 12 tháng năm 1343 và qua đời ở Westminster vào ngày 8 tháng 7 năm 1376, một năm trước khi người cha của ông qua đời. Là người thừa kế ngai và.ng Anh quốc, ông đã phải gánh vác những nhiệm vụ lớn lao từ khi còn nhỏ, ông trở thành Bá tước của Chester từ lúc 3 tuổi, Công tước của Cornwall vào lúc 6 tuổi. Năm 1338 Hoàng tử trở thành biểu tượng của “Người giám hộ của chế độ ” trong suốt cuộc xâm lược đầu tiên của Vua Edward III vào nước Pháp. Ông bắt đầu tham gia vào cuộc Chiến tranh Trăm năm từ năm 1345 và chỉ một năm sau đó Hoàng tử Edward đã giành cho chính bản thân ông chiếc “ Đinh thúc ngựa “ trong trận chiến Crécy nơi ông chỉ huy đội quân tiên phong của người Anh. Có thể ông có được biệt hiệu Hoàng tử Đen là do sự tàn nhẫn của chính ông trong chiến dịch Narbonne năm 1355. Tuy nhiên Hoàng tử đen thực sự có được danh tiếng về mặt quân sự một cách thần túy sau chiến thắng của ông tại trận Poitiers, trong khi cá nhân của ông cũng được hưởng lợi trước những cư xử nghĩa hiệp của ông với vua Pháp vốn bị bắt làm tù binh. Mặc dù được người đương thời ca ngợi như là một “hiệp sĩ hoàn hảo”, danh tiếng về sự mã thượng của Hoàng tử đến từ lại đến từ các giải đấu hơn là từ chiến tranh. Rõ ràng là ông thiếu kỹ năng để trở thành người cai trị ở Aquitaine và không bao giờ nhận được sự ủng hộ chính thức của giới quý tộc xứ Gascon. Năm 1370 Hoàng tử Đen bị ốm nặng và phải tiến hành chiến dịch cuối cùng của ông trong khi được mang trên một chiếc cáng. Việc ông đối xử một cách dã man cư dân của thành phố Limoges trong thời gian chinh phục của cuộc viễn chinh này đã làm cho danh tiếng của ông bị suy giảm mạnh. Tuy nhiên danh tiếng của Hoàng tử Đen đã được sùng bái như những Anh Hùng một cách phổ biến trong các tầng lớp hiệp sĩ Anh và Pháp trong thế kỷ 15.

Các quý tộc cao cấp chỉ huy các đơn vị khác nhau của quân đội của Hoàng tử Đen trong các chiến dịch của năm 1356. Một trong số đó là Thomas Beauchamp-Bá tước của Warwick-ông được sinh ra trong khoảng năm 1 313 hoặc 1314. Các kinh nghiệm quân sự đầu tiên mà ông có được là trong các cuộc chiến tranh với người Scotland ở thập kỷ cuối những năm 1330. Được bổ nhiệm làm Thống chế của Anh quốc vào năm 1344-> 1346, ông đã chiến đấu ở Crécy và tham gia cuộc bao vây Calais. Năm 1352 Bá tước Warwick đã trở thành đô đốc của một Hạm đội tại phía tây nam nước Anh, ông đã được phong làm nguyên soái trong đạo quân của Hoàng tử đen trong năm 1355 -> 56 và đã chiến đấu tại Poitiers, nơi ông bắt tù binh Giám mục của Sens. Thomas Beauchamp chết vì bệnh dịch hạch tại Calais trong năm 1369.

William Montague-Bá tước Salisbury, sinh năm 1328 ở trong một gia đình đại quý tộc vốn ủng hộ vua Edward III một cách mạnh mẽ. Bản thân William được tấn phong hiệp sỹ cùng với Hoàng tử Edward vào lúc bắt đầu của chiến dịch Crécy. Tuy nhiên, mối quan hệ của vị Bá tước trẻ với Hoàng tử Đen thường rất căng thẳng, đặc biệt là tới số phận của vùng Denbighshire mà cả hai cùng cực kỳ quan tâm. Được chỉ định làm Nguyên soái của quân đội của nhà vua Edward III tại Pháp, ông gia nhập đội quân của Hoàng tử đen tại Aquitaine và đóng một vai trò chỉ huy hàng đầu tại trận chiến Poitiers. Năm 1360 Bá tước Salisbury đã tham gia thương lượng Hiệp ước Bretigny. Trong cuộc nổi dậy của Nông dân ở Anh quốc, ông là cố vấn của Richard II-vị vua trẻ tuổi con trai của Hoàng tử Đen. Người ta cho là vị Bá tước này đã vô tình giết chết người con trai của chính mình trong một cuộc tỉ thí. Trong năm 1397 được phong làm Thống đốc Calais nhưng ông đã chết trong cùng năm đó.

Robert Ufford-Bá tước Suffolk, một trong những chỉ huy giàu kinh nghiệm nhất trong quân đội Anh tại chiến dịch Poitiers. Được sinh ra trong năm 1298, ông kế thừa đất đai của mình mình bởi anh trai của ông chết trẻ. Làm Đô đốc của hạm đội Anh trong năm 1337, ông bị bỏ tù ba năm sau đó ( có thể là do bị bắt làm tù binh ). Sau khi trả được khoản tiền chuộc của mình và được phóng thích, Robert Ufford tham gia chiến đấu tại cuộc bao vây Calais và trận chiến hải quân ngoài khơi Winchealse. Robert Ufford có sự hợp tác chặt chẽ với Hoàng tử Edward kể từ năm 1337 và đi kèm với Hoàng tử đến vùng Aquitaine. Suffolk thường được giao những nhiệm vụ ngoại giao tế nhị bởi vua Edward III và Hoàng tử đen. Ông qua đời năm trong năm 1369.

John de Vere-bá tước Oxford, người tham gia một cách tích cực trong việc điều hành chính phủ Anh trước và sau khi trở về từ Conrpostella trong năm 1332. Người ta cho rằng ông đã tham gia các chiến ở Scotland và phục vụ tại Pháp trong những năm đầu của Chiến tranh trăm năm, ông đã chiến đấu tại Crécy cùng với Hoàng tử Đen trong năm 1355 và đã trở thành cố vấn cao cấp của Hoàng tử Đen tại trận Poitiers. Bá tước Oxford chết trong cuộc bao vây Reims vào năm 1360.

Jean de Grailly III-Đại úy de Buch, vị chỉ huy người Gascon đáng lưu ý nhất trong chiến dịch Poitiers. Gia đình của ông nắm giữ những vùng đất vùng tròng nho làm rượu vang rộng mênh mông ở Médoc. Ông là con trai của Jean de Grailly bố ( hai bố con trùng tên) và Blanche le Foix và là người anh em họ của Bá tước Gaston Phoebus Foix. Ông thừa hưởng danh hiệu đại úy vào năm 1313 và do đó được hưởng nhiều ưu đãi trong Nghị viện của Bordeaux. Ông trở thành trung úy của Hoàng tử Đen trong vùng Aquitaine và tự làm cho bản thân mình nổi bật tại trận Poitiers, ông được tặng thưởng với một tòa lâu đài ở vùng Cognac như kết quả của sự xuất sắc của ông tại trận Poitiers. Sau khi phục vụ tại Phổ như là một Thập tự quân, Jean de Grailly vẫn là một người ủng hộ trung thành của vua Charles của Navarre và đã tham gia vào đàm phán hiệp ước Britigny. Sau lần bị bắt tù binh thứ hai bởi quân đội Pháp, vua Charles V đã từ chối phóng thích viên Đại úy này trừ khi ông ta chịu thề không bao giờ được cầm vũ khí và chống lại nước Pháp một lần nữa. Jean de Grailly từ chối và đã chết ở trong tù trong năm 1377.

Các chỉ huy của phía Pháp

Vua John II-”The Good”. Trước khi trở thành vua John II đã kết hôn với Bonne của Bohemia, đây là con gái của vua Bohemia mù-người đã bị giết chết tại trận Crecy. Tuy nhiên bà này chết vì dịch hạch vào năm 1349, cùng năm đó mẹ của John đã chết. Năm sau John đã đính hôn với Blanche d’Evreux-con gái của vua Navarre, nhưng sau đó chính vua Philip-cha của John lại kết hôn với chính cô gái này. Cuối cùng thì trong năm 1350 Hoàng tử John đã kết hôn với Blanche của Boulogne và vài tháng sau đó ông đã trở thành vua Pháp. John II sớm có được danh tiếng vì gần như liên tục tổ chức các lễ hội và ông đã được danh tiếng này thay vì tạo ra bất kỳ lợi ích cụ thể nào cho triều đình mà ông làm vua, vì vậy mà ông đã kiếm được biệt hiệu vua John ” the Good “. Một số nhà sử học vẫn coi John II như là một người xa rời thực tế và chỉ thấy thời kỳ cai trị của ông như là một thảm họa cho nước Pháp. Tuy nhiên, có bằng chứng cho thấy rằng vua John II không phải là kẻ nhỏ mọn ngốc nghếch như định kiến ​​phổ biến, mà dường như ông là người thường bảo trợ cấp và học bổng cho nghệ thuật, đồng thời cũng ra sức tái tổ chức, hoàn thiện lại bộ máy chính phủ Pháp và tăng cường sức mạnh của quân đội Hoàng gia. Cha ông của đã bị đánh bại bởi người Anh ở Crécy, điều này làm cho ông có một quan điểm đánh giá thấp về trình độ quân sự của tầng lớp quý tộc Pháp và kết quả của điều này là Vua John II đã cố gắng để không dựa quá nhiều vào giới quý tộc cao cấp.

The Dauphin hay còn là Thái tử Charles-con trai cả của vua John II (vua Charles V “ The Wise” trong tương lai ) có danh tiếng cao hơn nhiều ( so với vua cha ). Ông kết hôn với Jeanne de Bourbon-người em họ của ông trong năm 1350 nhưng vẫn duy trì một tình nhân tên là Biette Cassinel và được cho là ông có đeo huy hiệu của nàng trên áo giáp của ông. Năm 1355 Charles đã được phong làm Công tước của xứ Normandy, đây là cách ông đã được mô tả bởi hầu hết các sử gia trong trận Poitiers. Sau khi sống sót thoát khỏi trận chiến, the Dauphin đã đến được Paris nơi mà cuối cùng ông đã chứng minh được mình là một trong những nhà cai trị thành công nhất của nước Pháp trong thế kỷ 14. Trước khi trở thành một vị vua trong năm 1364, danh hiệu chính thức của Thái tử Charles là Trung tướng của Pháp quốc và là nhiếp chính trong khi của cha ông bị bỏ tù. Ông cai trị nước Pháp cho đến năm 1380, vào lúc này người Anh đã gần như bị đuổi hoàn toàn khỏi nước Pháp.

Công tước Philip d’Orleans được sinh vào năm 1336, ông là con trai thứ năm của vua Philip VI của Pháp. Sau một thời gian ngắn tham gia vào trận chiến Poitiers, ông là một trong những con tin cao quý được gửi sang Anh để đảm bảo rằng các điều khoản của Hiệp ước Bretigny phải được thực hiện. Năm 1365 vua Edward III đã phóng thích Duc d’Orleans, vì người ta cho là do ông đã trở thành bạn thân của Thomas-con trai út của Edward. Ông qua đời mà không có người thừa kế.

Arnoul d’Audrehem-ngày sinh vào khoảng năm 1305 và các chiến dịch đầu tiên mà ông tham gia để chống lại người Anh là ở Scotland trong năm 1335. Năm 1342 Audrehem được bổ nhiệm làm Đại úy của Brittany và bị bắt tù binh tại Calais trong năm 1347. Sau khi được phóng thích, ông đã được phong làm một trong những Trung úy của nhà vua vào năm 1351 và hàm Thống chế trong năm 1353. Ông vẫn là một trong những Nguyên soái trong quân đội Pháp khi bị bắt làm tù binh trong trận Poitiers. Sau đó ông phục vụ như là một sứ giả của vua John II vốn bị giam trong tù và được cử đi để huy động tiền chuộc cho nhà vua. Mặc dù Audrehem tiếp tục đóng một vai trò quan trọng về mặt ngoại giao, ông vẫn tiếp tục tham gia chiến đấu với người Anh tại Najera và lại một lần nữa bị bắt tù binh. Sự kiện này dẫn đến một “ Phiên tòa của tinh thần mã thượng “ bởi vì ông này vẫn chưa trả hết tiền chuộc mình sau khi bị bắt tại Poitiers. Vua Charles V đã tuyển dụng Arnoul d’Audrehem như là viên quan giữ các Cổng thành của Paris cho đến khi ông này qua đời vào năm 1370 hoặc 1371.

John de Clermont là con trai của Lãnh chúa của Thorigny. Ông đã phục vụ trong các chiến dịch ở Flanders và Hainault năm 1340 và một lần nữa ở Avignon và Languedoc. Ông đã được thưởng tước hiệu Lãnh chúa của Boomont và Chantilly. Clermont được bổ nhiệm làm Thống chế của Pháp vào năm 1352. Ông đã bị giết chết tại trận Poitiers.

Gautier IV de Brienne vốn có một sự nghiệp thành công và thất bại rất bất thường, ông kế thừa danh hiệu Công tước xứ Athens tuy lớn nhưng vô nghĩa và sống như một người tị nạn tại triều đình Angevin của xứ Napoli từ rất sớm. Ông đã kết hôn với một cô cháu gái của Vua Robert của Napoli và đã tham gia vào các chiến dịch không thành công để thu hồi lại Athen-tài sản của ông. Mặc dù đã tham gia vào những chiến dịch đầu tiên của Chiến tranh Trăm năm, Gautier de Brienne đã được phong làm người cai trị hữu danh vô thực ở Florence và Pisa năm 1341. Chẳng bao lâu sau đó ông đã bị buộc phải ra đi và quay trở về Pháp. Sau những cố gắng không thành công để giành lại vị thế của mình tại Ý, ông đã quay trở về Pháp vào năm 1355 và đã được phong làm Nguyên soái của vua John II, đây là chức vụ mà ông đang giữ khi bị giết chết tại trận Poitiers.

Quân đội của các bên đối địch

Có rất ít thay đổi trong những đặc điểm cơ bản của quân đội Pháp và Anh trong những năm giữa các trận đánh Crécy và Poitiers. Lực lượng cơ bản của cả hai bên vẫn là các kị sỹ bao gồm cả hiệp sĩ và hộ sỹ, lực lượng cung thủ bao gồm cả cung thủ trường cung và các tay nỏ và các loại bộ binh khác nhau. Bình thường thì lực lượng kỵ binh có nghĩa là kị binh ” hạng nhẹ”, điều này phản ánh một thực tế rằng các kị sỹ và ngựa của họ đã được thiết giáp nhẹ hơn vì có khác biệt trong các nhiệm vụ được giao ( lúc này có lẽ kị binh không còn làm nhiệm vụ đột kích tạo cửa mở nữa ). Một tỷ lệ đáng kể các cung thủ thiện chiến nhất và các bộ binh khác cũng được cưỡi ngựa, mặc dù họ thường sẽ chiến đấu trên bộ.

Thời kỳ này cũng được mô tả như là sự lên ngôi của bộ binh. Bất chấp việc kỵ binh chiếm ưu trong hàng thế kỷ thì Thực tế những đặc điểm cơ bản của chiến thuật quân sự thời đó vẫn là kị binh vẫn thường không có hiệu quả khi phải tấn công vào một vị trí phòng thủ ổn định của bộ binh. Thành công của người Anh trong buổi đầu của cuộc chiến Trăm năm trước chiến tranh đến lực lượng bộ binh được đào tạo thích hợp cùng với các cung thủ trường cung. Tuy nhiên, bản thân các tay cung cũng không đủ lực để giành chiến thắng trong các trận đánh như Crécy hoặc Poitiers. Những chiến thắng này bắt nguồn từ việc kết hợp một cách hiệu quả các tay bộ cung với các lực lượng bộ binh khác cùng với lực lượng kị binh-những người có thể chiến đấu trên bộ hoặc trên lưng ngựa.

Mặc dù các hiệp sĩ và hộ sỹ thường được gọi chung là kị sỹ, tầm quan trọng của giới hiệp sĩ vẫn còn được duy trì một cách đáng kể, đặc biệt là trong các tình huống cần có “tinh thần và khả năng lãnh đạo “. Tuy nhiên, tầng lớp hiệp sĩ vẫn chưa hết sốc ( bị đánh tơi bời bởi các cung thủ bình dân tại Crécy). Nỗi bất bình của họ về việc “ phải di chuyển bằng chân” như nông dân thực sự chỉ tập trung các vấn đề phương tiện vận chuyển hơn là chiến đấu. Các kị sỹ cũng thường phải quan tâm và chăm sóc những con ngựa của họ kể từ khi chúng ( ngựa) chính là dấu hiệu của ” đẳng cấp ” của họ dù là rất tốn kém.

Từ giữa thế kỷ 14 đổ về sau, hơn bao giờ hết các quan chức của Hoàng gia thường trực tiếp kiểm soát các nguồn cung cấp quân sự, dẫn đến một hệ thống được gọi làpurveyance ở Anh hay prise ở Pháp. Còn về binh giáp và vũ khí cũng có ít nhiều thay đổi. Những bộ áo giáp phiến đầy đủ của thời gian này rất có hiệu quả trong cận chiến và chống lại các mũi tên trừ khi họ bị bắn từ cự ly rất gần. Do đó những chiến binh được bọc thép một cách đầy đủ thường có sự tự tin đáng kể về binh giáp của họ. Trọng lượng của thiết giáp có thể sẽ gây ra những mệt mỏi nếu phải mang chúng trong một thời gian dài, nhưng chúng thường được thiết kế hợp lý và không làm mất sự linh hoạt. Khi chiến đấu trên mặt đất những kị sỹ thường mặc áo giáp nhẹ với sự bảo vệ đầy đủ và phù hợp. Vấn đề chính còn lại dường như là khả năng về tầm nhìn và độ thoáng trong tấm giáp bảo vệ mặt.

Vùng duy nhất của châu Âu nổi tiếng trong việc chế áo giáp bằng thép trong thế kỷ 14 là vùng miền bắc nước Ý, Giới tinh hoa của quân đội của cả hai nước Anh và Pháp đã mua một số lượng đáng kể các trang thiết bị quân sự từ Bắc Ý ( cụ thể là thành phố Milan ) trong thời gian xảy ra trận Poitiers. Áo giáp được chế tạo ở những nơi khác có sử dụng nhiều sắt thép, thường dưới dạng áo giáp dạng phiến hay gọi là “brigandines”. Kiểu áo giáp này chắc chắn đã được chế tạo ở Pháp và một tài liệu ở năm 1352 đã ghi lại rằng một người thợ làm áo giáp ở Castelnau-de-Bressac đã chế tạo hoàn thành 60 bộ áo giáp cho thị trấn Cordes. Sau đó áo giáp và vũ khí mà các thị trấn này đặt mua được bán cho các công dân của họ-thường dưới dạng trả góp. Trong khoảng thời gian của trận Poitiers loại áo bông pourpoint ” áo giáp mềm ” hay còn được gọi là jaque đã rất thịnh hành tại Pháp. Nó là chiếc áo được làm từ nhiều mảnh vải rất nhiều cúc và một lớp lót độn. Việc sử dụng áo giáp cho ngựa dường như đã bị từ bỏ ở những thập niên đầu của thế kỷ 14, bất chấp sự hiện diện của tầng lớp kỵ binh quý tộc Pháp trên những con ngựa bọc thép tại trận Poitiers. Mặc dù những con ngựa được thiết giáp nhưng có vẻ như chúng chỉ được bọc giáp ở phần đầu hoặc phần thân trước của những con vật này.

Quân đội Anh

Quấn sổ “Đăng ký” và ” Sổ nhật ký” của John Henxteworth-người giữ nhiệm vụ kiểm soát tài chính của Hoàng tử đen ở xứ Gascony có những thông tin giá trị về các chiến dịch năm 1356. Rõ ràng là Hoàng tử đã nhận được tiền từ Bộ trưởng Tài Chính từ ngày 26 tháng Tư năm 1355 để trả lương cho các kị sỹ và cung thủ vốn đã được gửi đến Gascon. Vị viên chức thu thuế Peter Lacey cũng đã trả £ 7.242 cho các hiệp sĩ và kị sỹ trước khi đoàn viễn chinh khởi hành. Henry Blackburn-người phụ trách bộ phận thu thuế của Hoàng tử Đen, chịu trách nhiệm đảm bảo rằng tất cả những người này phải nhận được tiền lương của họ. Một trong những người này, Hiệp sĩ Sir John de Lisle đã chết trong giai đoạn đầu của chuyến viễn chinh và có báo cáo cho thấy tài các chi phí cho chính bản thân ông ta và đoàn tùy tùng của ông gồm 30 kị sỹ và 30 cung thủ lên tới £ 343,3. Các chi tiết hấp dẫn khác cũng được tìm thấy trong quấn ” Sổ nhật ký” của John Henxteworth, trong đó liệt kê các chi phí khác nhau của hoàng tử Đen, từ các khoản nợ cờ bạc, chi phí sửa chữa chiếc tàu của ông ta bị hư hỏng trong chuyến đi từ Anh và tiền bồi thường thiệt hại cho những tài sản bị cướp phá bởi các binh sĩ xứ Wales ồn ào và ngỗ ngược.

Lực lượng dân binh địa phương người xứ Gascon ( đồng hương của bác lính ngự lâm D’artagnan nhưng lúc này họ đang phục vụ cho người Anh ) đã từ lâu đóng một vai trò lớn trong việc bảo vệ tài sản của người Anh ở phía tây nam nước Pháp, nhưng dường như họ đã không tham gia vào cuộc viễn chinh của Hoàng tử đen trong năm 1356. Những thành phần chính người Gascon trong các cuộc càn quét-chevalchée của Hoàng tử Đen là những kị sỹ và những tay nỏ chuyên nghiệp người địa phương. Rất nhiều người trong số các tay nỏ có thể đến từ miền núi nghèo như vùng Bearn. Quân đội của Hoàng tử đen cũng bao gồm những bidaus và brigarns, đó là những lính bộ binh hạng nhẹ có trang bị những cây lao kiểu truyền thống.

Tất nhiên lời hứa về chiến lợi phẩm, chiến thắng và sự giàu có … là yếu tố rất có ý nghĩa trong việc, tuyển dụng, duy trì quân đội và tiến hành các chiên dịch vào giữa thế kỷ này. Sau khi trận Crécy kết thúc binh lính trở về Anh quốc và làm lan truyền ý tưởng rằng rất dễ dàng trong việc đánh bại người Pháp, một niềm tin được khuyến khích bởi chính phủ của vua Edward III. Hơn nữa sự mong đợi về chiến lợi phẩm thường lôi kéo những hạng người thấp kém, thu hút họ vào quân đội ngay cả khi không được trả lương.

Số lượng của quân Anh trong trận Poitiers là vấn đề còn nhiều tranh cho tới ngày nay, người ta cho rằng mặc dù đoàn quân mà Hoàng tử đen đã chỉ huy từ Bergerac vào đầu Tháng Tám năm 1356 có lẽ là có quân số ít hơn so với ông đã hy vọng. Ban đầu có thể nó có khoảng 7.000 đến 10.500 binh lính: nhóm đông nhất là các kị sỹ, nhóm có số lượng nhỏ hơn một chút là các cung thủ và tay nỏ cộng với 1000 lính bộ binh các loại khác.

Quân đội Pháp
Quân đội Pháp trong những năm của thập kỷ 1350 đã nhỏ đi đáng kể hơn so với chính họ vào phần đầu của Chiến tranh Trăm năm, mặc dù sự kiện này có nguyên nhân từ vấn đề tài chính chứ không phải là do vấn đề tuyển dụng. Họ thực sự đã có cải thiện về tính kỷ luật, tuy nhiên bạn sẽ chỉ thấy được điều này ở sau trận Poitiers.

Lãnh đạo quân sự vẫn được duy trì theo kiểu truyền thống và rất bình thường khi thấy các giám mục chỉ huy một sô lượng đáng kể binh lính có vũ trang. Ví dụ năm 1356 Guillaume de Melun, vị Tổng-giám-mục của Sens đã dẫn đầu một đoàn tùy tùng gồm 22 chiến binh bao gồm cả Simon de Melun-người em trai của ông cùng với Jean de Beaulieu-hiệp sỹ cầm cờ hiệu và dắt con ngựa chiến trị giá 600 đồng Ecu. Thực tế thì vị Tổng-giám-mục này sẽ bị bắt làm tù binh tại trận Poitiers.

Giới quý tộc Pháp trong những năm của thập kỷ 1350 bao gồm các gia đình quý tộc và hiệp sỹ đã trở thành một giai cấp cha truyền con nối mà các thành viên của nó có quyền được hưởng miễn thuế nhiều nhất và gần như được độc quyền khai thác lợi nhuận từ chiến tranh, trong khi các Đại quý tộc chính của các tỉnh mới là những người có chủ quyền thực sự ở những vùng cực kỳ rộng lớn ( chứ không phải nhà vua ). Có lẽ đã có 40.000 đến 50.000 gia đình quý tộc ở Pháp và do đó giới quý tộc ở Pháp đã tạo nên một tầng lớp hiệp sĩ đông gấp bốn so với tầng lớp này ở nước Anh.

Trong suốt triều đại của Vua John II, một hệ thống mới – Semonce des Nobles – được thiết lập, nó yêu cầu sự phục vụ quân sự từ tất cả các quý tộc, chủ đất phong kiến từ 14 đến 60 tuổi, những người không thể phục vụ phải trả tiền. Loại hình thức ​​tuyển dụng kiểu phong kiến còn lại khác với kiểu trên là fief-rente, đây chính là kiểu phục vụ quân sự để nhận được thanh toán bằng tiền mặt, nhưng có vẻ là kiểu này lại đang suy giảm. Dường như các chỉ huy quân sự người Pháp thường dựa vào một hệ thống hợp đồng, khế ước bằng miệng hoặc bằng văn bản để tuyển quân, đặc biệt là đối với lực lượng kị sỹ. Ví dụ trong năm 1356 đã có sự ủy quyền để tuyển dụng 400 kị sỹ để bảo vệ vùng Auvergne. Người Pháp dựa vào hợp đồng grandes conpagnies (Đại đội lớn ?) để tuyển quân, loại hợp đồng này rất phát triển ở thời của vua John II và Charles V, nhưng chúng vẫn có nội dung rất lộn xộn và chưa được chuẩn hóa vào thời điểm này không giống như hệ thống nhà thầu quân sự của Anh vốn tồn tại lâu hơn và có quy chuẩn hơn nhiều.

Ở khoảng thời gian giữa các trận Crécy và Poitiers người Pháp cũng tuyển dụng các loại binh lính khác nữa. Họ bao gồm những brigains vốn ban đầu là những binh sĩ mặc áo giáp “brigandine” hạng nhẹ được sản xuất tại địa phương ( còn đương nhiên giới quý tộc được trang bị những bộ áo giáp hạng nặng đắt tiền được chế tạo ở Milan ). Vào giữa thế kỷ-I4th loại lính briganies của Pháp bao gồm cả các loại bộ binh khác nhau và thời điểm cuối cùng của cuộc chiến thuật nghĩa này còn có nghĩa là những băng nhóm cướp ( vào cuối cuộc chiến, binh lính không còn được trọng dụng lại có sẵn vũ khí thì quay ra làm ăn cướp là hợp lý ). Các loại lính Pháp khác ở thời kỳ này bao gồm lính pavesiers có cưỡi ngựa hoặc lính mang lá chắn và cung thủ.

Có rất ít tài liệu nói về các tay nỏ Pháp tại Poitiers mặc dù sau khi Crécy, vua Philip đã mặc cảm rằng những tay nỏ vốn là dân binh từ các thị trấn cứ như là “ tuyết trong trời nắng” trước các tay trường cung. Vua John-con trai của ông dường như nghĩ như cũng nghĩ vậy và dường như là họ đã không được tuyển dụng cho chiến dịch Poitiers. Pháp vốn là một đất nước rất thanh bình và, ngoài tầng lớp quý tộc quân sự ra, rất ít dân thường lại có truyền thống về quân sự. Điều này có thể giải thích tại sao người Pháp vẫn tiếp tục phải dựa vào các tay nỏ và các hạ sỹ quan bộ binh ( NV infantry sergeant ) người Genova-những lính đánh thuê rất chuyên nghiệp. Một nhóm binh sỹ có xuất thân từ tầng lớp thấp trong quân đội của vua John II được gọi là ragacins (từ thuật ngữ ragazzini trong tiếng Ý), rất nhiều người trong số họ đến từ vùng Alpine của Savoy và Italy.

Vua John và Hội đồng cố vấn của ông đã làm việc một cách tích cực để cải cách quân đội từ khá sớm vào khoảng đầu năm 1351 ( chỉ một năm sau khi ông này lên ngôi ) khi điều luật mới Keglemenl Pour les gars de guerre cố định 25 người là số lượng tối thiểu các kị sỹ mà một hiệp sỹ hoặc một đội trưởng có thể phải chỉ huy dưới cờ hiệu của riêng anh ta. Các quy định khác áp đặt sự kiểm giám sát thường xuyên từ các phụ tá của các viên Thống chế mà không có cảnh báo trước. Nhiệm vụ của các sĩ quan cấp cao đã từng bước được chính quy hóa và có một quy mô mới về tiền lương của quân đội được thiết lập. Năm 1355 Jean d’Armagnac-Trung tướng ở vùng Languedoc, đã ra lệnh cho tất cả các quý tộc và quân đội khâu chữ thập màu trắng ở trên quần áo của họ. Điều này để tương phản với những chữ thập đỏ đôi khi được mang bởi quân Anh, mặc dù không rõ ràng rằng chiếc chữ thập mầu trắng này có được nhìn thấy tại trận Poitiers.

Bất chấp những cố gắng cải cách này, thành phần chính của tầng lớp hiệp sĩ Pháp vẫn tỏ ra quá tự tin vào uy tín cá nhân. Tất nhiên là tình trạng của họ bị đe doạ như bởi kết quả của một số trận đánh thất bại. Tuy nhiên, nhiều quân nhân chuyên nghiệp cũng được tập trung cho các yêu cầu thực tế để có một thành công quân sự. Chiến tranh trong thời kỳ này đã trở nên là hiểm họa đối với một số nhóm xã hội nào đó và theo ước tính số lượng các quý tộc Pháp bị thiệt mạng trong các trận đánh Crécy và Poitiers còn cao hơn con số của chính tầng lớp này bị tử vong do bệnh dịch hạch Black Death.

Hầu hết quân đội Pháp vào đầu của Chiến tranh Trăm năm thường có cơ cấu là bộ binh đông gấp 4 lần kỵ binh. Tỷ lệ này giảm dần và số bộ binh Pháp tại trận Poitiers là tương đối nhỏ. Kích cỡ của quân đội của vua John II trong năm 1356 cũng chỉ là phỏng đoán. Đương nhiên là quân đội Pháp đông hơn rất nhiều so với Liên quân Anh-Gascon của Hoàng tử đen, nhưng nhà vua Pháp đã lại hầu hết lực lượng bộ binh của mình trước khi bắt đầu quá trình truy kích đối phương. Một số người cho rằng quân đội của ông ta ( vua Pháp) có số lượng lên tới 30.000 người. Một con số thực tế hơn là vào khoảng 8.000 kỵ binh, có lẽ có thêm 2000 tay nỏ cưỡi ngựa và khoảng 1.000 bộ binh hạng nhẹ. Ferdinand Lot-nhà sử học quân sự Pháp cho rằng quân đội Pháp chỉ có số lượng suýt soát quân đội của Hoàng tử Đen. Ông đã chỉ ra rằng đội quân của Công tước d’Orleans chỉ bao gồm 300 kị sỹ hoàn toàn bọc thép, đơn vị của nhà Dauphin ( Thái tử Charles) và lực lượng kị binh hoàn toàn thiết giáp viên Thống chế kỵ binh có tổng số 1.200 người bao gồm 2 đơn vị này. Có thể số lượng kị sỹ thiết giáp đông tương đương nằm trong đơn vị được chỉ huy bởi chính nhà vua và nó nâng tổng cộng kị binh thiết giáp lên con số chỉ 2.400 người ( chưa tính đến số kị binh hạng nhẹ còn đông hơn). Hoàng tử Đen trong thư gửi cho vị Giám mục của Worcester đã nói rằng ngoài vị Nguyên soái, Công tước de Bourbon và đức Giám mục Châlons, 16 Hiệp sỹ cầm cờ của Pháp và 2.426 kị sỹ đã thiệt mạng trong trận Poitiers. Mặt khác một số tài liệu của người Pháp lại tuyên bố rằng chỉ có 300 người đã thiệt mạng. Thường thì phe chiến thắng thường phóng đại còn người thua trận thường làm giảm tổng số thiệt hại. Tại Poitiers các thầy dòng Friars Minors đã chôn 60 hiệp sĩ và 42 Squires, còn Nhà dòng Preaching Friars đã chôn cất 18 người bao gồm cả Công tước Bourbon ở nhà thờ của họ và 50 người trong một tu viện. Số tù binh trong tay người Anh kể cả những người bị bắt tại Romorantin được cho là lên đến 1.923 kị sỹ, mặc dù có lẽ người Anh chỉ giữ những người có giá trị để đòi tiền chuộc. Nguồn tài liệu từ Pháp như Grandes Chroniques nói có khoảng 1.700 tù nhân. Với số lượng những người đã chết lên đến 2.500 người. Trong bốn đơn vị kị binh của Pháp tham gia vào trận Poitiers, ba đã bị tiêu diệt trong khi đó phần lớn đơn vị của công tước d’Orleans đã bỏ chạy và trốn thoát. Một số người đã cố gắng đào tẩu vào cuối trận chiến mặc dù có thể số này là tương đối ít.

KẾ HOẠCH CỦA CÁC BÊN THAM CHIẾN

KẾ HOẠCH CỦA NGƯỜI ANH

Bởi vì Philip của Navarre, người anh em của vua Charles của Navarre, đã lập một liên minh với nước Anh nên những lực lượng Anh mới được tuyển mộ vốn được dành cho các chiến dịch đang tiếp diễn ở xứ Brittany đã được chuyển sang nằm dưới sự chỉ huy của Công tước Henry xứ Lancaster ( em họ Hoàng tử Đen ). Ngoài ra, Robert Knollys có 500 kị sỹ và 500 cung thủ trong quân đội Anh vốn đang hiện diện tại Brittany, trong khi Philip của Navarre thêm vào 100 kị sỹ người Norman của riêng ông. Lực lượng này hoàn toàn là kị binh đã xuất phát vào ngày 22 tháng 6 và một tuần sau đó đã đến được Pont-Audemer, nơi mà nhà vua Pháp đang tiến hành một cuộc bao vây. Sau đó Công tước Lancaster di chuyển về phía Breteuil-một lâu đài dễ bị tổn thương vốn được đồn trú bởi quân đội trung thành với Philip của Navarre-đồng minh của ông ta. Đầu tiên, ông cung cấp trở Breteuil và sau đó tấn công các thị trấn Conches (4 tháng 7) và Verneuil (5.tháng 7) vốn đang nằm trong tay của người Pháp. Về mặt chiến lược thì các sự kiện này đã ngay lập tức tạo nền cho chiến dịch của Hoàng tử Đen ở miền trung và nam nước Pháp.

Nhà vua John II đã thu thập một đội quân để đối mặt với Công tước Lancaster, nhưng sau đó quân Anh đã tránh né một trận chiến vào ngày 9 tháng Bảy. Sau hai tuần hành quân vất vả người Anh đã đưa quân đội của họ vượt ra ngoài tầm với của người Pháp. Mặt khác các cuộc càn quét chevauchée của Công tước Lancaster di chuyển nhanh hơn so với các cuộc đột kích sau đó của Hoàng tử đen và do đó không gây quá nhiều thiệt hại. Tuy nhiên, nó cũng đã thành công trong việc chiếm lại những tòa lâu đài quan trọng và phá hủy một số vị trí mà đối phương đang nắm giữ đồng thời thu giữ được 2.000 con ngựa ( chắc là bắt của dân thường Pháp). Chỉ vài ngày sau đó Công tước Lancaster lại tiến hành một cuộc càn quét từ Brittany về phía nam và đây là một cuộc hành binh với hy vọng là sẽ hội binh được với lực lượng với Hoàng tử Đen-người lúc này đã tiến về phía bắc từ Bergerac.

Thậm chí có thể là ban đầu vua Edward III đã lên kế hoạch cho một chuyến viễn chinh thứ ba, có lẽ được dẫn dắt bởi chính cá nhân ông tại miền Bắc nước Pháp. Đây là một cuộc hành quân ở mức độ lớn đã lặp đi lặp lại bởi người Anh trong năm 1355. Tuy nhiên, một số nhà sử học lại cho rằng Công tước Lancaster không bao giờ thực sự có ý định hội binh với quân của với Hoàng tử đen và họ chỉ ra rằng vị Công tước này đã lui quân vào thời gian mà Hoàng tử đen chuyển hướng về phía nam. Tuy nhiên Công tước Lancaster vẫn sẵn sàng trợ giúp vị Hoàng tử này nếu thấy cần thiết. Hội binh lại với nhau họ có thể tạo nên một đội quân đủ mạnh để đánh bại vua Pháp trong một trận chiến. Như trong bản khế ước riêng của Hoàng tử đen tháng 7 năm 1355 đã công bố rằng: Nhà vua [Edward III] đã cam kết rằng nếu Hoàng tử bị bao vây bởi một đội quân lớn mà ông không thể tự cứu mình, trừ phi ông được giải vây bởi lực lượng của nhà vua, thì nhà vua sẽ phải có trách nhiệm giải cứu ông … và Công tước Lancaster và [một danh sách tên của những người khác] đã cam kết rằng họ phải cung cấp sự giải cứu mà không chần trừ …

Xét trên rất nhiều khía cạnh, chiến dịch Poitiers cũng giống như các cuộc tấn công chevauchee lớn khác của người Anh, chúng được tiến hành để tàn phá và chứng minh rằng vua Pháp không thể bảo vệ người dân của mình. Mục đích của nó là để phá hoại lòng trung thành với Hoàng gia Pháp, đặc biệt là lòng trung thành của các quý tộc địa phương có bất động sản bị tàn phá. Chức năng chính của nó không phải là để thu hút quân đội Pháp vào một trận chiến lớn, trong thực tế một cuộc đối đầu trên quy mô lớn sẽ bị từ chối nếu có thể. Trên quan điểm của Hoàng tử đen thì ông gần như chắc chắn không mong muốn phải đánh trận Poitier.

Trên thực tế các vấn đề về liên lạc và vận tải vốn hay xảy ra trong chiến tranh thời trung cổ có nghĩa là chiến dịch này có khoảng không gian ngắn ngủi và việc di chuyển phòng thủ chống lại các cuộc tấn công của quân Pháp chẳng hạn, phần lớn được tổ chức tại địa phương. Quân Anh cũng như hầu hết quân đội của các quốc gia châu Âu thời kỳ này, đã di chuyển theo đội hình ba đạo truyền thống gồm: “ đạo tiền quân”, “ đạo trung quân” và ”đạo hậu quân ” với hai bên sườn của họ được bảo vệ bởi những kị sỹ và cung kỵ. Gần đây Matthew Bennett-nhà sử gia quân sự rất đáng kính cho rằng tầm quan trọng của thế thượng phong về hỏa lực của người Anh ( các cây trường cung ) đã được phóng đại lên rất nhiều lần. Bennett không bị thuyết phục bởi ý tưởng rằng bằng mọi cách các cung thủ đã ‘rót’ tên vào kẻ thù của họ khi chúng đang đương đầu với các kị sỹ Anh được trang bị đầy đủ thiết giáp. Theo truyền thống quân sự của Anh thời Trung cổ thì họ thường bảo vệ phần phía trước quân đội của họ bằng cách sử dụng những chướng ngại vật tự nhiên hoặc nhân tạo ( trong trường hợp này là những chiếc cọc nhọn bằng gỗ ). Hơn nữa, người Anh thường cảnh giác để tránh cận chiến. Các bằng chứng còn sót ở hiện tại đủ sức thuyết phục cho thấy rằng các cung thủ Anh thường được đặt ở các bên cánh. Như vậy để duy trì hiệu quả cao họ ( các cung thủ ) cần thiết phải cơ động, di chuyển xung quanh và giữa những trở ngại bảo vệ của họ. Do đó Bennett kết luận rằng vai trò chính của các cung thủ trường cung là bảo vệ các kị sỹ của họ cách tạo ra những trận mưa tên từ bên cánh.

Matthew Bennett cũng đã xem xét đội hình “ herce” được sử dụng bởi các cung thủ Anh tại Poitiers và các nơi khác. Ông chỉ ra cách giải thích dễ hiểu cho đội hình này là nó tạo ra những chiếc răng hô “NV projecting teeth” vốn đã thực sự tạo ra những điểm yếu trong đội hình hình dòng của người Anh. Hơn nữa các cung thủ cũng không được trang bị để tự bảo vệ mình nếu kỵ binh thiết giáp hoặc các kị sỹ xuống chiến đấu trên bộ của đối phương tiến được đến gần và triển khai cận chiến ( vì các cung thủ chỉ có mỗi chiếc mũ sắt mà không có áo giáp ).

Nhà sử học Froissart chỉ sử dụng thuật ngữ “ herce” ba lần khác nhau trong những công trình rất đồ sộ của mình; một lần trong quấn sử thi của ông mô tả về trận chiến Poitiers. Thuật ngữ này thường được dịch như là một harrow ( cái bừa), một dụng cụ lớn sử dụng trong nông nghiệp có hình chữ nhật với những chiếc “răng “ nhô ra thường được sử dụng để khai hoang, cầy xới một mảnh đất. Nhưng ngay cả với ý nghĩa này thì từ“ herce” cực kỳ hiếm khi được sử dụng trong văn học thời Trung cổ, do đó, tại sao Froissart lại sử dụng nó khi đang cố gắng để minh họa những gì mà có thể ông coi là một sự bất thường về đội hình quân sự ? Những nghĩa khác của thuật ngữ “herce ” hoặc “herse ” bao gồm một loại ” candelabrum ” đây có lẽ là một chiếc vòng được làm bởi gai và các ngọn nến, và “hedgehog-con nhím” vốn có rất nhiều những chiếc-lông nhọn hoắt. Tuy nhiên có thể là tất cả những cố gắng giải thích này đều có vẻ không hoàn toàn chuẩn xác. Phía nam của dãy núi Pyrenees, trong bán đảo Iberia, nơi mà có lẽ Froissart đã khai thác nhiều nguồn cung cấp tin tức về các trận đánh của người Anh, Pháp và Gascon… có nhiều khả năng đây là bắt nguồn thuật ngữ quân sự ” herce “. Ở đây, một vài thập kỷ trước khi xảy ra trận chiến Poitiers, một nhà quý tộc Tây Ban Nha tên là Don Juan Manuel đã biên soạn trong quấn Libro de los Estados- một quấn sách nhiều chương của ông về chiến thuật quân sự . Quấn sách này có đề cập đến một đội hình được gọi là Haz (dạng số nhiều là Haces) nghĩa đen có nghĩa là một ‘gói’ hoặc ‘bó’. Mặc dù Don Manuel đã viết về chiến tranh kỵ binh điển hình ở Bán đảo Iberia, ông vẫn coi như là Haz chủ yếu là để phòng thủ, đây là đội hình mà trong đó những chiến binh tham chiến đứng gần nhau hơn lúc bình thường.

KẾ HOẠCH CHIẾN ĐẤU CỦA NGƯỜI PHÁP

Mục tiêu chiến lược của Vua John II là rất đơn giản, dự định của ông là bảo vệ dòng sông Loire và sau đó khi Hoàng tử đen rút lui về phía Nam, ông tiến hành truy kích người Anh. Ý định của ông là vượt trước Hoàng tử đen, cắt đứt con đường rút lui của ông này về vùng Gascony và sau đó tiêu diệt đội quân của ông ta (Hoàng tử đen ) chỉ trong một trận chiến. Hầu như không có các thông tin còn tồn tại liên quan đến việc quân phòng thủ người Pháp phải đối mặt với cuộc càn quét chevauchée của Henry-Công tước xứ Lancaster từ Brittany.và ông này còn muốn tiến xuống hạ lưu sông Loire, nhưng thực tế là Công tước Lancaster đã không thể vượt qua sông và phải quay sớm về vùng đất chiếm đóng của người Anh ở xứ Brittany và ít nhất sự kiện này cho thấy rằng hai bên có quân số ngang bằng.

Lực lượng mà ban đầu vua Pháp-John II đã gửi về phía nam của sông Loire, sau đó vượt sông và nhận được lệnh phải quan sát và quấy rối người Anh. Ngay sau đó chính bản thân ông cũng tiến về phía trước cùng với thành phần chính của quân đội Pháp. Lực lượng mà vua John đã gửi đi trước đó đã thành công trong việc làm chậm tiến độ hành quân của Hoàng tử đen và một điều quan trọng không kém là họ đã gửi những thông tin chính xác về số lượng và tiến trình chiến dịch của người Anh. Trong vòng một vài ngày Hoàng tử đen quay trở lại từ thành phố Tours trên sông Loire và thành phần chính lực lượng Pháp bắt đầu vượt qua dòng sông để truy kích, vua John đã cố gắng để vượt trước đối thủ của mình.

Cho đến lúc đó mọi thứ đã đi hoàn toàn đúng với kế hoạch của vua John và người Pháp đã chứng tỏ ưu thế gần như hoàn toàn về mặt chiến lược của họ. Tuy nhiên, có vẻ như một sự kết hợp của trình độ trinh sát nghèo nàn, kỷ luật kém và đôi chút may mắn đã cho phép Hoàng tử đen di chuyển về phía nam của quân đội của nhà vua, ở vị trí giữa Chauvigny và Poitiers. Sau đó Hoàng tử đen tuyên bố rằng ông đang truy đuổi người Pháp, nhưng điều này chỉ được viết sau khi người Anh chiến thắng tại trận Poitiers ( thắng rồi thì nói gì chả đúng ). Trong thực tế thì đội quân đột kích tương đối nhỏ của Hoàng tử đen vẫn nằm trong phạm vi truy kích của quân Pháp và lần này của quân đội của vua John đã tìm thấy Hoàng tử đen ở trong vị trí phòng thủ mạnh mẽ của nó ở phía bắc của làng Nouaille.

Vua John đã đạt được mục đích của ông là ép người Anh vào một trận chiến. Tuy nhiên, khi lên kế hoạch tấn công tiếp theo của người Pháp, ông vẫn nhớ về những kinh nghiệm đau đớn khi phải tấn công vào một vị trí phòng thủ mạnh của người Anh, đặc biệt là khi người Anh có rất nhiều cung thủ trong hàng ngũ của họ. Truyền thống chiến tranh bình thường ở Tây Âu thời Trung cổ và đặc biệt ở Pháp là dùng các kị sỹ để tấn công các kị sỹ. Rất rõ ràng rằng người Pháp thường sử dụng các cuộc tấn công của kỵ binh bên cánh để tiêu diệt các cung thủ đối phương trên chiến trường. Vào lúc này họ tiếp tục cố gắng làm như vậy hoặc là trên lưng ngựa hoặc đi bộ trong những thập kỷ tiếp theo ( các kị sỹ phải xuống ngựa chiến đấu ).

Trong dịp này các chỉ huy người Pháp đã thành lập lực lượng kỵ binh thiết giáp hạng nặng của họ thành một lực lượng tấn công với dự định xua các cung thủ Anh ra xa. Bằng cách cho gần như tất cả các phần còn lại của các kị sỹ của họ xuống ngựa, các chỉ huy quân sự Pháp hy vọng sẽ làm cho đội hình của họ ít dễ bị tổn thương trước những cung thủ trường cung Anh có thể còn sót lại. Cả hai chiến thuật quyết định này ( dùng kị binh hạng nặng để tấn công vào lực lượng cung thủ trường cung Anh và dùng kị binh xuống ngựa để tấn công vỗ mặt đối phương ) đều thất bại và trận chiến là một thảm họa đối với người Pháp, điểm đỉnh là việc chính bản thân nhà vua John II đã bị bắt tù binh. Tuy nhiên, những chiến thuật này chưa cho thấy rằng quân Pháp đã cố gắng để tấn công quân Anh vốn có cả lợi thế về mặt chiến thuật lẫn địa hình chiến trường. Như vậy, mặc dù không thành công, nhưng đây là một bước đầu tiên của chặng đường đầu tiên trong một cuộc chiến lâu dài và đầy tủi nhục tới chiến thắng cuối cùng cho người Pháp.

Vào lúc mà chính trận chiến Poitiers đang diễn ra, các tập quán của thời kỳ đó định nghĩa một trận đối đầu toàn diện chính thức được xem như là có sự thoả thuận của quân đội hai bên sau những thách thức chính thức. Trận đánh chỉ xảy ra khi hai bên được cho là đã chuẩn bị sẵn sàng ( đây là những quy chuẩn của thời mã thượng, hai bên muốn đánh nhau một trận mặt giáp mặt thì phải dàn quân, thách đánh một cách chính thức … không được tập kích sau lưng. Ta mà đánh kiểu này thì chỉ có thua mà thôi ). Trong thực tế Geoflroi de Charny-vị hiệp sĩ người Pháp nổi tiếng, người đã bị giết chết trong khi mang lá cờ thiêng liêng Oriflainme tại Poitiers, đã viết một bài luận về tinh thần hiệp sĩ rằng bất cứ ai tấn công người khác mà người này không thách thức hoặc có trang bị không tương xứng với họ thì không đáng được coi là có tinh thần mã thượng. Trên thực tế thì các hình thức chiến tranh như phục kích và thậm chí cả đột kích mà người Anh đã và đang tiến hành đã làm suy giảm một cách đáng kể uy tín của tầng lớp quý tộc hiệp sĩ nên có thể nhiều người ở cả quân đội hai phe đều hoan nghênh một cơ hội cho một cuộc chiến chính thức. Thái độ truyền thống này được thấy rõ trong số những tinh hoa của bên thua trận-những người này thường tránh để phải đầu hàng trước những kẻ thù có đẳng cấp xã hội thấp hơn.

GIAI ĐOẠN ĐẦU CHIẾN DỊCH POITIERS

Hoàng tử đen đã tập hợp lực lượng Anh tại thị trấn Bergerac trên sông Dordogne. Ở đây họ có sự tham gia của hầu hết các đội ngũ người Gascon ở địa phương. Không phải tất cả bọn họ sẽ đi cùng Hoàng tử trong cuộc chevauchee vào trung tâm của nước Pháp. Tuy nhiên trong thực tế, một lực lượng đáng kể đã phải tách khỏi quân đội Anh để bảo vệ vùng Gascony mà người Anh chiếm đóng trong khi Hoàng tử đen hành quân xa. Những binh sĩ bị bỏ lại nằm dưới sự chỉ huy của Seneschal John De Chiverston, Bernard d’Albret và Thị trưởng của Bordeaux.

CUỘC CHEVAUCHEE CỦA HOÀNG TỬ ĐEN


Bản đồ cho thấy các cuộc hành binh chevauchée của Hoàng tử Đen và Công tước xứ Lancaster ( mũi tên màu đỏ và đỏ đứt đoạn) tại các xứ Aquitany và Normandy trong năm 1356, nó cũng cho thấy quân Pháp ( muĩ tên mầu xanh) vận động để đánh chăn các đợt càn quét này. Tại xứ Brittany những đốm xanh trên bản đồ thể hiện các vị trí do quân Pháp nắm giữ, còn đốm đỏ là quân Anh.

Ngày 04 Tháng Tám năm 1356 Hoàng tử đen và phần còn lại của quân đội của ông rời Bergerac và hành quân qua vùng quê màu mỡ để đến Perigueux, nơi đã bị chiếm giữ bởi một lực lượng ủng hộ người Anh trước đó. Bản thân Hoàng tử đã ngủ qua đêm ngày 06 tháng Tám ở bên ngoài thành phố tại Chateau l’Eveque, đó là nơi ở mùa hè của Đức Giám mục Perigueux. Đêm hôm sau họ đã ở Ramefort. Rời khỏi thung lũng của sông Isle hai ngày sau đó, họ tiến vào thung lũng Dronne tại Brantome và trải qua đêm ở đâu đó xung quanh vùng Abbey, tuy nhiên không có tài liệu ghi lại nhữngthiệt hại mà ông ta đã gây ra. Sau đó quân đội Anh-Gascon tiến lên đến Quisser (10 tháng Tám) nhưng tại nơi này tòa lâu đài lại quá mạnh để tấn công. Tại Nontron (11 tháng Tám) họ đã báo cáo là được cung cấp một số thực phẩm lớn là cá. Sau đó quân cướp phá (Liên quân Anh-Gascon ) hiện diện tại vùng Limousin nơi mà họ gây ra tối đa thiệt hại như họ có thể. Đi qua Rochechouart (12 tháng 8) đến Nhà dòng Benedictine La Peruse ở gần Confolens (13 tháng Tám), nơi mà Hoàng tử Đen đã trú đêm ở đó, họ đến Lesterps vào ngày 14 tháng Tám. Ở đây các khẩu súng được đặt trong nhà thờ St Pierre đã chặn đứng các cuộc tấn công của họ trong một ngày nhưng cuối cùng quân phòng thủ cũng phải chấp nhận đầu hàng. Phản ứng của Hoàng tử lại là tha bổng cho các thầy tu và người dân thị trấn trong nhà thờ, đây được cho là để thể hiện sự ngưỡng mộ của ông ta đối với sự can đảm của họ.

Lúc này quân xâm lược đã đi được hơn 150 km (93 dặm) trong mười ngày. Hai ngày sau họ đến Bellac, nơi họ nghỉ ngơi trong hai ngày và đã không gây ra thiệt hại gì vì nơi thuộc về bà quả phụ của Bá tước Pembroke ( danh tướng của Anh trong các chiến dịch chống lại người Scotland ) người có dây mơ dễ má với gia đình Hoàng gia Anh. Theo nhà sử học Froissart: Hoàng tử xứ Wales và quân đội của ông ta… cưỡi ngựa về phía trước một cách thoải mái và thu giữ tất cả các loại đồ dự trữ phong phú đến tuyệt vời và đáng ngạc nhiên vốn được tìm thấy ở tỉnh Auvergne … rất giàu có và các đồ dự trũ phong phú … Họ đốt cháy và cướp bóc toàn bộ khi họ đột nhập vào một thị trấn và thấy nó dự trữ rất nhiều thực phẩm, họ ở lại cướp bóc trong hai hoặc ba ngày và sau đó khởi hành, tiêu hủy những gì còn lại, đập vỡ thùng rượu vang và đốt cháy các kho dự trữ lúa mì và lúa mạch.

Cho đến lúc đó ngoài một vài cuộc giao tranh nhỏ, quân đột kích gặp rất ít đề kháng. Tuy nhiên, theo Geoffrey le Baker, Hoàng tử chỉ định hai chỉ huy rất giàu kinh nghiệm là John Chandos và James Audley phụ trách đội trinh sát của ông trong thời gian ông hành quân qua các vùng-Limousin và Berry. Trong khi đó: Bản thân ông ta lại nhận trách nhiệm trông coi doanh trại và quan sát tiến độ hành quân từng ngày trong khi con đường được kiểm tra một cách kỹ lưỡng và tổ chức bảo vệ chống lại các cuộc tấn công ban đêm. Ông ta luôn nhìn vào chiếc đồng hồ và luôn đi xung quanh nó với những đồng đội dũng cảm của mình, mỗi phần của quân đội đều được ông đến kiểm tra nếu có một cái gì đó không bình thường xảy ra và có thể dẫn tới những hiểm họa.

Sau khi rời Bellac bước tiến của Hoàng tử đen ngày càng trở nên khó khăn hơn. Trong vùng Berry người dân địa phương đã tìm cách đánh trả mặc dù không phải là rất hiệu quả. Làng Le Dorat với nhà thờ được tăng cường phòng thủ của nó bị thất thủ đầu tiên, sau đó thị trấn Lussac les Eglises (19 tháng Tám), nơi mà một vài năm sau đó Sir John Chandos sẽ bị giết chết. Sau đó Liên quân Anglo-Gascons chuyển qua hướng Sault Saint Benoit (20 tháng Tám) để đến Argenton (Ngày 21-Ngày 22 tháng tám), nơi tòa lâu đài đã bị chiếm. Mặc dù tiến hành cướp phá ở tầm xa và trên diện rộng họ vẫn thường không làm ảnh hưởng đến nhà thờ và tài sản của bạn bè ( rất nhiều quý tộc Anh thời đó có nguồn gốc từ vùng này nên họ vẫn có tài sản tại Pháp ). Họ đi ngang qua thành phố Châteaunroux (23 tháng Tám) nơi mà họ đã không thể chiếm được.

Tại đây, Hoàng tử đen đã viết rằng ông định đi đến Bouiges nơi ông dự kiến ​​sẽ tìm thấy Bá tước Poitiers. Ngày hôm sau là ngày lễ Thánh Bartholomew, do đó Liên quân Anglo-Gaston quyết định nghỉ ngơi. Trong thực tế Hoàng tử đen đã không đi đến Bourges. Một toán quân đột kích Anh đã đốt phá vùng phụ cận của nó nhưng không thể chiếm được thành phố vốn có tăng cường phòng thủ và được bảo vệ bởi vị Tổng-giám-mục và hai hiệp sĩ cấp cao được gửi tới bởi vua John. Theo nhà sử học Froissart; Tại một trong những cánh cổng của thành phố một trận chiến ác liệt đã xảy ra có sự tham gia của hai hiệp sỹ-Seigneur de Gonsant và Sir Huntin de Vermeilles và rất nhiều thị dân dũng cảm của thành phố. Lực lượng chính của Liên quân Anh-Gascon đã đến được Issoudun vào ngày 24 tháng 8 nhưng mặc dù đã triển khai một cuộc tấn công toàn diện, một lần nữa họ lại không thể chiếm được thành phố được tăng cường phòng thủ bởi các quý tộc địa phương và những người tùy tùng của họ. Vào ngày 26 Hoàng tử đen tiếp tục hành quân sau khi đốt phá các vùng ngoại ô của Issoudun.

Trong ngày 28 tháng 8 quân đội của Hoàng tử đen hành quân dọc theo các con sông nhỏ Theols và Arnon, chiếm được lâu đài La Ferte, rời khỏi Arnon ở Lury-đây là ranh giới của lãnh địa của Công tước Guyenne cổ xưa và vượt qua sông Cher. Có lẽ cũng vào ngày 28 tháng 8 một toán quân đột kích của Anh-Gascon khoảng 200 binh sĩ dưới quyền chỉ huy của Chandos và Audley trên đường trở về với đạo quân chính của Hoàng tử đen đã chiếm làng Aubigny-sur-Nere nơi chỉ 25 km (16 dặm) từ sông Loire và tình cờ đã gặp phải một toán quân trinh sát của Pháp. Quân Pháp được chỉ huy bởi Philip de Chambly có biệt danh Grismouton, người được lệnh phải gửi cho vua John II những báo cáo về vị trí và hoạt động của quân xâm lược. Sau khi người Anh bắt được một vài tù binh trong cuộc giao tranh này, Hoàng tử đen biết được rằng vua Pháp đã tập trung một đội quân lớn và đã xác định là phải đánh một trận với ông ta. Lúc này John II đang đóng quân tại Chartres, mặc dù ông này hy vọng sẽ tìm được quân Anh ở gần Orleans trên đường hướng về Tours. Orleans là mục tiêu tiếp theo của quân Anh, nhưng vị hoàng tử đã ra lệnh vượt qua sông Cher và lúc này họ chuyển hướng và đi về hướng tây tới Vierzon. Tốc độ tiến quân của các toán đột kích cũng chậm lại.

Froissart mô tả Vietzon là một thị trấn lớn với chiếc lâu đài mạnh mẽ, nhưng ít được củng cố và quân đồn trú lại mỏng. Trong thực tế, nó đã thất thủ trước quân xung kích người Gascon dưới sự chỉ huy của Đại úy de Buch trong ngày 26 tháng Tám, quân đồn trú của nó là quá ít để chống lại đối phương đang tiến đến gần. Dân cư đã bỏ chạy và quân Gascons cướp bất kỳ đồ cung cấp nào mà họ có thể tìm thấy. Hai ngày sau đó, lực lượng chính của quân Anh mới tiến đến đây và ở lại ba ngày sau đó họ đốt cháy thị trấn và tiếp tục di chuyển. Khi Hoàng tử đen ở Vierzon, theo sử gia Froissart thì: Tin tức đến được Hoàng tử xứ Wales rằng vua Pháp đang ở Chartres, và rằng tất cả các thành phố dọc sông Loire và tất cả các phương tiện vượt sông đều được bảo vệ rất kỹ và rằng ông sẽ không có cách để vượt sang bờ phía bắc của nó. Do đó Hoàng tử đen đã hỏi ý kiến các cố vấn và quyết định chọn cách rút lui qua Touraine và Poitou, giao tranh dọc đường đi và đốt cháy, cướp bóc các vùng thôn quê.

Trong khi đó một đội quân Anh khác dưới sự chỉ huy của Công tước Lancaster đã đến được vùng Loire. Tại đây ông ta thấy rằng các cây cầu đã hoặc bị phá hỏng hoặc có bảo vệ mạnh. Quân của ông đã cố gắng vượt sông ở Les Ponts-de-Cé, phía nam của Angers, nhưng đã bị ngăn chặn bởi chiếc pháo đài nằm trên hòn đảo lớn vốn được xây dựng để bảo vệ vùng phía Bắc của con sông. Từ khi vùng Loire bị ngập lụt thì chỉ có thể vượt qua con sông bằng các cây cầu và không còn có cây cầu nào khác giữa Nantes và Saunuir, cả hai vùng này đều có những thành trì mạnh mẽ và những đơn vị đồn trú lớn, Công tước Lancaster không thể làm gì hơn.

Quân đội của vua John đã được tập hợp đến 1 tháng để bao vây lâu đài Bréteuil ở Normandy mà không thu được thành công. Uy tín Hoàng gia không cho phép ông thất bại nhưng John II đã phải kết thúc cuộc bao vây này để ông có thể đối mặt với một mối nguy hiểm lớn hơn đang hiện ra lờ mờ ở phía nam. Một thỏa hiệp trong danh dự đã được ký kết theo đó vua John phải trả tiền để quân đồn trú thân phe Navarre từ bỏ tòa lâu đài. Họ cũng được phép di chuyển một cách tự do để tái gia nhập lực lượng của Philip de Navarre ở phía Tây vùng Normandy.

VUA JOHN TẬP HỢP QUÂN ĐỘI PHÁP

Theo nhà sử học Froissart, lúc này vua John II đã quay trở lại Paris và ra lệnh cho các nhà quý tộc của mình tập hợp tại Chartres. Nhà vua cũng đến đó với một đoàn tùy tùng có vũ trang vào ngày 28 tháng Tám.Ông này tiếp tục ở đó đến đầu tháng Chín để thu thập thông tin tình báo về những bước di chuyển của quân Anh-Gascon. Trong khi đó quân đội Pháp được tập hợp từ các vùng Auvergne, Berry, Burgundy, Lorraine, Hainault, Artois, Vermandois, Picardy, Brittany và Normandy. Họ đến để thi hành nghĩa vụ quân sư cho vua trong 40 ngày mà không được trả khoản thanh toán nào, sau thời gian đó họ sẽ yêu cầu ông trả tiền. Những người không thể tham dự được cho là sẽ phải gửi đến một khoản tiền nào đó để thuê lính đánh thuê. Khi những người này đến họ cưỡi ngựa đến để được kiểm tra ở những chiếc lều trong vùng lân cận, nơi ăn ở của họ được bố trí bởi các Thống chế Jean de Clermont và Arnold d’Audrehent. Tuy nhiên, nhà vua đã bác bỏ việc tập trung lực lượng bộ binh của ông vì với lực lượng này quân Pháp khó có thể hành quân nhanh và bắt kịp đội quân của Hoàng tử đen.

Một trong những hành động đầu tiên của nhà vua là gửi quân tiếp viện đến các pháo đài chính ở Anjou, Poitou, Maine, Touraine và các khu vực khác nơi quân xâm lược có thể xuất hiện. Vai trò của họ là để ngăn chặn quân địch đi thu thập thực phẩm cho người và thức ăn cho ngựa. Như Froissart đã viết, vua Phápcũng đã: gửi ba quý tộc rất quan trọng, những chiến binh tốt nhất tới tỉnh Berry để bảo vệ biên giới của nó và trinh sát nơi đóng quâncủa binh sĩ Anh. Ba vị quý tộc đó là Sire deCraon, Boucicault vàHermite de Chanmont.

Sau khi rời khỏi Chartres nhà vua và đội quân gồm phần lớn là các kị binh của ông đi về phía sông Loire, họ đến Meung vào ngày 08 tháng 9 và Blois hai ngày sau đó. Họ vượt qua sông Loire tại một số điểm khác nhau, bản thân vua John vượt sông tạiBlois, trước khi hành quân đến Amboise. Đếnngày 13 thì nhà vua đã đến được Loches nơi các đội quân của ông đã tập hợp lại để chuẩn bị cho cuộc săn đuổi. Hàng loạt những báo cáo được cung cấp một cách ổn định để xác nhận rằng rằng quân Anh-Garcons vẫn ở trongkhu vực Touraine nhưng lúc này họ ( quân Anh) lại chuyển hướng vềPoitotu. Vì vậy, vua John rời Loches và đến La Haye vào ngày 14 tháng Chín, trong khi những đội quân khác của ông vẫn tiếp tục vượt qua sông Loirebằng các cây cầu tại Orleans, Meung,Saumur-, Blois, Tours và có lẽ ở cả những nơi khác nữa.

Một thời gian dài cuộc chiến giữa Pháp vàAnh trở thành một mối quan tâm lớn đối với Đức Giáo Hoàng tạiAvignon, người luôn cho rằng hai trong sốnhững cường quốc Thiên chúa giáo mạnh nhất nên tham gia tham gia lực lượng để chiếm lại vùngĐấtThánh từ tay người Hồi giáo hơn là tương tàn với nhau.Vì vậy, sử gia Froissart ghi lại rằng: Giáo hoàng Innocent VI gửi tới nước Pháp Talleyrand-Hồng y giáo chủ của Périgod và Nicholas-Hồng y giáo chủ của Urgel để đàn phán hòa bình …Họ có một số lần viếng thăm nhà vua trong lúc ông này đang triển khai vây hãm Bréteuil nhưng không đi đến kết quả nào … Hồng y giáo chủ của Périgod đến tận thành phố Tours thuộc vùng Touraine nơi mà ông này nhận được tin vua Pháp đang hành quân hết tốc độ để tìm quân Anh. Vì vậy vị Hồng y giáo chủ của Perigord vội vã đến Poitiers, nơi ôngđã dự kiến ​một cách chính xác rằng quân đội của các bên đốiđịch sẽ gặp nhau.

Đánh chiếm lâu đài Romorantin

Trong khi đó, Sire de Craon, Boucicault, Hermite de Chaumont và 300 tay thương của họ (các kị sỹ cộng với các đoàn tùy tùng) đã đến rất gần và quan sát quân xâm lược trong sáu ngày trước khi họ tìm được một cơ hội tấn công vào đội quân tiên phong của đối phương của họ. Froissart cho rằng tình trạng này ( khó có cơ hội để tấn công quân Anh ) xảy ra là vì người Anh đã lên kế hoạch hành quân và cắm trại của họ với các kỹ năng tuyệt vời. Tuy nhiên lực lượng nhỏ bé này của Pháp lại tin rằng họ có một số cơ hội khi đi ngược lên thượng nguồn từ Romorantin. Ở đó, họ đã phục kích Bartholomew de Burghersh, Edward Despencer và Lãnh chúa của Es.s.e.x. một lần nữa Froissart lại cung cấp thông tin bằng cách mô tả sinh động: Một số binh sĩ được lệnh phải xuất phát ngay lập tức tới Romorantin, những người đã nghe thấy rằng người Anh sẽ đi qua con đường này, họ nằm xuống một cách lặng lẽ để tiến hành một cuộc phục kích tạiđịa điểm chỉ cách thị trấn một khoảng ngắn. Một khoảng thời gian sau đó người Anh tiến lênvà bị người Pháp đi ngang qua theo hàng dọc mà không tấn công họ, nhưng vào thời điểm đó họ thấy rõ ràng là người Pháp nhẩy lên ngựa, lấy hết. tốc độ và phi ngựa đến chỗ họ. Người Anh, nghe thấy tiếng chân ngựa, quay lại và phát hiện ra rằng đó là kẻ thù của họ, ngay lập tức họ dừng lại để chờ đối phương xuất hiện và người Pháp phi nước đại để tiến lên với các tay thương của họ ở phía sau. Vì vậy tốc độ của họ là rất khủng khiếp, lúc đó ngay lập tức người Anh đã dãn hàng ngũ của họ ra và người Pháp đã lao xuyên qua trên lưng những con ngựa của họ mà không gây thiệt hạigì nhiều. Sau đó quân Anh tiến đến gần vàtấn công vào phía sau của quân Pháp: Một trận chiến ác liệt đã nổ ra sau đó, nhiều hiệp sĩ và hộ sỹ đã ngã ngựa ở cả hai phe và nhiều người đã bị giết. Khi phần còn lại của đội tiên phong Anh đến nơi thì quân Pháp bắt đầu rút lui, một nửa trong số họ đã chạy thoát về lâu đài Romorantin.

Quyết định tấn công lâu đài Romorantin của Hoàng tử đen thường được xem như là một sai lầm bởi vì ông biết rằng vua Pháp đang hành quân chống lại ông với một đội quân đáng kể. Tất nhiên có thể việc giữ chân Hoàng tử đen là ý định của số ít các binh sĩ Pháp hiện đang thách thức quân Anh và kết quả là một cuộc bao vây kéo dài kết quả năm ngày được tiến hành trước khi tòa lâu đài bị buộc phải đầu hàng. Tệ hơn nữa đồ cung cấp của người Anh đã suy giảm nghiêm trọng sau cuộc bao vây này.

Cuộc tấn công vào lâu đài Romorantin được mô tả bởi cả hai nhà sử học Froissart và Geoffrey le Baker. Theo Froissart: Vào buổi sáng hôm sau tất cả các kị sỹ và cung thủ chuẩn bị cho trận bao vây và mỗi người phải phổ biến với quân lính của riêng mình về việc phải tiến hành một cuộc tấn công bất ngờ vào lâu đài Romorantin. Vụ tấn công rất khốc liệt và dữ dội, các cung thủ Anh đứng ở gần các đoạn hào tung ra những cơn mưa tên liên tục làm cho không ai dám nhô người lên khỏi bức tường có những lỗ châu mai. Một số cung thủ đã bị nước ngập lên đến cổ và đã đến được các bức tường. Những người khác cũng nhảy xuống chiếc hào này, bơi bằng mảng về phía chiếc cổng thành với những tấp phên liếp, dáo mác, búa trận và cung tên trong tay, để bổ và bám vào chân của các bức tường. Phía trên họ là Seigneur de Craon, Boucicault và Hermite de Chaumont ( ba hiệp sỹ được vua Pháp cử đến ) đang hăm hở tiến hành bố trí phòng thủ, họ ném xuống các tảng đá. Đại úy de Buch và binh sỹ người Gascons của ông đã tham gia vào cuộc tấn công này, một hộ sỹ có tên là Raymond de Zedulach đã bị giết chết trong đợt tấn công này.

Ngày hôm sau cuộc tấn công lại được tiếp tục với mức độ quyết liệt hơn nữa và một lần nữa người cao cấp nhất bị thương vong ở phía người Anh là một người xứ Gascon-người anh em trai của Lord d’Albret. Lúc này Hoàng tử đen tuyên bố một cách công khai rằng ông sẽ không hành quân tới chỗ khác cho đến khi lâu đài Romorantin thất thủ. Le Baker đã mô tả làm thế nào để cuối cùng quân Anh chiếm được tòa lâu đài: Vị Hoàng tử đã ra lệnh sử dụng máy bắn đá và chế tạo những chiếc mai rùa ( bằng gỗ ) để bảo vệ các thợ mỏ. Những chiếc máy bắn đá được điều khiển bằng những binh sỹ đã được đào tạo đặc biệt để phá hủy chiếc mái của tòa tháp [ bảo vệ trung tâm của lâu đài] và những lỗ châu mai trên tường thành với đạn là đá tảng được đẽo tròn. Họ cũng đốt lửa trong đường hầm được những người thợ mỏ đào để làm suy yếu móng của bức tường thành. Theo sử gia Froissart mái nhà của tòa tháp cũng đã bị đốt cháy có lẽ bởi đạn pháo dù rằng ông cũng không hoàn toàn chắc chắn là như vậy.

Sau khi triệt hạ được lâu đài Romorantin, Hoàng tử đen tiếp tục hành quân về phía tây dọc theo sông Cher, dường như ông vẫn còn hy vọng hội binh với lực lượng của Công tước Lancaster. Ông hạ trại ở Montlouis gần Tour trong khi gửi các toán quân đi cướp bóc và do thám. Bản thân thành Tous trên danh nghĩa nằm dưới sự cai quản của hai con trai của nhà vua Pháp-các Bá tước của Poitiers và Anjou với sự hỗ trợ của Thống chế Clermont. Le Baker viết rằng thời tiết mưa bão dữ dội và làm cuộc tấn công của người Anh trở nên vô vọng và: Cám ơn thánh St Martin-vị thánh bảo trợ của thành Tours, kẻ thù của nó đã không thể đốt cháy thành phố này.

Sau bốn ngày chờ để hợp binh với Công tước Lancaster, ngày càng trở nên rõ ràng là Hoàng tử Đen phải rút lui. Như ông đã nói trong đó bức thư gửi cho các công dân London sau khi chiến dịch kết thúc: Sau khi chúng tôi xuất phát từ đó, chúng tôi đi vào con đường để vượt qua một số nguy hiểm nhất định ở dưới nước, và với ý định hội binh với Công tước của Lancaster-người anh em họ thân thiết nhất của tôi, người mà tôi đã có một số thông tin rằng ông đang vội vàng tiến về phía chúng tôi. Mặc dù quân đội của Công tước Lancaster không thể qua sông Loire, rõ ràng là hai vị chỉ huy của người Anh có liên lạc với nhau qua những người đưa tin.

Cuộc truy đuổi Hoàng tử đen của vua John II lúc này bắt đầu được tiến hành một cách nghiêm túc. Trong ngày 11 tháng Chín, Hoàng tử đen quay về phía nam vượt qua các sông Cher và Indre và đến Montbazon trong cùng một buổi chiều. Ông biết rằng quân Pháp đang đuổi theo ông ta và những cây cầu bắc qua sông Cher bị phá hủy. Các ngôi làng xung quanh cũng đã bị đốt cháy để ngăn chặn việc kẻ thù tìm kiếm nơi trú ẩn hoặc thực phẩm. Sáng hôm sau, tại Montbazon vị Hồng y giáo chủ của Perigord đến đó để đôn đốc Hoàng tử đen chấp nhận hòa bình, nhưng câu trả lời duy nhất của Hoàng từ là chỉ có cha của ông mới có quyền làm điều đó. Trong thực tế vua Edward đã ủy nhiện cho Hoàng tử đen quyền để đàm phán trong bức thư ngày 01 tháng 8 năm 1356. Sau khi có cử chỉ của thách thức này, Hoàng tử Edward lại tiếp tục cuộc rút lui của mình, ông đến La Haye (nay là Descartes) vào ngày 13 tháng Chín. Ngay lúc đó trinh sát của ông đã mang tin đến rằng quân đội Pháp đã rất gần phía sau. Vào đầu buổi sáng ngày hôm sau Hoàng tử La Haye vượt qua Creuse và đi tới Châtellerault.

Vua John rời Loches trong cùng một buổi sáng và sau khi nhận được thông tin từ các trinh sát của mình tới từ La Haye, nơi mà ông nghe nói rằng Hoàng tử đen lại hướng về phía Châtellerault. Một số nguồn tin cho rằng đoàn xe chở hành lý của quân Anh lấy nó phải mất một thời gian dài để vượt qua Vienne tại Châtellerault; những nguồn khác lại cho rằng đoàn xe hành lý vượt qua đội quân chính vào ngày trước và quân Anh lại vượt sông trong buổi sáng thứ bảy ngày 17 tháng Chín.

Chiếc lưới bắt đầu khép lại
Vua John II đã quyết định rằng thay vì theo sát bước chân của Hoàng tử đen, ông sẽ cố gắng vượt qua đối phương bằng cách ở lại phía đông của Vienne sau đó qua sông tại Chauvigny. Đây là một cơ động thông minh và thành công có lẽ là dựa trên sự nắm bắt kỹ càng về địa hình tại địa phương. Trong khi đó Hoàng tử lại đang do dự tại Châtellerault vì còn phải tìm kiếm thông tin về người Pháp. Rõ ràng ông đã không nhận ra được khoảng cách giữa họ, hoặc có lẽ là người dân địa phương đã đánh lừa mình lực lượng trinh sát của ông.

Ngày 16 tháng 9 Hoàng tử đen đột nhiên biết được rằng vua John đã ở Chauvigny và rằng ông đã bị vượt qua. Trừ khi ông được chuẩn bị để đối mặt với quân Pháp trong trận chiến mà địa điểm là do ông lựa chọn, Hoàng tử không còn có lựa chọn nào khác ngoài việc rút lui một cách nhanh chóng. Cho đến lúc đó lực lượng chính của liên quân Anglo-Gascon vẫn sử dụng con đường chính nhưng vào lúc bình minh của sáng ngày thứ bảy họ rời đường La Mã cổ xưa (nay là đường N 10) dọc theo bờ phía tây của Clain và đổi hướng trái với ý định quay lại con đường này ở phía nam của Poitiers. Đây có vẻ như là một di chuyển rõ ràng đối với một quân đội hiện đại nhưng lại là một canh bạc liều lĩnh của một vị chỉ huy thời Trung cổ và Vua John II đã thất bại trong việc dự đoán ý đồ của đối phương.

Cả hai đội quân đều tung ra các toán trinh sát và do đó rất đáng ngạc nhiên là vua Pháp lại không biết được rằng Hoàng tử đen di chuyển hướng về phía rừng cây. Ngược lại trong khoảng ngày thứ Sáu 17 tháng Chín, Hoàng tử đen đã xác định rằng quân Pháp đã không còn ở xa: ” Về phía mình Hoàng tử xứ Wales và người của ông không biết gì về cách bố trí của quân Pháp, cũng chẳng biết họ có thể làm gì, họ chỉ biết rằng họ ( quân Pháp) đang hành quân ở một nơi nào đó mà họ ( quân Anh) không biết chính xác là ở đâu, nhưng chỉ đơn giản là họ ( quân Pháp ) không còn ở xa, các trinh sát của họ thấy rằng quá khó khăn để tìm thức ăn cho ngựa và kết quả là quân đội (Anh ) đang bị thiếu đồ dự trữ một cách nghiêm trọng”

Quân đội của châu Âu thời trung cổ thường phải mất quá nhiều thời gian để vượt qua các con sông ngay cả trong trường hợp có đủ các cây cầu, có thể Hoàng tử đen đã hy vọng rằng sẽ tấn công bất ngờ vào người Pháp trong khi họ đang bị chia làm hai ở Vienne. Nhưng ông đã quá chậm và khi đến được Chattvigny bằng con đường bộ từ Poitiers thì trinh sát của ông đã phát hiện ra rằng quân Pháp đã đi qua. Lúc này Hoàng tử đen đã quyết định bám theo họ dọc theo những con đường ở vùng nông thôn và khu rừng ở phía nam của con đường bộ chính. Mặc dù gặt rất nhiều khó khăn nhưng phương thức di chuyển này đã giấu được lực lượng Anglo-Gascon trước con mắt do thám của trinh sát Pháp.

Vua John đã thực sự đến được Chauvigny vào tối ngày thứ Năm 15 tháng Chín. Theo Froissart: sau khi ăn bữa sáng ngày thứ Sáu, nhà vua Pháp vượt qua sông bằng chiếc cầu ở Chauvigny, ông cho rằng quân Anh đang ở phía trước ông nhưng trong thực tế họ lại ở phía sau. Rõ ràng rằng một số lượng lớn kỵ binh đã Pháp vượt qua Vienne tại Chauvigny trong khi các binh sĩ khác, có lẽ là lực lượng bộ binh, được cho là đã vượt sông tại Châtellerault. Sự kiện này có thể cho thấy rằng nhà vua và lực lượng kị binh của ông đã cố gẵng cao nhất những nỗ lực của họ để vượt qua quân xâm lược, hoặc có lẽ lực lượng bộ binh tại địa phương đã tham gia vào quân Pháp kể từ khi họ vượt qua sông Loire.

Ba Hiệp sỹ cấp cao của Pháp, Seigneur de Craon, Raoul de Coucy và Comte de Joigny, vẫn ở lại Chauvigny thêm một khoảng thời gian nữa với một số binh lính của họ. Sau đó, vào sáng thứ bảy, họ đã vượt qua con sông và theo sau lực lượng trung quân khoảng 15 kilomet (9 dặm). Trong khi đó nhà vua đi dọc theo con đường chính từ Chauvigily đến Poitiers, sự kiện này đã làm cho hậu đội bị tách ra khi hành quân trên những con đường nông thôn bên cạnh khu rừng cây ở phía nam của con đường chính. Thực tế thì khi đến đó lúc này họ mới biết được rằng lúc này Hoàng tử đen cũng tương tự đang ở phía nam của con đường từ Chauvigny đến Poitiers?

Về phần mình có vẻ không giống như là Hoàng tử đen đang cố gắng để đuổi kịp người Pháp và ép họ vào một trận chiến khi những lực lượng mở đường của họ tình cờ gặp nhau tại thái ấp La Chaboterie như sau đó ông ta đã tuyên bố như vậy. Những gì đã xảy ra dường như là: vào buổi tối khi ba vị lãnh chúa Pháp của Chauvigny thì quân đội Anglo-Gascon cũng rời ngôi làng nơi họ đã nghỉ ngơi. Quân trinh sát người Gascon được phái đi tìm người Pháp và như bình thường thì Froissart lại cung cấp những tài liệu màu sắc phong phú: Lực lượng trinh sát có số lượng khoảng 60 kị sỹ, tất cả đều có những con ngựa tốt trong điều kiện của họ, mặc dù chúng ( những con ngựa của họ) có vẻ mệt mỏi. Trong số đó có hai hiệp sĩ đến từ Hainault, Sir Eustace d’Aubrecirourt và Sir Jean de Ghislelles và có cơ hội đến gần với những khu rừng và những cây thạch nam … [ đi qua nơi người Pháp đã qua] ngay lập tức 3 hiệp sỹ Pháp và người của họ nhìn thấy những con ngựa của người Anh, họ biết ngay rằng đó là địch quân và đội mũ sắt lên đầu, phất những lá cờ lên và hạ thấp những ngọn thương xuống và thúc những con ngựa của họ. Sir Eustace d’Aubrecicourt và tùy tùng của ông-những người cưỡi những con ngựa chiến tốt nhất, thấy rằng họ bị rơi vào giữa một lực lượng địch quân lớn và họ chỉ có một nhúmngười khi so với đối phương, nên họ nghĩ rằng tốt nhất là không nên dừng lại mà tạo điều kiên cho họ ( quân Pháp ) truy đuổi, trong khi đội quân của Hoàng tử đen đang ở không xa. Nên họ quay ngựa và chạy theo bìa của rừng với quân Pháp đuổi sát sau lưng họ … Do đó rất khó để truy đuổi họ bởi vì họ ở quá xa về phía trước cho đến khi họ gặp lực lượng chính của Hoàng tử đen lúc này đang dừng lại dọc theo một khu rừng, ở giữa những cây thạch nam và bụi cây mâm xôi để chờ tin tức từ lực lượng trinh sát của mình. Có vẻ như quân Pháp đã rất ngạc nhiên khi thấy quân Anh vào lúc họ đang truy đuổi toán quân trinh sát của đối phương. Kết quả là phần lớn toán quân Pháp này đã bị giết hoặc bị bắt tù binh. Trong số những người bị bắt gồm có Raoul de Coucy, the Comte de Joigny, the Vicomte de Breuse, và the Seigneur de Chauvigny, từ những tù binh này mà Hoàng tử đen đã biết đươc vị trí của lực lượng chính của quân Pháp.

Theo Le Baker thì lực lượng của Hoàng tử đen đã có nhiều người thiệt mạng trong cuộc giao tranh này. Những người khác lại cố truy đuổi số binh sỹ Pháp còn lại về phía ngôi làng Savigny-Levescault, và trận chiến cũng làm gián đoạn đội hình hành quân của lực lượng Anglo-Gascon. Cuối cùng thì quân Anh-Gascons phải rút vào rừng để tập hợp lại. Hoàng tử đen đã ra lệnh rằng không một ai được di chuyển vượt lên trước các Thống chế của Anh. Họ cắm trại qua đêm và đi tìm kiếm nguồn nước một cách vô ích, có lẽ đó là nơi trong khu rừng Breuil l’Abbaye và rất gần với cánh đồng La Chaboterie, nơi vua John II đã trú lại vào đêm trước đó. Trong khi đó, cánh quân chính của Pháp cũng hạ trại và lập “đội hình chiến đấu” ở giữa Poitiers và Savigny-Lévescault nơi mà vị giám mục của Poitiers và cư dân của họ đang cư trú. Có lẽ họ đóng gần với đường La Mã cổ xưa và có thể họ đã lựa chọn vị trí này trước khi biết chính xác quân Anh ở nơi nào.

Có vẻ như là lúc này Liên quân Anh-Gascon đã ở rất gần bên cạnh quân Pháp và vì vậy dù đã cạn kiệt nguồn cung cấp nhưng nó (quân Anh-Gascon ) cũng không dám cố gắng di chuyển vượt qua đối thủ của họ. Một cuộc đối đầu lớn dường như là không thể tránh khỏi và việc trinh sát kém hiệu quả đã đặt Hoàng tử đen vào một tình huống chiến thuật tồi tệ hơn mà cha của ông đã phải đối mặt ở Crécy. Nhưng mặt khác các chỉ huy của ông đã cho chuyển người của họ đến một vị trí phòng thủ có khả năng rất tốt ở bìa của khu rừng Nouaille.

Kết quả của Trận chiến Poitiers hoặc Maupertius-như nó thường được biết đến ở Pháp, là một trong những trận đánh nổi tiếng nhất thời Trung cổ. Tuy nhiên vẫn còn tranh cãi về vị trí chính xác của nó. Maupertius có nghĩa là ” con đường xấu ” ngày nay người ta thường giả thiết rằng đó chính là trang trại hiện đại La Cardineric. Tuy nhiên có nhiều khả năng ” con đường xấu ” là nguồn gốc của một con đường nhỏ từ La Cardiucric đến khe cạn Gue de I’Homme (bây giờ là một cầu) vượt qua sông Miosson ở phía tây của làng Nouaille.

ĐÊM TRƯỚC TRẬN CHIẾN

Lúc mặt trời lặn vào sáng Chủ Nhật ngày 18 tháng 9, quân của Hoàng tử đen đã dỡ trại và chuyển xuống thung lũng của Miosson, rõ ràng là không bị trinh sát Pháp bám đuôi. Sử dụng một đường nông thôn nhỏ họ đi ngang qua Tu viện Nouaille như thể đang hướng tới Poitiers để đến con đường đi Bordeaux. Một số nhóm đi tìm cỏ ngựa dường như đã vượt qua Miosson để thu thập nguồn cung cấp thực phẩm từ tu viện Abbey ở Nouaille nơi có một cây cầu đơn giản hoặc một con đường đắp cao tạo nên một chỗ cạn vượt sông rất chắc chắn. Mặc dù không có nguồn tài liệu nào đề cập đến trinh sát của quân Pháp tại Nouaille, có vẻ như không thể tin được rằng họ không nên đóng trại ở đó. Theo những quan sát như vậy thì có lẽ họ ( người Pháp ) tin rằng Hoàng tử đen dự định đi dọc theo Miosson cho đến khi họ gặp được con sông Clain ở tại Saint Benoit. Đội kỵ binh trinh sát của Đại úy de Buch đang dẫn đầu đội hình hình cột của quân Anh-Gascon và ngay sau khi mặt trời lặn họ đã phát hiện ra đạo quân chính của Pháp đang hạ trại ở một khoảng phía bắc rừng Nouaillé. Sự kiện này cho rằng người của viên Đại úy đã vượt qua phía bắc của dòng sông Miosson, hoặc có lẽ họ đã vượt qua sông Miosson tại Nouaille.

Đội tiên phong của đội quân của Hoàng tử đen được chỉ huy bởi các Bá tước Warwick và Oxford và có lẽ cùng với Lord của Pommiers, cùng với một số quý tộc Gascon khác và bộ binh hạng nhẹ người Gascon. Hoàng tử chỉ huy cánh quân trung tâm, tiếp theo là hậu đội dưới sự chỉ huy của Bá tước Salisbury và có lẽ là cả Suffolk. Như bình thường, hành lý của họ được mang ở phía sau. Một lần nữa có vẻ như quân Pháp không chú ý đến điểm yếu này của đối phương, sau đó quân đội Anh-Gascon đột ngột rẽ về phía bắc, gần như chắc chắn là đã vượt qua lối cạn Gue de l’Homme. Warwick-người đang chỉ huy đội tiên phong, đã sớm cho người canh gác bảo vệ đoàn hành lý, và đề nghị với Hoàng tử đen rằng đơn vị của ông nên được triển khai đầu tiên trong khi các đơn vị khác vượt qua vị trí của ông ta để triển khai về phía bắc. Nhưng Geoffrey le Baker lại cho rằng đầu tiên đội quân của Hoàng tử đen vượt qua sông Miosson: Đội quân dưới sự chỉ huy của Hoàng tử đen đã phần tìm thấy một khe cạn hẹp và vượt sông với đoàn xe. Sau đó họ di chuyển ra khỏi thung lũng, vượt qua những hàng rào và những con mương và chiếm giữ các ngọn đồi, nấp sau những bụi cây thấp họ cố gắng giấu mình trong một vị trí mạnh mẽ và cao hơn so với kẻ thù.Như Chandos Herald đã viết: Chúng tôi những người ở phía hậu đội, lúc này lại ở cánh tiền quân. Nếu trường hợp là đúng thì sau đó có vẻ như khả năng là Hoàng tử đen dự kiến lại ​​rút lui về phía nam một lần nữa với Warwick trong đội quân tiên phong.

Có thể người Anh lo ngại bị tấn công khi họ đang hành quân dọc theo phía tây của khu rừng Nouaille và Hoàng tử đã bố trí các cung thủ ở bên cánh trái của ông. Chắc chắn là sau đó ông cũng xuống ngựa và nói chuyện với đám cung thủ mấy câu sau khi làm một bài phát biểu trước các kị binh. Các nguồn tài liệu bằng văn bản ít nhiều có đề cập đến lực lượng cung thủ tại thời điểm này và cho rằng họ đã đột nhiên trở nên khá quan trọng. Người ta cho là Hoàng tử đã nói: Ta biết rất rõ lòng can đảm và sự trung thành của các bạn vì trong những lúc cực kỳ hiểm nguy các bạn đã chứng tỏ được mình là những người can đảm dưới sự chỉ huy của người cha của tôi, ông của tôi, những vị vua của nước Anh, rằng không ai là không thể bị đánh bại, không nơi nào quá khó để có thể chiếm, không ngọn núi nào quá cao để có thể trèo lên, không có chiếc tháp nào quá mạnh để không thể chiếm, không có địch quân nào không thể đánh bại, không có có đội quân nào là quá vĩ đại… Sau đó ông ra lệnh cho họ phải đứng vững với hy vọng thu được những chiến lợi phẩm phong phú từ người Pháp.

Một giải thích từ những nguồn khác chỉ ra rằng đầu tiên Hoàng tử đen cho tạm ở dừng gần cuối phía nam của rừng cây nhưng ngay sau đó ông lại cho toàn quân di chuyển về phía bắc. Dù là cách này hay cách khác ông đã bố trí lực lượng của mình dọc theo các cạnh phía tây và phía bắc của khu rừng Nouaille, nơi họ được bảo vệ v bởi một hoặc rất nhiều hàng rào chạy song song với phần lớn con đường mòn. Vị trí trung tâm của quân Anglo-Gascon được định vị trên một cao nguyên thấp ở cuối phía bắc của khu rừng, trong khi doanh trại của quân Pháp đã ở ngoài tầm nhìn nếu quan sát trên đỉnh của một ngọn đồi thấp ở phía bắc.

Địa hình vùng này chỉ hơi mấp mô với những đồng cỏ, rừng cây và vườn nho nằm rải rác, chúng vốn thuộc về giáo hội và các công dân của Poitiers. Tuy nhiên, vùng đất rất gập ghềnh ở chính Nouaille không là điển hình ( của vùng này ) và tạo ra một vị trí tốt nhất, nếu không phải là vị trí chỉ thích hợp cho phòng thủ. Hơn nữa, mặt đất được lựa chọn bởi Hoàng tử xứ Wales có rào cản được tạo nên bởi các bụi nho, những loại cây nông nghiệp khác, rừng, đầm lầy và suối ở phía dưới một thung lũng tương đối dốc.

Báo cáo của các lính trinh sát trong đội của Đại úy de Butch nói rằng quân của nhà vua Pháp có 87 lá cờ ( hơn 2 vạn quân ), điều này cho thấy nó lớn hơn là trong thực tế. Doanh trại của quân Pháp dường như cũng trải ra đến hết độ rộng của vùng này. Theo Froissart toán quân trinh sát đã tấn công một số lính Pháp lạc ngũ và bắt một số tù binh và làm quân Pháp nâng cao tinh thần cảnh giác, mặc dù trong thực tế có lẽ Froissart đã nhầm lẫn cuộc trinh sát này với một cuộc tấn công vào ngày hôm sau.

Tuy nhiên Froissart và các nhà sử học khác đã cung cấp thông tin quan trọng về cách thức mà Hoàng tử đen của người của ông tăng cường vị trí vốn có khả năng phòng thủ một cách tự nhiên của mình. Theo Froissart: Người Anh hạ trại ở địa điểm tại vùng thôn quê vốn thuộc the Plains of Maupertius, họ đã tăng cường phòng thủ bằng những hàng rào dày đặc một cách rất tiểu xảo, và bốc dỡ tất cả các hành lý của họ về phía sau. Ở mặt trước họ đào rất nhiều những con mương nhỏ, để ngăn chặn bất kỳ cuộc tấn công bất ngờ nào của kị binh. Geoffrey le Baker nói rằng: Ông khảo sát hiện trường và thấy rằng một cạnh của vị trí của quân Anh có một ngọn đồi ở gần đó và nó được bao quanh bởi hàng rào táo gai nhọn và những con mương ở bên ngoài nhưng bên trong lại được dọn dẹp sạch sẽ, một phần của nó ( vẫn trận địa của Anh ) là đồng cỏ và bụi cây mâm xôi, một phần là những bụi nho và phần còn lại là những bụi diếp dai. Ông ( nhà sử học Geoffrey le Baker ) cho rằng quân Pháp đã cố gắng bố trí đội hình chiến đấu trong những cánh đồng này. Giữa những người của chúng tôi và quả đồi là một thung lũng rộng và một đầm lầy được tưới bởi một dòng suối. Le Baker cũng nói rằng phần cuối của một con mương hoặc một đoạn hàng rào đã kéo dài xuống tận đầm lầy “, rồi phần trên của đoạn hàng rào này cũng đi ngược lên dốc và rằng đội quân của Bá tước Salisbury đã đóng quân chỉ cách đó một quăng đá. Hơn nữa, ông cũng nói rằng có một khoảng trống trong hàng rào đủ rộng để xe ngựa có thể đi qua được trong mùa thu, có thể là để thu hoạch các vụ mùa, thu thập củi đốt cho mùa đông từ trong rừng. Một diễn giải khác có thể cũng theo nguồn này lại chỉ ra rằng có thể có đến hai khoảng trống đáng kể trong các hàng rào táo gai nhọn nổi tiếng.

Hơn nữa có thể là con kênh thường thường được nhắc đến vốn một phần có nguồn gốc tự nhiên và nằm trong thung lũng có độ dốc xuống sông Miosson một khe cạn khác được gọi là Gué de Russon. Có thể người Anh đã khơi rộng các con kênh, hoặc tất cả những con mương đang được đề cập đến này chỉ đơn giản là có liên quan đến hệ thống công sự dã chiến ở bên sườn phải của đội hình của quân Anglo-Gascon.

Ý kiến cho rằng người Pháp vẫn hoàn toàn không biết gì về sự hiện diện của quân Anglo-Gascon có vẻ khó tin cho, như sau này Herald Chandos đã viết: Họ đã cắm trại trong những khu vực rất gần nhau đến mức họ có thể tắm cho những con ngựa của họ trên cùng một dòng sông. Theo Froissart thì ông rất vào Lord James Audley: một con người khôn ngoan và dũng cảm và quân Anh đã bài bố trận cho trận chiến dưới sự cố vấn của ông. Vào thời gian bắt đầu trận chiến, theo Froissart: Hoàng tử cùng với phần chính của đội quân của mình đã ở giữa các vườn nho, tất cả đều xuống ngựa, nhưng những con ngựa của họ cũng được buộc ở gần đó để họ có thể nhảy lên ngựa không chậm trễ. Về chỗ yếu nhất dễ bị quân Pháp chọc thủng, họ đã đặt các toa xe của họ và biến chúng thành những công sự tăng cường để không thể bị tấn công từ góc này:

Theo lời của Geoffrey le Baker: Bá tước Warwick chỉ huy đội tiên phong, đóng từ chỗ dốc xuống đến bãi lầy. Rõ ràng là các cung thủ Anh đã đóng quân ở cả hai bên sườn mặc dù vẫn có những người khác có thể đã đứng dọc theo các hàng rào . Có thể là các cung thủ ở bên cánh trái nằm dưới sự chỉ huy của Bá tước Oxford và Bá tước Warwick chỉ huy những cung thủ khác ở cánh bên phải, bên cạnh đội quân của Hoàng tử đen. Hậu đội Anh nằm dưới sự chỉ huy của Bá tước Salisbury và Suffolk, lúc này lập đội hình ở cuối phía bắc và trong số họ có một số binh sỹ người Đức. Lỗ hổng đáng kể nhất của hàng rào cọc nhọn rõ ràng là ở trong chỗ này. Tại đây, vị trí cánh phải của quân Anglo-Gascon trở nên cởi mở hơn và độ dốc của mọi ngọn đồi cũng không quá cao để tạo ra quá nhiều sự bảo vệ từ địa hình tự nhiên. Có lẽ ở đây những toa xe khác đã được sử dụng như là một hệ thống công sự dã chiến trong khi hầu hết các hành lý đã được giấu bên trong rừng cây nơi rất khó cho người Pháp để chiếm được chúng.

Tổng quát lại cách bài binh bố trận cuối cùng của quân Anglo-Gascon, các Bá tước Warwick và Oxford chỉ huy cánh bên trái, nơi mặt đất dốc xuống con sông Miosson. Bá tước Salisbury có sự hỗ trợ của Bá tước Suffolk, chỉ huy cánh phải trong khi Hoàng tử đen chỉ huy cánh trung tâm. Một lực lượng dự bị nhỏ gồm các kị sỹ đã lên ngựa và 400 cung thủ vẫn ở lại phía sau. Lúc này đội quân của Hoàng tử đen đang ở trong một vị trí phòng thủ rất mạnh với rừng Nouaille ở ngay phía sau họ; phía trước họ được bảo vệ bởi những hàng rào từ cây táo gai, bụi cây mâm xôi và những hàng cây nho dày đặc. Cần lưu ý rằng những bụi cây mâm xôi được đề cập vẫn còn truyền lại đến ngày nay và mặc dù chúng chỉ cao có vài inch nhưng lại bao phủ một khu vực rộng lớn và làm cho người đi bộ – thậm chí không có vũ trang và không mặc giáp – cũng gặp khá nhiều khó khăn. Theo truyền thống thì các cung thủ Anh thường đóng quân ở các bên cánh. Ở bên cánh phải các con hào đã được đào để bảo vệ họ và ở bên cánh trái họ cũng được bảo vệ bởi con sông nhỏ Miosson và những đầm lầy của nó. Tuy nhiên Liên quân Anglo-Gascon vẫn đang run sợ, đói khát và bị thua kém về số lượng.

Có người nói rằng khi tin tức về sự hiện diện của quân Anh đến được tai của vua John II ông này đến gần tới Poitiers vào hôm thứ Bảy và rằng ông đã ra lệnh cho quân đội của mình di chuyển xung quanh và hạ trại và không quá muộn trong buổi chiều tất cả đã ổn thỏa. Vào buổi sáng hôm Chủ nhật, ngày 18 tháng Chín, John và các con trai của ông tham dự Thánh lễ tại khu lều của Hoàng gia. Sau đó nhà vua triệu tập những Quý tộc hàng đầu, các cố vấn và các chỉ huy của các đội quân. Tất cả ngay lập tức nhất trí rằng họ nên phất những lá cờ của mình lên và bố trí đội hình cho trận chiến. Tiếng kèn Trumpet đã vang lên, những kị sỹ được mặc giáp bởi những người hầu của họ, rồi leo lên những con ngựa chiến và tập hợp thành đội hình chiến đấu. Lá cờ thiêng liêng Oriflamme được giương cao bởi Geoffroi de Charny bay phất phới trên tất cả những lá cờ khác.

Các nỗ lực đàn phán hòa bình của Hồng y giáo chủ của Perigord

Trong khoảng thời gian hai bên chuẩn bị chiến đấu thì Đức Hồng Y của Périgord cưỡi ngựa đến từ Poitiers, nơi mà ông vừa rời đi vào buổi sáng hôm đó. Có thể người Pháp cũng đã nhận được một số quân tiếp viện có lẽ là bộ binh từ Poitiers trong buổi sáng hôm Chủ Nhật. Tại một thời điểm Hoàng tử đen đã đề nghị giao lại những thị trấn, lâu đài mà ông ta đã chiếm giữ, phóng thích những người bị bắt mà không đòi tiền chuộc cho sự tự do của họ và không cầm vũ khí để chống lại nhà vua Pháp trong vòng bảy năm. Như theo đề nghị này thì có dấu hiệu rõ ràng cho thấy rằng ông ta không muốn chiến đấu. Tuy nhiên, theo sử gia người Ý Matteo Villani, Hoàng tử cũng yêu cầu cưới Công chúa-con gái của vua Pháp với lãnh địa quận Enghien làm của hồi môn cho cô. Người Pháp đã bác bỏ những điều khoản này và thay vào đó John II đề xuất rằng Hoàng tử đen và 100 hiệp sĩ của ông phải đầu hàng, trong khi phần còn lại của quân Anh sẽ được phép về nhà. Cuối cùng Geoffroi de Charny đề xuất giải quyết vấn đề với một trận chiến của 100 nhà vô địch từ hai phía, nhưng Bá tước Warwich-người vốn chả có mấy tí lãng mạn đã phản đối quyết liệt ý tưởng này.

Trong khi Đức Hồng Y và đoàn tùy tùng của ông làm sứ mạng ngoại giao con thoi đi qua đi lại, đại diện của cả hai đội quân dường như đã gặp nhau ở những vị trí mà họ đều tôn trọng. Nhân một dịp trong lúc này Chandos bước ra đòi chiến đấu mặt đối mặt với Clermont. Theo Froissart cả hai đều có những gia huy giống nhau, một hình đức mẹ Virgin mầu xanh da trời, với những Tia nắng mặt trời ở phía bên trái chiếc khiên ( gia huy) thêu trên áo surcoats. Sự giống nhau này đã dẫn đến một cuộc cãi cọ, những lời buộc tội khi Lord Clermont nói “ Chandos, ngài đã lấy huy hiệu của tôi và mặc nó được bao lâu rồi “Chandos trả lời “ ngài mới là người lấy cắp huy hiệu của tôi – nó xứng đáng với tôi hơn với ngài ” Lord Clermont nói “Tôi phủ nhận điều này và không có ngừng bắn giữa chúng ta, tôi sẽ cho ngài thấy rằng ngài không có quyền mặc chúng” Chandos trả lời “Ha! ngài sẽ tìm thấy tôi vào ngày mai tại chỗ này, hãy chuẩn bị để tự bảo vệ và sẽ được chứng minh bằng sức mạnh của vũ khí về những gì mà tôi đã nói” Lord Clermont trả lời. “Đây là những lời khoác lác của các ngài, những người Anh-những người không thể phát minh ra cái gì mới, nhưng lại luôn lấy bất cứ thứ gì mà họ lại thấy thấy là đẹp mặc dù chúng thuộc về người khác” dù chỉ là một tình tiết nhỏ được sưu tầm bởi sử gia Froissart, tuy nhiên nó làm sáng tỏ thái độ và mối quan tâm của tầng lớp quý tộc Anh và Pháp.

Trong lúc Đức Hồng Y làm trung gian cho các đàn phán cho một cuộc ngừng bắn kéo dài đến một ngày, cả hai bên đều tranh thủ để hoàn sự chuẩn bị của họ và rồi cuối cùng những nỗ lực của ông ta ( Đức Hồng Y ) đã không thành công và người Pháp ra lệnh ông ta quay trở lại Poitiers. Cả hai bên đều đổ lỗi cho sự can thiệp của Đức Hồng Y, mặc dù Herald Chandos ( một sử gia ) phủ nhận rằng ông ta ( Đức Hồng Y ) đã thiên vị một bên nào đó. Tất nhiên đúng là như vậy, tuy nhiên sự thật thì mọi người trong đoàn tùy tùng của Đức Hồng Y và Froissart đã ghi lại: Trong đoàn tùy tùng đi theo Đức Hồng y có những hiệp sĩ và hộ sỹ dũng cảm-những người thiên về phe người Pháp hơn là ủng hộ Hoàng tử đen. Khi thấy một trận chiến là không thể tránh khỏi họ đã tách ra khỏi chủ nhân của mình và gia nhập vào quân đội Pháp và tự đặt mình dưới sự chỉ huy của Castellan d’Amposta, một chiến binh dũng cảm trong thời gian đó đang phục vụ trong đội vệ sỹ của Đức Hồng Y.

Có vẻ như lúc này người Pháp di chuyển trong đội hình chiến đấu để tiến tới vị trí xuất phát của họ vốn ở ngoài tầm nỏ ở phía tây của trận địa của quân Anglo-Gascon. Họ được bài bố thành ba đạo quân lớn, mỗi đạo lại được chia thành đội quân trung tâm và hai đội ở hai cánh. Charles-Dauphin chỉ huy đạo quân đầu tiên Lord Douglas, cho đến khi người Scotland nhập vào đội kị binh của Thống chế Audrehem. Vì lúc đó Thái tử Charles-Công tước Normandy vẫn còn là một thiếu niên thiếu kinh nghiệm chiến đấu, nhà vua đã bổ nhiệm những chiến binh kỳ cựu như Công tước de Bourbon, Seigneur của Saint Venant, Sir Jean de Landas và Sir Thibaud de Vaudenay ở bên cạnh chàng thiếu niên này (Thái tử Charles). Người cầm cờ hiệu của nhà Dauphin là Hiệp sỹ Tristan de Maignelay. Đạo binh thứ hai được chỉ huy bởi Công tước d’Orleans và Lui-người con trai trẻ ít tuổi hơn của nhà vua và tương tự sau đó vua John đã bổ nhiệm những người có kinh nghiệm để trợ giúp họ. Philip-người con trai út của nhà vua được ở bên cạnh cha mình trong đạo binh thứ ba vốn được chỉ huy bởi chính vua John.

Dường như sau khi người Pháp đã kết thúc việc bài binh bố trận trên sườn dốc của một ngọn đồi nhỏ ở phía tây của trận địa của người Anglo-Gascon thì vua John II đã cử Fustache de Ribbemont-một chỉ huy kỳ cựu của người Pháp-người đã cố gắng chiếm lại Calais trong năm 1351, để làm một cuộc trinh sát lần cuối cùng vào vị trí của liên quân Anglo-Gascon. Đi cùng với ông ta là những chiến binh giàu kinh nghiệm như Seigneurs Jean de Lanclas, Guichard de Beaujeu và Guichard d’Angle. De Ribbemont quay trở lại với một báo cáo mô tả chính xác về tiền tuyến của đối phương và sử gia Froissart cho rằng chính Eustache de Ribbemont là người đề xuất kế hoạch tấn công mà vua Pháp thực sự đã chấp nhận. Mặt khác có thể là Lord Douglas-người Scotland là người đầu tiên đề xuất việc các kị binh bỏ ngựa để tiến quân ( trong trường hợp này là hợp lý vì quân Anh đã chuẩn bị rất nhiều hào hố và hàng rào để bẫy ngựa ).

Rõ ràng người Pháp đang phải đối mặt với một loạt những vấn đề nghiêm trọng về mặt chiến thuật. Người Anh sẽ không tấn công trước ( mà dùng chiến thuật phòng ngự chặt, phản công nhanh ) và những kinh nghiệm từ trước đó cho rằng họ sẽ đóng lại ở vị trí của họ trong một thời gian dài đủ để rút lui trong danh dự.Tuy nhiên, nếu người Pháp tấn công, họ sẽ mất lợi thế duy nhất của họ đó là lợi thế về số lượng. Dường như là không thể bao quanh hoặc tấn công tạt sườn vào trận địa của Hoàng tử đen trong khi một cuộc tấn công trực tiếp sẽ phải được tiến hành ở một tiền tuyến rất hẹp, nhằm vào những khoảng trống đầy bụi nho và các hàng rào. Thống chế Clermont khuyên nhà vua rằng nên phong tỏa và bỏ đói đối phương dẫn đến kết quả là họ phải quy hàng, một số người đã cáo buộc rằng vị Thống chế này quá hèn nhát.

Triển khai quân đội

Bất chấp những khó khăn trên, vua John II quyết định rằng lúc này là thời gian để đánh một trận lớn, có lẽ ông đã không nhận ra rằng dự trữ hậu cần của đối phương đã xuống thấp như thế nào. Vì vậy, ông từ bỏ chiến thuật tấn công truyền thống của kỵ binh vốn đã thảm bại tại Crecv. Thay vào đó ông đã ra lệnh cho tất cả các kị sỹ đều phải bỏ ngựa trừ một đội kỵ binh tinh nhuệ gồm khoảng 500 kị sỹ thiết giáp-những người này có những con ngựa được thiết giáp và được lựa chọn bởi chính những vị Thống chế. Vai trò của họ có thể là để đánh tan các cung thủ Anh ngay ở lúc bắt đầu của trận chiến. Rất dễ gây nhầm lẫn khi Herald Chandos nói rằng số lượng 400 người được chọn có ngựa bọc thép được dẫn đầu bởi Guichard d’Angle và Eustache de Ribbemont những người mà nhà vua yêu cầu: không được chùng xuống, chú ý tấn công có hiệu quả để phá vỡ trận tuyến của đối phương. Có lẽ về mặt vật lý những hiệp sĩ đã dẫn đầu những cuộc tấn công trong khi Clermont và Audrehem nắm quyền chỉ huy, hoặc có lẽ D’Angle và De Ribbemont chỉ huy những kị sỹ có ngựa bọc thép này.

Những kị sỹ khác giống như lực lượng bộ binh đi ngựa, đã gửi ngựa của mình ở lại phía sau. Họ vẫn sẽ phải tấn công ngược lên phía trên, những người ở phía Nam của trận địa sẽ phải đối mặt với một sườn đồi khá dốc. Khi các kị sỹ Pháp chuẩn bị chiến đấu như bộ binh, họ phải cắt ngắn những cây thương của họ đi khoảng dưới hai mét (6fi 6 in.) và cởi bỏ đinh thúc ngựa. Nhà vua theo báo cáo được vũ trang với một chiến rìu chiến và cũng phải xuống khỏi con ngựa màu trắng của mình, ông mặc trang phục kiểu “ Áo giáp của Hoàng gia “ hoặc một loại áo choàng mà 19 hiệp sĩ khác cũng mặc để tránh việc ông trở thành một mục tiêu bị nhận biết quá dễ dàng.

Vị nguyên soái Clermont chỉ huy đội kị binh ở bên trái và được hỗ trợ bởi một số kị sỹ xuống ngựa dưới sự chỉ huy của Nguyên soái Gautier de Brienne. Hầu hết những binh sỹ đồng minh người Đức nằm dưới sự chỉ huy của Công tước Saarbruck, Nido và Nassau cũng dường như cũng tham gia tấn công ở sườn bên trái để hỗ trợ cho Thống chế Clermont Marshal. Thống chế Audrehem và Lord Douglas chỉ huy đội kị binh Pháp ở bên phải. Vai trò của đa số các tay nỏ Pháp là không rõ ràng, mặc dù vị trí sau này của họ cho thấy rằng họ khai hỏa để hỗ trợ cuộc tấn công của kỵ binh Pháp ở cánh phải, có lẽ hy vọng để bắn trả vào một số lớn các cung thủ có tăng cường ở cánh trái của người Anh.

Như Froissart đã nói: quân đội của Hoàng tử đen bày trận dù ít hay nhiều cũng giống như những gì mà vị hiệp sĩ Pháp đã báo cáo với nhà vua của họ, ngoại trừ có một điều rằng ông ta đã ra lệnh cho một toán hiệp sĩ khôn ngoan và dũng cảm tiếp tục ngồi lại trên lưng ngựa giữa các tiểu đoàn của mình, để đánh trả các tiểu đoàn của các Thống chế Pháp. Hơn nữa, sườn bên phải của họ được bố trí 300 quân và chừng đó cung thủ, tất cả đều có ngựa trên một ngọn đồi không cao cũng không rất dốc. Toán sau ( 300 cung kỵ ) lập nên một đội tấn công nằm dưới sự chỉ huy của Đại úy de Buch. Ngày chủ nhật quân đội Anh-Gascony tăng cường phòng thủ, có những lời xì xầm, trách cứ ngày càng loang rộng về quyết định lúc đầu của Hoàng tử đen về việc để lại phía sau quá nhiều người để phòng thủ xứ Gascony. Người Anh cũng không thể rời khỏi vị trí của họ mặc dù người và ngựa của họ có thể đến được con sông Miosson. Theo Chandos Herald, trong đêm trước khi trận chiến nổ ra đã có giao tranh và người Anh đã không được ngủ nhiều.

Những chuyển động ban đầu

Ngày lễ Thánh Mass sáng hôm sau trong quân đội Anglo-Gascon, nhiều người đã được phong tước hiệp sĩ trên cánh đồng này và Hoàng tử đen đã đưa ra mệnh lệnh cuối cùng. Không bắt giữ tù binh cho tới sau khi trận chiến đã kết thúc thắng lợi, nhưng nó không có nghĩa là tất cả địch quân đều bị tàn sát. Thay vào đó binh sỹ không thể chống lại sự cám dỗ để đi tìm kiếm những tù binh giàu có xứng đáng với những khoản tiền chuộc kếch xù.

Chandos Herald nói rằng: Eustace d’Aubrecicourt đã bị bắt tù binh trong khi đi trinh sát chiến trường cùng với Lord Curton. Một khả năng khác là cuộc đụng độ này diễn ra ở cuối phía bắc của chiến trường, nơi lực lượng kị binh dưới sự chỉ huy của D’Atibrecicourt có thể đã tạo ra một cuộc tấn công vu hồi trong khi phần còn lại của quân đội Acaglo-Gascon chuẩn bị rút lui. Toán quân của Nassau dường như đã bắt được một số tù binh vào lúc bắt đầu của trận chiến bao gồm cả Eustace d’Aubrecicourt, người đã tiến lại quá gần đoàn trở hành lý.

Theo quấn biên niên sử Anonimalle của Pháp.Trong hôm thứ hai ( ngày diễn ra trận chiến ) … Bá tước Warwirk vượt qua một con đường đắp cao hẹptrong đầm lầy…nhưng sức ép về việc phải bảo vệ các toa xe của quân Anh là rất lớn và con đường đắp cao lại quá hẹp nên chúng hầu như không thể vượt qua và vì thế chúng vẫn phải ở lại đó trong giờ đầu tiên của ánh sáng ban ngày. Và sau đó họ nhìn thấy đội tiên phong củaquân Pháp tiến về phía vị Hoàng tử…Và do đó, thực tế thì Warwick đã ở thế phải quay lưng lại với người của mình. Sự kiện này cho thấy đạo quân của Warwick đã không thể rút lui một cách suôn sẻ như theo kế hoạch. Nó cũng không giống như là quân Anh đang trá bại để dụ dỗ quân Pháp lao vào tấn công sớm.

Do sự mâu thuẫn trong các nguồn tài liệu này nên ta vẫn chưa thể rõ liệu tất cả hoặc phần lớn đoàn hành lý của người Anglo-Gascon đã vượt qua Miosson hay chưa và liệu họ có thể lại cố gắng để vượt sông vào lúc sau đó trong trận chiến hay không. Bất kể điều gì xảy ra thì cũng không thể phủ nhận được rằng Warwick đã thu hút đợt tấn công đầu tiên của quân Pháp. Gần như chắc chắn rằng một lực lượng đáng kể các cung thủ Anh được bố trí ở ngoài xa- bên cánh trái của trận địa của người Anh-Gascon sẽ che trở cho cuộc rút lui của Bá tước Warwick hoặc của các toa xe hành lý. Các cung thủ có thể đã đóng ở bên cạnh một đám bùn lầy phía trước ở chỗ trận địa của quân Anglo-Gascon cắt với con sông Miosson. Ngay khi kị binh Pháp dưới sự chỉ huy của Thống chế Audrehem tiến quân thì một phần hoặc toàn bộ đơn vị của Warwick phải đối mặt với mối đe dọa này. Lúc đó là khoảng 9:00 am. Trận đánh đã bắt đầu và cũng sẽ kết thúc, ngoại trừ trận truy kích và trận càn quét sẽ kéo dài đến giữa ngày.

Những di chuyển về cuối phía nam của trận địa của quân Anh-Gascon đã được báo cáo tới các chỉ huy người Pháp hoặc ít nhất là tới Thống chế Audrehem, người mà có lẽ những kị binh thiết giáp của ông được hỗ trợ bởi những tay nỏ. Audrehem đưa ra kết luận rằng đối phương của ông đang rút lui và thông báo với Thống chế Clemont, người mà đội kị binh thiết giáp của ông phải tấn công vào phía cuối Bắc của trận địa của quân Anh-Gascon. Không nhìn thấy bất cứ chuyển động nào trước mặt ông ta, Clemont nghi ngờ liệu có phải địch quân đang rút chạy không?. Tuy nhiên, Audrehem nhanh chóng chỉ huy đội kị binh của ông tấn công vào đơn vị của Wawirk cùng với Lord Douglas và có lẽ là được hỗ trợ bởi các tay nỏ, mặc dù dường như họ (các tay nỏ ) không thể tiến quá xa. Để tấn công, ban đầu quân Pháp phải phi ngựa xuống dưới đồi, sau đó lại phải phi ngựa ngược lên để lao vào trận địa của quân Pháp.

Chandos Herald đã viết lại từng từ mà ông thu thập lại từ những kị sỹ Pháp, những người đã tham gia vào các cuộc tấn công: Thống chế d’Audrehem nói: thực tế là tôi không đánh giá cao những vẫn đề của ngài, ta sẽ để vuột mất quân Anh nếu ta sẽ không tấn công họ ngay bây giờ. Còn Thống chế Clermont nói: người anh em đáng kính của tôi. Đừng có quá vội vã, chắc chắn là chúng ta sẽ đến đúng lúc, quân Anh không bỏ chạy đâu, họ chỉ di chuyển lòng vòng thôi. Cuối cùng đã nổ ra một cuộc cãi vã và những lời buộc tội về sự hèn nhát đã trở thành những yếu tố không thể tránh khỏi trong những cuộc bất đồng như vậy của các sỹ quan cao cấp trong giới quý tộc quân sự. Mặc dù Clermont không đồng ý với quyết định tấn công của Audrehem, ông cũng cho rằng đó là giới hạn cuối cùng và phát động tấn công vào cánh bên kia của quân Anh trong khi được hỗ trợ bởi các kị sỹ người Đức.

Các cuộc tấn công của kị binh của các Thống chế d’Audrehem và Clermonts

Lúc mà những cung thủ đã bảo vệ được cánh phải của Warwirk đóng ở đám lầy hoặc vùng đất lầy lội, cuộc tấn công bằng kị binh của Audrehem không thể chạm được vào họ và dường như họ lại phải nhắm vào phần chính của đơn vị của Warwirk vào lúc họ đang rút lui. Các cung thủ Anh bắn tên vào các kị sỹ đang xung phong nhưng những mũi tên của họ không xuyên thủng nổi áo giáp của các kị sỹ Pháp cũng như không xuyên qua nổi thiết giáp của những con ngựa của họ. Le Baker mô tả sự kém hiệu quả của loạt bắn cầu vồng đầu tiên: Đội kị binh … họ chỉ lộ phần phía trước làm mục tiêu cho các cung thủ, đó là những phần được bảo vệ rất tốt bởi các phiến giáp sắt và giáp gia, nên các mũi tên đã trúng vào hoặc là đi trượt sang bên, hoặc hướng lên trời, rơi cả vào quân ta lẫn quân địch hoặc gần như vậy.

Dường như những cung thủ này được chỉ huy bởi Bá tước Oxford, và dường như họ đã nhận được mệnh lệnh phải di chuyển một cách nhanh chóng về bên trái, sau hơn vào trong bãi bùn lầy. Cách này hay cách khác thì những cung thủ này đã tìm ra cách để bắn vào cạnh sườn của kị binh Pháp khi đám này phi ngựa vượt ngang qua trước mặt họ. Những dạng mới của giáp ngựa tuy khỏe hơn so với dạng giáp ngựa bằng chỉ sắt nhưng lại dễ dàng bị những mũi tên của các cây trường cung xuyên qua và chỉ có bảo vệ được đầu, cổ và phần thân phía trước của con vật. Khi phần sườn và phần mông vốn không được bảo vệ lộ ra, ngày càng nhiều và nhiều hơn nữa những con vật bị thương, hoảng loạn, ném chủ của chúng xuống đất, từ chối trước hoặc phi nước đại ra khỏi vùng này. Chắc chắn là đợt tấn công của đội kị binh của Thống chế Audrehem đã bị gián đoạn trước khi đến được vị trí của các kị sỹ đã xuống ngựa của Warwirk. Đợt tấn công này đã thất bại và quân Pháp bị tổn thất nghiêm trọng, Audrehem bị bắt sống. Froissart tuyên bố rằng chính Lord James Audley đã gây thương vong cho Thống chế Audrehem và rằng: Các tiểu đoàn của vị Thống chế đã ngay lập tức bị đánh tan tác bằng những cơn mưa tên của các cung thủ, và sự hỗ trợ của những kị sỹ, những người đang xông lên khi họ bị ngã ngựa và bị bắt tù binh và số lớn trong số họ bị tàn sát.. Lord Douglas đã bị thương và chỉ thoát bởi vì người đồng hành của ông đã kéo ông đến nơi an toàn. Những người sống sót khác có thể đã quay trở lại vị trí của vua John hoặc đến chiếc trại lúc đầu của quân Pháp.

Mặc dù không tin rằng đối phương đã thực sự lui quân, Thống chế Clermont cũng vấn theo gương của Audrehem và tấn công vào đơn vị của Bá tước Salisbury. Trong thực tế thì đội kị binh của Clermont tiến lên phía trước và tiến vào địa hình ít dốc hơn như đội của Audrehem và vẫn duy trì liên lạc với với đội ngũ hỗ trợ gồm những kị sỹ xuống ngựa dưới quyền chỉ huy của Gautier de Brienne. Cũng có thể cuộc tấn công này được phát động muộn hơn so với của Audrehem. Tuy nhiên người của Clermont vẫn phải phi ngựa tiến lên theo sườn dốc về phía khoảng trống hay những khoảng trống trong hàng rào của trận địa địch. Trước khi đội kị binh của Clernmont đến được hàng rào này thì đơn vị của Brienne đã bị suy yếu bởi những loạt tên trước khi bị chặn lại bởi những kị sỹ người Anh và Garcon. Geoffrey le Baker cung cấp những chi tiết đầy đủ: Không phải là các cung thủ đã thất bại trong khi thi hành nhiệm vụ của họ, mà từ một vị trí được bảo vệ an toàn bởi các kị sỹ, họ tấn công những người còn ở trên con mương và chưa đi đến được hàng rào, các mũi tên được nhắm mục tiêu để đánh bại những hiệp sĩ mang áo giáp, trong khi những tay nỏ của chúng ta ( quân Anh ) đang bắn nỏ với tốc độ cao và dữ dội. Đây là một trong những rất ít nguồn tài liệu đề cập đến các tay nỏ trong đội quân của Hoàng tử đen và dường như có thể họ là những người Gascon.

Froissart viết rằng: Tuy nhiên, có một số hiệp sĩ và hộ sỹ cưỡi ngựa rất giỏi, bằng sức của những con ngựa của họ, họ đã phi xuyên qua và phá vỡ được hàng rào phòng thủ. Bá tước Suffolk đến nơi đúng lúc với quân tiếp viện để hỗ trợ cho Salisbury và quân Pháp phải chịu tổn thất nặng nề trước khi bị buộc phải rút lui sau khi bị tràn ngập về mặt số lượng bởi quân Anh và Gascon. Cả hai chỉ huy Clermont và Brienne đã bị thiệt mạng và Froissart cũng cho rằng Clermont đã bị giết hơn là bị bắt tù binh: do cuộc cãi vã của ông trong ngày hôm trước với Sir John Channdos.

Cuộc tấn công của đạo quân nằm dưới sự chỉ huy của nhà Dauphin
Tuy nhiên, Chandos Herald cho thấy rằng trận chiến vẫn tiếp tục cho đến khi đơn vị của nhà Dauphin tham gia vào trận chiến: Các cuốn sách của Pháp và những tài liệu tương tự như vậy nói rằng Bá tước Salisbury và các tùy tùng của ông đã chiến đấu quyết liệt hơn cả những con sư tử, đã đánh bại những viên Thống chế Pháp và tất cả những con ngựa thiết giáp trước khi đội tiên phong có thể quay lại và tung ra một đợt tấn công nữa, họ ( đội kị sỹ dự bị của Anh ) đã vượt qua con sông [hoặc con suối], nhưng do ý của Chúa và của Thánh Peter tất cả bọn họ lại gia nhập với nhau và siết chặt đội ngũ rồi đổ ập xuống đạo quân của nhà Dauphin lúc này đang sắp sửa tiến đến hàng rào và họ với một sự kiên định khủng khiếp lao vào chiến đấu với kẻ thù. Tại đây hoặc ở cánh trái, các chỉ huy quân Anh đã phải ra lệnh cấm người họ rời vị trí của mình để lột quần áo của những người đã chết và bị thương nằm rải trên sườn đồi.

Đội kị sỹ xuống ngựa của nhà Dauphin tạo thành dòng đầu tiên của lực lượng chính của quân Pháp, họ tiến lên trước khi biết được số phận về các cuộc tấn công của các đội kỵ binh của những viên Thống chế và di chuyển để đối với với cánh trung tâm và cánh phải của thế trận của người Anglo-Gascon. Mặc dù được bọc thép tốt, nhưng tốc độ chậm chạp của các kị sỹ xuống ngựa người Pháp đã dẫn đến một số lượng lớn người của họ bị thương bởi các mũi tên của Anh. Hầu hết đã đến được hàng rào phòng thủ và đi xuyên qua những khoảng trống vốn có thể đã được mở rộng trong thời gian tấn công của Clermont, hoặc đã phá vỡ ra một khoảng trống mới và tấn công vào những kị sỹ Anh-Gascon ở phía sau.

Cũng có khả năng cuộc tấn công của Thái tử hơi bị gián đoạn bởi người và ngựa đang rút lui từ đơn vị đã bị đánh tan tác của Thống chế Clermont. Froissart đã nói rằng một số người trong đội quân của Dauphin đã phải kìm nén sự sợ hãi sau khi nhìn thấy thất bại của các vị Thống chế: Những người ở đội phía sau trong đội quân xuống ngựa của Nguyên soái Brientte-những người khôn thể tiếp tục tiến lên khi sự hỗ loạn bắt đầu, họ lui ngượng lại vào đơn vị của Công tước Normandy ( nhà Dauphin) vốn đã bị dồn ép rất sít vào với nhau ở phía trước, nhưng lại rất mỏng ở phía sau ( closely packed in front but wich quickly thined out behind ). Tuy nhiên, có thể rằng Froissart đã nhầm lẫn với đội quân của Công tước Orleans khi họ rút lui ra khỏi chiến trường.

Những nguồn tài liệu khác cho biết rằng cuộc chiến kéo dài khoảng hai giờ và Hoàng tử đen đã phải gửi quân tiếp viện đến để hỗ trợ cho Salisbury vốn đang ở dưới áp lực nặng nề. Công tước de Bourbon Đức được báo cáo là đã thiệt mạng và hiệp sỹ cầm cờ của riêng nhà Dauphin đã bị bắt tù binh, điều này chỉ ra rằng cuộc chém giết ác liệt chỉ cách nhà Dauphin không xa. Sự mất mát của lá cờ đã có tác động nghiêm trọng và phá vỡ sự gắn kết trong đội hình của nhà Dauphin.

Cuối cùng các cố vấn của vị Thái tử trẻ tuổi đã nhận ra rằng họ không thể tiến quân và vì vậy đã hét lên ra lệnh rút lui. Le Baker mô tả rõ ràng là đội quân của nhà Dauphin không hề bỏ chạy mà còn vẫn duy trì việc rút lui trong trật tự. Tuy nhiên, thất bại của đạo quân này có thể đã thuyết phục với vua John II là không thể thắng cuộc chiến này. Do đó ông đã ra lệnh cho nhà Dauphin và có lẽ cả cho Công tước d’Orléans-người con trai khác của ông trong đạo quân thứ hai phải rời khỏi chiến trường vì ông không muốn họ gặp phải rủi ro bị bắt làm tù binh.

Một khi đội quân của Thái tử bị đánh bại bởi kẻ thù, ông này đã được vội vã đưa ra khỏi chiến trường bởi những người bảo vệ mình. Maurice Berkeley-một hiệp sĩ Anh không thể chống lại cám dỗ và lao theo truy đuổi quân Pháp và đã bị đánh bại rồi bị bắt tù binh trong thời gian này, mặc dù trong ghi chép của Froissart thì Berkeley bị bắt vào lúc cuối trận chiến (xem bên dưới). Trong khi đó theo Geoffrey le Baker, quân Anh-Gascon mang những người bị thương ( thương binh Anh ) vào trong trại của họ và đặt họ dưới các bụi cây và hàng rào bên ngoài lối đi; những người khác cầm lấy vũ khí của họ, nhặt lấy những ngọn giáo và những thanh kiếm của những người không qua khỏi; và các cung thủ, những người đã cạn tên đã phải ra chúng từ ra từ xác của những người đã chết hoặc đang ngắc ngoải…

Những lý do cho những gì xảy ra tiếp theo là không rõ ràng. Hầu hết đạo quân thứ 2 của người Pháp, vốn được sử dùng để khai thác bất cứ sự nao núng nào của người Anh, lúc. Này đã rút chạy khỏi chiến trường. Công tước d’Orleans, nhìn thấy nhà Dauphin chiến trường và có thể có suy nghĩ rằng đó là một cuộc rút toàn bộ và vì vậy ông đã cho đạo quân riêng của mình rút lui ra khỏi chiến trường, mang theo hai con trai của vua John-các Bá tước Anjou và Poitiers (Công tước d’Orleans là con trai thứ 5 của vua Philip VI, em trai của vua John II ). Đây là điều mà dường như nhà vua không dự định làm, mặc dù những tuyên bố chính thức sau cuộc chiến là như vậy. Chắc chắn không ai tin là như vậy. Có lẽ đó là một sự hiểu lầm, do đạo quân của Công tước d’ Orleans đang chuyển tới với mục đích hỗ trợ cho đạo quân của Dauphin. Hoặc có lẽ là cuộc rút lui của hai vị Hoàng tử và các tùy tùng của họ đã suy yếu tinh thần chiến đấu của phần còn lại trong đạo quân của Công tước d’Orleans. Có lẽ nhà vua đã ra lệnh cho Công tước d’Orleans rút lui, nhưng bản thân ông ta ( vị Công tước ) phải ở lại để điều khiển cuộc rút lui của họ.

Trên thực tế thì rất nhiều người trong đội quân của Công tước d’Orleans đã không bỏ chạy. Ví dụ: các Hiệp sỹ Guiscard d’Angle và Jean de Saintre, những người đã đứng bên cạnh Công tước d’Orleans, đã quay trở lại tham gia vào cuộc chiến. Một số người đứng gần nhất bên cạnh nhà Dauphin cũng quay trở lại để chiến đấu sau khi hộ tống con trai cả nhà vua đến nơi an toàn: Khi Lord Jean de Landas và Lord Thibaud de Vaudenay, những người cùng với Lord Saint-Venant là những người giám hộ của Công tước Normandy [ nhà Dauphin], họ bỏ chạy cùng với ông này [ nhà Dauphin] đến một chỗ xa chiến trường khoảng 3 dặm, họ đã để ông [ nhà Dauphin] ở lại và cầu khẩn Lord Saint-Versant ( ông này muốn quay trở lại chiến trường ngay lập tức ) đừng bỏ Thái tử ở lại cho đến khi tất cả bọn họ đến được một địa điểm an toàn, cho bằng cách làm như vậy họ sẽ giữ được danh dự hơn nếu họ ở lại trên chiến trường. Lúc quay trở lại họ đã gặp đạo quân của Công tước xứ Orleans, tất cả khá toàn và không ai bị thương nghiêm trọng. Sự thật là có nhiều hiệp sĩ và hộ sỹ tốt trong số đó, những người đã không chịu bỏ chạy cùng với các chỉ huy của họ, họ thà phải chịu chết còn hơn phải chịu đựng những lời xỉ nhục dù là nhỏ nhất. Theo Froissart, những người tiếp tục ở lại nằm trong ba đơn vị của Nguyên soái Gautier de, các vị Bá tước người Đức Saarhruck, Nassau và Nido, tương tự là vua John, cuối cùng thì ba vị quý tộc người Đức đã thiệt mạng.

Không có gì đáng ngạc nhiên khi Hoàng tử đen đã phải rất khó khăn mới giữ được người của mình lại và không cho họ truy kích đạo quân của Công tước d’Orleans khi dường như người Pháp đang tiến hành triệt thoái trên quy mô lớn. Thay vào đó là một thời gian nghỉ ngơi ngắn và Hoàng tử đen ra lệnh cho những kị sỹ-những người chưa tham chiến phải sẵn sàng lên ngựa để sẵn sàng phát động một cuộc phản công. Theo Froissart: họ tập hợp lại thành một đội quân và bắt đầu la lớn để làm mất tinh thần của đối phương “Saint George! Gayenne”. Sir John Chardos kể lại những gì Hoàng tử đen đã nói trong khi tưởng nhớ về ông ta ( Hoàng tử đen chết trẻ, chỉ thọ dưới 40 tuổi)” Các ngài, hãy phi ngựa về phía trước, hôm nay là ngày của các bạn, hôm nay Chúa đứng về phía các bạn. Chúng ta hãy lao thẳng tới chỗ của vua Pháp-kẻ thù của chúng ta và lúc đó trận đánh sẽ được định đoạt. Tôi chắc chắn một điều rằng danh dự của ông ta không cho phép ông ta bỏ chạy.”

Cuộc tấn công của vua John

Những gì Chandos kể là đúng sự thật. Đạo quân duy nhất của Pháp còn trụ lại trên chiến trường lúc đó là đạo quân của nhà vua John II. Theo lờiLeBaker thì: vua John lúc này tuyên bố: Tiến lên phía trước … để ta có thể đòi lại ngày hôm nay, hoặc là bị bắt làm tù binh hoặc bị giết. Vua John tiến về hướng đội quân của Hoàng tử đen, có lẽ ông nhận dạng qua lá cờ của vị Hoàng tử này. Tài liệu của Froissart ghi lại một cách khá khó hiểu về giai đoạn này với Gautier de Brienne và Công tước de Bourbon đi cùng với đạo quân của nhà vua thay vì đã bị giết chết trước đó: Cạnh ông là Công tướccủa Athens-Nguyên soái của nước Pháp đi cùng với đạo quân này và cao hơn một chút là Công tước de Bourbon, được bao quanh bởi những hiệp sĩ tài giỏi đến từ xú Bourbonnais và xứ Picardy; gần với họ là những người của Poitou, Lord của Pons, Lord của Parthenay và rất nhiều người nữa. Ở những chỗ khác là các Bá tước của Vantadour và Montpensier; Lord Jacques de Bourbon,Lord Jeane d’Artois và Lord Jacques-người anhem trai của ông: có rấtnhiều hiệp sĩ và quý tộc đến từ Auvergne, từ Limousin,và Picardy. Dường như là tùy tùng của vị Nguyên soái thì đứng ở bên phải của trận địa của quân Pháp còn người Đức ( chiến đấu cho vua Pháp) thì đứng ở bên trái. Các xạ thủ bắn nỏ dẫn đầu ở cánh phải có thể cũng đã di chuyển để bảo vệ mặt trước của đạo quân của nhà vua sau khi đạo quân của Công tước d’Orlcans rời bỏ chiến trường. Rất rõ ràng là họ (các xạ thủ bắn nỏ ) với những chiếc lá chắn pavesier của họ trên tay hoặc với những người mang lá chắn (với các xạ thủ bắn nỏ thì thường phải có một người mang nỏ và một người mang lá chắn vì quá trình nạp tên khá lâu và phải khom lưng nên khó mà tự mang tấm lá chắn ) lúc này cùng tiến về phía trước với thành phần chính là những kị sỹ đã xuống ngựa.

Đạo quân của vua Pháp bao gồm những tinh hoa trong quân đội của ông và rất sung sức, mặc dù lúc này họ ít hơn đối phương một cách đáng kể. Trong thực tế, sự xuất hiện của đạo quân Pháp mới tinh này gây nhiều thất vọng trong các tuyến quân Anglo- Gascon vốn đã kiệt sức. Chandos Herald cho rằng ngay cả Hoàng tử đen cũng sửng sốt trước sự tiến binh bất ngờ của cánh quân của vua Pháp: Ông ta nhìn quanh và thấy rất nhiều người đã rời đi để truy đuổi quân Pháp ( các cánh quân khác), thực sự thì tại thời điểm đó họ đã nghĩ rằng họ đã hoàn thành nhiệm vụ, nhưng lúc này trận chiến lại chở nên nghiêm trọng vì nhà vua Pháp đang tiến đến, mang theo một đội quân lớn làm cho mọi người đều choáng váng.

Ngay sau đó quân bắn nỏ của Pháp ngay lập tức khai hỏa bắn qua lại với với các cung thủ Anh. Phần lớn các cung thủ Anh tham chiến trong giai đoạn này đóng quân ở cánh phía Bắc của trận địa của quân Anglo-Gascon, nhưng các loạt bắn của họ chỉ có những tác động nhỏ, một phần bởi vì họ đã bắt đầu cạn tên, một phần vì người Pháp đã mang những tấm lá chắn pavesier và một phần vì những bộ áogiáp của họ. Le Baker cũng lưu ý rằng vị Bá tước Suffolk vốn rất giàu kinh nghiệm đã: Chạy tới từng toán cung thủ và khuyến khích họ, thúc giục từng cá nhân và nhìn thấy rằng những người trẻ tuổi, nhiệt tình không còn tiến lên theo mệnh lệnh và các cung thủ không còn muốn lãng phí những mũi tên của họ. Le Baker đã ghi chép lại những xung đột đầy kịch tính: Sau đó, nguy cơ về sự đe dọa của đám đông đặc những tay nỏ bắn tên đen cả trời và các tay cung thủ đáp trả bằng những trận tên như mưa từ phe Anh-những người lúc này đang ở trong tình trạng cực kỳ điên khùng vì tuyệt vọng . Những ngọn lao bay như mưa qua không khí để đón chào địch quân từ khoảng cách xa và các toán quân Pháp dày đặc tự bảo vệ người của họ bằng những tấm lá chắn xếp xen kẽ với nhau và quay mặt ra khỏi hướng bắn của những mũi tên. Đoạn tả về những cây lao có thể là để làm tăng độ lãng mạn, dù nhiều khả năng rằng lực lượng bộ binh hạng nhẹ người Gascon đang tham chiến trong liên quân Anh-Gascon. Từ lúc không có bằng chứng nào cho thấy các tay nỏ Pháp đã tham gia vào trận đánh sau khi trận chiến, có thể họ đã di chuyển sang một phía để cho phép các kị sỹ của nhà vua tiến lên và tìm cách đối phó với kẻ thù. Thực tế thì quân Pháp tiến được gần đến vị trí của Anglo-Gascon mà hầu như không bị tổn thương.

Trong khi đó, Hoàng tử đen đã đi một nước bài xuất sắc bằng cách cử lực lượng dự trữ người Gascon do Đại úy de Butch chỉ huy vào một đợt di chuyển trên diện rộng từ bên cánh. Họ phải vào được vị trí trước khi đội quân của vua Pháp đến được vị trí của Hoàng tử đen và Le Baker nói rằng việc Đại úy khởi hành đã làm một số trong những người Anglo-Gascon nghĩ sai rằng ông đã bỏ chạy. Trong thực tế, viên Đại úy đã dẫn 60 kị sỹ và 100 tay nỏ cưỡi ngựa người Gascon phi ngựa qua chỗ cắm trại ban đầu của quân Pháp. Sự di chuyển của họ vẫn nằm ngoài tầm quan sát của người Pháp cho đến khi họ xuất hiện ở trên một chiếc gò nhỏ phía sau bên cánh trái của đội quân của vua John. Các ngọn đồi gần đó, nơi mà Đại úy de Butch tiến hành đợt tấn công thọc sườn trong nhiều năm sau đó được gọi là La Masse des Aiglais. Như le Baker miêu tả : Từ đó ông đã lao lên đến chiến trường bằng con đường vốn đang bị chiếm bởi người Pháp và đột ngột xuất hiện, báo hiệu sự hiện diện của mình tới người của chúng ta ( người Anh) bằng một lá cờ thánh St. George cao quý.

Khi quan sát thấy tín hiệu của viên Đại úy, Hoàn tử đen đã ra lệnh cho Sir James Audley tấn công bằng những kị sỹ cưỡi ngựa, Audley đã đặc biệt yêu cầu xin được tiến hành nhiệm vụ này. Họ tấn công vào đội quân của vua Pháp trước khi viên Đại úy cũng làm vậy và dường như ông ta tấn công vào người của vị Nguyên soái Pháp. Từ lúc này có lẽ sườn phía nam của quân Pháp đã xuất hiện thêm lợi thế ( cho quân Anh) vì họ ( quân Pháp ) chuyển hướng sự chú ý vào toán quân của Đại úy de Buch. Lúc này Hoàng Tử chuyển sự chú ý của ông vào các toán quân người Đức-có thể là ở bên trái của đội hình của người Pháp. Tại đây người Đức đã bị buộc phải bỏ chạy và cố gắng giữ mình ở ngoài tầm bắn của người Anh. Tuy nhiên các cung thủ bắn hạ rất nhiều người Đức. Vì quân Đức đã bỏ chạy nên Sir Eustace d’Aubrecicourt cũng được giải cứu bởi người ông lúc này đang nằm dưới sự chỉ huy của Sir Jean de Ghistelles, khi biết rằng chỉ huy của họ đã bị bắt bởi quân Đức.

Hoàn tử đen ra lệnh cho Walter Woodland-hiệp sỹ cầm cờ của ông truyền tín hiệu cho một cuộc đại tấn công của bộ binh sau khi những mũi tên cuối cùng đã được bắn đi. Vì vậy, các cung thủ Anh vốn không có áo giáp đã ném các cây cung của họ đi và tham gia vào trận đánh tay đôi. Như Le Baker đã nói: được vũ trang bằng những thanh kiếm và lá chắn, họ tấn công vào đối phương vốn được thiết giáp tốt hơn nhiều với tinh thần quyết cao, không nề hà tới cái chết bởi vì họ nghĩ rằng ngày hôm đó là ngày cuối của họ. Trong khi đó ở cuối phía nam của đội hình của quân Anh-Gascon, dường như Bá tước Warwick lại được tăng cường bởi những người đã tách ra để truy đuổi đối phương đã bỏ chạy. Cánh trái của quân Anglo- Gascon lúc này di chuyển về phía Bắc để hỗ trợ cho Hoàng tử đen.

Quân Pháp bị tàn sát

Khi Đại úy de Buch đánh thọc vào phía sau đạo quân của vua John thì đội hình của quân Pháp ngay lập tức bị sụp đổ. Lord Douglas vốn đã bị thương nhận ra rằng cuộc chiến đã thất bại và theo như Froissart nói, ông tự cứu lấy mình nhanh như có thể, vì sợ rằng sẽ bị bắt bởi người Anh, thậm chí ông còn sợ điều này hơn cái chết ( lúc đó người Anh và Scotland còn thâm thù nhau hơn mối thù giữa người Pháp và người Anh). Khi Hoàng tử đen và người của mình ra sức chém chặt để mở đường qua đội hình quân Pháp vốn đã bị vỡ vụn, Hoàng tử đi ngang qua Robert de Duras-cháu trai của Đức Hồng Y Talleyrand của Perigord, lúc này nằm chết gần một bụi cây ở bên phải của ông ta với chiếc cờ của mình ở bên cạnh cùng với mười hay mười hai người tùy tùng, như Froissait ghi lại. Ông ra lệnh cho hai trong số những viên hộ sỹ của ông và ba cung thủ đặt cái xác của viên hiệp sỹ này lên một tấm lá chắn và mang nó đến Poitiers và mang đến chỗ vị Hồng y của Perigord và nói rằng, “ I salute him by that token”. Việc này được thi hành bởi vì ông ta đã được thông báo rằng đội tùy tùng của Đức Hồng y đã ở lại trên chiến trường và cầm vũ khí để chống lại ông, đó là một hành động không thích hợp với người của Nhà thờ.

Đạo quân bị đè bẹp về số lượng và tuyệt vọng của vua John lúc này bị đẩy về phía Nam hướng tới một khu vực mở được gọi là Champ d’Alcaandre vốn bị bao gần như kín mít bởi vòng lặp của sông Miosson. Khi họ lui trở lại, các cung thủ của Bá tước Warwick lại tấn công họ và phá nát những gì còn lại của đội hình của quân Pháp. Thậm chí có thể các cung thủ vẫn đứng trong đầm lầy và bắn vào quân Pháp đang rút lui ở phía bên kia.

Chắc chắn người Pháp đã nhanh chóng bị chia tách ra thành các nhóm nhỏ và bị bao quanh bởi quân Anh và Gascons. Mô tả của Geoffrey Le Baker về vụ thảm sát sau đó là có hình ảnh sống động nhất trong lịch sử chiến tranh thời trung cổ.

Khi lá cờ thiêng liêng Oriflamnie rơi xuống từ tay của Geoffroi de Charny lúc này đã chết, thì sự kháng cự đã sụp đổ. Chỉ có những người ở rìa ngoài của trận chiến mới có cơ hội trốn thoát trong khi vua John và Hoàng tử Philip chiến đấu với một nhóm những người sống sót đang ngày một thưa thớt đi cho đến khi họ bị tràn ngập. Tài liệu của Froissart về việc bắt giữ nhà vua Pháp rõ ràng đã dựa trên những hồi ức của những người đã ở đó: Lúc này không có nhiều người thể hiện sự háo hức để bắt sống được nhà vua và những người gần nhất với ông ta và biết mặt nhà vua đã kêu lên, “đầu hàng đi, hãy đầu hàng đi hoặc ông sẽ là một người chết ! ” ở gần đó một hiệp sĩ trẻ tuổi đến từ St Omer; tham gia phục vụ cho vua nước Anh, tên của Denis de Morbeke. Trong ba năm ông này đã phục vụ nhiệt tình cho người Anh để trả đũa cho việc bị trục xuất khỏi nước Pháp vào lúc ông còn ít tuổi hơn vì một vụ giết người trong khi ẩu đả tại St Omer: Lúc này may mắn là vị hiệp sĩ đã nhận ra nhà vua … và nói rõ bằng tiếng Pháp ” Sire, đầu hàng đi ” Nhà vua, người thấy mình đang ở trạng thái khó chịu liền quay sang hỏi anh ta “ ta phải đầu hàng trước ai đây? Người anh em họ của ta ở đâu rồi, Hoàng tử đen ở đâu? Nếu ta được gặp ông ta, ta sẽ nói chuyện với ông ấy” Sir Denis trả lời “ Ông ta không có ở đây, nhưng đầu hàng tôi, và tôi sẽ dẫn ngài đến chỗ của ông ta. ”Anh là ai ?” nhà vua hỏi “Thưa ngài, tôi là Denis de Morbeke, là một hiệp sĩ đến từ Artois, nhưng tôi phục vụ nhà vua của nước Anh vì không thể thuộc về nước Pháp, tôi bị tước hết tât cả các sở hữu ở đó. khi đó nhà vua đã trao cho ông ta chiếc găng tay phải của mình và nói “ Tôi đầu hàng trước ngài”

Truy đuổi và đòi tiền chuộc

Các binh sĩ Pháp đã kiệt sức đầu hàng từng cá nhân, họ chỉ ra các biểu tượng ở áo giáp hoặc quần áo như biểu hiện của những kẻ đã đầu hàn. Người Pháp phải đi tìm người để đầu hàng bởi vì trong một trận chiến thời Trung Cổ, những người bắt tù binh có trách nhiệm bảo vệ an toàn cho tù binh của anh ta. Một người đã đầu hàng trong danh dự sẽ không được tìm cách tẩu thoát, mà thay vào đó phải trở nên hữu ích cho kẻ bắt được mình. Tuy nhiên, quy ước văn minh này đã không luôn luôn cũng vận hành như dự định. Nhiều năm sau, Bá tước Dammartin, người đã chiến đấu trong đạo quân của nhà vua, nhớ lại rằng đầu tiên ông đã bị bắt bởi một tay Hộ sỹ người Gascon tại trận Poitiers: “Anh ta kêu gọi tôi đầu hàng và tôi đã làm như vậy ngay lập tức. Tôi nói rằng anh ta phải bảo vệ tôi. Anh ta nói rằng tôi đã khá an toàn và không cần phải sợ hãi. Sau đó anh ta buộc tôi phải cởi chiếc mũ bascinet ( một kiểu mũ sắt thịnh hành thời đó ) của mình. Khi tôi cầu xin anh ta đừng tháo nó ra, anh ta trả lời rằng không thể bảo vệ được tôi trừ khi anh ta lấy được nó. Vì vậy, anh ta đã lấy nó và lấy luôn cả găng tay sắt của tôi, một người người khác đi đến và cắt đứt dây đeo gươm của tôi nên nó rơi xuống đất. Tôi đã nói với viên hộ sỹ này là hãy thu thanh kiếm của tôi, tôi muốn chính anh ta có nó chứ không phải bất cứ ai khác … sau đó anh ta giúp tôi trèo lên con ngựa của mình và bàn giao tôi giao cho một người của anh ta và sau đó anh ta bỏ đi , rồi lại một tay Gascon khác đến và yêu cầu lời thề của tôi. Tôi trả lời rằng tôi đã là một tù nhân. Vì vậy, anh ta lấy chiếc huy hiệu trên áo choàng của tôi và sau đó lại bỏ rơi tôi như người trước đó. Tôi la lên đằng sau anh ta rằng sau khi anh ta bỏ mặc tôi Tôi có quyền cam kết đầu hàng với bất cứ ai gặp tôi và sẵn sàng để bảo vệ tôi”. “ Hãy tự bảo vệ mình nếu anh có thể “ anh ta hét trở lại. ‘Sau đó một người dưới quyền chỉ huy của Sir John Blaunkminster xuất hiện và yêu cầu tôi đầu hàng. Tôi trả lời rằng tôi đã bị bắt bởi hai người, nhưng tôi vẫn yêu cầu anh ta bảo vệ tôi. Người này đã ở lại bảo vệ tôi và cuối cùng đưa tôi đến chỗ của Bá tước Salisbury”.

Đầu hàng không nhất thiết là được đảm bảo an toàn. Hoàng tử đen cực kỳ tức giận với Castellan d’Aniposta, người đã từng ở trong đoàn tùy tùng của Đức Hồng Y trước khi trận đánh bắt đầu và rằng ông muốn cắt đầu của ông này. May mắn thay Chandos đã thuyết phục được Hoàng tử không làm như vậy.Hầu hết những người Pháp tách ra khỏi đám hỗn loạn đã bỏ chạy về phía Poitiers, kỵ binh Anh đã truy kích đến cổng của thành phố. Phần lớn số này đã bị giết chết bởi vì dường như chỉ có một vài người trong số này lấy lại được ngựa của họ. Froissart ghi lại cuộc phiêu lưu của một hiệp sĩ người Pháp-người đã trốn thoát. Sir Edward de Roucy, không muốn rơi vào tay của người Anh nên ông này đã chạy ra khỏi bãi chiến trường, khi ông bị truy đuổi bởi một hiệp sĩ người Anh với phần còn lại của ngọn giáo của anh ta trên tay, người này gọi to ” Này ngài hiệp sĩ, hãy quay lại, ngài không nên bỏ chạy một cách đáng xấu hổ như vậy! ” Sir Edward dừng lại và người Anh tấn công ông ta với ý nghĩ rằng sẽ đưa ngọn thương của mình đâm đúng mục tiêu. Nhưng ông này lại không thành công, bất ngờ quay ngoặt sang một bên và ngọn thương của ông đâm như búa bổ trúng vào mũ sắt của đối thủ của ông làm cho anh chàng kia choáng váng và ngã rơi xuống đất, nơi anh ta nằm bất tỉnh. Sau đó Sir Edward đã bắt tay hiệp sĩ Anh làm tù binh khi ông ta (Sir Edward ) đang chạy trốn và thu được một khoản tiền chuộc lớn từ anh chàng này. Rõ ràng là Froissart là bị thu hút bởi sự thành công của những người đã trốn thoát khỏi thảm họa: Sự kiện này xảy ra ở giữa thời gian của cuộc truy đuổi, có một tay Hộ sỹ đến từ Picardy có tên là Jean de Helennes, đã bỏ chạy từ đạo quân của nhà vua và được tay kiếm đồng của ông đưa cho một con ngựa còn sung sức, ông này nhảy lên ngựa và phi nhanh như có thể. Đang phi ngựa ở gần ông ta tại thời điểm đó là Lord Berkeley-một Hiệp sỹ trẻ tuổi người Anh mới tham chiến lần đầu tiên trong ngày hôm đó và anh ta ngay lập tức truy đuổi ông này (Jean de Helennes ). Khi Lord Berkeley truy đuổi được một khoảng thời gian thì Jean de Helennes quay ngựa trở lại rút thanh kiếm ra và nắm chặt trong tay và phi ngựa về phía đối thủ của mình. Trong chiến đấu sau đó Berkeley đã bị thương bởi một nhát kiếm đâm vào đùi. Mang tù binh đến Châtellerault nơi vết thương của anh chàng kia được điều trị, sau đó Berkeley đến nhà của tay Hộ sỹ ở Picardy. Một năm sau, vị Lord trẻ tuổi được chuộc với một khoản tiền đủ để cho phép De Helennes trở thành một hiệp sĩ.

Những người Pháp có được may mắn như vậy chỉ là thiểu số. Bên ngoài Poitiers những kẻ đào tẩu thấy các cánh cổng đã bị đóng lại đối với họ bởi những người dân của thành phố-những người sợ rằng người Anh sẽ đột nhập vào thành phố của họ. Kết quả là phần lớn số này đã bị thảm sát. Dường như là quân Anh-Gascon không quan tấm đến việc bắt tù binh trong dịp này, điều này cho thấy rằng hầu hết được các hiệp sĩ và hộ sỹ không có giá để đòi tiền chộc và có lẽ phần còn lại lực lượng bộ binh Pháp cũng vậy.

Quay lại trở lại chiến trường Hoàng tử đen đã bị thuyết phục bởi Sir John Chandos và cho cắm cờ hiệu của mình ở một bụi cây lớn, nơi sẽ trở thành một điểm tập hợp quân đội của Hoàng tử đen vốn lúc này đã bị phân tán. Kèn Trumpet đã được thổi lên để kêu gọi những người lính và một chiếc lều nhỏ màu đỏ thẫm được dựng lên cho Hoàng tử đen. Trong khi đó những binh sỹ người Anh và Gascon khác đã kéo vua John II ra khỏi tay của Denis de Morbeke. Trong thực tế thì vua Pháp đã bị lôi đi khi những người khác đang cãi nhau với anh ta (Denis de Morbeke ) cho đến khi ông được giải cứu bởi Bá tước Warwick và Lord Cobham-những người đã đưa John và con trai ông vào lều của Hoàng tử đen.

Sau giờ cầu kinh buổi chiều thì tất cả người Anh và Gascons mới quay trở lại với tù nhân của họ. Ngoài nhà vua Pháp và con trai út của ông, có khoảng 1, 000 người khác có giá trị để đòi các khoản tiền chuộc đã bị bắt tù binh và theo nhà sử học Froissart trong số này có 17 bá tước cũng như các quý tộc, hiệp sĩ và hộ sỹ. Ở những nơi khác người ta thấy rằng một số cung thủ Anh đã có tới bốn, năm và thậm chí cả sáu người làm tù binh. Vào thời gian đó là tất cả người Anh đều nhận ra rằng họ có quá nhiều tù nhân và họ đã quyết định phải đòi tiền chuộc phần lớn số này ngay lập tức.

Không có thông tin về số thường binh bên Anh bị thiệt mạng hoặc bị thương trong trận đánh và chỉ còn có một tài liệu pháp lý mà chúng tôi được biết nói về một người như vậy, William Lenche. Ông ta đã bị mất một mắt và đã được tưởng thưởng bởi vị Hoàng tử với quyền thu lệ phí qua phà ở Saltash tại Cornwall.

Đến trưa Thứ ba ngày 20 tháng 9 Hoàng tử đen chuyển đến Les Roches cách đó vài cây số và ở đó trong cả ngày thứ Tư. Quân đội cần thời gian tổ chức cuộc hành quân của họ, và để phân loại tù binh. Cuối cùng họ khởi hành vào buổi sáng Thứ Năm, đến Couhé Verac vào đầu tối ngày 22. Ngày hôm sau họ đã ở Roffec và sau đó đi xuống con đường chính. Cuộc hành quân quay trở lại của quân Anh-Gascon tới Bordeaux trên thực tế có tốc độ khá chậm vì chiến lợi phẩm và tù binh của họ. Họ hành quân trong một đội hình nhỏ gọn và được dẫn đầu bởi các Bá tước Warwick và Suffolk với 500 kị sỹ. để đảm bảo sự an toàn của con đường, tuy nhiên họ không gặp sự kháng cự nào cả, cả nước Pháp đang run sợ sau trận chiến Poitiers. Lãnh đạo ở cấp địa phương đã phần lớn bị xóa sổ và các đơn vị đồn trú của Pháp trốn kỹ trong các pháo đài.

Hoàng tử đen vượt qua Charente sau đó quay về phía đông nam qua Morton (24 tháng 9) đển Rochefoucault (ngày 25 tháng 9), sau đó về phía tây tới Villehois la Valette (26 tháng 9). Ở một nơi nào đó gần đó, có thể một phần quân đội của ông đã lấy thuyền để đi xuôi xuống sông Blaye từ Gironde. Phần chính của đội quân tiếp tục đi vào ngày 27 tháng Chín đến Saint-Aulay trên sông Dronne. Họ vượt qua con sông này vào ngày 25 và hành quân tới Saint-Antonin trên sông Íle, nơi mà họ vượt qua vào ngày 30 tháng 9 để đến được Saint-Emilion. Ở đây một số người đã ở lại trong mùa đông sau đó. Phần còn lại vượt qua Dordogne vào ngày 1 tháng Mười và vào ngày mùng 2 họ đến được Bordeaux. Tuy nhiên Hoàng tử đen và đoàn tùy tùng của ông đã đợi tại Libourne cho đến khi một lễ ăn mừng chiến thắng được tổ chức.

Sau trận chiến

Sau các vụ tàn sát của trận đánh viên Thị trưởng của Poitiers tuyên bố cầu nguyện cho nhà vua bị bắt tù binh và cấm việc cử hành các lễ hội. Về phía nam, ở vùng Languedoc, The États Generaux cấm đeo vàng, bạc, ngọc trai, trang trí áo choàng và đội mũ trong một năm. Người ta thấy ngay lập tức và rõ ràng là trận chiến Poitiers là một thảm họa cho nước Pháp. Nhà sử học Froissart đã lên những tổng kết về thảm họa này. Ông cho rằng, khoảng 6.000 người ở tất cả các cấp đã thiệt mạng, bao gồm 500-700 hiệp sĩ và hộ sỹ. Theo ứớc tính hiện đại thì số thương vong là khoảng gần 3.000. Nhiều hiệp sĩ Pháp không thể được xác định danh tính bởi vì các toán hôi của đã lột bỏ quần áo của họ trước khi viên sỹ quan phụ trách điểm kiểm đi khắp chiến trường để xác định những người thiệt mạng. Chỉ dường như việc “ xác định theo số lớn “ đã được tiến hành qua việc chôn cất. Những tử thi còn lại bị bỏ thối cho đến tháng 2 sau khi những gì còn lại của họ được chôn trong một chiếc hố bên cạnh nhà thờ Dòng Phanxicô tại Poitiers.

Tuy nhiên, trận chiến có tính chất là một cuộc đua sít sao hơn so với Crécy, Froissart và nhiều sử gia khác cũng cho rằng nó được tổ chức theo đúng kiểu chiến trận của thời Trung cổ hơn. Điều đáng chú ý hơn là “những kỳ công của vũ khí ‘đã được thực hiện tại Poitiers và chắc chắn là những hiệp sĩ Pháp đã có nhiều cơ hội hơn để chứng tở sự dũng cảm của họ. Hơn nữa, Vua John II đã không bỏ chạy như vua Philip VI-cha của ông đã làm tại Crecy. Trong số những người chạy thoát khỏi chiến trường, nhà Dauphin và những người con trai khác của nhà vua đã đển Chauvigny.

Những hoàng tử của Hoàng gia đã thoát khỏi việc bị đổ lỗi ( có lẽ là do họ còn quá trẻ tuổi ), mặc dù những chỉ huy cao cấp khác thì không. Một vài Hiệp sỹ Pháp phải đối mặt với sự thù địch khi họ trở về nhà, hiệp sỹ Seigneur de Ferré-Fresnel đã bị kéo ra khỏi ngựa của ông và bị đánh đập bởi những người nông dân của mình và những người này hét to: “Đây là một trong những kẻ phản bội, những người chạy trốn khỏi trận chiến. ” Đó là một dấu hiệu của sự bất mãn ngày càng tăng trên nhiều phần của nước Pháp.Tại Bordeaux tình hình lại rất khác. Tại đây nhà vua Pháp bị bắt giữ phải giải hòa những tranh cãi việc ai đã bắt giữ ông ta và kết quả là Hoàng tử đen đã cho Denis de Morbeke 2.000 đồng vàng tiền, để giúp anh ta duy trì bất động sản của mình. De Morheke cũng nhận được khoản lương hưu suốt đời của mình từ nhà vua Edward III.

Khi tin tức về chiến thắng đến được nước Anh, theo Froissart: Có lễ hội lớn, lễ tạ ơn trang trọng được tổ chức ở tất cả các nhà thờ và pháo hoa được bắn ở tất cả các thị xã và làng quê.Gần như bị lãng quên giữa những lễ mừng nói chung, cuộc hành quân kém thành công của Công tước Lancaster ở tây bắc nước Pháp đã trở thành một cuộc rút lui đến Brittany sau khi không thể vượt qua sông Loire. “Sau đó Lancaster, vốn là Trung úy của vua Anh tại Brittany, đã bằng lòng với việc chiếm được một số những lâu đài khác nhau ở Normandy, một số đã được bán lại cho người Pháp với những khoản tiền lớn. Khi ông nghe nói về trận Poitiers, Công tước Lancaster đã trở lại Anh cùng với Philip de Navarre, người đã được chỉ định làm Trung úy của vua Edward III ở vùng Normandie, để Sir Geoffrey de Harcourt ở lại phụ trách các lực lượng Anh ở miền bắc nước Pháp.Về chiến lược lúc này dường như vua Edward lại tỏ vẻ thương xót nước Pháp. Vua Pháp đã trở thành tù nhân của ông và trong thời gian ngắn đó ông ta nhìn ngắm Vương quốc Pháp đang chìm vào tình trạng hỗn loạn.

Tuy nhiên, mất bốn năm người Anh mới đạt được nền hòa bình mà dường như chiến thắng của hoàng tử đen mang lại và trong vòng 1 thập kỷ hoặc gàn như vậy nền hòa bình-kết quả của chiến thắng tại Poitiers đã bị biến thành tro bụi trong bàn tay của vua Edward.Một loạt những chiến thẳng nhỏ và hầu như không bị gián đoạn của của quân đội Anh-Gascon giữa thời gian sau trận chiến Poitiers và Hiệp ước Bretigny trong năm 1360 có thể làm Vua Edward III tin tưởng vào chiến thuật ban đầu của ông trong yêu cầu đòi hỏi vương miện của nước Pháp.

Trong thực tế, danh hiệu này vẫn còn được duy trì một phần trong tước hiệu của Hoàng gia Anh cho đến khi vua George III từ bỏ nó vào năm 1801. Cũng không phải chỉ một mình nhà vua tuyên bố một cách nghiêm túc như vậy. Sau trận Poitiers nhiều người Anh cảm thấy họ có thể lấy được bất cứ thứ gì họ muốn có của người Pháp, và mặc dù Hiệp ước Bretigny đã làm giảm bớt những đòi hỏi cực đoan hơn nữa của người Anh, nó lại duy trì một thảm họa cho chế độ quân chủ Pháp. Mặt khác việc sợ rằng người Pháp sẽ học tập chiến thuật trường cung của Anh dẫn đến việc họ cấm xuất khẩu cây trường cung và mũi tên trong các năm 1357 và 1369. Năm 1365 thì chính bản thân các cung thủ đã bị cấm rời khỏi nước Anh mà không có một giấy phép của Hoàng gia.

Tại nước Pháp, tình trạng khẩn cấp chung đã được công bố với lệnh triệu tập của arrière- ban après bataille. Một lá thư còn sót lại vốn được gửi từ Bá tước d’Armagnac-Trung úy của vua John ở vùng Languedoc, đến các thị trấn trong vùng của ông ta và công bố về sự thất bại cùng với việc bắt giữ vua John II: Các bạn thân mến, đây là nỗi buồn lớn khi tôi phải nói với các bạn rằng tám ngày trước chúa tể của chúng ta-Nhàvua đã chiến đấu chống lại Hiệp sỹ xứ Wales và do ý muốn của Chúa, ông đã phải cam chịu bị đánh bại, mặc dù có những hiệp sĩ giỏi nhất phục vụ bên cạnh người.

Xa hơn nữa tại vùng biên giới đông bắc của nước Pháp với Đế quốc Đức, tin tức đã nhanh chóng đến được chỗ của Đức Tổng-Giám-Mục của Langres và vào ngày 1 tháng Mười ông này cho thành lập một ủy ban gồm bốn công dân hàng đầu để đưa thị trấn của ông vào tình trạng phòng thủ. Langres ở quá xa với bất kỳ mối đe dọa nào, đây là một vùng mới chỉ được thêm vào Vương quốc Pháp trong một khoảng thời gian chưa lâu và các quý tộc địa phương gồm có rất nhiều người đồng cảm và ủng hộ Đế quốc Đức “Trước khi nổ ra trận chiến Poitiers, nhà vua Pháp cho rằng chỉ có cải cách về mặt đạo đứcvà chiến thuật là điều cần thiết để đối mặt với những mối đe dọa từ nước Anh.

Sau trận Poitiers thì Chính phủ Pháp nhận ra rằng nhiều cải tiến hơn nữa về mặt cơ bản cần được tiến hành. Bất chấp thất bại của chiến thuật các kị sỹ xuống ngựa tại Poitiers, nói chung thì người Pháp vẫn chấp nhận chiến thuật này, Từ bỏ một cuộc tấn công bằng kị binh ở giai đoạn đầu của một trận chiến, họ đã cố gắng để phát triển đội hình “ chống mũi tên “. Đội hình này lần đầu tiên được nhìn thấy trong sự kiện Nugent-sur-Seinen trong năm 1359. Tại đây, các kị sỹ xuống ngựa của Pháp vẫn không thể xung phong, vì vậy họ đã cố gắng để chuyển qua tấn công vào sườn của cung thủ Anh nhưng lại thất bại một lần nữa. Cuối cùng trận chiến này là một chiến thắng cho người Pháp khi lực lượng bộ binh thiết giáp không xuất thân từ đẳng cấp quý tộc đã tấn công vào quân Anh từ phía sau.Trong khi John-vua cha là một tù nhân trong tay người Anh, Charles Dauphin đã ra lệnh kiểm tra tất cả các vị trí phòng ngự kiên cố ở Pháp với mục đích nhằm làm cho chúng trở nên mạnh mẽ hơn.

Tuy nhiên các sử gia đang có những bất đồng về mặt tính hiệu quả của những nỗ lực của nhà Dauphin. Một số cho rằng nó là những nỗ lực liên tục của thành phố Pháp để cải thiện phòng thủ của họ, cùng với một sự tăng lên đáng kể của các loại hệ thống tăng cường phòng ngự khác bao gồm cả các tháp nhà thờ, cầu cống, tu viện và các trang viên. Những người khác cho rằng thị trấn Pháp đã chi phí rất ít cho hệ thống phòng thủ của họ vào giữa những năm 1350 và 1360 vì lúc này vẫn còn là một khoảng thời gian suy kinh tế sau bệnh dịch hạch Cái chết Đen.Tác độngchính trị của trận chiến Poitiers là một tai hại không thể phủ nhận.Sự thống nhất tương đối của Vương quốc đã bị tan vỡ, danh tiếng của tầng lớp quý tộc quân sự bị huỷ hoại và làm cho Charles Dauphin thấy rằng mình phải cai trị một vương quốc đã bị mất một phần tư lãnh thổ của nó.

Thời kỳ này cũngcho thấy một sự nhầm lẫn trong các khái niệm của lòng trung thành và sự phản quốc, mặc dù nó đã trở nên đơn giản hơn sau tuyên bố Regent của Thái tử Charles vào tháng 3 năm 1358.Rất nhiều trong số những căng thẳng rõ ràng là đến từ hậu quả của trận Poitiers – theo quấn Complainte sur la bataille de Poitiers được tìm thấy trong một tài khoản hợp pháp tại Paris.Trách nhiệm được đặt lên vai của tầng lớp quý tộc và yêu cầu Chúa giúp đỡ cho vua và Philip con trai ông-người vẫn còn là tù nhân trong tay người Anh. Nó phản ánh thái độ của những quân nổi loạn Jacquerie ở xung quanh Paris và biệt danh này bắt nguồn từ “ Jacques Bonhonune “ nguyên mẫu chung của những người đàn ông trong thế kỷ 14 ở nước Pháp: Cuộc Đại phản loạn của họ được che giấu bởi đám đông rõ ràng không muốn tiết lộ trong một thời gian kéo dài. Quấn Complainte kết luận rằng người tốt là phải có lòng can đảm để trả thù cho trận Poitiers và mang nhà vua, người: nếu bản thân ông ta được tư vấn tốt thì ông ta sẽ sẵn sàng lãnh đạo phong trào Jacque Bonhomme và tất cả những tùy tùng vĩ đại của ông là những người không chạy ra khỏi cuộc chiến để cứu lấy mạng sống của mình

Tương tự như vậy lá thư Le Comfort d’Ami được viết cho vua Charles của Navarre bởi Guillawne de Machaut và Tragium Alrgumentum được viết bởi tu sĩ Francois de Montebelluna dòng Benedictine đã than vãn về những xấu hổ và tủi nhục mà người Pháp phải chịu.Một tín hiệu tích cực hơn đó là Charles Dauphin đã cho thấy những phẩm chất của mình như là một nhà cai trị có tài trong khi cha của ông-Nhà vua vẫn đang là một tù nhân. Sau khi tới Paris như là Trung tướng của vương quốc, ông đã triệu tập thành viên của États Generaux ( gần như Nghị viện ). Đây là một việc làm can đảm bởi vì những thành viên của États Generaux đã là nguyên nhân của nhiều rắc rối cho nhà cai trị của nước Pháp.Ví dụ như Etienne Marcel-người đứng đầu của các thương nhân của Paris, trước đây yêu cầu Éstates nắm quyền kiểm soát thuế má chứ không phải nhà vua. Thật vậy Etienne Marcel đã sớm gây rắc rối. Được hỗ trợ bởi vị giám mục của Laon, ông ta tranh chấp quyền lực với các viên cố vấn của nhà vua, yêu cầu phóng thích vua Charles của Navarre và dường như muốn lựa chọn Charles (của Navarre ) là vua của nước Pháp. Trong thực tế thì Charles đã được thả tự do trong một khoảng thời gian trở thành chủ nhân của Paris. Sau một nỗ lực được nhắm vào cuộc sống của nhà Dauphin ( ngắn gọn là ám sát ), Charles Dauphin phải rời Paris và triệu tập các États Generaux tại Compiegne, nơi ông dự định sẽ bắt đầu chiếm lại Paris từ tay của Charles de Navarre và Etienne Marcel.

Trong khi đó thì các vùng xung quanh Paris đã bắt đầu bùng lên cuộc nổi loạn Jacquerie. Đây không chỉ đơn giản là một phong trào nông dân nổi dậy, vì rất nhiều trong số những người tham gia không phải là nông dân mà còn có cả các thợ thủ công và thậm chí cả tiểu quý tộc. Để chống lại nhà Dauphin, Etienne Marcel đã gia nhập với với Jacqueries, nhưng hành động này đã làm cho vua Charles de Navarre đổi phe và ông đã tham gia với phần còn lại của tầng lớp quý tộc trong việc đàn áp phong trào Jacqueries. Sau đó Dauphin bao vây Paris.

Etienne Marcel kêu gọi người Anh giúp đỡ và do đó bị mất đi sự kính trọng và bị giết bởi người của chính ông ta vào ngày 31 tháng 7 năm 1358. Sau thất bại của Etienne Marcel, Charles Dauphin được công nhận nhà lãnh đạo đất nước. Sau đó có nhiều cuộc nổi dậy tự phát chống lại người Anh ở nhiều nơi trên nước Pháp. Tuy nhiên, tranh cãi về khoản tiền chuộc vua John đã tạo ra cớ cho vua Edward xâm lược miền Bắc nước Pháp trong năm 1359 với một đội quân khoảng 1.000 kị sỹ và 5.000 cung kỵ. Ông ta hy vọng chiếm được Reimes, nơi ông có thể làm lễ lên ngôi vua của nước Pháp. Tuy nhiên, cuộc xâm lược đã thất bại và vua Edward tạm thời từ bỏ yêu cầu của mình cho ngôi Pháp để đổi lấy sở hữu không thể tranh chấp ở những vùng đất đã bị người Anh chiếm đóng. Kết quả của nó là Hòa ước Bretigny trong tháng 4 năm 1360.Theo một thỏa thuận hòa bình trước đó-Hiệp ước London năm 1359 vốn không bao giờ có hiệu lực, vua John đã đồng ý từ bỏ toàn bộ vùng ven biển Đại Tây Dương của Pháp. Theo Hiệp ước Bretigny, Edward có vùng Guyenne, Limousin, Perigord, Rouergue, Angoumoi và Saintonge. Ông ta cũng chiếm giữ Calais và thêm vào đó là Montreuil, Guise và Ponthieu. Hơn nữa, Edward đã được giải thoát lời tuyên thệ phong kiến​​của mình trước vua của nước Pháp ( trước đây theo quan hệ phong kiến thì vua Anh là chư hầu của vua Pháp trên danh nghĩa tại một số vùng đất ) tại các vùng lãnh thổ. Một khoản tiền chuộc từ 3.000.000 đồng Ecu đã được thống nhất là khoản tiền chuộc vua John II và phải nộp trong sáu năm và như là một sự đảm bảo, người con trai của vua John phải trở thành con tin trong tay người Anh. Những nhượng bộ lớn này được cho là giá của một nền hòa bình bền vững. Trong thực tế nó cũng không đạt được nhiều hơn so với một thỏa thuận ngừng bắn trong một cuộc xung đột kéo rất dài-được gọi là Chiến tranh Trăm năm.

Một số trận đánh trong cuộc chiến của nhà Caroline năm 1369 -> 1389

Cuộc chiến Trăm năm trong giai đoạn từ năm 1369 -> 1389 được gọi là cuộc chiến của nhà Caroline vì vua Charles V của nước Pháp đã khởi đầu cuộc chiến này vào năm 1369 và kết thúc nó vào năm 1389 sau khi Charles VI-con trai ông-ký hiệp ước hòa bình với Richard II của Anh quốc-con trai của Hoàng tử đen.

Tóm tắt về cuộc đời và sự nghiệp của Charles V

Charles V (ngày 21 tháng 1 năm 1338 – ngày 16 tháng 9 năm 1380), được gọi là The Wise ( khôn ngoan), là vua của nước Pháp từ năm 1364 cho đến khi ông chết vào năm 1380 và là thành viên của Nhà Valois. triều đại của ông đánh dấu một thời đỉnh cao cho nước Pháp trong cuộc Chiến tranh Trăm năm với việc quân đội của ông đã thu hồi nhiều vùng lãnh thổ vốn đã phải cắt cho nước Anh ttheo Hiệp ước Brétigny.

Tuổi trẻ

Charles được sinh ra tại Château de Vincennes ở ngoại ô Paris-Pháp, ông là con trai của vua John II của Pháp với Bonne của Luxembourg. Sau khi cha của ông kế vị lên ngôi vào năm 1350, Charles đã trở thành Dauphin của Pháp. Ông là người Pháp đầu tiên thừa kế và sử dụng danh hiệu vốn đặt tên theo tên của vùng đất Dauphine được mua lại bởi ông nội của Charles từ Đế quốc La mã Thánh thần.Vị vua tương lai là một cậu bé rất thông minh nhưng có thể chất yếu với làn da nhợt nhạt và một cơ thể gầy ốm và cân đối. Ông có một hình dáng trái ngược với người cha của mình-người rất cao lớn, mạnh mẽ và có mái tóc mầu cát, và theo đồn đại tại thời điểm đó thì ông không con trai đẻ của John. Những tin đồn tương tự cũng sẽ theo đuổi Charles VII-cháu trai của ông.

Thời nhiếp chính và cuộc nổi dậy của the Third Estate

Vua John là một chiến binh dũng cảm nhưng bị coi là nhà cai trị kém cỏi và bị xa lánh bởi tầng lớp quý tộc của mình qua việc độc đoán về pháp luật và sử dụng những cộng sự bị coi là không xứng đáng. Sau khi ngừng nghỉ ba năm, cuộc chiến Trăm năm tiếp tục trong năm 1355 với việc Edward-Hoàng tử đen, dẫn đầu một đội quân Anh-Gascon tiến hành một cuộc càn quét đốt phá trên khắp vùng tây nam nước Pháp. Sau khi chặn đứng một cuộc tấn công của người Anh vào xứ Normandy, John đã dẫn một đội quân khoảng 16.000 người vượt qua sông Loire trong tháng Chín năm 1356 và cố gắng vây bắt đạo quân gồm khoảng 8.000 binh sĩ của Hoàng tử đen tại Poitiers. Từ chối lời khuyên từ một Thống chế là bao vây và bỏ đói Hoàng tử đen-một chiến thuật Edward sẽ chắc chắn bị đánh bại-John đã tấn công các vị trí mạnh mẽ của đối phương. Trong trận Maupertuis (Poitiers) sau đó cung thủ Anh đã đánh bại hoàn toàn kỵ binh Pháp và John đã bị bắt. Charles đã dẫn đầu một đạo binh Pháp tại Poitiers và đạo quân này đã rút lui ngay đầu trận chiến. Ngày nay người ta cũng không hoàn toàn rõ ràng liệu vua John hay chính Thái tử Charles đã ra lệnh rút lui này. ( mời tham khảo lại trận Poitiers để xem chi tiết)Kết quả của trận chiến để lại nhiều cay đắng và giận dữ nhằm vào giới quý tộc, những người mà theo quan điểm đại chúng là đã phản bội lại nhà vua, nhưng Charles và những người anh em của ông lại thoát khỏi bị đổ lỗi và ông đã nhận được vinh dự khi trở về Paris. Nhà Dauphin triệu tập các thành viên của Estates General ( người đứng đầu các giai cấp ở các vùng, lúc đó nước Pháp có ba giai cấp: Quý tộc, tăng lữ và bình dân – đây là tiền thân của Nghị viện Pháp ) vào tháng 10 để tìm kiếm nguồn tiền cho công cuộc bảo vệ đất nước. Tức giận với những gì mà họ coi là quản lý yếu kém, nhiều người đã tập hợp lại và tổ chức thành một hội đồng do Etienne Marcel- the Provost of Merchant/ Người đứng đầu của tầng lớp thương nhân (một danh hiệu tương đương với thị trưởng của Paris ngày nay). Marcel đòi bãi nhiệm bảy Bộ trưởng của Hoàng gia, thay thế họ bằng một Hội đồng 28 người, được chọn từ quý tộc, tu sĩ và tư sản và trả tự do cho Charles II của Navarre, một quý tộc hàng đầu người Norman vốn tuyên bố đòi quyền thừa kế ngai vàng của nước Pháp, người vốn bị giam giữ bởi vua John vì đã giết chết vị Nguyên soái của ông ta. Nhà Dauphin từ chối yêu cầu này, cho miễn nhiệm các thành viên của Estates-General và rời khỏi Paris.Một cuộc thi ý chí tiếp theo sau đó. Trong một nỗ lực để huy động tiền, Charles đã cố gắng để phá giá đồng tiền của Pháp ( chắc là in thêm tiền ); Marcel đã ra lệnh đình công, và nhà Dauphin đã bị buộc phải hủy bỏ kế hoạch của mình và gọi lại các thành viên của Estates vào tháng Hai năm 1357.The Third Estate ( đại diện của tầng lớp bình dân ) trình lên nhà Dauphin sắc lệnh Grand Ordinance-đây là một danh sách 61 điều luậtvốn giao cho the Estates-General quyền phê duyệt các loại thuế trong tương laivà bầu Hội đồng gồm 36 thành viên với 12 người từ mỗi Estate để cố vấn cho nhà vua. Cuối cùng Charles đã phải ký sắc lệnh này, nhưng những cố vấn vốn đã bị giải tán của ông đã mang tin tức về tài liệu này đến vua John, người đang bị giam giữ tại Bordeaux. Nhà vua đã từchối chấp nhận sắc lệnh này trước khi được đưa tới Anh bởi Hoàng tử Edward.

Charles đã thực hiện được một tiến bộ của hoàng gia trên toàn quốctrong mùa hè năm đó-những chiến thắng có sự hỗ trợ của các địa phương. Trong khi đó Marcel với sự tham gia của Charles de Navarre- người luôn khẳng định rằng yêu cầu lên ngôi của mình cũng phải ít nhất như là của Edward III. Nhà Dauphin quay lại Paris và giành lại được thành phố.

Trong khi đó Marcel sử dụng một vụ sát hại một công dân đang tìm nơi trú ẩn để thực hiện một cuộc tấn công gần vào nhà Dauphin. Triệu tập một nhóm các thương gia, Vị Thị trưởng này đã dẫn đầu cuộc tuần hành của một đội quân 3.000 người, tiến vào cung điện Hoàng gia và đám đông giết chết ngay hai viên Thống Chế của nhà Dauphin ngay trước mắt ông ta. Charles hoàn toàn kinh hoàng, cố gắng chấn tĩnh đám đông trong giây lát và tìm cách gửi gia đình của ông đi xa rồi trốn khỏi thủ đô ngay khi có thể. Hành động của Marcel đã làm chấm dứt sự hỗ trợ trong số các quý tộc cho the Third Estate và sự ủng hộ tiếp theo của ông ta với phong trào nông dân khởi nghĩa Jacquerie làm suy yếu sự hỗ trợ cho ông từ các thị trấn, ông đã bị ám sát bởi một đám đông trong ngày 31 Tháng 7 năm 1358. Charles đã có thể khôi phục lại Paris vào tháng tiếp theo, sau đó ông đã ban hành một lệnh ân xá chung cho tất cả, ngoại trừ các cộng sự thân thiết nhất của Marcel.

Hiệp ước Bretigny

Vụ bắt giữ John tạo cho người Anh ưu thế trong các cuộc đàm phán hòa bình. Nhà vua đã ký kết một hiệp ước trong năm 1359 theo đó phải nhượng lại phần lớn phía tây nước Pháp cho nước Anh và ấn định một khoản tiền chuộc 4 triệu Ecu cho cả nước. Nhà Dauphin (được hỗ trợ bởi Hội đồng cố vấn của ông và Estates General) đã bác bỏ hiệp ước này và vua Edward sử dụng điều này như là một cái cớ để xâm lược Pháp vào năm sau đó. Edward đến được Reims trong tháng 12 và Paris vào thánh 3, nhưng Charles tin tưởng vào hệ thống phòng thủ của thành phố vốn đã được cải thiện và ông cấm binh lính của mình đối đầu trực tiếp với người Anh.Charles dựa vào các công sự của Paris vốn được tu bổ bởi Marcel và sau đó cho xây lại Bức tường thành phía Bờ trái (Rive Gauche) và xây một bức tường thành mới ỏ Bờ phải, sau đó nó được mở rộng thành một pháo đài mới được gọi là Bastille ( sau này được gọi là pháo đài nhà ngục Bastille- biểu tượng của nền quân chủ chuyên chế Pháp).

Edward cướp phá và lục soát các vùng nông thôn nhưng không thể ép quân Pháp vào một trận đánh quyết định, và cuối cùng đã đồng ý cắt giảm các điều khoản của mình. Chiến lược tránh đối đầu này có thể đã chứng minh là rất có lợi cho nước Pháp trong suốt triều đại của Charles.Hiệp ước Bretigny, ký kết ngày 8 Tháng Năm 1360, nhượng lại một phần ba phía tây nước Pháp, chủ yếu là ở các vùng Aquitaine và Gascony – cho nước Anh và giảm tiền chuộc nhà vua xuống còn 3 triệu Ecu. Jean được phóng thích vào tháng 10 sau khi người con trai thứ hai của ông-Louis I của Anjou mang chính bản thân đến làm con tin.Mặc dù cha của ông đã được thả tự do, Charles lại phải chịu những bi kịch cá nhân. Joan-con gái ba tuổi và Bonne-người con trai sơ sinh của ông đã chết trong vòng hai tuần khác nhau; nhà Dauphin đã nói tại lễ tang của hai con là ” nỗi buồn chưa bao giờ ông phải chịu từ trước tới nay” Bản thân Charles đã bị bệnh nặng với tóc và móng tay bị rụng ra, một số gợi ý cho thấy đây là các triệu chứng của ngộ độc asen.Vua John đã chứng minh mình là nhà cầm quyền không hiệu quả khi ông được phóng thích trở về Pháp . Khi Louis của Anjou trốn thoát khỏi nơi giam giữ của người Anh, John tuyên bố ông không có lựa chọn nào khác ngoài việc quay trở lại nơi mình bị giam giữ. Ông đã tới London vào tháng 1 năm 1364 mắc bệnh và đã qua đời vào tháng Tư ở đó.

Lên ngôi vua

Charles lên ngôi vua của nước Pháp trong năm 1364 tại nhà thờ ở Reims, Pháp. Nhà vua mới đã được rất thông minh nhưng ít nói và hay giấu ý nghĩ của mình, với đôi mắt sắc nét, mũi dài và có yểu tướng. Ông bị bệnh gout ở tay phải và abscess ở bên tay trái, có thể đây là một tác dụng phụ của một cố gắng đầu độc ông trong năm 1359. Các bác sĩ có thể điều trị vết thương, nhưng nói với ông rằng nếu nó bị khô thì ông sẽ chết trong vòng 15 ngày. “Không ngạc nhiên”, sử gia Barbara Tuchman nói “nhà vua sống trong ý thức về một sự cấp bách.” Cử chỉ bên ngoài của ông có thể giấu nhiều cảm xúc bên trong; hôn nhân của ông với Joan de Bourbon được xem là rất bền vững và ông đã không cố gắng để che giấu nỗi buồn của mình tại tang lễ của vợ hoặc của những đứa con của ông, năm trong số đó đã chết trước ông ta.Triều đại của ông đã bị chi phối bởi các cuộc chiến tranh với nước Anh và hai vấn đề chính: phục hồi các vùng lãnh thổ bị mất tại hòa ước Bretigny và Tard-Venus (tiếng Pháp “những người đến muộn”) đó là việc các đại đội lính đánh thuê đã quay sang cướp bóc sau khi Hiệp ước được ký kết. Để đạt được những mục tiêu này, Charles đã chọn một quý tộc trẻ tuổi người Brittany tên là Bertrand du Guesclin làm chỉ huy của họ, người có biệt danh là “con chó đen của Brocéliande”, du Guesclin chiến đấu với người Anh và thu được thành công trong Cuộc chiến kế thừa Breton và là một chuyên gia về chiến tranh du kích. Du Guesclin cũng đã đánh bại Charles II của Navarre trong trận Cocherel năm 1364 và loại bỏ mối đe dọa của vị quý tộc này đến Paris.

Để tìm cách thoát khỏi những người Tard-Venus, đầu tiên Charles đã thuê họ cho một cuộc thập tự chinh vào Hungary, nhưng do tiếng xấu về sự cướp bóc trước đó của họ và các công dân của Strasbourg đã từ chối không để cho họ qua sông Rhine để tiếp tục cuộc hành trình của họ. Tiếp theo Charles lại gửi các đại đội đánh thuê (dưới sự lãnh đạo của du Guesclin) để chiến đấu trong một cuộc nội chiến ở Castile giữa vua Peter Cruel và Henry-người anh em trai ngoài giá thú của ông. Peter được sự ủng hộ của người Anh, trong khi Henry được sự hỗ trợ của Pháp.

Sau chiến dịch Castillan, Hoàng tử đen đã trở nên chìm ngập trong bệnh tật và nợ nần. Sự cai trị của ông ở Gascony ngày càng trở nên độc đoán. Các quý tộc ở Gasconyyêu cầu Charles viện trợ và khi Hoàng tử đen từ chối trả lời một giấy triệu tập tới Paris để trả lời các cáo buộc, Charles đãphán quyết làông ta không trung thành và tuyênchiếnvào tháng 5 năm 1369. Về mặt pháp lý, Charles có đủ quyền để làm điều này, ông không bao giờ chấp nhận việc từ bỏchủ quyền quốc gia và do đó xứ Gascony vẫn thuộc về nhà vua một cách hợp pháp.

Thay vì tìm kiếm một trận chiến lớn như những người tiền nhiệm đã làm, Charles chọn một chiến thuật đánh tiêu hao và chỉ chấp nhận chiến đấu tại địa điểm mà ông có lợi thế. Lực lượng hải quân Pháp và Castillan phá hủy một hạm đội Anh tại La Rochelle vào năm 1372. Sau đó, du Guesclin liên tung ra các cuộc tấn công đột kích bằng hải quân vào bờ biển của Anh, để trả thù cho các cuộc càn quét chevauchée của người Anh.

Bertrand du Guesclin được bổ nhiệm làm Nguyên soái của Pháp trong năm 1370 và ông đã đánh bại một cuộc tấn công lớn của người Anh ở miền bắc nước Pháp bằng chiến thuật sử dụng các cuộc đột kích, bao vây và những trận tấn công dữ dội. Đặc biệt là ông đã nghiền nát Robert Knolles ( một chỉ huy nổi tiếng của Anh) trong trận Pontvallain.Hầu hết các chỉ huy quân sự cao cấp của Anh đã thiệt mạng trong một vài tháng và Hoàng tử đen đã bỏ về Anh nơi ông qua đời vào năm 1371. Tại năm 1374 Charles đã thu hồi tất cả tất cả các vùng đất của Pháp, ngoại trừ Calais và Aquitaine và vô hiệu hoá hậu quả của Hiệp ước Bretigny.

Cái chết của Nhà vua

Những năm tháng còn lại của Charles được sử dụng vào việc củng cố Normandy (và trung hòa sức mạnh của Charles de Navarre). các cuộc đàm phán hòa bình với người Anh vẫn tiếp tục không thành công. Những sắc thuế mới để hỗ trợ cho cuộc chiến tranh của ông chống lại người Anh đã gây bất mãn sâu sắc trong tầng lớp nhân dân lao động.

Vết áp xe trên cánh tay trái của nhà vua đã khô cạn vào đầu tháng Chín năm 1380, và Charles chuẩn bị để chết. Ngày, giờ phút lâm chung có lẽ ông lại cảm thấy sợ hãi cho chính linh hồn của mình, Charles công bố việc bãi bỏ thuế lò sưởi, nền tảng của tài chính của chính phủ. Sắc thuế này là không thể thực thực hiện nổi, nhưng người ta đã biết đến các điều khoản chi tiết của nó và chính phủ đã từ chối cắt giảm các loại thuế khác điều này đã châm ngòi cho cuộc nổi dậy ở Maillotin trong 1381.

Nhà Vua qua đời vào ngày 16 tháng 9 năm 1380 và được kế vị bởiCharles VI-người con trai 12 tuổi của ông. Ông được chôn cất tại Vương Cung Thánh Đường St Denis ở St Denis, Pháp.

Trận Castillon

Thời gian: Ngày 17 Tháng Bảy năm 1453
Địa điểm: Castillon-la-Bataille, Gascony
Kết quả: Quân Pháp giành chiến thắng quyết định

Các bên Tham chiến

Vương quốc Anh

Chỉ huyJohn Talbot, Bá tước của Shrewsbury

Lực lượng :6.000-7.000 người

Tổn thất : 4.000 chủ yếu là bị thương hoặc bị bắt giữ

Vương quốc Pháp

Lãnh địa Công tước xứ Brittany

Chỉ huy : Jean Bureau

Lực lượng : 7.000-10.000 người

Tổn thất : 100 người chết hoặc bị thương

Trận Castillon năm 1453 là trận đánh cuối cùng giữa Pháp và Anh trong Chiến tranh Trăm năm. Đây là trận đánh đầu tiên trong lịch sử châu Âu, nơi mà pháo binh là một nhân tố chính trong việc quyết định yếu tố thành bại của trận chiến.Sau khi quân Pháp chiếm được Bordeaux trong năm 1451, dường như Chiến tranh năm trăm đã đi vào kết thúc. Tuy nhiên sau ba trăm năm dưới sự cai trị của nước Anh, các công dân của Bordeaux tự coi mình là thần dân của vua Anh và gửi sứ giả đến Henry VI của Anh quốc yêu cầu ông này cử binh chiếm lại tỉnh này.Ngày 17 tháng 10 năm 1452, John Talbot, Bá tước Shrewsbury đã đổ bộ xuống gần Bordeaux với một lực lượng khoảng 3.000 kị sỹ và cung thủ. Các đơn vị đồn trú của Pháp đã bị xóa sổ bởi các công dân của Bordeaux, những người sau đó hân hoan mở cửa cho người Anh. Phần lớn phía tây của Gascony đã theo gương của Bordeaux và hoan nghênh người Anh.Trong những tháng mùa đông, vua Charles VII của Pháp tập trung quân đội của mình để sẵn sàng cho một chiến dịch. Khi mùa xuân đến Charles tiến về phía Bordeaux dọc theo ba tuyến đường khác nhau với ba đội quân cùng một lúc.

Talbot nhận được 3.000 lính tăng viện nữa để đối mặt với cuộc phản công của Pháp, nhưng một lực lượng như vậy vẫn đủ về mặt số lượng để chặng hàng nghìn quân Pháp đang tiến về biên giới với Gascony. Khi đội quân đi đầu của Pháp tiến hành bao vây Castillon, Talbot từ bỏ kế hoạch ban đầu của mình và tiến hành một cuộc tấn công để giải vây cho nó. Jean Bureau -chỉ huy của Pháp, đã rất cảnh giác trước sự tiến quân của Talbot, và ra lệnh tập trung từ 7.000 đến 10.000 quân đóng trung quanh doanh trại của mình với một con hào cùng với hệ thống hàng rào và triển khai 300 khẩu pháo trên bờ công sự. Đây là một công cuộc xây dựng hệ thống phòng thủ phi thường của người Pháp, người được hưởng ưu thế về số lượng. Họ đã không thực hiện những cố gắng để tấn công vào Castillon.

Talbot tiến gần đến doang trại của Pháp vào ngày 17 tháng Bảy năm 1453, ông đến đó trước phần chính của quân đội của mình và chỉ đi với một đội xung kích gồm 1.300 kị sỹ.Ông ta cũng đã đánh bại một lực lượng có số lượng tương tự của các cung thủ Pháp (lực lượng dân binh) trong khu rừng trước mặt doanh trại của quân Pháp, chiến thắng này làm cho người của ông tăng sỹ khí lên một cách đáng kể.

Một vài giờ sau cuộc giao tranh ban đầu, một người đưa tin từ thị trấn đến và báo cáo với Talbot-lúc này đang cho quân của ông nghỉ ngơi (họ đã hành quân qua đêm) rằng toàn quân Pháp đang rút lui toàn và rằng hàng trăm người đang cưỡi ngựa để chạy trốn ra khỏi các công sự. Từ trên bức tường thành một đám mây bụi khổng lồ có thể được nhìn thấy từ một khoảng cách khá xa. Thật không may cho ông ta, họ chỉ là những người đi theo doanh trại và đã ra lệnh phải rời khỏi đó trước khi trận chiến nổ ra.

Talbot vội vàng tổ chức lại người của mình và tấn công về phía doanh trại của quân Pháp, và rất ngạc nhiên khi thấy rằng bờ công sự được bảo vệ bởi hàng ngàn cung thủ và tay nỏ cùng hàng trăm khẩu pháo. Tuy ngạc nhiên nhưng không hề nản chí, Talbot đã đưa ra tín hiệu tấn công vào quân đội Pháp. Talbot đã không thể tham gia vào trận chiến một cách trực tiếp. Ông đã bị bắt tù binh và được ân xá trước đó, do đó đã không được phép mang vũ khí chống lại người Pháp ( lời thề trước khi được phóng thích ).

Quân Anh tấn công vào doanh trại của Pháp sau khi vượt qua một con hào, và chỉ để nhận được một trận mưa tên và nỏ cũng với những loạt đạn bắn ra dữ dội từ các khẩu pháo và súng tay hạng nhẹ. Hỏa lực bắn tập trung có thể được giải thích bởi thực tế là com mương- có thể là do tình cờ là một phần của một dòng suối nhỏ, tạo ra một tầm quan sát lý tưởng cho quân đồn trú để phòng thủ.

Khi trận chiến bắt đầu, Talbot nhận thấy rằng lực lượng bộ binh hàng đầu của ông là quá mỏng. Sau đó một giờ các kỵ binh của đội quân người Breton dưới sự chỉ huy của Công tước xứ Brittany đã đến nơi và tấn công vào sườn phải của ông. Người Anh đã bỏ chạy và ngay lập tức bị truy đuổi bởi lực lượng chính của quân đội Pháp.

Trong lúc tháo chạy con ngựa của Talbot đã bị giết bởi một viên đạn pháo hình cầu và ông đã bị mắc kẹt bên dưới nó, cho đến khi một người Pháp-một tay cung thủ Pháp đã nhận ra và giết chết ông ta bằng một chiếc rìu trận. Sau cái chết của ông thì người Pháp đã chiếm lại Bordeaux ba tháng sau đó, hậu quả của nó là mang lại sự kết thúc cho cuộc Chiến Trăm năm .

Một năm sau đó-năm 1453 vua Henry VI của Anh quốc ( phe Lancaster ) bị tâm thần, tiếp sau đó cuộc chiến tranh của Hoa Hồng đã bùng nổ ( nội chiến giữa phe York và phe Lancaster ở nước Anh ) và rõ ràng đã bị mất ưu thế về quân sự trước người Pháp, người Anh đã không còn vị trí nào để tiếp tục theo đuổi các tuyên bố của họ về ngôi vua nước Pháp và bị mất hết đất đai trên lục địa châu Âu (trừ thành phố Calais, sở hữu cuối cùng của Anh tại Pháp, nhưng cuối cùng cũng mất nốt vào năm 1558) và các đảo trên English Channel vẫn thuộc về Anh.

Bertrand du Guesclin

Bertrand du Guesclin (c. 1320 – ngày 13 tháng 7 năm 1380), được gọi là Đại bàng của xứ Brittany hoặc Chó đen của Brocéliande, là một hiệp sĩ người Breton và là vị chỉ huy quân sự của Pháp trong cuộc Chiến tranh Trăm năm. Ông là Nguyên soái của Pháp quốc từ năm 1370 đến khi ông chết. Nổi tiếng với chiến thuật Fabian của mình ( tránh giao chiến đối mặt ), ông đã tham gia vào sáu trận đánh dàn trận cự kỳ dữ dội và thắng bốn trận mà ông nắm quyền chỉ huy.Bertrand du Guesclin được sinh ra tại Chateau de la Motte de Broen tại Broons, gần Dinan ở Brittany. Gia đình của ông là một gia đình quý tộc nhỏ người Breton- seigneurs của Broons ( ông là con trai thứ trong một gia đình quý tộc địa phương nhỏ, theo phong tục phong kiến hồi đó thì con trưởng sẽ được thừa kế danh hiệu của cha, còn những người con thứ sẽ được gửi đi xa để đào được đào tạo làm Hiệp sỹ và tìm kiếm vinh quang và tiền bạc trên chiến trường, hoặc hề hề lấy vợ để kiếm của hồi môn-máy bay bà già cũng ok). Ban đầu ông phục vụ Charles của Blois trong chiến tranh Kế vị Breton (1341-1364). Charles nhận được sự hỗ trợ của Hoàng gia Pháp trong khi Jean de Montfort-đối thủ của ông là đồng minh của người Anh. Du Guesclin đã được phong tước hiệp sĩ vào năm 1354 trong khi phục vụ cho Arnoul d’Audrehem sau một trận chiến chống lại một cuộc tấn công của Hugh Calveley vào lâu đài của Montmuran. Năm 1356-1357, Du Guesclin phòng thủ thành công chống lại một cuộc bao vây nhằm vào Rennes của người Anh dưới sự chỉ huy của Henry de Grosmont bằng cách sử dụng chiến thuật du kích. Trong suốt cuộc bao vây, ông đã giết chết một hiệp sĩ người Anh tên là William Bamborough-người đã thách ông đánh một trận chiến tay đôi.Cuộc kháng chiến dũng cảm của du Guesclin đã giúp khôi phục sự an toàn cho Pháp sau trận Poitiers và du Guesclin đã gây được sự chú ý tới Charles Dauphin.Sau khi trở thành vua trong năm 1364, Charles cử Du Guesclin đi để đối phó với Charles II của Navarre, người hy vọng đòi được Lãnh địa Công tước Burgundy mà Charles muốn phong cho Philip-em trai của ông. Ngày 16 tháng Năm, ông đã gặp với một đội quân Anh-Navarrese dưới sự chỉ huy của Jean de Grailly và Đại úy de Buch tại Cocherel và đã chứng tỏ khả năng của mình trong trận chiến này khi đánh bại đối phương. Chiến thắng này buộc Charles II của Navarre phải ký kết một nền hòa bình mới với vị vua Pháp và bảo đảm việc Burgundy sẽ được giao cho Philip.

Ngày 29 tháng 9 năm 1364, trong trận Auray, Charles của Blois đã bị đánh bại hoàn toàn bởi John V, Công tước xứ Brittany và lực lượng Anh dưới sự chỉ huy của Sir John Chandos. Charles đã bị giết trong chiến đấu, việc này kết thúc vọng của nhà Blois về việc thừa kế xứ Brittany. Mặc dù đã chiến đấu một cách anh dũng, Du Guesclin vẫn bị bắt tù binh và Charles V của Pháp đã trả khoản tiền 100.000 franc để chuộc ông.

Năm 1366, Bertrand thuyết phục các chỉ huy của những “Đồng ngũ tự to”, những lính đánh thuê đã quay ra cướp bóc dân Pháp sau khi Hiệp ước Brétigny được ký kết, tham gia với ông trong chuyến viễn chinh tới Tây Ban Nha để giúp Henry của Trastamara chống lại Pedro the Cruel. Năm 1366, du Guesclin chiếm nhiều pháo đài (Magallon, Briviesca và cuối cùng là thủ đô Burgos). Nhưng quân đội của Henry đã bị đánh bại bởi lực lượng ủng hộ Pedro nằm dưới sự chỉ huy của Edward-Hoàng tử đen tại Najera trong năm 1367. Du Guesclin lại một lần nữa bị bắt tù binh và một lần nữa được chuộc bởi Charles V-người coi ông ta là vô giá. Tuy nhiên, quân đội Anh bị tổn thất nặng trong trận chiến khi cứ bốn trên năm lính Anh đã chết trong Chiến dịch Castillan. Hoàng tử đen bị ảnh hưởng bởi bệnh lỵ đã phải sớm rút lui sự ủng hộ cho Pedro. Du Guesclin và Henry của Trastamara kéo dài các cuộc tấn công và đánh bại ông này ở trận đánh quyết định Montiel (năm 1369). Henry đã đâm chết Pedro trong lều của du Guesclin và đoạt được ngai vàng của Castile. Bertrand đã được phong tước hiệu Công tước của Molina và liên minh Pháp-Castllian đã được ký kết.

Chiến tranh với nước Anh được nối lại trong năm 1369 và Du Guesclin đã được rút về từ Castile trong 1370 theo lệnh của Charles V, người đã quyết định chọn ông làm Nguyên soái của Pháp-nhà lãnh đạo quân sự của vương quốc. Theo truyền thống chức vụ này luôn được trao cho một nhà Đại quý tộc chứ không phải một quý tộc nhỏ như Du Guesclin, nhưng vua Charles V cần một ai đó nổi bật như là một người lính chuyên nghiệp. Trong thực tế Du Guesclin liên tục gặp nhiều khó khăn trong việc ép các Đại quý tộc phục vụ dưới quyền của ông và cốt lõi của quân đội luôn luôn là đoàn tùy tùng của cá nhân ông. Ông đã được chính thức phong chức vụ Nguyên soái của nhà vua vào ngày 02 tháng Mười năm 1370. Ngay lập tức ông đã đánh bại một đội quân Anh do Robert Knolles chỉ huy trong trận Pontvallain và sau đó chinh phục hoàn toàn xứ Poitou và Saintonge và buộc Hoàng tử đen phải rời khỏi nước Pháp.

Năm 1372, hạm đội Pháp-Castillan tiêu diệt hạm đội Anh trong trận La Rochelle, trận này hơn 400 hiệp sỹ và 8.000 binh sĩ người Anh đã bị bắt. Làm chủ English Channel, du Guesclin tổ chức các cuộc tấn công đốt phá vào bờ biển Anh để trả đũa cho các cuộc càn quét Chevauchée của người Anh.

Du Guesclin đuổi theo quân Anh tại xứ Brittany trong những năm 1370-1374 và một lần nữa đánh bại quân đội Anh trong trận Chizé năm 1373.

Là một chiến binh trung thành, có năng lực về mặt chiến thuật và kỷ luật, Du Guesclin đã tái chinh phục nhiều vùng của nước Pháp từ tay người Anh cho đến khi ông qua đời vì bệnh tật ở Chateauneuf-de-Tế trong khi dẫn đầu một chuyến viễn chinh quân sự ở xứ Languedoc vào năm 1380. Ông được chôn cất tại Saint-Denis trong khu lă.ng mộ của các nhà vua của nước Pháp. Trái tim của ông được lưu giữ tại nhà thờ của Saint-Sauveur tại Dinan.

Vì lòng trung thành của du Guesclin với nước Pháp, vào thế kỷ 20 những người theo chủ nghĩa dân tộc người Breton coi ông là một ‘kẻ phản bội’ lại xứ Brittany. Trong Thế chiến II, những phần tử xã hội quốc gia Breton thân Nazi thuộc Phong trào Lao động Xã hội Quốc gia đã phá hủy một bức tượng của ông ở Rennes.

Trận Brignais năm1362

Trận Brignais là một thất bại gây sốc của quân đội hoàng gia Pháp trước một đội quân Routier ( Lính đánh thuê được tuyển dụng trong thời chiến nhưng trở nên bị thất nghiệp trong thời bình -> quay ra cướp bóc dân lành ) tạm thời được thành lập bởi các đại đội lính tự do ở phía đông nam nước Pháp. Trận chiến đã nổ ra trong ngày 06 tháng 4 năm 1362 bên ngoài lâu đài Brignais ở gần Lyon. Mặc dù đây là một đòn giáng khủng khiếp vào chính quyền và sự tự tin của chính phủ của vua John II ( khoảng thời gian ngắn nhà vua quay về từ nhà tù Anh để lo tiền chuộc mình ) và một nguyên nhân gây ra hoảng loạn lớn ở phía đông Pháp, cuộc chiến đã nhanh chóng dẫn đến sự chia rẽ của các lực lượng routier và do đó các hậu quả chính trị của nó là khá nhỏ. Tuy nhiên, thất bại buộc Hoàng gia Pháp tiếp tục những cải cách hàng đầu trong quân sự để tạo ra một quân đội thường trực ăn lương và đội quân này đã chứng minh được hiệu quả trong việc chống lại quân routier và người Anh.Khi Philip de Rouvre, vị công tước xứ Burgundy mới 15 chết bất đắc kỳ tử mà không có người thừa kế vào tháng 11 năm 1361, John II đã cho sát nhập vùng lãnh địa tước Công trù phú này vào Vương quốc Pháp. Thông báo của nhà vua được chào đón với một sự ảm đạm trong lảnh địa, nơi mà bệnh dịch đang lan tràn, giới quý tộc thì nghi ngờ về vị lãnh chúa mới của họ và một yếu tố là Great Company-một sự kết hợp và phân rã liên tục của các băng nhóm routier ( quân vô chính phủ) đã đe dọa biên giới phía nam của Công quốc. Trong Tháng 1 năm 1362, nhà vua ra lệnh cho nông dân địa phương phải mang chính bản thân họ và hàng hóa của họ vào bên trong nơi gần nhất của hoặc các pháo đài hoặc thị trấn có tường bao quanh và đặt Burgundy và các tỉnh phía đông dưới quyền chỉ huy quân sự của Jean de Melun-Công tước của xứ Tancarville, người mà vào giữa tháng Ba đã tập hợp được một đội quân mạnh mẽ khoảng bốn ngàn người, bao gồm cả quân đội của xứ Burgundy và các địa phương xung quanh.Tancarville hành quân về phía nam và tiến hành bao vây một toàn lâu đài nhỏ có tên là Brignais, vốn được nắm giữ bởi một toán quân tách từ Đại đội của Hélie (hoặc Petit) Meschin-người cùng với Garciot du Chatel, đã hợp tác với thủ lĩnh của các toán thảo khấu Se’guin de Badefol, Perrin Boias và các đội trưởng của quân routier khác để trở thành một chỉ huy của Great Company. Mặc dù tầm quan trọng lâu đài Brignais được coi là nhỏ, vị thủ lãnh của quân thảo khấu không thể bỏ qua mối đe dọa từ Tancarville, đặc biệt là kể từ khi một đạo quân của Hoàng gia khác dưới sự chỉ huy của Arnoul d’Audrehem đang tiến về phía họ từ miền nam. Đến đầu tháng Tư, Meschin và các chỉ huy của quân routier khác đã thu thập một lực lượng khoảng năm nghìn người ở phía bắc của Lyon.Vào sáng sớm ngày 06 tháng 4, Great Company đã tấn công vào quân đội Hoàng gia một cách hoàn toàn bất ngờ. Vì chủ quan khinh địch Tancarville và phó chỉ huy của ông ta là Jacques de Bourbon-Công tước La Marche, đã làm không tiến hành công tác trinh sát trong vùng này hoặc chuẩn bị các hệ thống phòng thủ như hào, hàng rào, cọc nhon… để bảo vệ doanh trại của họ. Các lực lượng hoàng gia đã bị tiêu diệt hoàn toàn trước khi họ có thể cầm được vũ khí, hơn một ngàn người đã bị bắt tù binh, bao gồm cả Tancarville, và hầu hết số còn lại đã bị giết chết, bao gồm cả La Marche, người đã chết vì vết thương sau trận chiến.

Chính phủ Hoàng gia sững sờ khi nhận được tin tức về thất bại này và ở miền đông nước Pháp bị rơi vào tình trạng hỗn loạn, tất cả các địa phương hàng ngày chỉ còn biết lo sợ và đề phòng sự xuất hiện của Great Company. Tuy nhiên, vì các chỉ huy của quân routier không thể tổ chức lực lượng của họ lại với nhau một khi trận chiến đã kết thúc thắng lợi. Họ đồng ý thả tự do cho Tancarville để đổi lấy thỏa thuận ngừng bắn vốn được kéo dài đến cuối ngày 26 tháng Năm. Tuy nhiên vào lúc đó, các cuộc đàm phán giữa quân routier và chính phủ Hoàng gia đã bị phá vỡ và bản thân Great Company đã bị phân tán ra thành những toán nhỏ- mối nguy hiểm tức thì đã qua đi mà không để lại hậu quả lớn hơn nữa cho chính phủ của vương quốc Pháp, mặc dù vùng Burgundy và các tỉnh láng giềng vẫn tiếp tục bị cướp bóc, đốt phá bởi các toán quân routier. Tuy nhiên, cú sốc về thất bại của trận Brignais đã giúp thúc đẩy cải cách mà kết quả là một sắc thuế mới để tài trợ cho một đội quân thường trực mới đã được ấn hành trong triều đại của Charles V. Vào lúc Charles V qua đời trong năm 1380, đội quân mới đã lấy lại được nhiều vùng đất thuộc xứ Aquitaine đang nằm trong tay người Anh và đã trấn áp phần lớn các toán quân routier.

Trận AURAY (1364)

Trận chiến nổ ra trong ngày 29 Tháng Chín năm 1364 ở bên ngoài cổng của bến cảng Breton, trận đánh quyết định Auray đã đã kết thúc cuộc nội chiến kéo dài ở vùng Breton. Năm 1363, sau 23 năm chiến tranh, hai đối thủ cạnh tranh danh hiệu công tước xứ Brittany đã đồng ý phân chia công quốc Brittany giữa bọn họ, với John de Montfort, người yêu cầu người Anh hậu thuẫn, ở phía tây nam và Charles de Blois- ứng cử viên được Pháp ủng hộ, giữ phía đông bắc. Việc trao danh hiệu chính thức-Công tước xứ Brittany được quyết định bởi các vị vua của nước Anh và Pháp, Edward III và John II, những người về mặt lý thuyết là trung lập trong cuộc tranh chấp này. Tuy nhiên, câu hỏi vẫn chưa được trả lời khi cuộc nội chiến lại được tiếp tục vào tháng Tư năm 1364. Trong tháng Bảy, de Montfort bao vây Auray, một trong những thị trấn bờ biển phía nam kiểm soát được bởi đối thủ của ông ta ( nhà Blois ). Với sự giúp đỡ của Bertrand du Guesclin, một người Breton sau đó phục vụ cho Charles V-vị vua mới của Pháp, Charles de Blois gây dựng được một đội quân của hơn ba ngàn người.Mặc dù được ủng hộ bởi các quý tộc Hoàng gia ở Normandy, Charles de Blois lại không nhận được sự hỗ trợ chính thức từ Charles V, thậm chí ông này còn lấy mất du Guesclin làm Đại úy chỉ huy đội quân người Norman của ông để can thiệp vào Brittany (vua Charles V kết Bertrand du Guesclin chẳng khác gì Lưu Bị kết Triệu Tử Long ). De Montfort cũng không nhận được sự hỗ trợ từ London nhưng ông này lại nhận được những viện trợ quan trọng từ những viên đại úy người Anh ở địa phương là Sir Robert Knolles và Sir Hugh Calveley. Sir John Chandos cũng ủng hộ de Montfort với một lực lượng nhỏ quân Anh ở xứ Gascony. Vào tháng Chín, quân đội của de Montfort có số lượng hơn hai nghìn người, với hầu hết trong số họ được rút ra từ những đội quân Anh ở địa phương. Như vậy, mặc dù Hoàng gia Anh và Pháp vẫn tỏ ra trung lập, bất chấp đại diện của họ tại Brittany tích cực tham gia vào cuộc chiến.Đến Auray vào ngày 29 tháng 9, Charles de Blois chuẩn bị cho trận chiến ngay lập tức. Chỉ huy lực lượng của de Montfort, đội quân mà ông đặt trên đỉnh đoạn vượt sông, Chandos ( một cựu binh-trong trận Poitiers ) triển khai quân đội của mình thành ba đại đội, với chính ông ta và Sir Matthew Gourney chỉ huy cánh phải, Knolles chỉ huy bên cánh trái và de Montfort chỉ huy cánh trung tâm. Calveley thì cảm thấy rất thất vọng vì đã bị cử về phía sau để chỉ huy đội dự bị. Charles de Blois cũng triển khai quân đội của mình theo một đội hình tương tự, ông đã giao quyền chỉ huy ba đại đội của mình cho du Guesclin; Jean de Chalon-con trai của Bá tước Auxerre và chính ông ta.Trong các cuộc đàm phán trước trận chiến, những người Bretons ở mỗi bên (John de Montfort và Charles de Blois) cho thấy một sự sẵn lòng thỏa hiệp hơn so với các đồng minh người Anh và người Pháp của họ. Người Anh đe dọa giết sứ giả của Charles nếu còn tiếp tục kéo dài các cuộc đàm phán và du Guesclin kêu gọi Charles giành chiến thắng để chiếm toàn bộ công quốc cho chính mình, một tình trạng đã làm cho một số người Bretons của phe Charles bỏ khỏi chiến trường ( chắc thấy mệt mỏi vì thương lượng ).

Chiến đấu trên bộ đã hạn chế hiệu quả của các cung thủ Anh, trận chiến mở với việc quân đội Anh-Breton bắt tù binh Jean de Chalon và đẩy cánh quân của ông này vào làm rối loan đội quân của du Guesclin. Sau đó Chandos tập trung các đội quân của ông để tấn công vào Charles de Blois, vốn lúc này rất dễ bị tổn thương bởi số người đào ngũ lúc càng cao hơn nữa từ đội quân của mình. Đội quân của Charles bị áp đảo, ông này đã bị giết và quân đội của ông đã bị đánh tan. Trận chiến bây giờ đã trở thành một cuộc tháo chạy hỗn loạn. Người của De Montfort đã giết gần tám trăm bắt tù binh hơn một ngàn năm trăm quân đối phương kể cả du Guesclin, người đã phải nộp cho Chandos gần 20.000 £ tiền chuộc ( và tiền chuộc được trả bởi vua Charles V của Pháp ).

Với việc Charles de Blois bị giết chết và con trai của ông cũng đã chết hoặc bị giam cầm, sự nghiệp của ông cũng bị sụp đổ và những người ủng hộ ông quay ra quy phục de Montfort. Mặc dù ông đã chiếm được công quốc Brittany với viện trợ của người Anh, lúc này de Montfort lại kết thúc mối liên minh này và nhanh chóng tỏ lòng trung thành của ông với Charles V của nước Pháp. Vua Pháp chấp nhận kết quả của trận Auray và đứng ra làm trung gian cho Hiệp ước Guerande, theo đó Jeanne de Penthievre, góa phụ của Charles de Blois-người có quyền yêu cầu thừa kế Công quốc, đã thừa nhận de Montfort như Công tước John IV của Brittany vào Tháng Tư năm 1365. ( như vậy ta có thể thấy trong trận này về mặt quân sự Liên quân Pháp-Breton đã thất bại hoàn toàn, nhưng về mặt chính trị thì người Pháp lại toàn thắng)

Trận Nájera năm1367

Trận Nájera (hoặc Navarrete) là một trận chiến nổ ra ở gần phía đông bắc của thị trấn Nájera của xứ Castile ( nay thuộc Tây ban Nha ) vào ngày 03 Tháng Tư 1367 giữa quân đội Anh-Gascon được chỉ huy bởi Edward Hoàng tử đen và một lực lượng Pháp-Castilian được chỉ huy bởi Bertrand du Guesclin-Nguyên soái của Pháp và Henry của Trastámare-người có yêu cầu thừa kế ngôi vua Castile. Là một thắng lợi lớn cho Hoàng tử đen, Nájera là kết quả của sự can thiệp của cả Anh và Pháp vào trong chiến tranh kế vị xứ Castile, một cuộc xung đột vốn tạo cho cả hai phe trong chiến tranh trăm năm một cơ hội để sử dụng các Routiers ( lính đánh thuê vô chính phủ), những người đã tàn phá đất đai của họ và một cơ hội để tấn công vào lợi ích của nhau và không công khai gây nguy hiểm cho Hiệp ước Hòa bình Bretigny ( đơn giản là để tránh vi phạm hiệp ước Hòa bình thì cả Anh và Pháp lôi nhau ra một góc rồi tẩn nhau thông qua bên thứ ba là xứ Castile).Mặc dù đây là một thành công quân sự, trận chiến và hậu quả của nó lại là một tai họa về mặt chính trị cho Hoàng tử đen, những nỗ lực hết mình của ông để có được nguồn tài chính trang trải cho những chi phí của chiến dịch này đã bắt đầu những sự kiện cuối cùng lại dẫn đến việc nối lại cuộc chiến tranh Trăm năm.Bị nghi ngờ đã đầu độc bà vợ người Pháp của ông ( chắc là để cưới vợ trẻ đẹp hơn hé hé ) và được gọi là”Cruel-kẻ tàn bạo” vì sự cai trị khắc nghiệt của mình, Pedro I của Castile bị lật đổ bởi-Henry của Trastámare, người anh em cùng cha khác mẹ với ông vào tháng ba năm 1366. Được hỗ trợ bởi một đội quân đánh thuê dưới sự chỉ huy của du Guesclin và gồm cả rất nhiều người Anh như Đại úy Hugh Calveley, Trastámare đã lên ngôi vua của Castile vào ngày 29 Tháng Ba, một ngày sau khi Pedro bỏ chạy khỏi Burgos- thủ đô của xứ Castile. Bằng cách ủng hộ Trastámare, Charles V và người anh em trai của ông-Louis, Công tước xứ Anjou- trung úy của Hoàng gia ở Languedoc, đã có thể quét sạch nạn lính đánh thuê-vô chính phủ, chuyên cướp bóc-ở miền nam nước Pháp và cài một đồng minh hùng mạnh của nước Pháp vào phía nam biên giới của vùng Aquitaine của nhà Plantagenet.Vào cuối Tháng bảy, Pedro đã đến vùng Aquitaine, ở đây trong một nỗ lực để giành hỗ trợ cho sự nghiệp của ông, ông mở các cuộc đàm phán với Hoàng tử và Charles the Bad-vua của Navarre. Ngày 23 tháng Chín, cả ba đã ký kết Hiệp ước Libourne, theo đó Pedro hứa trả bằng tiền bạc và đất đai cho các đồng minh của mình để đổi lấy sự trợ giúp của họ trong việc khôi ngôi vua của ông tại xứ Castile. Mặc dù nhiều người trong đoàn tùy tùng của hoàng tử không thích và không tin tưởng Pedro, nhưng Edward III và các bộ trưởng của ông đã được báo động về mối đe dọa của một xứ Castile thân Pháp, trong khi vị hoàng tử ( phó vương của vua Edward III tại xứ Aquitaine), ngoài việc rất muốn được tiến hành các chiến dịch quân sự, thì cũng giống như người Pháp-ông rất lo lắng trong việc giải phóng vùng đất của mình khỏi sự cướp phá của những đám lính vô kỷ luật. Dựa vào việc Pedro giữ lời hứa của mình rằng sẽ trả tiền cho chiến dịch, vị Hoàng tử quy tập một đội quân mười ngàn người và trong tháng 2 năm 1367 đã dẫn đầu bọn họ đi vượt qua rặng núi Pyre’ne’an ( Dãy núi nổi tiếng hiểm trở giữa Pháp và Tây Ban Nha ngày nay ), vốn được mở ra cho những kẻ xâm lược bởi nhà vua của Navarre-người cũng đã gửi quân nhưng chính bản thân ông ta lại từ chối tham gia.

Nhà vua Pháp đưa ra lời khuyên nên tránh cuộc chiến và chờ cho cái đói và kiệt sức sẽ buộc Hoàng tử sẽ thu hồi quân, Trastámare đã cho mời du Guesclin và rất nhiều những viên Đội trưởng Pháp đã phục vụ ông trong các trước năm. Vì lực lượng chủ yếu của họ đã được triển khai tại Aragon, người Pháp chỉ cử một ngàn người để làm tăng viện cho quân của Trastámare ở Castilian. Khi quân đội Anh-Gascon tiến tới vùng của Trastámare, các thị trấn và các đơn vị đồn trú tại của nó trên đường hành quân của quân Anh đã chóng tuyên bố ủng hộ Pedro. Ngày 1 tháng Tư, Trastámare, lo ngại sự sụp đổ sắp xảy ra của những lực lượng hỗ trợ về chính trị của ông, đã từ bỏ chiến lược phòng thủ và kêu gọi Charles V triển khai lực lượng của ông ta trên mặt đất để khống chế con đường chính từ Logrono ở gần thị trấn Nájera-một vị trí mà sau này hoàng tử gọi là ”một tốt nơi đang chờ đợi chúng ta”.

Ngày 2 Tháng tư, hoàng tử rời Logrono, tiến tới làng Navarrete, nơi ông cho quân đội của mình tập hợp thành đội hình dã chiến. Đơn vị tiền quân bao gồm các cung thủ Anh và những kỵ sỹ-những người trên danh nghĩa do là do Joh của Gaunt, công tước xứ Lancaster, em trai của Hoàng tử đen chỉ huy, nhưng trong thực tế họ được chỉ huy bởi viên chỉ huy cực kỳ giàu kinh nghiệm-Sir John Chandos. Phần chính của quân đội Anh gồm phần lớn là những binh sỹ người Gascons, những chỉ huy ở bên cánh phải là Arnaud-Amanieu, Lord Albret và John-Bá tước của Armagnac và ở bên cánh trái là Jean de Grally, Đại úy de Buch. Ở cánh trung tâm đích thân Hoàng tử chỉ huy các nhóm lính đánh thuê khác và những người Castile lưu vong. Sau khi lập xong đội hình, quân Anh rời đường lớn và tiến theo đường bộ và hướng về phía đối phương từ phía bắc, một cuộc hành binh vốn sẽ làm họ xuất hiện ở phía cánh trái của Trastámare vào bình minh ngày 03 tháng 4.

Rất ngạc nhiên bởi tốc độ và hướng tấn công của đối phương, du Guesclin buộc phải ra lệnh cho binh lính của mình nhanh chóng di chuyển và quay từ phía đông sang phía bắc để đối mặt với quân địch. Giữa sự hoảng loạn và nhầm lẫn gây ra bởi động tác này, phần lớn các bộ binh và kỵ binh người Castilian đã đào thoát sang phía đối phương. Lo sợ có sự tan rã trong của lực lượng của ông, du Guesclin ra lệnh cho các kị sỹ người Pháp và của ông Castile xuống ngựa tấn công. Họ phải đối mặt với đạo quân do Lancaster và Chandos chỉ huy mà đạo quân này cũng xuống ngựa để chiến đấu. Người Anh đã tổ chức tấn công bằng các cung thủ vào người Pháp để cho phép cánh quân người Gascon trong quân đội của hoàng tử để bắt đầu một bao vây nhằm vào người của du Guesclin. Được chỉ huy bởi Trastámare và anh em của ông, các kỵ binh hạng nặng người Castilian đã từ chối xuống ngựa để chiến đấu trên bộ, họ tấn công vào đối phương nhưng ngay lập tức đã bị tàn phá bởi những cơn mưa tên của người Anh, cũng giống như người Pháp đã bị tại Crécy. Lúc này Hoàng tử đen mới ra lệnh tất cả các đội tấn công, đạo quân của chính ông tấn công vào chiến tuyến của người Castile dọc theo phía trước trận địa của họ trong khi các Bá tước Lancaster và Chandos cũng tiến lên để tấn công họ. Ngay lập tức quân đội của Trastámare tan rã, hơn một nửa số quân của ông ta đã bị tiêu diệt trong khi cố gắng bỏ trốn. Quân đội của Hoàng tử đen bị tổn thất rất nhỏ, còn Trastámare mất hơn năm ngàn người nhưng bản thân ông ta đã chạy thoát khỏi chiến trường, còn du Guesclin, viên Thống chế Pháp Arnoul d’Audrehem và hầu hết các Đội trưởng hàng đầu của Trastámare đều bị bắt tù binh.

Trận Nájera cũng tựa như ở Poitiers, đã trở nên hỗn loạn ở giai đoạn cuối của cuộc chiến do sự tranh giành các tù nhân và tiền chuộc. Mặc dù nhiều người trong đội quân của ông đã kiếm được cả một tài sản từ tiền chuộc, vị hoàng tử đã lại ngay lập tức trở nên bất hòa với Pedro, người vốn được ông khôi phục ngai vàng khi ông này tuyên bố mình không thể trả khoản nợ của ông ta cho hoàng tử đen và cũng không muốn nhường cho ông ta một phần lãnh thổ của mình vì lý do an ninh. Vào cuối Tháng tám, khi Pedro bội ước lại lời hứa của mình và không chịu thanh toán lần đầu tiên cho những gì ông nợ, Hoàng tử đen lúc này bị bệnh lỵ-căn bệnh cuối cùng sẽ giết ông ta và không thể đủ tài chính để duy trì người của mình trong vùng này nữa và đã phải rút ​​lui về vùng Aquitaine với hai bàn tay không. Ông buộc phải tăng thuế tại vùng Aquitaine trả tiền cho chiến dịch, do đó đã làm cho các quý tộc người Gascon như Armagnac và Albret đã chở nên xa lánh và thậm trí còn kiến ​​nghị Charles V chống lại Hoàng tử, những lý do này đã tạo cho nhà vua Pháp cớ để tiếp tục cuộc Chiến tranh Trăm năm trong năm 1369.

Trận Pontvallain

Trận Pontvallain là một trận chiến quan trọng của nước Pháp với nước Anh trong chiến tranh Trăm Năm. Đó là trận chiến nổ ra vào đầu tháng 12 năm 1370 tại vùng Sarthe giữa lực lượng Anh đã bị gãy ra khỏi quân đội chỉ huy bởi hiệp sĩ Anh-Sir Robert Knolles và một đội quân của Pháp dưới sự chỉ huy của vị Nguyên soái mới được bổ nhiệm-Bertrand du Guesclin. Trên thực tế trận chiến bao gồm hai cuộc đụng độ riêng biệt, một tại Pontvallain và một nhỏ hơn tại thị trấn Vaas lân cận nên đôi khi chúng được đặt tên thành hai trận riêng biệt. Mặc dù đây chỉ là trận chiến có quy mô tương đối nhỏ, nhưng nó rất có ý nghĩa bởi vì người Anh đã phải tháo chạy và nó kết thúc danh tiếng 30 năm bất khả chiến bại trong trận chiến dàn trận của người Anh.Robert Knolles đổ bộ xuống Calais trong tháng Tám năm 1370 với một đội quân khoảng 6.000 bộ binh và kị binh để thực hiện một chiến dịch theo kiểu của một cuộc tấn công cướp bóc chevauchée xuyên qua miền Bắc nước Pháp. Ông đã tiến đến gần Paris vào ngày 24 tháng Chín và đã cố gắng khiêu khích với người Pháp để mở một trận chiến dàn trận, nhưng họ đã không mắc bẫy và tính đến tháng Mười Knolles đã di chuyển về phía nam và hành quân về phía Vendôme. Ông đã tiêu diệt lực lượng đồn trú trong các lâu đài và tu viện giữa các con sông Loir và Loire và để có thể đi tới Poitou hay chọn cách khác tiến vào miền Nam Normandy nếu vua Edward III ký kết được một thỏa thuận với Charles II của Navarre, người sẵn sàng hiến vùng đất của mình tại miền Bắc Normandy như là một căn cứ cho người Anh. Nhiều Đội trưởng cấp dưới, những người tự coi mình khi sinh ra đã giỏi hơn Knolles, lên án sự thiếu rõ ràng của ông về tinh thần thượng võ. Họ thấy những khả năng của một nhà chỉ huy trong Sir John Minsterworth, một hiệp sĩ đầy tham vọng và không ổn định từ các cuộc hành binh ở xứ Wales, người luôn chế giễu Knolles là “một tên kẻ cướp già “.

Trong khi đó Charles V của Pháp đã phong cho hiệp sĩ của ông tốt nhất-Bertrand du Guesclin chức vụ Nguyên soái của nước Pháp và giao cho ông ta nhiệm vụ tiêu diệt đạo quân của Knolles. Tháng du Guesclin tập trung lực lượng của mình tại Caen, nơi ông nhận được quân tiếp viện dưới sự chỉ huy của các Thống chế Mouton de Blainville và Arnoul d’Audrehem cũng như một đạo quân người Breton dưới sự chỉ huy của Olivier de Clisson. Như vậy ông đã có một đội quân khoảng 4.000 người. Một đội quân thứ hai khoảng 1.200 người được tập hợp ở phía sau Knolles tại Châtellerault dưới sự chỉ huy của Thống chế Sancerre, mà sau đó di chuyển về phía Knolles từ Đông trong khi Du Guesclin bắt đầu di chuyển về phía ông ta từ phía bắc. Knolles lưu ý rằng quân Pháp đang đến gấn và lúc này đề nghị rút quân về phía tây vào vùng đất của người Anh trước khi ông có thể bị bao vây, nhưng các Đội trưởng của ông đã không đồng ý và phản ứng một cách dữ dội, họ muốn trú đông tại đó và họ sẽ tiếp tục tấn công các vùng nông thôn xung quanh, họ tự tin rằng có thể đánh bại bất kỳ cuộc tấn công nào của người Pháp. Kết quả là quân Anh bị chia rẽ; Knolles cầm đầu một đội ngũ bao gồm đoàn tùy tùng của mình rồi đi về phía Tây, đến chỗ người Anh. Phần còn lại, có số lượng gồm khoảng 4.000 người, đã ở lại trong khu vực thung lũng sông Loir và được chia thành ba toán, một toán được chỉ huy bởi Sir Thomas cùng với Sir Grandison và Sir Hugh Calveley, hai toán kia được chỉ huy bởi Sir Walter, Lord Fitzwalter và Minsterworth.Trận chiến

Du Guesclin rời Caen với quân đội của mình vào ngày 01 tháng 12 và hành quân về phía nam với tốc độ lớn, tới gần Le Mans vào ngày 3 tháng Mười Hai. Ông đã nhận được thông tin tình báo rằng lực lượng của Grandison và Fitzwalter đang bị trải ra và cắm trại giữa Pontvallain và Mayet và mặc dù quân đội của ông đã kiệt sức, ông vẫn ra lệnh hành quân ngay lập tức vào ban đêm để đến Pontvallain và tấn công người Anh vào lúc bình minh ngày 4 tháng Mười Hai. Cuộc tấn công hoàn toàn bất ngờ, Grandison đã cố gắng rút lui về phía bắc, nhưng người Pháp đã đuổi kịp với ông ta ở dưới chân các bức tường thành của Château de la Faigne. Mặc dù viên Thống chế của Pháp chỉ huy trận này đã bị thương nặng (Arnoul d’Audrehem sau đó đã chết vì vết thương của mình), nhưng lực lượng của Grandison đã hầu như bị xóa sổ và bản thân ông ta đã bị bắt làm tù binh. Các cung thủ Anh-những người là kiến ​​trúc sư của các chiến thắng trong những trận chiến trước đó với người Pháp, đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi chon sai vị trí nên mặc dù đã bắn tên như mưa nhưng vẫn không thể xuyên qua áo giáp của quân sỹ của du Guesclin hoặc để phá vỡ trận địa của quân Pháp.

Trong khi đó Sancerre tiếp cận được với đội quân của Fitzwalter từ phía đông. Quân Anh chạy về phía nam đến tu viện kiên cố tại Vaas, Sancerre đã ngay lập tức tấn công sau khi du Guesclin đến kịp để tiếp viện cho ông ta thì người Anh đã bị thảm sát. Du Guesclin tuyên bố Fitzwalter là tù nhân của mình (dường như ông nghĩ Fitzwalter là một Thống chế của Anh). Ông này đã bị giữ tù nhân cho đến khi ông có thể huy động được một khoản tiền chuộc mình bằng cách thế chấp vùng đất Cumberland của mình theo các điều khoản tồi tệ cho Alice Perrers-người tình của Edward III. Đạo quân của Sir John Minsterworth đã trốn thoát vào xứ Brittamy sau Knolles-người vốn bị truy đuổi không thành công bởi Olivier de Clisson. Sir Hugh Calveley trốn thoát vào Poitou. Khoảng 300 người Anh sống sót, cộng với các đơn vị đồn trú của nhiều lâu đài Knolles đã chiếm đóng, cố chạy về phía nam và phía Bordeaux nhưng họ đã bị truy đuổi bởi du Guesclin và Sancerre, ngay sau khi đã vượt qua Loire thì họ đã bị đuổi kịp và hầu như bị xóa sổ bên dưới các bức tường thành của lâu đài Bressuire, vốn được nắm bởi người Anh nhưng không mở cổng ra cho họ vào ( có thể sợ quân Pháp tràn vào theo ).

Knolles và Minsterworth trú qua mùa đông ở Brittany và sau đó cố gắng để dẫn dắt đại đội của họ đến cảng Saint-Mathieu để bắt tàu về Anh, nhưng tất cả các con đường của họ đã bị chặn bởi Olivier de Clisson và chỉ có hai chiếc tàu đến đón họ, do đó phần lớn người của họ đã bị để lại trên bờ và bị tàn sát bởi người Pháp. Ở Anh Minsterworth đã cáo buộc Knolles về trách nhiệm với tai họa. Trong tháng 7 năm 1372 Hội đồng của nhà vua đã quyết định lỗi chính thuộc về Knolles và đã tước bỏ các vùng đất ông để bù vào các chi phí để tổ chức chiến dịch. Minsterworth đã bị bắt và bị buộc tội đã chống lại mệnh lệnh của Knolles, nhưng sau đó ông đã trốn thoát và chạy sang Pháp, nơi ông đã đổi phe và phục vụ cho Charles V.

Trận Montiel

Trận chiến Montiel là một trận đánh trong thời kỳ chiến tranh trăm năm và cuộc xung đột trăm vệ tinh của nó-cuộc nội chiến của Castile. Trong đó, quân đội của Liên minh Pháp-Castile đã dành chiến thắng trước Liên minh Anh-Castile. Liên minh Pháp-Castile được chỉ huy bởi Henri de Trastámara (sau này là Henry II của Castile) đã giành được chiến thắng trước lực lượng kia vốn được chỉ huy bởi người anh trai em của ông-Pedro the Cruel.

Nguồn gốc của cuộc xung đột

Người anh em ngoài giá thú của Vua Peter I của Castile (được gọi là the Cruel), Enrique de Trastámara với hy vọng lên ngôi của xứ Castile đã yêu cầu người Pháp hỗ trợ về quân lực để giúp đánh bại lực lượng của chính phủ xứ Castile. Do đó Bertrand du Guesclin-vị Nguyên soái vốn có tầm chiến thuật tuyệt vời của Pháp đã vượt qua dặng núi Pyrenees và cùng với Henry ( tiếng TBN là Enrique ) để đánh trận Montiel, đây là một trận đánh lớn trong lịch sử chiến tranh Tây Ban Nha (Nội chiến của xứ Castile) và là vệ tinh của cuộc xung đột kéo dài với nhiều trận đánh lớn nhỏ ở nhiều mức độ lục- chiến tranh Trăm năm. Điều này cuộc chiến giữa anh em (nghĩa đen và nghĩa bóng) đã tồn hơn mười lăm năm.Henry bị thúc đẩy bởi tham vọng làm vua của ông nên đã quyết định xâm lược xứ Castile trong năm 1360 và dễ dàng chiếm thành phố Najera. Tuy nhiên, Peter đã nhanh chóng hành quân và tổ chức một trận đánh với người anh em trai của ông trong thành phố này và đánh bại ông ta vào cuối tháng Tư. Sau đó, thấy rằng kẻ thù của mình chạy trốn ngoài biên giới của vương quốc, nhà vua đã ký một hiệp ước dẫn độ với nhà vua Bồ Đào Nha để bắt giữ những kẻ lưu vong và ra tay trừng phạt những kẻ ủng hộ người anh em trai của mình và những kẻ chống đối khác.

Trong khi đó Henry sống sót sau trận chiến Najera đã vượt qua Pyrenees và đến nước Pháp, nơi mà triều đình đã có cảm tình với ông ta. Ông đã bỏ ra một số tiền lớn để thuê một đội quân đánh thuê và vượt qua Aragon trong năm 1366 và lần thứ hai mở ra một cuộc nội chiến ở xứ Castilla. Sau khi chiếm được Calahorra, Navarrete và Briviesca, ông đã lên ngôi vua của xứ Castile và Leon.

Liên minh của Pedro với nước Anh

Vào cuối chiến dịch này, Edward-Hoàng tử xứ Wales- con trai của vua nước Anh , người được gọi là Hoàng tử đen, muốn can thiệp vào cuộc xung đột huynh đệ tương tàn để có cơ hội tìm kiếm lợi ích bản thân trong cuộc xung đột của ông với Pháp. Khi vương quốc Castile của Trastámara được hỗ trợ bởi người Pháp, ông này quay ra ủng hộ Pedro the Cruel qua việc cung cấp vũ khí, binh lính và trang thiết bị. Năm 1367 quân đội của Liên minh Anh-Castile tiến vào xứ Castilla và lại một lần nữa đánh bại Enrique ở trận Najera. Bertrand Du Guesclin-Nguyên soái của Pháp chỉ huy của quân đội của Henry, đã bị bắt tù binh nhưng sau đó được trả tự do, ông đã trốn sang xứ Aragon.Peter đã gây thất vọng vì không chịu trả các chi phí của chiến dịch và sự trả thù khát máu mà nhà vua Castilian dùng để trừng phạt kẻ thù đã bị đánh bại của ông ta đã gây ra rất nhiều căm phẫn, Hoàng tử đen đã chấm dứt liên minh của mình với Pedro và rời khỏi bán đảo Iberia vào tháng Tám năm đó cùng quân đội của ông và để mặc Pedro ở lại xứ này. Khi biết rằng quân Anh đã bỏ đi, Enrique lại một lần nữa tiến hành xâm chiếm xứ Castile trong một chiến dịch mới kéo dài một năm rưỡi.

Trận chiến tại Montiel

Pedro đã tập hợp một đội quân lớn bao gồm người Tây Ban Nha, người Moor và cả người Do Thái để bù đắp vào sự thiếu hụt do quân đội của Edward-Hoàng tử đen đã bỏ lại. Lúc này biết được rằng người anh em của ông trên thực tế đã cai trị một nửa vương quốc và hành quân đến để lật đổ ông, Pedro cũng mang quân đội của mình đến để đối mặt với họ ở dưới chân của những bức tường thành của lâu đài Montiel.

Trận chiến diễn ra cực kỳ đẫm máu, nhưng Henry đã đánh bại được Pedro và buộc ông này phải trốn vào bên trong pháo đài vào ngày 14 tháng Ba.

Bị bao vây bởi lực lượng của người anh em trai của mình, Pedro the Cruel đã cố gắng một cách tuyệt vọng để thương lượng đầu hàng một cách riêng biệt với Du Guesclin, người mà ông coi là dễ tiếp cận hơn. Quân Pháp dường như đồng ý với ông ta và hứa hẹn cho ông đào thoát, nhưng thay vì mở một khe hở cho ông thoát ra ngoài, thì Du Guesclin lại mang ông trực tiếp đến trại của Henry. Sau đối mặt với nhau hai người anh em lao vào nhau với ý định giết đối thủ: Pedro bị Enrique đã giết chết ông ta khi Du Guesclin-một người có sức khỏe khủng khiếp, đã túm chân của nhà vua và ấn ông ta xuống và rồi Henry đè lên người anh trai rồi đâm nhà vua liên tiếp. Khi bị cáo buộc bội ước bởi Peter, vị tướng Pháp đã trả lời bằng nói nổi tiếng của ông: Tôi không làm gì để phế truất một vị vua, tôi chỉ giúp chúa của tôi ( chính xác, ông ta là quân nhân nên phải hết lòng vì chủ của mình, còn là tự ông kia ngủ mê nên sa bẫy mà thôi ).

Pedro đã bị giết chết và người em trai mang đầu và thân của xác chết vào hai tấm ván gỗ rồi treo trên các bức tường của lâu đài Montiel để tạo nên sự thất vọng cho các sĩ quan vẫn còn trung thành với người anh của. Nhìn thấy xác của nhà vua của mình, họ đã đầu hàng ngay lập tức. Sau đó, Enrique de Trastámara trở thành vua của Castilla để thay thế anh em người đã bị giết chết của ông và đã lên ngôi với danh hiệu Henry II.

Hậu quả

Henry II lên ngôi vua và tiếp tục liên minh với Charles V của Pháp, ông đã giúp cho người Pháp chiếm lại hải cảng La Rochelle ( 1372) vốn đã bị chiếm bởi quân đội Anh. Mặc dù có những lo sợ rằng ông sẽ trả thù người Moor và người Do Thái-những người đã về phe Pedro để chiến đấu chống lại ông, Henry đã chứng tỏ mình là một vị vua công bằng và đã tha thứ cho tất cả để tạo ra một nền hòa bình kéo dài.

Trận La Rochelle

Tóm tắt Trận hải chiến La Rochelle diễn ra vào ngày 22 và ngày 23 tháng 6 năm 1372 giữa một Hạm đội Castile được chỉ huy bởi Ambrosio Boccanegra- người sinh ra tại Genova và một đoàn công voa của Anh được chỉ huy bởi John Hastings, Bá tước thứ 2 của Pembroke. Hạm đội của Castile đã được gửi đến để tấn công đoàn tầu của Anh tại La Rochelle vốn đang bị bao vây bởi quân Pháp. Bên cạnh Boccanegra còn có các chỉ huy xứ Castile khác là Cabeza de Vaca, Fernando de Peón và Basque Ruy Díaz de Rojas. Pembroke đã được phái đến thành phố với một đoàn tùy tùng nhỏ gồm 160 binh sĩ và nhận được lệnh phải tuyển dụng một đội quân khoảng 3.000 binh sĩ ở vùng xung quanh Aquitanie. Từ ngày 22-> 23 tháng sáu cả hai Hạm đội đã liên tục đụng độ. Sức mạnh của Hạm đội Castile gồm 12 tầu Galley theo nhà viết sử người Castile và thuyền trưởng hải quân López de Ayala nhưng theo sử gia người Pháp Jean Froissart thì họ có 40 chiếc tầu và 13 chiếc sà lan trong khi đó đoàn tầu Anh có khoảng gồm 20 tàu, trong đó chỉ 3 chiếc tàu chiến hộ tống có tháp chiến trong khi đó 17 chiếc khác là những chiếc sà lan nhỏ khoảng 50 tấn.Nhờ ưu thế rõ ràng của họ trên cả hai mặt tàu chiến và chiến binh, người Castile đã đánh bại người Anh. Những tài liệu khác nhau mô tả những diễn biến rất khác nhau trong trận đánh. Những mâu thuẫn chủ yếu xuất phát từ tính chất dân tộc; các sử gia người Anh, Castile và Pháp đã mô tả trận chiến theo những cách khác nhau, họ nhấn mạnh vào một khía cạnh nhất định, nhưng lại luôn phủ nhận ý kiến của người khác. Tuy nhiên chiến thắng là hoàn tất và cả đoàn Công voa Anh đã bị phá hủy. Trên đường trở về bán đảo Iberia, Boccanegra còn bắt thêm bốn chiếc tàu Anh.Hoàn cảnh

Năm 1372 vua Edward III của Anh quốc lên kế hoạch cho một chiến dịch quan trọng trong Aquitanie dưới sự chỉ huy của Bá tước của Pembroke-trung úy mới được bổ nhiệm của Công quốc này, ông đã ký hợp đồng để phục vụ một năm ở công quốc với một đoàn tùy tùng gồm 24 hiệp sĩ, 55 hộ sỹ và 80 cung thủ bên cạnh một Đại đội được chỉ huy bởi Sir Hugh Calveley và Sir John Devereux, người cuối cùng (Sir John Devereux ) đã không muốn phục vụ hoặc không muốn xuất hiện. Pembroke đã nhận được chỉ thị rằng khi đến Pháp ông phải tuyển dụng một đội quân gồm 500 hiệp sĩ, 1.500 hộ sỹ và 1.500 cung thủ. Sir John Wilton-một trong những sỹ quan của Edward, được bổ nhiệm đi cùng với vị Bá tước này cùng với một số lượng lớn tiền để trả công cho các binh sĩ.

Bá tước Pembroke và đoàn tùy tùng của mình cùng với Wilton lên tầu tại Plymouth trên một đội tàu vận tải và không chuẩn bị cho một trận đánh nghiêm trọng. Nhà viết sử người Castile Pero López de Ayala ước tính rằng hạm đội này có khoảng 36 tàu, các nhà sử gia của triều đình Pháp đưa ra con số 35. Jean Froissart theo một trong hai mô tả của ông về trận chiến đã nói lực lượng Anh có lẽ vào khoảng 14 chiếc tàu. Một hạm đội khoảng 20 chiếc tàu được coi là một lực lượng hợp lý. Vì hầu hết trong số họ là những tầu vận tải nhỏ, Sir Philip Courtenay-đô đốc của Hạm đội phía Tây đã cho tách 3 tàu có trọng tải lớn với những chiếc tháp vốn rất hữu ích cho các cung thủ ra để hộ tống họ.

Sự cai trị của Anh ở tại Aquitanie đang ở trong tình trạng bấp bênh. Từ năm 1370 phần lớn vùng này đã quay trở lại dưới sự cai trị của người Pháp và trong năm 1372 Bertrand du Guesclin tiến hành bao vây thành phố cảng La Rochelle. Thể theo yêu cầu của Liên minh Pháp-Castile từ năm 1368, vua của Castile-Henry II của Trastámara, đã phái đến Aquitanie một hạm đội dưới sự chỉ huy của Ambrosio Boccanegra. Kích cỡ của hạm đội này còn đang bàn cãi nhưng con số 50 chiếc tầu trong đó có 20 chiếc Galley là hợp lý.

Trận đánh

Ngày 22 tháng Sáu, đoàn công voy của Anh đến được La Rochelle và trận chiến bắt đầu khi các tàu của Pembroke tiếp cận theo hướng chiếc bến cảng. Trận đánh này nổ ra ở phần đầu của một chiếc vịnh vốn không dễ dò tìm tại vùng nước thấp. Cuộc tấn công đầu tiên của Castile đã gặp một sự kháng cự cương quyết của người Anh,. Mặc dù thua thiệt về mặt số lượng nhưng người Anh vẫn phòng thủ rất tốt. Vào chiều tối, khi nước lên cả hai hạm đội phải tách nhau ra. Mặc dù họ đã mất 2 hoặc 4 chiếc tàu, theo Froissart thì người Anh đã bất khả chiến bại. Sau đó Pembroke rút lui một cách vào đất liền, trong khi Boccanegra thả neo ở phía trước La Rochelle. Quấn biên niên sử Quatre Premiers Valois, lại viết không giống như López de Ayala và Froissart, nó ngụ ý rằng chỉ có một số cuộc giao tranh nhỏ đã diễn ra trong ngày đầu tiên bởi vì Boccanegra đã ra lệnh cho các tầu Galley của mình rút lui, để đưa chúng vào những hoạt động chính. Theo quấn biên niên sử này thì vị trí neo đậu của hai Hạm đội này đã bị đảo ngược: người Anh ở ngoài thị trấn và còn người Castile ở ngoài biển.

Froissart mô tả có một cuộc thảo luận giữa Pembroke và người của ông trong đêm ngày 22-23 tháng Sáu về việc làm thế nào để thoát khỏi cái bẫy. Một số cho rằng cố gắng để thoát dưới sự che đêm do e sợ các tầu Galley của Castile, còn nhóm còn lại muốn tìm một con đường khác vào La Rochelle vì mức nước xuống rất thấp. Cuối cùng thuỷ triều xuống quá thấp làm cho các con tàu của Anh bị mắc cạn. Khi cuộc chiến tiếp tục vào sáng ngày thứ 23, người Castile đã cố gắng để đốt một số tầu trong số họ bằng cách phun dầu trên sàn tầu của họ và sau đó đốt cháy nó bằng những mũi tên lửa. Rất nhiều binh sỹ Anh đã hoặc bị giết chết hoặc bị thiêu sống, trong khi những người khác phải đầu hàng trong đó có cả Pembroke. Nhà viết sử của hải quân Castile-Cesareo Fernández Duro tuyên bố rằng tù binh Anh lên tới 400 hiệp sĩ và 8.000 binh sĩ, mà không tính số thiệt mạng và không đưa nguồn Sherborne và Tuck nói rằng ước tính chỉ được ghi lại trong. Biên niên sử có đề cập đến cuộc chiến nói khoảng 800 người chết và từ 160 và 400 tù nhân. Cả đoàn côngvoa đã bị phá hủy hoặc bị bắt và 12.000 £ rơi vào tay Castile. Một thất bại không thể tránh khỏi vì sự bất cân bằng giữa hai hạm đội.

Hậu quả

Trận chiến tại La Rochelle là một thất bại quan trọng đầu tiên của hải quân Anh trong cuộc Chiến tranh Trăm năm “. Ảnh hưởng của nó vào quá trình chiến tranh có ý nghĩa:. Thành phố La Rochelle thất thủ vào ngày 07 tháng Chín, chỉ trong một nửa thứ hai của năm đó tại gần như tất cả các vùng Poitou, Angoumois và Saintonge, Bertrand du Guesclin đã xóa sạch các đơn vị đồn trú của Anh Một số tác giả cho rằng.cuộc chiến hải quân làm cho nước Anh mất uy thế ở dọc theo bờ biển nước Pháp, nhưng những người khác không đồng ý, mặc dù họ cũng khẳng định rằng chính sách của hải quân Anh đã trở thành sai lầm. Một mặt các nguồn tài nguyên dự kiến ​​để hỗ trợ cho đòi hỏi của John của Gaunt về ngôi vua Castile đã bị đình chỉ lâu dài và các chuyến viễn chinh lớn khác của chính Edward III đã phải bị đình chỉ vì trái gió.

Một năm sau trận đánh, hạm đội Anh đã được xây dựng lại nhờ vào nỗ lực của mười bốn thị xã khác nhau. Vào tháng Tư năm 1373 một lực lượng mạnh mẽ dưới sự chỉ huy của William-Bá tước Salisbury, với Đô Đốc Neville và Courtenay và chia thành hai bán đội. Bán đội đầu tiên gồm 15 tàu và 9 sà lan và bán đội thứ hai gồm 12 tàu và 9 sà lan, tổng cộng có tất cả 44 chiếc tàu chiến căng buồm về phía Bồ Đào Nha. Những chiếc tàu và sà lan khác cũng dần tham gia vào cuộc hành quân lớn và vào tháng Bảy, Salisbury đã có 56 tàu chiếc được điều khiển bởi 2.500 thủy thủ và một đội quân gồm 2.600 binh sĩ.

Chiến dịch năm 1373

Trận chiến Otterburn

Trận Otterburn diễn ra vào ngày 05 tháng 8 năm 1388, như là một phần của cuộc xung đột biên giới kéo dài tưởng như bất tận đến hàng trăm năm giữa người Scotland và người Anh. Tác dụng phụ của trận chiến này này là người Anh phải chấp nhận ký hòa ước với người Pháp trong năm 1389, bất chấp những thua thiệt của họ trong giai đoạn Chiến tranh của nhà Caroline từ năm 1369 -> 1389, để quay lại đối phó với một kẻ thù truyền kiếp của họ-đó chính là người ScotlandTài liệu có chất lượng nhất về trận chiến là từ quấn Biên niên sử của Jean Froissart, trong đó ông tuyên bố rằng đã thu thập tin tức từ những cựu chiến binh ở cả hai phía của cuộc chiến. Tuy nhiên tài liệu của ông vẫn còn một số vấn đề phải xem xét về mặt chi tiết, chẳng hạn như khoảng cách giữa Newcastle upon Tyne và Otterburn là không chính xác. James Douglas-Bá tước thứ 2 nhà Douglas- của người Scotland đã quyết định tiến hành một cuộc tấn công vào lãnh thổ Anh -một trong một loạt các trận đánh tục của cả hai phía ở vùng biên giới. Ông muốn tận dụng khai thác lợi thế về khoảng cách về mặt không gian giữa các đạo quân của Lord Neville và Henry Percy-Bá tước Northumberland, người trực tiếp chỉ huy tuyến phòng thủ biên giới.Trận chiến nổ ra trong buổi đêm và kết thúc với thắng lợi của người Scotland vốn được bởi James Douglas, người đã đánh bại Henry Percy, biệt danh “Hotspur” và con trai của vị Bá tước đầu tiên của Northumberland. Douglas đã tử trận ngay trong trận chiến, mặc dù chiến thắng của ông làm tăng thêm uy tín của gia tộc của ông-vốn là một gia tộc có những chiến binh nổi tiếng ở vùng biên giới Anh- Scotland. Tham gia vào trận chiến có những gia tộc khác của Scotland như Johnstone, Graham, Gordon, Swinton và Lindsay …

Tại Newcastle

Vào mùa hè 1388, sau khi vừa kết thúc một thỏa thuận ngừng bắn với người Anh, người Scotland đã bắt đầu tấn công trên cả hai tuyến biên giới phía đông và phía tây, lợi dụng sự xa cách của hai nhà Percy và Nevill- những người nhận nhiệm vụ phòng bị vùng biên giới. Trong tháng Tám, Bá tước Douglas đã tiến hành một cuộc tấn công đặc biệt dữ dội vào thành phố cảng Newcastle. Đây là một cuộc hành quân đầy rủi ro: ông không có đủ các phương tiện cần thiết để tiến hành một cuộc bao vây, Newcastle là một trong những căn cứ chính của quân đội Anh ở phía miền Bắc, do đó, thành phố đã được bảo vệ bởi một số lượng rất đông binh lính Anh. Vì Bá tước Northumberland đang ở Alnwick, quân đội Anh được chỉ huy bởi người anh em của ông ta-Bá tước Harry Hotspur. Tuy nhiên, sự vắng mặt của vị Bá tước này cũng là một mối nguy hiểm tiềm năng cho quân Scotland ( ông ta có thể xuất hiện bất cứ lúc nào với quân tiếp viện ), vì khả năng vẫn còn đó nên họ buộc phải rút lui vì nếu vị Bá tước này quay trở lại Newcastle thì có thể ông ta sẽ dẫn đầu một cuộc tấn công chống lại họ. Tuy nhiên, sự linh hoạt của cuộc tấn công được chỉ huy bởi Lord Douglas đã làm người Anh rằng đội quân của ông chỉ là đội tiên phong của một đội quân lớn hơn nhiều, có lẽ và có lẽ đội quân lớn này đang tìm cách tiếp cận Newcastle, bởi vì họ thường xuyên tiến hành các cuộc giao tranh ở bên ngoài rất gần với bức tường phòng thủ phía tây của thành phố. Jean Froissart kể lại rằng thậm chí Douglas đã chiếm được lá cờ của Hotspur, mặc dù người ta tin rằng rằng đây chỉ là chi tiết được thêm vào để câu chuyện lịch sử càng thêm phong phú-cái cách mà các nhà viết sử thường sử dụng để hấp dẫn người nghe.

Sau khi rời Newcastle, Douglas hướng về phía tây bắc vùng thung lũng sông Rede, với ý định tìm một cách quay trở lại Scotland một cách an toàn theo cùng một con đường mà ông đã đến nước Anh. Cuộc rút lui này không có gì là vội vàng một cách đặc biệt, bất chấp những nguy cơ rõ ràng đang dần dần kết hợp lại. Cùng đi với đội quân của ông còn là các đàn gia súc bị chiếm đoạt và cướp phá từ các nơi trên đất Anh nên làm tiến độ hành quân chở nên tương đối chậm. Tuy nhiên, đến khi được tháp Ponteland, chỉ một vài dặm từ Newcastle, ông đã quyết định cho quân đội của mình dừng lại và cuộc tấn công truy kích là không thể gây trở ngại, sự kiện này tạo cơ hội cho Hotspur được thông báo về hướng rút lui của họ

Vào chiều ngày hôm đó, Lord Douglas đi ngược lên thung lũng Rede để đến Otterburn. Ông đã quyết định hạ một cái trại ở giữa con đường: phía bên phải của vị trí đóng quân của ông ở gần một con sông và bên trái được kéo dài đến một con dốc ở phía trước của một đầm lầy, khoảng một dặm ngoài ngọn tháp của Otterburn. Vào phần lớn ngày hôm sau (19 tháng 8), người Scotland đã tấn công không thành công các tòa tháp gần đó. Với một lực lượng bị suy yếu bởi những nỗ lực những nỗ lực không thành công, Douglas vẫn ngoan cố cắm trại cho một đêm thứ hai để chuẩn bị cho một đợt công thành tiếp theo. Tin tưởng rằng mình sẽ an toàn trước bất kỳ cuộc tấn công nào, ông này đã thậm chí không bận tâm đến việc chuẩn bị phòng ngự.Cuộc tấn công của HotspurTrong khi đó, Hotspur đã hành quân một thành công từ Newcastle, nhưng dường như có khả năng ông ta cho rằng người Scotland vẫn còn ở khá xa. Ông tiến đến thung lũng Rede vào lúc hoàng hôn của ngày 19, và cũng đang tìm kiếm một nơi để cắm trại: binh sĩ đã mệt mỏi và đóng trại theo một đội hình hình cột hướng từ Ponteland. Tuy nhiên, thay vì chờ cho mặt trời mọc vào sáng hôm sau để cho phép người của mình nghỉ ngơi và tập hợp lại trước khi cuộc chiến bắt đầu và tận dụng ưu thế về số lượng của người Anh, ông này đã quyết định tiến hành các cuộc tấn công ngay lập tức, trong một nỗ lực để tạo bất ngờ với người Scotland khi họ đang ngủ; ông cử một phần quân của mình tiến về phía bắc, qua phía bên trái của người Scotland để đảm bảo rằng họ không thể chạy trốn, trong khi phần lớn hơn trong đội quân của ông sẽ khởi động một cuộc tấn công trực diện.Phản ứng của người ScotlandTừ lúc bắt đầu cuộc tấn công đêm đột ngột của người Anh, đã có sự hỗn loạn đáng kể trong doanh trại của quân Scotland. Vì vậy, tình hình được mô tả trong quấn biên niên sử của Pluscarden:

“Họ nhổm dậy ngay lập tức và vội vã lấy vũ khí, nhưng dường như chưa đến một nửa số người của họ có thể tìm thấy vũ khí. Bá tước Douglas cũng nhỏm dậy và trong lúc vội vàng thì hầu như ông không kịp mặc áo giáp của hay thậm chí là cãi những chiếc khóa, Do sự hoảng bị gây ra bởi đợt tấn công bất ngờ của kẻ thù, ônh phải xông lên tuyến đầu tiên của trận chiến để cố gắng sắp xếp lại đội hình . “

Thu thập càng nhiều người càng tốt, Douglas đã tiến hành những đợt phản công. Ông đã đi đến phía bên phải của Percy từ phía bắc, rồi nhanh chóng tiến xuống chỗ dốc của khu rừng bằng một đoạn đường cong nhỏ ( tìm cách đánh bọc sườn đối phương ), nó cho phép ông tiếp cận đến khoảng 182 mét cuối cùng mà không bị quân Anh phát hiện trước khi quân Scotland tấn công đổ ập vào quân Anh một cách bất ngờ. Bởi vì tầm nhìn kém, trận chiến vẫn tiếp tục mà Percy đã thực sự không thể sử dụng được các cung thủ của mình, những người lính của cả hai bên đã chiến đấu một trận chiến tay đôi ở tầm gần và trong ánh sáng lờ mờ của một đêm tối trời ít trăng nhiều mây, trận chiến vẫn tiếp tục diễn ra trong nhiều giờ.

Vào một khoảng nào đó trong buổi đêm, Bá tước James Douglas đã bị giết mặc dù người ta không thể biết được ông bị giết như thế nào hoặc vào lúc nào, mặc dù theo kể lại của Froissart thì xác của ông đã được tìm thấy vào sáng hôm sau với một vết thương sâu ở trong cổ họng ( vì ông này không kịp mặc giáp ). Bất chấp cái chết của James Douglas, phần còn lại của quân Scotland vẫn tiếp tục chiến đấu và đẩy quân Anh vào một khe núi. Vào lúc bình minh, quân của Hotspur đã bắt đầu bị tan rã với một số lớn người bị đánh bại đã quay đầu tháo lui. Hotspur đã bị bắt làm tù binh bởi Sir John Montgomery và đồng thời Ralph-anh trai của ông cũng bị thương nặng. Mặc dù lực lượng của Percy có lợi thế 3:1, người ta ước tính 1.040 khoảng người Anh bị bắt và 1860 bị giết trong khi 200 người Scotland bị bắt và 100 bị giết. Quấn biên niên sử Westminister đưa ra một ước tính đáng tin cậy hơn về số thương vong của người Scotland là khoảng 500 hoặc xấp xỉ như vậy. Khi Giám mục Durham tiến đến từ Newcastle với 10.000 người, có vẻ như ông đã bị mất tinh thần bởi những toán quân Anh bị bại trận đang tháo chạy và sự xuất hiện của lực lượng Scotland với những âm thanh ầm ỹ từ những chiếc tù và sừng trâu của họ, dường như thấy rằng không thể công kích vị trí của họ nên ông đã quyết định từ bỏ ý định tấn công.

Những trận chiến Anh-Pháp, Anh-Scotland thời Trung cổ cho thấy một nghịch lý là: nước Anh với diện tích và dân số chỉ bằng nửa dân Pháp, người Anh cũng không có những đội kị sỹ thiết giáp đông đảo nhưng của Pháp, nhưng người Anh lại đánh bại người Pháp hết trận này đến trận khác. Ngược lại đất nước Scotland và dân số của người Scotland chỉ bằng non nửa người Anh ( chưa tính đến trong quân đội Anh còn có các thành phần lính đánh thuê đến từ xứ Wales, Ailen, xứ Aquitany …) nhưng hoàn toàn không dễ dàng cho người Anh để đánh bại được người Scotland, thậm chí người Anh còn phải chuốc lấy những thất bại đau đớn như trận Otterburn này chẳng hạn. Sau trận Otterburn thì hàng loạt trận đánh giữa người Scotland và người Anh lại nổ ra và kéo dài cho đến thế kỷ 16 như các trận Duns – Nesbit Moor – Humbleton Hill – Yeavering – Piperdean – Sark – Berwick – Lochmaben Fair – Flodden Field –Haddon Rig – Solway Moss – Ancrum Moor – Pinkie Cleugh – Haddington – Broughty Castle – Redeswire…Thậm trí đánh nhau ở biên giới Anh-Scotland chưa đủ, ở giai đoạn sau của chiến tranh Trăm năm người Scotland còn kéo sang Pháp và thành lập quân đội Scotland hải ngoại để liên minh với Pháp và tiếp tục chiến đấu với người Anh. Sau trận Verneuil năm 1424, Liên quân Scotland-Pháp hoàn toàn bại trận, 4.000 lính Scoland cùng tất cả các chỉ huy của họ đều tử trận, đến đây thì quân đội Scotland hải ngoại hoàn toàn bị xóa sổ. Tuy vậy vì khâm phục lòng dũng cảm và trung thành của họ, rất nhiều vị vua Pháp ( bắt đầu là từ vua Charles VII ) đã tuyển những thanh niên Scotland làm vệ binh cho mình và từ đó bắt đầu xuất hiện đội vệ binh cung thủ Scotland nổi tiếng.

Một số trận đánh trong cuộc chiến của nhà Lancaster năm 1415 -> 1429

Năm 1389 Charles VI, con trai của Charles V và Richard II-con trai của Hoàng tử đen ký hiệp ước hòa bình kết thúc thời kỳ chiến tranh nhà Caroline. Vào khoảng thời gian này nước Anh cũng lâm vào tình trạng vô cùng khó khăn, những đợt trưng thu lương thực, gia súc .. liên tục để phục vụ cho nhu cầu của chiên tranh đã làm nổ ra phong trào khởi nghĩa của nông dân, chưa hết ở biên giới phía Bắc người Scotland lại liên tục đánh phá, trong khi đóRichard II lại là một kẻ bất tài. Nhân cơ hội này Henry of Bolingbroke-Bá tước của Lancaster-anh em họ của Recharles II đã tống ông này vào tù rồi ra tay hạ sát và đoạt ngôi vua nước Anh với danh hiệu Henry IV. Con trai ông ta là Henry V đã tiến hành chinh phục nước Pháp vào năm 1415 nên khoảng thời gian từ năm 1415-> 29 được gọi là cuộc chiến của nhà Lancaster

Những sự kiện chính xảy ra ở Anh – Pháp từ năm 1389 -> 1429

Tháng 5 năm 1389 Richard II tuyên bố mình đã đến tuổi trưởng thành và kiểm soát chính phủ Anh một cách cá nhân.
Ngày 18 tháng 6 Hiệp ước ngừng bắn Leulinghen giữa Anh-Pháp được ký kết
Tháng Hai năm 1390 John của Gaunt, công tước của Lancaster, được phong làm công tước của Aquitaine bởi cháu trai của ông-Richard II
19 Tháng 4 Robert II của Scotland chết, được thừa kế bởi Robert III
05 tháng 8 năm 1392 Charles VI đầu thể hiện tình trạng tâm thần phân liệt của mình; tình trạng thiếu năng lực của nhà vua cho phép người chú của ông nắm quyền điều hành và lật đổ Marmouset
Ngày 28 tháng 1 năm 1393 Charles VI thoát chết trong gang tấc khi một ngọn đuốc rơi vào bộ trang phục kiểu Masque của nhà vua.
Ngày 16 tháng 3 năm 1394 Sir John Hawkwood chỉ huy người Anh của Great Company chết ở Italy
Ngày 23 tháng 4 Sir Hugh Calveley chỉ huy người Anh của Great Company qua đời
Ngày 07 tháng 6 Anne của Bohemia, nữ hoàng của Anh và vợ của Richard II qua đời
1396 Philip the Good, công tước thứ ba của Valois ở Burgundy ra đời
Ngày 04 tháng 11 Richard II kết hôn với Isabella, con gái của Charles VI
Ngày 10 tháng 7 năm 1397 Richard II bắt giữ người chú Thomas của Woodstock, công tước của Gloucester, người sau đó chết trong tù tại Calais
Tháng Chín Richard II buộc tội Lord Appellant trước Nghị viện về tội phản quốc
Ngày 16 tháng 9 năm1398 Richard II lưu đày Henry của Bolingbroke-người anh em họ của ông, con trai của John Gaunt-công tước của Lancaster ra nước ngoài
Ngày 03 tháng 2 năm1399 John của Gaunt, công tước của Lancaster qua đời, Richard II
truất quyền thừa kế của Bolingbroke và tịch thu tài sản của ông ta ở vùng Lancaster
Ngày 01 tháng 6 Richard II mở chiến dịch Ireland
Ngày 04 tháng 7 Henry của Bolingbroke, con trai của John của Gaunt, công tước của Lancaster đổ bộ lên nước Anh để đòi lại tài sản của cha mình
Ngày 19 tháng 8 Richard II bị bắt làm tù binh
Ngày 29-Ngày 30 tháng 9 Richard II thoái vị; Henry của Bolingbroke lên ngôi vua Anh như là Henry IV
Tháng Mười Một John IV, công tước xứ Brittany qua đời
năm 1400 Henry IV gửi vợ của Richard II- nữ hoàng, Isabella của Valois, con gái của Charles VI trở lại Pháp
Tháng Hai Richard II bị ám sát
14 Tháng Chín năm 1402 Trận Hill Homildon trong chiến tranh Anh-Scotland.
22 tháng 2 năm 1403 Charles-con trai của vua Charles VI và cũng là Charles VII tương lai của Pháp ra đời
Ngày 27 Tháng Tư năm 1404 Philip the Bold, công tước của Burgundy; John the Fearless làm công tước của xứ Burgundy
21 tháng 3 năm 1405 Marguerite de Flanders, nữ công tước xứ Burgundy qua đời, vùng Hà lan ngày nay được thừa kế bởi con trai của bà – John the Fearless, công tước xứ Burgundy
5 tháng 10 Christine de Pizan viết thư cho Nữ hoàng Isabeau hối thúc bà can thiệp vào cuộc đấu tranh chính trị giữa các công tước xứ Burgundy và Orle’ans
1406 Ngày 22 tháng 3 James, người thừa kế ngai vàng của Scotland, bị bắt trên biển bởi người Anh
04 Tháng 4 Robert III của Scotland qua đời; James I người thừa kế ngai vàng đang nằm trong nhà tù ở Anh, cần một chính phủ nhiếp chính
Ngày 23 tháng 4 năm 1407 Nguyên soái kỳ cựu người Pháp Olivier de Clisson qua đời
Ngày 15 tháng 8 Đội trưởng routier Sir Knolles Robert người Anh qua đời
Ngày 23 tháng 11 Louis, công tước của Orle’ans, anh trai của Charles VI bị ám sát tại Paris
25 tháng 11 John the Fearless, công tước xứ Burgundy, thú nhận rằng ông đã ra lệnh giết người của Orle’ans qua”sự can thiệp của ma quỷ”
Ngày 26 Tháng 11 Bị truy nã bởi Hội đồng hoàng gia, John the Fearless, công tước của Burgundy, bỏ trốn khỏi Paris
Tháng Hai năm 1408 John the Fearless, công tước xứ Burgundy, trở về Paris
Ngày 08 tháng 3 John the Fearless, công tước xứ Burgundy, trình bày bằng văn bản Giải thích về cái chết của Louis, công tước của Orle’ans, trước Charles VI và hội đồng hoàng gia; Giải thích rõ lý do của vụ giết người bằng tố cáo những hành vi bạo quyền của Orle’ans
Tháng Chín Charles, công tước của Orle’ans đưa ra tuyên ngôn của mình để trả lời các cáo buộc nhắm vào người cha của mình được đưa ra bởi John the Fearless-công tước xứ Burgundy
Ngày 09 tháng ba năm 1409 Charles VI chủ trì một buổi lễ chính thức hòa giải ở Chartres, tất cả các hoàng tử của Pháp lấy máu để thề về tình bạn và hứa sẽ gìn giữ hòa bình
Ngày 13 tháng 9 Cái chết của Isabella, cựu nữ hoàng của Richard II
Năm 1410 Tháng Tư Liên minh chống Burgundian của Gien được tạo ra bởi hoàng tử Armagnac
Tháng 11 Hiệp ước Hòa bình Bicetre tạm thời kết thúc nội chiến ở Pháp
Tháng Bảy năm 1411 Charles, công tước của Orle’ans, yêu cầu nhà vua trừng phạt John the Fearless, công tước của Bourgogne, vì cái chết của cha mình
Tháng mười Quân Anh ở vùng Calais tiến quân để hỗ trợ John the Fearless-công tước
xứ Burgundy, để chống lại nhà Armagnacs; người Burgundy đánh tan người Armagnac Paris bị vây hãm
Ngày 30 tháng 11 Henry IV giải tán Hoàng tử Henry và những người ủng hộ ông khỏi chính phủ
Ngày 06 tháng 1 năm 1412 Jan D’Arc được sinh ra trong vùng Domremy
Tháng Năm 18 Hiệp ước Anh-Armagnac được ký kết ở Bourges
Ngày 11 tháng 7 Thomas-công tước của Clarence, đổ bộ xuống đất Pháp với một đội quân Anh, qua đó thực hiện các điều khoản của Hiệp ước Bourges
Tháng Tám Hiệp ước Auxerre được ký kết, tạm thời kết thúc nội chiến Pháp
Ngày 14 tháng 11 Hiệp ước Buzanc giữa Anglo-Armagnac được ký kết, Thomas, công tước của Clarence được trả tiền để rút khỏi Gascony
Tháng một năm 1413 John the Fearless, công tước xứ Burgundy, triệu tập Estates- General ở Paris để bỏ phiếu cho luật thuế mới
20 Tháng Ba Henry IV chết; con trai của ông kế vị với danh hiệu Henry V của Anh quốc
Ngày 27-ngày 28 tháng 4 cuộc nổi dậy Cabochien xảy ra tại Paris
Ngày 26-27 Tháng Năm Charles VI ban hành Cabochienne Ordonnance, các
biện pháp cải cách lớn yêu cầu của những người Cabochien
Tháng bảy Louis, công tước của Guienne, dauphin của Pháp, tiến hành thương lượng hòa bình ở Pontoise trong một nỗ lực nhằm giải quyết cuộc nội chiến ở Pháp
ngày 04 tháng 8 Louis, công tước của Guienne, dauphin của Pháp, lại vào Paris trong
chiến thắng.
23 tháng 8 John the Fearless, công tước xứ Burgundy bỏ trốn Paris sau khi bắt cóc nhà vua không thành công,
Ngày 01 tháng 9 những người củae Armagnac tiến vào Paris
05 tháng 9 Ordonnance Cabochienne bị bãi bỏ
Tháng một năm 1414 John V, công tước xứ Brittany, ký kết một thỏa thuận ngừng bắn mười năm với người Anh
Tháng Hai năm 1415 cuộc đàm phán Anh-Armagnac sụp đổ, làm cho việc bắt đầu lại chiến tranh Trăm năm là điều không thể tránh khỏi; Hòa bình Arras được ký kết giữa
các bên tham gia cuộc nội chiến Pháp
Tháng tám âm mưug nổi loạn của Bá tước Southampton bị Henry V phát hiện
Ngày 11 tháng 8 Henry V căn buồm đến nước Pháp
18 Tháng Tám – 22 tháng 9 Henry V bao vây và chiếm cảng Harfleur
25 tháng 10 trận chiến Agincourt-một trong những trận đánh lớn của chiến tranh Trăm năm, Henry V giành chiến thắng bất ngờ trước những lực lượng vượt trội Pháp
Tháng Mười Hai cái chết của Louis, công tước của Guienne, dauphin của Pháp
1416 Tháng Trận Valmont-Thomas Beaufort, bá tước của Dorset, chiến thắng trong hàng loạt các cuộc giao chiến với lực lượng Pháp trong khi thi hành sứ mệnh tìm kiếm lương lực để tiếp tế cho lực lượng Anh đồn trú ở Harfleur đang bị bao vây.
Tháng Sáu Cái chết của John, công tước của Berry, bác của Charles VI
Ngày 15 tháng 8 Trận sông Seine, chiến thắng hải quân của John-công tước của Bedford, phá vỡ cuộc bao vây của Pháp vào Harfleur; Hiệp ước Canterbury được ký kết giữa Henry V và Hoàng đế Sigismund
1417 ngày 05 tháng 4 Cái chết của John, công tước của Touraine, nhà dauphin của Pháp;
tháng sau, nhà dauphin mới-Charles đã đuổi Hoàng hậu Isabeau khỏi Paris
Ngày 01 tháng 8 chiến dịch (1417-1419), Henry V bắt đầu chiến dịch chinh phục Normandy của mình
Tháng Chín Caen ở Normandy rơi vào tay người Anh
Ngày 8 tháng 11 Nữ hoàng Isabeau thoát khỏi nơi giam giữ tại Tours và gia nhập với John the Fearless, công tước xứ Burgundy, để chống lại phe Armagnac.
Ngày 29 tháng 5 năm 1418 cuộc bạo loạn của những người ủng hộe Burgundy nổ ra ở Paris; Charles Dauphin phải bỏ trốn khỏi Paris
Ngày 29 tháng 6 Dauphin giành chức vụ trung tướng của nước Pháp về phía mình
Ngày 12 tháng 7 Bernard-Công tước Armagnac-người lãnh đạo Armagnac bị giết bởi một đám đông thân Burgundy tại Paris
14 tháng 7 John the Fearless, công tước xứ Burgundy quay trở lại Paris
Ngày 29 tháng 7 cuộc bao vây Rouen-Henry V tiến hành bao vây Rouen-thủ đô của Norman
Tháng Chín John the Fearless, công tước xứ Burgundy, áp đặt Hiệp ước Saint-Maur vào Charles Dauphin.
19 tháng 1 năm 1419 Rouen đầu hàng người Anh; Henry V chính thức bước vào  thị trấn ngày hôm sau, qua đó hoàn thành Chiến dịch Normandy của ông
Tháng bảy Henry V chiếm Pontoise, đưa Paris trong tầm đột kích của người Anh; Charles Dauphin và John the Fearless, công tước của Burgundy, gặp nhau ở Corbeil để thảo luận về việc kết thúc nội chiến Pháp
Ngày 10 tháng 9 Công tước John the Fearless bị giết bởi các sát thủ của Thái tử Charles, trong khi tham gia cuộc họp với Charles để thảo luận về hòa bình tại cầu Montereau; Philip the Good kế thừa cha mình làm công tước của Burgundy
Ngày 19 tháng 12 Philip the Good-công tước xứ Burgundy, phản ứng trước việc cha mình bị giết bởi người của phe Armagnacs đã chính thức liên minh với người Anh
Tháng Một năm 1420 Henry V gửi đại diện đến Troyes để bắt đầu đàm phán hòa bình
với triều đình Pháp
Ngày 03 tháng 3 Trận Fresnay, quân đội Anh đánh bại một đội quân Pháp-Scotland đang cố gắng bao vây Fresnay -le-Vicomte
Ngày 21 tháng 5 Hiệp ước Troyes, chon Henry V làm người thừa kế Charles VI, đã được ký kết
Ngày 2 tháng 6 Henry V kết hôn với Catherine of Valois, con gái của Charles VI
9 tháng bảy-18 Tháng Mười Một cuộc bao vây Melun, Henry V đã chiếm được thị trấn Melun của Pháp
Ngày 01 tháng 12 Henry V vào Paris
Tháng Một năm 1421 Nghị viện của Paris tuyên bố Thái tử Charles không có khả năng
để kế thừa ngôi vua Pháp và bị trục xuất khỏi vương quốc; Thomas Beaufort, công tước của Exeter, trở thành thống đốc quân sự của Anh ở Paris
Tháng Hai Henry V trở về nước Anh với cô dâu mới của mình, Catherine của
Valois
Ngày 22 tháng 3 Trận Bauge-Thomas, công tước của Clarence, em trai và là người thừa kế của Henry V bị giết bởi một đội quân Pháp-Scotland
6 Tháng Mười – 2 Tháng 5 năm 1422 Cuộc vây hãm Meaux, Henry V bao vây thị trấn Meaux; cuộc vây hãm kéo dài qua mùa đông làm suy yếu tinh thần người Anh và sức khỏe của nhà vua của họ.
06 tháng 12 Hoàng tử Henry con trai của vua Henry V và là Henry VI tương lai của Anh chào đời
Ngày 31 tháng 8 năm 1422 Henry V chết; Henry VI kế thừa ngôi vua Anh
Ngày 21 Tháng 10 Charles VI chết để lại tranh chấp thừa kế ngôi vua Pháp cho con trai ông-Charles (sau này lên ngôi là Charles VII) và Henry VI của Anh
Ngày 13 tháng 4 năm1423 ký kết Hiệp ước ba bên Amiens giữa John-công tước của Bedford, Philip the Good-công tước của Bourgogne và John V, công tước xứ Brittany
Ngày 18 tháng 4 Burgundy và Brittany ký một thỏa thuận bí mật duy trì tình đồng minh ngay cả khi một bên hòa giải với nhà dauphin, do đó có hiệu lực phủ nhận Hiệp ước Amiens
Ngày 13 tháng 5 John-công tước của Bedford, kết hôn với Anne, người em gái của Philip the Good-công tước của Burgundy
Ngày 31 tháng 7 Người Anh chiến thắng trận Cravant ở miền đông nước Pháp
1424 Tháng Archibald Douglas, bá tước của Douglas, đổ bộ xuống La Rochelle với một đội quân Scotland lớn được gửi đến để giúp nhà dauphin
Tháng tư chính phủ Anh phóng thích James I-vua của Scotland
Ngày 17 tháng 8 Người Anh chiến thắng trận Verneuil trước liên quân Pháp- Scotland; đây thường được gọi là” trận Agincourt thứ hai”
Tháng 3 năm 1425 Nhà Dauphin bổ nhiệm Arthur de Richemont, anh trai của Công tước John V của Brittany làm Nguyên soái của Pháp
Tháng 12 Ký kết Hiệp ước Pháp-Breton tại Saumur
15 tháng bảy-5tháng 9 năm 1427 cuộc bao vây Montargis John-Bastard của Orle’ans,
phá vỡ cuộc bao vây của người Anh nhắm vào Montargis
Tháng Chín Duke John V của Brittany chối bỏ Hiệp ước Saumur với Pháp và tái khẳng định ủng hộ Hiệp ước Troyes
Ngày 12 tháng 10 năm 1428 Quân đội Anh bao vây thành phố Orle’ans trên sông Loire
Ngày 24 tháng 10 Thomas Montagu, bá tước của Salisbury, nằm trong số người chết và bị thương bởi đạn pháo trong khi tiến hành giám sát cuộc vây hãm Orle’ans
03 Tháng 11 Cái chết của Thomas Montagu, bá tước của Salisbury, chỉ huy của người Anh tại Orle’ans

Trận chiến Agincourt năm 1415

Vào tối ngày 24 tháng Mười năm 1415, vị Vua 28 tuổi Henry V của Anh phải đối mặt với thử thách lớn nhất cuộc đời của ông ta. Quân đội nhỏ bé và kiệt sức của ông và bị mắc kẹt và bị bao vây bởi một đội quân Pháp đầy tự tin, hoàn toàn sung sức và đông gấp ít nhất ba lần. Henry đã cố gắng để tránh chiến đấu nhưng ông biết rằng ngày hôm sau trận chiến là không thể tránh khỏi. Phải chiến đấu trong một trận chiến không mong đợi nhưng sau đó ông đã giành được một chiến thắng quyết định cho người Anh, trận chiến diễn ra trên một cánh đồng gần ngôi làng mà nó có cái tên sau này sẽ rất nổi tiếng là-Agincourt.

Tại Agincourt, Henry V chiến đấu để đòi lại những gì mà ông tin là nó thuộc về quyền thừa kế của ông: Lãnh địa Công quốc Normandy. Nó đã ở trong tay người Anh hơn 200 năm trước khi vua Pháp chiếm lấy nó từ vua John, chư hầu của ông ta. Sự đối đầu căng thẳng giữa vương quốc Anh và Pháp bắt đầu từ năm 1066, khi mà Quận công William xứ Normandy chinh phục nước Anh. Nhưng tước vị Quận công xứ Normandy lại luôn là chư hầu của nước Pháp, nên mặc dù đã trở thành vua nước Anh nhưng Quận công William đã không thể thay đổi được mối quan hệ này. Vào giữa thế kỷ 12 những nhà vua Anh dòng Norman đã bị thay thế bởi một triều đại khác, triều đình Anjou-những người sở hữu những vùng đất rộng lớn ở phía Tây và Tây nam nước Pháp. Thực sự thì nhà vua mới, Henry II đã cai quản một “ đế quốc “ còn hùng mạnh hơn cả chúa tể của ông ta ( Vua Pháp) nhưng John-người con trai trẻ tuổi và yếu đuối của ông ta không thể chống đỡ được những đòn tấn công kiên quyết trên cả mặt pháp lý lẫn quân sự của Philip II- vua Pháp. Trong năm 1204 vùng Normandy đã rơi trở lại vào tay người Pháp, người Anh chỉ còn giữ được một vài vùng đất ởi phía nam sông Loire. Nhà vua vị thành niên Henry III ( 1215 -70) đã khởi đầu một thời kỳ bất ổn về chính trị ở nước Anh. Điều này đã dẫn đến Hiệp ước Hòa bình Paris bất lợi năm 1259 mà qua đó Henry III từ bỏ chủ quyền của mình tới vùng Normandy, Anjou và những vùng lãnh thổ khác và đồng ý tỏ sự quy phục tới nhà vua Pháp cho những sở hữu của ông ta ở Aquitany và Gascony. Edward I-con trai ông ta ( 1270 -1307 ) là một nhà cai trị có nhiều quyền lực hơn và ông muốn thay đổi lại cán cân theo chiều hướng có lợi cho nước Anh. Nhưng ông ta lại quá bận tâm với việc mở rộng sức mạnh của mình ở vùng đảo British ( ý nói cuộc chiến với người Scotland) và ngoài những cuộc chiến của những năn 1294 và 1298, ông ta đã không tiến hành được cố gắng nào để biến yêu cầu về lãnh thổ của ông ta với nước Pháp thành hiện thực.Sau thời đại của ông là một khoảng thời gian lộn xộn mà các vấn đề quốc nội chiếm ưu thế trong nền chính trị của nước Anh. Sự trỗi dậy của đất nước Scotland dưới sự lãnh đạo của Robert the Bruce đã giáng một loạt thất bại thậm chí còn dẫn đến việc truất ngôi và hạ sát vua Edward II trong năm 1327.

Ở khoảng thời gian đó nước Anh có một vài xung đột ngắn ngủi với nước Pháp 1324-5-cuộc chiến Saint Sardos, nhưng nó đã không giải quyết được vấn đề. Edward III mới chỉ 15 tuổi khi ông ta thừa kế ngai vàng. Trong năm sau đó Charles IV chết mà không có người thừa kế. Edward yêu cầu quyền thừa kế ngôi vị thông qua bà mẹ của ông ta-chị gái của Charles, nhưng người Pháp đã không công nhận quyền thừa kế của ông. Họ dựa vào luật Salic, một tập tục cổ xưa rằng ngôi vua không thể được thừa kế từ phía con gái. Cháu của nhà vua Pháp-Philip của Valois đã được chọn lựa và được trao sự ủng hộ cả về mặt chính trị và quân sự vào thời điểm đó-Edward chẳng có thể làm gì để đảo ngược tình hình.Với việc tất cả các triều đại của Pháp đều yêu cầu sự quy phục của những vùng Lãnh thổ của Anh trên đất Pháp. Điều này đã dẫn tới những vấn đề kể từ khi bắt đầu thế kỷ 14 cũng như các cuộc tranh cãi ầm ĩ về mặt pháp lý, và việc quy phục đã được mang ra thương lượng liên tục trong những đợt thừa kế ngắn ngủi ở các năm: 1314, 1316, 1322 và 1328.

Những chứng cứ về sự miễn cưỡng của Edward khi phải thể hiện sự quy phục đã bị làm cho trầm trọng thêm bởi cuộc xung đột Saint Sardos, điều này có nghĩa là ông ta chỉ được đến vùng đất thừa kế của mình ở Lục địa sau khi đã trả 60.000 đồng Bảng tiền bảo hộ phong kiến và phải giao nộp vùng đất Agenais của ông. Nhưng thực sự thì Edward III-con trai ông ta đã làm nghi thức quy phục trước Charles IV của Pháp. Nhà vua Edward III còn thực hiện nghi thức quy phục 2 lần nữa vào năm 1329 và 1331. Những buổi lễ này có giá trị về mặt pháp lý hơn cả cần thiết. Chúng giúp để thiết lập những lý do đúng đắn mà một nhà cai trị có thể dùng để gây chiến ( chính nghĩa ) – và rõ ràng là Philip VI có ý định sử dụng những lý do này để chiếm những đất đai thừa kế của người Anh ở phía nam nước Pháp. Ông ta mưu đồ cho một kế hoạch xâm lược vào vùng Gascony trong năm 1329.

Lý do thực sự của cuộc chiến này là Edward III từ chối giao nộp kẻ phản bội-Bá tước Robert của Artois, nên trong năm 1337 Philip tuyên bố chiếm Gascony để bồi thường, câu trả lời của Edward là tuyên bố đòi ngai vàng của nước Pháp cho chính ông ta.Bài này không đi vào từng chi tiết lịch sử của cuộc xung đột sau đó mà bây giờ được gọi là chiến tranh Trăm năm, vốn kéo dài cho đến thời điểm năm 1415. Có một số vấn đề cần phải được xem xét, tuy nhiên. Sở hữu về Lãnh thổ của người Anh và người Pháp đã dao động trong liên tục trong vòng tám mươi năm. Các chiến dịch trên bộ của Edward ở những năm 1339 và 1340 đã không thể mang đến một kết cục nào, mặc dù ông ta đã giành được một chiến thắng trên biển ở ngoài khơi Sluys. Chiến thuật của người Anh là chevauchee, nghĩa là đột kích xuyên qua lãnh thổ của Pháp để gây thiệt hại, giành chiến thắng, cướp bóc và làm suy yếu quyền lực của Philip. Khi lực lượng của Edward bị kẹt tại Crécy trong năm1346 và con trai ông-Hoàng tử đen bị mắc kẹt tại Poitiers gần mười sau đó, cả hai đã cho thấy những tín hiệu của sự thất bại của người Pháp. Năm 1356, vua John và nhiều quý tộc Pháp đã thực sự bị bắt tù binh và trao cho người Anh lợi thế trên cơ về việc đòi những khoản tiền chuộc tiếp theo và thương lượng về lãnh thổ, kết quả là hiệp ước Bretigny trong 1360, trong đó đảm bảo cho tài sản của Edward ở miền tây nước Pháp, và một số nữa ở phía bắc (không bao gồm xứ Normandy).Nhưng trong cùng năm đó một hạm đội Pháp đổ bộ lên bờ biển Anh, cướp phá và đốt cháy vùng Winchelsea. Kiểu đột kích phá hoại bằng hải quân này tiếp tục liên tục diễn ra trong khoảng thời gian của phần còn lại của thế kỷ 14.

Hơn thế nữa, chiến thuật chevauchee của Anh bắt đầu thất bại. Nhà Dauphin, người trở thành Charles V trong năm 1364 được cố vấn bởi vị nguyên soái của ông ta Bertrand du Guesclin từ chối những trận đánh dàn trận mà chú trọng chính sách tiêu thổ. Quân đột kích Anh bị phản phục kích trên khắp các vùng đất Pháp đã bị tàn phá bởi chính quân Pháp khiến cho họ không thể dừng lại và chiến đấu. Trong năm 1370, Sir Richard Knolles và ba năm sau đó là John of Gaunt đã tiến hành những cuộc chinh phục mà chính họ phải nhận lấy những thất bại bẽ bàng. Trong năm 1375 Hiệp ước Bruges đã được ký kết và trong vòng 2 năm sau cả hai vị Edward ( Edward III và Edward Hoàng tử đen ) đều lăn đùng ra chết và chỉ để lại một chú bé vị thành niên thừa kế ngai vàng.

Triều đại của Richard II là một triều đại rất rắc rối, nhưng ông ta đã thể hiện một mong muốn có một nền hòa bình, và nền hòa bình đã được đạt tới vào thập kỷ cuối của thế kỷ 14. Vụ lật đổ và sát hại Richard của Henry của Lancaster năm 1399 đã làm tình huống thay đổi một lần nữa. Những cuộc đột kích của hải quân Pháp vào nước Anh để trả đuac những chiến dịch cướp phá của người Anh trong những năm 1405, 1410 và 1412. Những chiến dịch này chẳng lớn mà cũng chẳng quá thành công. Vào năm 1415 dường như thế hệ lúc đó của người Anh được nhìn nhận như là một thế hệ thất bại.

Ba yếu tố khiến cho cuộc xâm lược của Henry là một cái gì đó lớn hơn một cuộc chơi liều lĩnh. Một yếu tố là sự chiếm ưu thế của vũ khí Anh trên chiến trường. Lực lượng cung thủ Anh-nếu được triển khai đúng cách sẽ tạo lên một lực lượng chiến đấu cực kỳ ghê gớm tại Châu Âu. Thứ hai là với Henry, họ có một vị chỉ huy đầy nhiệt tình và cực kỳ kiên quyết. Thứ ba và cũng là yếu tố quan trọng nhất, Người Pháp đang bị phân rẽ bởi những tranh chấp chính trị cá nhân mà chúng đã trở thành nội chiến, Charles VI đã không còn tỉnh táo, và ông ta không thể nắm quyền lực thì hai nhóm quý tộc vốn được biết như là phe đ.ảng Burgundy và Armagnac đã nắm lấy uy quyền tối cao. Sự bất hòa này đã tạo nên một bất hạnh không thể tránh khỏi nước Pháp trong chiến dịch năm 1415.

Chỉ huy của các bên đối địch

Henry V, vua của nước Anh

Sự nghiệp quân sự của nhà vua trẻ Henry V đã được bắt đầu từ năm 1399, khi mà mới chỉ 12 tuổi ông ta đã được phong làm hiệp sỹ. Thực tế thì ông ta đã được phong hiệp sỹ hai lần. Trong dịp đầu tiên là bởi Richard II, người mang ông ta theo trong chiến dịch Ailen, như là một con tin để người cha bị lưu đầy của ông có những hành vi tốt đẹp. Và sau đó thì ông ta lại được tấn phong hiệp sỹ bởi cha ông ta-Henry Bolingbroke vào trước ngày mà ông ta lên ngôi như là Henry IV, sau khi truất ngôi Richard II trong một vụ đảo chính. Ở tuổi 12 ( được phong hiệp sỹ ) là không bình thường mặc dù vẫn có những trường hợp cá biệt được phong hiệp sỹ ở tuổi còn sớm hơn. Việc được phong hiệp sỹ một cách bất bình thường và cũng làm cho Henry có một khoảng thời gian học việc vô giá trị cho cuộc đời binh nghiệp của ông, mặc dù trong một số trường hợp việc tiếm quyền đã làm cho việc tấn phong Hiệp sỹ lần 2 trở nên cần thiết. Tuy nhiên, bằng việc truất ngôi, bỏ tù và sau đó bí mật ám sát Richard, Henry IV ( cha) đã đi ngược với điều luật Chúa và Con người. Nó có thể làm cho những cuộc nổi loạn chống lại ông trở nên được hợp pháp hóa, và ông ta phải dùng đến quá nửa thời gian của triều đại của mình để giải quyết hậu quả của vụ tiếm quyền của ông ta.

hiến dịch đầu tiên mà Henry V I ( con) tham gia chiến đấu là chiến dịch Scotland năm 1400. Vào lúc này với tước hiệu Hoàng tử xứ Wales, ông ta đã phải đối mặt với một cuộc nổi dậy toàn diện và dữ dội của Owain Glendwr ( người cũng đòi hỏi tước hiệu này). Lúc đầu thì vị Hoàng tử trẻ cũng chỉ là một viên chỉ huy bình thường, và làm việc với những vị “ Marcher” Lords-Chúa tể vùng biên ải-đầy quyền lực, những người trên thực tế nắm quyền điều hành ở những vùng này. Người xứ Wales thường dùng chiến thuật du kích, đột kích bất ngờ và rút lui nhanh về những hang ổ của họ ở những vùng núi cao. Nên chiến dịch năm 1402 là chiến dịch mà quân đội Anh phải sẵn sàng chiến đấu từng đêm với mưa ướt thấm qua da và đói cồn khi phải truy kích những kẻ thù vô hình, đã giáo huấn cho Henry sự thật về chiến tranh. Ông ta cũng nhận được những bài học quân sự từ hai thành viên cuả gia đình Percy. Harry Husper là người thầy giáo đầu tiên của ông và năm 1043 Thomas-Bá tước của Worcester lại tiếp tục nắm vai trò này. Trớ trêu thay vào cuối năm đó Henry đã phải đối mặt với cả hai người thầy của ông trên chiến trường.

Nhà Percy với Bá tước Northumberland cầm đầu, đã giúp Henry IV chiếm lấy ngôi vua. Lúc này gia đình này lại muốn chiếm đầy đủ quyền hành. Nên họ đã tạo một liêm minh với Glendwr, và quân đội nhà Percy đã hành quân và gia nhập với họ vào mùa hè năm 1403. Bằng một cuộc hành quân mau lẹ, vua Henry ( cha ) đã chặn đứng được việc họ rút quân vào rừng. Taih Shrewsbury, trong 21 tháng 7 Henry ( con ) đã chỉ huy cánh quân phía trái, quân phản loạn đã bị đánh bại nặng nề. Hospur đã bị giết chết và quân của ông ta bỏ chạy toán loạn. Nhưng đây không phải là một chiến thắng dễ dàng. Quân đội Hoàng gia đã phải di chuyển ngược lên cao trong làn mưa tên của một số trong những cung thủ giỏi nhất của nước Anh, đặc biệt đáng chú ý là những người đến từ Cheshire. Bản thân Henry con cũng bị thương khi phải đối mặt với những trận mưa tên, nhưng ông ta phải nghiến răng chịu đau cho đến khi hoàn tất chiến thắng. Henry đã chứng minh lòng can đảm và biết rất rõ sức manh đáng sợ nhất của loại vũ khí chiến thuật trong thời gian của ông, loại mà người Pháp sẽ tìm cách bắt chước độ hơn 10 năm sau đó ( Vào thời vua Charles VII của Pháp, ông này cũng cho tuyển những đội cung thủ trường cung-đặc biệt là những cung thủ đến từ Scolland để làm giảm tính độc quyền của loại vũ khí tối thượng của người Anh) .

Henry không phải là người chưa có kinh nghiệm chiến đấu – ông đã có một trận chiến trước đó. Trong thực tế thì ông đã tham gia hai trận chiến trong sự nghiệp quân sự của mình khi mới 20 tuổi; Agincourt thì khác, khả năng nổ ra trận chiến khá là hiếm hoi vào lúc này. Chiến tranh vào thời đó chủ yếu là những cuộc vây hãm các lâu đài và thị trấn. trong một khoảng thời gia rất dài. Tương tự như vậy, cuộc tái chiếm xứ Wales kéo dài thêm năm năm. Năm 1405 một cuộc nổi dậy lớn có liên quan đến Glendwr, nhà Percy và Mortimers bị nghiền nát tại Bramham. Moor-Bá tước Northumberland bị giết. Có cả một lực lượng viễn chinh Pháp đổ bộ xuống Miltford Haven để liên kết với cuộc tấn công của người xứ Wales ở phía Nam, nhưng họ đã phải khởi hành đi về nhà mà không đạt được cái gì. Vì vậy, khi cha ông qua đời vào năm 1413, Henry đã là một chiến binh giàu kinh nghiệm sau khi có những đào tạo về quân sự vào loại khắc nghiệt và thiết thực nhất. Ông đã phải chịu đựng những cuộc hành quân kéo dài trong điều kiện thời tiết kinh khủng. Ông cũng đã phải chịu đựng sự chán ngắt và khó chịu của chiến tranh bao vây. Cũng như nhìn thấy nhiều cuộc giao tranh, ông đã chính thứ chỉ huy rất nhiều chiến binh trong những trận chiến mở ( ông này có một cuộc sống quá khắc khổ thế là lăn đùng ra chết sớm ). Trên tất cả, ông đã được giảng dạy sự cần thiết phải chú ý đến từng chi tiết trong chiến tranh. Sự chuẩn bị của ông cho chiến dịch Agincourt là rất lớn lao và tỉ mỉ, để đảm bảo đủ số người, số vũ khí và đạn dược cần thiết.

Để có thể làm được điều này ông cần những người giúp việc có đủ năng lực và trung thực. Đức Giám mục Henry Beaufort-chú của ông, và cũng là người đã cung cấp hoặc sắp xếp các khoản vay lớn rất cần thiết để tài trợ cho cuộc viễn chinh, và cũng là người giám sát việc tuyển dụng của quân đội. Bá tước Arundel-kế toán của ông, nắm việc tổ chức thanh toán cho các thủy thủ và cung cấp các vật tư cho chuyến đi. Bá tước Dorset, đô đốc của ông nắm việc tập hợp các hạm đội xâm lược. Richard Courtenay, Đức Giám mục của Norwich, tham gia vào ngoại giao và các hoạt động thu thập tình báo (chúng tôi biết được điều này bởi vì sau đó gián điệp của ông ở Paris đã bị bắt và xử tử vì tội phản quốc). Nicholas Merbury-Master of the Ordnance ( không rõ chức danh mô ), cung cấp đạn dược và các thiết bị chiến tranh.Trong chiến dịch, Henry bao quanh ông những thuộc cấp nhiều kinh nghiệm và đáng tin cậy. Ông mang theo Edward-Bá tước của March-người đã tham gia vào việc lập kế hoạch vốn chỉ được tiết lộ ngay trước khi khởi hành đi Pháp. Phải thừa nhận rằng chính bản thân Edward là một con người nguy hiểm, mặc dù ông ta đã tỏ ra quy thuận nhà vua ( thực tế thì quyền đòi hỏi ngai vàng của ông ta còn cao hơn của Henry ) và nó là một dấu hiệu của sự tự tin của nhà vua rằng ông đã tha thứ và tiếp tục sử dụng vị Bá tước này. Phần còn lại là Công tước xứ Gloucester và Thomas, Công tước của Clarence-anh em trai của nhà vua, các Bá tước xứ Suffolk, Cambridge và Oxford, Công tước xứ York-chú của nhà vua và rất nhiều cấp dưới chẳng hạn như “ Con ngựa chiến già” Sir Thomas Erpingliani, Sir John Holland và Sir John Cornwall. Một khía cạnh quan trọng trong sự thành công của Henry với cương vị một nhà lãnh đạo là khả năng ông giành được sự tôn trọng từ mọi người, bất kể tuổi tác hay kinh nghiệm của họ – và ngay từ cả kẻ thù của ông ta.Tóm lại, Henry hoàn toàn mang tính chất một chiến binh thời Trung cổ và một vị quân vương điển hình. Ý không phải để nói rằng ông là người hoàn hảo trong mọi việc. Nó chỉ là ông ta đã tự nhận trách nhiệm về mình một cách nghiêm túc về quyền thừa kế ở Pháp, đặc biệt là trong vùng Normandy và ông cảm thấy có trách nhiệm phải thi hành chúng.

Tương tự, về vấn đề vương miện của nước Pháp, ông có trách nhiệm trước gia đình, trước ông nội-Edward III, để đạt được điều này nếu là có thể. Là một con người khôn ngoan tránh xa các tài sản của Nhà thờ và sẵn sàng làm các bổn phận của mình. Ông cũng kiểm soát một cách nghiêm túc hành vi của các binh sĩ của ông trong chiến dịch. Sự kỷ luật mà ông yêu cầu đã mang lại cho ông đầy đủ lợi thế tại Agincourt. Ngoài ra ông còn cả lòng dũng cảm về thể chất và đạo đức về tinh thần và sự tự tin của ông không bao giờ bị rung động thậm chí trong những hoàn cảnh khó khăn nhất ở trận Agincourt. Trên tất cả, ông ta biết rằng mình là một chiến binh, ông đánh giá cao tầm quan trọng của biển cả và sự cần thiết phải có một hạm đội mạnh (mặc dù Hạm đội này đã không được thành lập cho đến sau trận Agincourt). Ông sẵn sàng chấp nhận tiến hành những chiến dịch không giới hạn sau đó theo đuổi những gì được gọi là “ chiến tranh vây hãm “ ( từ 1417-1422), và cuộc chiến này đã thiết lập vững chắc sự cai trị của ông ở Normandy. Rouen, thủ phủ của tỉnh này đã bị chiếm sau một cuộc bao vây bảy tháng (tháng 7 năm 1418 đến tháng 1 năm 1419). Cuộc bao vây thành phố Meaux kéo dài và chủ yếu lại diễn ra vào những tháng mùa đông. Sau khi chiếm được thành phố này ông đã chết, có thể là vì kiệt sức vì bệnh lỵ-vốn là loại bệnh phổ biến nhất và đáng sợ nhất đối với những người lính. Ông đã chết hai tháng trước khi Charles VI của Pháp qua đời, điều này có nghĩa là ông không bao giờ được cầm lấy chiếc vương miện của nước Pháp, thứ mà ông ra sức để tìm kiếm. Ông là một nạn nhân của chính sự thành công của mình.

Có một khía cạnh trong tính cách của ông. Một số nhà bình luận người Pháp đã lưu ý rằng ông là một con người khắc nghiệt và kiêu ngạo ngoài tính ngay thẳng và quyết đoán. Những suy nghĩ đơn giản của ông đã làm cho ông trở thành tàn nhẫn hơn. Và sự tàn nhẫn của ông đã làm cho ông ta ngày càng trở nên tàn bạo. Đó là việc ông ta đã cho treo cổ các tù binh sau một cuộc bao vây. Ông đã giám sát một cuộc thảm sát ở thành phố Caen trong năm 1417. Trong suốt cuộc bao vây dài nhằm vào Rouen ông từ chối cung cấp thực phẩm cho phụ nữ và trẻ em bị trục xuất khỏi thành phố và bị mắc kẹt giữa phòng tuyến của quân vây thành và các bức tường của thành phố. Về mặt kỹ thuật ông hoàn toàn có quyền để làm theo “ luật thời chiến “ vào thời điểm đó, nhưng thực sự thì không cần phải nhẫn tâm với họ như vậy. Những vụ việc này cùng với việc thảm sát của tù binh tại Agincourt. Ông vẫn biện minh được cho những gì ông đã làm, nhưng đó là những hành động khủng khiếp. Tham gia chiến trận từ khi còn nhỏ đã làm ông ta trở nên sắt đá. Ông là một chiến binh máu lạnh và nhẫn tâm và cũng là một vị vua hùng mạnh.

Chỉ huy của người Pháp

Ngược lại với người Anh, những người đã được lãnh đạo bởi một chỉ huy hàng đầu như chúng ta đã thấy, người Pháp lại đang như gà mắc tóc, Charles VI-vua của họ đã là nạn nhân của căn bệnh tâm thần trong vòng hơn hai mươi năm. Mặc dù không ai nghi ngờ về sự can đảm của ông vào những khoảnh khắc ông tỉnh táo, ông hoàn toàn không thích hợp để làm một vị Tổng chỉ huy. Con trai của ông, Louis Dauphin, lại là một chàng trai mới mười chín tuổi, yếu đuối về thể chất và không có kinh nghiệm chiến trường. Đây là điểm trọng yếu đã dẫn đến một tình trạng gần như nội chiến giữa phe Burgundian và phe Armagnac, đây là cuộc chiến của các phe phái để tranh quyền lực tối cao. Trong tình huống này thì quyền chỉ huy không thể không bị chia rẽ.

Nhà vua (hoặc cố vấn của ông) đã không muốn gọi một trong hai người, John-Công tước xứ Burgundy hoặc Charles-Công tước xứ Orleans để lãnh đạo quân đội. Họ không thể làm việc với nhau: John đã ám sát người cha của Charles trong năm 1413 (và được cho là bị giết để trả thù trong năm 1419) trong khi người Burgundy lại lập lờ về việc chống lại người Anh hoặc liên minh với chính họ. John đã cho phép các chư hầu của mình phục vụ trong quân đội Pháp nhưng bản thân ông ta lại từ chối tham gia và cấm luôn cả con trai của mình.

Vị đại quý tộc tiếp theo là Charles-Công tước xứ Orleans, chỉ ở độ tuổi 24 và có ít kinh nghiệm quân sự, John-Công tước xứ Bourbon, một người mới 33 tuôỉ và cũng đã giành được một chiến thắng trước một đội quân càn quét chevauchce của người Anglo-Gascon tại Soubise năm 1413 và John-Công tước Alençon, người cũng mới chỉ ba mươi tuổi, đã chứng tỏ mình là như là một nhà lãnh đạo quân sự thất bại trong chiến dịch Bourges ba năm trước đó. Họ được yêu cầu phải hợp tác với các sỹ quan quân sự của lực lượng riêng của Hoàng gia đình: các vị Nguyên soái, Thống chế và Chỉ huy của lực lượng xạ thủ bắn nỏ.

Về lý thuyết, đây là một giải pháp tốt. Charles d’Albret đã giữ chức vụ phụ tá Nguyên soái kể từ năm 1402 và là một chiến binh giàu kinh nghiệm và thận trọng. John le Maingre-còn được gọi là Boucicault-một vị Thống chế có một danh tiếng ở trường quốc tế. Trong một cuộc thập tự chinh, ông đã chỉ huy bộ phận hàng đầu trong quân thập tự chinh người Burgundian trong thất bại thảm khốc tại Nicopolis năm 1396. Bị bắt tù binh và được chuộc về từ Sultan Bavezid, ông đã quay trở lại để bảo vệ thành phố Constantinople chống lại cuộc tấn công của Đế quốc Ottoman vào năm 1399. Ông thực sự là một anh hùng trong văn học, “lời nói và hành động ” của ông đã được ghi lại trong một cuốn sách để tưởng nhớ ông như một mô hình của tinh thần Hiệp sỹ. Ông là một huyền thoại trong cuộc đời của chính mình.

Nếu hai vị chiến binh giàu kinh nghiệm này được giao toàn quyền nhiệm vụ chỉ huy chiến dịch thì có thể kết quả của cuộc hành binh chevauchce của vua Henry V đã hoàn toàn khác. Họ (hai vị chỉ huy giàu kinh nghiệm này ) hết sức ủng hộ sự thận trọng: để tránh một trận chiến mở và sử dụng một chiến thuật tiêu thổ “ scorched-earth policy” bỏ đói lực lượng Anh và buộc họ phải đầu hàng. Họ cũng nghĩ đến một chiến thuật kế hoạch mà có thể người Anh sẽ bị đã đánh bại nếu trận chiến này thực sự nổ ta. Như chúng ta sẽ thấy, đây là chắc chắn là những chiến lược đúng đắn và có lẽ cũng là những chiến thuật tốt nhất nên được sử dụng. Nhưng vào ngày của trận chiến các chiến lược và chiến thuật đúng đắn của họ đã bị bác bỏ bởi những vị công tước trẻ kiêu ngạo, những vị Prince of the Blood này luôn coi rằng những vị chiến binh già này chả có tí quyền hành nào cả.

Quân đội của các bên đối địch

Lực lượng Kỵ binh

Các Quân đội của đầu thế kỷ mười lăm thườngdựa vào những kị sỹ: đó là những người mặc những bộ áo giáp hoàn chỉnh và được đào tạo để chiến đấucả trên bộ lẫn trên lưng ngựa. Họ có thể là một hiệp sĩ, nếu họ sở hữu một chỗ đứng cần thiết trong xã hội và đã được trải qua một buổi lễ tấn phong Hiệp sỹ chính thức, nhưng thường thì không được như vậy.Trong khi tất cả những người đàn ông quan trọng đều là hiệp sĩ, thì rất nhiều kị sỹ chỉ đơn giản là hộ sỹ-esquire (thứ hạng thấp hơn và về mặt kỹ thuật là một người đàn ông phù hợp cho chiến đấu theo kiểu hiệp sỹ-nhưng chưa có địa vị xã hội như một hiệp sỹ ) hoặc các thường binh không có mảy may hy vọng về địa vị xã hội. Một kị sỹ về cơ bản là một kỵ binh đã trải qua đào tạo công phu, mặc dù như chúng ta sẽ thấy, hầu hết các trận chiến của thời kỳ này lại là kị sỹ xuống ngựa chiến đấu. Ông ta ( vị hiệp sỹ )thường dẫn đầu một “ lance”, một nhóm các tùy tùng cũng là kị binh, vì vậy ông ta cần phải có đủ tài sản để duy trì chi phí cho những con ngựa.

Có loại kỵ binh được trang bị nhẹ hơn, vốn được biết đến từ thời Eduard III được gọi là ” hobilars “mặc dù họ không đóng một vai trò quan trọng trong chiến dịch Agincourt. Từ một phần ba đến một nửa cung thủ Anh có cưỡi ngựa, mặc dù họ chỉ được nhìn nhận như là bộ binh đi ngựa, để tăng tính cơ động cho chiến lược chevauchce. ( có nhiều loại cung kỵ, loại có thể vừa cưỡi ngựa vừa bắn cung như người Turks, người Magyar-Hungary…, loại phải dừng ngựa rồi mới bắn như cung kị thời Charlesmagne, còn cung thủ Anh phải leo xuống ngựa mới bắn được cung tên, một trong những lý do là-cây cung của họ quá dài, ngựa chỉ là ngựa thồ rẻ tiền, các cung thủ cũng chẳng cần đến những kỹ năng điều khiển ngựa điêu luyện của kị sỹ)

Lực lượng bộ binh

Hình thức phổ biến nhất của người lính bộ binh thường là những tay giáo binh. Vũ khí của anh ta có thể là một cây kích ( halberd), với cái đầu giống như một chiếc rìu chứ không phải là một đầu giáovà anh ta được thiết giáp tùy theo những gì anh ta có, thông thường với một chiếc mũ sắt và một chiếc áo giáp hạng nhẹ kiểu brigandine. Cũng như việc phải đứng vào hàng ngũ ở phía sau trên chiến trường ( thời này Pháp và châu Âu ưu tiên kị binh hơn ), Anh ta cũng còn phải tham gia vào những công việc nặng nhọc trong chiến tranh bao vây vốn thường rất hay xẩy ra trong các chiến dịch thời trung cổ.

Các tay xạ thủ thường được phân ra thành ba loại: cung thủ, xạ thủ bắn nỏ và pháo thủ. Sự thành công của những cây cung của Anh có nghĩa là lực lượng cung thủ trường cung Anh thường xuyên tạo thành hai phần ba quân đội Anh (và ở trận Agincourt hơn bốn phần năm). Tốc độ bắn cao và khả năng phá hủy của họ sẽ được đề cập đến sau đó. “vào lúc này người Pháp cũng sở hữu các cung thủ, nhưng họ thường không sử dụng lực lượng này một cách có hiệu quả. Họ thường dựa nhiều vào các cây nỏ vốn có sức bắn mạnh hơn ( mặc dù đang còn tranh cãi ) nhưng chắc chắn là mất nhiều thời gian hơn để nạp tên. Một tay xạ thủ bắn nỏ thường đi kèm với một tay khiên mang một lá chắn lớn-một tấm khiên pavise, để bảo vệ họ trong thời gian nạp tên. Điều này làm cho lính bắn nỏ hữu ích hơn trong những cuộc vây hãm hơn là trên chiến trường. Lực lượng pháo thủ có mặt ở cả hai phe-nhưng họ cũng chỉ thường xuyên có ích trong công việc bao vây. Đã có hàng loạt các loại và kích cỡ pháo được phát triển trong ba phần tư thế kỷ kể từ ngày chúng xuất hiện lần đầu tiên ở Tây Âu. Chúng có cỡ từ những khẩu súng cầm tay nhỏ tới những khẩu súng lớn có thể dội ồ ạt những trận pháo kích xuống công sự của đối phương. Nhưng tại thời điểm này chưa có lực lượng pháo binh cơ động thích hợp tại thời điểm trận Agincourt.

Áo giáp của kị sỹ

Cho đến giữa thế kỷ thứ mười ba, áo giáp được làm bằng bằng những hàng nhẫn sắt được lồ.ng vào nhau một cách chặt chẽ – nhưng dần dần những miếng thép phiến cũng được thêm vào để tạo cho chúng đủ khả năng bảo vệ chống lại những nhát chém và mũi tên. Vào năm 1415 the suite of plates hoặc áo giáp phiến hoàn chỉnh đã gần như đạt đến trạng thái đỉnh cao của nó. Một kị sỹ thường được bao phủ bởi “cap-a-pied “ từ đầu đến ngón chân trong những lá thép được đánh bóng.

Bên trong chiếc áo giáp thường là một áo chẽn đệm làm bằng da (akheton) đã mòn, để ngăn chặn sự cọ xát của kim loại vào cơ thể vàđể hấp thụ một phần lực bắn của mũi tên. Cho đến năm 1400 nhiều tay kị sỹ mặc một áo giáp bằng chỉ sắt kiểu hauberk ( loại áo dài đến đầu gối ) ra bên ngoài chiếc áo da và sau đó một chiếc áo giáp phiến. Như vậy chắc chắn là sẽ rất nặng, nhưng một vấn đề mới nẩy sinh làmối đe dọa bị kiệt sức do phải mang rất tất cả các lớp áo giáp. Sự phát triển của “áo giáp màu trắng“ hoàn chỉnh(được gọi như vậy bởi vì nó được làm từ nhiều mỗi phiến kim loại rắn được đánh bóng) đã giúp giảm bớt vấn đề này. Không một kị sỹ nào có thể tự mặc áo giáp mà không sự cần trợ giúp, họ cần thiết ít nhất một là một người giúp việc.Một bộ áo giáp phiến hoàn chỉnh thường không thể quá nặng: nó có trọng lượng vào khoảng60-80lb (28-35kg), trọng lượng của một bộ giáp phiến hoàn chỉnh không vượt quá tải trọng mà một lính bộ binh thời hiện đại phải mang vác.Hơn nữa trọng lượng của áo giáo được phân chia đều xung quanh cơ thể con người, mỗi phiến giáp được gắn vào các khớp nối cho phù hợp với chuyển động của người mặc. Vì vậy, vị hiệp sĩ không cần phải có cần cẩu để nâng ông ta lên trên lưng con ngựa của mình, bộ phim Henn của Oliviercho thấy sai lầm này . Một kị sỹ có thể trèo lên yên ngựa của mình một cách dễ dàng.Độ nặng của những bộ áo giáp này không làm cho họ mệt lử, trừ khi họ hoàn toàn bị kiệt sức, bị choáng váng hoặc bị thương. Phần nặng nhất và có lẽ cũng khó chịu nhất của một bộ áo giáp phiến có lẽ là mũ sắt và do đó, nó thường xuyên bị cởi ra khi trận chiến đã dường đã như ở xa. Phần thân thường được bảo vệ bởi một tấm giáp phiến ở lưng và ngực với một chiếc bản lề ở bên trái, các cái chốt ở bên phải và chéo qua vai. Phần tay và chân được bảo vệ bằng những phiến giáp hình ống được làm theo kiểu tương tự nhau, khuỷu tay và đầu gối được bảo bởi các miếng giáp “couter “ và “ Poleyn” tương ứng để cho phép chuyển động được dễ dàng. Giữa vùng thắt lưng và phần đùi có treo một chiếc váy được làm bằng đai thép (Lames). Găng tay sắt có các khớp nối để bảo vệ tay và những chiếc sabaton ( giày bằng sắt ) để bảo vệ chân. Một phát triển gần đó là những tấm giáp phiến tròn nhỏ ở mỗi nách-một chỗ dễ bị tổn thương khi vung cánh tay để làm một cú chém. Một đổi mới, đó là việc thay thế phần giáp gáy bằng chỉ sắt bằng một phiến giáp che cổ rắn và nó được gắn vào chiếc mũ sắt. Chiếc mũ sắt này được gọi là Bascinet, đây cũng là một thuật ngữ rất phổ biến ở thời đó để chỉ chính những kị sỹ (Ví dụ, 8.000 bascinet trong đội tiên phong Pháp ở trận Agincourt). Nó là một chiếc mũ rất khít với chiếc đầu và thuôn đến một điểm ở phía sau đỉnh đầu. Phần mặt được bảo vệ bởi một tấm giáp che mặt, hoặc phần giáp mặt trông giống như mặt của một con chó nên được gọi là “ dog-faced bascinet “có thể nó có bản lề hoặc đóng mở theo kiểu trượt để có tầm nhìn tốt hơn và tạo thoáng gió. Loại mũ sắt kiểu chiếc thùng kiểu “great helm “ không tạo ra nhiều thoải mái hơn. Nó có xu hướng để sử dụng trong đấu giải chứ không phải dùng trong chiến tranh, nhưng Henry V đã đội nó trong trận Agincourt và hai lớp giáp của nó có đủ khả năng để bảo vệ cuộc sống của ông.

Những người giàu có thì có những chiếc nẹp bằng đồng hoặc bằng đồng mạ vàng để trang trí phù hợp với họ. Những chiếc huy hiệu gia tộc được hiển thị ở trên áo khoác một cách phù hợp được gọi là “Cote d’Armes”. Chúng có thể có ý nghĩa xác định địch ta trong cuộc chiến và có ý nghĩa tượng trưng lớn. Một vài ngày trước khi nổ ra trận Agincourt, Henry V tuyên bố sẽ liên tục mặc “Cote d’Armes”của mình, điều này có ý nghĩa là ông luôn sẵn sàng cho trận chiến. Gia huy trên áo khoác cũng có ý nghĩa để tuyên bố rằng người mặc nó có giá trị một khoản tiền chuộc lớn, đây là một cách để bảo toàn tính mạng bằng giá trị ( tiền ) nếu bị đe dọa bởi cái chết. Người ta tin rằng “cote d’Armes “ đã bị bỏ vào đầu những năm đầu của thế kỷ 15, và làm cho kiểu “ áo giáptrắng “ vốn được làm toàn bằng thép, nhưng có hai ví dụ dường như đã tạo ra những tranh cãi khác. Ở thời đó những chiếc lá chắn đã lỗi mốt, do đó không có cách nào khác để tự nhận dạng, và có khả năng là tất cả các hiệp sĩ và quý tộc mặc ” Cote d’Armes “ của họ ở Agincourt.Một đặc điểm quan trọng khác là những chiếc đinh thúc ngựa-spurs, vốn được đeo bởi tất cả những Hiệp sỹ, nhưng trong trường hợp các hiệp sĩ thường được mạ vàng để tượng trưng cho đẳng cấp cao hơn của họ, nhưng chúng sẽ được gỡ bỏ khi chiến đấu trên bộ như Henry V đã làm.Vũ khí của Kị sỹLà một kỵ sĩ giỏi, vị Hiệp sỹ thường sử dụng thành thạo cả cây thương và thanh kiếm. Ngọn thương dài khoảng 12 feet (4m), có một phần gồ lên ở phía cuối-chỗ tay cầm với một cái mũi thương thanh mảnh dài. Trên lưng ngựa nó được giấu vững chắc dưới cánh tay trong khi chân của người kị sỹ đạp vào chiếc bàn đạp nối với yên ngựa, làm cho người và ngựa cùng lao lên để đánh ngã ngựa hoặc đâm xuyên qua giáp của đối phương. Khi chiến đấu trên bộ, nó ( ngọn thương ) được rút ngắn lại còn một nửa để làm cho nó thêm tăng độ linh hoạt. Vũ khí được ưa chuộng là một chiếc rìu-một loại vũ khí độc ác với một chiếc đầu rìu được lắp một chiếc cán dài 4 -> 6 foot bằng kim loại để nó không thể bị chặt đứt. Nó có thể sử dụng để làm dùi cui, đâm hoặc bổ vào đối thủ.Nữ hoàng của vũ khí là thanh kiếm-biểu tượng của tầng lớp hiệp sĩ và quý tộc. Nó phải được làm từ loại thép tốt ( thép từ Bordeaux được đánh giá rất cao), phổ biến nhất là loại dài 3 feet với thanh chắn bảo vệ tay và chuôi kiếm rất nặng. Một số loại vũ khí chuyên dụng rất mỏng, có mặt cắt kim cương để đâm xuyên giáp, nhưng hầu hết giống như một chiếc dao hai lưỡi có bản được mở rộng gấp đôi, lưỡi kiếm rất sắc có thể cắt được cây thông. Loại kiếm dài hơn, có thể nắm được trong cả hai bàn tay, cũng là loại vũ khí phổ biến (mặc dù chúng vẫn chưa nhiều đến mức khủng khiếp như ở thế kỷ XVI). Cuối cùng, vũ khí thường mang theo trên hông phải của người kị sỹ là một con dao găm “ ballock” dùng để kết liễu kẻ bị thương. Không thực sự là một loại vũ khí chiến đấu, nó có thể được sử dụng để kết thúc một đối thủ bị thương, hoặc như là một cứu cánh cuối cùng. Nó có thể lách qua một tấm giáp che mặt hoặc những khoảng trống giữa những phiêns giáp để gây thương tích hoặc giết chết một đối thủ đã bị thương.

Không phải tất cả có thể đủ khả năng để trang bị mọi thiết bị đã được mô tả, nhưng một con số đáng kể các kị sỹ được trang bị theo tiêu chuẩn này.

Cung thủ

Được thiết giáp không phải là mối quan tâm chính của những cung thủ, họ cần sự linh hoạt và tính di động. Do đó, họ thường mặc áo đệm Jerkins hoặc áo giáp nhẹ kiểu brigandines ( có cài những tấm kim loại), nhưng các phần khác của cơ thể thì ít được bọc giáp. Phần đầu của họ thường được bảo vệ bởi một chiếc mũ bascinet không có tấm giáp che mặt, hoặc một chiếc mũ sắt rộng vành kiểu “ pot-helm” thường thấy ở cung thủ hoặc có thể là một camail ( chiếc mũ chùm bằng chỉ sắt ). Một số cung thủ có chân hay tay được thiết giáp nhưng những cung thủ ở trận Agincourt thường để trần đến đầu gối.

Cây cung của các cung thủ là một cái cành cây đu, cây tấn bì hoặc tốt nhất là cây thủy tùng dài sáu foot. Phần lưng của cây cung thường phẳng và phần bụng thì tròn, tạo nên một hình chữ “ D “ thon tới hai đầu, nơi được buộc dây cung. Cây cung thường được để ở dạng chưa được buộc dây và sợi dây thường được để ở trong những túi da nhỏ để cho chúng được khô ráo. Buộc dây và tháo dây cung thường mất một vài giây, cho phép các cung thủ có thể giữ chúng trong mũ để tránh mưa.

Cây cung của người Anh thời đó thường được gọi là trường cung mặc dù không có nhiều mô tả chi tiết về chúng bởi người đương thời. Dường như chiều dài của cây cung thì không là vấn đề nhưng “ lực kéo” của nó và chuyên môn của người sử dụng lại rất là quan trọng. Nó có thể dao động từ 80lb đến 1501b, nhưng để kéo được cây cung có lực kéo 150lb như đã nói yêu cầu một sức mạnh lớn và cả kỹ thuật. Những đào tạo từ khi còn nhỏ rất quan trọng và người Anh đã có thể thúc đẩy sự phát triển của các kỹ năng này trong vùng đất đai của họ, cho họ vô vàn những cung thủ có kỹ năng vô giá. Mặc dù Edward III đã lo sợ rằng người Pháp có thể sẽ học tập người Anh, nhưng trong thực tế họ ( người Pháp ) không bao giờ cố gắng để làm như vậy. ( Có thể là do chế độ quân chủ Pháp sợ để rằng tầng lớp thấp hơn có một loại vũ khí hiệu quả trong trường hợp họ nổi loạn) Phạm vi bắn của một cây cung thường là 400 yard (365m), nhưng phạm vi giết chết người thì chỉ chưa đến một nửa số đó và thực tế thì không thể giết chết một người ở phạm vi hơn 50 mét. Nhưng một điều quan trọng cần nhớ là cây cung đã không bị qua mặt về khía cạnh cạnh này cho đến giữa thế kỷ XIX ( đến đầu thế kỷ 19 súng hỏa mai cũng chỉ triệt hạ đối thủ ở khoảng cách dưới 50 m ). Ngoài ra, cũng không cần thiết là phải giết chết đối phương: làm cho ngựa của họ bị thương và hoảng sợ sau đó buộc họ phải rút lui trong nỗi sợ hãi về cái chết là đủ cho chiến thắng. Mỗi cung thủ đeo độ bốn tá mũi tên trên dây lưng hoặc hông của anh ta. Tốc độ bắn có thể đạt đến mười-mười hai mũi tên một phút. Ở cự ly gần, mũi tên có thể xuyên qua những áo giáp tốt nhất và một trận mưa tên có thể đẩy lùi những đối thủ kiên quyết nhất.

Các tay nỏ thường mặc áo giáp dày hơn các tay cung thủ. Như là một loại vũ khí được sử dụng tại các cuộc vây hãm, các tay nỏ thường được dùng cùng với những chiếc lá chắn lớn, có thể đây là một trang bị bảo vệ cần thiết. Minh họa cho thấy có một lính bắn nỏ có giáp hộ thân và giáp chân ngoài chiếc mũ sắt.Hầu như không còn hình minh họa đương đại của năm 1415, tuy nhiên, hầu hết trích dẫn này đều ở thời gian sau đó độ nửa thế kỷ hoặc nhiều hơn. Nhiều hơn nữa đến từ những bản thảo đắt tiền vốn đại diện cho những trận chiến và những thiết bị một cách rất cách điệu, để làm cho tay nỏ được thiết giáp hạng nặng như như là một hiệp sĩ! Chiếc mũ đội đầu thường là chiếc mũ rộng vành, mặc dù thời này tồn tại một loại mũ bascinet với bản lề nắp ở phía bên phải của khuôn mặt mà nó có thể được bẻ lên khi đã đến tầm bắn để bắt đầu nhắm bắn.Cây nỏ chính là một vũ khí phổ biến trong mọi tầng lớp của xã hội. Nó có hàng loạt kích cỡ từ cây nỏ đi săn hạng nhẹ, thường được bắn từ trên lưng ngựa, tới những cây nỏ dã chiến nặng nề. Những cây nỏ lớn có cánh dài đến khoảng ba feet (1 m) và có một cái báng nỏ có chiều dài tương tự. Cây nỏ thường được tạo thành từ tổng hợp các lớp sắt dát mỏng, xương, gỗ và gân. Nỏ thép được sử dụng trong đầu thế kỷ 15. Các loại tên nỏ “ quarrel và bolt” thường ngắn và nặng hơn mũi tên của cung thường. Một tên nỏ bolt dài từ một foot đến mười tám inch (30-45cm) và được làm bởi da thuộc hoặc gỗ nhẹ. . Khoảng một tá tên nỏ kiểu này thường được cất ở túi tên được đeo ở dây lưng của xạ thủ bắn nỏ.Một cây nỏ hạng nặng có thể bắn xa hơn một cây cung, nhưng hầu hết chúng có một phạm vi bắn tương tự lên đến 400 yard. Mặc dù nó có thể được bắn theo một quỹ đạo thẳng, nỏ cũng được sử dụng để bắn cầu vồng để xuyên thấu qua mũ sắt và giáp vai. Ở tầm ngắn không có loại giáp nào cản được nó. Điểm yếu của nó là tốc độ bắn rất chậm. Mặc dù mỗi chiếc nỏ có một chiếc bàn đạp để người sử dụng đặt bàn chân của mình để kéo dây nỏ, đây là hành động để đưa dâu nỏ vào vị trí bắn, phầ lớn những cây nỏ cần có thiết bị hỗ trợ căng dây. Thiết bị này có thể đơn giản như là một cái móc được gắn vào một chiếc dây lưng lớn, sợi dây nỏ sẽ được kéo trở lại vị trí bắn khi người xạ thủ bắn nỏ đứng lên. Hoặc có những thiết bị như cái tời hoặc cái lẫy với một cái cán để có thể quay cho đến khi sợi dây cung được đưa về vị trí bắn bởi một đai ốc “xoay” được chế tạo ở báng của cây nỏ. Nó tạo lợi thế cho việc giữ vũ khí lâu cho đến khi người xạ thủ quyết định bắn vào mục tiêu của mình bằng cách bóp một chiếc cò súng ở dạng đơn giản. Nạp tên là một công việc mất khá nhiều thời gian và sức lực, mặc dù tốc độ bắn chỉ giới hạn trong hai hoặc ba phát một phút.

Pháo thủ

Vai trò của các pháo thủ trong chiến dịch Agincourt phần nhiều là ở cuộc bao vây Harfleur hơn là với trận chiến. Những người này ( pháo thủ )là những người có chuyên môn vànghề nghiệp của họ đã có danh tiếng ở Châu Âu. Công việc chính của họ là việc vận chuyểnvà làm việcđể tạo ra những trận oanh kích hạng nặng và bao vây.bằng súng. Vì vậy họ phải mặc nhữngbộ áo giáp hạng nặng để bảo vệ đầu vàngực. Lúc này cũng có một loại súng tay mới xuất hiện trên chiến trường. Trong vòng một vài năm cùng thời với trận Agincourt, người Hussite Bohem đã cho thấy sự tàn phá khủng khiếp củasự kết hợp giữa pháo binh và súng tay là như thế nào ( người Hussite sẽ được giới thiệu trong phần 3 – phần Cuối thời Trung cổ, thực ra chiến tranh trăm năm từ giai đoạn năm 1400 cũng nên được để ở giai đoạn này nhưng người sưu tầm xin để ở đây cho nó liền mạch ). Các pháo thủ thường mặc những áo giáp hạng nhẹ giống như những xạ thủ bắn nỏ và vác khẩu súng của anh ta-một ống kim loại được gắn vào một cái sào bằng gỗ. Để bắn anh ta mang một mẩu dây thừng có giữ một đốm lửa nhỏ ( mồi lửa), hoặc đá lửa và dí chúng vào lỗ điểm hỏa hoặc như bằng tay hoặc bằng một cái cò súng đơn giản như của những tay nỏ.

Tổ chức quân đội của người Anh

Để huy động lực lượng cho chiến dịch Agincourt, Henry V đã dựa vào hệ thống “ khế ước “, đây là một tài liệu liệt kê tên của các hiệp sĩ và binh sĩ . Khế ước đã thay thế phương pháp huy động quân đội qua nghĩa vụ phong kiến trước đó trong thời trị vì của Edward III. Nghĩa vụ Phong kiến chỉ giới hạn trong 40 ngày trong một năm, nó không tương xứng với một chiến dịch chiến đấu ở Pháp. Vì vậy, để huy động quân đội một cách có hiệu quả, nhà vua thường phải làm việc với các nhà thầu của mình ( mà ngày nay người ta gọi là nhà thầu quân sự ). Thường thì các chư hầu phong kiến​​của nhà vua là các lãnh chúa, hiệp sĩ và hộ sỹ, nhưng họ phục vụ để nhận được chi trả bằng tiền. Vì vậy, người anh em trai của nhà vua-Humphrey, Công tước xứ Gloucester, đã ký hợp đồng để huy động 200 tay thương (gồm các kị sỹ và các tùy tùng của họ) để tạo thành một đội quân của chính ông ta – đội quân này gồm sáu hiệp sĩ, 193 hộ sỹ và 600 cung thủ đi ngựa. Đến ngày ‘Agincourt, sự khắc nghiệt của chiến dịch đã họ xuy giảm xuống còn 162 tay thương, 406 cung thủ cưỡi ngựa. Một hộ sỹ ở cấp trung bình, chẳng hạn như Thomas Chaucer (con trai của nhà thơ Chaucer) cung cấp 14 tay thương, 62 cung kị và 60 cung bộ ( trong số này ông chỉ đưa được đến chiến trường 9 tay thương và 37 cung thủ ). Ở cấp thấp nhất, Lewis Robbesard-một hộ sỹ, mang theo đoàn tùy tùng nhỏ của mình chỉ gồm ba cung thủ đi bộ.Đoàn tùy tùng, nghĩa là những người luôn đi theo chủ nhân của họ, đây là nền tảng cơ bản để xây dựng một đội quân theo tiếng Anh là “ host” (mộtquân đội thời trung cổ được gọi đúng là như vậy ). Liên kết giữa các lãnh chúa có nghĩa là có ít người hơn được chỉ huy một cách hiệu quả từ vị chỉ huy phong kiến ​​cấp trên.Quân đội Anh được tổ chức thành đội hình 3 đạo rõ ràng trongcả hành quân và chiến đấu: đó là đạo tiên phong, trung tâm và hậu đội,. Trong trận chiến, binh sỹ chiến đấu dưới ngọn cờ của chúa tể của họ, đến lượt những người này lại chiến đấu theo hiệu lệnh của vị chỉ huy của trận chiến. Trongkiểu tổ chức như thế này thì việc chỉ huy và và kiểm soátlà rất yếu kém. “Không cóhệ thống thống nhất để đưa ra các mệnh lệnh bằng miệng (mặc dù các cung thủ đã được ra lệnh bằng miệng để bắt đầu bắn tên tại Agincourt). Các mệnh lệnh để di chuyển được chuyển tới bởi những tiếng la hét củacác sỹ quan và thúc đẩy các hàng quân tiến theo hướng mà họ mong muốn. Điều này có nghĩa rằngsự cơ động của bộ quân trên chiến trườngrất chậmchạp và mang đầy tính thận trọng, trong trường hợp các hàng ngũ bộ binh bị trở nên nhầm lẫn thì Henry V đã làm một vài điều để chứng tỏ khả năng nhận thức tình hình nhạy bén của ông tại Agincourt.

Tổ chức quân đội của người Pháp

Mặc dù họ sử dụng một hệ thống tương tự như lettres de retenue để nâng cao và duy trì quân đội, chế độ quân chủ Pháp đã không tiến xa theo kiểu tổ chức bằng hợp đồng quân sự như người Anh. Người Pháp có xu hướng chiến đấu trong lãnh thổ của mình, và thường thiên về phòng thủ, do đó, không phải là cần phải phát triển loại cơ chế này. Phục vụ phong kiến và arrière ban (nghĩa đen lệnh gọi quân dự bị), một bổn phận chung đối với tất cả các thần dân. Vào đầu thế kỷ 15 nhìn chung thì việc làm nghĩa vụ thường được thay thế bằng một khoản thanh toán tiền mặt, hoặc bằng việc cung cấp cho các đội quân đồn trú tại các thị trấn. Rõ ràng là Paris đã đưa ra đề nghị cung cấp 6.000 lính bắn nỏ và lính mang khiên cho chiến dịch 1415, mặc dù nó đã bị từ chối bởi các chỉ huy người Pháp – những con số rất lớn những chủ đất phong kiến và chư hầu của họ vốn đã kéo đến Rouen được coi là quá đủ cho trận chiến. Trong thực tế, việc tập hợp một đội quân quá lớn là một vấn đề gây nhức đầu một cách đáng kể về hậu cần cho người Pháp. Những đại úy có kinh nghiệm như Thống chế Boucicault muốn có một đội quân nhỏ thôi nhưng được trang bị tốt và có kỷ luật tốt. Mặc dù vậy vẫn có nhiều nghìn lính bộ binh được tập hợp từ các địa phương đã kéo đến tập trung tại Ruisseauville – ngay phía bắc của Agincourt, mặc dù họ đã không tham gia tí nào vào trận chiến.Cấu trúc chỉ huy quân đội của người Pháp được cho là tương tự như của người Anh. Trong thực tế, như chúng ta sẽ thấy-nó bị phá vỡ hoàn toàn, mặc dù không phải là do thiếu các kế hoạch chiến đấu mà là do chọn những phương án cực kỳ bất hợp lý.

Chiến dịch Agincourt

Ngay sau khi ông mới lên ngôi, Henry V đã bắt đầu chuẩn bị tiến hành một cuộc xâm lược nhằm vào nước Pháp. Ông đề nghị kết hôn với Katherine- con gái của Charles VI. Các Đại sứ đã được cử đi với nỗ lực để tìm một phương án giải quyết việc người Anh đòi hỏi ngôi vua Pháp mà nó có thể thỏa mãn cả hai bên và trong đầu năm 1415 đã có một Đoàn đại biểu của người tại Paris. Vào cuối tháng sáu năm đó, Đại sứ Pháp đã tới London. Nhưng Henry đã không để cửa nào để đàm phán. Mùa hè năm trước đó, ông đã cố gắng sắp xếp một liên minh quân sự với Công tước Burgundy, liên minh này quy định cụ thể về số lượng quân đội ( của Anh bà Burgundy) và vùng lãnh thổ của Công tước xứ Armagnac như chiến lợi phẩm. Nhưng rồi liên minh này đã trở thành vô nghĩa. Có lẽ lý do chính là không bên nào lại đủ tin đối tác của mình đến mức có thể đặt bút ký vào một thỏa ước.

Trong khi tất cả các hoạt động ngoại giao đang diễn ra, Henry vẫn nhanh chóng và không ngừng chuẩn bị cho chiến tranh trên quy mô lớn. Nicholas Merbury, Master of the Ordnance ( không hiểu chức vụ gì ), đã nhận được chỉ thị phải thu thập các cây cung và mũi tên vào mùa hè 1413. Những khẩu súng mới đã được đúc ở London và Bristol và những thiết bị bao vây khác đã được chế tạo: Cung tên, thang và các thiết bị để phá tường thành. Tàu để vận chuyển quân đội và tất cả các trang bị của hạm đội cũng đang được chế tạo, từ mùa xuân năm 1415 các lệnh trưng dụng nhân sự vốn không phân biệt quốc tịch đã được ban bố để cho chuyến vượt biển.Khi quyết định tiến hành cuộc xâm lược, Henry đã tập trung được một đội quân gồm khoảng 2.500 kị sỹ và 8.000 cung thủ. Vì thường thì mỗi “ tay thương “ có ngụ ý rằng mỗi kị sỹ sẽ có từ 2-4 cho chính ông ta và người hầu của ông và một nửa số cung thủ đã có ngựa để cưỡi thì số lượng ngựa cho chiến dịch này phải lên đến 10.000 con. Thêm vào đó là khoảng 200 khẩu súng được chế tạo đặc biệt và những bộ phận không tham chiến sẽ làm số ngựa phải tăng thêm ít nhất 1.000 con nữa rồi tất cả những dụng cụ, thiết bị bao vây … điều cốt yếu là phải có một hạm đội thật lớn. Con số 1.500 chiếc tàu thuyền các loại được đưa ra bởi một sử gia là hoàn toàn chấp nhận được, mặc dù mục đích của con số này là chỉ để tạo ấn tượng hơn là để ghi lại con số chính xác.

Nếu đội tàu thực sự chỉ chiếm một phần năm kích thước này-khoảng 300 tàu thuyền, thì nó vẫn lớn hơn gấp mười lần so với lực lượng hải quân thường trực của Henry V trong 1417 và do đó đây là sưu tập tầu bè gây ấn tượng mạnh mẽ.Các cuộc đàm phán đã đổ vỡ, Henrv tập hợp quân đội của mình tại Southampton vào tháng 7. Sau một chậm trễ ngắn ngày dành để đối phó với một cuộc đảo chính được tiến hành bởi các thành viên bất mãn trong triều đình của ông, hạm đội đã căng buồm vào ngày 11 tháng Tám. ChiếcTrinité Royale-kỳ hạm của nhà vua-một con tàu lớn 500 tấn và là con tầu lớn nhất trong hạm đội, đã đánh tín hiệu xuất phát. Henry đã giữ bí mật về đích đến của ông cho đến phút cuối cùng, và hai đêm sau đó các con tàu của ông đã thả neo nghỉ ngơi ở cửa sông của sông Seine. Henry cho tổ chức một hội đồng quân sự trên con tàu kỳ hạm của mình và cho hoãn cuộc đổ bộ tới buổi sáng ngày hôm sau.

Ông ta muốn chọn Harfleur thành một Calais nữa cho người Anh. Nó là một trong những vùng cực kỳ xung yếu của vùng Normandy và nó cho phép ông ta có thể tiến vào vùng trung tâm của công quốc của ông ( các vua Anh vẫn tuyên bố Normandy là thái ấp của họ ). Nhưng chiếm được thành phố là điều không hề dễ dàng. Nó có các bức tường thành vững chắc được bổ xung với 26 tháp canh và quân phòng thủ đã cho xả các cống nước để bao quanh nó bằng hào nước. Ba cổng thành của nó, tất cả đều được bảo vệ bởi các tháp canh xây trên cổng thành, những hệ thống phòng thủ bằng gỗ và đất được xây nhô ra. Hai cổng thành được bảo vệ bằng đường hào nước cho chúng trở thành không thể tấn công, chỉ còn mé cửa phía Tây là còn có thể. Tại cửa Tây hệ thống tháp canh trên cổng là ấn tượng nhất: những chướng ngại vật lớn gỗ được giằng với nhau bằng những thanh sắt và cao gần bằng chiều cao của bức tường thành. Một sử gia đã khẳng định rằng đó là một “Stone’s throw” để vượt qua. Một con kênh dẫn vào trung tâm của thành phố và đây cũng chính là bến cảng, nhưng nó đã bị chặn bởi một chuỗi xích lớn và những cọc gỗ để ngăn chặn tầu bè đối phương cập cảng. John-Lord của Estuteville, người chỉ huy phòng thủ chỉ có một trăm kị sỹ và binh lính, nhưng ông này vẫn rất tự tin bởi hệ thống phòng thủ mạnh mẽ của thành phố.

Người Anh mất hai ngày để bốc dỡ hành lý, Henry lập doanh trại đối diện với cửa chính của thành phố. Ông công bố một sắc lệnh mà nó đặt ra các tiêu chuẩn về hành vi cho chiến dịch. Cướp bóc, đốt phá và cưỡng-hiếp dân thường là bị cấm và mỗi người Anh tự xác định bản thân bằng một chữ thập mầu đỏ của Thánh St George. Kể từ khi Henry công bố mong muốn khôi phục lại vùng đất của tổ tiên mình ( xứ Normandy ), ông không thể cho phép diễn ra những hành vi phá hoại bình thường của binh sĩ của ông. Việc tìm kiếm lương thảo vốn rất cần thiết sẽ vẫn được cho phép, đặc biệt là thức ăn cho những con ngựa, nhưng bất kỳ sự vị phạm vào quy tắc nào cũng sẽ bị trừng phạt bằng cách treo cổ các thủ phạm. Đó là cách tuân thủ cứng rắn của Henry đối với chính luật pháp do ông đề ra và nó làm cho ông ta được tôn trọng.

Thành phố đã không được củng cố đúng cách cho tới khi nó bị bao vây. Nên vào ngày 18, Công tước của Clarence mang một phần quân đội đi hạ trại ở phía xa hơn, cạnh phía Đông của thành phố. Sau đó ông ta bắt được một đoàn xe tải của Pháp trở súng, thuốc đạn, mũi tên và nỏ đang định tìm đường vào thành phố. Ông cũng suýt bỏ lỡ cơ hội để đánh chặn toán quân tiếp viện của người Pháp dưới sự chỉ huy của Ralph – con trai của Lord Gaucourt, mặc dù De Gaucourt vẫn vào được trong thành phố với 300 binh sỹ và không có gì phải nghi nghờ, số binh lính này cùng với viên chỉ huy can đảm của họ đã góp phần kéo dài thời gian của cuộc bao vây.

Chiếm lợi thế về số lượng, nhưng những thiết bị vây hãm của Henry đã không thể đưa đến một thắng lợi nhanh tróng một cách lạc quan, những điều mà ông ta e ngại đã sảy ra, Các cố gắng để đào hầm và làm sụp phần chân của những bức tường thành đã bị thất bại bởi con hào ngập nước và những thiết bị phá hầm của quân Pháp. Bởi vậy người Anh phải trông cậy nhiều hơn vào việc đưa pháo binh vào vị trí bắn yểm trợ. Lực lượng pháo binh không hoàn toàn là các khẩu pháo dùng thuốc súng, rất nhiều trong đó là những máy ném đá vẫn còn được sử dụng. Những khẩu súng làm bằng sắt với những tiếng nổ khủng khiếp của nó và với khả năng của nó có thể phóng ra những viên đạn nặng tới ¼ tấn, tuy nhiên tác dụng chính của chúng lúc này vẫn chỉ là tạo ra sự sợ hãi. Rất nhiều những viên đạn bằng đá tròn đã được bắn ra và trúng vào bức tường của thành phố và nhà của của Harfleur và đốt cháy chúng bằng hắc ín. Những khẩu pháo này nằm trên mặt đất bằng phẳng, khiến cho quân phòng thủ có thể nhìn rõ chúng và người của Gaucourt quyết định xông ra phá vây, làm cho công việc của các pháo thủ Anh còn xa mới ở mức dễ dàng. Quân Anh bị thương vong nặng từ cả súng tầm xa lẫn các cây nỏ của quân Pháp và từ cả những đợt đột kích phá vây của quân đồn trú.

Cùng ngày nhà Dauphin nhận được một tín sứ-người đã vượt qua vòng vây ở Harfleur. Mặc dù vậy dường như ngườiáp đã không có nỗ lực thực sự nào để giải vây cho nơi này. Chỉ có một sử gia đề cập đến một cuộc tấn công bằng kỵ binh không thành công, kết quả là không nhiều hơn một cuộc giao tranh và người Pháp bị đẩy ra khỏi nơi này một cách dễ dàng. Mối nguy hiểm thực sự đối với người Anh đã sớm xuất hiện đó là bệnh kiết lỵ. Căn bệnh này đã xuất hiện và lây lan rất nhanh chóng trong quân đội Anh. Nguyên nhân cuả nó là không khó để tìm thấy: nhiệt độ cao giữa mùa hè, những đống rác rưởi được tạo ra bởi quân bao vây thành phố, nước bẩn và có lẽ tôm, cua, cá ở cửa sông tiêu thụ với số lượng rất lớn bởi quân vây thành. Không ai được chừa ra, thậm chí cả những quý tộc cao cấp nhất, như bá tước của Suffolk và March đã bị bệnh. Thomas Courtenay, Đức-Giám-mục của Norwich, người cũng bị nhiễm bệnh được mô tả như là phải chịu những đợt đi ngoài không dứt vào ngày mùng 10 và năm ngày sau đó ông này đã chết. Đương nhiên là các thường binh cũng bị mắc phải căn bệnh tương tự này.Ngoài ra trong ngày 15, người Pháp đã xông ra đột phá vòng vây và đốt cháy chiếc máy hãm thành đối diện với cửa chính. Sau đó may mắn đã đổi chiều và đứng về phía người Anh. Vào ngày hôm sau, John Holland dẫn đầu một cuộc tấn công vào pháo đài chính, vốn đã gần như bị phá hủy hoàn toàn bởi những đợt bắn phá và đã chiếm được nó. Sự mất mát này là rất quan trọng đối với lực lượng phòng phủ. Không còn có cách nào để ngăn chặn người Anh mang súng đến gần để bắn phá các bức tường. De Gaucourt xin đề nghị tổ chức các cuộc thương lượng.Vào hôm thứ ba ngày 17 tháng 9, quân Pháp đã đồng ý rằng nếu nhà vua hoặc nhà Dauphin không đem quân tiếp viện đến vào buổi trưa ngày Chủ Nhật sau, họ sẽ đầu hàng.

Điều này là phù hợp với đạo luật của thời chiến và nó làm cho thành phố không phải chịu một đợt công kích. Đây là cơ hội để cướp bóc mà chính xác là những gì rất nhiều người Anh đã mong đợi, nhưng Henry đã đồng ý với các điều khoản mà người Pháp đưa ra. Quân cứu đã không tới và ông ta tiến vào thành phố vào hôm thứ Hai ngày 23. Ông đã giành được thắng lợi ở Harfleur nhưng với cái giá thôi rồi. Cuộc bao vây kéo dài năm tuần. Hơn 2.000 người đã chết vì bệnh lỵ, bao gồm Bá tước Suffolk và những quý tộc tên tuổi khác. Một số lượng lớn, có lẽ là khoảng 2000 người khác bao gồm Công tước Clarence, đã được gửi về nhà để hồi phục sức khỏe. Sau đó Henn đã bổ nhiệm Bá tước của Dorset làm tư lệnh thành phố với một đơn vị đồn trú có thể đông tới 500 kị sỹ và 1.000 cung thủ, ông chỉ còn lại khoảng 900 kị sỹ và chưa đến 5.000 cung thủ ( mất một nửa lực lượng ), với lực lượng này ông vẫn quyết định tiếp tục chiến dịch. Trong một bức thư gửi tới Bordeaux ( một căn cứ của Anh ở Vùng Aqutany trên lãnh thổ Pháp ) ông đã dự định tiến hành​một cuộc chevauchée lớn về những thành phố ở phía Nam nước Pháp, nhưng vào lúc này ông đã phải tự mình lựa chọn những mục tiêu vừa phải hơn.Đầu tiên, ông thách thức nhà Dauphin giải quyết những tranh chấp bằng một trận chiến cá nhân. Nhưng đó không phải là điều mà Louis Dauphin vốn rất ốm yếu có khả năng chấp nhận, nhưng động cơ của Henry là không hoàn toàn có gì để hoài nghi. William Bruges, Guienne Herald và de Gaucourt ( các sỹ quan Pháp đã đầu hàng tại Harfleur ) đã được thả vào ngày 27 và có mang theo tin nhắn. Sau một tuần mà tin nhắn có hiệu lực đã trôi qua mà không có trả lời từ phía nhà Dauphin, Henry lại đổi y. Chống lại tất cả những những ý kiến của Hội đồng thời chiến của mình, ông quyết định phất lá cờ và hành quân đến Calais.Cuộc hành quân tới Calais

Trong hôm thứ Hai ngày 8 tháng 10, lực lượng nhỏ bé của Henry bắt đầu khởi hành từ Hartleur. Họ có khoảng thời gian một tuần để hành quân. Đây là khoảng thời gian đủ để hành quân qua quãng đường dài độ một trăm dặm để đến Calais, nhưng mọi thứ đã không như nhà vua Anh dự định.

Người Pháp có vẻ như gần như thiếu sinh khí và không có hoạt động gì khi Henry tổ chức cuộc bao vây một nơi được miêu tả là “ chiếc chìa khóa “ để tiến vào xứ Normandy. Vấn đề của họ là Charles VI-vốn là một trong những vị vua yếu kém, mặc dù ông này rất muốn chiến đấu nhưng ông lại luôn ở trong tình trạng tâm thần. Triều đình của ông vẫn còn bị ảnh hưởng nặng nề bởi sự bất hòa giữa các phe phái Armagnac và Burgundy. Không có gì phải nghi ngơ vị chỉ huy thích hợp nhất cho quân đội Pháp phải nên là John the Fearless- Quận công của xứ Burgundy, nhưng vì những lý do chính trị nên ông ta đã bị tách ra khỏi triều đình Pháp, khỏi Paris và ra khỏi quân đội. Kết quả là, mặc dù ông đã biểu lộ sự sẵn sàng của ông trong việc chỉ huy quân đội Pháp chông lại quân xâm lược, ông ta lại đứng ngoài cuộc. Trong quá khứ, rất nhiều sử gia Pháp đã đổ lỗi cho John the Fearless về thất bại ở trận Agincourt là bởi sự vắng mặt của ông ta. Ông cũng bị buộc tội là đã ra lệnh cho các chư hầu của mình không được tập trung theo lệnh triệu tập của nhà vua của họ. Thực ra thì không phải như vậy, rất nhiều người trong số họ (chư hầu của John the Fearless ) đã tham gia trận đánh này. Ông ta chỉ đã cấm Philip-con trai ông ra nhập vào quân đội Pháp bất chấp người con trai trẻ của ông nổi giận đến điên khùng vì lo sợ bị coi là kẻ hèn nhát, nhưng dường như đây lại là một sự thận trọng rất thông minh. Chiến tranh, bất kể những bài thơ lãng mạng về nó, thì nó vẫn chứa ẩn đầy những điều hiểm họa, không chỉ từ những hành động của đối phương mà còn từ những thứ rất rủi ro như bệnh dịch. Người Anh đã học được điều này từ bài học cay đắng ở Hafleur. Đồng thời thì John cũng không muốn ủy thác con trai ông và cũng là người thừa kế của ông vào doanh trại của phe Armagnac ( Ông đã ám sát Công tước xứ d’Orléan-một lãnh tụ của phe Armagnac nên không có gì để đảm bảo rằng họ sẽ không trút sự trả thù lên đầu con trai ông ). Tiền nhân của họ, Công tước xứ Bery không hề lấy làm nhiệt tình trong việc tham chiến với người Anh trong một trận chiến mở. Ông ta ( công tước xứ Bery ) đã từng ở Poitiers cách đó 60 năm và vua John-cha của ông ta đã bị cầm tù. Chính vì như vậy mà ông chắc chắn rằng vua Charles không muốn mạo hiểm để mở một trận đánh tương tự với người Anh. Ông ta đồng ý một cách miễn cưỡng rằng có thể chặn được người Anh, nhưng chỉ với một câu bình luận đầy nhạo báng cay độc “ Bị đánh bại một trận vẫn còn tốt hơn vừa bị đánh bại vừa mất một vị vua”

Vua Charles đã cho dựng lá cờ chiến tranh tại St Denis ngày 10 tháng Chín, gần 1 tháng sau khi quân Anh đổ bộ. Ông đã di chuyển tới Mantes, trong khi Louis- nhà Dauphin thiết lập sở chỉ huy ở Vernon được một tuần, nơi đây thuộc biên giới với Normandy, để canh chừng những di chuyển của người Anh, trong khi Thống chế Boucicaut lúc này có thể đã ở tại Caudebec, khoảng 30 dặm về phía Đông của Harfleur, trong khi vị Nguyên d’Albret canh trừng các lối vượt cửa sông Seine từ Hanfleur.

Không một chỉ huy giàu kinh nghiệm nào của người Pháp lại muốn tác chiến với quân Anh trong một trận chiến mở, chiến thuật của họ là một trong những biện pháp ngăn chặn. Sau khi Henry V bắt đầu hành quân, Boucicault bắt đầu bám sát các lực lượng của ông ta khi họ tiến đến khe cạn Blanchetacque để vượt qua sông Somme. Trong khi đó d’Abret hành quân nhanh chóng về phía Tây bắc từ Rouen với một số lượng lớn của đội tiền quân của Pháp để tổ chức phong tỏa tất cả các lối vượt sông. Người Anh tiến quân dọc theo tuyến đường ven biển. Sir Gilbert Umtraville và Sir John Cornwall dẫn đầu đạo tiền quân, nhà vua Anh, Công tước xứ Gloucester và John Hlolland ( sau này được phong làm Bá tước của Huntingdon.) chỉ huy đạo quân chính, trong khi Công tước xứ York và Bá tước Oxford phụ trách đạo hậu quân. Cuộc hành binh diễn ra một cách trôi chảy trong ba ngày đầu tiên, mặc dù những người Pháp đương thời đã tố cáo rằng quân Anh đã cướp phá Fécamp. Tại Arques, trong ngày 11. Lần đầu tiên quân Anh đã gặp phải những kháng cự thực sự. Viên quan tổng trấn ở đây đã từ chối không cho quân Anh chiếm lấy các kho lương thực nhưng ông này đã phải chịu thua ngay sau khi Henry V đe dọa đốt cháy thị trấn. Không rõ người Pháp có theo đuổi chính sách “ tiêu thổ” hay không, nhưng nếu họ có làm thì Henry V phải nhận thức được sự nguy hiểm về tình huống cạn kiệt nguồn lương thực của mình. Lại đã xảy ra một cuộc giao tranh tại Eu vào ngày hôm sau và một lần nữa người Anh lại đã lấy được nguồn cung cấp mà họ cần.

Không vượt qua được sông Somme

Ngày 13, Henry lại tiếp tục cuộc hành quân của ông ta về phía khe cạn Blanchetaafue, để quân đội của ông có thể vượt qua cửa sông Somme. Tuy nhiên, khi còn chỉ một vài dặm trước khi đến vùng cửa thì đội tiên phong đã bắt được một tù binh người xứ Gascon. Người này đã khai cho những kẻ bắt mình rằng Nguyên soái d’Albret đang đóng tại Abbeville với một lực lượng mạnh gồm khoảng 6.000 binh sỹ. Hơn nữa, cạn mà họ mà họ đang hướng tới đã bị phong tỏa bởi các cọc gỗ nhọn và canh chừng bởi quân lính dưới sự chỉ huy của Guichard Dauphin-Lord của Jaligny. Người Anh chắc hẳn đã phải chết lặng người đi khi nghe thấy những tin này. Họ đã tiêu thụ hết một nửa số đồ dự trữ thực phẩm của mình và vẫn chưa có một phương án rõ ràng nào để vươt qua sông Somme. Hướng duy nhất có thể là chuyển về phía nam và hành quân theo thượng nguồn con sông với hy vọng tìm được một chỗ vượt sông không được bảo vệ hoặc lực lượng phòng thủ quá mỏng. Tinh thần của binh lính trở nên ảm đạm hơn vì dường như cần thiết phải đi xa hơn nữa về phía thượng nguồn của con sông, với một khoảng cách lên đến sáu mươi dặm. Việc chọn hướng hành quân của Henry đã được chứng minh là cẩu thả và bất chấp những lời cảnh báo của các cố vấn của ông. Tại đây, họ ( quân Anh) đã bị mắc vào ( giống như những chú cừu ở trong một khe núi) như những lời họ kể lại: thua thệt so với đối phương về số lượng, ốm yếu và đã cạn đồ cung cấp trong khi lại đang ở trên một vùng đất thù địch.

Đầu tiên là Henry ra lệnh cho lực lượng của mình tiến về phía Pont St Remy và sau đó, việc đi tìm các cầu được bảo vệ và tìm chỗ trú châ n cho quân đội của mình ở Bailleul và các làng mạc xung quanh. Vào ngày 14 sau những những nỗ lực vô vọng tương tự để tìm thấy một khúc vượt sông. Người Anh đã trú đêm ở trong và xung quanh Hangest. Ngày hôm sau họ đến đối diện với Amiens và có thể ngủ qua đêm tại Pont de Metz.

Người Pháp đã chuẩn bị rất kỹ lưỡng để phá hủy các cây cầu và bảo vệ tất cả điểm vượt sông, điều này cho thấy người Pháp có một kế hoạch được tổ chức tốt và xác định rõ mục tiêu. (Henry đã không cố gắng để tổ chức tấn công vào một thành phố cỡ như Amiens, tất nhiên là do lực lượng của ông quá nhỏ và thiếu vũ khí bao vây.) Hành trình của quân đội Pháp là khó xác định hơn so với người Anh, nhưng như chúng ta có thấy, nó đã được chia thành hai đội quân. Đội quân tiên phong, nằm dưới sự chỉ huy của d’Albret và Boucicault, đã thực hiện tốt vai trò của ọ. Có lẽ là do nhận được tin tức về dự định di chuyển của

Henry, vị Nguyên soái đã mang phần lớn lực lượng của đạo quân này và tiến về phía Abbeville trên sông Somme. Từ một vị trí ở giữa Harfleur và Rouen, có thể phải mất bốn ngày hành quân để chiếm được nơi này, điều này cho thấy ông đã phải cho di chuyển ngay lập tứ từ ít nhất là ngay sau khi Henry khởi hành vào ngày mồng 8.Có lẽ là người Pháp đã tận dụng khoảng thời khi Harfleur thất thủ, trong khi Henry chờ đợi một cách vô vọng rằng nhà Dauphin sẽ chấp nhận yêu cầu của ông về một “ trận chiến giữa 2 cá nhân ” để kết thúc ân oán giữa hai dòng họ.

Người ta không rõ rằng khi nào lực lượng chính của quân Pháp xuất hiện tại Rouen, theo tính toán của các sử gia thì có khoảng 14.000 kị sỹ cũng đã hành quân về phía bắc. Vua Charles đã tới thành phố này vào ngày 12 và tổ chức một Hội nghị lớn. Để tạo một khoảng thời gian để ra quyết định và tổ chức một lực lượng lớn theo cách xử lý của ông, không chắc rằng lực lượng chính của Pháp được gửi tới Amiens vào trước ngày 14 hoặc 15. Bất kỳ lực lượng Pháp nào được gửi đi trước đó sẽ đụng độ với người Anh lúc này đang di chuyển về phía Nam Amiens; bất kỳ lực lượng Pháp nào được gửi đi sau đó sẽ không thể đến nổi Bapaume, hai mươi dặm về phía bắc của Amiens vào ngày 20 khi các tài liệu ghi lại rằng nó đã ở đó. Sự kiện này có nghĩa là đội quân chính của người Pháp có thể đã đến Amiens vào ngày 17 hoặc 18, bằng cách băng qua con đường quân Anh, vốn đã đi qua để tiến về thành phố Amiens một vài ngày trước đó.Từ Pont de Metz đến Boves, nơi Henry đã trải qua đêm của ngày 16 ở đó, chỉ là một cuộc hành quân ngắn khoảng chín hoặc mười dặm. Không rõ tại sao Henry V lại cho chậm tiến độ hành quân của mình lại vào thời điểm này. Cạn kiệt nguồn lương thực có thể được coi là một lý do, quân Anh vào lúc này đã cạn kiệt những nguồn thực phẩm mà họ đã mang theo từ Harfleur. Và dường như ngày càng trở nên rõ ràng rằng không có cơ hội nào để vượt qua sông Somme. Một nhân chứng trong quân đội Anh-một Cha tuyên úy, đã dự báo chiến lược của người Pháp một cách phiền muộn: “ Chúng tôi lúc này dự kiến rẵng không có điều gì khác xảy ra, ngoài việc sau khi sử dụng nốt số lương thực và thực phẩm dữ trữ trong tuần của chúng tôi và kẻ thù đầy xảo quyệt sẽ luôn ở phía trước và sẽ thiêu thổ hoàn toàn vùng nông thôn mà chúng tôi sẽ đi qua, và sẽ làm suy yếu chúng tôi bởi nạn đói và sẽ tiêu diệt chúng tôi-vốn lúc này còn lại rất ít người và đang phải đối mặt với nhiều nỗi mệt mỏi và đau yếu do thiếu thức ăn.”Tại Boves, Henry tìm cách thương lượng với quân Pháp đồn trú trong lâu đài. Để không đốt cháy thành phố vàvườn nho của họ, ông yêu cầu họ phải giao nộp bánh mì. Kết quả là ông đã nhận được tám giỏ bánh mỳ, mỗi giỏ cần hai người đàn ông để khiêng chúng-theo như một nguồn tin. Số lương thực này là rất cần thiết để duy trì sức khỏe của quân sỹ. Một thứ gì đó cũng được tìm thấy ở tại vùng Boves vốn rất trù phú này là rượu vang. Hậu quả của sự hào phóng trong việc phân phát chất rượu có cồn này cho người Anh-những người đang có những chiếc dạ dày trống rỗngcó thể sẽ tạo rathảm họa về mặt kỷ luật ( mà đây có thể chính là ý định của người Pháp). Henry đã cấm các thường binh không được uống quá nhiều. Khi được hỏi lý do tại sao họ không được đổ đầy rượu vào những chiếc bụng chống rỗng của họ, ông trả lời rằng họ sẽ bị những chiếc bụng rỗng nhưng đầy rượu sẽ làm cho họ bị mất kiểm soát.Henry cố gắng làm tăng Tinh thần quân sỹ

Giai thoại này nói về một bức thông điệp. Nguồn tài liệu của chúng tôichỉ gợi ý rằng tinh thần của người Anh đã xuống rất thấp vào lúc này. Càng hành quân ngược lên thượng nguồn sông Somme tức là điểm đến-Calais lại càng trở nên xa vời, do không thể làm chủ mặt đất vốn là những đầm lầy nằm giữa họ, thậm chí là không đến được những vị trí của kẻ thù của họ-những người đang canh gác dày đặc ở những điểm vượt sông, chỉ tồn tại bằng câyquả và ở dọc đường đi và không có gì đảm bảo cho tương lai ngoại trừ cái chết hay bị bắt tù binh một cách nhục nhã bởi người Pháp sẽ làm cho nhiều người phải cảm thấy tuyệt vọng. Nhưng một điều đáng ngạc nhiên là không có tài liệu nào đề cập đến số binh lính Anh đào ngũ. Điều này có thể bởi vì Henryvẫn còn quản lý được người của mình một cách chặt trẽ, hoặc là họ lo sợ về sự trả thù của nông dân Pháp. Vị vua đã phản ứng với tình huống này bởi sự thấu hiển điển hình của ông ta trong việc nắm bắt tâm lý của binh lính.

Ngày hôm sau ( ngày 17), ông quay lại phía bắc tới Corbic-một thị trấn nằm trên sông Somme. Có lẽ ông đã cố gắng để vượt qua con sông, nhưngdường như sau đó ông lại muốn có một trận chiến để nâng cao tinh thần của người của mình lên. Và ông đã đạt được điều này, khi quân Pháp đồn trúxông ra và có một cuộc giao tranh ngắn gọn. Một nguồn tin sau đó khẳng định rằng tại đây-John Bromley của nhà Bromley, thuộc đạo quân củaStaffordshire, đã thể hiện một hành động cho thấy lòng dũng cảm tuyệt vời. Người bà con của ông ta là Sir Hugh Stafford, Lord của Bourchier-cũng là Hiệp sỹ cầm lá cờ của Guienne. Trong một cuộc tấn công quyết định của người Pháp, nó (lá cờ của Guienne ) đã bị giằng ra khỏi bàn tay của ông ta (Sir Hugh Stafford). Nhưng JohnBromley đã lao vào hàng ngũ của đối phương và hạ gục tay binh sỹ người Pháp đã chiếm được nó và cướp lại được lá cờ. Trong những thế kỷ sau này hành động của ông ta là đáng nhận huy chương. Gia phả của gia đình của ông khẳng định rằng sau đó ông này được phép thêm vào tấm gia huy của Guienne một con báo vàng trên mặt đất đỏ, cho riêng mình ông ta. Câu chuyện này vẫn chưa được chứng minh là đã thực sự xảy ra- nó có thể cũng không nhiều hơn là một huyền thoại được gây dựng – nhưng nó là những gì đã xảy ra trong vô số các cuộc giao tranh nhỏ ở thời Trung cổ. Nhưng việc khai thác lòng dũng cảm này thường là đủ để nâng cao tinh thần và lòng cam đảm của binh sỹ Anh về thế thượng phong của họ khi phải chiến đấu đối mặt với kẻ thù.

Có thêm những giải thích về những di chuyển của Henry vào ngày 17 và nó cũng thể hiện kỹ năng của ông với tư cách một nhà chỉ huy. Từ doanh trại của ông tại Boves không có gì để nói rằng ông lại không tiếp tục đi theo bờ trái của Somme. Cuộc tấn công của ôngvào Corbic được tiến hành để thuyết phục người Pháp rằng ông dự định cho quân đội của mình vượt sông. Trong thực tế ông không có ý định làm như vậy ( vượt sông ). Ông đã quyết định cắt ngang qua vòng lặp lớn của con sông ở giữa Corbic và Ham để tìm một lối đi không được bảo vệ. Có lẽ ông biết rằng tiền quân củaPháp đang đóng ở Peronne-điểm xa nhất của vòng lặp này;chúng tôi không thể chắc chắn về điều này.Dường như Henry đã đoán biết được ít nhiều về kế hoạch của người Pháp nên lúc này ông đã ra lệnh cho mỗi cung thủ phải chuẩn bị một cọc gỗ dài sáu foot ( 2 mét) và được vót nhọn ở đầu để làm phương tiện phòng ngự chống lại các đợt tấn công của kỵ binh.

Vượt qua sông Somme

Quân Anh trú qua đêm ở tại vùng Caix-Harbonniéres, nửa đường đến đích của họ. Vào ngày 18 họ tiến đến gần Neste, chỉ cách con sông này một vài dặm. Vị giáo sĩ trong quân đội cho rằng “ đây là ý của Chúa “ khi mà một thông tin được mang đến chỗ nhà vua rằng có một điểm qua sông phù hợp. Tôi cho rằng Henry đã nhận thức được thực tế và dự địnhvượt qua con sông ở chỗ khe cạn Voyennes và Bethencourt. Người Anh bắt đầu vượt sông vào ngày hôm sau. Vào khoảng 8:00 sáng ngày 19 (khi có tia sáng đầu tiên?), Họ tiến vào một đầm lầy rộng lớn kéo dài hàng dặm nằm bên cạnh sông, vị Giáo sĩ nói rằng ông rất lo lắng khi quân đội Anh ở vào vị trí dễ bị tổn thương này, họ bị mắc kẹt giữa dòng sông Somme và một dòng đổ vào nó, nhưng quân Pháp không xuất hiện. Hai con đường đắp cao hẹp kéo dài về phía bên kia, cả hai con đường này đã bị người Pháp phá vỡ khúc ở giữa. Sông Somme ở đoạn này chỉ rộng một vài trăm thước, nhưng chủ yếu là đầm lầy và chỉ đến đầu gối, sâu đến thắt lưng. Một phần của lực lượng tiên phong dưới sự chỉ huy của Sir Gilbert Umfrasille và Sir John Cornwall, một vài người cưỡi ngựa và một đám lẫn lộn gồm cả giáo binh và cung bộ đã băng qua những vùng nước nông để chiếm một đầu cầu. Nhưng khoảng không gian trên những con đường đắp cao chỉ đủ cho một kỵ sĩ tại một thời điểm, vì vậy người Anh phải bắt tay vào việc sửa chữa chúng. Rơm rạ, các bó củi và gỗ từ các nguồn khác nhau, trong đó có cả những tấm ghỗ được lấy từ các tòa nhà gần đó, đã được sử dụng để làm một con đường đủ rộng để cho ba con ngựa đi ngang nhau. Lực lượng chính của quân Anh bắt đầu qua sông vào giữa trưa. Vì Henry sợ rằng kỷ luật có thể bị phá vỡ bởi quân của ông đã quá căng thẳng nên chính ông cũng đứng lên để điều khiển một hàng người và ngựa trên một con đường đắp cao, trong khi hai thuộc cấp tin cậy phụ trách theo dõi một hàng quân khác. Nguy cơ đến từ sức ép phải vượt sông thật nhanh chóng để được an toàn, hoặc sự hoảng loạn do việc lan truyền những tin tức của một vụ tấn công sắp xảy ra của quân Pháp, vì vậy có thể dễ dàng biến cuộc vượt sông thành một đám hỗn loạn.

Trên thực tế người Pháp đã phản ứng với di chuyển của người Anh. Ngay sau khi lực lượng tiền quân đã qua sông, nó đã bị tấn công bởi lính kỵ binh đến từ những ngôi làng ở gần đó. Đây có lẽ là những tiền đồn của lực lượng tiền quân Pháp có căn cứ ở Peronne và ¼ trong số họ đóng quân ở các làng xa xôi hẻo lánh. Rõ ràng là quân Pháp không có sự phối hợp trong việc đánh chặn quân Anh vượt sông. Sau này các nhà sử gia Pháp đổ lỗi cho người đàn ông của St Quentin không gác đúng những chỗ vượt sông hoặc không phá hủy chúng. Vua Henry đã thành công trong việc cho đội quân nhếch nhác của ông vượt qua sông trước khi người Pháp có thể phản ứng. Toàn bộ quân đội của ông đã vượt qua sông một giờ trước lúc đêm xuống (khoảng 05:00). Ông không cho phép người của mình nghỉ ngơi mà bắt họ tiến lên ngay cả sau khi trời đã tối, họ đã đến được Athies nơi ông cho dựng doanh trại. Tinh thần của quân Anh chuyển biến tốt hơn, theo ghi chép của vị giáo sỹ tuyên úy: “ Chúng tôi đã có một đêm chễ chịu ở các ấp lân cận, kể từ khi chúng tôi bắt đầu vượt sông, người Pháp đã bị lừa và chúng tôi cảm thấy vui sướng vì đã ước tính rằng sẽ rút ngắn được cuộc hành quân của chúng tôi lại khoảng một tuần. Và chúng tôi hy vọng rằng chắc chắn sẽ gặp lực lượng chính của đối phương, vốn được cho là đang đợi chúng tôi ở đầu của con sông… “

Một lần nữa vị giáo sỹ quân đội Anh lại quá ngây thơ. Nếu thực sự quân đội chính của người Pháp đóng ở đầu của con sông, một hoặc hai ngày hành quân về phía Đông thì con đường tới Calais đã được dọn sạch. Nhưng thật không may, tình huống này lại không phải như vậy. Lực lượng chính của quân Pháp đã ở đâu, người ta thường giả định rằng họ ở đâu đó trong vùng lân cận của Peroone. Athies chỉ nằm cách Peronne có bảy dặm một nửa ngày hành quân. Một số nhà bình luận hiện đại chú ý về thực tế này và về chiến trận sắp xảy ra. Những thách thức để tổ chức trận chiến đã được gửi bởi Công tước de Bourbon và Công tước Orleans bởi ba vị sứ giả trong ngày 20 dường như xác nhận thực tế này. Nhưng người Pháp đã không thách thức trận chiến trong ngày hôm đó. Thay vào đó họ rút lui về Bapaume, một ngày dài hành quân về phía bắc. Các nhà sử gia hiện đại không thể tìm thấy lời giải thích. Một giải thích khá hiện đại là họ dự kiến Henry sẽ dùng tuyến đường phía bắc đển Calais và hy vọng ngăn chặn ông tại Aubigny-en-Artois, giữa Arras và St Pol. Điều này chắc chắn là chính đáng mặc dù nó không trả lời câu hỏi là tại sao lực lượng chính của quân đội Pháp đông gấp ba-bốn lần so với đối thủ của nó lại bất ngờ trở nên hèn nhát và rút lui. Hơn nữa, lúc này quân Anh đã bị mắc kẹt và quay lưng của họ về phía con sông họ mà vừa mới vượt qua. Dường như nhiều khả năng là lực lượng ở Peronne chỉ là lực lượng tiên phong của quân Pháp, họ có thể xấp xỉ ngang bằng hoặc ít hơn một chút so với số lượng quân Anh. Dường như họ (lực lượng tiên phong Pháp ) đã đến được Peronne trong ngày 18, sau cuộc đụng độ tại Corbic và sau đó mất liên lạc với kẻ thù, những người đã tiến về phía nam tới Nesle. Vào ngày hôm sau thì đã quá muộn để ngăn chặn cuộc vượt sông.Vậy trong khi đó, đội quân chính của người Pháp đã làm gì? Như chúng ta đã thấy, sớm nhất thì đội quân này không cũng không thể đến được Amiens trước ngày 17 . Đây là một lực lượng rất lớn. Bao gồm cả những người đi theo doanh trại, nó có thể lên đến 50.000 người. Trong trường hợp này con đường ở bờ sông bị chiếm giữ bởi đội quân tiên phong, nhưng tuy nhiên họ cũng có nhiệm vụ theo dõi đội phương một cách chặt chẽ, như vậy là quá sức. Các con đường thì quanh co uấn khúc và các bên bờ của sông Somme có nhiều đầm lầy, đặc biệt là với những cơn mưa nặng hạt vào tháng Mười. Một tuyến đường thực tế hơn cho một đội quân lớn, vốn bị vướng víu với những đoàn xe và những đồ cá nhân sẽ là tuyến đường qua Bapaume, ở khoảng một vài ngày ở phía bắc. Hơn nữa, khu vực xung quanh Peronne không thích hợp để điều động một lực lượng lớn với rất nhiều ngựa. Rất ít làng mạc và địa hình nhiều đầm lầy. Mặt khác Bapaume, cung cấp đầy đủ cơ sở vật chất cũng như là một địa điểm tốt để chặn đứng bất kỳ di chuyển nào của quân đội Anh về phía tây-bắc. Tại thời gian này, Pháp vẫn hy vọng rằng Henry sẽ buộc phải hành quân đến vùng đầu nguồn sông Somme, phía đông của St Quentin. Sau đó có thể họ sẽ cần phải tiến đến Cambrai, thế là lại một lần nữa, Bapaume lại chở thành một vị trí hoàn hảo. Nếu chúng ta chấp nhận rằng đạo quân chính của người Pháp đã di chuyển trực tiếp đến Bapaume, nó làm cho hành động của người Pháp có thể được giải thích một cách dễ dàng. Đội tiền quân Pháp đã không muốn đơn độc một mình họ đương đầu với quân Anh. Họ đã lên kế hoạch liên tiếp rút lui và nó đã được chứng minh là cần thiết. Một tài liệu đã được phát hiện gần đây (sẽ được thảo luận chi tiết sau) cung cấp cho chúng tôi một kế hoạch về trận chiến, vốn được soạn thảo bởi các chỉ huy của quân Pháp ( 2 vị Nguyên soái và Thống chế ) để đánh bại chiến thuật trường cung của Anh bằng cách đánh tạt sườn. Nhưng một khi người Anh đã qua sông thì lực lượng chính của quân Pháp lại phù hợp để tham chiến. Người Pháp muốn chiến đấu – nhưng trận chiến vẫn chưa thể xảy ra.Đương nhiên là Henry đã không thể biết về những điều này. Câu trả lời cho lời thách thức là rằng ông dự định hành quân thẳng đến Calais. Từ lúc đó ông luôn mặc áo có gia huy của mình trong mọi lúc, một biểu tượng để thể hiện rằng ông chuẩn bị cho một trận chiến vào bất cứ lúc nào. Quân Anh đã không di chuyển trong ngày 20. Đó là một ngày nghỉ có giá trị sau khi hành quân vất vả và vượt sông Somme một cách vội vàng. Ngoài ra, Henry có thể đã hy vọng về một cuộc tấn công. Quả thực có thể thách thức của người Pháp đã làm cho ông ta chốt tại địa điểm này trong khi lực lượng tiền quân Pháp lại liên tục rút lui. Tình hình đều phù hợp với cả hai bên để nổ ra một trận chiến.

Hành quân đến Agincourt

Xuất phát một lần nữa vào ngày 21, quân Anh đi qua Peronne ở phía bên trái. Kỵ binh Pháp tiến ra để giao tranh, nhưng khi các kị binh Anh được tung ra để chống lại họ, họ đã bỏ chạy vào thị trấn. Ở cách đó chỉ một dặm, vị giáo sỹ tuyên úy ghi lại rằng họ đãđi ngang qua một đội quân rất lớn – một nhắc nhở bi quan về sựchênh lệch số lượng mà họ phải đối mặt. Quân đội Anh đã trú đêm trong khu vực Mametz-Fricourt. Quân Phápbám theo bằngmột tuyến đường song songxa hơn mười dặmvề phía đông bắc. Trong ngày 22 quân Anh đi qua tuyến đường thông qua Albert (sau đó được gọi là Ancre) xa tới tận Forceville và Acheux. Người Pháp-luôn đi trước đối thủ của họ, có thể đã đến Coullement. Vào ngày 23 người Anh vượt qua Doullenstới Bonnicres và Frevent, trong khi quân Phápđã đến St Pol. Con sông Rernoise đang nằm trước mặt và Henry dự định để vượt qua nó ở Blangy.

Ông ta đã vượt được con sông này, mặc dù các nguồn khác nhau thì khác biệt ở chỗ ông đã vượt qua con sông này trước hay sau cuộc chiến với lực lượng bảo vệ cây cầu. Trong khi quá trình vượt sông đang diễn ra, các trinh sát của Henry báo cho ông ta biết rằng đối phương đang đóng quân chỉ các đó nửa dặm ở bên phải ông, quân Pháp đã hình thành đội hình chiến đấu. Nhưng vẫn không có trận chiến nào trong ngày hôm đó. Người Pháp di chuyển về phía Bắc đến Agincourt và Ruisseauville, nơi họ cắm trại qua đêm. Henry theo dõi một cách thận trọng, lo ngại rằng họ có ý định di chuyển xung quanh khu rừng để tới cánh trái của ông ta và tấn công quân của ông ở bên cạnh sườn. Nhưng đó lại không phải là ý định của người Pháp. Phần lớn quân đội Pháp đóng quân tại con đường bộ tới Calais. Henry đã tiến đến ngôi làng Maisoncelles. Quân đội của ông chen chúc xung quanh vài ngôi nhà ít ỏi của ngôi làng này để tránh những cơn mưa dữ dội phủ kín cả những vườn hoa và vườn cây thông. Cách đó chỉ chưa đầy một dặm về phía Bắc, quân Pháp đã đốt những ngọn lửa rất lớn và thiết lập các trạm canh gác để ngăn chặn mọi cố gắng của quân Anh để chuồn đi trong đêm.Theo nhiều ngồn tài liệu của người Anh, từ phía doanh trại thấp thoáng ánh lửa của họ đã phát ra những âm thanh của rất nhiều những con ngựa và những người hầu của quân đội chính của Pháp đang làm nhiệm vụ của mình ( mỗi kị sỹ có ít nhất 2 người hầu để chăm sóc ngựa và mang binh khí dự trữ cho ông ta ), trong khi người Anh lại chơi nhạc để nâng cao tinh thần của họ. Vì vậy, điều này đã thuyết phục nhiều người Anh rằng họ sẽ được gặp thần chết của họ vào ngày hôm sau, họ đã thú nhận về tội lỗi thuyết phục, hôn thánh giá và giàn hòa Chúa ( vì quân Anh là đám văng mạng đốt nhà, giết người, cướp của… nên khi chuẩn bị chết họ muốn xưng tội và được rửa tội-một tập tục của người Kitô giáo )

Trận chiến Agincourt

Đối với trận chiến chính chúng tôi may mắn sở hữu không ít hơn bốn tài liệu nhân chứng cho trận chiến, từng đó là quá nhiều đối với bất kỳ trận đánh nào, nhưng đối với thời trung cổ thì đây là một cố gắng phi thường. Hơn nữa là hai trong số người lại tham chiến ở mỗi bên khác biệt. Về phía doanh trại của quân Anh-người mà chúng ta đã được biết đến-vị giáo sĩ của Henry và trong lúc chiến đấu là Jean le Fevre, Lord của Remy. St. St Remy cũng biết nhiều người trong quân đội Pháp và đã tập hợp thông tin từ bọn họ để viết quấn biên niên sử của ông. Cùng đi theo quân đội Pháp là Enguerrand de Monstrelet và Waurin ( cả hai sử gia này đều được bảo trợ bởi công tước xứ Burgundian).

Có một số nguồn tin quan trọng đóng góp cho ý tưởng của chúng tôi về những gì đã xảy ra. Ở phía Anh trang hai biên niên được trích ra chủ yếu từ quấn “ the Life” của vị giáo sỹ của quân Anh, trong khi về phía người Pháp, Pierre de Fenin và Juvenal des Ursins đã cung cấp những cái nhìn về trận chiến trong một bối cảnh chính trị rộng lớn hơn. Công tước xứ Wellington luôn không coi trọng những nỗ lực để xây dựng lại trận chiến ( bởi các nhà sử gia ) và coi nó như là phù du trong đời thường. Nhưng với nhiều nhân chứng thứ tự của các sự kiện có thể vẽ một bức tranh khá chính xác.Hơn nữa, những khám phá gần đây của một nhà nghiên cứu trẻ tuổi về một bản thảo rất quan trọng trong British Library đã cho chúng ta một ý tưởng rất đặc sắc nhưng nó thường bị từ chối bởi các sử gia. Đó chính là kế hoạch tác chiến của quân Pháp trong hiến dịch Agincourt-nó phác thảo các triển khai và chiến thuật của người Pháp mà họ hy vọng sẽ đánh bại người Anh. Nhưng nó không phải là chiếc duy nhất – vẫn còn một kế hoạch chiến đấu của Burgundy ( những người Burgundy chiến đấu trong QĐ Pháp, về sau họ lại liên minh với người Anh ) vốn tồn tại hai năm sau đó-Nhưng nó là một vật khá hiếm và nó cho phép chúng ta tái tạo lại trận chiến theo cách mà chúng ta bao giờ làm. Cho đến bây giờ các sự kiện bên phía người Anh là khá sẵn có, phía người Pháp lại không được như vậy. Tầm quan trọng của nó, những tài liệu mới được khám phá này sẽ được giải thích và in ấn một cách đầy đủ đặc biệt là các sự kiện có liên quan đến thực tế.Kế hoạch tác chiến của người Pháp

Có vẻ rõ ràng rằng kế hoạch này đã được soạn thảo để áp dụngbởi Thống chế Boucicault và Nguyên soái d’Alhret, những người chỉ huy lực lượng tiền quân Pháp. Như chúng ta đã thấy, d’Albret đã cho di chuyển lực lượng của mình từHonfleur đến Abbeville và đã hội binh với lực lượng của Boucicault vào ngày 13-lực lượng này vốn trước đó có tác dụng để quấy rối bước tiến của quân Anh. Những chỉ huy khác của người Pháp đã được đề cập bởi các sử gia hiện nay là:Bá tước của Venditme, Lord của Dampierre, Công tước Alençon, Bá tước của Richentont ( đi cùng làLord của Combourg và Bertrand de Montauban-người sát cánh cùng ông tatại cuộc bao vây ở Parthenay) và David Rambures-người chỉ huy các tay nỏ. Trong khi đó Guichard Dauphin-Lord của Jaligny đang tiến hành bảo vệ khe cạn Blanchetacque. Tất cả những người này (ngoại trừ Dampierre) sẽ được đề cập trong kế hoạch chiến đấu. Hai cái tên khác là Bá tước của Eu và Louis de Bosredon cũngđượcbiết là đã tham gia chỉ huy trong chiến dịch này. Ngoài Dampierre, tên của cácchỉ huy Clignet de Brabant và Bastard của Bourbon cũng bị bỏ qua. Đây là những nhân vật chính trong tài các tài liệuở thời gian đó và rất đáng ngạc nhiên là họ đã không được đề cập đến. Có lẽ họ đã được bao gồm trong nhóm của “ các lãnh chúa khác, những người không được nêu tên ở nơi này“.

Đội quân tiên phong của Pháp chỉ có khoảng 6.000 quân, ngang bằng về số lượng hoặc ít hơn một chút so với quân Anh. Điều có thể giải thích tại sao họ thường tránh giao chiến với người Anh là trong số họ có nhiều người hầu, những người đi cùng chủ nhân-những kị sỹ để chăm sóc những nhu cầu của họ về ngựa và trang thiết bị, tất nhiên là những người này không thạo chiến trận. Kế hoạch này có thể đã được vạch ra ở một khoảng thời gian nào đó từ 13-20 tháng 10, khi đội quân tiên phong hội quân với đạo quân chính tại Bapaume. Nó ( đạo binh kết hợp này ) có thể được dùng để đối phó với người Anh nếu họ vượt sông Somme tại bất kỳ thời điểm nào khi họ hành quân về phía nam từ Blanchetacque.

Theo lựa chọn này thì không cần phải thảo ra một kế hoạch cho đến ngày 19, khi mà lực lượng Pháp tại Peronne biết được rằng người Anh đã thực sự vượt qua con sông. Như chúng ta đã thấy, bất chấp một lời thách đấu vào ngày 20, nhưng đã không có gì thực sự xảy ra với việc lực lượng tiền quân Pháp vẫn đang nghỉ ngơi một cách an toàn trong lực lượng chính. Một điều rất quan trọng là dường như Henry đã đoán biết được ý định của Pháp là sử dụng kỵ binh để tấn công vào các cung thủ từ ngay khoảng ngày 17 tháng 10 ( vì vậy ông bắt các cung thủ của mình đi tìm kiếm các cọc gỗ rồi vót nhọn ), mặc dù điều này không có nghĩa là kế hoạch đã hoàn thành hoặc là người Anh đã biết về nó nhiều hơn ở mức mơ hồ.

Đáng chú ý là nhiều khía cạnh của kế hoạch dường như đã được đưa vào ứng dụng tại Agincourt, mặc dù sự gia tăng về số lượng của quân đội Pháp đã làm cho nó chở nên không thể thực hiện – và trong thực tế nó đã dẫn đến một thảm họa. Tuy nhiên nó vẫn vốn là một tập hợp các chiến thuật rất khôn ngoan được thiết kế để hóa giải và đánh bại vũ khí tối thượng của người Anh-lực lượng cung thủ trường cung của họ. Bên phía Pháp những người được đánh dấu (+) là những người đã tử trận, những người được đánh dấu (P) bị bắt tù binh.

Chi tiết Kế hoạch của người Pháp

Đây có vẻ là những gì tốt nhất mà Thống chế Boucicault (P) và các Lord đi cùng ông ta, nằm dưới sự chỉ huy của các Công tước Alencon (+) và Richemont (P) và Nguyên soái Lord d’Albretl (+) với sự hướng dẫn của các lãnh chúa đã nói ở trên để điều hành trận đánh.

Đội hình chiến đấu của người Pháp được hình thành bởi đặc trưng về ngôn ngữ ( các vùng miền Bắc và Nam nước Pháp cũng có những ngôn ngữ khá khác nhau chưa kể người Đức, người Burgundy… trong quân đội Pháp ), và tuổi tác, nó đơn giản nhưng hiệu quả trong việc thi hành mệnh lệnh, làm cho chúng ta hiểu được kế hoạch của người Pháp bao gồm những ai, ở đâu và như thế nào. Những sự xắp xếp này có mục đích để áp chế lối triển khai điển hình của người Anh và đánh bại họ bằng mọi sức mạnh của mình. Những kị sỹ cưỡi ngựa hình thành thêm một đội quân nữa và họ được sử dụng để đánh tan và loại bỏ loại vũ khí đáng sợ nhất của đối phương-các cung thủ trường cung Anh. Việc sử dụng các thị đồng-người hầu là rất sáng tạo, nó cho thấy Boucicault và d’Albret đang cố gắng để sử dụng tối đa lực lượng khá nhỏ của họ bằng cách triển khai cả những người thường không tham gia vào trận chiến. không phải họ vô dụng về mặt quân sự, mà họ không thể có khả năng như những sergeant ( lúc này không biết có ý là gì ) hoặccoustilliers ( những người sử dụng thanh trường kiếm của họ với kỹ năng tương đương các Hiệp sỹ ), họ có thể cưỡi ngựa và sử dụng thanh kiếm có hiệu quả.

Trong khi chiến đấu với các cung thủ vốn được trang bị hạng nhẹ, hoặc tấn công bất ngờ vào phía sau lưng đối phương, họ thiếu áo giáp nhưng điều này có thể được cho là không quan trọng.Những điểm chính trong kế hoạch của quân Pháp: (1) loại bỏ lực lượng cung thủ trường cung Anh bằng một lực lượng dưới sự chỉ huy của Vị chỉ huy quân bắn nỏ xuất hiện từ phía sau đội hình của người Pháp, đội quân này phải tiến thật nhanh và lao vào cánh phải của đối phương, (2) đồng thời gây ra những hỗn loạn bởi một cuộc tấn công vào phía sau, (3) phối hợp giữa cuộc tấn công của kỵ binh với những đợt tiến quân của bộ binh-những kị sỹ đã xuống ngựa chiến đấu ở cánh trung tâm và các thường binh ở bên sườn, những người sẽ đáp trả những loạt tên của trường cung Anh bằng những phát nỏ của riêng mình, tấn công vào quân Anh mà không phải chịu những thương vong nặng nề từ quân cung thủ Anh và qua đó giành chiến thắng trong ngày. Như chúng ta sẽ thấy, cách sắp xếp quân đội và chiến thuật của người Pháp tại Agincourt là cố gắng chỉ để áp dụng những biện pháp tiếp cận như vậy. trước khi quan sát những bước di chuyển tiếp theo của họ thì ta hãy quay lại và quan sát đội hình của quân Anh tại Agincourt.

Đội hình chiến đấu của quân Anh

Rất đáng ngạc nhiên khi cho rằng có điều gì mới trong đội hình chiến đấu của quân Anh. Trong rất nhiều năm người ta đã chấp nhận rằng Henry cho xen kẽ một dòng các kị sỹ xuống ngựa và xen vào với các cung thủ. Theo Trung tá Alfred Burne-một nhà nghiên cứu trong và sau thời gian Chiến tranh thế giới thứ hai, đây là việc tạo nên đội hình của người Anh ở Crecy và nó cũng là cách lập đội hình của họ trong suốt Chiến tranh Trăm năm. Đây là cách mà ông ta giải thích ý nghĩa của từ “herce”, được sử dụng bởi nhà sử gia Froissart để mô tả cách triển khai các cung thủ trong trận chiến. Burne nói rằng nó có nghĩa là ” cái bừa”, một dụng cụ được sử dụng trong nông nghiệp với tác dụng để cầy ải mặt đất trước khi gieo. Vì vậy, ông cho rằng cách tạo đội hình “ herce” của các cung thủ có nghĩa là một hình thành hình tam giác, với một cái nêm nhô ra về mặt trước của trận chiến. Ông cũng đã đi xa hơn trong việc chia quân Anh thành ba đạo binh ( đó là đội hình thông thường bao gồm lực lượng tiền quân, lực lượng chính và lực lượng hậu đội ) và xen kẽ giữa ba đạo binh là là các tay cung thủ trường cung.

ung.

Đội hình chiến đấu của quân Anh trong trận Agincourt
Bên trái: Theo dự kiến củaAlfred Burne, các cung thủ đứng xen kẽ trong ba đạo quân chính.
Bên phải: Theo dự kiến của Jim Bradbury, các cung thủ đứng ở hai bên cánh của ba đạo quân chính

Thật không may, kế hoạch này hoàn toàn là sáng tạo của Burne. Cuốn sách “ Cung thủ thời Trung cổ” của Jim Bradbury gần đây đã nghiên cứu cẩn thận các bằng chứng và kết luận rằng các cung thủ không bao giờ đứng xen kẽ trong đội hình trận chiến chính. Trong thực tế, kiểu bố trí này (các cung thủ đứng xen kẽ trong đội hình trận chiến ) sẽ làm suy yếu một cách đáng kể đội hình chiến đấu của người Anh, qua đó các hiệp sĩ bọc thép có cơ hội để tấn công các cung thủ không được thiết giáp-đây là cách mà có thể người Pháp đã mong muốn để đánh tan lực lượng cung thủ một cách nhanh chóng. Thay vào đó, Bradbury cho rằng các cung thủ luôn được triển khai ở các bên cạnh sườn của các kị sỹ, mặc dù họ ( các tay cung ) thường có xu hướng tiến lên phía trước để bắn trực tiếp một cách tập trung vào lực lượng đối phương đang tiến lên.

Cung thủ và cọc nhọn, người Pháp vẫn chưa có chiến thuật hiệu quả để chiến thắng chiêu này của người Anh

Tình huống đã không hề dễ dàng như sự khẳng định của vị Giáo sỹ rằng các cung thủ đã đứng xen kẽ trong đội hình trận chiến của người Anh. Có hai vấn đề ở đây, một là chắc chắn là vị giáo sỹ này đã sai lầm. Ông này đã nấp ở toa hành lý trong suốt cuộc chiến, quãng một ngàn mét ở phía sau đội hình chính. Một phiên bản từ một người đã thực sự tham gia vào trận chiến mô tả các cung thủ được tập hợp ở các bên cánh. Vấn đề thứ hai là vị Giáo sỹ đã sử dụng từ “cuneus”, hoặc xen kẽ để mô tả việc tổ chức đội hình của người Anh và điều này dường như phù hợp với ý tưởng của Burne. Tuy nhiên thuật ngữ “ Cuneus” không chỉ có nghĩa là cái nêm ( ý nói đứng xen kẽ ) mà còn cs nghĩa là quân lính, đội quân, toán quân … trong ý nghĩa quân sự của nó. Vì vậy, quan điểm này có thể được xem như là một sự hiểu nhầm. Vậy thuật ngữ “ herce “ (Thuật ngữ này không thực sự được sử dụng bởi bất kỳ tác giả để mô tả các cung thủ tại Agincourt.) Bradbury đưa ra một dẫn xuất khác: nó cũng có thể có nghĩa như một chiếc “hàng rào” hoặc thậm chí giống như lông của một con nhím.

Điều này làm cho nó có cảm giác hoàn hảo, kể từ khi những chiếc cọc được vót nhọn của các cung thủ đã được cắm xuống đất và tạo ra một cái gì đó giống như một chiếc hàng rào chướng ngại vật. Tôi muốn đào sâu thêm nữa về khía cạnh này. Nếu chúng ta giữ lại ý nghĩa của từ “harrow-cày bừa” và thực sự nhìn vào dụng cu này, chúng ta có thể thấy rằng nó tạo thành một hệ thống kẻ ô. Nếu mô hình này được sử dụng để triển khai các cung thủ, mỗi người đứng sau một chiếc cọc nhọn ( dài 2m ) của anh ra, thì nó sẽ hình thành lên một thế trận phòng ngự tuyệt vời. Rất rất nhiều nhà sử học đã giả định rằng các cây gỗ vót nhọn đầu đã được lập lên thành những hàng rào cọc nhọn, nhưng như John Keegan đã chỉ ra trong quấn “ The Face of Battle”, thì đây là một rào cản-chướng ngại vật quá thiếu linh hoạt. Tốt hơn chúng ta nên hình dung một bàn cờ rộng, có rất nhiều lớp theo chiều sâu, cho phép mỗi tay cung thủ có thể quan sát và bắn qua đầu của những người ở phía trước. Đội hình này không những tạo nên những chướng ngại vật mà kị binh không thể xuyên thủng, mà còn mà còn cho phép các cung thủ di chuyển một cách linh hoạt trong khu vực có cắm cọc gỗ nhọn. Đây là những gì mà vị Giáo sỹ có đề cập tới.Theo thông tin được tiết lộ bởi một số tù nhân, có một tin đồn luẩn quất xung quanh quân đội Anh rằng chỉ huy của phía đối phương đã phân công nhiệm vụ một cách rõ ràng cho hàng trăm hiệp sĩ thiết giáp thật nặng và cưỡi ngựa, để phá vỡ đội hình và sự kháng cự của các cung thủ của chúng ta khi trận chiến bắt đầu.

Do đó nhà vua đã ra lệnh cho tất cả những tay cung trong quân Anh phải chuẩn bị cho mình mỗi người một chiếc cọc nhọn; có thể là cọc hình vuông hoặc tròn, nhưng phải có độ dài chừng 6 foot, đủ cứng để chịu lực và được gọt nhọn ở cả hai đầu. Và ông đã ra lện rằng bất cứ khi nào trong trận chiến, quân Pháp tiếp cận để phá vỡ hàng ngũ của họ bằng lực lượng chính gồm các kị sỹ, tất cả các cung thủ phải hướng những chiếc cọc nhọn của họ về phía trước mặt theo đội hình một hàng dọc và một số người trong số họ đứng ở phía sau và ở giữa các vị trí của hàng phía trước, đến tận người đứng cuối hàng đứng điều khiển trên mặt đất, trong khi những người khác hướng những chiếc cọc nhọn về phía đối phương ở tầm cao trên eo lưng. Vì vậy, rằng các kỵ binh trong khi tấn công sẽ lao tới gần và khi nhìn thấy các cọc nhọn thì họ sẽ hoặc là phải hoảng sợ mà rút lui hoặc thiếu thận trọng trong việc bảo đảm an toàn cho cả người và ngựa của chính mình khi tiếp tục lao vào những cọc gỗ nhọn.

Tầm quan trọng về việc nắm được thông tin về ý định của đối phương đã ảnh hưởng vào cách xắp xếp đội hình này. Người Pháp đã không biết một chút gì về kế hoạch của Henry kể từ khi ông vượt sông Somme một cách an toàn, nhưng ông nàylại có thông tin về ​​chiến thuật dự định của họ. Theo những gì thu thập được mà người Anh đã chuẩn bị một ưu thế trong phòng ngự, mặc dù có thể là không có vẻ như vậy vào buổi sáng của Ngày củaThánhCrispin trong năm 1415. St Remy nói rằng rất nhiều người có khả năng có đủ thông tin trong quân đội Pháp lại khôngtin rằng lại có thể xảy rabất cứ trận chiến trong ngày hôm đó. Bởi vì rõ ràng là họ đang nắm lợi thế với một số lượng người tham chiến với tỷ lệ 4-1 so với người Anh và không có một cơ hội nào cho Henry để có thể thoát khỏi chỗ này, và có vẻ như một cuộc đàm phán đầu hàng nhục nhã đã được áp đặt vào ông ta.

Các cuộc đàm phán và Quyết định bắt đầu Trận chiến

Các cuộc đàm phán chỉ diễn ra sau khi các lực lượng đối nghịch đã dàn trận xong xuôi cho trận chiến. Một số nguồn tài liệu cho rằng có những liên hệ tiếp xúc đã được tiến hành từ đêm hôm trước, kể từ lúc Henry đã cảm thấy lo lắng và muốn tránh một trận chiến với một tỷ lệ quân số trênh lệch như vậy. St Remy cho rằng người Pháp muốn Henry từ bỏ yêu cầu của mình tới vương miện của nước Pháp, cùng với thành phố cảng Harfleur vốn vừa mới bị chiếm bởi ông ta, trong khi cho phép ông ta vẫn tiếp tục giữ lại vùng Guienne. Đáp lại, Henry đòi quyền nắm giữ vùng Guienne, 5 thành phố trực thuộc nó, quận hạt Ponthieu và kết hôn với Katherine-con gái của vua Charles, với một món của hồi môn lên tới 300.000 đồng curon, để đổi lại ông cũng chuẩn bị từ bỏ yêu cầu về ngai vàng và thành phố Harfleur. Bởi vì những tuyên truyền và những nỗ lực của Henry kể từ khi ông mới lên ngôi là để hướng vào thực thi yêu cầu của ông về vương miện Pháp, mặc dù của phần còn lại trong những yêu cầu của ông có vẻ như rất táo bạo, nó cũng còn cho thấy một sự xuống thang.

Bất chấp việc các cuộc đàm phán đã được tiến hành một cách nghiêm tục nhưng vẫn còn một số điểm đáng nghi ngờ trong đó. Trong khi St Remy cho thấy rằng rất nhiều người trong doanh trại của quân Pháp nghĩ rằng một cuộc chiến là điều không cần thiết, thì Monstrelet-người đã thực sự ở trong đó lại nói rằng những viên chỉ huy khôn ngoan lại thấy rằng điều này hoàn toàn có khả năng xảy ra.Cả hai bên đã dàn đội hình trận chiến đấu vào khoảng 08:00. Trong thời gian trì hoãn, người Pháp ngồi xung quanh các lá cờ của họ, ăn sáng, cười nói và tha thứ cho nhau về những cãi vã của họ trước đó.

Người Anh cũng tranh thủ cơ hội để ăn bất cứ thứ gì còn sót lại trong khẩu phần ít ỏi có sẵn của họ. Sau hai giờ hoặc nhiều hơn nữa. Người Pháp đã không di chuyển, và tin tưởng một cách đúng đắn rằng Henry phải đẩy lùi được họ để tiến tới được Calais và do đó ông ta sẽ rơi vào tay của họ. Nhà vua Anh yêu có các tư vấn từ các lãnh chúa có kinh nghiệm nhất của ông. Tất cả đồng ý rằng không thể đạt được bất cứ một điều gì bằng cách chờ đợi. Quân Anh đang bị suy yếu do bệnh tật và đói khát và không giống như quân Pháp vốn đang ở trên lãnh thổ thân thiện, người Anh không có cơ hội để đi thu thập lương thảo. Lựa chọn duy nhất là tấn công, chấp bất kỳ mọi rủi ro.

Sau đó, Henry đã ra lệnh cho lực lượng nhỏ bé của mình tiến lên để chống lại một đội quân rất lớn đối đang đối diện với họ.Henry đã cực kỳ quan tâm trong việc giữ các kị sỹ và cung thủ của mình theo đúng đội hình và họ tiến lên một cách từ từ để không bị kiệt sức khi phải di chuyển trên mặt đất lầy lội và ướt sũng. Khi họ đã vào đến tầm bắn nỏ của đối phương, có lẽ là khoảng một furlong (220 yard, 200 mét), người Anh chiếm vị trí của họ.


Bản đồ cho thấy quân Anh tiến lên khoảng 1.000 mét để nghênh chiến với quân Pháp.

Quân Anh triển khai

Henry V và quân Anh trước trận Agincourt

Chúng tôi đã xem xét việc triển khai đội hình của quân Anh ở một số chi tiết. Đứng ở cánh trung tâm là 900 kị sỹ ở xung quanh các lá cờ của nhà vua và các nhà đại quý tộc. Henry cho phất lên lá cờ Trinity của St George, St Edward và gia huy của chính mình. Các Công tước Gloucester, Công tước xứ York, Bá tước của March, Bá tước của Huntingdon, Bá tước của Oxford, Bá tước của Kent và các Lord của Roos và xứ Cornwall (Những hiệp sĩ chỉ huy giàu kinh nghiệm thuộc đạo quân tiên phong ) cũng dương cao những lá cờ của họ cùng với nhiều vị lãnh chúa khác. Nhà vua Anh cưỡi một con ngựa nhỏ màu xám (kích thước của nó đã cho thấy nó không phải là một con ngựa chiến) và cũng không đeo cựa. Điều này cho thấy rằng ông sẽ xuống ngựa và chiến đấu trên bộ cùng với người của mình. Đầu tiên, ông cưỡi ngựa dọc theo hàng quân để làm một bài diễn văn cổ vũ tinh thần chiến đấu dũng cảm của binh lính; ông nói rằng ông tiến vào Pháp để khôi phục quyền thừa kế hợp pháp của mình và rằng ông đã có một điều mong muốn và đó chính là yêu cầu về ngai vàng nước Pháp và chắc chắn là ông sẽ chiến đấu về điều này và rằng họ nên nhớ họ được sinh ra ở vương quốc Anh, nơi mà lúc này vợ con, cha mẹ của họ đang cư ngụ và do đó họ phải phấn đấu để trở về đó với vinh quang và danh tiếng; rằng các vua của nước Anh-những người tiền nhiệm của ông, đã có được nhiều trận thắng thành công và vang dội trước người Pháp, và rằng vào ngày đó tất cả mọi người cần nỗ lực để bảo vệ cuộc sống của chính mình và danh dự cũng như vương miện của Nhà vua Anh. Hơn nữa ông ta cũng nhắc lại rằng người Pháp đã khoe khoang rằng họ sẽ chặt đứt ba ngón tay từ bàn tay phải của mỗi cung thủ Anh mà họ bắt làm tù binh để những người này không bao giờ có thể nhắm bắn vào người và ngựa của người Pháp được nữa (St Remy).

Các cung thủ được triển khai trên phần sườn của toán quân trung tâm nhỏ bé. Người ta không rõ có phải rằng là họ cắm những chiếc cọc của họ vào lúc bắt đầu của ngày hôm đs. Quyết định tiến lên, Henry cho di chuyển lực lượng của mình hàng trăm yard về phía trước và quân Anh ở các bên sườn có thể nghỉ ngơi ở khoảng giữa khu rừng Agincourt và Tramecourt.

Ở vị trí mới một số cung thủ thấy họ được che khuất từ phía vùng ngoại vi của rừng và điều này đã tạo ra một sự bảo vệ rất tốt. Đây có thể là nguồn gốc của một tuyên bố rằng Henry đã gửi một đội quân tấn công bên sườn đặc biệt gồm 200 cung thủ đến Tramecourt nhằm mục đích khởi động một cuộc phục kích vào quân Pháp. Monstrelet nói rằng họ vượt qua một cánh đồng gần ở gần đó, nơi mà toán tiền quân Pháp đóng quân và ở lại đó mà không bị phát hiện cho cho đến khi họ bắt đầu hành động. Nó cho chúng ta biết rất nhiều về tinh thần của thời kỳ mà St Remy mạnh mẽ bác bỏ “ lời cáo buộc tội” này, khi ông nhìn đọc nó và nói rằng “ những người được vinh danh vào ngày hôm đó là những người trong Đại đội của nhà Vua của nước Anh và tôi đảm bảo rằng tài liệu này là không đúng sự thật “ bởi những người Pháp có tham dự trận chiến nhưng không phải ở chính xác chỗ đó.

Có vẻ như khả năng lực lượng này ( 200 cung thủ Ang ) đã cơ động cùng với các kị sỹ Anh-những người đã cho các cung thủ Anh ngồi sau lưng mình.Thế còn người Pháp, những người vẫn chờ đợi người Anh tiến lên một cách thụ động thì chuyện gì đã xảy đến với họ.Quân Pháp triển khai Người Pháp triển khai đội hình chiến đấu theo kiểu truyền thống gồm 3 đạo quân: tiền quân, trung quân và hậu quân. Sự trật hẹp về mặt không gian đã làm cho chắc chắn rằngđạo quân này ở ngay phía sau đạo quân kia, mặc dù điều này có thể cũng là ý định của các chỉ huy Pháp. Những tài liệu đương đại đánh giá số lượng quân người Pháp từ 30.000 đến 150.000 người. Người ta chỉ chắc chắn một điều ra lực lượng này rất lớn. Những sử gia-những người có mặt tại trận chiến nói rằng quân Pháp đông gấp từ 3-6 lần so với quân Anh. Thường thì cũng khá là không chính xác về mặt số lượng nếu lấy theo các tính toán của các nhà văn từ thời trung cổ, nhưng một số lượng 20-30,000 binh lính là điều không có gì là không hợp lý cả.

Có rất nhiều lãnh chúa đã tham dự trận đánh, và mỗi người lại có một đoàn tùy tùng rất đông đảo, nên ước tính của Burne là quân Pháp có khoảng 25.000 cũng là điều hoàn toàn hợp lý.Monstrelet, người đã chiến đấu trong trận chiến, đã cung cấp những tài liệu tiết nhất. Ông nói rằng đạo quân đầu tiên có 8.000 “ bascinets” (có nghĩa là 8 nghìn kị sỹ), 4.000 cung thủ và 1.500 tay nỏ. Đạo quân này được chỉ huy bởi vị Nguyên Soái Pháp-người được tháp tùng bởi các Công tước Orleans và Bourbon, các Bá tước của Eu và Richemont, Thống chế Boucicault, Lord của Dampierre-Đô đốc của Pháp và Guichard Dauphin. David de Rambures-chỉ huy lực lượng bắn nỏ cũng ở trong đội tiên phong, mặc dù theo kế hoạch ban đầu ông được giao chỉ huy lực lượng tấn công bên cánh. Lực lượng kị binh của ông lúc này được trao cho Bá tước của Vendome-người được giao 1.600 để tấn công vào cánh trái. Bên cánh phải Clignet de Brebant được giao nhiệm vụ với 800 kị sỹ và tất cả các tay giáo. Các chỉ huy khác của Pháp, những người có tầm quan trọng đặc trưng trong trận đánh này là anh em nhà Saveuse, William ( những người mà chúng ta sẽ nghe đến sau này), Hector và Philip, Ferry de Mailly, Aliaume de Gapaines, Allain de Vendonnc, Lanion de Launay và những người khác. Các lực lượng kị binh tấn công bên sườn dường như được triển khai ngang hoặc hơi tiến lên phía trước so với đạo quân đầu tiên.

Đứng đằng sau đạo quân này là đạo quân thứ hai, nó có kích thước tương tự hoặc hơi nhỏ hơn, bao gồm 3-6,000 kị sỹ và “Gros valets” ( những người hầu có vũ trang ) nằm dưới sự chỉ huy của các Công tước của Bar và Alencon, các Bá tước Nevers, de Vaudentont, de Blauniont, de Salines, de Grand-pré và de Roussy. Một số tài liệu có ghi rằng quân bắn nỏ của Pháp cũng được triển khai trong đạo quân thứ 2. Một số nhà sử gia cho rằng họ bị đẩy bừa ra khỏi vị trí thích hợp của họ bởi những người có đẳng cấp xã hội cao hơn-các quý tộc và hiệp sĩ sẵn sàng cho những vinh quang từ những gì họ mong đợi như là một chiến thắng dễ dàng.

Chắc chắn các cung thủ và xạ thủ bắn nỏ người Pháp là những người có một vai trò quan trọng trong kế hoạch ban đầu-chống lại các cung thủ trường cung Anh-có vẻ như đã trở nên đóng một vai trò rất nhỏ hoặc thậm trí không được góp một phần nào vào trận đánh. Nhà viết học người Pháp-Des Ursins khẳng định rằng họ đã không bắn được một mũi tên hoặc một phát nỏ trong toàn bộ trận chiến.
Đạo quân thứ ba được tạo thành từ lực lượng kị binh cưỡi ngựa ( để phân biệt với những kị sỹ xuống ngựa chiến đấu ), được cho là có khoảng 8-10,000 chiến binh hùng mạnh nếu chúng tacó thể dựa vào các con số trước đó. Ngoài ra những người không tham gia chiến đấu phải có số lượng ít nhất là ngang bằng với các chiến binh. Tỷ lệ này thậm chí còn có thể có thể lên đến 2 : 1 (Để tạo một hình ảnh trực quan về sự khác biệt về số lượng giữa hai bên)

Giai đoạn 1: Quân Anh tiến lên và các kị sỹ Pháp tấn công

Sau thời gian chờ đợi, như chúng ta đã thấy, Henry quyết định tiến lên. Các đội quân tiến lên được khoảng 1.000 yard. Người Anh tiến lên từ từ, giữ các khoảng cách rất tốt, với rất nhiều đoạn dừng chân để lấy hơi thở. Mặt đất rất lầy lội bởi các cơn mưa mùa thu và được trồng cấy bởi lúa mì non, tạo ra những đám bùn trơn trượt ở dưới chân, chúng đặc biệt là tạo sự mệt mỏi cho những người phải mặc giáp trụ. Họ dường như đã di chuyển cách đối phương chỉ trong vòng 250-300 yard, một phạm vi cực kỳ hiệu quả cho mũi tên của các cây trường cung, nơi họ đã chiếm vị trí như đã được mô tả trước đó. Chắc chắn là các cung thủ đã mang theo những cây ghỗ vót nhọn đầu theo họ, như Waurin đã mô tả họ lập một hàng rào phía trước họ và dùng nó để tăng cường phòng thủ cho chính mình.Khi đã ở vị trí này các cung thủ bắt đầu nã tên vào kẻ thù. Hãy tưởng tượng trong một khoảng thời điểm bạn là một cung thủ trong quân Anh. Bạn đang bị đói khát, lạnh và ẩm ướt và bị tiêu chảy hoặc những bệnh dịch tệ hơn từ những ảnh hưởng của khẩu phần ăn uống của bạn như nước bẩn và các loại củ quả. Bạn sẽ rất muốn được chết trong một trận chiến sắp tới. Đối với những kị sỹ -những người sẽ có tiền để trả tiền chuộc và thường được giam cầm ở những nơi ấm cúng trong tay của người cùng đẳng cấp với họ, có những quan hệ về nơi sinh hoặc quen biết một cách cá nhân ( có thể ý nói các qúy tộc Anh có xuất xứ từ Pháp ). Là một người lính bộ binh nhỏ bé và bị khinh thường, tất cả mà bạn có thể mong đợi là bị tàn sát bởi những người được thiết giáp rất dày đến mức dường như bất khả xâm phạm, hoặc nếu bị bắt thì bạn sẽ bị chặt ngón tay và không bao giờ bạn có thể quay lại nghề cung thủ một lần nữa. Nhà vua đã vừa nhắc nhở bạn rằng bạn có thể sẽ bị mất đi ba ngón tay của bàn tay phải của bạn. Tuy nhiên sau bài phát biểu nồng nhiệt của ông ta, bạn sẽ được lên dây cót tinh thần vào lúc bạn đang tuyệt vọng nhất. Lúc đầu, dường như không thể tin rằng người Pháp có thể bị đánh bại. Sau đó, nhưng sau khi bạn tiến lên phía trước thì tình huống trở nên rõ ràng rằng họ ( quân Pháp) đã trở nên bất cẩn-thậm chí họ còn chẳng biết được họ đang làm gì!

1. Lính cung thủ cưỡi ngựa của Anh
2. Lính bắn nỏ của Pháp
3. Lính cung thủ của Anh có vác những cọc ghỗ nhọn đầu để chống lại kị binh Pháp

Dường như các cung thủ Anh đã khuấy động để đưa người Pháp vào hành động. Đầu tiên các tay nỏ của họ bắn ra một loạt các phát nỏ một cách vội vã, sau đó phải chạy lùi trở lại vì khiếp sợ các mũi tên của quân Anh. Sau đó là các kị binh ở hai cánh của họ đã tung ra một đòn tấn công trên mặt đất vốn cực kỳ lầy lội. Mọi thứ đã đi chệch hướng ngay từ giây phút ban đầu. Bắt đầu với: Tổ chức. Lực lượng kỵ binh bao gồm 1.600 và 800 kị sỹ mạnh mẽ ở hai bên sườn trái và phải tương ứng. Nhưng các nguồn tài liệu của Pháp lại than vãn rằng số kị binh này không bao giờ được thu thập. Một nguồn tài liệu ( Berry Herald) khẳng định rằng rất hiệp sĩ từ những toán quân này đã bỏ đi chỗ khác, ra khỏi vị trí của họ sau một thời gian chờ đợi quá dài. Monstrelet nói rằng cánh phải, dẫn đầu bởi William của Saveuse, chỉ tập hợp được có 150 kị sỹ. St Remy, ở phía bên kia, chỉ được giao 300 tay thương và Clignet de Brcbant chỉ có 160 kị sỹ. Rõ ràng các lực lượng tấn công bọc sườn của quân Pháp đã bị thiếu hụt về số lượng một cách nghiêm túc. Hơn nữa, họ có thể không thực sự được giao nhiệm vụ như là lực lượng tấn công bọc sườn.

Trong kế hoạch ban đầu các lực lượng này đã được lên kế hoạch để tấn công bọc sườn và vào phía sau của quân Anh. Tại Agincourt điều này được chứng minh là không thể, kể từ khi các cánh quân bên sườn của người Anh nghỉ ngơi, ẩn nấp trong cánh rừng. St Remy thực sự nói rằng các cuộc tấn công được thiết kế để tấn công vào khoảng giữa Agincourt và Tramecourt, mặc dù việc này có hàm ý một cuộc tấn công bên sườn có chủ ý là rất khó để nói ra. Chắc chắn là có một cuộc tấn công vào doanh trại quân Anh, như chúng ta sẽ thấy sau này, mặc dù các nguồn tài liệu cũng không rõ ràng rằng liệu cuộc tấn công này được dự định để phối hợp hành động với những cuộc tấn công từ bên cánh.

Trong trường hợp, hai cuộc tấn công này không gây đủ sức ép mãnh liệt. Người ta nghi ngờ liệu Kỵ binh Pháp có thể tăng được tốc độ lên nhiều hơn qua những thửa ruộng mới được cày cấy gần đó với lượng nước mưa thấm xuống đất. St Remy đã thu thập được rằng mặt đất đã trơn trượt như thế nào-có thể ông đã thu thập được từ các ghi chép của cuộc tấn công của William Saseuse. Ông được mô tả như một hiệp sĩ dũng cảm, người khuyến khích người của mình phi ngựa lao thẳng về phía những cọc nhọn của các cung thủ. Mặt đất rất mềm làm cho những chiếc cọc ghỗ đổ xuống, cho phép lực lượng tấn công có thể rút lui với sự mất mát chỉ với ba kị sỹ. Nhưng rõ ràng không phải tất cả các cọc ghỗ đã đổ xuống hoặc người Pháp đã phá vỡ xuyên qua các cung thủ. Các cọc ghỗ được dựng làm hàng rào phòng thủ đã được mô tả là vô hiệu hóa sức tấn công của một cuộc tấn công cực kỳ nặng nhọc. Thực hiện xong nhiệm vụ của họ, các kỵ binh chuồn đi. Vậy còn ba người đã bị giết chết thì sao? Họ đã chia sẻ số phận với vị chỉ huy của họ, William de Saveuse-con ngựa của ông đã lao vào một chiếc cọc nhọn được nắm giữ một cách chắc chắn. Kết quả là ông này đã văng qua đầu con ngựa của mình rồi nằm choáng váng và bất lực ở dưới chân của các cung thủ người Anh-những người mà ông đã được tung ra để tấn công. Việc mất đi viên chỉ huy dũng cảm của họ đã làm xao động trái tim của người Pháp. Các cung thủ trường cung Anh bắt đầu bắn vào kẻ thù lúc này đang rút lui của họ và làm cho những con ngựa bị phát điên bởi những vết thương từ các mũi tên. Những hành động tương tự cũng đã xảy ra ở phía bên kia của chiến trường.

Những người kị sỹ bị hoảng loạn và những con ngựa không thể kiểm soát nổi của họ lúc này đã chạy đi đâu? Trên một chiến trường mở họ có thể chạy xung quanh hai bên sườn của các lực lượng của chính họ. Một số trong thực tế đã có thể hướng vào các khu rừng ở hai bên của chiến trường. Phần còn lại tự xô đẩy họ một cách dữ dội vào đạo quân đầu tiên của người Pháp lúc này đang. Một sử gia khác – Richemont Herald, người phục vụ cho Công tước Richeont-một người có tham gia vào trận chiến, đã đổ lỗi cho sự thất bại của toàn bộ trận chiến là do lực lượng kỵ binh bị đánh bại này gây ra. Đó là bởi vì họ đã có một linh cảm về sự hèn nhát của những người ở xứ Lombard và Gascons, ông quả quyết rằng họ đã làm như vậy. Định kiến của sử gia này ​​là không chính đáng, nhưng phân tích của ông là chính xác và được chia sẻ bởi tất cả các nhà văn khác đã từng có mặt, hoặc chỉ nghe báo cáo về trận chiến. Khi bị đánh bại các kỵ binh lao trở lại, họ xông vào đội hình của quân Pháp và làm cho nó gần như hoàn toàn rơi vào tình trạng xáo trộn. Bức hình của John Keegan về một cuộc hoảng loạn của các chú ngựa của cảnh sát trong đám đông, đã tạo ra một loại hiệu lực gợn sóng ( đominô? ), như những người này lại bị đánh ngã bởi một số người khác. Sự gián đoạn này bị lặp đi lặp lại hàng trăm lần và lại bị phóng đại bởi sự lặp lại của nó. ( quân Pháp quá đông và địa hình lại quá trật hẹp)

Giai đoạn 2: Đội hình chính của quân Pháp tấn công và Cuộc loạn đả ( Melée )

Lúc này thay vì là một lực lượng mạnh mẽ, đầy ghê gớm và hoàn toàn lấn át, đội quân tiên phong của người Pháp lại bị nát nhừ, cực kì dễ bị tổn thương và bị va đập đến choáng váng. Vị giáo sỹ của quân Anh tuyên bố rằng họ đã có thể tổ chức lại đủ để tạo cho chính họ thành ba đội quân mà họ đã tấn công . Đó là để nói, ba vị trí của người Anh, nơi mà các chỉ huy của ba đạo quân: tiền quân, trung tâm và hậu quân đang đứng. Điều này là hoàn toàn có thể và Keegan dự đoán rằng các cung thủ đang chuyển làn tên vào các hiệp sĩ bọc thép của Pháp đang tiến lên để đối đầu với các kị sỹ của họ. Giả định rằng quân Anh đứng thành ba bộ phận riêng biệt, mỗi bên cạnh sườn được yểm trợ bởi các cung thủ đã không còn đứng vững được nữa. Có lẽ tốt hơn là hãy lắng nghe người đương thời-những người nói với cho chúng ta biết rằng người Pháp đã rơi hoàn toàn vào tình trạng lộn xộn sau khi bị va đập bởi những kỵ binh bị đánh bại. Mặc dù vậy họ vẫn phải tiến lên.

Danh dự buộc họ phải đọ kiếm với những kị sỹ đối thủ của họ. Trong thực tế, họ mang những cây thương bị cắt ngắn đi khoảng từ 5 -> 6 feet để làm cho họ ít bị va quệt vào nhau hơn và dễ quản lý hơn khi chiến đấu trên bộ. Nhưng họ đã gần kiệt sức. Các mặt đất nơi họ đi qua, không giống như nơi quân Anh đã vượt qua trước đó trong ngày, đó là một bãi lầy. Nó bị làm cho nghiêm trọng hơn bởi những con ngựa của kị binh của họ vốn được cưỡi bởi các kiếm đồng và những người hầu trong suốt đêm lạnh, nó đã bị khuấy sâu thêm bởi các đợt tấn công và rút lui của kỵ binh, và lúc này thì hàng ngàn người đàn ông trong những bộ thiết giáp nặng nề và tiến trong có lẽ từ 8 -> 10 hàng theo chiều sâu và cày ải nó thành khủng khiếp hơn nữa.

Những cơn mưa tên đã buộc tất cả mọi người phải cúi đầu của mình xuống vì sợ rằng một mũi têm có thể bắn trúng mắt sau khi xuyên qua tấm giáp che mặt trên chiếc mũ sắt của mình. Hơn nữa người Anh lại đứng với mặt trời mùa đông đã xuống thấp phía sau họ – một yếu tố nữa làm người Pháp thêm phần hoang mang và mất phương hướng. Trong một phạm vi ngắn, không nghi ngờ gì rằng những mũi tên kiểu bodkin của người Anh, vốn được thiết kế để sử dụng trong việc này, đã bắt đầu xuyên qua ngay cả nững tấm áo giáp phiến bảo vệ. Khi người Pháp đến được vị trí của quân Anh, sau ba trăm yard như những người mù, với những cơ chân bị trật khớp vì đi bộ, có thể họ đã không còn sức lực để chiến đấu. Có lẽ họ đã đẩy người Anh lùi lại một vài yard, nhưng nhiều người Pháp đã hoàn toàn kiệt sức. Và họ đã rất đông đến mức rằng ngay cả khi họ còn có đủ sức mạnh để nâng vũ khí của mình lên thì họ cũng không có khoảng không gian để vung chúng lên và ra đòn đánh.

Tuy nhiên trận chiến vẫn tiếp tục diễn ra ở cường độ cao. Người Anh cũng đã bắt đầu bị thương vong, đáng chú ý nhất là Công tước xứ York. Ông ta có lẽ không phải bị chết ngạt dưới một núi các xác chết như vẫn thường được tuyên bố, mà là những cú đánh đã làm vỡ mũ sắt dẫn đến việc là hộp sọ của ông này bị vỡ. Số phận tương tự xảy cũng gần như là xảy đến với nhà vua Anh. Tất cả mười tám người được cho là những hộ sỹ đều thề rằng Henry đã ngã gục và thiệt mạng, nhưng ai đó (Có lẽ một trong số họ hoặc có thể là Công tước Alencon) đã đánh trúng ông ta một đòn vào chiếc mũ sắt và trúng ngay vào chiếc vương miện bằng vàng trên đầu và cho các họa tiết trên đó phải chịu nhiều sứt mẻ.

Chắc chắn là Henry đã chiến đấu ở chỗ dày đặc nhất. Ông ta đứng ở bên cạnh bá tước Oxford-lúc này đang bị thương năng và ngăn cản không để ông bị giết bởi người Pháp. Cuộc chiến giữa những kị sỹ dường như là một trận cận chiến. Đáng ngạc nhiên, có lẽ sự can thiệp hiệu quả nhất có ảnh hưởng quyết định đến kết quả của cuộc giao tranh dường như lại được tiến hành bởi các cung thủ được trang bị nhẹ. Tất cả các tài tài liệu đều mô tả rẵng họ đã ném những cây cung của mình đi và tham gia vào cuộc chiến đấu tay đội. Họ được trang bị bằng những thanh kiếm, bao gồm cả gươm lưỡi cong, rìu chiến và những chiếc vồ nặng nề (vốn được sử dụng để đóng những chiếc cọc nhọn xuống đất lúc này lại được dùng để đánh ngã đối phương). Họ rất nhanh nhẹn và dễ dàng di chuyển trên mặt đất lầy lội, làm cho họ trở nên có một trận đánh dễ dàng với những vị hiệp sỹ đang kiệt sức và đang hết sức kinh ngạc-những người trái ngược với họ-vốn hay xem thường những tay cung thủ vốn được sinh ra ở đẳng cấp thấp nhưng lúc này lại trở thành con mồi dễ dàng cho bọn họ.Vì vậy, dường như điều không thể ra đã xảy ra. Một đội quân Anh nhỏ bé bắt đầu đẩy lùi người Pháp ở phía trước của nó, giết chết, đánh gục xuống và bắt tù binh tất cả những ai đối mặt với họ. Một số quấn biên niên sử nói rằng những đống xác chết cao ngang chiều cao của một người đàn ông.

Trong khi thực tế thì không có gì phải nghi ngờ, có rất nhiều thân thể nằm rải rác xung quanh, một số người đã chết và một số khác thì bất tỉnh, một số nữa chỉ đơn thuần là bị mắc kẹt và trở nên bất động về mặt vật lý, nhưng người ta bắt đầu có cảm giác về một vụ thảm sát.. Lúc này thì đạo quân đầu tiên của Pháp đã bị buộc phải quay trở lại và lẫn lộn vào đạo quân thứ hai. Nhưng điều này dường như cũng không có tác dụng củng cố đội hình của người Pháp. Nó cũng chỉ đơn thuần là tạo ra một kết quả y như lần trước. Tất cả các kị sỹ của quân Pháp bao gồm cả những người có đẳng cấp cao nhất trong bọn họ đã không còn muốn tiếp tục chiến đấu. Đấy là do sức nóng-một điều rủi ro trong trận chiến. Quá nhiều người Pháp dường như luôn nghĩ một trận cận chiến như là một cuộc cưỡi ngựa đấu thương giữa các quý tộc, mà họ có thể trao chiếc găng tay của mình cho một người khác như một biểu tượng của sự đầu hàng khi một cuộc đấu đã có kết quả rõ ràng để bảo tồn danh dự của cả hai bên. Công tước xứ Alencon ( con của ông ta-John of Alencon, lại tiếp tục tham gia chiến đấu với người Anh và sau đó đã trở thành một chiến hữu thân cận của Jan d’ Arc ) đã bị mất đi cuộc sống của mình theo cách này và không nghi ngờ gì nữa rất nhiều người khác cũng vậy. Sau trận chiến tay đôi với Henry và thấy mình trở nên cạn kiệt hết sức lực, ông ta (Công tước xứ Alencon ) đã cố gắng để tìm cách hạ vũ khí và đầu hàng. Nhưng sau khi làm như vậy, ông đã bị đánh đập đến chết bởi một binh sỹ người Anh, người đã bị phát điên.Đạo quân thứ ba của người Pháp, hoàn toàn trở nên kinh hoàng vì thất bại của hai đạo quân đầu tiên và thứ hai, đã không thể di chuyển. Thực sự thì một số kị sỹ đã nhảy lên ngựa và bỏ chạy. Một sốnhững kị sỹ may mắn trong đạo quân đầu tiên và thứ hai cũng đã nhảy lên những con ngựa của họvới sự giúp đỡ của các thuộc hạ và trốn thoát. Nhưng tất cả các chỉ huy chiến trường của người Pháp đã đều hoặc bị giết hoặc bị rơi vào tay ngườiAnh.Cả hai người lập kế hoạch chiến đấu của quân Pháp, vị Thống chế và viên Nguyên Soái: d’Albretđã bị giết và Boucicault đã bị bắt. Chúng tôi đã thấy rất nhiều những cái tên trong kế hoạch chiến đấu hoặc đã bị giết hoặc bị bắt nếu không thì cũng phải chịu những số phận nghiệt ngã khác. Vớiviệc tất cả các vịchỉ huy của nó đều bị vô hiệu hóa, lực lượng còn lại của quân đội Pháp, mặc dù vẫn còn rất hùng hậu đã trở nên khá là bất lực.

Giai đoạn 3: Thảm sát tù binh

Trận chiến chính diễn ra rất ngắn. Nó có thể chỉ diễn ra trong nửa giờ, mặc dù theo một số tài liệu là từ hai đến ba giờ ( có lẽ bao gồm cả một số những bước tiến quân ban đầu ). Tại đầu buổi chiều ngày hôm đó-một ngày ngắn ngủi của cuối tháng Mười. Người Anh đang đi tìm kiếm để thu thập các tù nhân của họ và tính toán về các khoản tiền chuộc béo bở mà họ sẽ kiếm được cũng như chăm sóc vết thương cho thương binh của họ và hô hấp cho những người không thể thở. Chiến thắng đã là điều quá rõ ràng, người Pháp đã hoàn toàn bị đánh bại và bỏ chạy. Nhưng một điều gì đó đã xảy ra với Henry và đây chính là nguyên nhân để ông này ra một mệnh lệnh vi phạm đến các điều ước của chiến tranh thời Trung cổ: đó là hạ sát phần lớn những người đã bị bắt làm tù nhân. Trong thực tế, có hai điều xảy ra.


Tranh vẽ sau khi trận Agincourt kết thúc

Đầu tiên là một người tới chỗ Henry và báo cáo rằng doanh trại của ông đã bị tấn công. Chính xác khi nào cuộc tập kích này được thực hiện là điều hoàn toàn không rõ ràng. Câu chuyện thông thường được chấp nhận bởi các nhà sử học là sau trận đánh thì vị lãnh chúa ở địa phương –Isembart d’Agincourt, được trợ giúp bởi Rohinet de Bournonville, Riflart de Clamasse và một số kị sỹ khác, đã dẫn đầu 600 nông dân tình nguyện của họ và phát động một cuộc đột kích vào trong doanh trại của quân Anh. Chắc chắn một vài đồ quý giá như một chiếc vương miện, một số bạc và một thanh kiếm báu đã bị cướp phá từ doanh trại quân Anh. Sau đó, một điều kiện để chuộc Ralph de Gaucourt là ông này phải tìm lại những đồ quý giá này. Ông ta (Ralph de Gaucourt ) đã thành công trong việc tìm lại một phần những đồ đã bị cướp phá. Câu chuyện này sau đó còn kể rằng d’Agincourt và Bournonville đã bị bỏ tù bởi Công tước xứ Burgundy ( thực chất ông này là đồng minh của người Anh) vì hành động đáng hổ thẹn này của họ, mặc dù họ đã dùng thanh kiếm báu để làm quà tặng cho con trai ông ta. Nhưng tất cả những sự kiện này có thể không nhiều hơn là một sự biện minh để đổ lỗi cho ai đó sau khi bi kịch đã xảy ra.

Hành động thứ hai thúc đẩy vụ thảm sát là cố gắng phản công bởi một phần còn lại củađạo quân thứ ba. Giữa sự hỗn loạn, một số các lãnh chúa như Bá tước của Marle và Fauquembergh và các Lord của Louvroy và Chin, đã cố gắng tập hợp 600 kị sỹ. Với lực lượng này, họ đã tung ra một đòn tấn công bằng kị binh, mà theo Monstrelet, nó kết thúc trong thảm hoạn cũng như tất cả những đợt tấn công khác. Theo vị Giáo sỹ của quân đội Anh thì có vẻ như đây là thời điểm mà Ilenry đã ra lệnh giết chết gần như tất cả các tù nhân. Theo Monstrelet thì như chúng ta đã thấy, nguyên nhân là một cuộc tấn công bột phát vào đám hậu quân. Cả hai hành động trên đều được sử dụng để đổ lỗi cho việc tham dự vào cuộc tàn sát sau đó. Cả hai đều được cho rằng có thể thay đổi kết quả của trận chiến và được ghi nhận một cách không nghi ngờ là những cuộc đột kích đầy sáng tạo.

Mặc dù đã chiến thắng, nhưng người Anh vẫn rất dễ bị tổn thương. Họ không có phương tiện để bảo đảm cho tất cả các tù nhân hoặc chấp nhận sự đầu hàng của tất cả bọn họ. Vẫn còn quá nhiều binh sỹ Pháp được trang bị thiết giáp hạng nặng đủ để áp đảo người Anh nếu họ phục hồi lại được tinh thần. Vì vậy, Henry đã ra lệnh hạ sát các tù nhân. Chỉ những tù nhân nổi bật nhất mới được giữ lại tính mạng, như các Công tước d’Orleans vàBourbon. Nhưng như chúng ta đã thấy, những người vốn sinh ra đã cao quý cũng không được đảm bảo, như thời điểm này. Các hiệp sĩ và kị sỵ coi đều coi đó là một hành động đê tiện và mất phẩm giá của họ khi phải tham gia vào việc giết chết những người không thể tự vệ, vì vậy nhiệm vụ này được thực hiện bởi 200 tay cung thủ dưới sự chỉ huy của một viên hộ sỹ. Ngay cả khi so sánh với tình trạng lộn xộn, đẫm máu của trận chiến nó vẫn là một cảnh nghiệt ngã hơn nhiều. Người Pháp đã bị giết như thế nào? St Remy, người chứng kiến ​​vụ thảm sát, mô tả họ như là bị chặt ra từng mảnh, đầu và mặt. Thực tế đó là nơi duy nhất mà một hiệp sĩ với đầy đủ giáp trụ thực sự dễ bị tổn thương. Chỉ khi họ loại bỏ mũ sắt hoặc tấm giáp che mặt của một người đàn ông, thì người này mới có thể bị giết chết một cách dễ dàng. Những người kháng cự lại có thể sẽ bị đâm qua khe mắt trong chiếc mũ bascinet của họ. Kiểu giết người máu lạnh đầy kinh hoàng như vậy thường không được lưu lại trong sách sử đương thời, nên người ta không chắc chắn rằng nó đã được thực hiện như thế nào, dù rằng đây cũng là một vấn đề đáng được đề cập, nhưng còn việc ai là những người đã bị hạ sát. Những người đàn ông bị giết chết đều là những quý tộc và quý ông, không phải là những người sinh ra ở đẳng cấp thấp và phải chết ở trên chiến trường ( quân địch không bắt tù binh những thường binh vì không có tiền chuộc). Người đã viết các tài liệu này cũng là người có nguồn gốc từ tầng lớp thượng lưu, và thực tế tàn bạo này đã gây mâu thuẫn với hình ảnh của một cuộc chiến lịch lãm đầy chất mã thượng mà họ thường theo đuổi, mà họ thường mô tả. Nhưng, như chúng ta đã thấy, họ đã không đổ lỗi cho Henry vì đã ra cái mệnh lệnh tuy cần thiết nhưng quá tàn bạo này, mà đổ lỗi cho những chỉ huy người Anh đã mang đến cho ông ta những thông tin sai lệch về tình hình chiến cuộc.

Tham khảo : Kế hoạch của người Pháp

Cho đến nay các mô tả về cuộc tấn công vào đạo hậu quân ở Agincourt được định giá bề mặt từ các sử gia đương đại: đó là một cuộc tấn công bột phát bởi một lãnh chúa địa phương tham lam. Nhưng nó cũng rất phù hợp với kế hoạch ban đầu của người Pháp. Họ ( các chỉ huy chiến trường của Pháp ) đã dự kiến ​​một cuộc tấn công sâu rộng khoảng trên bên trái ở phía sau quân Anh, kết hợp với các đợt tấn công bằng kỵ binh vào cánh phải của nó. Chúng tôi không được biết khi nào cuộc tấn công vào doanh trại của quân Anh đã nổ ra. Một số tài liệu cho rằng nó xảy ra vào giai đoạn đầu của trận chiến, những người khác lại liên kết nó với các cuộc tấn công từ một phần của lực lượng kị binh của đạo binh thứ ba. Nếu nó được lên kế hoạch trùng hợp với cuộc tấn công trực diện, thì sau đó nó đã sao chép chiến thuật của người Pháp một cách đầy đủ. Sau tất cả, ai là người xứng đáng hơn vị lãnh chúa ở địa phương trong việc chỉ huy một cuộc tấn công như vậy-những người rất tỏ tường cách để đi xuyên qua khu rừng? Nên nhớ rằng vào buổi tối trước đó, Henry đã được báo động bởi những ý tưởng bởi chỉ những cú tấn công bọc sườn từ đàng sau bìa của những khu rừng, không ở cạnh bên này thì cũng ở cạnh bên kia.

Nếu giải thích này được chấp nhận và nó là một đề xuất của Chris Philpotts-một học giả trẻ tuổi người đã tìm thấy bản thảo có chứa các kế hoạch chiến đấu, sau đó chúng ta phải tín nhiệm những tài liệu của người Pháp tại Agincourt với nhiều ý nghĩa hơn nữa so với trước đây đã từng được hiểu. Ít nhất là nó cũng đúng một phần. Những người đương thời hoàn toàn đúng trong việc đổ lỗi cho sự bất cẩn đến mức vượt quá cả sự tự tin của người Pháp. Vẫn những người đàn ông này, những người đã vạch ra kế hoạch chiến đấu-mà kế hoạch này hoàn toàn có thể đánh bại người Anh lại tự chứng minh là nó vô hiệu lực khi đi vào thực thi. Lỗi lầm một lần nữa nằm ở việc thiếu một nhà lãnh đạo duy nhất trong doanh trại của quân Pháp.

Mặc dù các viên Thống chế và Nguyên soái là những sỹ quan giàu kinh nghiệm và quan trọng của nhà vua, họ vẫn không quản chế nổi các Hoàng thân cùng huyết thống với Hoàng gia. Họ chỉ có quyền điều hành một đơn vị nhỏ của riêng mình và phải tuân theo những người đồng hành ( các vị Hoàng thân ), có thể họ đã có kế hoạch chu đáo. Nhưng một khi phải nhập vào với một lực lượng lớn hơn và những cạnh tranh và sự kiêu ngạo cộng với sự ích kỷ của các quý tộc Pháp có đẳng cấp cao hơn, họ đã không có cơ hội. D’Albret và Boucicault được trong xếp trong đội hình tiên phong cùng với tất cả các quý tộc, những người có tham vọng tìm kiếm một vinh quang về mặt quân sự mà họ phải chia sẻ. Trong khi đó kỷ luật lỏng lẻo đã cho phép người của họ đi lang thang ra khỏi các vị trí đóng quân và dẫn đến sự thiếu hụt quan trọng về lực lượng ở kỵ binh hai cánh; Hơn nữa, mọi người đều có thể nhìn thấy rằng chiến trường là quá chật hẹp cho một số lượng người quá lớn, nhưng liệu họ ( hai vị Nguyên soái và Thống chế ) có thể tái triển khai những lực lượng thừa này ở những nơi khác nào đó.

Lại một lần nữa vấn đề là việc là̀m cho quân đội bị cản trở đến mức họ khó có thể cơ động được. Nhưng khi quân đội tiến lên để chống lại kẻ thù của nhà vua trên một mặt đất đã được lựa chọn bởi các chỉ huy Pháp. Không thể rút lui khỏi một vị trí như vậy. Kết quả của sự kết hợp của chiến thuật và tâm lý thiếu linh hoạt, người Anh đã giành chiến thắng trong ngày hôm đó. Và họ đã thắng bằng cách cho thấy những đức tính hoàn toàn trái ngược với những tương ứng của người Pháp: khả năng gan góc và lì lợm cùng với việc chủ động đối mặt với nguy hiểm, cùng với những thiên bẩm về tài chỉ huy của nhà lãnh đạo.

Sau khi dấu vết cuối cùng của bất kỳ mối đe dọa nào của người Pháp đã kết thúc, lúc này Henry đã làm chủ chiến trường cùng với tất cả các nguồn thực phẩm và trang thiết bị mà đối phương bỏ lại, ông ra lệnh rút lui một lần nữa và hạ trại tại Maisoncelle. Ngày hôm sau ông lại tiếp tục cho hành quân tới Calais

Hậu quả của trận chiến

Henry đã không làm và cũng không đủ lực để khai thác ngay lập tức chiến thắng của ông. Ông đã cùng quân đội vốn đã kiệt sức và rách rưới của mình, cùng với những tù binh hoành tráng của nó, hành quân rất chậm chạp trong ba ngày để tới Calais. Tại đây ông mất hai tuần để sắp xếp công việc và chờ một cơn gió thuận lợi để về Anh. Ông đã xuống tầu tại Dover vào ngày 16 tháng 11 và một tuần sau được chào đón tại London với một cuộc đón tiếp xa hoa. Một bài hát chiến thắng lặp đi lặp lại điệp khúc: “ Deo gratias Anglia redde pro victoria “-ý của Chúa là Henry và Anh phải giành chiến thắng.

Tại sao Henry lại không hành quân thẳng đến Paris để thực thi tuyên bố của mình? lý do rất đơn giản, lúc đó cũng đã vào cuối mùa chiến dịch và quân đội của ông cũng đã bị đánh đập cho tơi tả và cạn kiệt hết lương thực. Đúng là người Pháp đã bị thất bại một cách thảm hại, nhưng các thành phố của Pháp không thể bị thất thủ chỉ trước vài ngàn người vốn không có các thiết bị bao vây. Trong thực tế, phải mất thêm 5 năm để đưa Charles VI đến Hiệp ước Troyes, và Henry được phép kết hôn với Katherine-con gái của Charles VI, người được công nhận là người thừa kế ngôi vua của Pháp. Các vùng lãnh thổ không phải giành được từ chiến thắng trong những trận chiến mở, mà là từ những cuộc vây hãm lâu dài, chẳng hạn như những thành phố Caen và Rouen. Gạt Agincourt sang một bên, kết quả chính của chiến dịch 1415 là việc chiếm được Harfleur và biến nó thành căn cứ mà từ đó có thể tấn công vào xứ Normandy, đây là nền tảng cần thiết cho một chiến lược chinh phục trong dài hạn. Thành phố này ( Harfleur ) đã bị tái bao vây bởi quân Pháp trong năm sau đó, nhưng rồi phần lớn quân đội của họ ( quân Pháp) đã bị đẩy lui sau một chiến thắng của hải quân Anh ở dưới các bức tường của thành phố.

Chưa hết, Agincourt là một cú đánh trầm trọng vào nhuệ khí của người Pháp cũng như khả năng giáng trả của Charles VI. Đầu tiên là mọi người đều cho rằng công lý đang ở phía người Anh. Một sử gia đổ lỗi thất bại cho sự trả thù của thần thánh. Vì trận chiến nổ ra vào ngày của Thánh Saints Crispin và Crispinus, vốn có liên hệ mật thiết với thành phố Soissons ( thuộc phe Burgundy ), thành phố này vốn bị phe Armargnac triệt hạ một năm trước đó. Những thiệt hại về người là rất lớn, khoảng 600 người thuộc tầng lớp quý tộc và hiệp sỹ đã bị giết tại Agincourt. 5 vị Công tước, 12 Bá tước và hàng loạt những chỉ huy về mặt quân sự và chính trị bị bỏ tù. Một sử gia người Pháp-Francoise Autrand, đã tính toán rằng 1/3 trong tổng số 1.400 những ủng hộ viên hùng mạnh về mặt chính trị của nhà vau Pháp Charles VI đã bị xóa sổ sau thảm họa Agincourt.

Họ đến từ những tỉnh miền Bắc nơi mà nhà vua tuyển dụng quân đội và những công chức trong chính phủ của ông ta. Nó đã chặt đứt cấu trúc quân sự của Hoàng gia và làm tan vỡ hệ thống tổ chức các nguồn lực kinh tế của nó ( HG Pháp) và là suy giảm một cách nghiêm trọng năng lực của Hoàng gia Pháp trong việc kháng cự lại tham vọng của người Anh. Chính vì những khía cạnh này mà nó làm cho Henry đạt được những chiến thắng dễ dàng hơn sau đó ( lưu ý là dễ dàng hơn chứ không phải là dễ dàng ).

Hậu quả của trận Agincourt là cũng phải đến năm 1422 thì Henry V mới chiếm được một phần khá lớn lãnh thổ Pháp, nhưng phải nhờ chiến thuật bao vây là chính chứ không phải là những chiến thắng vang dộiĐiều trớ trêu là vị vua trẻ tuổi ( Henry V) lại chết trước ông bố vợ già cả của mình ( Charles VI ) những 7 tuần lễ. Ông ta-Henry, không bao giờ được nắm quyền cai trị cả hai vương quốc, và cái quyền này lại rơi vào tay người con trai sơ sinh của ông. Chiến tranh Trăm năm đến đây vẫn chưa kết thúc ( vì phe Armargnac đã tuyên bố chối bỏ quyền thừa kế của vua Henry VI-con trai của Henry V mà suy tôn Charles VII con trai của Charles VI lên làm vua nước Pháp), nhưng Henry V đã lại bắt đầu một thời kỳ mà người Anh chiếm ưu thế trước người Pháp và thời kỳ này kéo dài khoảng một thế hệ.

Share this:

Một số trận chiến giữa Anh và Pháp sau trận Agincourt

Bao vây thành phố Rouen

Cuộc bao vây Rouenđược tiến hành bởi người Anh từ năm 1418-1419 trong cuộc Chiến tranh Trăm năm.Vào năm 1418 thành phố Rouen có khoảng 70.000 dân và nó là một trong những thành phố lớn nhất ở nước Pháp thời đó. Việc chiếm giữ thành phố làđể có được chiếc chìa khóa rất quan trọng để xâm chiếmCông quốc Normandy-đỉnh điểm của cuộc chiến tranh trăm năm ( Công quốc Normandy thuộc lãnh thổ của Pháp nhưng lại là quê hương của Quận công William-người sau này trở thành vua nước Anh, nên con cháu của ông ta không ngừng tranh chấp với nước Pháp để đòi lại vùng đất này ).Kể từsau cuộc tái chinh phục Công quốc Normandy trong năm 1204 ( Sau khi vua Anh-Risa Sư tử tâm chết trận, người em trai là Hoàng tử John lên nối ngôi-ông này là người bất tài và nhu nhược nên không được lòng các quý tộc người Normandy. Vua Pháp là Philip IV nhân cơ hội này kéo quân vào tái thu phục Công quốc Normandy-một vùng đất của Pháp phải cắt cho người Norman vào cuối thế kỷ thứ 10 ), thành phố được bảo vệ bởi tòa lâu đài Rouen, tòa lâu đài này được xây dựng bởi nhà vua Pháp-Philippe Auguste trong năm 1204->1210 đây cũng là trụ sở về hành chính và chính trị của vùng Normandy.Vào năm 1415, năm mà vua Henry V của Anh đã xâm chiếm thành phố Harfleur ở cửa sông Seine, thành phố Rouen đã được tăng cường phòng thủ một cách đáng kể. Khi người Anh xuất ở Rouen, các bức tường ở hai bên sườn của thành phố đã được củng cố với những chiếc tháp canh được đặt những khẩu súng và một lực lượng cung thủ được chỉ huy bởi Alain Blanchard và bản thân ông này lại nằm dưới sự chỉ huy của Guy Le Bouteiller-một viên Đại úy được lựa chọn bởi thành phố Rouen và cũng là một người ủng hộ phe Burgundy trong cuộc nội chiến giữa hai phe Armagnacs và Burgundy, ông này cũng còn là cựu đội trưởng của thị trấn Dieppe.Sự xuống dốc của vương quốc Pháp, đặc biệt là ảnh hưởng của nó ở vùng Normandy, tiếp theo những sắc thuế mới càng làm tăng thêm lòng hận thùvới phe Armagnac ( phe phái đang nắm quyền kiểm soát chính ở triều đình Pháp lúc đó ).

Vì quân Anh không có đủ lực lượng về nguồn nhân lực nên họ đã không thể tiến hành các cuộc tổng tấn công vào thành phố. Ngoài ra, vua Henry V củaAnh-người đã chiến thắng quân Pháp trong trận Agincourt vào năm 1415, đã quyết định khiến cho thành phố phải thất thủ bởi nạn đói.

Một cách cực kỳ khéo léo, người Anh đã bao vây xung quanh con đường thủy vào thành phố bằng tàu chiến của họ và cắt đứt nốt những con đường trên đất liềnnhững như phong tỏa tất cả các nguồn cung cấp thực phẩm từ sông Seine.

Vì có nạn đói nên những người nghèo, người tị nạn ( khoảng 12.000 người) bị trục xuất khỏi thành phố vào mùa đông. Thật không may cho họ, họ không thểrời khỏi các chiến hào, họ đã bị cấm không được rời đi bởi người Anh.

Quân đồn trú đã tổ chức những cuộc đột phá vòng vây rất dũng cảm nhưng đầy tuyệt vọng, trong một cuộc xuất kích những cây cầu của thành phố đã đổ sụp dưới chân của các binh sỹ đồn trú, các dầm cầu đã bị cưa bỏ. Theo quấn biên niên sử của Thánh Denis vốn được viết bởi các thầy tu đã phải chịu đựng những ngược đãi từ phe Burgundy, đã đưa ra một số thông tin rằng có những tin đồn về sự phá hoại ngầm và phản bội của viên quan trấn thủ Guy Le Bouteiller.

Triều đình Pháp lúc này đang càng lúc càng hỗn loạn vì vua Charles VI của Pháp ngày càng trở nên điên rồ và phe đ.ảng Armagnac ngày càng can thiệp thọc sâu vào công việc của triều đình, nên không thể tiến hành bất kỳ sự trợ giúp nào cho Rouen.Khô

ng có những trận chiến đổ máu, chỉ phải đối mặt với nghịch cảnh như nạn đói và bệnh dịch, dân số của Rouen ngày càng xuy giảm đến tận cùng,họ (cư dân của Rouen ) phải chọn phương án giải quyết bằng cách gửi viên quan tổng trấn Guy Le Bouteiller cùng với sáu thị dân khác làm đại diện và tiến hành thương lượng với người Anh.

Sau tám ngày đàm phán, phái đoàn của Rouen không thể chấp nhận bất kỳ điều kiện nào của người Anh. Sau đó có vẻ như người dân Rouen đã quyết tâm phá hủy thành phố của họ và từ bỏ nó bằng cách thử tiến hành một cuộc phá vây tuyệt vọng.

Được thông báo về nguy cơ không thu giữ được bất cứ một cái gì ngoài những đống tro tàn sau một cuộc bao vây kéo dài đến nửa năm, vua Henry V của Anh đã phải đưa ra những điều kiện thuận lợi để thành phố Rouen đầu hàng và người dân của Rouen đã phải trao chiếc chìa khóa của thành phốcho vị chủ nhân mới của nó vào ngày 19 tháng 1 năm 1419.

Henry V của Anh đã thành lập nơi cư trú chính thức như thủ đô của mình ở Pháp tại lâu đài Rouen và lâu đài Vincennes. Ông này cũng được bắt chước bởi vua Henry VI của Anh năm 1422, tiếp theo là Edward IV-người được sinh ra tại Rouen trong năm 1442 (vua của nước Anh và Vua danh nghĩa củanước Pháp).

Thành phố Rouen đã không trở trở về tay của vua Pháp cho tới tận năm 1449 ( sau 30 năm nằm trong tay người Anh ) khi Charles VII xuất hiện trước khi thành phố cùng với viên chỉ huy pháo binh hiện đại- Jean Bureau, các khẩu pháo này được đúc bằng tiền tài trợ hoặc cho vay từ Jacques Cueur ( một thương gia người Pháp ).

Khi nhận được thông tin rằng nhà vua Pháp vẫn cho phép Rouen được duy trì các đặc quyền của mình, cư dân của thành phố đã nổi dậy chống lại người Anh. Tuy nhiênRouen vẫn phải chờ đợi khá lâu mới có một nền hòa bình thực sự và những điều kiện thuận lợi cho thương mại.

Trận BaugéTrận Baugé là một trận chiến nổ ra giữa quân đội Anh và Liên quân Pháp-Scotland ( theo hiệp ước Đồng minh Auld Alliance-và vào lúc tưởng như nước Pháp đang nguy kịch đến nơi thì có một đội quân người Scotland đổ bộ lên lãnh thổ Pháp để giúp họ chiến đấu chống lại quân Anh) vào ngày 21 tháng 3 năm 1421 tại Baugé phía đông của vùng Angers thuộc nước Pháp. Đây là một thất bại lớn đối với quân Anh trong Chiến tranh Trăm năm. Quân đội Anh được chỉ huy bởi Thomas Lancaster, Công tước đầu tiên của Clarence-người anh em trai của nhà vua Anh, Henry V, trong khiLiên quân Pháp-Scotland được chỉ huy bởi John Stewart, Bá tước thứ 2 của Buchan, và Gilbert de Lafayette-quan Nguyên soái của nước Pháp. Lực lượng quân đội Anh có khoảng 10.000 người trong khi đó lực lượng Pháp-Scotland chỉ có khoảng 6.000.Trận chiến chínhTrong khi vua Henry đang ở lại Anh để tập trung một lực lượng lính nghĩa vụ mới trong 1421, Thomas Lancaster, Công tước của Clarence-người anh em trai của ông đã dẫn đầu một đội quân khoảng dưới 15.000 người tiến về phía sông Loire. Họ thiết lập một cuộc bao vây nhằm vào lâu đài Bauge trongkhi một đội quân người Scotland khoảng 6.000 người dưới sự chỉ huy của Bá tước Buchan đang tìm cách để chặn đứng họ vào trước ngày Thứ SáuTốt lành ( em ko đi đạo nên cũng nỏ biết nó Tốt lành chỗ mô he he ). Một thỏa thuận ngừng bắn đã đạt được và nó kéo dài cho đến ngày Thứ hai, để các chiến binh của cả hai phe có thể tham gia lễ hội Tôn giáo Phục Sinh. Người Anh ngừng cuộc bao vây và rút lui đến Beaufort ở gần đó, trong khi người Scotland lại cắm trại ở Le Lude. Tuy nhiên, vào đầu buổi chiều thứ bảytrinh sát của quân Scotland báo cáo rằng người Anh đã bội ước, phá vỡ thỏa thuận ngừng bắn và tiến lên để tiến công vàoquân Scotland với hy vọng sẽ làm cho họ bị bất ngờ. Người Scotland vội vã tập hợp quân đội và tổ chức một trận chiến ngay tại một cây cầu mà vị Công tước của Clarence-chỉ huy của quân Anh với lá cờ của ông được giương cao, đang tìm cách vượt qua. Một nhóm tách rời gồm khoảng một vài trăm người thuộc quyền chỉ huy của Sir Robert Stewart của Ralston ( phe Scotland ), được tăng cường bằng đoàn tùy tùng của Hugh Kennedy, đã chiếm giữ cây cầu và chặn đứng nó trong một khoảng thời gian đủ lâu để chovịBá tước của Buchan có đủ thời gian tập phần còn lại của quân đội của mình, từ đó họ rút lui vào chiến đấu ở trongmột thị trấn nơi mà các cung thủ Anh sẽ không còn chiến đấu một cách hiệu quả.

Lúc này hai bên lao vào một trận cận chiến cực kỳ dữ dội kéo dài cho đến khi đêm xuống. Trong cận chiến Sir John Carmichael của Douglasdale đã làm gẫy ngọn thương của ông khi đánh ngã ngựa Công tước của Clarence, kể từ ngày đó trên gia huy của Carmichael có hiển thị một bàn tay bọc thép giữ ở trên cao một ngọn thương bị gãy để kỷ niệm chiến thắng này. Khi đứng được dậy trên mặt đất, vị Công tước này đã bị giết chết bởi Sir Alexander Buchanan, hoặc Sir John Swinton. Những chỉ huy khác của quân Anhcũng tử trận trong ngày hôm đó bao gồm Lord Roos, Sir John Grey-Bá tước của Tankerville và Gilbert de Umfraville, mà cái chết của họ là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự tuyệt tự của dòng nam của gia đình lừng lẫy này-họ vốn nổi tiếngkể từ cuộc chiến tranh độc lập của người Scotland ( hơn 100 năm trước đó ). Bá tước Somerset và anh trai của ông đã bị bắt tù binh bởi Laurence Vernon ( ông này sau đó được tấn phong hiệp sĩ vì chiến công của mình), Bá tước Huntingdon bị bắt tù binh bởi Sir John Sibbald và Lord Fitz Walter bị bắt bởi Henry Cunningham.

Hậu quả

Khi nghe tin về chiến thắng Scotland, Đức Giáo Hoàng Martin V đã nhắc đi nhắc lại một câu nhận xét ở thời trung cổ rằng ” người Scotland nổi tiếng như là một loại thuốc giải độc cho người Anh.” Mùa hè năm 1421 nhà Dauphin đã tiến hành một loạt các chiến dịch ở phía bắc của sông Loire và tái chiếm nhiều vùng lãnh thổ. Để tỏ lòng biết ơn người Scotland ông đã phong Archibald Douglas-Bá tước 4st của Douglas hàm Trung tướng của quân đội Pháp và tặng cho ông danh hiệu Công tước xứ Touraine. Sir John Stewart của Darnley nhận được các vùng đất ở Aubigny-sur-Nere và Concressault. Bá tước của Buchan được phong làm Nguyên soái của Pháp. Năm 1422 nhà Dauphin đã thành lập đội “một trăm vệ sĩ của nhà vua” hay còn được gọi là ” Một trăm cây thương của nước Pháp”, để bổ sung cho 24 cung thủ của đội Ecossaise Garde ( vệ binh người Ecot ). Đội một trăm cây thương cuối cùng đã trở thành một đại đội hiến binh Pháp ở Fontenoy trong năm 1745. John Carmichael được bầu làm giám mục của Orléans trong năm 1426 và là một trong 6 vị giám mục tham dự lễ đăng quang của nhà Dauphin để thành vua Charles VII tại Rheims trong năm 1429. Hugh Kennedy, được biết đến ở Pháp với cái tên Canede, và ông đã được cấp một chiếc gia huy của giới quý tộc với biểu tượng Fleur de lys của Pháp.

Trận Cravant

Trận Cravant ở bên sông Yonne là một trong một loạt các trận chiến của thời kỳ Chiến tranh Trăm năm. Nó diễn ra vào ngày 31 tháng bảy năm 1423, kết thúc bằng một chiến thắng của quân đội Anh và Burgundy-đồng minh của họ trước quân đội Pháp.Sau Hiệp ước Troyes năm 1420 nước Anh chiếm đóng tất cả các vùng đất ở phía bắc của sông Loire. Năm 1422, bất chấp cái chết đột ngột của nhà vua Anh-Henry V, sự thù địch giữa hai vương quốc Anh và Pháp vẫn tiếp tục leo thang. Trận chiến này là một trong những sự kiện mở đầu, nối lại chiến sự giữa Anh và Pháp sau cái chết của Henry V.Tanneguy du Châtel, truy kích theo các Bá tước Salisbury và Suffolk của Anh, và ông này ( Tanneguy) đã ra lệnh cho quân Pháp dừng chân nghỉ ở bên cạnh Cravant, nơi mà Charles VII ( vua của Pháp nhưng chưa được đăng quang ) coi là một trong những chìa khóa đối với người Burgundy mà bastard của Baume ( thằng con hoang-một biệt hiệu phổ biến thời đó ) đã chiếm giữ gần đó.Tanneguy khá là ngạc nhiên khi thấy nơi này bị chiếm đóng bởi Claude de Chastellux và rõ ràng rằng nó đã bị khóa chặt bởi các Lord của Boligneu, Usselot của Digoine, Presles của Chandio và khoảng 400 binh sỹ.

Do dó nhà vua Pháp đã ra lệnh cho John Stuart-Nguyên soái của Scotland, người vừa nhận được 3.000 viện binh tăng cường từ Baume và Duchatel, cùng với Thống chế Sévérac vượt sông Loire để gia nhập với họ.

Vì vậy mà Cravant ( đang nằm trong tay người Burgundy ) đã bị bao vây bởi một đội quân Pháp lên đến khoảng 15.000 người. Trong vòng năm tuần lễ người Burgundy đã chiến đấu kiên cường một đáng ngưỡng mộ, bất chấp việc thiếu lương thực buộc họ phải mổ thịt cả những con ngựa của họ, và cuối cùng Chastellux-Lord của Presles đã tìm ra một cách để báo tới nữ công tước Dowager về tình hình nguy cập của họ. Nữ Công tước đã ra lệnh cho John Toulongeon-Nguyên soái của Burgundy tập hợp binh lính và họ đã sẵn sàng vào ngày 18 và 20 tháng Bảy năm 1423. Họ đã hội binh với các công tước Montbard và Avallon ở trung tâm quận hạt Châtillon Chaumont. Tám ngày sau đó họ cũng lại gặp một lực lượng quân đội Anh rất lớn gồm khoảng 6000 người nằm dưới sự chỉ huy của các Bá tước Salisbury và Suffolk tại Auxerre. Họ ( người Anh và Burgundy) đã được đồng ý rằng cả hai sẽ hộ binh với nhau và hành quân theo một đội hình hàng dọc duy nhất vào ngày 29 dưới sự giám sát của tướng lĩnh của cả hai bên, mà đội tiên phong bao gồm một số lượng tương đương binh sỹ Burgundy và Anh, trước khi đến chiến trường tất cả mọi người đều xuống ngựa, bầy ngựa ở lại cách xa một dặm và một nửa số chúng quay trở lại với những chiếc cọc được vót nhọn cả hai đầu đủ để cung cấp cho tất cả mọi người và mệnh lệnh được đưa ra là không bắt tù binh trong chiến đấu. Mệnh lệnh tiến công sẽ được báo hiệu bởi tiếng kèn và những người không tuân thủ theo những yêu cầu của mệnh lệnh sẽ phải chịu những hình phạt nặng nề nhất.

Ngày 30, liên quân Anh và Burgundy rời khỏi Vincelles và hành quân tấn công kẻ thù-quân Pháp lúc này đang ở trong một đội hình chiến đấu trên đỉnh núi nhìn ra sông Yonne, một vị trí dường như bất khả xâm phạm. Trong ba giờ lực lượng hai bên đối diện nhau, nhưng không có một nỗ lực nào được tiến hành để vượt qua dòng sông để tấn công đối phương. Cuối cùng Salisbury đã quyết định phát động cuộc tấn công ​​và quân đội của ông bắt đầu vượt qua con sông Yonne ở đoạn rộng khỏang 50 mét và sâu ngang thắt lưng, dưới sự yểm trợ của những trận mưa tên từ các cung thủ trường cung Anh. Trong khi đó, một lực lượng Anh dưới sự chỉ huy của Willoughby và Baron de Eresby đã đánh bạt người Scotland đi rồi vượt qua một cây cầu hẹp và chia cắt đội quân của nhà Dauphin ra làm đôi.Lúc này hàng ngũ quân Pháp trở nên rối loạn và bắt đầu rút lui, người Scotland từ chối bỏ chạy và hàng trăm người đã bị đốn gục. Hơn 3.000 người trong số họ đã bị giết ở đầu cầu hoặc dọc theo bờ sông và hơn 2.000 người đã bị bắt tù binh bao gồm cả Bá tước của Buchan và Comte de Vendôme-chỉ huy lực lượng của nhà Dauphin. Quân của nhà Dauphin rút lui đến Loire, để lại phía sau nhiều tù binh hơn 6.000 người bị giết chết, đổi lại phía liên quân Anh-Burgundy có khoảng 1.600 tổn thất.

Trận Verneuil

Trận Verneuil (đôi khi còn được gọi là ‘Vernuil’) là một trận chiến trong chiến tranh Trăm năm, nó xảy ra vào ngày 17 tháng 8 năm 1424 ở gần Verneuil, vùng Normandy và là một thắng lợi đáng kể cho người Anh.Thời gian đen tốiNhững năm đầu của thập kỷ 1420 là một thời gian đặc biệt ảm đạm, trong lịch sử nước Pháp. Vương quốc này không thể phục hồi nổi từ thảm họa tại Agincourt ( sau thảm họa của trận Pointiers nước Pháp có nhà vua Charles V khôn ngoan và Nguyên soáidu Guesclin nên nước Pháp nhanh chóng phục hồi, sau trận Agincourt vua Pháp vẫn bị điên và người Pháp tiếp tục thất bại ) và hầu hết các tỉnh phía Bắc đã nằm trong tay người Anh sau các cuộc chinh phục của Henry V nhằm vào vùng Normandy. Các cuộc nội chiến giữa hai phe phái Armagnac và Burgundy không cho thấy có dấu hiệu kết thúc. Lúc này Charles Dauphin được công nhận ở các tỉnh phía nam của đất nước như là vua Charles VII, sau cái chết của cha ông-Charles VI trong 1422, nhưng ông ta vẫn chưa được đăng quang ( sau này Charles VII được đăng quang bởi Jan d’Arc-một cô gái chăn cừu ). Cái chết của Henry V trong cùng một năm với Charles VI chỉ làm người Anh tạm dừng cuộc chiến trong một khoảng thời gian ngắn ngủi rồi các nỗ lực chiến tranh được tiếp tục một cách hiệu quả dưới sự điều hành của John-Công tước xứ Bedford, người làm nhiếp chính cho vị vua sơ sinh-Henry VI. Nước Pháp đang rất cần những người lính và nó đã phải gửi lời thỉnh cầu đến Scotland-đồng minh cũ của nó để xin được cung cấp những viện trợ quân sự cần thiết.

Quân đội của Scotland

Lớp đầu tiên của đội ngũ quân Scotland đến Pháp vào mùa thu 1419, một số lượng 6000 binh sỹ dưới sự chỉ huy của John Stewart, Bá tước 2rd của Buchan. Những người này được bổ sung qua thời gian với những lính tình nguyện người Scotland vượt biển đến sau đó, đã nhanh chóng trở thành một phần của nỗ lực chiến tranh của người Pháp, và vào mùa hè năm 1420 quân đội của người Scotland được coi là một lực lượng riêng biệt trong Quân đội hoàng gia Pháp. Họ đã chứng minh giá trị của họ vào năm sau, khi đóng phần lớn vai trò trong chiến thắng của Pháp tại trận Baugé, đây là lần đầu tiên người Anh phải nhận một thất bại cực kỳ nghiêm trọng ( em trai nhà vua Anh tử trận và hàng loạt quý tộc Anh bị bắt tù binh ). Tâm trạng lạc quan này của người Pháp đã bị sụp đổ một cách tệ hại vào năm 1423, khi nhiều binh sỹ người Scotland của Buchan đã tử trận trong trận chiến Cravant.

Buchan quay trở lại

Vào đầu năm 1424 Buchan đã trở lại mang theo ông một đội quân gồm hơn 6.500 binh sỹ người Scotland. Ông được đi kèm cùng với Archibald Douglas, Bá tước 4th của Douglas-ông này được cho là nhà quý tộc mạnh nhất ở Scotland. Vào ngày 24 tháng 4 năm 1424 quân đội Scotland hải ngoại bao gồm 2.500 kị sỹ và 4000 cung thủ đã tiến vào tổng hành dinh của nhà Dauphin ở Bourges để giúp nâng cao tinh thần cho Charles VII.

Hành quân đến Verneuil

Trong tháng tám quân đội Scotland đã sẵn sàng để hành quân tới giải vây cho tòa lâu đài Ivry ở gần Le Mans, vốn lúc này đang bị vây hãm bởi Công tước xứ Bedford. Douglas (Mới được tấn phong làm Công tước của Touraine) và Buchan rời Tours vào ngày 04 tháng tám để liên kết với các chỉ huy Pháp-Công tước Alençon và các Nam tước của Narbonne và Aumale. Nhưng trước khi quân đội Scotland có thể đến nơi thì lâu đài Ivry đã đầu hàng người Anh. Chúng ta không thể biết chắc chắn về những gì đã xảy ra trong cuộc hội nghị quân sự được tổ chức bởi các chỉ huy đồng minh. Người Scotland và một số các sĩ quan Pháp trẻ tuổi đã rất sẵn sàng cho một trận chiến với quân Anh, nhưng vị Nam tước Narbonne và giới quý tộc cao cấp lại chưa quên về trận Agincourt nên họ rất miễn cưỡng trong việc chấp nhận những rủi ro. Sau đó như một sự thỏa hiệp, họ đã nhất trí triển khai tấn công vào các đồn lũy của người Anh ở trên vùng biên giới với xứ Normandy, bắt đầu từ Verneuil ở phía tây. Thị trấn bị chiếm giữ bởi một thủ thuật rất đơn giản: một nhóm quân Scotland, dẫn theo một số đồng bào của họ đóng giả làm tù binh và đóng giả làm quân Anh rồi tuyên bố rằng Bedford đã đánh bại liên quân Pháp-Scotland trong một trận chiến, sau đó cổng thành đã được mở ra.

Bedford xuất hiện

Ngày 15 tháng 8 Bedford nhận được tin Verneuil đã thất thủ vào tay người Pháp và ông nay quyết tâm hành quân nhanh như ông có thể. Ông tới gần thị trấn chỉ hai ngày sau khi người Scotland đã thuyết phục được đồng minh người Pháp của họ đóng quân ở lại, dường như Douglas đã quên béng những bài học từ trận Homildon Hill ( một trận đánh trong một loạt các trận chiến ở vùng biên giới Anh-Scotland, quân Anh đã dùng chiến thuật tốc thắng để đánh bại quân Scotland ). Người ta cho là ông này đã nhận được một tin nhắn từ Bedford rằng ông hãy đến và uống rượi cùng ông kia và sau đó cùng cầu nguyện cho một cuộc họp vào đầu ngày, Douglas trả lời rằng vì không tìm thấy vị công tước ở Anh nên ông này đã đến Pháp để tìm kiếm ông kia.

Sau đó liên quân được triển khai ở khoảng một dặm về phía bắc của Verneuil trên một đồng bằng mở chắn ngang con đường dẫn ra khỏi khu rừng Piseux. Nam tước Narbonne và binh đoàn người Pháp chiếm vị trí ở bên trái của con đường, họ được hỗ trợ ở một bên cánh bởi kỵ binh Pháp, trong khi Douglas và Buchan đóng ở phía bên phải và được hỗ trợ bởi ở một bên sườn tương tự bởi kỵ binh người Lombard được tuyển chọn từ miền bắc Italy. Aumale đã được phong làm tổng thể, nhưng quân đội Pháp lúc này lại trở nên không đồng nhất bất chấp tất cả các nỗ lực phối hợp chỉ huy chung. Lực lượng của Bedford tiến ra từ khu rừng và ông cũng cho bố trí người của mình thành hai thê đội để phù hợp với cách bố trí của đối phương với cách bố thông thường của người Anh là các kị sỹ được bố trí ở trung tâm và các cung thủ thì ở các bên cánh. Ông cũng đã để lại một lực luợng dự bị mạnh mẽ gồm khoảng 2000 cung thủ ở phía sau để bảo vệ đoàn hành lý. Bedford đích thân chỉ huy thê đội đối mặt với quân Pháp còn Thomas Montague-Bá tước Salisbury chỉ huy thê đội đối mặt với quân Scotland.

Một ngày đẫm máu

Vào khoảng 4 giờ chiều, như thểcó những tín hiệu được sắp xếp trước, quân đội của hai bên cùng tiến lên một lúc. Khi Bedford cho quân của mìnhtiến đến phạm vi sát thương của cung tên, ông đã ra lệnh dừng lại và các cung thủ bắt đầu cố gắng để đóng những chiếc cọc của họ vào mặt đất, đây là một thiết bị đơn giản nhưng lại rất hiệu quả trong việc đánh bẫy các kỵ binh. Mặt đất lúc này đã trở nên khô cứng bởi mặt trời mùa hè và các cọc nhọn chỉ có thể được đóng xuống đất một cách cực kỳ khó khăn. Nhìn thấy cơ hội, người Pháp đã bắt đầu triển khai ngay lập tức một cuộc tấn công mà không chờ đợi sự phối hợp từ thê đội của người Scotland. Những cung thủ ở cực bên phải của Bedford đã bị mất cân bằng, điều này cho phép kỵ binh Pháp vượt qua hàng ngũ của họ, để lại mối nguy hiểm ở bên cánh cho chính đạo quân của mình. Cơ hội của người Pháp đã bị mất đi khi các kỵ binh đãkhông quay vòng trở lại. Họ ( kị binh Pháp ) tiếp tục phi ngựa về phía đoàn hành lý ở phía bắc ( mà quên béng mất nhiệm vụ của họ là yểm trợ cho đạo bộ binh Pháp), trong khi những kị sỹ trong thê đội của Bedford đã lấy lại được tinh thần và bắt đầu mở một cuộc tấn công vào lực lượng bộ binh Pháp đang ở trước mặt họ. Không thể chịu được cuộc tấn công quá mãnh liệt của quân Anh, thê đội của Nam tước Narbonne đã bị vỡ trận vàbỏ chạy quay trở lại Verneuil, nơi mà rất nhiều người bao gồm cả Aumale-viên tổng chỉ huy đã bị chết đuối trong một con hào.

Sau khi đánh bại thê đội người Pháp, Bedford cho ngừng cuộc truy kích và quay trở lại chiến trường, nơi mà Salisbury đang chiến đấu một cách dữ dộivới người Scotland-lúc này họ chỉ còn lại một mình. Các kỵ binh Lombard lo lắng rằng các kị binh Pháp-đối táccủa họ sẽ chiếm sạch tất cả chiến lợi phẩm, liền phi ngựa vòng qua bên cánh trái của người Anh để tấn công vào đoàn hành lý. Vào thời gian họ đến nơi thì toán kị binh Pháp đã bị đẩy lùi bởi 2.000 cung thủ dự bị của Bedford và đám kị binh người Lombard cũng nhanh chóng phải tháo chạy. Lúc này lực lượng dự bị của Anh vốn đang say máu liền lao vào trận chiến chính và tấn công vào bên cánh phải vốn không được hỗ trợ của người Scotland. Trận Verneuil đi vào giai đoạn kết thúccủa nó khi các kị sỹ Anh dưới sự chỉ huy của Bedford quay trở về từ phía Nam để tấn công Scotland từ phía sau. Lúc này gần như hoàn toàn bị vây kín,quân Scotland đã phải tử chiến đến người cuối cùng.

Một cái giá phải trả quá cao

Verneuil là một trong những trận chiến đẫm máu nhất trong Chiến tranh Trăm năm, nó được mô tả như là một chiến thắng Agincourt thứ hai của người Anh. Tổng cộng có khoảng 6000 binh sỹ Liên quân Pháp-Scotland đã thiệt mạng, trong đó có khoảng 4000 người Scotland. Người Anh mất khoảng 1600người, đây là một con số cao bất thường đối với họ, lớn hơn nhiều so với thiệt hại của họ tại Agincourt, nó cũng cho thấy sự tàn bạo của trận chiến. Bá tước Douglas đã tham gia chiến đấu lần cuối cùng cho phe yếu thế, cùng tử trận với ông có Bá tước của Buchan. Quân đội Scotland hải ngoại đã gần như bị xóa sổ, nhưng nó vẫn chưa sẵn sàng để ra khỏi lịch sử. Rất buồn phiền vì thảm họa tại Verneuil, Charles tiếp tục tôn vinh những người sống sót, một trong số đó là John Carmichael của Douglasdale-vị giáo sĩ của Bá tước Douglas đã tử trận, được tấn phong làm Giám Mục Orléans.

Giai đoạn cuối của chiến tranh Trăm năm: Cuộc chiến của nhà Valois 1429 -> 1453

Nước Pháp đang cực kỳ nguy kịch, vua Charles VII bị truất ngôi, quân Anh kéo đến bao vây thành phố d’Orleans-một thành trì của phe đ.ảngArmagnac, nếu thành phố này thất thủ thì các tỉnh miền Nam nước Pháp sẽ rung chuyển và tình hình sẽ không biết đến đâu. Nhưng lúc này có một kì tích xuất hiện và nhờ đó quân Pháp liên tục phản công thắng lợi. Đến năm 1453 chỉ còn lại mỗi Calais vẫn nằm trong tay người Anh, còn lại tất cả các vùng lãnh thổ của Pháp đã thuộc về Hoàng gia nhà Valois. Chính vì nhà Valois đã hoàn toàn thắng lợi trong giai đoạn này mà người ta gọi đó là cuộc chiến của nhà Valois.

Theo dòng lịch sử:

Ngày 12 Tháng Hai năm 1429 trận the Herrings (ROUVRAY)- quân đội Pháp tấn công bất ngờ nhưng không thành công trong việc ngăn chặn một đoàn xe chở đồ tiếp tế cho quân Anh đang bao vây thành phố Orle’ans. ( trong trận này các binh sỹ người Scotland lại tử thương nhiều đến mức quân đội Scotland hải ngoại đã gần như không còn tồn tại ).

Ngày 06 tháng 3 Joan Arc đến triều đình của nhà Dauphin tại Chinon

Ngày 22 tháng 3 năm 1429 Joan Arc viết lá thư’ “ mệnh lệnh gửi tới người Anh” yêu cầu quân Anh phải cút khỏi đất Pháp và trên đường đi phải ngỏ lời xin lỗi dân chúng những nơi họ đã cướp phá.

Ngày 29 tháng 4 năm 1429 Joan Arc tiến vào Orle’ansNgày 08 tháng 5năm 1429 lực lượng Pháp, được chỉ huy bởi Joan Arc, tiến hành giải vây cho Orle’ans

Ngày 10 tháng sáu ->18 tháng Sáu năm 1429 -chiến dịch sông Loire, quân đội Pháp được dẫn đầu bởi Joan Arc liên tục chiếm Jargeau, Beaugency, và Meung và xóa sổ các đơn vị đồn trú Anh đóng tại sông Loire

Ngày 18 tháng 6 năm 1429 Chiến thắng Patay, quân đội Pháp kết thúc chiến dịch Loire một cách toàn thắng trước quân Anh dưới sự chỉ huy của Sir John Fastolf. ( lực lượng cung thủ trường cung Anh bị một đòn gẫy xương sống)

Ngày 17 tháng 7 năm 1429 Charles Dauphin lên ngôi vua Pháp tại Rheims như là Charles VII của nước Pháp

Ngày 08 Tháng Chín năm 1429 Joan Arc dẫn đầu một cuộc tấn công không thành công vào Paris.

Ngày 08 Tháng Chín năm 1429 Joan d’Arc dẫn đầu một cuộc tấn công không thành công vào Paris
Tháng Mười Một năm 1429 người Anh làm lễ đăng quang cho Henry VI tại lâu đài Westminster

Ngày 23 Tháng 5 năm 1430 Joan d’Arc bị bắt bởi người Burgundy ở CompiegneTháng Mười Hai

năm 1430 Joan d’Arc bị chuyển đến một nhà tù quân sự Anh trong thành phố RouenNgày 21 tháng Hai năm 1431 phiên tòa xét xử Joan d’Arc đượcbắt đầu ở Rouen

Ngày 24 tháng 5 năm 1431 Joan d’Arc công khai chối bỏ lời kết tội rằng mình là một phù thủy

Ngày 30 tháng 5 năm 1431 Joan d’Arc bị thiêu đến chết với dị giá bởi người Anh ở Rouen

Ngày 11 Tháng Tám năm 1431 Trận Shepherd-lấy theo tên của một cậu bé chăn cừu người Pháp được dựng lên như là một kế thừa của Joan d’Arc

Ngày 16 tháng 12 năm 1431 vua Henry VI của Anh lên ngôi vua Pháp tại Paris

Ngày 14 tháng 11 năm 1432 Anne-Nữ công tước của Bedford, vợ của John, công tước xứ Bedford và em gái của Philip, công tước của Burgundy Tốt bụng đã qua đời ( mối liên hệ giữa người Anh và người Burgundy bắt đầu phai nhạt)

Năm 1434 người Anh ra tay đàn áp một loạt các cuộc nổi dậy ở Normandy

Tháng Chín năm 1435 Isabeau xứ Bavaria, nữ hoàng của Pháp và góa phụ của vua Charles VI qua đời.
Ngày 01 Tháng 9 người Anh rút khỏi Nghị viện Arras

Ngày 14 Tháng Chín John công tước của xứ Bedford qua đời
Ngày 20 tháng 9 Hiệp ước Pháp-Burgundy được ký kết ở Arras, qua đó kết thúc liên minh Anglo-BurgundyNgày 13 tháng 4 năm 1436 quân Pháp chiếm lại Paris
Ngày 03 Tháng Một năm 1437 Catherine của Valois, vợ của Henry V và mẹ của Henry VI qua đời

Ngày 13 tháng 2 năm 1437 John Talbot chiếm lại Pontoise cho người Anh

Ngày 21 tháng 2 năm 1437 James I, vua của Scotland bị ám sát, James II lên ngôi vuaNgày 12 tháng 11

năm 1437 Henry VI công bố đủ tuổi thành niên và đòi quyền kiểm soát Chính phủ Anh

Ngày 30 Tháng Tư năm 1439 Richard Beauchamp, bá tước của Warwick, trung úy của Anh ở Pháp qua đời.Tháng Mười Một

năm 1439 Charles VII tuyên bố tuyển dụng quân sự thuộc về độc quyền của Hoàng giaTháng Bảy năm 1440 Richard, công tước của York được tái bổ nhiệm làm trung úy của nhà vua Anh tại Pháp

Ngày 6 Tháng Sáu – 19 Tháng 9 năm 1441 quân đội Pháp tiến hành bao vây và công chiếm Pontoise

Tháng Ba năm 1443 John Beaufort, công tước của Somerset, được phong làm trung tướng và đại tướng ( lieutenant-general và captain-general) của vùng Aquitaine để chuẩn bị chỉ huy một chính chiến dịch tấn công vào quân Pháp

Tháng 7-> 8 chiến dịch của Somerset là một thất bại hoàn toàn, vị công tước này trở lại nước Anh trong nỗi ô nhục

Tháng Hai năm 1444 William de la Pole, bá tước của Suffolk căng buồm sang Pháp để bắt đầu các cuộc đàm phán dẫn đến việc kí kết Hòa ước hòa bình Tours

Ngày 27 tháng 5

năm 1444 John công tước của Somerset qua đời-có thể do chính bàn tay của ông ta

Ngày 28 Tháng 5 năm 1444 Anh-Pháp chính thức kí Hiệp ước Hòa bình Tour.

Ngày 23 tháng 4 năm 1445 kết hôn giữa Henry VI với Margaret của Anjou-cháu gái của Charles VII

Ngày 22 tháng 12 năm 1445 Henry VI bí mật đồng ý đầu hàng giao nộp Maine cho người Pháp

Ngày 23 tháng 2 năm 1447 hoàng thân Humphrey, công tước của Gloucester-chú của Henry VI và thủ lãnh của phe chủ chiến ở triều đình Anh bị bắt giữ

Ngày 11 tháng 4 năm 1447 Đức Hồng Y Henry Beaufort, giám mục của Winchester, thủ lãnh của phe chủ hòa tại triều đình Anh qua đờiTháng Mười Hai

năm 1447 Edmund Beaufort, bá tước của Somerset, trở thành trung úy của nhà vua Anh ở PhápTháng Hai năm 1448 Charles VII tiến hành cuộc bao vây Le Mans ở vùng Maine
Ngày 15 Tháng Ba năm 1448 thành phố Le Mans ở vùng Maine đầu hàng người Pháp

Ngày 28 tháng 4 năm 1448 Charles VII đưa ra các điều luật để thành lập lực lượng cung thủNgày 24 tháng 3 năm 1449 Quân Pháp tấn công vào pháo đài Fougeres của người Anh ở Breton và phá vỡ Hiệp ước Hòa bình Tour và dẫn đến việc nối lại các hoạt động chiến tranh
Ngày 31 tháng 7 năm 1449 Charles VII của Pháp ra lệnh tiến hành một cuộc xâm lược nhằm tái chiếm xứ Normandy

Ngày 12 tháng 8 năm 1449 quân đội Pháp bắt đầu chiến dịch tái chiếm Normandy (1449-1450)

Ngày 29 tháng 10 năm 1449 Quân Pháp chiếm lại Rouen, thủ phủ của NormandyNgày 02 tháng 11

năm 1449 Charles VII tiến vào Rouen

Ngày 28 tháng Một năm 1450 Nghị viện Anh kết tội William de Pole, công tước của Suffolk, lãnh đạo của chính phủ của Henry VINgày 15 tháng 4

năm 1450 Trận chiến Formigny-quân Pháp đánh bại quân Anh một trận lớn cuối cùng ở NormandyTháng 5 -> 7

năm 1450 cuộc nổi dậy của Jack Cade bùng nổ ở đông nam nước AnhNgày 02 tháng 5

năm 1450 William de la Pole, công tước của Suffolk bị bắt và bị chặt đầu bởi một toán người không rõ danh tính khi ông này cố gắng lên thuyền đi lưu vong

Ngày 01 tháng 7 năm 1450 Edmund Beaufort, công tước của Somerset, đầu hàng trước người Pháp ở Caen trong vùng Normandy.

Ngày 12 tháng 8 năm 1450 Thành phố Cherbourg thất thủ trước người Pháp qua đó kết thúc Chiến dịch Norman.

Ngày 30 Tháng Sáu năm 1451 Bordeaux đầu hàng người PhápNgày 23 tháng 10 năm 1452 John Talbot, bá tước của Shrewsbury, tái chiếm Bordeaux
Ngày 17 tháng 7 năm 1453 Trận Castillon-lực lượng Pháp dưới sự chỉ huy Jean Bureau đánh bại hoàn toàn quân đội Anh dưới sự chỉ huy của John Talbot, bá tước của Shrewsbury, trong vùng Gascony, báo hiệu Chiến tranh Trăm năm kết thúc với thắng lợi hoàn toàn thuộc về người Pháp.Ngày 19 tháng 10

năm 1453 người Pháp lấy lại Bordeaux-sự sụp đổ tiếp theo của tất cả các vị trí của người Anh tại Aquitaine thường được coi là sự kết thúc của Chiến tranh Trăm năm

Ngày 21 tháng năm 1455 Trận St Albans thường được coi như là bắt đầu của hàng loạt các cuộc nội chiến Anh còn được gọi là cuộc chiến Hoa HồngTháng Ba năm 1461 Henry VI bị lật đổ và sống lưu vong ở Scotland, Edward, công tước của York-anh em họ ông trở thành vua của nước Anh như là Edward IV
Ngày 22 Tháng 7 năm 1461 Charles VII vua của nước Pháp qua đời; con trai ông nối ngôi làm vua Louis XI của nước PhápNgày 15 tháng 6 năm 1467 Philip tốt bụng, công tước của Burgundy qua đời
Ngày 21 tháng năm 1471 Henry VI bị ám sát ở trong ngục tháp London

Ngày 04 tháng Bảy năm 1475 Edward IV tiến hành cuộc xâm lược vào nước Pháp của Anh lần đầu tiên kể từ khi kết thúc Chiến tranh Trăm nămNgày 29 tháng 8

năm 1475 kí kết luận Hiệp ước Picquigny, nhờ đó mà Edward IV của Anh đồng ý rút khỏi Pháp để đổi lấy một khoản tiền hàng năm được trả từ từ Louis XITháng Một năm 1558 Calais, vị trí cuối cùng của người Anh ở Pháp đã rơi vào tay người Pháp.

Giới thiệu một số nhân vật quan trọng trong thời kỳ này

Charles VII of France

Charles VII (22 tháng hai năm 1403 – 22 tháng 7 1461), còn được gọi là nhà vua Chiến Thắng hoặc Phục vụ tốt, là vua của nước Pháp từ năm 1422 đến khi ông qua đời, mặc dù ban đầu ông bị tranh giành bởi Henry VI của nước Anh, người có Công tước của Bedford làm nhiếp chính và cai trị rất nhiều vùng đất của nước Pháp bao gồm cả thủ đô Paris.Ông là thành viên của Nhà Valois, con trai của Charles VI, nhưng việc thừa kế ngai vàng nước Pháp của ông đã gặp khó khăn bởi sự chiếm đóng của người Anh ở miền bắc nước Pháp. Tuy nhiên, ông đã được đăng quang tại Reims năm 1429 nhờ những nỗ lực của Joan d’Arc để giải phóng nước Pháp khỏi người Anh. Cuối triều đại của Charles VII được đánh dấu bằng cuộc đấu tranh của ông với con trai mình-vua Louis XI trong tương lai.

Sinh ra tại Paris, Charles là con trai thứ năm của Charles VI của Pháp và Isabella của Bayern-Ingolstadt. Bốn người anh của ông, Charles (1386), Charles (1392-1401), Louis (1397-1415) và John (1398-1417) đã từng nắm giữ danh hiệu Dauphin của Pháp, người thừa kế ngôi vua của Pháp, lần lượt từng người một chết mà không có con, làm cho Charles được thừa kế hàng loạt các chức danh.Hầu như ngay sau khi nhận danh hiệu Dauphin ( một danh hiệu dành cho Thái tử Pháp, tựa như danh hiệu Hoàng tử xứ Wales của Anh ), Charles đã bị buộc phải đối mặt với những mối đe dọa cho quyền thừa kế của mình và buộc phải chạy trốn khỏi Paris vào tháng 5 năm 1418 sau khi binh sĩ của John the Fearless, Công tước xứ Burgundy cố gắng để chiếm thành phố. Trong năm sau, Charles đã cố gắng để tiến hành một cuộc hòa giải giữa ông và vị Công tước này ( chú họ của ông ), hai người đã gặp nhau trên một cây cầu ở Pouilly, gần Melun, trong tháng 7 năm 1419. Sự kiện này được chứng minh là chưa đủ để xóa hiềm khích, hai người lại tổ chức gặp mặt vào ngày 10 tháng chín năm 1419, trên cây cầu tại Montereau. Vị công tước bất chấp những vấn đề trước đây, đã tỏ ra quá tin tưởng vào người cháu họ trẻ tuổi của mình, đã cho rằng cuộc họp là hoàn toàn hòa bình và ngoại giao và ông này chỉ mang theo một hộ tống nhỏ; người của Dauphin đã ra tay hạ sát vị Công tước xứ Burgundy. Mức độ tham gia của Charles vẫn là câu hỏi không bao giờ có lời giải: mặc dù ông đã tuyên bố là không hề biết gì về ý định của người của mình, nó đã bị coi là một lời chối tội không hợp lý về vụ giết người này và đẩy mạnh mối hận thù giữa gia đình của Charles VI và Công tước xứ Burgundy ( đều cùng thuộc nhà Valois ). Bản thân Charles sau đó đã được yêu cầu kí hiệp ước với Philip Tốt bụng-con trai của John, để trả tiền đền tội cho tội giết người, nhưng ông không bao giờ chịu làm như vậy;. Dù sao, đó là tuyên bố, sự kiện này đã làm cho ông ta luôn phải sống với một nỗi ám ảnh suốt đời vềụ việc trên cây cầu.

Trong những năm vị thành niên của mình, Charles đã được ghi nhận là một người dũng cảm và có phong cách của một nhà lãnh đạo: tại một thời điểm sau khi trở thành nhà Dauphin, ông đã dẫn một đội quân để chống lại người Anh, trong bộ trang phục màu đỏ, trắng và xanh như một đại diện cho nước Pháp. Tuy nhiên, hai sự kiện trong 1421 đã phá vỡ sự tự tin của ông: ông đã bị buộc phải rút ​​lui khỏi cuộc chiến chống lại Henry V của nước Anh một cách cực kỳ nhục nhã và sau đó cha mẹ ông bác bỏ ông như là người thừa kế hợp pháp ngôi vua nước Pháp và tuyên bố rằng ông là sản phẩm của một trong những cuộc ngoại tình của mẹ mình ( mà bà này lại rất nổi tiếng về mấy vụ này). Bị làm nhục, và sống trong nỗi sợ hãi, Charles Dauphin chạy trốn để cầu xin sự bảo vệ của Yolande của Aragon-người được gọi là Nữ hoàng của Bốn Vương quốc ở miền nam nước Pháp, nơi ông được bảo vệ bởi Nữ Hoàng Yolande hùng mạnh và kiêu hãnh và kết hôn với con gái bà ta-Marie.Sau cái chết của người cha mất trí Charles VI của Charles, vấn đề thừa kế đã tạo ra những nghi ngờ: nếu Dauphin là người con hợp pháp thì sau đó ông là người thừa kế hợp pháp ngai vàng. Nếu không, người thừa kế sẽ là Công tước xứ Orléans, người đang bị giam giữ bởi người Anh sau trận Agincourt. Ngoài ra, Hiệp ước Troyes được ký bởi Charles VI năm 1420, đã bắt buộc rằng ngai vàng phải được trao cho Henry VI của nước Anh, con trai của Henry V vừa mới qua đời và Catherine của Valois, con gái của Charles VI.

Không ai trong số ba ứng cử viên có một tuyên bố không thể nghi ngờ về ngôi vua; tuy nhiên người Anh đang kiểm soát miền Bắc nước Pháp, trong đó có Paris, đã có thể thực thi tuyên bố ngai vị của họ trong những phần lãnh thổ của Pháp mà họ chiếm đóng. Do đó miền Bắc nước Pháp được cai trị bởi một nhiếp chính người Anh ở Normandy, thay mặt cho Henry VI.Charles, không đáng ngạc nhiên khi tuyên bố danh hiệu Vua Pháp cho mình, tuy nhiên do dự và cảm giác thất vọng, ông đã không thực hiện bất kỳ nỗ lực nào để đuổi người Anh đi. Thay vào đó, ông vẫn ở phía nam sông Loire, nơi ông vẫn có thể tạo được một số quyền lực nhỏ và duy trì triều đình lưu động ở thung lũng Loire tại những lâu đài như Chinon, theo phong tục ông vẫn được gọi là “Dauphin”, nhưng cũng thường bị chế giễu là ” Vua của Bourges “(đặt theo tên thị trấn nơi ông thường sống-vua của đúng 1 thị trấn), người ta còn cho rằng có thể ông sẽ lại tới bán đảo Iberia để tị nạn và cho phép người Anh thẳng tiến bằng sức mạnh.

Tuy nhiên trong năm 1429 đã có một sự thay đổi lớn lao. Orléans đã bị vây hãm từ tháng 10 năm 1428. Vị quan nhiếp chính Anh-Công tước xứ Bedford (chú của Henry VI) đã tiến vào lãnh thổ công quốc Bar, được cai trị bởi René-anh rể của Charles,. Các lãnh chúa và chiến binh trung thành với Charles đã ngày càng trở nên tuyệt vọng.Trong khi đó, trong ngôi làng nhỏ của Domrémy, trên biên giới giữa Lorraine và Champagne, một cô gái vị thành niên có tên là Jeanne d’Arc ( tiếng Anh: Joan of Arc), tin rằng cô đã được trao một nhiệm vụ thiêng liêng sau khi dường như nghe tiếng nói của thiên thần, yêu cầu Công tước xứ Lorraine, những người lính và những thứ cần thiết để đưa cô đến Chinon và nhà Dauphin. Được cấp đội hộ tống gồm năm binh sĩ kỳ cựu và một lá thư giới thiệu của viên thống đốc Vaucouleurs-Robert Baudricourt tới Charles, Jeanne cưỡi ngựa đến Chinon, nơi Charles đang cư trú trong ngày 10 tháng 3 năm 1429.

Những gì xảy ra tiếp theo sau này sẽ đi vào huyền thoại. Khi Jeanne đến Chinon, Charles-thử thách Jeanne để xem liệu cô có nhận ra ông ta mặc dù đã bao giờ gặp mặt-bằng cách đóng giả như là một trong những triều thần của mình và đứng ở giữa họ khi Jeanne ( bản thân nàng cũng mặc quần áo của đàn ông) bước vào buồng. Jeanne, ngay lập tức nhận ra ông ta, cô cúi thấp và ôm đầu gối của ông, tuyên bố “Thiên Chúa trao cho ngài một cuộc sống hạnh phúc, ngọt ngào thưa nhà vua!” Mặc dù đã cố gắng chối rằng một người đàn ông khác mới thực sự là nhà vua, cuối cùng Charles cũng buộc phải thừa nhận rằng đó chính là ông ta. Sau đó Jeanne gọi ông là “Dauphin” hoặc “Dauphin Gentle” cho đến khi ông lên ngôi ở Reims bốn tháng sau đó. Sau khi trò chuyện riêng giữa hai người (trong đó, Charles nói sau Jeanne biết bí mật về ông rằng ông đã lên tiếng chỉ khi im lặng trong khi cầu nguyện Thiên Chúa) Charles đã trở nên dũng cảm và đầy tự tin. Sau đó, ông hoàn toàn quyết tâm đòi quyền thừa kế của mình bằng cách hành quân đến Reims.

Một trong những yếu tố quan trọng cho sự thành công cuối cùng của Charles VII là sự hỗ trợ của gia đình của Marie d’Anjou-nhà vợ của ông, vốn là một gia đình hùng mạnh và giàu có (1404-1463), đặc biệt là bà mẹ vợ-Nữ hoàng Yolande xứ Aragon. Bất chấp mọi thứ ông dành cho vợ mình, thì tình yêu lớn của cuộc sống của Charles VII được dành cho người tình của ông-Agnès Sorel.

Sau đó Jeanne d’Arc dẫn đầu quân Pháp tiến về Orléans, buộc người Anh phải hủy bỏ cuộc bao vây và do đó xoay chuyển cục diện của cuộc chiến. Sau khi Pháp thắng trận Patay, Charles lên ngôi vua Charles VII của Pháp ngày 17 Tháng Bảy 1429, tại Nhà thờ Reims như là một nhà vua đích thực.

Sau đó Jeanne đã bị bắt bởi người Burgundy và chuyển giao cho quân Anh. Bị kết tội Dị giáo cô đã bị thiêu sống vào ngày 30 tháng 5 năm 1431. Charles VII đã không làm gì để cứu một trong những người mà ông mang nợ ngai vàng của mình, mặc dù ông có thể chuộc được cô.

Sau đó Charles và Philip tốt bụng-Công tước xứ Burgundy đã ký Hiệp ước Arras, do đó cho phép người Burgundy để trở về bên người Pháp cũng giống như mọi thứ đều đang xấu đi đối với đồng minh người Anh của họ ( người Burgundy). Với sự kiện này, Charles đạt được mục tiêu đó là cần thiết, đó là không một hoàng tử cùng dòng máu nào lại công nhận Vua Henry VI là vua của Pháp.

Trong hai thập kỷ sau đó, người Pháp chiếm lại Paris từ tay người Anh và cuối cùng đã phục hồi tất cả các vùng lãnh thổ của nước Pháp với ngoại lệ là cảng Calais và phía bắc của quần đảo Channel.

Cuối triều đại của ông

Những năm sau đó của Charles được đánh dấu bởi sự thù địch ngày càng tăng giữa ông và người thừa kế của ông, Louis. Louis yêu cầu có quyền lực thực sự đi cùng với vị thế của mình như là nhà Dauphin; Charles đã từ chối. Sau đó, Louis đã khuấy động những bất đồng chính kiến

​​và nỗ lực thực hiện những âm mưu làm cha mình mất ổn định. Ông ta cãi nhau với người tình của cha mình, Agnès Sorel, theo một nguồn tài liệu một lần ông đẩy bà này vào giường của Charles với một thanh kiếm trần. Cuối cùng, vào năm 1446, sau khi người con trai cuối cùng của Charles, cũng được đặt tên là Charles, được sinh ra, nhà vua đã trục xuất nhà Dauphin tới Dauphiny này. Hai cha con không bao giờ gặp lại nhau; sau đó Louis từ chối yêu cầu của nhà vua rằng ông ta phải trở lại triều đình, cuối cùng Louis Dauphin đã bỏ chạy đến chỗ Philip tốt bụng-Công tước xứ Burgundy để được bảo vệ, trong 1456.Năm 1458, Charles đã đổ bệnh: ông luôn bị đau nhức chân (có lẽ là một triệu chứng của bệnh tiểu đường) và không thể được chữa lành và việc nó lây nhiễm gây ra một cơn sốt nghiêm trọng. Nhà vua đã cho triệu tập Louis vốn sống tại nơi lưu vong của ông ở Burgundy, nhưng nhà Dauphin đã từ chối và dùng một nhà chiêm tinh để báo trước chính xác giờ chết của cha mình. Nhà vua tục sống thêm trong hai năm rưỡi sau đó: ngày càng bệnh nặng nhưng không chết. Trong thời gian này ông cũng vẫn phải đối phó với các trường hợp chư hầu của ông nổi loạn như John V của Armagnac.

Cuối cùng, tuy nhiên đến một thời điểm trong tháng 7 năm 1461 khi bác sĩ của vua Charles kết luận rằng ông không thể sống qua tháng Tám. Bị bệnh và mệt mỏi, nhà vua đã trở nên mê sảng, và bị thuyết phục rằng ông được bao quanh bởi những kẻ phản bội chỉ trung thành với con trai mình. Dưới áp lực của bệnh tật và sốt, nhà vua đã phát điên. Vào lúc này những lây nhiễm đã lan đến hàm răng của ông và gây ra một khối u hoặc áp xe trong miệng; chỗ sưng này đã trở nên quá lớn, cho tuần cuối cùng của cuộc đời mình, Charles đã không thể nuốt được thức ăn hoặc nước. Mặc dù ông tiếp tục cho gọi nhà Dauphin đến bên giường bệnh của ông, Louis vẫn từ chối và tiếp tục chờ đợi cha mình chết tại Avesnes ở Burgundy. Như vậy, tại Mehun-sur-Yèvre chỉ có sự có mặt của người con trai trẻ tuổi của ông-Charles và biết được sự phản bội cuối cùng người con trai cả của mình, nhà vua bị chết đói. Ông mất ngày 22 Tháng Bảy năm1461 và được chôn cất, theo yêu cầu của mình, bên cạnh cha mẹ của ông ở Saint-Denis.

Tranh vẽ Jeanne d’Arc dẫn đầu quân Pháp đi giải vây cho thành phố Orléans

Jeanne d’Arc

Jeanne d’Arc (tiếng Việt: Gian-đa, 6 tháng 1 năm 1412 – 30 tháng 5 năm 1431) là một nữ anh hùng người Pháp trong cuộc Chiến tranh Trăm năm giữa Pháp và Anh. Ngày 16 tháng 5 năm 1920, Jeanne d’Arc được chính thức phong thánh và là một trong những vị thánh chính của Giáo hội nước Pháp.Sinh ra trong một gia đình nông dân ở phía đông nước Pháp, cô chỉ huy quân Pháp giành được một số chiến thắng quan trọng trong cuộc Chiến tranh trăm năm. Cô cho biết mình được Thiên chúa dẫn dắt giúp giải phóng nước Pháp đánh bại quân Anh, và như vậy gián tiếp đưa Charles VII lên ngôi. Cô bị người Anh bắt giữ, bị tòa án giáo hội xét xử, bị kết tội là phù thủy và bị hỏa thiêu khi chỉ 19 tuổi. Sự nghiệp của cô như vậy chỉ gói gọn trong hai năm cuối đời, một năm chiến đấu và một năm bị cầm tù. Hai mươi bốn năm sau, Giáo hoàng Callixtus III cho tra xét lại vụ án, và tuyên bố cô vô tội, rồi phong cô là một người tử vì đạo. Cô được ban phúc lành năm 1909, rồi đến năm 1920 được phong thánh.Jeanne chứng thực là cô nhận được mặc khải từ Chúa muốn cô giải phóng quê hương mình từ ách thống trị của người Anh trong cuộc Chiến tranh trăm năm. Vua Charles VII của Pháp, khi đó còn chưa lên ngôi, gửi cô cùng một đoàn quân đến đánh giải vây cho thành Orléans. Cô trở nên nổi bật sau khi vượt qua được thái độ coi thường của các chỉ huy dày dặn kinh nghiệm, và phá vây chỉ trong vòng chín ngày. Một loạt chiến thắng chóng vánh khác mở đường cho việc Charles VII đăng quang tại Reims.Jeanne d’Arc tiếp tục là một hình tượng quan trọng trong nền văn minh phương Tây. Kể từ thời Napoléon cho tới thời hiện đại, các nhà chính trị Pháp thuộc tất cả các nhóm chính kiến tiếp tục gợi đến hình ảnh cô. Trong số các nhà văn và nhà soạn nhạc viết các tác phẩm về cô có thể kể đến Shakespeare, Voltaire, Schiller, Verdi, Tchaikovsky, Twain, và Shaw. Hình tượng cô tiếp tục được sử dụng trong phim ảnh, truyền thông, ca nhạc, múa hát…

Nước Pháp trong cuộc Chiến tranh Trăm năm

Vào thời Jeanne d’Arc, nước Pháp đang trong tình trạng thê thảm. Cuộc chiến tranh trăm năm bắt đầu từ năm 1337 khi cuộc tranh cãi về quyền thừa kế ngai vàng nước Pháp nổ ra, xen lẫn với các giai đoạn tương đối yên bình. Gần như tất cả các cuộc giao tranh đều diễn ra trên nước Pháp. Người Anh sử dụng chiến thuật chevauchée, tức chiến thuật dùng các cánh quân kỵ binh nhỏ đột kích, đốt phá, tàn sát để tàn phá nước Pháp. Dân số Pháp chưa kịp hồi phục sau nạn Đại dịch hạch từ thế kỷ trước, thương mại bị cắt đứt khỏi thị trường nước ngoài. Người Anh lúc đó đã gần như đạt được mục tiêu của mình nhằm thiết lập một hệ thống lưỡng đầu chế, dưới quyền điều khiển của người Anh, ngược lại quân Pháp chưa bao giờ giành được một chiến thắng đáng kể nào trong suốt cả một thế hệ. Theo lời sử gia DeVries, “vương quốc Pháp không còn đáng là cái bóng của chính nó ở thế kỷ mười ba.”Vị vua trị vì nước Pháp khi Joan ra đời là Charles VI, thỉnh thoảng lại lên cơn điên, nên không thể trị vì được. Em trai nhà vua, Công tước Louis xứ Orléans và em họ vua Jean sans Peur, Công tước xứ Burgundy, tranh giành ngôi nhiếp chính nước Pháp và quyền bảo trợ cho con cái nhà vua. Cuộc tranh giành này dẫn tới việc họ buộc tội Hoàng hậu Isabeau xứ Bavaria ngoại tình, và bắt cóc con cái nhà vua. Đỉnh điểm của cuộc xung đột diễn ra khi Công tước xứ Burgundy hạ lệnh cho người ám sát Công tước xứ Orléans năm 1407.Những người ủng hộ hai phe này được gọi là phe Armagnac và phe Burgundy. Lợi dụng tình hình rối ren, vua Anh là Henry V xâm lược Pháp rồi chiến thắng oanh liệt trong trận Agincourt năm 1415, đánh chiếm các thành phố ở miền bắc nước Pháp. Vị vua tương lai của nước Pháp, Charles VII, thụ phong danh hiệu Dauphin ( thái tử Pháp) khi mới 14 tuổi, vì cả bốn anh trai của ông đều đã qua đời trước đó. Hành động quan trọng đầu tiên của ông là ký hiệp ước hòa bình với phe Burgundy năm 1419. Nhưng nỗ lực này thất bại khi những người ủng hộ phe Armagnac đã chà trộn vào người của ông và ám sát John Dũng cảm trong buổi họp mặt ( thực ra thì ông đâu có lợi lộc gì khi ám sát chú mình ), dù Charles đã hứa bảo đảm an toàn cho ông. Vị công tước mới xứ Burgundy, Philippe le Bon, buộc Charles phải chịu trách nhiệm cho sự phản trắc này và liên minh với người Anh, với kết quả là một phần lớn lãnh thổ của Pháp bị người Anh chiếm mất.Năm 1420, Hoàng hậu Isabeau xứ Bavaria ký Hiệp ước Troyes, theo đó vua Henry V nước Anh và con cháu của ông được kế vị ngai vàng nước Pháp, thay cho con trai bà là Charles. Thỏa thuận này làm sống lại lời đồn đại là bà có quan hệ tình ái với vị Công tước xứ Orléans đã mất, và khiến người ta nghi ngờ vị Thái tử “Dauphin” là con hoang, chứ không phải con nhà vua. Henry V và Charles VI chết chỉ cách nhau hai tháng năm 1422, để lại một đứa con nhỏ, Henry VI của Anh, vua trên danh nghĩa của cả hai vương quốc. Em trai Henry V, John xứ Lancaster, Quận công Bedford đệ nhất làm nhiếp chính.

Kể từ năm 1429, gần như toàn bộ miền bắc nước Pháp và một số vùng ở vùng tây nam bị ngoại bang chiếm đóng. Người Anh cai quản Paris, trong khi người Burgundy giữ Reims. Thành phố này rất quan trọng, vì nó theo truyền thống là nơi đăng quang của các nhà vua Pháp, đặc biệt khi cả hai nhân vật tranh giành ngai vàng nước Pháp đều chưa được đăng quang làm vua. Người Anh lúc đó đang tiến hành cuộc vây hãm Orléans, thành phố duy nhất ở phía bắc sông Loire còn trung thành với triều đình Pháp. Nó có vị trí chiến lược án ngữ dòng sông, là lá chắn cho trung tâm của nước Pháp. Theo lời các sử gia hiện đại, “số mệnh vương quốc treo trên đầu thành phố Orléans.” Không ai tin tưởng thành phố có thể kháng cự được trong một thời gian dài nữa.

Cuộc đời và sự nghiệp

Joan là con ông Jacques d’Arc và bà Isabelle Romée tại Domrémy, một làng khi đó thuộc lãnh địa quận công xứ Bar (về sau nhập vào tỉnh Lorraine và đổi thành Domrémy-la-Pucelle). Cha mẹ cô sở hữu 50 mẫu đất (0.2 km2) và để thêm thu nhập cha cô còn làm viên chức thu thuế trong làng, cũng như chỉ huy đội dân quân của làng mình. Họ sống tại một vùng đất hẻo lánh thuộc vùng đông bắc còn trung thành với triều đình Pháp, dù nằm lọt thỏm trong lãnh địa của phe Burgundy. Khi cô còn nhỏ, thỉnh thoảng làng của cô bị đột kích và đốt phá.

Joan cho biết cô 19 tuổi khi phiên tòa xử cô diễn ra, như vậy cô sinh năm 1412; cô sau này cho biết cô nhận được thiên khải đầu tiên vào khoảng năm 1424 lúc 12 tuổi, khi đó cô đang ở ngoài đồng một mình thì nghe thấy tiếng nói (của thiên sứ). Cô thuật lại là đã òa lên khóc khi họ biến mất vì họ quá sức đẹp đẽ. Cô cho biết Tổng thiên sứ Michael, nữ Thánh Catherine xứ Alexandria, và nữ Thánh Đồng trinh Margaret truyền cho cô đánh đuổi người Anh và đưa nhà Dauphin đến Reims để lên ngôi vua.

Khi 16 tuổi, cô nhờ một người họ hàng, Durand Lassois, đưa cô đến Vaucouleurs để thỉnh cầu viên chỉ huy quân Pháp đồn trú tại đó là Bá tước Robert de Baudricourt cho phép tiếp kiến triều đình Pháp tại Chinon. Bá tước Baudricourt chế giễu cô, nhưng không làm cô nhụt chí. Tới tháng 1, cô lại quay trở lại và lần này được hai nhân vật quan trọng ủng hộ là Jean de Metz và Bertrand de Poulengy. Nhờ được họ bảo trợ, cô được gặp Bá tước lần thứ hai và tiên đoán hết sức chính xác về việc quân Pháp thất trận Herrings ở gần Orléans.

Thành công

Robert de Baudricourt cấp một toán quân bảo vệ để đưa cô đến Chinon, sau khi nhận được tin tức từ mặt trận xác nhận lời tiên đoán của cô trước đó. Cô băng qua lãnh địa của phe đối nghịch Burgundy bằng cách ăn mặc giả trai. Tới triều đình, cô gây ấn tượng trong buổi hội đàm kín đến mức Charles VII phải hết sức kinh ngạc. Ông sau đó cho người thẩm tra lý lịch và giáo lý cô tại Poitiers. Cùng lúc đó, mẹ vợ Charles là Yolande xứ Aragon bỏ tiền ra để tài trợ cho một đạo quân đi cứu viện Orléans. Joan thỉnh cầu được gia nhập đoàn quân và vũ trang như một hiệp sỹ, với áo giáp trắng, ngựa, cờ, thị đồng đều do người ta quyên góp. Sử gia Stephen W. Richey cho biết cô là niềm hy vọng duy nhất của cả một vương triều sắp sụp đổ:

“ Sau bao năm thua hết trận này đến trận khác, các lãnh đạo quân sự và dân sự của Pháp đã mất hết tinh thần và uy tín. Lúc mà Dauphin Charles chấp thuận đề nghị khẩn thiết của Joan được phép vũ trang và chỉ huy quân đội, ông hẳn hiểu rằng tất cả mọi phương sách thông thường và hợp lý khác đều đã thất bại. Chỉ có một vương triều ở thế tuyệt vọng cùng cực mới lắng nghe một cô thôn nữ thất học tự xưng mình là sứ giả của Thượng Đế truyền cho mình lãnh đạo quân đội để giành chiến thắng.”

“Hỡi Nhà vua nước Anh, và ngươi, Quận công Bedford, người tự xưng là nhiếp chính nước Pháp… hãy trả món nợ của các người cho Thượng Đế; trả lại cho người Thiếu nữ, chìa khóa tất cả các thành phố Pháp tươi đẹp mà các người đã xâm phạm.”
Thư gửi cho người Anh, tháng3-4 năm 1429;

Cô đến Orléans ngày 29 tháng 4 năm 1429, nhưng Jean de Dunois (tức Jean d’Orléans), trưởng dòng công tước xứ Orléans, ban đầu không để cô tham gia họp trong hội đồng quân sự, và cũng không thông báo cho cô biết khi quân Pháp giao chiến với địch quân. Tuy nhiên việc này không ngăn cản được cô có mặt tại hầu hết các cuộc họp và các trận giao tranh. Người ta vẫn còn tranh cãi về ảnh hưởng và quyền chỉ huy trên thực tế của cô, với các sử gia truyền thống như Édouard Perroy cho rằng cô chỉ có ý nghĩa tượng trưng, mang lại hiệu quả tinh thần là chính. Tuy nhiên sự phân tích này dựa trên bản chép phiên toà xét xử cô, khi cô tuyên bố ưa cầm cờ hơn là cầm kiếm. Các học giả hiện đại tập trung vào phiên toà phục hồi danh dự của cô, nhấn mạnh là các sỹ quan tùy tùng rất khâm phục cô như một chiến thuật gia cừ khôi và là một nhà chiến lược giỏi. Ví dụ như Stephen W. Richey cho biết: “Cô dẫn quân đội đến một loạt chiến thắng ngoạn mục, xoay chiều cuộc chiến.” Dù thế nào đi chăng nữa, các sử gia cũng đồng ý là quân Pháp giành được nhiều thắng lợi vang dội trong thời kỳ sự nghiệp ngắn ngủi của cô.

Chiến tranh xoay chiều

Cô không lặp lại chiến thuật khi đó của các chỉ huy Pháp vốn tỏ ra quá thận trọng. Trong vòng 5 tháng bị vây hãm, quân Pháp chỉ đột kích có đúng một lần, và thất bại thảm hại. Tới ngày 4 tháng 5, quân Pháp công kích và đánh chiếm được tòa thành ngoại vi Saint Loup. Thừa thắng, cô cho quân tiến đánh pháo đài thứ hai, gọi là Saint Jean le Blanc. Pháo đài này hóa ra bị bỏ trống, nên quân Pháp giành được thắng lợi mà chẳng bị tổn thất gì. Ngày tiếp theo, trong cuộc họp hội đồng quân sự, cô bác lại kế hoạch của Jean d’Orleans và đòi tiến hành một cuộc đột kích nữa vào địch quân. Jean D’Orleans hạ lệnh khóa cửa thành lại để ngăn không cho cô giao chiến với quân địch, nhưng cô triệu tập dân chúng và binh sỹ lại và đòi thị trưởng phải mở cửa thành. Chỉ có một viên đại úy ( La Hire) hỗ trợ, cô dẫn quân tiến ra và đánh chiếm pháo đài Saint Augustins. Trong tối đó, cô được tin mình đã bị loại ra khỏi hội đồng quân sự, và các chỉ huy hội đồng đã quyết định chờ viện quân trước khi tiếp tục giao tranh. Bất chấp quyết định đó, cô vẫn cương quyết đòi tấn công cứ điểm chính của quân Anh là “les Tourelles” ngày 7 tháng 5. Người đương thời ghi nhận sự anh hùng của cô trong trận chiến, dù trúng một mũi tên vào cổ, cô vẫn quay trở lại chiến trường để dẫn quân xông lên trong đợt xung phong cuối cùng và hạ được công sự này

Joan of d’Arc đốc thúc quân Pháp tấn công cứ điểm les Tourelles của Anh

“…hỡi dân chúng, trong tám ngày, người Thiếu nữ đã đánh đuổi quân Anh khỏi tất cả các đồn lũy của chúng bên bờ sông Loire bằng cách này hay cách khác: chúng hoặc chết hoặc bị bắt, hoặc phải tháo lui trên chiến trường. Những gì các bạn được nghe về bá tước Suffolk, huân tước la Pole cùng em trai, huân tước Talbot, huân tước Scales, và hiệp sỹ Fastolf đều là sự thật; chúng ta đã đánh bại còn nhiều hiệp sỹ và chỉ huy hơn thế nữa.”

Thư gửi dân chúng Tournai, 25 tháng 6 năm 1429;Chiến thắng bất ngờ tại Orléans làm quân Pháp phấn chấn, rất nhiều người muốn tiến hành chiến dịch phản công quân Anh. Quân Anh dự tính quân Pháp có lẽ sẽ tìm cách đánh chiếm Paris hoặc mở cuộc tấn công vào Normandy. Sau chiến thắng tại Orleans, cô thuyết phục Charles VII giao quyền đồng chỉ huy quân đội cho cô và Công tước John II xứ Alençon và được nhà vua chấp thuận cho phép cô đánh chiếm các cây cầu bắc qua sông Loire để chuẩn bị tiến đánh Reims. Đây là một kế hoạch táo bạo, vì Reims nằm cách xa gấp đôi Paris, sâu trong lãnh thổ đối phương.

Quân Pháp tái chiếm Jargeau ngày 12 tháng 6, đánh thắng trận Meung-sur-Loire ngày 15, rồi trận Beaugency ngày 17. Công tước Alençon chấp thuận tất cả các đề xuất của Joan. Các chỉ huy khác, bao gồm cả Jean d’Orléans vốn đã hết sức khâm phục cô kể từ trận Orléans, nay trở thành những người nhiệt thành ủng hộ cô. Alençon ghi công cô cứu mạng tại Jargeau, khi cô cảnh báo ông về một cuộc pháo kích bằng súng đại bác. Cũng trong trận này, cô trúng một phát đạn súng tay bằng đá vào mũ sắt khi đang leo lên thang công thành. Một đạo quân Anh cứu viện bất ngờ xuất hiện ngày 18 tháng 6 dưới quyền chỉ huy của Hầu tước John Fastolf. Trận Patay diễn ra và quân Pháp đại thắng, chiến thắng này có thể coi là bản sao ngược của trận Agincourt. Tiền quân Pháp xung trận trước khi xạ thủ Anh dùng trường cung kịp chuẩn bị trận địa phòng ngự, kết quả là quân Anh bị đánh tơi bời, rút chạy toán loạn. Quân Pháp truy kích và tiêu diệt phần lớn đạo quân này, phần lớn sỹ quan chỉ huy quân Anh bị bắt sống. Hầu tước Fastolf chạy thoát với một dúm quân và trở thành một con dê tế thần cho người Anh trút mối nhục chiến bại. Quân Pháp thắng trận với chỉ tổn thất chỉ 100 kị binh.Quân Pháp xuất phát từ Gien-sur-Loire, hướng về Reims ngày 29 tháng 6, chấp nhận đầu hàng từ thành phố Auxerre do phe Burgundy giữ ngày 3 tháng 7. Tất cả các thị trấn nằm trên đường tiến quân của họ đều hạ vũ khí quay về với vua Pháp. Thành Troyes, nơi ký kết hiệp định tước quyền thừa kế của Charles VII, qui hàng sau khi bị vây hãm có bốn ngày mà không cần giao chiến. Quân Pháp lúc tiến tới Troyes thì thiếu lương thực trầm trọng. Edward Lucie-Smith dùng việc này như một ví dụ rằng Joan may hơn khôn: trước đó một vị thày tu lang thang tên là Tu sỹ Richard thuyết giáo về sự tận thế tại Troyes và thuyết phục dân chúng trồng đậu là một thứ cây lương thực ngắn ngày. Đạo quân đói khát đến nơi khi đậu vừa kịp thu hoạch.”Hoàng thân xứ Burgundy, tôi cầu nguyện ngài — tôi khẩn khoản cầu xin ngày – ngừng chiến với vương quốc Pháp thiêng liêng. Xin hãy nhanh chóng rút binh lính của ngài tại một số đất đai và pháo đài trong vương quốc, và nhân danh nhà vua nhân từ của Pháp, tôi thông báo nhà vua đã sẵn sàng lấy danh dự ra để đảm bảo hòa bình với ngài.”- ”Thư gửi cho Philip Tốt bụng, Công tước Burgundy

Thành Reims mở cổng đầu hàng ngày 6 tháng 7. Sáng hôm sau, buổi lễ lên ngôi vua bắt đầu. Dù cả Joan và công tước Alençon thúc giục nhà vua cho tiến đánh Paris gấp, nhưng triều đình lại muốn đàm phán ngưng chiến với công tước Burgundy. Công tước Philip Tốt bụng vi phạm thỏa thuận giữa hai bên, dùng nó để kéo dài thời gian và tăng viện cho Paris. Quân Pháp trong lúc đó hành binh và tiếp tục nhận thêm các thành phố gần Paris đầu hàng. Quận công Bedford tập hợp một đạo quân Anh tiến ra chặn giữ quân Pháp ngày 15 tháng 8. Tới ngày 8 tháng 9, quân Pháp bắt đầu công phá Paris. Dù bị trúng một mũi tên vào chân, nhưng Joan tiếp tục chỉ huy binh sỹ cho tới khi giao tranh kết thúc khi trời tối. Ngày hôm sau, cô nhận được lệnh từ triều đình hạ lệnh ngưng chiến và rút quân. Phần lớn sử gia đổ lỗi cho tể tướng Pháp là Georges de la Trémoille đã phạm phải nhiều sai lầm chính trị tai hại kể từ sau lễ đăng quang của nhà vua Pháp.

Bị cầm tù

Sau một trận giao chiến nhỏ tại La-Charité-sur-Loire trong tháng 11 và 12, Joan đến Compiègne trong tháng 4 để bảo vệ thành phố chống lại quân Anh và Burgundy vây hãm. Cô bị bắt sống trong một trận chạm trán ngày 23 tháng 5 năm 1430. Khi hạ lệnh rút lui, cô là người rút cuối cùng để đoạn hậu, quân Burgundy vây bọc toán quân đoạn hậu của cô.”Sự thật là nhà vua đã hưu chiến với công tước xứ Burgundy trong 15 ngày, và công tước phải giao lại Paris sau khi hạn 15 ngày chấm dứt. Nhưng các bạn chớ có ngạc nhiên nếu như tôi không nhanh chóng tiến quân vào thành phố đó. Tôi chưa hài lòng với các cuộc hưu chiến, và không chắc rằng tôi sẽ chấp nhận chúng, nhưng nếu tôi chấp thuận hưu chiến, thì đó chỉ là để bảo toàn danh dự cho nhà vua: dù họ có xâm phạm hoàng gia như thế nào đi chăng nữa, thì tôi cũng sẽ duy trì quân đội đề phòng trường hợp họ không tôn trọng hòa bình sau 15 ngày.”
“Thư gửi nhân dân Reims, 5 tháng 8 năm 1429″Sau khi Joan d’Arc bị bắt, các tướng lĩnh và sỹ quan của cô như đại úy la Hire, Công tước Alencon, Jean de Rais… đã tổ chức một đội giải cứu đông đến 4.000 tình nguyện viên ( lúc này chỉ có Hoàng gia mới có tiền để mộ quân) để tấn công vào Vermandois và giải cứu cho cô nhưng trận chiến đã thất bại. Ấm ức vì thái độ vô ơn của Charles với Joan d’Arc, một loạt các tướng lĩnh đã tỏ ra bất phục nhà vua, ví dụ Jean de Rais đang là một Nguyên soái đã bỏ về nhà mình ( Ông này sau bị kết tội là yêu râu xanh), Công tước Alencon-em họ của vua Pháp, sau cũng liên tục chống đối lại nhà vua và 2 lần bị kết tội tử hình nhưng được giảm án phải chết trong tù…

Theo lệ thường thì thân nhân có thể dùng tiền để chuộc lại tù binh. Không may là gia đình cô không có tiền. Nhiều sử gia lên tiếng chỉ trích vua Charles VII không làm gì cả để can thiệp. Cô mấy lần định vượt ngục, có lần nhảy từ tòa tháp cao 70 bộ (21 m) ở Vermandois xuống một cái hào khô, rồi sau đó bị chuyển đến thị trân Arras do quân Burgundy kiểm soát. Người Anh mua lại cô từ tay của Công tước Philip xứ Burgundy. Giám mục Pierre Cauchon xứ Beauvais, một người thân Anh, đóng vai trò chính trong việc đàm phán mua lại cô và trong phiên tòa xét xử cô sau này.Phiên tòa xét xửTòa án dị giáo này được thúc đẩy bởi lý do chính trị. Công tước Bedford thay mặt cho cháu trai của mình là Henry VI tranh giành ngai vàng của nước Pháp. Joan là người đã trợ giúp cho việc đăng quang của vị vua đối nghịch, do đó việc kết tội cô là một nỗ lực nhằm hạ bệ tính hợp pháp của lễ đăng quang của vua Charles VII. Các thủ tục pháp lý đã được tiền hành từ ngày 9 tháng 1 năm 1431 tại Rouen, thuộc khu vực kiểm soát của chính quyền Anh. Vụ xét xử này có một số điểm bất thường.Tóm tắt một vài vấn đề chính như sau:

Theo luật của Giáo hội, Giám mục Cauchon thiếu thẩm quyền xét xử trường hợp này. Ngài được bổ nhiệm xét xử nhờ sự chống đỡ thiên vị của chính quyền Anh, và chính quyền Anh đã tài trợ cho cuộc xét xử này. Giáo sĩ công chứng viên Nicolas Bailly được bổ nhiệm đi thu thập lời chứng chống lại Joan nhưng đã không thể tìm thấy bất kỳ chứng cứ chống đối nào. Tòa án đã mở cuộc xét xử mà không hề có chứng cứ nào như thế. Tòa án cũng vi phạm luật của Giáo hội khi từ chối quyền được có cố vấn pháp lý của Joan. Trong cuộc thẩm tra công khai đầu tiên, Joan tố cáo rằng tất cả những người hiện diện lúc đó đều là những người theo phe Anh chống lại cô, và yêu cầu phải có những giáo sĩ của phía Pháp được mời.

Nhiều viên chức tòa án sau này đã làm chứng rằng những phần quan trọng của bản ghi chép đã được sửa đổi nhằm chống lại cô. Nhiều giáo sĩ đã bị cưỡng bức tham gia, trong đó có cả quan tòa Jean Le Maitre, thậm chí một số người còn bị chính quyền Anh đe dọa giết. Theo những hướng dẫn dành cho tòa án dị giáo thì Joan phải được nhốt trong một nơi giam giữ thuộc Giáo hội dưới sự trông nom của những người canh gác thuộc nữ giới, nghĩa là các nữ tu. Nhưng không, chính quyền Anh đã giữ cô trong một nhà tù thế tục được canh gác bởi những người lính của họ. Giám mục Cauchon đã từ chối đơn kháng án của Joan lên Hội đồng Basel và Giáo hoàng vì điều này có thể ngừng việc xét xử của ông.

Mười hai lời buộc tội tóm tắt bản tuyên án của tòa mâu thuẫn với hồ sơ tòa án đã bị sửa đổi. Bị cáo mù chữ dưới áp lực bị đe dọa tử hình ngay lập tức đã ký vào một văn kiện tuyên bố bội giáo mà cô không hiểu. Tòa án đã thay thế một lời tuyên bố bội giáo khác trong hồ sơ chính thức.

Bị hành quyết

Tội dị giáo chỉ bị kết án tử hình nếu đương sự liên tục phạm tội. Thoạt đầu Joan chấp nhận mặc quần áo phụ nữ, nhưng trong khi bị giam cầm, cô đã bị quấy rối tình dục. Vì thế nên cô mặc lại quần áo đàn ông để tự vệ khỏi bị quấy nhiễu, hoặc là theo lời chứng của Jean Massieu, vì quần áo của cô bị lấy trộm và cô không có đồ gì khác để mặc.

Các nhân chứng kể lại cuộc hành quyết bằng cách thiêu sống trên dàn thiêu ngày 30 tháng 5 năm 1431. Bị trói trên một cây cọc cao tại Vieux-Marche ở Rouen, cô xin hai vị giáo sỹ, linh mục Martin Ladvenu và linh mục Isambart de la Pierre, nâng cây thánh giá trước mặt mình. Một người nông dân cũng làm một cây thập tự nhỏ mà cô dùng để gài trước áo. Sau khi cô chết, người Anh gạt đống tro ra, để lộ thân xác cháy thiêu của cô, để không ai có thể cho là cô đã trốn thoát, rồi lại đốt thi thể cô hai lần nữa để biến nó thành tro bụi, sao cho không ai có thể thu thập được mảnh thân xác nào làm thánh tích. Họ ném tro bụi xác cô xuống sông Seine. Viên đao phủ, Geoffroy Therage, về sau nói là ông ta “…khiếp sợ sẽ bị đày xuống địa ngục.”

Phục hồi danh dự

Philippe-Alexandre Le Brun de Charmettes là sử gia đầu tiên viết một cuốn sách hoàn chỉnh về Joan d’Arc năm 1817, trong nỗ lực nhằm khôi phục danh tiếng của gia đình cô. Ông trở nên quan tâm về Joan khi nước Pháp vẫn còn phải nỗ lực tìm bản sắc của mình sau cuộc Cách mạng Pháp chiến tranh Napoleon. Đặc trưng quốc gia của Pháp khi ấy là tìm kiếm một anh hùng chân chính, không có tai tiếng. Với tư cách một người ủng hộ nhiệt thành nhà vua và đất nước, Joan d’Arc là một hình mẫu có thể chấp nhận được với những người theo đường lối bảo hoàng. Là một người yêu nước và là con gái của một gia đình bình dân, cô được xem như hình tượng ban đầu của những chiến sỹ tình nguyện thuộc tầng lớp dưới đáy của xã hội, (the soldats de l’an II), những người đã anh dũng chiến đấu và chiến thắng cho cuộc cách mạng Pháp năm 1802, và như vậy có thể được xem như hình tượng của một người Cộng hòa. Là một người tử vì đạo, cô rất được lòng giới giáo dân Công giáo mộ đạo. Cô được phong Thánh năm 1920 bởi Đức giáo hoàng Bênêdictô XV. Cuốn Orleanide của De Charmette, ngày nay đã bị quên lãng, là một ví dụ về việc người ta tạo ra một “đặc trưng quốc gia”, giống như các nhà văn Virgil (với cuốn Aeneid), hay Camoens (cuốn Lusiad) đã làm cho La Mã và Bồ Đào Nha.

Đoạn kết cuộc chiến

Cuộc chiến tranh trăm năm còn tiếp tục kéo dài thêm 22 năm kể từ ngày cô mất. Charles VII giữ được địa vị vua chính thống của Pháp, dù phe đối địch với ông làm lễ đăng quang cho Henry VI tháng 12 năm 1431, khi cậu bé tròn 10 tuổi. Trước khi nước Anh kịp tái tổ chức lực lượng chỉ huy và đạo quân cung thủ dùng trường cung, bị tiêu diệt năm 1429, họ mất đi đồng minh Burgundy sau Hòa ước Arras năm 1435. Quận công Bedford cũng qua đời cùng năm đó, và Henry VI trở thành vị vua thiếu niên trẻ nhất của Anh cai trị không có nhiếp chính, và sự non yếu của ông có lẽ là lý do quan trọng nhất khiến cuộc chiến chấm dứt. Sử gia Kelly DeVries cho rằng chiến thuật tấn công bằng đại bác và tập kích vỗ mặt mà Joan d’Arc sử dụng có ảnh hưởng đến chiến thuật mà quân Pháp sử dụng cho tới hết chiến tranh.

Minh oan và vinh danh

Joan d’Arc trở thành một nhân vật gần như huyền thoại trong suốt bốn thế kỷ tiếp theo. Nguồn thông tin chính về cô đến từ các bản kỷ yếu, năm bản chép tay về phiên tòa xét xử cô được tìm thấy trong đống tư liệu cổ vào thế kỷ 19. Không lâu sau đó, các sử gia tìm được toàn bộ bản ghi về phiên tòa minh oan cho cô, trong đó bao gồm lời chứng từ 115 nhân chứng, và nguyên bản tiếng Pháp của bản thảo tiếng Latin của phiên tòa xét xử cô. Nhiều bức thư đương thời cũng được tìm thấy, ba trong số đó mang chữ ký “Jehanne”, với nét chữ run run của một người đang tập viết. Nguồn tư liệu phong phú bất ngờ này là lý do để DeVries phải thốt lên, “Không có nhân vật nào từ thời Trung Cổ, đàn ông hay phụ nữ, lại được quan tâm nghiên cứu đến như thế”.

Joan d’Arc xuất thân từ một làng quê hẻo lánh, chỉ là một cô thôn nữ thất học mà nổi lên như một nhân vật xuất chúng khi còn chưa quá tuổi thiếu niên. Cuộc chiến tranh giành ngôi giữa vua Anh và vua Pháp dựa trên bộ luật Salic cổ kéo dài đằng đẳng, sự xuất hiện của cô mang lại ý nghĩa cho câu hỏi “Liệu có nên đuổi nhà vua khỏi vương quốc; và liệu chúng ta có trở thành người Anh?” Theo Stephen Richey, “Cô biến một cuộc chiến giành ngai vàng giữa hai triều đại, khiến nhân dân trở nên vô cảm vì mất mát, thành một cuộc chiến tranh ái quốc được nhân dân ủng hộ.” Theo Richey:

“Những người quan tâm đến cô trong suốt năm thế kỷ sau đó tìm cách gán cho cô đủ loại phẩm chất: cuồng tín ma quỉ, tâm linh huyền bí, ngây thơ và bị sử dụng một cách bi thảm bởi những kẻ có thế lực, người sáng lập và biểu tượng của chủ nghĩa ái quốc hiện đại, nữ anh hùng được yêu quí, nữ thánh. Cô kiên định, dù bị đe dọa tra tấn và chết trên giàn hỏa, rằng mình được dẫn dắt bởi giọng nói của Thượng Đế. Dù có thế nào đi chăng nữa, thành quả mà cô gặt hái được khiến người nghe không khỏi lắc đầu kinh ngạc.”

Năm 1452, trong một cuộc điều tra, Nhà Thờ tuyên bố một vở kịch tôn giáo để tưởng niệm cô tại Orléans có giá trị như một đặc ân hành hương tới đất thánh. Cô trở thành biểu tượng cho Liên minh Công giáo (Pháp) thời thế kỷ 16. Ngài Félix Dupanloup, Giám mục xứ Orléans từ 1849 tới 1878 là người đi đầu trong nỗ lực phong thánh cho cô, nhưng ông không còn sống để thấy điều đó trở thành hiện thực.

Lá cờ của chính phủ lưu vong của Charles de Gaulle thời Đệ nhị thế chiến. Phong trào kháng chiến Pháp sử dụng cây Thập tự Lorraine như biểu tượng gợi nhớ đến Joan of Arc.

Người Công giáo truyền thống tại Pháp và các nơi khác xem cô như biểu hiện của nguồn cảm hứng, và so sánh việc rút phép thông công  Marcel Lefebvre năm 1988 (người sáng lập ra Hội thánh Pius X và người bất đồng với các cải cách Vatican II) với việc cô bị rút phép thông công. Ba con tàu của Hải quân Pháp được đặt theo tên cô, gồm cả hàng không mẫu hạm cho máy bay trực thăng Jeanne d’Arc (R 97) nay vẫn còn hoạt động.

Jean II, Duke of Alençon

John II của Alençon (2 tháng Ba năm 1409, Château d’Argentan – 08 tháng 9 năm 1476, Paris) Con của John I của Alençon và Marie của Brittany. Ông đã thừa kế cha mình làm Công tước của Alençon và Bá tước của Perche vào năm 1415 khi còn là một cậu bé 6 tuổi, sau cái chết của cha mình trong trận Agincourt.Ông được trông thấy đã từng tham gia chiến đấu như một chiến binh trẻ tuổi trong trận Verneuil trong ngày 17 tháng Tám năm 1424 và bị bắt tù binh bởi người Anh. Ông bị giam giữ trong tù cho đến năm 1429, khi ông được phóng thích sau khi phải nộp một khoản tiền chuộc lớn, khoản tiền chuộc này đã làm cho ông chở nên nghèo khó và vùng đất công tước của ông nằm trong sự kiểm soát của người Anh. Trước khi ông bị bắt tại tù binh tại Verneuil, ông đã kết hôn với Jeanne của Valois, con gái của Charles, Công tước xứ Orleans và Isabella của Valois tại Blois, năm 1424, bà này qua đời năm 1432.Ngay sau khi được thả tự do, ông trở thành người ủng hộ cô nổi bật nhất trong số các hoàng thân cùng huyết thống với Hoàng gia Pháp. Ông trở thành một người bạn thân của Thánh nữ-người có biệt danh là “Công tước cao quý.” Ông đi cùng cô trên các chiến dịch của mình, bao gồm cả cuộc bao vây của Orleans. Sau đó ông được bổ nhiệm làm trung tướng của nhà vua và chiến đấu trên Loire cùng với Jeanne. Ngày 12 tháng 6 năm 1429, ông đã giành chiến thắng của Jargeau và chiếm được thành phố, và đã làm cho Bá tước Suffolk phải bỏ chạy khỏi. chiến thắng của ông cũng góp phần vào sự thành công của trận Patay. Ông tham gia vào cuộc hành quân đến Reims tháng Bảy, sau đó ngày 17 tháng 7 ông là một trong những hiệp sỹ của Charles VII trước khi ông này tham dự lễ đăng quang của mình.Bất chấp thỏa thuận ngừng bắn ký kết tại Compiegne với người Burgundy Alençon cho dựng trại vào mùa đông 1429-1430 để tiến hành các cuộc chinh phục tới Normandy, nhưng không thu được thành công, cũng như Jeanne đang bị bế tắc bởi sự trì hoãn của viên Tể tướng La Trémoille. Cay đắng, ông hiểu rằng ông không có gì để mong đợi từ La Trémoille và rời triều đình, và nhận làm Trung úy của Bá tước Vendome. Trong những tháng sau đó ông tham gia một cuộc chiến riêng rẽ chống lại Công quốc của Brittany. Ngày 30 tháng 4 năm 1437, tại Chateau L’Isle-Jourdain, Ông kết hôn với Marie của Armagnac (c. 1420-1425 tháng 7 năm 1473, Cloister Mortagne-au-Perche), con gái của Jean IV của Armagnac.John đã tỏ ra bất mãn với Hiệp ước Arras, vì đã từng hy vọng làm giảm cái nghèo của mình qua việc bắt ép người Burgundy ( kẻ thù của ông trong nội chiến Pháp ) phải nộp tiền. Ông đã có nhiều mâu thuẫn với Charles VII và tham gia vào một cuộc nổi dậy từ năm 1439-40, ( cuộc nổi dậy Praguerie) nhưng được nhà vua Pháp tha thứ. Ông tham gia vào cuộc tái chiếm Normandy trong năm 1449, ông cũng đã có những trao đổi liên lạc một cách hạn chế với người Anh 1440. (Ông đã chấp nhận danh hiệu Golden Fleece của người Anh vào lúc này.) Ngay sau khi đứng ra làm chứng tại cuộc ” phúc thẩm phục hồi danh dự” cho Joan của Arc trong 1456, ông đã bị bắt bởi Jean Dunois và bị giam cầm tại Aigues-Mortes. Năm 1458, ông bị kết án tội phản bội tổ quốc và bị kết án tử hình, bản án đã được giảm nhẹ và ông bị giam giữ tại Loches. Ông được phóng thích bởi Louis XI vào năm 1461 nhân dịp ông này mới đăng quang nhưng John từ chối công nhận nhà vua và vẫn tiếp tục bị cầm tù một lần nữa. Ông bị xử án lần thứ hai trước Nghị viện Paris và bị kết án tử hình một lần nữa vào ngày 18 tháng bảy năm 1474 và Công quốc của ông bị tịch thu. Tuy nhiên, bản án đã không được thực hiện, và ông đã chết trong tù tại cung điện Louvre năm 1476.

Jean de Dunois

John bastard của Orléans, Bá tước của Dunois, được sinh ra như là “John Levieux of Orleans” vào ngày 23 tháng 11 năm 1402, qua đời ngày 24 tháng 11 năm 1468 tại lâu đài Lay) là một trong những Đại úy của người Pháp trong Chiến tranh Trăm năm . Ông cũng là một đồng chí của Joan d’Arc.

Chân dung công tước Dunois-Con hoang của xứ OrleansÔng là con trai ngoài giá thú của Louis-Công tước xứ Orleans (1372-1407) và Mariette d’Enghien, con gái của Jacques d’Enghien. Ông là em trai cùng cha khác mẹ của Charles của Orleans. Ông lớn lên trong gia đình hợp pháp của cha mình, đặc biệt là trong những năm đầu đời và được nuôi dậy bởi một trong các bà vợ của Valentina Visconti (1366-1408)-Nữ bá tước của Vertus. Phong cách sống này là rất phổ biến trong các gia đình quý tộc lớn hay thuộc dòng dõi hoàng gia.

Ông thường được gọi là Bastard của Orleans-thằng con hoang của xứ Orleans ( thời gian này người ta không phân biệt nhiều lắm giữa con chính thức và con hoang ) và Dunois (viết tắt của Danh hiệu Bá tước của ông, từ khi ông nhận được nó).Từ năm 1422, Dunois chấp nhận nguyên nhân mà Charles VII bị tước đoạt mất vương quốc của mình sau Hiệp ước Troyes (1420) và chạy sang Bourges (vì thế có biệt danh “Vua của Bourges”). Ông sớm nổi bật bởi lòng can đảm của mình: ở tuổi 25 ông đã chiến đấu với 1600 người của mình, dưới chân bức tường của Montargis với 3000 quân Anh được chỉ huy bởi Lord Warwick, Lord Suffolk, và Sir John de la Pole.Ông là một người đồng chí của Joan d’Arc tại Chinon và tham gia với cô trong nhiều trận đánh. Cần lưu ý hoàn toàn là giai thoại, sự tương đồng của các biệt danh Maid of Orleans-của Joan d’Arc (do việc giải vây cho thành phố) và Bastard của Orleans (do uy tín của Dunois).Ông đã chia sẻ những giờ phút hiểm nguy và vinh quang cùng với Joan d’Arc ở dưới chân bức tường thành của Thành phố Orleans và có đóng góp to lớn vào chiến thắng Patay năm 1429. Ông lại làm cho mình nổi bật một lần nữa sau cái chết của Maid of Orleans, năm 1432 ông đã chiếm thành phố Chartres và Paris năm 1436 khi đang bị chiếm đóng bởi người Anh.Ông được tặng thưởng, danh hiệu Grand Chamberlain của Pháp với danh dự của một hoàng thân hợp pháp vào ngày 21 tháng 7 năm 1439. Sau đó ông gia nhập Hội đồng cố vấn của nhà vua, được hỗ trợ bởi Nữ hoàng Yolande hùng mạnh của xứ Aragon, mẹ vợ của nhà vua. Tuy nhiên, Dunois đã tỏ ra không hài lòng với việc có quá ít nỗ lực được thực hiện bởi Charles VII để tiến hành chuộc người anh trai cùng cha khác mẹ của mình-Charles của Orleans, một tù nhân đang nằm trong tay người Anh kể từ trận Azincourt ( khổ quá vì lý do nếu Charles VII là con hoang thì Charles của Orleans mới xứng đáng làm vua nên ông này phải rũ tù trong tay người Anh là hay nhất ). Bởi vì bức xúc này, ông đã tham gia một âm mưu chống lại Georges Trémoille và Charles VII trong năm 1440 và tham gia vào cuộc nổi dậy Praguerie của các lãnh chúa phong kiến và cuộc nổi dậy này

​​cũng có cả sự tham gia của nhà Dauphin (vua Louis XI tương lai). Sau đó ông được ân xá bởi chính nhà vua Pháp. Ông tham gia vào các cuộc bao vây các thành phố Harfleur và Dieppe Gallardon. Năm 1444, nhà vua bổ nhiệm ông trung tướng của mình, đây là một vị trí cao nhất mà ông nắm giữ, ông đã trục xuất người Anh ra khỏi xứ Normandy sau chiến thắng Formigny, năm 1450 năm ông chinh phục đã chinh phục được xứ Guyenne, lúc này cũng đang bị chiếm đóng bởi người Anh.

Sau cái chết của Charles VII, Dunois cảm thấy không hài lòng với người kế vị ngai vàng, ông đã đứng về phe Liên minh vì hạnh phúc chúng sinh trong 1465 ( đây là Liên minh của các chư hầu phong kiến chống lại nhà vua Louis XI mới lên ngôi ). Trong cuộc bao vây của Paris, ông đã được tưởng thưởng chiến công của mình bằng tòa lâu đài castle of Beauty ở thủ đô mà ông đã ép được nó phải đầu hàng. Nhưng tòa lâu đài này lại bị đe dọa chiếm mất bởi các thuộc hạ của Louis XI. Ông tham gia đàm phán hiệp ước Conflans và được khôi phục quyền lợi, ông cũng chủ trì Hội đồng cải cách vì lợi ích dân chúng ( đương nhiên là các lãnh chúa phong kiến mị dân nên đặt tên kêu như vậy thôi ), và tham gia Hội đồng Ba mươi sáu. Sau khi hòa giải với Louis XI, ông đã sử dụng Hội đồng này như là một công cụ trung thành với hoàng gia.

Ông qua đời ngày 23 tháng 11 năm 1468 và được chôn cất tại nhà thờ Đức Bà Clery-Saint-André.

Gilles de Rais

Gilles de Montmorency-Laval, Tử tước de Rais (1404-1440) là một hiệp sĩ người Breton, một chỉ huy trong quân đội Pháp và là một đồng chí của Joan d’Arc. Ông được biết đến như một kẻ chuyên giết trẻ em ( Yêu râu xanh ). Có rất nhiều tranh cãi về tội lỗi lịch sử này; Một số người cho tằng ông bị khép tội bởi lý do chính trị.

Cuộc sống tuổi thơ

Joan d’Arc còn được minh oan, nhưng có vẻ như chẳng ai minh oan cho Gilles de Rais và người anh hùng của Pháp phải chết như một tên Yêu râu xanhGilles de Rais đã được sinh ra vào cuối năm 1404 bởi Guy II de Montmorency-Laval và Marie de Craon trong tòa lâu đài của gia đình ở Machecoul, hoặc theo các nguồn khác là tại Champtocé-sur-Loire, 35 dặm ở phía đông của Nantes. Ông từng là một đứa trẻ thông minh, nói thông thạo tiếng Latinh, có chữ viết rất đẹp và được giáo dục cả về kỷ luật quân sự, đạo đức và trí tuệ. Sau cái chết của cha và mẹ của ông năm 1415, Gilles và em trai của mình René de La Suze được đặt dưới sự giám hộ của Jean de Craon, ông ngoại của họ. Jean de Craon là người đã cố gắng sắp xếp một cuộc hôn nhân cho cậu bé Gilles mười hai tuổi với Jeanne Paynel bốn tuổi-một cô bé có của thừa kế giàu nhất Normandy, và, khi kế hoạch thất bại, ông lại cố gắng không thành công để kết hợp cậu bé với Beatrice de Rohan, cháu gái của Công tước xứ Brittany. Tuy nhiên vào ngày 30 tháng 11 năm 1420, Craon đã làm tăng đáng kể tài sản cháu trai của mình bằng cách cho cậu bé kết hôn với Catherine de Thouars của Brittany, nữ thừa kế của La Vendée và Poitou. Người con của họ Marie được sinh ra trong năm 1429.

Sự nghiệp quân sự Trong những năm sau của chiến tranh Kế thừa Breton, Gilles mới mười sáu tuổi đã đứng ở phía phe của Công tước Brittany thuộc nhà Montfort để chống lại đối thủ được chỉ huy bởi Olivier de Blois, Bá tước của Penthièvre. phe Blois, người vẫn từ chối từ bỏ quyền lực của họ ở vùng Brittany, đã bắt công tước John V của Brittany làm tù nhân. Rais đã có thể giải cứu cho vị Công tước và được khen thưởng với khoản lãnh địa hào phóng và đã được quy đổi đổi thành quà tặng ở dạng tiền tệ.

Năm 1425, Rais được giới thiệu vào triều đình của Charles VII tại Saumur và học được cách cư xử lịch sự quý tộc từ nhà Dauphin. Trong các trận chiến tại Saint-Lô và Le Mans giữa các năm 1427 và 1429, Gilles đã cho thấy sự dũng cảm và tàn bạo của ông trong chiến đấu. Ở trận chiến Château của Lude, ông leo lên các bậc thang và tấn công hạ gục viên Đại úy người Anh. Ông lại một lần nữa lao vào tấn công các pháo đài của người Anh Rainefort (Rennefort) và lâu đài của Malice-sur-Sarthe, ở hạt Maine.

Từ 1427-1435, Rais phục vụ như là một chỉ huy trong quân đội Hoàng gia, tự phân biệt mình bằng cách cho thấy sự dũng cảm liều lĩnh trên chiến trường trong thời gian cuộc Chiến Trăm năm được tiếp tục. Năm 1429,. Ông đã chiến đấu cùng với Joan d’Arc trong một số các chiến dịch chống lại người Anh và Burgundy-đồng minh của họ. Ông đã có mặt cùng với Joan khi cuộc bao vây thành phố Orléans kết thúc. Vào chủ nhật ngày 17 tháng 7 năm 1429, Gilles được chọn là một trong bốn lãnh chúa được trao vinh dự mang bình đựng dầu thánh từ Tu viện Saint-Remy đến Notre-Dame de Reims để làm lễ xoa dầu thánh tấn phong Charles VII làm vua của Pháp. Trong cùng ngày, ông đã chính thức được phong làm Thống chế của quân đội Pháp.Ông lại tiếp tục làm cho mình trở nên nổi bật trong năm 1430, khi quyết định tấn công Melun và một năm sau khi triệt phá cuộc bao vây của người Anh vào Lagny-sur-Marne. Năm 1436 ông cùng Thống chế Pierre de Rieux dẫn đầu quân tiên phong của Pháp dưới sự tiết chế của Nguyên soái Richemont. Đây là đội quân đi đến Sille-le-Guillaume ở Maine để giao chiến với quân Anh.

Etienne de Vignolles – Đại úy la Hire

Etienne de Vignolles, còn được gọi là “The Hire” (Vignoles, 1390 – Montauban, ngày 11 Tháng Một năm 1443), là một chỉ huy người Pháp trong Chiến tranh Trăm năm.

Chân dung của La Hire thường được mô tả như là một chiến binh xù xì và thô lỗÔng có biệt danh của mình trên chiến trường bởi bản tính bạo lực và bản tính hay tức giận đã làm cho ông trở lên nổi tiếng (trong thực tế, ire trong tiếng Pháp vào thời điểm đó có nghĩa là sự tức giận).Gia huy của Đại úy La Hire, Charles đã tưởng thưởng cho La Hire vì chiến công của ông với danh hiệu Lord of Montmorillon

Trong dân gian Pháp ông chính là biểu tượng của quân bài Jack heart

La Hire tham gia chiến đấu lần đầu tiên ở Coucy để chống lại người Burgundy và quân Anh. Ba năm sau, ông quay trở lại chiến đấu, và giống như tất cả các binh sỹ khác của quân đội Pháp, chiến đấu để bảo vệ quê hương của họ trong trận Baugé. Kỹ năng của ông với thanh kiếm khiến ông trở nổi tiếng khắp nước Pháp và ông đã được chiêu mộ bởi Charles VII, người yêu cầu ông tham gia vào cuộc giải vây ở Orleans. Ông đã chấp nhận và vào năm 1429 để đến Orléans. Trận chiến đã cho thấy phía Pháp đã xuất hiện những anh hùng trong chiến đấu trong đó có Joan d’Arc và Jean de Poton Xaintrailles, đó là những người bạn rất gần gũi của Etienne. Trong cùng năm, ông là người có công lớn nhất trong những chiến thắng của người Pháp tại Patay Anh và Jargeau. Năm 1431, đến Rouen với một nỗ lực để cứu Joan d’Arc, nhưng nỗ lực đó đã thất bại thảm hại, vì bản thân ông rơi vào tay của người Anh. Ông đã cố gắng chốn tthoát để tiếp tục cuộc chiến và thu được nhiều thành công ở Dourdan tại Artois, trong Ile-de-France và cũng như trong Picardy. Anh trai của ông de-Amadoc Vignolles đã bị giết trong một con đường hầm ở Creil bởi John Talbot ( trong mùa xuân 1434). Ông đã giành được chiến thắng trong trận Gerbevoy (1435) Và kết quả là ông được phong làm Đại úy của vua Pháp ở vùng Normandy ( năm 1438). Ông đã giành được rất nhiều thắng lợi nhưng cũng bị thương nặng nhất trong trận chiến cuối cùng của mình, tuy nhiên ông vẫn qua khỏi và trở thành chỉ huy đội vệ sĩ riêng của vua Charles VII ở Montauban. Sau này ông bị ốm nặng và qua đời vì một một căn bệnh không rõ tên, có thể là hậu quả nghiêm trọng của một chấn thương trong chiến đấu. Ngôi mộ của ông là một ngôi mộ kiểu gisant ( Ngôi mộ có một bức tượng nằm ở mặt trước mô tả người đàn ông hay người phụ nữ được chôn cất ở đó) và nó đã bị phá hủy trong thời gian của cuộc Cách mạng Pháp.

Jean Poton de Xaintrailles

Poton Jean, Lord của Xaintrailles, một quý tộc của xứ Gascony, phụ trách đàn ngựa của vua, người quản lý Berry và cũng là người được ủy nhiệm vùng Limousin, ông đã tham gia vào Chiến tranh Trăm năm và cụ thể là đã tham dự trận Verneuil (1424).Gia huy Poton Jean de XaintraillesÔng đã được ghi nhận cho sự can đảm, sự táo bạo, lòng nhiệt thành của mình trong việc chống lại người Anh trong cuộc Chiến tranh Trăm năm. Bị bắt làm tù binh tại trận Cravant, ông đã được đổi lấy John Talbot của Anh. Hưởng ứng Joan d’Arc ngay từ khi cô mới xuất hiện, ông đã tham gia vào cuộc bao vây Orleans lần thứ hai, ông đã bị thương ở Patay và nỗ lực ép người Anh phải hủy bỏ cuộc bao vây Compiegne.

Cùng với Étienne de Vignolles (thường được gọi là La Hire), ông đã giành được chiến thắng trong trận Gerberoy nơi ông bắt tù binh Bá tước Arundel. Ông hoạt động rất tích cực trong các cuộc tái chinh phục xứ Normandy và Guyenne. Như một phần thưởng cho tất cả sự phục vụ trung thành của ông, vua Charles VII bổ nhiệm ông Nguyên soái của Pháp trong năm 1454 và phong thưởng cho ông ngôi làng St Macarius làm lãnh địa phong kiến.Tham gia EcorcheursSau lễ ký Hiệp ước hòa bình Arras, rất nhiều binh lính đánh thuê đã thành lập các băng đả.ng đôi khi đông đến hàng ngàn chiến binh và tổ chức cướp bóc dân lành: quân lột da. Poton Xaintrailles và người đồng chí của ông, Etienne de Vignolles cùng với các đại úy của Joan d’Arc đã công phá và cướp cướp bóc các vùng đất thuộc Hà Lan và Lorraine trong năm 1444.Vào ngày 26 tháng năm 1445 vua Charles phải công bố the Companies Ordinance đầu tiên cho quân đội để đảm bảo một cam kết lâu dài vĩnh viễn cho các cựu lính đánh thuê.Ông qua đời ở Trompette Chateau, Bordeaux ngày 07 tháng 10 năm 1461, mà không có con cái nối dõi. Theo văn bản di chúc của ông trong tiếng Gascon mà chúng tôi có trong tay. Ông để lại phần lớn các bất động sản của mình để làm công việc tôn giáo. Một số tài liệu của Nghị viện Pháp đã viết rằng: ” Xaintrailles là một trong những đại úy dũng cảm của vương quốc Pháp và là người cùng với La Hire đẩy lui được quân Anh.”

Giới thiệu một số chỉ huy hàng đầu của người Anh trong chiến tranh trăm năm-giai đoạn cuộc chiến của nhà Valois

Henry VI – Vua nước Anh

Henry VI (từ ngày 06 Tháng 12 1421 – đến ngày 21 Tháng 5 năm 1471) là vua của nước Anh từ năm 1422- đến1461 và một lần nữa từ năm 1470 đến 1471 và là người tranh chấp ngai vàng của nước Pháp từ năm 1422-1453. Cho đến năm 1437, triều đại của ông bị chi phối bởi nhiếp chính. Các tài liệu đương thời mô tả ông là yêu hòa bình và có đạo đức, không phù hợp với hoàn cảnh cuộc nội chiến đẫm máu còn được gọi là cuộc chiến Hoa hồng được bắt đầu trong thời trị vì của ông. Trong thời gian bị tâm thần ông đã được yêu cầu kết hô với Margaret-Nữ hoàng của Anjou, người nắm quyền kiểm soát vương quốc của ông và cũng góp phần vào sự sụp đổ của chính ông ta cũng như sự sụp đổ của Nhà Lancaster và sự gia tăng của Nhà York.

Thời thơ ấu của Henry VI

Henry là con duy nhất và là người thừa kế của vua Henry V của nước Anh ( người đã chiến thắng trong trận Azicourt trước quân Pháp ). Ông sinh ngày 6 tháng 12 năm 1421 tại Windsor và đã lên ngôi ở vua của nước Anh lúc mới chín tháng tuổi vào ngày 31 tháng 8 năm 1422 khi cha ông qua đời, do đó ông trở thành người thừa kế ngai vàng nước Anh trẻ tuổi nhất. Hai tháng sau, ngày 21 Tháng Mười năm 1422, ông trở thành vua của nước Pháp sau cái chết của Charles VI-ông ngoại của ông như theo điều khoản của Hiệp ước Troyes năm 1420. Catherine de Valois-mẹ của ông lúc đó mới 20 tuổi và là con gái của Charles VI, đã bị nghi kị một cách nghiêm trọng bởi các quý tộc Anh và điều này đã ngăn cản việc bà có một vai trò đầy đủ trong việc nuôi dạy con trai mình.

Ngày 28 Tháng 9, 1423, các quý tộc đã thề trung thành với Henry VI. Họ triệu tập Nghị viện nhân danh nhà vua và thành lập một hội đồng nhiếp chính cho đến khi vua nên đến tuổi trưởng thành. Một trong những người anh em còn sống sót của Henry V- John, Công tước xứ Bedford, được bổ nhiệm làm quan nhiếp chính chuyên phụ trách cuộc chiến tranh đang diễn ra tại Pháp. Trong khi Bedford vắng mặt, chính phủ Anh được điều hành bởi Humphrey, Công tước xứ Gloucester-người anh em trai còn sống sót khác của Henry V, ông này được bổ nhiệm nhiệm vụ bảo vệ vương quốc và chế độ. Nhiệm vụ của ông bị hạn chế trong việc gìn giữ hòa bình và triệu tập Nghị viện. Henry Beaufort, Đức Giám mục của Winchester (sau 1426 nhậm chức Đức Hồng Y Giáo Chủ)-một người chú họ xa của Henry, có một vị trí quan trọng tại Hội đồng nhiếp chính. Sau khi Công tước Bedford qua đời vào năm 1435, Công tước xứ Gloucester tuyên bố mình là Nhiếp chính vương, nhưng đã vấp tranh cãi bởi các thành viên khác của Hội đồng nhiếp chính.

Từ 1428, gia sư của Henry là Richard de Beauchamp, Bá tước của Warwick, người có cha là nhân vật chủ chốt trong cuộc đảo chính chống lại sự cai trị của vua Richard II ( con trai của Hoàng tử Đen ).

Edmund và Jasper-những người anh em cùng cha khác mẹ của Henry VI, những người con trai trong cuộc tình của người mẹ góa chồng của ông với Owen Tudor, sau này được phong những lãnh địa công quốc. Edmund Tudor là cha của Henry Tudor-người sau đó lên ngôi vua như là Henry VII của Anh quốc ( trâu bò húc nhau ruồi muỗi được, nhà Lancaster và nhà York đều toi, nhà tudor hưởng phước ).

Phản ứng trước buổi đăng quang của Charles VII Valois làm Vua của Pháp ở nhà thờ Reims vào ngày 17 tháng Bảy năm 1429, Henry đã ngay lập tức đăng quang lên ngôi vua Anh trước tuổi tại Westminster Abbey vào ngày 6 Tháng 11 năm 1429, sau đó lễ đăng quang của ông như là vua của Pháp được tiến hành tại Notre Dame de Paris vào ngày 16 Tháng 12 năm 1431, mặc dù phải đến một tháng trước ngày sinh nhật thứ mười sáu của ông tức là ngày 13 Tháng 11 năm 1437 thì ông mới có được một số quyền điều hành độc lập, trước khi cuối cùng nhận được đầy đủ các quyền hạn của hoàng gia khi ông đủ tuổi trưởng thành.

Quản lý chính phủ và các chính sách tại nước Pháp

Henry đến tuổi trưởng thành vào năm 1437, trong cũng năm đó mẹ ông đã qua đời và ông được giao quyền quản lý chính phủ. Henry- một con người nhút nhát và đạo đức, không thích sự lừa dối và bạo lực đã ngay lập tức cho phép triều đình của mình bị ảnh hưởng bởi một vài quý tộc mà ông yêu thích-những người có những quan điểm xung đột về vấn đề trong cuộc chiến tranh với nước Pháp.

Sau cái chết của Henry V, Anh đã bị vuột mất đà thắng lợi trong Chiến tranh Trăm năm, trong khi bắt đầu với chiến thắng quân sự của Joan Arc, nhà Valois đã đạt được những chiến thắng trên lục địa Châu Âu. Vị vua trẻ-Henry VI ủng hộ một chính sách hòa bình ở Pháp và do đó ông ủng hộ phe chủ trương Hòa bình, đứng đầu là Đức Hồng Y Beaufort và William de la Pole-Bá tước xứ Suffolk và những người đồng chí với họ, trong khi Humphrey-Công tước xứ Gloucester và Richard-Công tước xứ York, những người ủng hộ việc tiếp tục cuộc chiến đã bị nhà vua ghẻ lạnh.

Cuộc hôn nhân với Nữ Hoàng Margaret xứ Anjou

Đức Hồng Y Beaufort và Bá tước Suffolk thuyết phục nhà vua Henry VI rằng cách tốt nhất để lập lại hòa bình với nước Pháp là thông qua một cuộc hôn nhân với Margaret Anjou, cháu gái của vua Charles VII và Nữ Hoàng Marie xứ Anjou. Henry đã đồng ý, đặc biệt là khi ông nghe nói về sắc đẹp tuyệt vời của Margaret và đã cử Suffolk đi thương lượng với Charles, ông này đã đồng ý với cuộc hôn nhân với điều kiện rằng ông sẽ không cho các của hồi môn theo phong tục và thay vào đó ông ta ( vua Pháp ) sẽ nhận được các vùng đất xứ Maine và Anjou từ tay người Anh. Những điều kiện này đã được nhất trí trong Hiệp ước thành Tours, nhưng việc nhượng lại Maine và Anjou đã được giữ bí mật với Nghị viện vì điều này sẽ làm người dân Anh trở nên cực kỳ giận dữ. Cuộc hôn nhân đã diễn ra vào ngày 23 tháng 4 năm 1445, một tháng sau ngày sinh nhật thứ mười lăm của Margaret.

Henry đã bị dao động khi phải giao nộp các vùng Maine và Anjou cho Charles vì biết rằng hành động này là tương đương với một sự phản bội và sẽ bị phản đối kịch liệt bởi các Bá tước Gloucester và York. Tuy nhiên, Margaret đã được cho là quyết tâm làm cho ông tiến hành việc giao đất này. Khi hiệp ước được công bố vào năm 1446, sự tức giận của nhân dân đã tập trung vào Bá tước Suffolk, nhưng Henry và Margaret đã quyết tâm bảo vệ ông này.

Thế lực của các Bá tước Suffolk và Somerset

Năm 1447, nhà vua và hoàng hậu cho triệu tập Công tước xứ Gloucester trước Nghị viện về tội phản quốc. Động thái này được xúi giục bởi các kẻ thù của Công tước Gloucester – Bá tước Suffolk, Đức Hồng Y Beaufort lúc này đã già và cháu trai của ông ta-Edmund Beaufort, Bá tước Somerset. Công tước Gloucester đã bị tạm giam tại Bury St Edmunds nơi ông qua đời, có thể là do một cơn đau tim, mặc dù đương thời có tin đồn là ông đã bị đầu độc trước có thể được xét xử.

Công tước xứ York-người thừa kế ngôi vị của Henry VI, đã bị loại khỏi triều đình và cử đi để quản lý Ireland, trong khi các đối thủ của ông ta- các Bá tước Suffolk và Somerset đã được thăng thưởng tước Công, một danh hiệu tại thời điểm đó vẫn thường chỉ được dành cho những người ruột thịt gần nhà vua nhất. Công tước Somerset vốn mới được tấn phong đã được cử sang Pháp để chỉ huy cuộc chiến ( giữa Anh và Pháp ).

Trong các năm tiếp sau của triều đại của Henry, chế độ quân chủ đã trở thành ngày càng không được lòng dân, do những sự cố về mặt luật pháp, trật tự, tham nhũng, đã làm cho những khoản thu từ các lãnh địa của hoàng gia vào triều đình của nhà vua ngày càng giảm sút và đương nhiên Nhà nước đã gặp phải những khó khăn về mặt tài chính cộng với sự mất ổn định của các vùng lãnh thổ mà người Anh đang chiếm đóng tại Pháp. Năm 1447, giới quý tộc Anh đã dấy lên một chiến dịch chống lại Công tước Suffolk-người vốn bị căm ghét nhất trong đoàn tùy tùng của vua và được xem như là một kẻ phản bội của Vương quốc. Henry đã buộc phải điều ông này đi sống lưu vong, nhưng chiếc tàu của Suffolk đã bị chặn lại ở English Channel và cái xác bị băm vằm của ông này đã được tìm thấy trên bãi biển ở Dover.

Năm 1449, Công tước Somerset nhận nhiệm vụ chỉ huy chiến dịch ở Pháp và ông này đã làm tái tạo tình trạng thù địch ở Normandy ( đương nhiên là giữa người Anh và người Pháp ), nhưng tới mùa thu ông này phải tháo lui đến Caen. Vào năm 1450, người Pháp đã chiếm lại toàn bộ tỉnh này (Normandy), vùng đất vốn được chiếm bởi những chiến thắng cực kỳ nhọc nhằn của Henry V. Những người lính được gọi tái ngũ đã không còn được thanh toán đúng hạn, thêm vào đó là tình trạng vô luật pháp ở các quận phía nam của nước Anh, Jack Cade đã cầm đầu một cuộc nổi loạn ở Kent 1450, tự xưng là “John Mortimer”, quân nổi loạn rõ ràng là được sự ủng hộ của Công tước xứ York và đóng quân tại White Hart Inn ở Southwark. Henry VI phải đến London với một đội quân để đè bẹp cuộc nổi loạn, nhưng ông lại phát hiện ra rằng Cade đã bỏ chạy và ông này để lại hầu hết quân đội của mình phía sau trong khi bản thân đã dẫn đầu một lực lượng nhỏ để truy kích quân nổi dậy và gặp được họ ở Sevenoaks. Cuộc tháo chạy đã được chứng minh là một cuộc rút lui chiến thuật: Cade đã thành công trong một cuộc phục kích nhằm vào lực lượng của nhà vua trong trận chiến Solefields và quay trở lại để chiếm London. Cuối cùng, cuộc nổi loạn đã bị đàn áp và London đã được tái chiếm sau một vài ngày nằm trong tay quân phiến loạn, nhưng chủ yếu là bởi những nỗ lực của các cư dân của nó chứ không phải là của quân đội của nhà vua. Ở mức nào đó cuộc nổi dậy cho thấy rằng những cảm giác bất mãn trong dân chúng với Henry VI đang ngày càng lên cao.

Năm 1451, Công quốc Guyenne-vốn nằm trong tay người Anh từ thời vua Henry II cũng đã bị thất thủ ( đương nhiên là vào tay người Pháp ). Trong tháng 10 năm 1452, người Anh lại tổ chức một cuộc hành binh tiến vào Guyenne và tái chiếm Bordeaux và đã thu được một số thắng lợi, nhưng vào năm 1453 Bordeaux đã lại một lần nữa thất thủ làm cho Calais chở thành lãnh thổ duy nhất còn lại của nước Anh trên lục địa Châu Âu.

Henry VI bị điên và Công tước York can thiệp vào triều chính

Vào năm 1452, Công tước xứ York đã được thuyết phục để trở về từ Ireland, ông này đã khẳng định vị trí xứng đáng của mình trước Nghị viện và đặt dấu chấm hết cho một chính phủ tồi tệ. Công tước xứ York là một người rất được lòng dân chúng và ông này đã sớm huy động được một đội quân ở Shrewsbury. Trong khi đó, triều thần của Henry cũng huy động được một đội đội quân có kích thước tương tự như của ông kia ( Công tước xứ York ) ở London. Một cuộc thương thuyết đã được tiến hành ở phía nam London, với việc Công tước York đưa ra một danh sách các khiếu nại và yêu cầu thanh lọc triều đình, bao gồm cả việc bắt giữ Edmund Beaufort, Công tước thứ 2 của Somerset. Ban đầu nhà vua đã đồng ý, nhưng Margaret đã can thiệp để ngăn chặn việc bắt giữ Beaufort. Năm 1453, ảnh hưởng của ông này đã được khôi phục và York đã lại một lần nữa bị cô lập. Phe triều đình cũng đã được tăng cường bằng cách thông báo rằng Hoàng hậu đang mang thai.

Tuy nhiên, khi nghe thấy sự thất thủ lần cuối cùng của Bordeaux trong tháng 8 năm 1453, Henry đã rơi vào tình trạng suy nhược thần kinh và trở nên hoàn toàn vô thức với tất cả mọi thứ đang diễn ra xung quanh mình. Sự kiện này đã kéo dài trong hơn một năm và thậm chí Henry đã thất bại trong việc cho ra đời đứa con trai và là người thừa kế riêng của mình-vị hoàng từ vốn được đặt tên thánh là Edward. Có thể Henry VI đã thừa hưởng bệnh điên từ Charles VI của Pháp- ông ngoại của ông ta và phải sống liên tục trong sự điên rồ trong hơn ba mươi năm cuối của cuộc đời mình.

Trong khi đó Công tước xứ York đã có được một đồng minh rất quan trọng, đó là Richard Neville-Bá tước của Warwick, một trong những Đại quý tộc có ảnh hưởng nhất và có thể còn giàu có hơn cả chính bản thân York. York được bầu làm Hộ quốc công nhiếp chính của Vương quốc Anh trong năm 1454. Hoàng hậu Margaret đã bị loại trừ hoàn toàn khỏi triều đình và Edmund Beaufort đã bị giam giữ trong Tháp London, trong khi nhiều người ủng hộ phe York cho lan truyền tin đồn rằng người con của vua thực chất chính là con của Beaufort. Ngoài ra, trong những tháng mà York làm nhiếp chính ông đã giải quyết được vấn đề bội chi của chính phủ.

Thời kỳ Chiến tranh Hoa Hồng ( sẽ được dịch chi tiết ở phần sau)

Sau một loạt các trận chiến khốc liệt giữa hai nhà Lancaster và York, Henry đã bị lật đổ và bị cầm tù vào ngày 04 tháng ba 1461 bởi người anh em họ của mình, Edward York, người đã trở thành vua của nước Anh với tên hiệu Edward IV. Vào thời điểm này Henry thường xuyên trở nên điên rồ và dường như ông đã cười và ca hát trong khi trận St Albans lần thứ hai nổ ra để giải cứu cho chính ông. Nhưng Edward vẫn có thể chiếm ngôi vua nước Anh, mặc dù ông này không thể bắt tù binh Henry VI và bà hoàng hậu của ông ta, những người này đã chạy trốn đến Scotland. Trong thời gian đầu tiên của triều đại Edward IV, phe Lancaster vẫn tiếp tục kháng cự chủ yếu là dưới sự lãnh đạo của Hoàng Hậu Margaret và những quý tộc vẫn trung thành với bà ở các quận phía Bắc của nước Anh và xứ Wales. Henry VI-người đã được che chở một cách an toàn bởi các đồng minh của nhà Lancaster ở Scotland, Northumberland và Yorkshire, nhưng cuối cùng ông vẫn bị bắt bởi vua Edward trong năm 1465 và sau đó bị giam giữ tại ngục Tháp London.

Quay trở lại ngai vàng

Hoàng hậu Margaret, đang sống lưu vong ở Scotland và sau đó là ở Pháp, quyết tâm giành lại ngai vàng thay mặt chồng và con trai của bà. Cô độc một mình, bà không thể làm gì nhiều. Tuy nhiên, cuối cùng Edward IV đã mất đi hai trong số những người ủng hộ chính của ông: đó là Richard Neville-Bá tước Warwick và em trai của ông (Edward IV )-George, Công tước xứ Clarence. Theo sự xúi giục của vua Louis XI của nước Pháp, họ đã thành lập một liên minh bí mật với Margaret. Sau khi cho con gái của mình kết hôn với Edward xứ Westminster-con trai Henry và Margaret, Bá tước Warwick quay trở lại Anh và đánh bại phe York trong một trận chiến và phục hồi ngôi vị của Henry VI trong ngày 30 tháng 10 năm 1470 (Richard Neville có biệt danh là Gã buôn vua vì ông ta chán dựng vua nhà York lại dựng vua nhà Lancaster). Tuy nhiên, vào thời gian này thực chất Bá tước Warwick và Công tước Clarence thực sự là những nhà cai trị nước Anh nhân danh Henry VI.

Thời gian Henry trở lại ngai vàng kéo dài không đến sáu tháng. Warwick đã sớm làm cho mình lâm vào cảnh khó khăn khi tuyên chiến với xứ Burgundy ( một phần của nước Pháp nhưng vào thời gian này về mặt quân sự xứ này còn áp đảo cả chính quốc của nó ), bởi vì người đứng đầu xứ này đã cho Edward IV những hỗ trợ cần thiết để giành lại ngai vàng của ông ta bằng vũ lực. Ông ta ( Edward IV ) đã giành một chiến thắng quyết định ở trận Tewkesbury ngày 04 tháng 5 năm 1471, Edward của Westminster với danh hiệu Hoàng tử xứ Wales-con trai của Henry VI đã bị giết chết sau trận đánh này.

Ngồi tù và qua đời

Henry đã bị giam giữ trong ngục Tháp London, nơi ông qua trong đêm ngày 21/22 tháng 5 năm 1471. Khả năng là đối thủ của Henry đã cố giữ cho ông ta còn sống đến thời điểm này và ra tay hạ sát Edward-người con trai của Henry, người vốn là một thủ lãnh ghê gớm hơn rất nhiều của phe Lancasters. Theo quấn sách sử Historie of the Arrivall of Edward IV, một biên niên sử chính thức thiên về Edward VI, thì Henry qua đời vì u sầu khi nghe tin tức về trận Tewkesbury và cái chết của con trai của ông. Tuy nhiên, sau đó có nhiều nghi ngờ rằng Edward VI-người tái đăng quang vào buổi sáng sau cái chết của Henry VI, trong thực tế đã ra lệnh giết chết ông ta.

Ban đầu vua Henry VI được chôn cất tại Abbey Chertsey, sau đó trong năm 1485 xác của ông được chuyển đến nhà nguyện St George-Lâu đài Windsor.

John Lancaster, Công tước thứ nhất của Bedford

John Lancaster, Công tước thứ nhất của Bedford, (sinh từ ngày 20 tháng 6 năm 1389 – mất ngày 14 tháng 9 năm 1435), còn được gọi là John Plantagenet, là con trai thứ ba còn sống sót của vua Henry IV của Anh quốc với Hoàng Hậu Maria de Bohun và làm phó vương của Anh tại Pháp cho cháu trai của ông -vua Henry VI.Tiểu sử vắn tắtJohn được phong là Bá tước vùng Kendal, Bá tước vùng Richmond và Công tước xứ Bedford trong năm 1414 bởi anh trai của ông-vua Henry V. Ngày 14 tháng Sáu năm 1423, tại Troyes ông đã kết hôn với Anne-con gái của John the Fearless ( công tước xứ Bugundy-Pháp ). Sau cái chết của Anne trong khi sinh nở Paris năm 1432, ông đã kết hôn với Jacquetta Luxembourg. Con ngoài giá thú, ông có một người con gái tên là Mary Plantagenet, bà này đã kết hôn với Pierre de Montferrand (mất 1454).Khi vua Henry V qua đời vào năm 1422, Công tước Bedford ganh đua quyết liệt với người em trai của ông-Humphrey-Công tước xứ Gloucester trong việc nắm quyền kiểm soát Vương quốc Anh. Bedford đã được chính thức phong làm quan Nhiếp chính nhưng ông lại chỉ tập trung vào các trận chiến đang diễn ra ở nước Pháp, trong thời gian ông vắng mặt Công tước Gloucester đã trở thành Hộ quốc công của Anh quốc. Bedford đã nhiều lần đánh bại quân Pháp ở các trận Cravant, Vernuil, Herrings… và giai đoạn đầu của cuộc bao vây thành phố Orléans cho đến khi có sự xuất hiện của Joan Arc ở phía quân Pháp. Vào năm 1431, Bedford đã cố gắng bắt giữ và hành hình Joan Arc tại Rouen sau đó ông dàn xếp cho một lễ đăng quang của vua Henry VI vốn đang là một đứa bé vị thành niên tại Paris. Mặc dù đã hành hình Joan Arc nhưng Bedford vẫn không thể xoay chuyển được chiến cuộc ngày càng trở nên bất lợi cho người Anh, đặc biệt Anne-vợ ông thì Liên minh giữa Anh quốc và xứ Bugundy đã xụp đổ, lúc này không có sự hỗ trợ của quân đội Bugundy, người Anh không thể kháng cự nổi trước sức phản công mạnh mẽ của người Pháp và phải liên tục tháo lui và bại trận bất chấp những nỗ lực của ông ta. John đã chết trong khi Nghị viện của vùng Arras đang được tổ chức tại lâu đài Joyeux Repos của ông ở Rouen và được chôn cất tại Nhà thờ lớn Rouen Cathedral. Ông không để lại một người thừa kế hợp pháp nào.

John Talbot, Bá tước đầu tiên của Shrewsbury

John Talbot, Bá tước đầu tiên của Shrewsbury và cũng làBá tước đầu tiên của Waterford (sinh khoảng năm 1384/1387 tại Blakemere, Shropshire – mất ngày 17 tháng 7 năm 1453 tại Castillon-Pháp), ông còn được gọi là ” Bố già Talbot” và ông cũng là một chỉ huy quân sự quan trọng bậc nhất của người Anh trong cuộc Chiến tranh Trăm năm, ông dường như là người duy nhất nắm giữ chức vụ Nguyên soái của nhà Lancaster ở Pháp.

Tóm tắt tiểu sử

Ông là hậu duệ của Richard Talbot, một người thuê đất của Walter Giffardtại Woburn và Battledsen trong vùng Bedfordshiretừ năm 1086. Gia đình Talbot là chư hầu phong kiến của nhà Giffard ở vùng Normandy. Hugh Talbot-con trai của ông ta (Richard Talbot)được cấp vùng Beaubec Abbey và nó được xác nhận bởi con trai của ông-Richard Talbot ( trùng tên với Talbot ông) vào năm 1153. Richard Talbot cháu ( chết năm 1175) được kê tên trong Honour of Giffard Giffard ở Buckinghamshiretrong năm 1166. Ông này cũng có một gia sản ở Linton tại Herefordshire và giao choGilbert Talbot-con trai của ông (mất 1231) thừa kế trong năm 1190.Một ông Gilbert Talbot (mất 1274) -cháu trai của ông Gilbert Talbot được vừa nói tới đã kết hôn với Gwenlynn Mechyll. SirRichard Talbot-con trai của họ đã nắm giữ thái ấp Eccleswall Herefordshire nhân danh Sarah-vợ của ông ta-người vốn là em gái của William de Beauchamp. Năm 1331 con trai của Richard Gilbert Talbot (1276-1346) đã được triệu tập vào Nghị viện Anh, hành động này được coi là bằng chứng về pháp lý của tước hiệu nam tước của ông ta. Con trai của Richard Gilbert kết hôn với Elizabeth Comyn và nhận từ vợ quyền thừa kế lâu đài Goodrich Castle ở Herefordshire.

John Talbot là con trai thứ hai của Richard Talbot, Nam tước đời thứ 4 nhà Talbot với Ankaret le Strange-Nữ bá tước thứ đời 7 của nhà Strange ở vùng Blackmere.Richard-em trai của ông( đặt tên giống ông bố) trở thành Tổng-Giám-Mục của thành phố Dublin và kiêm Lord Chancellor ( tương đương chức vụ tể tướng? ) của Ireland và một trong những chính khách có ảnh hưởng nhất ở Ailen vào thời gian của ông.

Cha ông qua đời năm 1396 khi Talbot mới chỉ lên chín tuổi, do đó Thomas Neville-Lord của Furnival đãtrở thành người chồng thứ hai của Ankaret, ông này đã là người có rất nhiều ảnh hưởng lớn lao trong cuộc sống thủa thiếu thời của JohnTalbot. Cuộc hôn nhân cũng tạo cơ hội mang lại một danh hiệu cho người con trai thứ hai của nhà Talbot theo ông bố dượng cũng qua ngả hôn nhân vì Neville không có con trai ( Talbot đã cưới Maud Neville-con gái và cũng là người thừa kế của Thomas Neville).

Khởi đầu lập nghiệp.

Từ 1404 đến 1413, ông phục vụ cho Gilbert-người anh trai cao tuổi của mình trong cuộc chiến ở xứ Wales hay còn gọi là cuộc nổi loạn của Owain Glyndŵr. Sau đó, trong vòng 5 năm sau đó kể từ tháng 2 năm 1414, ông giữ chức vụLord Lieutenant ở Ailen, nơi ông đã tham gia một số trận chiến. Ông đã phải có một loạt các tranh chấp với Bá tước Ormonde và Lord Grey of Ruthin về việc thừa kế trong danh dự vùng Wexford mà ông đang nắm giữ. Những khiếu nại đã được tiến hành để chống lại ông tại chính phủIreland và bạo lực đã nổ ra ở Herefordshire. Những tranh chấp của ông với Bá tước Ormonde đã leo thang thành một mối hận thù lâu dài giữa Lord Shrewsbury ( Talbot) và Tổng-giám-mục Dublin-người anh trai của ông ở một phe với nhà Butler và đồng minh của họ là nhà Berkeley. Sự thù hận đã đạt đến đỉnh cao trong những năm 1440, khi cả hai phe đều bị khiển trách bởi Hội đồng cơ mật bởi tranh chấp này đã làm suy yếu sự thống trị của người Anh ở Ai-len. Cuối cùng sự hòa giải đã đạt được bởi cuộc hôn nhân của con trai của Lord Shrewsbury và con gái-cũng là người thừa kế của Ormonde.

Phục vụ tại Pháp

Cho đến lúc đó chức vụ chính của John Talbot dường như là một Marcher Lord ( một nhà quý tộc tài năng và tin cậy được nhà vua Anh cử đi trấn giữ vùng biên ải, thường là vùng biên giới Anh-xứ Wales, một vùng cực kỳ hỗn tạp ). Năm 1427, ông đã lại một lần nữa đến nước Pháp, nơi ông đã chiến đấu cùng với Công tước Bedford và Bá tước Warwick tại các vùng khác nhau như Maine và và cuộc bao vây thành phố Orléans. Ông đã chiến đấu tại trận Patay vào ngày 18 tháng 6 năm 1429, tại trận này ông đã bị bắt làm tù binh và bị giam giữ trong bốn năm.

Ông được phóng thích để đổi lấy với Jean Poton de Xaintrailles-một viên thống chế của Pháp và trở về Anh vào tháng 5 năm 1433. Ông ở lại đó cho đến khi trở lại Pháp cùng với Bá tước Somerset.

Talbot là một người lính táo bạo và tích cực, có lẽ là một viên Đại úy táo bạo nhất của thời đại đó. Ông và binh lính của ông luôn luôn sẵn sàng để chiếm lại một thị trấn và giáng trả mọi bước tiến của quân Pháp. Phương châm của ông là tổ chức các cuộc tấn công nhanh chóng và tích cực. Ông được khen thưởng bằng cách được bổ nhiệm làm thống đốc và Trung tướng( lieutenant general ) ở Pháp và Normandy vào năm 1434, Công tước Bedford đã phong cho ông làm Bá tước của Clermont ( một vùng đất của Pháp ).

Tháng 1 năm 1436, ông đã dẫn đầu một lực lượng nhỏ bao vây Kyriell và đánh bại cả La Hire cùng với Xaintrailles tại Ry ởgần Rouen. Năm sau đó tại Crotoy sau khi tiến hành một cuộc đột kích táo bạo vào Somme ông đã làm cho một lực lượngquân Burgundy rất đông ( lúc này người Bugundy lại đã về phe người Pháp )phải tháo chạy tán loạn. Trong tháng Mười Hainăm 1439, sau một cuộc tấn công tạt sườn bất ngờ vào doanh trại của quân Pháp, ông đã đánh tan một đội quân tinh nhuệ đông khoảng 6000 người của Nguyên soái Richemont và năm sau đó ông tái chiếm thành phố Harfleur. Năm 1441 ông truy kích quân Pháp bốn lần tới tận sông Seine và sông Oise với một nỗ lực vô ích để ép họ phải tham chiến.

Lord của Shrewsbury

Khoảng tháng 2 năm 1442, Talbot trở lại Anh để yêu cầu tiếp viện khẩn cấp cho Công tước xứ York lúc này đang trấn thủ tại vùng Normandy. Trong tháng 3 theo mệnh lệnh của nhà vua tất cả các con tàu đã được trưng dụng cho mục đích này ( tăng viện) và bản thân Talbot phải đứng ra chịu trách nhiệm tập hợp các con tàu từ các cảng London và Sandwich.

Trong Whit Sunday-Chủ Nhật Trắng ngày 20 tháng 5, Henry VI trao tặng ông danh hiệu Comes Salopie, dịch là Bá tước của Shropshire nhưng bất chấp điều này, ông thường được biết đến như là Bá tước của Shrewsbury. Chỉ năm ngày sau đó để đáp ứng yêu cầu tái tăng viện Talbot đã quay trở lại Pháp vào tháng Sáu và cập cảng tại Harfleur. Trong thời gian này ông đã được gặp mặt Eleanor-người con gái đã 6 tuổi của ông lần đầu tiên và gần như chắc chắn là làm cho Nữ Bá tước Margaret ( vợ thứ hai của ông ta) mang thai một đứa trẻ khác.

Trong tháng 6 năm 1443, Talbot lại quay trở lại nước Anh để yêu cầu quân tiếp viện thay mặt cho Công tước York, nhưng vào thời gian này thay vì gửi sang Pháp một đội quân nằm dưới sự chỉ huy của Edmund Beaufort-em rể của Shrewsbury, Nghị viện Anh đã từ chối. Sir Christoper- người con trai của ông đã ở lại nước Anh và ngay sau đó anh này đã bị ở tuổi 23 bằng một ngọn thương và bởi một trong những người của mình-Griffin Vachan Treflidian vào ngày 10 tháng 8 tại Cawce, quận Salop.

Dũng sỹ Achilles của người Anh

Năm 1445ông được bổ nhiệm bởi vua Henry VI ( trên danh nghĩa là vua của nước Pháp) làm Nguyên soái tại Pháp. Bị bắt tại Rouen năm 1449 ông đã hứa sẽ không bao giờ mặc giáp để chống lại nhà vua Pháp một lần nữa và ông đã thực hiệnđúng với lời của mình. Tuy nhiên, mặc dù đã không trực tiếp tham gia chiến đấu, ông vẫn tiếp tục chỉ huy lực lượng quânAnh để chống lại người Pháp. Ông đã bị đánh bại và giết chết trong trận Castillon gần Bordeauxvào năm 1453, đây là một trận đánh có hiệu lực kết thúc sự thống trị của người Anh tại vùng lãnh thổ Aquitaine-một trong những nguyên nhân chính của cuộc chiến tranh trăm năm. Trái tim của ông được chôn trong ô cửa của nhà thờ St Alkmund Whitchurch, Shropshire.

Mặc dù Talbot thường được nhớ đến như là một chiến binh vĩ đại, một số người đã đặt ra những nghi ngờ về tài cầm quâncủa ông. Đặc biệt là họ cho rằng các cuộc tấn côngmang tính dại dột. Tốc độ và sự dữ dội là những yếu tố quan trọng để tạo ra thành công và chiến thắng trong các cuộc chiến thời trung cổ và không những vậy Talbot còn đòi hỏi phải có tính bất ngờ. Hơn nữa, ông thường ở vị trí ép đối thủ vàomột trận chiến mà họ không sẵn sàng. Trong thất bại của ông tại trậnPatay năm 1429, ông đã được khuyên bởi Sir John Fastolf-người sau đó đã bị đổ lỗi cho thất bại, rằng không nên tham chiến, nhưng lúc đó người Pháp đang được truyền cảm hứng từ Joan Arc và họ đã cho thấy một tinh thần chiến đấuchưa từng có – họthường tiếp cận một vị trí của quân Anh với một sự cẩn thận trọng cao đó.

John Fastolf

Sir John Fastolf ( sinh trong khoảng năm 1378 – chết ngày 5 tháng 11 năm 1459) là một hiệp sĩ Anh trong Chiến tranh Trăm năm, người đã có một danh tiếng kéo dài hơn trong thực tế bởi đã trở thành nguyên mẫu của Sir John Falstaff trong một vở kịch của Shakespeare. Tuy nhiên, nhiều sử gia cho rằng ông cũng rất xứng đáng để trở nên nổi tiếng nhờ chính khả năng của bản thân, không chỉ trong tư cách là một người lính mà còn như là một người bảo trợ cho văn học, một tác giả viết về chiến lược chiến thuật quân sự và có lẽ còn gần như là một nhà tư bản công nghiệp ở thời đầu.Thủa thiếu thời và những năm đầu tiên của sự nghiệpÔng là con trai của một quý ông ở vùng Norfolk, Sir John Fastolf Caister-on-Sea, và được cho là đã làm Hộ sỹ ( Hiệp sỹ học nghề ) từ Thomas Mowbray-Công tước xứ Norfolk từ khoảng trước năm 1398. Ông phục vụ cho Bá tước Thomas Lancaster ở Ai-len trong khoảng thời gian những năm 1405 và 1406. Ông tuyên bố đã đến được đất thánh Giê-ru-sa-lem khi còn là một cậu bé như vậy thì ông phải là thành viên của đoàn tùy tùng của Henry Bolingbroke, sau đó là của Henry IV của Anh quốc.Hôn nhân

Năm 1408, ông kết hôn với Millicent, góa phụ của Sir Stephen Scrope Castle Combe ở Wiltshire. Cuộc hôn nhân này đã mang lại cho ông rất nhiều của cải.

Sự nghiệp của Fastolf ở Pháp

Ông phục vụ trong xứ Gascony năm 1413 và ở miền Bắc nước Pháp từ 1415 đến 1439, nơi ông phục vụ dưới Henry V và anh em trai của nhà vua, Công tước của Bedford. Ông đã tham gia vào cuộc bao vây thành phố Harfleur năm 1415 nhưng đã bị ốm nặng và phải quay về nhà và do đó bỏ lỡ mất trận Agincourt, mặc dù ông đã quay trở lại để bảo vệ Harfleur chống lại các nỗ lực tái chiếm thành phố của người Pháp trong mùa đông năm 1415-1416. Ông là chỉ huy đội cận vệ riêng của Bedford và là Thống đốc của các tỉnh Maine và Anjou và trong tháng 2 năm 1426 ông đã lập ra một đại đội Hiệp sỹ-Knight Companion và là thành viên của Most Noble Order of the Garter. Fastolf cũng được bổ nhiệm làm hiệp sĩ của Order of Golden Fleece ( Hiệp sỹ Lông cừu vàng? ) nhưng vinh dự này đã bị thu hồi vào năm 1429. Nhưng cũng trong năm đó, ông đã được bổ nhiệm thay Sir John Talbot, Bá tước thứ nhất của Shrewsbury-cũng là chỉ huy trực tiếp của ông và ông cũng trở thành một chủ đề gây nhiều tranh cãi sau khi kết thúc cuộc bao vây thành phố Orleans ( vấn đề công-tội ). Trong thời gian ở Pháp ông trở thành Nam tước của Sillé-le-Guillaume và do đó trở thành thành viên của giới quí tộc cao cấp, một vị trí mà ông không bao giờ có thể đạt được khi còn ở quê nhà.

Thành công và thất bại

Sau một chuyến quay trở lại Anh để thăm nhà trong năm 1428, ông quay trở lại với cuộc chiến và vào ngày 12 tháng Hai năm 1429 khi phụ trách hộ tống một đoàn xe tải chở đồ tiếp vận cho quân Anh đang bao vây Orléans ông đã đánh bại liên quân Pháp-Scotland trong trận Herrings ( Cá trích). Trong cuốn tiểu sử của ông

The Real Falstaff (xuất bản năm 2010), Stephen Cooper ( tác giả ) đã cố tái hiện lại vị trí của trận chiến này. Ngày 18 tháng 6 cùng năm, một đạo quân Anh lớn dưới sự chỉ huy của các chỉ huy Fastolf và Talbot đã phải hứng chịu một thất bại nghiêm trọng tại Patay. Theo nhà sử học Pháp Jehan de Waurin-người sống tại thời đó thì thảm họa bắt nguồn từ sự dại dột của Talbot và Fastolf chỉ chạy trốn khi sự kháng cự là vô vọng. Một số tài liệu khác ghi chép rằng ông ta đã tỏ ra hèn nhát và sự thật thì John-Công tước xứ Bedford lần đầu tiên đã tước danh hiệu Order of the Gater của ông, mặc dù sau quá trình điều tra ông đã được phục hồi danh dự.Fastolf tiếp tục phục vụ chiến đấu ở Pháp và chiếm được sự tin cậy bởi Bedford và Richard York. Cuối cùng ông chỉ trở về nhà trong năm 1440 khi đã qua tuổi sáu mươi. Tuy nhiên, ông tiếp tục mắc vào những vụ bê bối, và trong cuộc nổi loạn của Cade trong 1451, ông bị buộc tội nổi loạn-đây là nguyên nhân gây ra những thảm họa cho người Anh qua việc phải “giảm bớt quân ở Normandy”.

Đối đầu với Joan Arc

Trong cuộc bao vây thành phố Orleans năm 1429, người Pháp đã có ý định từ bỏ thành phố sau khi họ nghe tin đồn (trong đó có những tin đồn đúng sự thật) rằng John Fastolf đang đến với một lực lượng lớn quân Anh để tăng cường cho quân bao vây. Jean Dunois (còn được gọi là “Con hoang của Orleans”) đã quyết định không nói điều này với Joan và để đẩy nàng ra khỏi vị trí chỉ huy trọng yếu nhưng đã nhận được câu trả lờinổi tiếng của nàng.”

Bastard Bastard, nhân danh Chúa tôi ra lệnh cho ngài biết rằng ngay sau khi ngài nghe được tin Fastolf xuất hiện, ngài sẽphải cho tôi biết. Nếu hắn ta đi qua được mà tôi không biết thì tôi thề với ngài rằng tôi sẽ cắt cái đầu của ngài xuống ”.Các chỉ huy Pháp đã thừa nhận rằng nàng nói đúng và nàng ( đương nhiên là cùng quân đội Pháp) đã thành công trong việc đánh bại cuộc bao vây này.Joan Arc

dẫn đầu quân Pháp tiến đến các thị trấn nằm trong thung lũng sông Loire và triển khai bao vây thành phốJargeau trong ngày 12 tháng 6 năm 1429, mặc dù Fastolf đã cố gắng tập trung binh lính và tăng cường phòng thủ bằng cả hỏa khí sử dụng thuốc súng. Sau kết quả của một chuỗi các thất bại bất ngờ, Talbot và Fastolf đã chọn giải pháp đối đầu với quân Pháp trong một trận chiến để chấm dứt các thành công của họ ( quân Pháp ) việc này đã dẫn đến trận chiến Patay nơi mà hầu như Fastolf chỉ chạy thoát thân trong gang tấc (ông đã tháo chạy tới Paris) và Talbot đã bị bắt làm tù binh (Joan đã dẫn đầu đội quân Pháp này và đã có mặt trong trận chiến mặc dù nàng đóng vai trò như thế nào trong đó thì còn đang là điều gây nhiều tranh cãi ).

Trong những năm 1950 nhà sử học McFarlane thuộc đại học Oxford đã phát hiện ra rằng Fastolf có một số tiền lớn ở Phápvà ông đã cố gắng để chuyển chúng trở lại nước Anh và đầu tư vào bất động sản. Vào thời điểm đó danh tiếng của ông bị lẫn lộn giữa cái tốt và cái xấu. Một người đầy tớ đã viết về ông rằng: “ ông là một con người tàn bạo, không bao giờ biếtthương hại và có lòng thương xót” và nhận xét này đã trở thành nổi tiếng bởi nó được ghi trong bức thư của Paston. Bên cạnh việc sở hữu các tài sản của vợ, ông còn có các bất động sản lớn tại Norfolk và Suffolk, một ngôi nhà tại Southwark ở London và ông cũng sở hữu the Boar’s Head Inn. Địa điểm tòa nhà của ông ở Southwark được biết đến như là Fastolf Place hoặc Palace đã được khai quật vào những năm 1990 nhưng người ta chỉ còn tìm thấy một vài phần của lớp đá ốp.Từ

năm 1435 mặc dù đã nghỉ hưu ông vẫn viết rất nhiều bức thư khuyến cáo chính phủ Anh thời đó về chiến lược và chính sách để theo đuổi cuộc chiến ở Pháp. Chúng được lưu giữbởi ngài William Worcester-thư ký của ông và cuối cùng được xuất bản bởi giáo sư Joseph Stevenson trong thế kỷ XIX. Ông cũng là trung tâm của những cuộc hội đàm văn học quan trọngmà nó đã tạo ra bản thảo của ông bằng tiếng Pháp và tiếng Anh.N

hững năm cuối đời ông gặp nhiều rắc rối bởi các vụ kiện tụng, tranh chấp liên quan đến bất động sản của mình ở vùngĐông Anglian, lúc này ông được sự giúp đỡ của cả Paston và Sir William Yelverton và phe chủ chiến tại triều đình Anh quốc, các mâu thuẫn giữa hai phe chủ chiến và chủ hòa cuối cùng đã dẫn đến cuộc chiến tranh được gọi là nội chiến Hoa Hồng. Paston và Yelverton lại là hai trong số các nhân vật chính trong các trận chiến vì đống tài sản của ông sau khi ông qua đời. Fastolf có xu hướng thông cảm với Richard Plantagenet-Công tước đời thứ 3 của xứ York, người mà ông đã được biết đến và phục vụ tại Pháp, nhưng sẽ là một sự cường điệu khi nói rằng ông là ’một Yorkist-người của phe York.’ Ông là một người goá vợ trong suốt thập kỷ cuối cùng của cuộc đời mình, khi ông sống tại Southwark và Caister và ông không có người thừa kế. Dường như ông là một nhân vật sống cô đơn và đã cố gắng để phác thảo kế hoạch thành lập một trường Cao đẳngChantry ở Lâu đài Caister Castle.Chết và chôn cất
Ông qua đời tại Caister trong tháng 11 năm 1459. Ông được chôn cất bên cạnh vợ mình-bà Millicent ở tu viện St Benet’s Abbey trong một lối đi đặc biệt xây dựng ở phía Nam của nhà thờ tu viện St Benet. Trong thập niên cuối của cuộc đời ông có một đồng minh chính trị gần gũi và cũng là một người bạn-Paston John, một chủ đất Norfolk, người trở nên nổi tiếng qua các bức thư của nhà Paston, đó là một bộ sưu tập gồm hơn 1.000 hiện vật tương ứng giữa các thành viên của gia đình Paston. Di chúc trên giường bệnh của ông đặt John Paston vào vị trí như là một chấp hành viên và là người thừa kế của ông đã dẫn đến những vụ kiện tụng kéo dài nhiều năm. Các tàn tích của St Benet’s Abbey mang một vẻ đẹp ma mị nhưng người ta vẫn có thể đến tham quan cũng như những tàn tích của lâu đài Caister Castle. Lâu đài đã không bao giờ trở thành một trường Cao đẳng Chantry như Fastolf dự định. Thay vào đó nó được chuyển giao cho gia đình Paston. Phần lớn tài sản của Sir John qua bà Magdalen đã được chuyển đến trường Cao đẳng Oxford nơi ông được nhớ đến như một ân nhân .

Richard York-Công tước thứ 3 của York

Richard-Công tước thứ 3 của York, Bá tước thứ 6 của March, Bá tước thứ 4 của Cambridge và Bá tước thứ 7 của Ulster, thông thường ông được gọi là Richard York (sinh ngày 21 tháng 9 năm 1411 – chết ngày 30 tháng 12 năm 1460) là một đại quý tộc hàng đầu của Anh quốc và cũng là chắt của vua Edward III. Ông thừa kế những bất động sản lớn và phục vụ trong nhiều phần khác nhau của lãnh thổ Anh tại Pháp vào cuối của cuộc Chiến tranh Trăm năm và cuối cùng tại Anh ông đã trở thành Hộ quốc công trong khi Henry VI bị điên. Xung đột giữa ông với Margaret của Anjou-vợ của Henry và các thành viên khác trong triều đình của Henry là một yếu tố hàng đầu trong các biến động chính trị của nước Anh vào giữa thế kỷ mười lăm và cũng là nguyên nhân chính của cuộc nội chiến Hoa Hồng. Cuối cùng Richard đã cố gắng để đòi ngôi vị nhưng đã được thuyết phục rằng ông sẽ chỉ trở thành vua cái chết của Henry. Trong vòng một vài tuần sau thỏa thuận này ông đã chết trong một trận chiến. Mặc dù Richard không bao giờ trở thành một nhà vua, ông là cha của Edward IV và Richard III ( những vị vua Anh thuộc nhà York và là những ông vua Anh cuối cùng thuộc giòng Plantagnet ).Cha của ông đã bị tử hình và bị tịch thu tài sản vì tội tham dự vào vụ Southampton Plot chống lại vua Henry V vào ngày 5 tháng 1415. Do đó Richard không có quyền thừa kế những vùng đất cũng như danh hiệu từ cha mình. Tuy nhiên, người chú về bên nội của ông-Edward Norwich, Công tước đời thứ 2 của York, người đã bị giết chết trong trận Agincourt ngày 25 tháng 10 năm 1415 đã không có con và Richard đã trở thành thừa kế nam gần nhất của ông ta.Sau một số do dự Henry V đã cho phép Richard kế thừa danh hiệu và các vùng đất của Công quốc xứ York. Với ít danh hiệu hơn nhưng lại nhiều bất động sản lớn hơn lãnh địa bá tước của March cũng đã rơi vào tay ông sau cái chết của người chú về đằng mẹ-Edmund Mortimer, Bá tước đời thứ 5 Earl March vào ngày 19 tháng 1 năm 1425. Lý do cho sự do dự của Henry là người ta nói rằng Edmund Mortimer đã vài lần công bố rằng ông ta có quyền đòi hỏi ngai vàng-Anh quốc cao hơn Henry IV của nước Anh-cha của Henry V và điều này rất thuận lợi cho các phe phái nổi loạn chống lại ông. Tuy nhiên, trong suốt cuộc đời của mình, Mortimer vẫn luôn là một người ủng hộ trung thành của Nhà Lancaster.

Richard York hoàn toàn được thừa hưởng tuyên bố đòi ngôi vua Anh từ Mortimer và Cambridge khi ông thừa kế bọn họ và ông cũng trở thành nhà Đại quý tộc giàu có và quyền lực nhất ở Anh quốc chỉ sau có nhà vua.

Tuổi thơ và giáo dục

Là một đứa trẻ mồ côi, việc quản lý các khoản thu nhập từ lãnh địa của Richard đã trở thành tài sản của Hoàng gia. Mặc dù rất nhiều vùng đất của người chú ở York đã được cấp vĩnh viễn cho ông ta và những người thừa kế nam của ông, những diện tích đất còn lại tập trung ở Lincolnshire, Northamptonshire, Yorkshire, Wiltshire và Gloucestershire là rất đáng kể. Do đó các giám hộ của cậu bé mồ côi coi đó là một món quà có giá trị cao từ Hoàng gia vào tháng Mười năm 1417 những lãnh địa này đã được cấp cho Ralph Neville-Bá tước đầu tiên của Westmoreland, còn cậu bé Richard sống dưới sự giám hộ của Sir Robert Waterton. Ralph Neville là cha của một gia đình rất lớn ( hai vợ, 23 đứa trẻ, 20 người trong số họ có thể trưởng thành ) và có nhiều con gái cần lấy chồng. Và có sự sắp xếp từ trước, vào năm 1424 ông này tổ chức đính hôn Richard lúc này mới 13 tuổi Cecily Neville với-con gái của mình mới 9 tuổi.

Trong tháng 10 năm 1425 khi Ralph Neville qua đời ông, để lại quyền giám hộ York cho bà vợ góa của ông, Joan Beaufort. Lúc này công việc giám hộ thậm chí còn thu được nhiều giá trị hơn nữa bởi vì Richard đã lại được thừa kế bất động sản của Mortimer sau cái chết của Bá tước March. Những thái ấp này tập trung ở vùng xứ Wales và trong biên giới Anh-xứ Wales ở xung quanh Ludlow.

Có rất ít tài liệu ghi lại thời thơ ấu của Richard. Ngày 19 tháng Năm năm 1426 ông được phong tước hiệp sĩ tại Leicester bởi John Lancaster-Công tước đầu tiên của Bedford, em trai của vua Henry V. Trong tháng 10 năm 1429 (hoặc có thể sớm hơn) cuộc hôn nhân của ông với Cecily Neville đã được cử hành. Ngày 6 tháng 11 ông có mặt tại lễ đăng quang chính thức của Henry VI tại Westminster Abbey. Sau đó ông theo Henry sang Pháp để có mặt tại lễ đăng quang của ông này như là vua của nước Pháp tại Notre Dame trong ngày 16 tháng 12 năm 1431. Cuối cùng, ngày 12 tháng năm 1432 ông đủ tuổi trưởng thành và được giao toàn quyền kiểm soát các bất động sản của mình.

Giai đoạn ở Pháp năm 1436-1439

Trong tháng 5 năm 1436, một vài tháng sau cái chết của Bedford, York được bổ nhiệm thay thế ông kia làm Trung úy của Anh quốc tại Pháp. Cuộc chinh phục của Henry V ở Pháp không thể được duy trì mãi mãi, hoặc là Vương quốc Anh cần thiết phải chinh phục thêm các vùng lãnh thổ để đảm bảo sự lệ thuộc vĩnh viễn của người Pháp, hoặc thừa nhận sự tồn tại của các lãnh thổ này để đạt được một thỏa hiệp. Trong khi Henry VI còn nhỏ tuổi, Hội đồng nhiếp chính của ông đã lợi dụng những điểm yếu của nước Pháp và liên minh với người Burgundy để làm tăng tài sản của nước Anh, nhưng sau khi Hiệp ước Arras được ký kết ( năm 1435), người Burgundy không còn công nhận yêu cầu của vua Anh về ngôi vị của vua Pháp nữa.

Việc bổ nhiệm York là một trong một số các biện pháp ngăn chặn và cố gắng duy trì các tài sản của Anh trên đất Pháp sau cái chết của Bedford cho đến khi vua Henry VI đủ tuổi trưởng thành. Việc Paris thất thủ trước quân Pháp (đích đến ban đầu của ông) đã làm cho quân đội của ông phải chuyển tới Normandy. Cùng hợp tác với các Đại úy của Bedford, York đã thu được một số thành công đáng kể như thu hồi lại Fecamp và giữ Pays de Caux, trong khi ông cũng thiết lập được trật tự và công lý tại Công quốc Normandy. Tuy nhiên, ông không hài lòng với các điều khoản mà theo đó ông được bổ nhiệm tại Pháp, chúng làm cho ông phải lấy nhiều tiền để thanh toán tiền lương cho quân lính của mình và các chi phí khác từ bất động sản riêng của chính mình. Thời hạn ở Pháp của ông chỉ được được kéo dài vượt quá mười hai tháng so với khế ước gốc và ông trở lại Anh vào tháng 11 năm 1439. Mặc dù có vị trí như là một trong những quý tộc hàng đầu của vương quốc, ông đã không có tên trong Hội đồng cơ mật của Henry VI khi quay trở về.

Quay lại Pháp một lần nữa năm 1440-1445

Henry lại điều York sang Pháp một lần nữa vào năm 1440 sau khi một cuộc đàm phán hòa bình với người Pháp bị thất bại. Ông được tái bổ nhiệm Trung úy tại nước Pháp vào ngày 02 Tháng 7, lần này ông nhận được những quyền hạn cuối cùng đã được cấp cho Bedford trước đó. Vào năm 1437, York đã có thể tin tưởng vào sự trung thành của những người ủng hộ Bedford bao gồm cả Sir John Fastolf và Sir William Oldhall.

Tuy nhiên vào năm 1443 Henry lại bổ một chỉ huy

mới,đó chính là John Beaufort-Công tước đời thứ nhất của Somerset, người phụ trách một đội quân gồm 8.000 binh sỹ, ban đầu đội quân này được dành để giải vây cho xứ Gascony. Đội quân này đã hút hết nhân lực và các nguồn lực khác mà York rất cần tại thời điểm đó, khi ông đang chiến đấu quyết liệt để giữ bằng được biên giới của vùng Normandy. Không chỉ có vậy, điều khoản trong việc bổ nhiệm Somerset có thể đã gây cho York cảm giác rằng vai trò của ông như là một vị Phó vương rất hiệu quả tại toàn bộ lãnh địa của nhà Lancaster tại Pháp đã giảm xuống chỉ còn là thống đốc của vùng Normandy. Quân đội của Somerset đã không đạt được một thắng lợi nào và cuối cùng phải quay trở về Normandy nơi mà ông này lăn đùng ra chết. Điều này có thể là sự khởi đầu của lòng thù hận mà York đã nuôi dưỡng với nhà Beaufort mà sau này nó đã trở thành một trong những nguyên nhân của cuộc nội chiến.

Thái độ của ông là phản đối kịch liệt việc Hội đồng cơ mật đầu hàng và giao nộp vùng Maine để đổi lấy một phần việc mở rộng thỏa thuận ngừng bắn với người Pháp và một cô dâu Pháp cho Henry, đã làm cho ông bị đẩy đi làm Phó vương ở Ireland ngày 30 Tháng 7. Trên một khía cạnh nào đó đây là một bổ nhiệm hợp lý vì Richard đang nắm danh hiệu Bá tước Ulster và có những bất động sản đáng kể ở Ireland, nhưng đây cũng là một cách thuận tiện loại bỏ ông ta khỏi chính trị ở cả Anh và Pháp. Thời hạn làm việc của của ông là mười năm, đây là một quyết định nhằm gạt ông ta ra khỏi triều đình Anh trong thời gian đó.

Những vấn đề trong nước giữ ông ở lại Anh cho đến tháng 6 năm 1449, nhưng cuối cùng ông đã lên đường cùng với Cecily (người đã mang thai vào thời điểm đó) và một đội tùy tùng đông khoảng 600 người. Điều này cho thấy ông đã dự kiến lưu trú ở lại đó một thời gian. Tuy nhiên, với tuyên bố thiếu tiền để trang trải cho các tài sản của mình ở Anh, York đã quyết định trở về Anh. Tình trạng tài chính của ông có thể thực sự có vấn đề, kể từ giữa những năm 1440 ông đã nợ Hoàng gia gần 40.000 £ và thu nhập từ các bất động sản của ông đã giảm.

Lãnh đạo phe đối lập năm 1450-1452

Trong năm 1450 việc bị bại trận liên tiếp trong mười năm trước đó đã tạo nên tình trạng bất ổn chính trị nghiêm trọng tại Anh. Vào tháng Giêng, Adam Moleyns-Thành viên của Hội đồng Cơ mật và Đức-Giám-mục của Chichester đã bị hành hình bởi đám đông ( theo kiểu Lynch ). Cũng trong tháng này ủy viên trưởng của Hội đồng cơ mật của nhà vua, William de la Pole-Công tước thứ nhất của Suffolk, đã bị ám sát trên đường đi lưu vong. Hạ viện yêu cầu nhà vua phải trả lại các khoản tài trợ cho đất đai và tiền bạc mà ông đã chi tiêu vào những mục mà ông yêu thích.

Trong tháng sáu, tại các hạt Kent và Suss.e.x đã dấy lên một cuộc nổi dậy. Dưới sự lãnh đạo của Jack Cade (lấy tên Mortimer), họ nắm quyền kiểm soát của London và giết chết John Fiennes, Nam tước đầu tiên của Saye và là quan Trưởng Ngân khố Tối cao của nước Anh. Trong tháng 8 cùng năm, các thị trấn cuối cùng được nắm giữ tại Normandy đã rơi vào tay người Pháp và những dòng người tị nạn đã làm ngập lụt nước Anh.
Ngày 07 tháng Chín, York đổ bộ xuống tại Beaumaris. Phải lẩn tránh một nỗ lực của Henry VI nhằm để chặn bắt ông ta và tập hợp những người ủng hộ, York đến London vào ngày 27 tháng 9. Sau một cuộc họp (và có thể có cả bạo lực) mà không đi đến một kết luận nào với nhà vua, York tiếp tục tăng cường tuyển binh cả ở vùng Đông Anglia và ở phía tây. Bạo lực ở London lại bùng lên khi Somerset trở lại Anh sau sự sụp đổ của những vùng lãnh thổ của Anh ở Normandy, nên ông này được giam vào trong ngục Tháp London cho sự an toàn của chính mình. Trong tháng 12 Nghị viện Anh bầu chọn viên thị thần của York-Sir William Oldhall làm diễn giả.Lập trường công khai của York là phải cải cách, đòi hỏi phải có một chính phủ tốt hơn và truy tố những kẻ phản bội-những người đã làm mất miền Bắc nước Pháp. Đánh giá bởi những hành động sau này của ông, người ta có thể thấy được một động cơ ẩn hơn – đó là sự hủy diệt nhằm vào Somerset vốn lúc này đã sớm được phóng thích từ tòa tháp London. Mặc dù có một thế lực to lớn, York vẫn còn thực sự thiếu một sự hỗ trợ nào đó ở bên ngoài Nghị viện và duy trì lực lượng riêng của mình.

Trong tháng 4 năm 1451, Somerset đã được phóng thích từ tòa tháp và được bổ nhiệm làm Đội trưởng ở Calais. Khi Thomas Young-một thành viên Hội đồng Cơ mật ủng hộ York, cũng là người đứng đầu vùng Bristol, đề xuất rằng York phải được công nhận là người thừa kế ngai vàng thì ông này ngay lập tức được tống vào tòa tháp ngục và Nghị viện bị giải tán. Henry VI đã bị nhắc nhở vì những chậm trễ trong cải cách, mà một số trong số đó là cách để khôi phục lại trật tự công cộng và cải thiện tài chính của Hoàng gia. Thất vọng bởi thiếu quyền lực chính trị, York đã về nghỉ hưu ở Ludlow.

Sau đó giữa York và các thân cận của nhà vua Henry VI liên tục nổ ra các tranh chấp, cuối cùng các

tranh chấp này đã nổ ra thành cuộc nội chiến Hoa hồng kéo dài 30 năm ( phe York-Hoa hồng trắng và phe Lancaster-Hoa hồng đỏ), chi tiết của cuộc nội chiến này sẽ được đưa chi tiết ở các phần sau.Bản thân Richard York trong trận St. Albans lần thứ nhất đã hạ thủ được kẻ mà mình căm gét nhất, đó là Bá tước

Somerset, sau đó ông tiến được vào London bỏ tù nhà vua Henry VI. Ông muốn xử tử Henry VI và lên làm vua nhưng nhiều thành viên của Nghị viện không đồng ý vì họ đơn giản là chỉ muốn trừ bỏ một vài cận thần bị căm ghét xung quanh nhà vua mà thôi. Phe Lancaster ra sức tập hợp và tăng cường lực lượng ở phía Bắc nước Anh với sự trợ giúp của người Scotland ( những người luôn mong người Anh phải chìm đắm trong nội chiến để khỏi quấy rầy họ)

Đối mặt với mối đe dọa tấn công từ Percys và với việc Margaret Anjou cố gắng để có được sự hỗ trợ của tân vương James III của Scotland, York, Bá tước Salisbury và Edmund-Bá tước của Rutland-con trai thứ hai York dẫn đầu một đoàn quân tiến về phía Bắc vào ngày 02 tháng 12 năm 1460. Họ đến được thành trì Sandal Castle của phe York vào ngày 21 tháng 12 và thấy rằng tình hình rất xấu và ngày càng trở nên tồi tệ hơn. Lực lượng trung thành với Henry đã kiểm soát thành phố York và lâu đài Pontefract ở gần đó cũng đã nằm trong tay thù địch. Ngày 30 tháng Mười Hai, York và lực lượng của ông tiến ra từ Sandal Castle. Lý do để họ hành binh như vậy là một điều không rõ ràng, có thể họ đã bị mắc mẹo lừa của phe Lancastrian, bị phản bội, hoặc đơn giản là sự dại dột của York. Lực lượng Lancaster đông hơn đã tiêu diệt đội quân của York trong trận chiến Wakefield. York đã bị giết chết trong trận chiến này. Edmund của Rutland đã bị chặn bắt khi ông này cố gắng chạy trốn và bị chặt đầu, có thể bởi John Clifford, Nam tước de Clifford thứ 9 để trả thù cho cái chết của người cha của mình trong trận St Albans lần thứ nhất. Bá tước Salisbury chạy thoát nhưng đã bị bắt và hành hình vào đêm hôm sau.

York đã được chôn cất tại Pontefract, nhưng cái đầu lâu của ông bị phe Lancaster cho đội một chiếc vương miện bằng giấy và bêu trên một ngọn giáo rồi trưng bày trên Micklegate Bar tại York để hiển thị chiến thắng của họ. Sau đó phần xác còn lại của ông đã được chuyển đến nhà thờ St Mary và All Saints, Fotheringhay. Các con trai của ông vẫn tiếp tục cuộc chiến, họ cũng đã thu được nhiều thắng lợi, giết được nhiều kẻ thù và lên ngôi vua Anh như là Edward IV và Richard III và rồi họ cũng lại ngã gục trên chiến trường.

Một số trận đánh tiêu biểu trong giai đoạn cuộc chiến của nhà Valois

Trận bao vây thành phố Orléans

The Siege of Orléans (1428-1429) đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc Chiến trăm năm giữa Pháp và Anh. Sự kiện này là chiến thắng quân sự lớn đầu tiên của Joan d’Arc và cũng là thành công quân sự lớn đầu tiên mà người Pháp thực hiện được sau khi bị đánh bại bởi người Anh tại Agincourt vào năm 1415. Giai đoạn đầu của cuộc bao vây này đánh dấu đỉnh cao của sức mạnh của người Anh trong những giai đoạn sau của cuộc chiến. Việc nắm giữ thành phố có ý nghĩa chiến lược và biểu tượng cho cả hai bên của cuộc xung đột. Sự đồng thuận giữa các tài liệu đương thời cho thấy vị nhiếp chính của Anh-John Plantagenet, sẽ thành công trong việc thực hiện ước mơ của Henry V là sẽ chinh phục toàn bộ nước Pháp nếu Orléans thất thủ. Trong vòng nửa năm người Anh dường như đã chiến thắng, nhưng cuộc bao vây đã sụp đổ sau chín ngày sau khi Joan. d’Arc đến OrléansCuộc bao vây Orléans nổ ra trong Chiến tranh Trăm năm, xung đột giữa các nhà cai trị của Pháp và Anh về uy quyền tối cao của nước Pháp. Cuộc xung đột đã bắt đầu trong năm 1337 sau khi Edward III của Anh đã quyết định tuyên bố với báo chí của mình để lên ngôi Pháp, yêu cầu bồi thường một phần dựa trên thừa kế cổ từ William the Conqueror và tăng cường bằng cách kế thừa từ những cuộc hôn nhân chiến lược.Sau một chiến thắng quyết định tại Agincourt vào năm 1415, người Anh đã đạt được thế thượng phong trong cuộc xung đột, chiếm phần lớn miền Bắc nước Pháp. Theo Hiệp ước Troyes năm 1420, Henry V của Anh đã trở thành nhiếp chính của Pháp. Qua hiệp ước này, Henry đã kết hôn Catherine, con gái của Charles VI-vua Pháp lúc đó và sau đó sẽ kế thừa ngôi vua của Pháp cái chết của Charles. Charles Dauphin, con trai của Charles VI và là người thừa kế ngai vàng nước Pháp trước khi hiệp ước Troyes được ký kết, sau đó ông này đã bị truất quyền thừa kế.Thành phố Orléans nằm trên sông Loire ở phía bắc miền trung nước Pháp. Trong thời gian của cuộc bao vây này, nó là thành phố cuối cùng ở vùng cực bắc vẫn trung thành với Hoàng gia Pháp. Người Anh và người Burgundy-đồng minh của họ kiểm soát phần còn lại của miền Bắc nước Pháp, bao gồm cả Paris. Orléans được định vị trên một con sông lớn làm cho nó trở thành trở ngại cuối cùng cho một chiến dịch vào miền Trung nước Pháp. Người Anh đã kiểm soát được bờ biển phía Tây Nam nước Pháp.

Phe đảng Armagnac

Là đại bản doanh của công tước của Orleans, thành phố này có ý nghĩa biểu tượng chính trị đầu thế kỷ mười lăm. Bá tước Orléans cầm đầu một phe phái chính trị được gọi là Armagnacs-những người bác bỏ Hiệp ước Troyes và ủng hộ tuyên bố về ngai vị vua Pháp của vua Charles VII vốn đã bị truất ngôi. Phe này đã hoạt động trong hai thế hệ. Kết quả là Công tước của Orléans là một trong những rất ít chiến binh vẫn còn bị giam giữ làm tù nhân mười bốn năm sau trận Agincourt bởi người Anh.

Theo đạo luật mã thượng của tinh thần hiệp sỹ, một thành phố đầu hàng một đội quân xâm lược mà không chống cự sẽ được hưởng sự đối xử khoan dung từ người cai trị mới của nó. Một thành phố chống cự dữ dội có thể phải chờ đợi một sự chiếm đóng khắc nghiệt. Trong tình hình này những vụ thảm sát là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Theo cách lý luận này vào cuối thời Trung cổ, thành phố Orléans đã leo thang cuộc xung đột và bắt buộc người Anh phải sử dụng bạo lực, do đó sau khi quân xâm lược kết thúc cuộc chinh phục họ sẽ tiến hành trả thù cực kỳ dữ dội vào công dân của thành phố. Thành phố này lại luôn về phe Armagnac làm cho nó khó có khả năng được dung tha nếu nó thất thủ.

Giai đoạn đầu của cuộc bao vây

Khi cuộc bắt đầu cuộc bao vây, bắt đầu vào ngày 12 tháng 10 năm 1428 dưới sự chỉ huy của Bá tước Salisbury, lực lượng của người Anh đã kiểm soát được một số thị trấn trong thung lũng sông Loire. Orléans là thành trì chính cuối cùng của phe Armagnac.

Ngay từ đầu trong cuộc bao vây, người Anh đã tấn công Augustins, một tu viện có tường bao quanh và xa hơn nó, Tourelles-một chiếc công sự kiên cố nằm ở cuối phía nam của một cây cầu dài gần ¼ dặm (400 m) trên sông Loire hướng vào thành phố (nằm ở phía bắc của con sông). Về phần mình, quân phòng thủ Orléana, đã ngay lập tức đưa ra quyết định từ bỏ Tourelles và rút lui vào đằng sau những bức tường của thành phố để thực hiện phòng thủ, họ đã phá vỡ một phần cây cầu phía sau đó.

Ngay sau khi người Anh chiếm được chiếc công sự Tourelles, vào cuối tháng Mười, Bá tước của Salisbury đã bị bắn trúng vào mặt bởi các mảnh đá vụn từ một phát đạn pháo, mặc dù đã được tận tình cứu chữa trong vòng một tuần ông này vẫn lăn quay ra chết. Khoảng một tháng sau vào đầu tháng 12 năm 1428, sau một loạt các chỉ huy tạm thời của cuộc bao vây, Sir William de la Pole, Công tước thứ nhất của Suffolk, hầ̀u tước thứ nhất của Suffolk, Bá tước thứ 6 của Suffolk nhận trách nhiệm chỉ huy chung cuộc bao vây, một vị trí mà ông sẽ giữ lại cho đến khi kết thúc cuộc vây hãm vào tháng 5 của năm tiếp theo.

Trong khi đó, trong những tháng đầu của cuộc bao vây, người Anh đã thành lập một loạt các vị trí kiên cố xung quanh thành phố. Vì họ thiếu một lực lượng đủ lớn để bao vây kín thành phố nên quân phòng thủ vẫn có thể di chuyển người và lương thực vào trong và ngoài, mặc dù những di chuyển này cũng thường hay bị cản trở bởi quân Anh. Cuộc phong tỏa lỏng lẻo này đã được tiến hành với một loạt các pháo đài ở phía tây và phía bắc, trong khi Tourelles và một pháo đài ở ngay trước mặt bảo vệ phía nam. Phía Đông là pháo đài Saint Loup nằm trên 2 km từ phía cửa ngõ phía Đông của thành phố. Ngoài Les Augustins, Tourelles và đầu cầu phía nam, các pháo đài khác chỉ được đồn trú bởi rất ít quân.

Trận Cá trích ( trận này sẽ được thêm chi tiết ở phần sau )

Hành động quân sự quan trọng nhất sau khi thành phố bị bao vây và trước khi Joan đến vào lúc cuối tháng Tư năm 1429 đã nổ ra ở phía bắc thành phố Orléans, bên ngoài một thị trấn nhỏ của Pháp tên là Rouvray. Ở đây vào ngày 12 tháng Hai, một vài ngàn binh sĩ Pháp và Scotland đã cố gắng không thành công để đánh chặn và chuyển hướng một đoàn xe tải chở đồ cung cấp người Anh trong một trận chiến được biết đến trong lịch sử như là trận chiến Cá trích ( battle of Herrings), trận chiến này được đặt tên như vậy là bởi vì đoàn xe cung cấp chở một số lượng lớn cá cho mùa Chay sắp tới. Người Anh được chỉ huy bởi Sir John Fastolf (1380-1459) của Caister ở Norfolk, người sau này bị cáo buộc là đã ‘chạy tháo thân’ trong trận Patay.

Vào ngày của cuộc chiến này mà Joan đã gặp Robert de Baudricourt tại Vaucouleurs ( quan Tổng trấn của Pháp ở Vaucouleurs ) lần cuối cùng để xin hỗ trợ trước khi bắt đầu chuyến đi để gặp nhà Dauphin tại Chinon. Có chuyện nói rằng tại cuộc họp này với Baudricourt, Joan đã tiết lộ với ông rằng ngày hôm đó huy hiệu của Dauphin sẽ bị đảo ngược ( quân Pháp bị thua một trận lớn) ở gần Orléans và rằng nếu nàng không được đến chỗ ông ta sớm thì sẽ có những trận thua khác nữa. Một lần nữa, theo phiên bản này, đó là khi tin tức về thất bại tại Rouvray đến được Vaucouleurs thì Baudricourt, lúc này đã hoàn toàn bị thuyết phục bởi khả năng tiên đoán của cô gái, đã mủi lòng và đồng ý cho cô một đội hộ tống đến Chinon. Dù sự thật của câu chuyện là như thế nào đi chăng nữa, nó cũng không được chấp nhận bởi tất cả nhà văn-Joan rời Vaucouleurs vào ngày 23 tháng 2 để đến Chinon và sau đó là đến Orléans.

Quân số của người Anh không đủ để bao vây thành phố một cách thực sự và đại bác của họ cũng không có khả năng phá vỡ các bức tường đá dày của thành phố. Tuy nhiên, vào mùa xuân năm 1429 mặc dù đã có một số đoàn xe cung cấp của Pháp chở được đồ tiếp tế vào thành phố nhưng tình hình vẫn ngày càng trở nên tuyệt vọng.

Joan d’Arc đến Orléans

Trong nhiều năm, một lời tiên tri mơ hồ đã được đồn đại tại Pháp liên quan đến một cô gái có mặc áo giáp sẽ cứu vớt nước Pháp. Rất nhiều lời tiên tri như vậy đã báo trước rằng cô gái có mặc áo giáp sẽ đến từ khu vực vùng Lorraine-làng Domrémy, nơi Joan được sinh ra. Kết quả là khi câu chuyện cuộc hành trình của Joan đi để gặp nhà vua đến được với các công dân của thành phố Orléans đang bị bao vây đã làm dâng cao lên mọi mong đợi và hy vọng.

Joan đến Chinon vào đầu tháng ba, lúc đó nàng đã gặp nhà Dauphin. Sau này, nàng đã được gửi đến Poitiers để các quan chức nhà thờ, chức sắc khác để kiểm tra. Sau khi nhận được sự chấp thuận của Giáo Hội và hoàng gia, nàng gia nhập quân đội cứu viện lúc này đang được tập hợp tại Blois.

Tại Blois việc đầu tiên là Joan đã gửi ít nhất hai lá thư gửi tới lực lượng Anh đang bao vây Orléans. Trong thư này nàng kêu gọi người Anh chấm dứt cuộc bao vây và từ bỏ tất cả các thành phố và vùng lãnh thổ mà họ đã chiếm đóng ở Pháp và trở về nước Anh. Nếu họ từ chối, nàng thề rằng nàng sẽ phát động một “cuộc chiến tranh … thảm khốc với họ và rằng cuộc chiến này sẽ kéo dài mãi mãi cho đến khi người Anh phải tháo chạy.” Sau đó, nàng nói: “Tôi sẽ không viết thêm nữa”. Đó là một lời hứa táo bạo vào thời điểm đó nhưng sự thật đã xảy ra theo đúng lời hứa của nàng.

Joan Arc đã đến với quân đội cứu viện ở ngoại ô Orléans vào ngày 28 Tháng Tư năm 1429 và sau khi nghỉ một đêm tại Checy và ngày hôm sau họ tiến vào thành phố trong niềm hân hoan của cư dân ở đây.Chuẩn bị để giải tỏa vòng vây Cuốn sách ”The Journal du siege d’Orléans” đã được trích dẫn trong những ghi lại của sử gia Pernoud nói về một số cuộctranh cãi dữ dội trong tuần tiếp theo liên quan đến các chiến thuật quân sự giữa Joan và Jean de Dunois, Bastard của Orléans, viên chỉ huy quân sự của thành phố. Dunois rời thành phố quay lại Bloisvào ngày 1 tháng để thu thập thêm quân tiếp viện và lại trở về vào ngày 4.Trong khi đó, Joan đi ra ngoài bức tường thành phố và trinh sát tất cả các công sự của người Anh, tại một thời điểm nàng đã nói chuyện với chính Glasdale ( chỉ huy của quân Anh và đương nhiên là phải ở ngoài tầm tên rồi ).

Ngày 04 tháng 5, Joan cưỡi ra khỏi thành phố và chỉ huy quân tiếp viện của Pháp tấn công vào một pháo đài của Anh đượcxây dựng tại St. Loup. Pháo đài đã bị chiếm hơn một trăm quân phòng thủ người Anh bị giết chết với hơn 40 người khác bịbắt làm tù binh. Việc chiếc pháo đài tại St Loup bị chiếm cho phép việc giao thông tương đối không bị cản trở và di chuyển giữa thành phố và một phần của lực lượng Pháp đã đóng quân ở phía nam của sông Loire trở nên thông suốt kể từ khi họđến từ Blois vào tuần trước đó. Sau trận đánh này, Joan đã viết lại một lần nữa tới người Anh yêu cầu họ từ bỏ cuộc bao vây hoặc phải đối mặt với những hậu quả thảm khốc.Hai ngày sau, sau một vụ tranh cãi gần như diễn ra hàng ngày liên quan đến các chiến thuật quân sự mà trong đó Joan đã kêu gọi tấn công, đi ngược lại với các khuyến nghị của các chỉ huy quân sự thận trọng hơn của người Pháp ( mà đại diện làJean Dunois ), một lực lượng lớn quân Pháp rời khỏi thành phố, vượt qua phía nam của sông Loire và phát động một cuộctấn công trực tiếp từ phía trước vào một vị trí vốn đã được tăng cường phòng thủ của người Anh tại tu viện Augustins trên bờ phía nam của con sông ở phía trước của pháo đài Tourelles. Trận chiến đấu kéo dài từ sáng cho đến chiều tối, cuối cùng thì bức tường bao quanh tu viện đổ sụp làm cho quân Anh đồn trú tại pháo đài Les Tourelles trở nên bị cô lập.Tấn công Les Tourelles

Trong khi các chỉ huy quân sự khác trong thành phố tổ chức một cuộc họp mà không có mặt của Joan và ra một quyết định là chờ phải chờ quân tiếp viện đến trước khi tổ chức một cuộc tấn công vào chính pháo đài Les Tourelles, nhưng Joan với sự ủng hộ của toàn thể binh lính lại chuẩn bị cho trận chiến vào sáng hôm sau.

Sáng ngày 07 tháng 5, các cuộc tấn công vào chiếc cổng thành phố được tăng cường phòng thủ và gọi tên là Les Tourelles đã được bắt đầu. Đó là những cuộc tấn công trực tiếp phía trước. Quân Pháp đã cố gắng làm suy yếu các cung thủ anh đứng trên cây cầu vốn là một phần nền tảng móng của tòa pháo đài và họ đẩy một chiếc sà lan được đốt cháy ra để tấn công nó ( cây cầu và các cung thủ Anh đứng trên cầu ), mặc dù viên chỉ huy DeVries có ý kiến ​​rằng chiến thuật này sẽ không có tác dụng nhiều.Giữa trận đấu, Joan đã bị thương bởi một cung thủ Anh (có thể sử dụng mũi tên kiểu cây trâm). Người Anh (nhiều người cho rằng bất kỳ người phụ nữ dẫn đầu một đội quân đều là phù thủy) đã bắt đầu nhảy múa và hò hát ” mụ phù thủy đã chết! Mụ phù thủy đã chết! ” Trong lời để phục hồi danh dự cho nàng, Jean Pasquerel- cha giải tội của Joan, tuyên bố rằng bản thân Joan đã có một số linh cảm hoặc biết trước sự kiện này, nàng đã nói rõ vào ngày trước khi tấn công bắt đầu rằng “ngày mai sẽ chảy máu từ cơ thể của tôi ở trên ngực của tôi.” Joan rút mũi tên ra khỏi vai của chính mình. Sau khi nhận được chăm sóc y tế cho vết thương, Joan đã trở lại chiến đấu.Sau ngày hôm đó trong cuộc họp vào buổi tối, Dunois đã chuẩn bị ra lệnh chấm dứt cuộc tấn công, nhưng Joan đã ép ông ta phải trì hoãn mệnh lệnh này. Sau đó, sau khi lui vào khu rừng gần đó để cầu nguyện, nàng đã quay trở lại và phát động một cuộc tấn công mới, lần này quân Pháp đã thành công. Pháo đài Les Tourelles đã bị chiếm và toàn bộ quân phòng thủ người Anh đã bị giết chết hoặc bị bắt làm tù binh. Chính bản thân Sir William Glasdale, người chỉ huy Les Tourelles đã bị chết đuối ở sông Loire.

Trận chiến Herrings (Cá trích)

Trận Herrings là một trận đánh ở gần thị trấn Rouvray tại nước Pháp, ở phía bắc của thành phố Orléans, nó diễn ra vào ngày 12 tháng 2 năm 1429 trong thời gian xảy ra cuộc vây hãm thành phố Orléans. Nguyên nhân trực tiếp của trận chiến là một nỗ lực của lực lượng quân đội Pháp, được dẫn đầu bởi Charles Bourbon, Bá tước của Clermont, để đánh chặn và chuyển hướng một đoàn xe chở đồ cung cấp cho lực lượng quân Anh. Người Anh đã thành lập cuộc bao vây thành phố Orléans kể từ tháng 10 năm trước. Người Pháp được hỗ trợ bởi một lực lượng Scotland được chỉ huy bởi quan Nguyên soái của quân đội Scotland, Sir John Stewart của Darnley. Có hai nơi được gọi là Rouvray trong khu vực mà trận đánh có thể đã xảy ra. Trong cuấn tiểu sử của Sir John Fastolf, Stephen Cooper đã cho người đọc thấy rằng trận chiến có thể đã diễn ra ở gần Rouvray-Sainte-Croix, chứ không phải là ở Rouvray-Saint-Denis.Đoàn xe chở đồ cung cấp này được chỉ huy bởi Sir John Fastolf và được trang bị ở Paris, từ nơi mà nó đã khởi hành trong một khoảng thời gian trước đó. Theo Régine Pernoud, đoàn xe này bao gồm “khoảng 300 chiếc xe và toa xe, có mang theo các cây nỏ, đại bác và súng thần công cùng với rất nhiều thùng cá trích.” Một đoàn xe thứ hai đã được gửi đi từ những ngày kế cận Mùa Chay. Vì có sự hiện diện của các thùng cá trích này mà chúng đã tạo cho trận chiến một cái tên hơi bất thường.

Trận chiến

Địa điểm của Trận chiến là một đồng bằng phẳng gần như không có gì đặc biệt. Quân đội Pháp với số lượng ở khoảng 3000 và 4000 người đã đối đầu với lực lượng Anh nhỏ hơn nhiều, người Anh đã thiết lập vị trí phòng thủ bằng cách dựng các toa xe chở đồ cung cấp thành một chiếc pháo đài tạm thời. Sau đó đội hình phòng thủ này tiếp tục được bảo vệ từ các vị trí các vũ khí sắc bén, tất cả các điểm xung quanh để ngăn chặn kỵ binh Pháp tấn công, một chiến thuật đã được sử dụng và thu được thành công lớn trong trận Agincourt. Cuộc tấn công của quân Pháp được bắt đầu bằng một bắn phá bằng pháo binh có sử dụng thuốc súng, đây là một loại vũ khí tương đối mới trong thời gian này và thậm trí những người sử dụng nó còn có thể chưa hiểu rõ về chúng một cách tường tận.

Khoảng 400 binh sỹ tinh nhuệ người Scotland, đã làm trái với mệnh lệnh của Bá tước Clermont (Pernoud đã công bố rằng “Clermont đã liên tục gửi các tín sứ thông báo cấm bất kỳ một cuộc tấn công nào”) đã tiến lên và tấn công vào đội hình của quân Anh. Điều này, theo DeVries, đã buộc quân Pháp phải sớm chấm dứt các cuộc bắn phá bằng pháo binh vì sợ rằng sẽ gây thiệt hại cho lực lượng của chính họ. Quân sỹ Scotland đã không có những chiếc áo giáp bảo vệ tốt và bị gây thiệt hại lớn trong khi tiến lên bởi các cung thủ và xạ thủ bắn nỏ của Anh, những người được bảo vệ kín đáo từ chiếc pháo đài bằng các toa xe của họ.

Pernoud công bố rằng quân đội liên minh Pháp/ Scotland bị mất khoảng 400 người, bao gồm cả Stewart-chỉ huy của quân Scotland. Trong số những người bị thương là Jean de Dunois, ông này được biết đến với biệt hiệu Bastard of Orléans, ông này đã trốn thoát và giữ lại cuộc sống của mình một cách cực kỳ khó nhọc và ông cũng là người sau này sẽ đóng một vai trò quan trọng, cùng với Joan Arc giải vây cho thành phố Orléans bị vây hãm và chiến dịch sông Loire toàn thắng của người Pháp tiếp sau đó.

Hậu quả và ý nghĩaTrong khi ngày nay người ta thường cho rằng trận chiến Cá trích bị thất bại vì việc cho chấm dứt bắn phá bằng pháo binh quá sớm làm cho nó không có hiệu quả một cách đầy đủ, nhưng vào thời điểm đó người ta lại không cho là như vậy, ít nhất là ở trong thành phố Orléans đang bị bao vây. Theo cuấn the Journal du siege d’Orléans, khi đã vào đến bên trong bức tường thành phố, Bá tước Clermont thường bị đổ lỗi cho thất bại này, ông thường bị coi là một kẻ hèn nhát và bị đối xử với thái độ khinh thị. Ngay sau đó, Bá tước Clermont cùng với Công tước Dunois lúc này đã bị thương đã rời khỏi Orléans cùng với khoảng 2000 binh sĩ. Tinh thần của dân chúng trong thành phố và giữa các chỉ huy của nó đã xuống đến điểm thấp nhất, vì vậy đã có nhiều ý kiến đưa ra rằng thành phố phải chấp nhận đầu hàng.Trận chiến Cá trích là hoạt động quân sự quan trọng nhất trong cuộc vây hãm Orléans từ khi nó được bắt đầu vào tháng 10 năm 1428 cho đến khi Joan Arc xuất hiện vào tháng 5 năm sau,. Mặc dù có tính chất quan trọng như vậy, nhưng theo các ghi chép lịch sử nó lại là một trận đánh khá nhỏ và không cho thấy ngay những ảnh hưởng mà nó đã tạo ra, thậm chí có nhiều khả năng nó còn bị đánh xuống hạng trong các ghi chép trong lịch sử quân sự hoặc thậm chí bị lãng quên hoàn toàn.Nhưng không chỉ là một phần của một trong cuộc bao vây nổi tiếng nhất trong lịch sử, câu chuyện về trận đánh đã trở nên thịnh hành vì nó đóng một vai trò quan trọng trong việc thuyết phục Robert de Baudricourt tại Vaucouleurs chấp nhận yêu cầu của Joan để hỗ trợ và đưa nàng an toàn đến Chinon. Vào ngày mà trận chiến xảy ra (12 tháng 2 năm 1429) cũng là ngày mà Joan đã gặp de Baudricourt lần cuối cùng. Theo câu chuyện được kể lại ở một vài nơi (ví dụ, trong Sackville-West), Joan đã đưa ra một thông điệp rằng ” ngày hôm đó Gia huy của nhà Dauphin sẽ bị đảo ngược ở gần Orléans”. Khi mà vài ngày sau đó tin tức của thất bại quân sự ở gần Rouvrey đã đến được Vaucouleurs và de Baudricourt khi biết câu chuyện, đã cảm thấy mủi lòng và đồng ý tài trợ cho cuộc hành trình của nàng đến gặp nhà Dauphin ở Chinon. Cuối cùng Joan đã rời Vaucouleurs đến Chinon vào ngày 23 tháng Hai năm 1429.

Chiến dịch sông Loire năm 1929Trận chiến JargeauTrận chiến Jargeau diễn ra vào ngày 11-ngày 12 Tháng Sáu năm 1429. Đó là trận tấn công đầu tiên của Joan Arc. Ngay sau khi giải vây Orléans, lực lượng Pháp đã chiếm lại các quận huyện lân cận dọc theo sông Loire. Chiến dịch này là chiến dịch tấn công đầu tiên của người Pháp và nó được duy trì trong một thế hệ trong chiến tranh Trăm năm.Bối cảnhCuối năm 1428, trong những năm cuối của cuộc Chiến tranh Trăm năm, quân Anh và đồng minh Burgundian của họ đã chiếm đóng hầu như tất cả các thành phố lớn của Pháp ở về phía bắc của sông Loire. Nhiều điểm chiến lược dọc theo dòng sông Loire cũng đã bị chiếm đóng và Orléans-thành phố lớn cuối cùng trên con sông này đã bị vây hãm từ tháng 5 trong năm đó ( năm 1428).

Quân Anh muốn có thể bảo đảm kiểm soát hoàn toàn vùng thung lũng Loire-phần phía nam của Pháp, các vị trí còn lại cuối cùng của nhà Dauphin sẽ hoàn toàn rộng mở cho một cuộc xâm lược.

Trong đầu tháng ba năm 1429, Joan of Arc đã có mặt tại Chinon để gặp mặt nhà Dauphin và sau khi được kiểm tra bởi các quan chức nhà thờ ở Poitiers, nàng đã tham gia cùng với một lực lượng lớn quân Pháp, khởi hành để giải tỏa cuộc bao vây tại Orléans. Hoạt động quân sự này đã được chứng minh là hoàn toàn thành công sau khi cuộc bao vây đã bị dỡ bỏ vào tháng 9.

Cây cầu ở Thành phố Orléans đã bị phá hủy ngay trước khi cuộc bao vây bị dỡ bỏ. Người Pháp đã mất quyền kiểm soát tất cả các cây cầu vượt sông khác. Ba trận chiến nhanh chóng với số lượng quân nhỏ đã nổ ra tại Jargeau, Meung-sur-Loire, và Beaugency đã càng làm tăng sự tự tin của quân Pháp và đặt nền tảng các cuộc hành binh tiếp theo của người Pháp ở Rheims và Paris. Chiến dịch Loire đã giết, bắt tù binh, hoặc làm thất sủng một phần lớn tầng chỉ huy cao cấp của quân Anh và tàn sát một số lượng đáng kể các cung thủ trường cung Anh có tay nghề cao.

Chiến dịch Loirecủa Pháp trong năm 1429 bao gồm năm trận chiến sau:

1. Giải vây Thành phố Orléans.
2. Trận chiến Jargeau.
3. Trậnchiến Meung-sur-Loire.
4. Trận chiến Beaugency.
5. Trận chiến Patay.

Từ Orléans đến Jargeau

Sau khi phá bỏ được cuộc bao vây nhắm vào Orléans, lực lượng quân đội Pháp đã dành tháng tiếp theo để tuyển dụng và phát triển lực lượng cho hoạt động quân sự ở các giai đoạn tiếp theo. Vào đầu tháng Sáu, tại một cuộc họp của các chỉ huy quân sự có sự hiện diện của nhà Dauphin, họ đã đi đến một quyết định theo đuổi một chiến lược quét sạch các đơn vị đồn trú của quân đội Anh tại thung lũng sông Loire. Quân đội đã được tập hợp tại Orléans, nơi mà Joan tái gia nhập với họ vào ngày 09 tháng 6. Ngày hôm đó, quân đội Pháp khởi hành về phía Jargeau, điểm dừng chân đầu tiên của họ tại chiến dịch thung lũng Loire.

Trong khi đó, vào ngày 08 tháng 6, Sir John Fastolf cuối cùng đã rời Paris với một quân đội tăng cường gồm hàng ngàn binh sỹ Anh, ông này cũnghướng về phía thung lũng sông Loire.

Thị trấn Jargeau

Jargeau là một thị trấn nhỏ trên bờ phía nam của sông Loire ở miền trung nước Pháp, khoảng mười dặm về phía đông của Orléans. Bị chinh phục bởi quân Anh trong một vài năm trước đó như là một điểm trung chuyển cho các kế hoạch của một cuộc xâm lược của người Anh vào miền Nam nước Pháp, thành phố được bảo vệ bởi một bức tường với các tháp canh và các cánh cổng kiên cố. Một chiếc hào được đào bên ngoài các bức tường làm tăng cường hơn nữa khả năng phòng thủ. Bên ngoài các bức tường, các khu ngoại ô đã bắt đầu mọc lên. Có một cây cầu nối tăng cường duy nhất-có ý nghĩa cực kỳ chiến lược cho phần sau của cuộc chiến tranh, vượt qua sông Loire để đến bờ phía bắc. Thành phố này được bảo vệ bởi khoảng 700 binh sỹ Anh được vũ trang bởi gồm cả hỏa khí.

Chiến thuật

Joan Arc và Công tước John II của Alençon thống lĩnh một lực lượng bao gồm đại úy Jean d’Orléans, Gilles de Rais, Jean Poton de Xaintrailles và La Hire. Công tước Suffolk William de la Pole chỉ huy lực lượng phòng thủ Anh.

Cuộc chiến bắt đầu với một cuộc tấn công của người Pháp được bắt đầu ở các vùng ngoại ô. Quân phòng thủ Anh rời khỏi bức tường thành phố rồi tiến hành phản công và quân Pháp đã bị đẩy lui trở lại. Joan Arc dương cao lá cờ của mình để bắt đầu một cuộc tấn công mới của quân Pháp. Quân Anh rút lui vào bên trong các bức tường của thành phố và quân Pháp bị kẹt trong các vùng ngoại ô vào ban đêm.

Buổi sáng hôm sau Joan Arc kêu gọi quân phòng thủ hạ vũ khí đầu hàng. Họ đã từ chối. Quân Pháp lại tiến lên sau những đợt bắn phá bằng pháo hạng nặng kiểu sơ khai và những động cơ bao vây-công thành. Một chiếc tháp của thị trấn đã sụp đổ. Suffolk cử người đi điều đình việc đầu hàng đầu hàng với La Hire-một viên Đại úy của Pháp. Việc này bị bãi bỏ vì đã vi phạm vào quân lệnh của quân Pháp.

Joan Arc lại cho bắt đầu một cuộc tấn công mới vào các bức tường thành phố,nàng vừa may mắn còn sống sót sau khi một viên đạn đá bị vỡ làm hai và bắn vào chiếccủa mình khi nàng đang trèo lên một chiếc thang rộng. Quân Anh bị tổn thất nặng nề. Hầu hết các văn bản ghi chép lại đều ước tính số lượng lính Anh tử trận là khoảng 300-400 trên tổng số 700 quân phòng thủ Anh. Công tước Suffolk đã trở thành một tù binh. Người Pháp cósố lượng khoảng 1.200 binh lính và thiệt hại của họ dường như là khá nhẹ.

Trận chiến Meung-sur-Loire

Trận chiến Meung-sur-Loire diễn ra vào ngày 15 Tháng 6 năm 1429, quân đội Pháp với số lượng khoảng 7.000 người dưới sự chỉ huy của Arc và công tước John II Alençon đã đánh bại một đạo quân nhỏ hơn của Anh dưới sự chỉ huy của John Talbot, Bá tước thứ I của Shrewsbury và Thomas Scales tại thị trấn Meung-sur-Loire bên bờ sông Loire, không có văn bản nói về số lượng thương vong cụ thể của cả hai bên nhưng về phía quân Anh là nặng nề vì Pháp sử dụng hỏa khí ngày càng thành thạo hơn.

chiến thuật

Quân đồn trú Anh phòng thủ tại Meung-sur-Loire thành ba lớp: lớp trong thành phố có tường bao quanh, đóng tại chiếc pháo đài trên cầu và một lâu đài lớn có tường bao quanh bên ngoài thị trấn. Chiếc lâu đài trở thành sở chỉ huy của John Talbot, Bá tước của Shrewsbury và Thomas.

Joan Arc và Công tước John II Alençon chỉ huy một lực lượng bao gồm các Đại úy Jean d’Orléans, Gilles de Rais, Jean Poton de Xaintrailles và La Hire. Ước tính số lượng quân Pháp khhoảng 6000 – 7000 người, theo tạp chí ( the Journal du Siège d’Orléans ). Một phần trong số họ có thể không phải là chiến binh chuyên nghiệp. Vượt qua thành phố và lâu đài, họ đã tổ chức một cuộc tấn công trực diện vào chiếc công sự trên cây cầu và đã chiếm được nó sau một ngày chiến đấu dữ dội và đặt một lực lượng đồn trú ở đó. Sự kiện này đã cản trở những cơ động của quân Anh ở phía nam sông Loire.

Trận chiến Beaugency

Trận chiến Beaugency diễn ra vào ngày 16 và 17 tháng Sáu 1429, quân đội Pháp dưới sự chỉ huy của Arc và công tước John II Alençon đã đẩy lui được quân trấn thủ của Anh dưới sự chỉ huy của John Talbot ra khỏi thị trấn Beaugency-một thị trấn có một cây cầu rất quan trọng bắc qua sông Loire. Quân đội Pháp tăng lên rất nhanh sau chiến thắng tại Orléans. Trong cuộc tấn công vào Beaugency có một tình nguyện viên gây ra một sự xôn xao trong bộ chỉ huy của quân Pháp. Đó là Nguyên soái Arthur de Richemont-người đang bị thất sủng (không rõ lý do) tại triều đình Pháp trong hai năm gần đó, ông này đã xuất hiện với một lực lượng gồm 1000 người và tình nguyện xin được phục vụ. Bất chấp nguy cơ bị căm tức bởi Hoàng gia Pháp, Joan Arc vẫn chấp nhận lực lượng tăng viện này.

Joan Arc và Công tước John v II chỉ huy một đội quân Pháp bao gồm các đại úy Jean d’Orléans, Gilles de Rais, Jean Poton de Xaintrailles, và La Hire. John Talbot, Bá tước thứ nhất của Shrewsbury chỉ huy quân phòng thủ Anh. Phá tập quán của chiến tranh vây hãm, trong ngày 15 tháng 6 quân đội Pháp tiến vào và chiếm cây cầu tại Meung-sur-Loire mà không tổ chức một cuộc tấn công nào vào thị trấn hoặc lâu đài của nó, nhưng họ lại mở một cuộc tấn công vào thị trấn lân cận-Beaugency vào ngày hôm sau. Không giống như ở Meung-sur-Loire, pháo đài chính của Beaugency ở bên trong bức tường thành phố. Nó còn tồn tại đến tận ngày nay và là một tòa pháo đài hình chữ nhật. Trong ngày đầu tiên của cuộc chiến quân Anh đã từ bỏ bức tường của thị trấn và rút lui vào tòa lâu đài. Quân Pháp đã tổ chức bắn phá mãnh liệt vào lâu đài bằng hỏa lực pháo binh. Buổi tối hôm đó Nguyên soái de Richemont và lực lượng của ông đã kéo đến tăng viện cho quân Pháp.Nghe tin rằng có một lực lượng tiếp viện của Anh đang kéo đến từ Paris dưới sự chỉ huy của Sir John Fastolf, Công tước Alençon chấp nhận cho quân Anh hạ vũ khí và cho họ an toàn rời khỏi Beaugency. Ngay sau đó trận chiến Patay lại tiếp tục nổ ra vào ngày 18 Tháng Sáu.

Trận Patay

Trận Patay (18 Tháng Sáu, 1429) là trận chiến đỉnh điểm của Chiến dịch Loire trong Chiến tranh Trăm năm giữa Pháp và Anh ở phía bắc miền trung nước Pháp. Đó là một chiến thắng quyết định cho người Pháp và hoàn toàn xoay chuyển cục diện của chiến tranh. Chiến thắng này của người Pháp có thể nói là có ý nghĩa tương đương với trận Agincourt của Anh. Chiến thắng được ghi công cho Joan Arc và hầu như chỉ có đội quân tiên phong của quân Pháp ( khoảng 1.500 kỵ sỹ) là tham gia vào trận đánh và trận chiến đã kết thúc trước khi đội hình chính của quân Pháp có thể đến được chiến trường. Khoảng 2.500 quân Anh ( đa số là các cung thủ trường cung Anh ) trên tổng số 5.000 người đã bị giết và bị bắt làm tù binh, từ đây danh tiếp bất khả chiến bại của lực lượng này đã bị tan biến.Quân Anh bao gồm cả quân phòng thủ còn lại tại Meung-sur-Loire. QuânPháp chỉ chiếm cây cầu tại vị trí này, chứ không phải là lâu đàihoặc thị trấn lân cậnvới nó. Quân phòng thủ Anh rút lui từ Beaugency cũng gia nhập vào đạo quân này. Người Anh rất xuất sắc trong một trận đánh mở, họ đã đóng ở một vị trí nào đó mà ngày nay người ta chưa biết chính xác, nhưng theo truyền thống thì được cho là ở gần ngôi làng nhỏ Patay. Sir Fastolf, Sir John Talbot và Sir Thomas Scaleslà các chỉ huy của người Anh.

Chiến thuật phòng thủ tiêu chuẩn của cung thủtrường cung Anh chỉ là cắm những cọc gỗ nhọn vào mặt đất gần vị trí của họ và hướng về phía tấn công của kẻ thù.Chiến thuật này ngăn chặn các cuộc tấn công của kỵ binh và làm chậm các bước tiến của bộ binh địch đủ lâu để cho các cung thủ trường cung Anh có thể dội những con mưa tên, những đòn đánhmang tính chất quyết định vào đội hình của đối phương. Tuy nhiên, các cung thủ Anh đã vô tình để lộ vị trí của họ cho các đội trinh sát của Pháp trước khi công việc chuẩn bị chiến đấu của họ được hoàn tất khi mới chỉ cắm được một vài chiếc cọc đơn độc trên một cánh đồng gần đó và do đó các cung thủ lại chẩn bị trở thành những con mồi cho một cuộc săn bắn khủng khiếp.

Khi biết chính xác vị trí của người Anh, khoảng 1.500 thiết kỵ hạng nặng của Pháp dưới sự chỉ huy của các đại úy La Hire và Jean Poton de Xaintrailles- đây chính là đội kỵ binh bọc thép tiên phong của quân đội Pháp, dưới sự dẫn đầu của Joan Arc đã tấn công vào vị trí của người Anh. Trận chiến đã nhanh chóng trở thành một cuộc tháo chạy toán loạn, tất cả các kị sỹ Anh đã phi ngựa ngựa chạy trốn trong khi lực lượng bộ binh của họ-chủ yếu là lính cung thủ trường cung đã bị chém hạ hàng loạt. Cung thủ trường cung không bao giờ được trang bị để chống lại các hiệp sĩ thiết giáp ở tầm gần mà không có sự hỗ trợ từ những vị tríđược chuẩn bị kỹ lưỡng vốn qua đó các hiệp sĩ Pháp không thể chạm được vào họ và họ (cung thủ trường cung Anh ) đã bị thảm sát. Đó là lần đầu tiên chiến thuật tấn công bằng kỵ binh với một số lượng rất lớn về phía trước của người Pháp đã thành công và tạo ra một kết quả quyết định.

Đại úy Jean Dagneau đã bắt tù binh được John Talbot-một viên chỉ huy nổi tiếng của Anh. Sau chiến công này đã được Dagneau phong tước hiệu quý tộc vàotháng 3 năm 1438 bởi Charles VII, vua của nước Pháp và đây cũng là nguồn gốc của gia đình của Dagneau de Richecour. Về phía người Anh, Talbot đã buộc tội Fastolf bỏ rơi đồng đội của mình trong khi đang đối mặt với kẻ thù, và ông này vẫn tiếp tục lời buộc tội trong khi phải thương lượng về một khoản tiền chuộc để được trả tự do từ nơi bị giam giữ. Fastolf từ chối lời buộc tội này tới cùng và cuối cùng đã được xoá tội bởi một chương đặc biệt của tổ chức the Order of the Garter. ( một tổ chức hiệp sỹ Anh do Hoang tử Đen thành lập)

Trận chiến Gerberoy

Trận chiến Gerberoy còn được gọi là Trận Arundel là một chiến thắng của người Pháp trước quân Anh vào ngày 9 tháng 5 năm 1435 trong chiến tranh trăm năm ở Gerberoy tại Beauvais thuộc vùng Picardie.Với vị trí địa lý của nó, Gerberoy đã thực sự là chiến trường cho nhiều trận chiến trong thời Trung cổ và Phục hưng, nhưng ngày nay thuật ngữ Trận chiến Gerberoy không còn thường được để mô tả trận chiến của năm 1435.Vào mùa xuân 1435 chiến tranh Trăm năm lại tiếp tục diễn ra cực kỳ ác liệt. Quân đội Anh dù đã chiếm gần như tất cả các miền Bắc nước Pháp và ở Aquitaine, đặc biệt là Paris, Saint-Denis, và toàn bộ Normandy. Nhưng họ cũng liên tục gặp phải những khó khăn mặc dù bắt được và hành hình Joan Arc vào năm 1431, đặc biệt là khó khăn trong việc kiểm soát vùng lãnh thổ kể từ khi Hiệp ước Troyes ( Hiệp ước lập lại hòa bình giữa Pháp và Burgundy ).

Trong 1434, vua Charles VII của Pháp đã nắm quyền kiểm soát của một số thị trấn phía bắc của Paris, trong đó Soissons, Compiègne, Senlis và Beauvais. Với vị trí của nó, Gerberoy là có khả năng một tiền đồn là có khả năng đe dọa đến vùng Normandy của Anh và kiểm soát và bảo vệ hạt Beauvaisis mà người Pháp mới tái chiếm gần đó. Người Pháp đã chiếm lại thị trấn này (Gerberoy) trong năm 1432, nhưng sau đó do không đủ về lực lượng họ đã rời bỏ thành phố sau khi đã bị phá hủy hệ thống công sự để tránh cho người Anh có thể tái sử dụng nó. Kể từ đó, cán cân quyền lực đã thay đổi và Charles VII, áp dụng một chiến lược táo bạo hơn, ông đã quyết định một vào mùa xuân 1435 là phải tái chiếm Gerberoy, sửa chữa các tường thành và bố trí quân đồn trú.

Nhiệm vụ này được giao cho một đạo quân có số chính xác chưa rõ là bao nhiêu nhưng, theo ghi chép của Jean Canon Pillet (chính sử của Gerberoy), có thể là ở khoảng từ 600 đến 1.800 người. Đạo quân này được đặt dưới sự chỉ huy của Jean de Vignolles-La Hire và Etienne Poton Xaintrailles, những viên đại úy đã từng nằm dưới quyền chỉ huy của Joan Arc. Họ rời Beauvais cách kín đáo và đến Gerberoy vào ban đêm và tiến hành khôi phục lại các công sự cũ đã bị phá huy.

Trong khi đó, tại thị trấn biên giới Gournay Epte ở vùng Normandy (nay là Gournay Bray en Seine- Maritime), khoảng một vài chục dặm về phía tây nam của Gerberoy, một đạo quân nằm dưới sự chỉ huy của chỉ huy người Anh Fitzalan John-Bá tước Arundel, vốn được thành lập để tiến hành một cuộc tái chiếm nhằm vào phố Marquenterre, vốn cũng bị quân Pháp tái chiếm gần thời gian đó. Đội quân này được trang bị các thiết bị vây hãm thành. Khi tin tức về quân Pháp chiếm đóng và sửa chữa các bức tường thành ở Gerberoy bay đến, người Anh thấy rằng đó mới là một mối đe dọa trực tiếp đến vùng Normandy-vốn đang nằm trong tay họ và Gerberoy đã trở thành một mục tiêu được ưu tiên. Có thể do đánh giá thấp tầm quan trọng và lòng quyết tâm của quân đội Pháp được đồn trú ở đó, và vội vàng để xua đuổi họ khỏi thành phố một lần nữa trước khi quân Pháp kịp bố trí phòng thủ, Arundel Gournay đã cho xuất phát vào đêm ngày mồng 8 hoặc rạng sáng ngày 09 tháng 5 năm 1435 với đội quân của mình (trong đó bao gồm không chỉ người Anh mà còn có cả đại diện của giới quý tộc ở Normandy) và hành quân bằng đường bộ đến Gerberoy một cách rất thiếu thận trọng. Lực lượng của ông (khoảng 3.000 người theo sử gia Jean Pillet, nhưng con số này có lẽ cũng là được phóng đại) và có lẽ là đông hơn nhiều so với quân đồn trú của Pháp, nhưng ông này đã sai lầm khi cho rằng người Pháp sẽ không có sự lựa chọn nào hơn ngoài việc rút vào Gerberoy để cố thủ hoặc phải rút lui, người Anh đã không chuẩn bị để bị tấn công.

Người Pháp nhờ có những vị trí quan sát rất cao ở Gerberoy, cao hơn so v