CÁC CUỘC PHẢN KHÁNG NĂM 2011: CÓ PHẢI VÌ DÂN CHỦ?

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Chủ nhật, ngày 30/6/2013

(Tạp chí Washington Quaterly, s mùa Đông 2013)

Trong năm 2011, những đám đông phản kháng đã kéo xuống đường phố, thông thường có nguy cơ phải chịu rủi ro rất lớn về tính mạng, để thách thức kết quả của các cuộc bầu cử phi dân chủ trên toàn cầu – ở Baranh, Bênanh, Ai Cập, Haiti, Marốc, Nicaragoa, Nigiêria và Nga. Bên ngoài các cuộc bầu cử, những cuộc phản kháng ủng hộ dân chủ cũng diễn ra trong năm 2011 tại Camơrun, Libi, Malaixia, Xoadilen, Xyri, Tuynidi và Yêmen trong số các nước khác.

Những cuộc phản kháng này đang thu hút sự chú ý, chủ yếu không phải bởi vì số lượng đã diễn ra (năm 2010 cũng đã chứng kiến rất nhiều cuộc phản kháng) mà vì tính chất nghiêm trọng của chúng, và thực tế rằng rất nhiều trong số đó diễn ra gần như đồng thời tại Trung Đông và Bắc Phi, một khu vực mà trước đây hiếm khi, nếu không nói là chưa bao giờ trải qua những cuộc phản kháng ủng hộ dân chủ. Trước năm 2011, các cuộc phản kháng chưa bao giờ diễn ra để phản ứng lại những cuộc bầu cử tại Gibuti, Marốc, Xyri, Tuynidi và Yêmen, và chỉ rất ít cuộc phản kháng từng diễn ra tại Baranh và Liberia. Trên thực tế, Haiti là nước duy nhất mà các cuộc phản kháng đã diễn ra trong năm 2011, nơi mà các cuộc phản kháng ủng hộ dân chủ là một sự kiện bình thường.

Vì sao rất nhiều cuộc phản kháng xảy ra trong năm 2011 và ở những nơi không có khả năng xảy ra như vậy? Nếu có, thì những cuộc phản kháng ấy có điểm chung gì? Một số người cho rằng chúng là kết quả của những nỗi thất vọng bị dồn nén về việc thiếu dân chủ cuối cùng đã phá vỡ bề mặt của xã hội, trong khi những người khác lập luận rằng chúng là kết quả của một nước Mỹ thích can thiệp vào những chuyện không phải của mình đã kích động những cuộc nổi loạn ở nước ngoài; còn một số ngưòi khác chỉ ra rằng công nghệ hiện đại khiến cho việc nhanh chóng tập hợp nhiều người trở nên dễ dàng hơn đối với những người chống chế độ. Mặc dù một vài trong số những nhân tố này có thể đã hỗ trợ cho các cuộc phản kháng nhưng sự suy thoái kinh tế toàn cầu – và nỗi bất bình về kinh tế trên toàn thế giới mà nó đã gây ra trong xã hội – đóng vai trò quan trọng hơn rất nhiều so với tất cả những nhân tố trên trong việc kích động các cuộc phản kháng quy mô lớn.

Tất cả đã chán ngấy

Với các phong trào tại Xênêgan có tên “Y’en a Marre” (“Chúng tôi đã chán ngấy. Như thế là quá đủ rồi”) và những cuộc tập hợp lớn tại Ai Cập và ở những nơi khác được ám chỉ đến như “Ngày của sự giận dữ”, người ta có thể dễ dàng hiểu tại sao một lời giải thích nổi bật cho những cuộc phản kháng năm 2011 lại là kết quả của những nỗi thất vọng bị dồn nén của người dân đối với hàng thập kỷ dưới sự cai trị phi dân chủ cuối cùng đã lên đến cực điểm. Thậm chí Tổng thống Obama đã miêu tả các cuộc phản kháng của Ai Cập là sự thể hiện “nỗi thất vọng bị dồn nén” của người dân với việc thiếu cải cách có ý nghĩa ở đất nước họ.

Quả thực, những nước mà các cuộc phản kháng này nổi lên chắc chắn đều phi dân chủ. Theo chỉ số Polity Index (một thước đo 21 điểm mà âm 10 đại diện cho sự độc đoán mạnh mẽ và dương 10 đại diện cho nền dân chủ mạnh mẽ), mức độ dân chủ trung bình ở những nước này là 2,5. 5 điểm dành cho những nước không xảy ra các cuộc phản khảng. Nicaragoa là nước duy nhất xảy ra biểu tình mà nhìn chung vẫn dân chủ – nước này đạt điểm 9 trong Báo cáo Chỉ so Polity Index số IV năm 2011, khi người dân Nicaragoa biểu tình phản đối những điều họ nhận thấy là trái với quy định trong các cuộc bầu cử tổng thống của nước này và những biện pháp được cho là trái hiến pháp mà theo đó Tòa án tối cao đã bãi bỏ giới hạn nhiệm kỳ để cho phép Daniel Ortega đắc cử nhiệm kỳ thứ ba.

Những nước mà các cuộc phản kháng nổi lên trong năm 2011 cũng có rất ít trải nghiệm với nền dân chủ so với những nước không xảy ra phản kháng. Những nước xảy ra các cuộc phản kháng trong năm 2011 là những nước dân chủ trong trung bình 7 năm kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ II, trong khi những nước không xảy ra các cuộc phản kháng được trải nghiệm nền dân chủ trong trung bình 22 năm. (Nicaragoa, đã tổ chức các cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên vào năm 1990, có nhiều trải nghiệm với nền dân chủ hơn tất cả những nước trải qua biểu tình trong năm 2011). Dân chủ trong giai đoạn này cũng không thay đổi quá nhiều, dù theo chiều hướng xấu hay tốt. Trên thực tế, theo thống kê, điểm chỉ số Polity của những nước xảy ra biểu tình trong năm 2011 không thay đổi đáng kể so với những nước không xảy ra biểu tình.

Quả thực, các cuộc phản kháng ủng hộ dân chủ nói chung có rất ít khả năng xảy ra khi các nước phi dân chủ một cách không thay đổi, như lý lẽ về những nỗi thất vọng bị dồn nén cho thấy. Điều này đúng ngay cả khi các nước trở nên ít dân chủ hơn và kết quả dẫn đến việc phản kháng càng thấp. Các cuộc phản kháng ủng hộ dân chủ thực tế có khả năng xảy ra hơn khi các nước trở nên dân chủ hơn bởi vì tiến trình dân chủ hóa mở ra cơ “hội cho các nhóm tổ chức các cuộc phản kháng. Khi các nước trở nên tự do, họ thường bãi bỏ những hạn chế đối với biểu tình của quần chúng và truyền thông, cho phép các nhóm (giống như Phong trào ngày 20/2 tại Marốc) được tự do hoạt động hơn và nói chung bớt có khuynh hướng dùng vũ lực hơn để chống lại chính công dân của mình. Chẳng hạn, các cuộc phản kháng năm 2011 tại Baranh xảy ra sau sự khởi đầu dân chủ khiêm tốn của nước này. Năm 2002, Baranh đã tổ chức các cuộc bầu cử quốc hội đầu tiên của mình trong vòng 27 năm. Cuộc bầu cử thứ ba diễn ra hơn một năm trước khi các cuộc biểu tình ủng hộ dân chủ bắt đầu, mặc dù cuộc bầu cử này đã bị hạn chế hết sức.

Nếu các nước dân chủ hóa đầy đủ do kết quả của tiến trình tự do hóa này, gần như chẳng có lý do gì khiến cho các cuộc phản kháng ủng hộ dân chủ nổi lên. Tuy nhiên, điều này không phải lúc nào cũng đúng. Tiên trình dân chủ hóa hiếm khi, nếu không nói là chưa bao giờ, phát triển theo một đường thẳng và thông thường thì đầy ắp những lần thụt lùi và đi đường vòng, thậm chí còn đi ngược hoàn toàn. Thông thường, do những sự chuyển tiếp này, các nước cuối cùng sẽ là những nền dân chủ phi tự do không có những cuộc bầu cử trong sạch, các quyền tự do chính trị thiết thực hoặc quyền công dân.

Lý lẽ về những nỗi thất vọng bị dồn nén cũng không giải thích được tại sao người dân lại quyết định nổi loạn, đặc biệt trong năm 2011, Các sự kiện gây kích động – như hành động tự thiêu của Mohamed Bouazizi tại Tuyniđi, cái chết của Khaled Saeed tại Ai Cập (anh đã bị cảnh sát Ai Cập đánh đập và giết chết vào tháng 6 2010). Và việc xảy ra các cuộc phản kháng ủng hộ dân chủ ở các nước láng giềng – cũng không đủ để giải thích tại sao người dân lại chọn năm 2011 để nổi loạn. Có nhiều sự kiện diễn ra trước vụ tự thiêu của Bouazizi, thường được coi là điểm khởi đầu của phong trào “Thức tỉnh Arập”, mà có thể gây ra các cuộc phản kháng sớm hơn nhiều nhưng mọi chuyện đã không diễn ra như vậy. Chẳng hạn, vào năm 2005, trước tình trạng thất nghiệp tại Marốc, 5 sinh viên trẻ mới tốt nghiệp đã tự thiêu trong một cuộc biểu tình ngồi. Cùng năm đó, các ứng cử viên đối lập cũng đã tẩy chay các cuộc bầu cử tổng thống đa đảng đầu tiên của Ai Cập, những cuộc bầu cử không hề tự do và công bằng. Vào năm 2009, hàng nghìn người Iran đã biểu tình phản đối kết quả cuộc bầu cử tổng thống lần thứ 10 của nước này, đã mang đến cho Mahmoud Ahmadinejad nhiệm kỳ thứ hai. Vậy tại sao không phản kháng vào năm 2005 hoặc 2009 hay 2010?

Dễ dàng nhận thấy những nỗi thất vọng bị dồn nén của người dân đối với việc thiếu dân chủ tại đất nước họ đều được thể hiện trong các cuộc phản kháng năm 2011. Tuy nhiên, những nỗi thất vọng này, kéo dài và luôn hiện hữu, dường như không phải nhân tố thúc đẩy đằng sau các cuộc phản kháng đã nổ ra trên toàn cầu trong năm 2011.

Bắt nguồn từ nước ngoài

Để phá hủy danh tiếng của các phong trào phản kháng trong năm 2011, các nhà lãnh đạo độc tài khẳng định rằng Mỹ và các đồng minh của nước này đã đạo diễn chúng. Tại Ai Cập, Hội đồng tối cao đã bất ngờ khám xét và đóng cửa văn phòng của các tổ chức phi chính phủ (NGO) được cho là đóng vai trò chủ chốt trong phong trào ủng hộ dân chủ nổi bật của Ai Cập và nhận viện trợ phi pháp từ nước ngoài. Tương tự, Putin đã thắt chặt kiểm soát các tổ chức phi chính phủ được tài trợ quốc tế tại Nga sau khi các cuộc biểu tình ủng hộ dân chủ gây bất ngờ cho các nhà lãnh đạo Nga; ông cũng buộc tội Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã gửi “tín hiệu” cho người dân Nga đổ xuống đường vì nghi ngờ tính minh bạch của cuộc bầu cử tổng thống gần đây nhất của nước này.

Mỹ và các đồng minh của mình đã đổ hàng tỷ USD nhằm hỗ trợ dân chủ cho nhiều nước trên khắp thế giới. Sự hỗ trợ này nhằm mục đích cải cách hệ thống chính trị và pháp lý của các nước, củng cố các xã hội dân sự, bảo vệ nhân quyền và những quyền tự do công dân. Theo số liệu thống kê, những nước diễn ra các cuộc phản kháng ủng hộ dân chủ dựa trên bầu cử cũng nhận được nhiều hơn đáng kể viện trợ nước ngoài từ Mỹ (13 triệu USD cho mục tiêu “Dân chủ, nhân quyền và cai trị”) trong vòng 5 năm trước khi có các cuộc phản kháng, so với những nước không xảy ra biểu tình (chỉ 2 triệu USD). Một số nước nơi mà các cuộc biểu tình ủng hộ dân chủ xảy ra, như Baranh và Bênanh, không nhận được bất cứ sự hỗ trợ nào từ Mỹ trong giai đoạn đó.

Tuy nhiên, tổng giá trị các khoản hỗ trợ dân chủ mà Mỹ phân bổ đến những nước này khá thấp, và trong nhiều trường hợp còn rất hạn chế. Tại Ai Cập, nước nhận được nhiều viện trợ hơn bất kỳ nước nào trong giai đoạn đó, luật pháp Ai Cập quy định rằng các tổ chức phi chính phủ không thể nhận viện trợ nước ngoài trừ khi được Chính phủ Ai Cập thông qua trước tiên. Do đó nguồn viện trợ này về bản chất không mang tính chính trị, thay vào đó được dành cho phát triển kinh tế và dịch vụ xã hội nói chung. Trong giai đoạn đó tại Nga, những quy định về hành chính và báo cáo nghiêm ngặt đã trói tay trói chân các tổ chức phi chính phủ được tài trợ quốc tế, gây khó khăn cho hoạt động của họ. Nga nhận được nguồn hỗ trợ dân chủ lớn thứ hai từ Mỹ trong giai đoạn đó, nhưng đã không nhận được bất cứ sự hỗ trợ nào từ nước này sau khi những điều luật hạn chế đối với các tổ chức phi chính phủ có hiệu lực.

Do đó, hỗ trợ dân chủ, dù dưới hình thức ủng hộ bằng lời nói hay hỗ trợ về tài chính, cũng không có khả năng kích động các cuộc phản kháng năm 2011. Nó quá nhỏ và quá hạn chế để có thể gây ảnh hưởng lớn đến như vậy.

Những cuộc cách mạng công nghệ

Những công nghệ hiện đại – bao gồm điện thoại di động và các trang mạng xã hội như Twitter và Facebook, và Internet nói chung — là những nhân tố quan trọng trong các cuộc phản kháng ủng hộ dân chủ, quan trọng đến mức nhiều người phong cho chúng cái tên Những cuộc cách mạng Twitter. Các nhà lãnh đạo đối lập và những nhà tổ chức biểu tình đều dùng Facebook và Twitter để lôi kéo người ủng hộ và thu hút sự chú ý của công chúng. Những người phản kháng dùng điện thoại di động và các viđêô trên Youtube để chuyển tiếp thông tin về các cuộc biểu tình và chia sẻ hình ảnh của các sự kiện với những người xem trong nước và quốc tế, thậm chí thay thế phương tiện truyền thông truyền thống khi chính phủ chặn những nguồn này đưa tin về các phong trào quần chúng.

Trong khi những công nghệ này là những công cụ quan trọng dùng để tổ chức các cuộc phản kháng ủng hộ dân chủ, bản thân chúng không phải là nguyên nhân của các cuộc phản kháng. Hơn nữa, nếu những công nghệ này đã đẩy nhanh các cuộc phản kháng thì người dân sinh sống tại những nước xảy ra các cuộc phản kháng hẳn đã được tiếp cận với điện thoại và mạng Internet tốt hơn người dân ở các nước không có biểu tình. Đây cũng không phải là nguyên nhân.

Năm 2011, tỷ lệ người dân được tiếp cận với Internet và điện thoại di động ở những nước phản kháng dựa trên bầu cử lần lượt là 17% và 67%. Theo thống kê, tại những nước mà các cuộc phản kháng không nổi lên, tỷ lệ người dân được tiếp cận với Internet cao hơn rất nhiều (37%) và còn cao hơn nữa, nhưng không chênh lệch đáng kể đối với điện thoại di động (76%). Phân tích ảnh hưởng của việc tiếp cận với điện thoại di động và Internet đến khả năng xảy ra các cuộc phản kháng từ năm 2006-2011, đồng thời kiểm tra các nguyên nhân tiềm tàng khác có thể gây ảnh hưởng ngầm, cho thấy những kết quả còn chung chung hơn: cơ hội tiếp cận với điện thoại di động và Internet càng lớn, càng ít khả năng khiến cho các cuộc phản kháng ủng hộ dân chủ nổi lên.

Thậm chí đối với những nước được tiếp cận với điện thoại di động và Internet, những công nghệ này cũng không hoàn toàn được tự do sử dụng và thậm chí được dùng để chống lại những người biểu tình. Các chính phủ ở cả Ai Cập và Tuynidi đều có thể chặn, ít nhất là tạm thời, nguồn tiếp cận với điện thoại di động và Internet của người dân trong lúc diễn ra các cuộc phản kháng. Tại Baranh, chính phủ sử dụng Facebook để nhận diện những người phản kháng sau khi các cuộc phản kháng bị trấn áp, lăng mạ và bắt giữ họ, bằng cách đăng ảnh của những người phản kháng, giấu tên lên mạng và yêu cầu người dân Baranh nêu tên họ.

Tại Ai Cập, 84% số người được khảo sát bởi Học viện Cộng hòa quốc tế (IRI) vào tháng 4/2011 trả lời rằng truyền thông truyền thống là nguồn thông tin mà họ dựa vào nhiều nhất về các sự kiện liên quan đến Cuộc cách mạng ngày 25/1. Hình thức truyền miệng đứng vị trí thứ hai và thứ ba. Chỉ 6% người được hỏi trả lời rằng Facebook là nguồn thông tin mà họ dựa vào nhất để cập nhật tin tức các cuộc biểu tình, và chưa tới 1% trả lời là Twitter.

Công nghệ hiện đại như điện thoại di động và Internet rõ ràng đã mang đến những phương tiện mới và khác biệt để tổ chức các cuộc biểu tình, nhưng không nhất thiết là những phương tiện hữu hiệu nhất. Những cách thức cũ như truyền miệng và truyền thông truyền thống dường như vẫn mang đến đủ phương tiện để huy động các cuộc phán kháng.

Tất cả đều có liên quan đến kinh tế

Có nhiều nhân tố giúp tổ chức và kích động các cuộc phản kháng năm 2011, nhưng những nỗi thất vọng bị dồn nén cuối cùng đã dâng trào, các cuộc cách mạng công nghệ và sự can thiệp của nước ngoài không phải nguyên nhân sâu xa của vấn đề. Nguyên nhân sâu xa là một điều gì đó hoàn toàn khác. Trong khi những nước xảy ra các cuộc phản kháng ủng hộ dân chủ khác nhau về nhiều mặt thì họ đều có một điểm chung là kinh tế. Đây là nhân tố then chốt đằng sau những cuộc phản kháng ủng hộ dân chủ trong năm 2011. Mặc dù kinh tế đã phát triển ở một số nước trước khi có các cuộc phản kháng nhưng người dân không được hưởng lợi từ sự tăng trưởng đó, họ phải đối mặt với tỷ lệ lạm phát và thất nghiệp cao. Điều này đã khiến cho người dân vô cùng giận dữ chế độ, mà họ cho là phải chịu trách nhiệm về tình hình kinh tế của nước họ.

Ở những nước mà các cuộc phản kháng diễn ra sau khi có các cuộc bầu cử vào năm 2011, tỷ lệ lạm phát trong năm 2010 là 9%. Trong khi lạm phát ở các nước không xảy ra biểu tình chỉ là 3% (Chênh lệch ở mức 0,01 được coi là đáng kể, về mặt thống kê theo phép kiểm chứng t-test). Tương tự, ở những nước phản kháng dựa trên bầu cử, tỷ lệ thất nghiệp là 12% trong năm 2010, trong khi đó ở những nước không xảy ra biểu tình là 10%. Mặc dù sự chênh lệch này theo thống kê là không đáng kể, số liệu về tình hình thất nghiệp ít hơn số liệu về lạm phát rất nhiều, điều này giải thích cho vai trò thiếu quan trọng của nó. Thanh niên và phụ nữ chịu đòn nặng nhất ở nhiều trong số những nước này và không phải ngẫu nhiên lại có những đại diện hăng hái nhất trong số những người biểu tình. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), tỷ lệ thanh niên thất nghiệp ở khu vực Trung Đông và Bắc Phi trong năm 2011 là khoảng 25%. Ở Tuynidi, trong năm 2011, tỷ lệ này đã tăng 7 điểm phần trăm so với năm 2010, và tại Ai Cập là 3,5 điểm phần trăm.

Tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát cao ở những nước này đã gây ra sự bất bình mạnh mẽ trong xã hội. Sự bất bình này có tương quan chặt chẽ với sự bùng nổ các cuộc phản kháng. Chẳng hạn, trung bình 53% người dân ở những nước có phản kháng dựa trên bầu cử trong năm 2011 cảm thấy bất mãn về mức sống của họ trước khi xảy ra các cuộc phản kháng, trong khi tỷ lệ này chỉ là 41% ở những nước không xảy ra các cuộc phản kháng hậu bầu cử trong năm đó. Sự bất mãn này có thể thấy trên những tấm áp phích, những lời thánh ca và bài hát trong các cuộc phản kháng, đều tập trung vào nền kinh tế cũng như dân chủ.

Theo Viện Tầm nhìn thế giới Gallup, sự bất mãn của người dân đối với mức sống của họ tại Ai Cập trước khi diễn ra các cuộc phản kháng năm 2011 cao hơn thời điểm chuẩn bị cho các cuộc bầu cử năm 2010 là 9 điểm phần trăm, cao hơn thời điểm trước các cuộc bầu cử năm 2007 là 20 điểm phần trăm. Tại cả Marôc và Tuynidi, sự bất mãn của người dân đối với mức sống tăng đột ngột khoảng 15 điểm phần trăm trong khoảng thời gian giữa hai kỳ bầu cử vừa qua của các nước này.

Điều này vẫn tạo nên một sự tương phản rõ rệt khi so sánh với Cata và Các tiểu vương quốc Arập thống nhất (UAE), nơi mà những cuộc biểu tình ủng hộ dân chủ không xảy ra trong năm 2011 bất chấp thực tế rằng cả hai nước này đều không tổ chức các cuộc bầu cử quốc gia. Theo những cuộc khảo sát của Viện Tầm nhìn thế giới GalluD, tại Cata và UAE, sự bất mãn của người dân đối với mức sống của họ chỉ hơn một nửa của hầu hết những nước diễn ra các cuộc phản kháng ủng hộ dân chủ trong năm 2011. Người dân ở hai nước này có mức sống cao hơn vì họ không phải đóng thuế thu nhập và được hưởng lợi từ hệ thống phúc lợi xã hội vững mạnh, nơi mà sự dồi dào về dầu mỏ rộng lớn mang đến nền giáo dục, y tế và dịch vụ công cộng đều miễn phí hoặc được tài trợ.

Khi người dân bất mãn đối với tình trạng kinh tế, và khi họ đổ lỗi cho chính phủ về vấn đề này, ít có khả năng họ sẽ khoan dung cho những thiếu sót trong nền dân chủ và việc họ biểu tình có nhiều khả năng xảy ra hơn. Tuy nhiên, khi nền kinh tế vận hành tốt và người dân trở nên phát đạt nhờ nền kinh tế ấy, giống như trường hợp của UAE và Cata, có ít khả năng hơn xảy ra việc người dân cảm thấy cần thiết phải có một nền dân chủ bởi vì những lợi ích kinh tế của họ được đáp ứng mà không cần phải có nền dân chủ ấy. Có khả năng hơn họ còn chấp nhận những biện pháp phi dân chủ nào đó như bãi bỏ những giới hạn nhiệm kỳ và tập trung quyền lực kinh tế dưới tay người đứng đầu, nếu cần thiết để duy trì chính phủ đương nhiệm và vận hành hiệu quả nền kinh tế.

Các cuộc khảo sát cho thấy một cách nhất quán rằng người dân trên toàn thế giới muốn có một nền kinh tế vững mạnh hơn là một nền dân chủ bền vững. Trong một cuộc khảo sát năm 2005 của trung tâm nghiên cứu Pew, đa số nhũng người được hỏi ở 7 trong số 9 nước được khảo sát trả lời rằng một nền kinh tế vững mạnh quan trọng đối với họ hơn là một nền dân chủ tuyệt vời. Các cuộc khảo sát tại Mỹ Latinh, Đông Á và Trung Đông đều cho những kết quả tương tự, với đại đa số người dân ở những khu vực này ủng hộ sự phát triển kinh tế hơn là dân chủ. Thậm chí ở những nước bị tác động bởi các cuộc phản kháng, người dân đã ưu tiên những mối quan tâm kinh tế như tiền lương, sở hữu nhà ở hơn là việc sống trong một nền dân chủ. Năm 2012, hơn 8 tháng sau khi “Thức tỉnh Arập” bắt đầu, 58% thanh niên được khảo sát trả lời rằng “sống tại một đất nước dân chủ” rất quan trọng đối với họ, so với 82% người trả lời rằng “được trả lương hợp lý” rất quan trọng đối với họ và tỷ lệ người trả lời rằng “sở hữu nhà ở” vô cùng quan trọng là 65%.

Trong những giai đoạn tăng trưởng kinh tế cao, những nhà nước độc đoán, đặc biệt là các nước với dự trữ dầu mỏ được quốc hữu hóa lớn, cũng có thể dùng sự giàu có về kinh tế của mình để mua sự ủng hộ của dân chúng. Chẳng hạn, đất nước Arập Xêút dồi dào về dầu mỏ, trong một nỗ lực dường như nhằm ngăn chặn sự phổ biến của các cuộc phản kháng Mùa xuân Arập, đã hứa hẹn sẽ tăng chi khoảng 130 tỷ USD trong vòng 5 năm để tăng lương cho công chức, tạo ra nhiều việc làm trong khu vực công hơn nữa và xây dựng một nửa triệu đơn vị nhà ở mới. Tương tự, UAE đã giảm giá thực phẩm để ngăn chặn trước các cuộc phản kháng ở những khu vực miền Bắc nước này, nơi mà sự phát triển kinh tế thấp hơn tất cả những khu vực còn lại trong nước.

Các cuộc khảo sát được thực hiện sau những cuộc phản kháng ở Ai Cập cũng chứng minh cho ý kiến rằng nền kinh tế yếu kém, thay vì việc thiếu dân chủ, đã kích động các cuộc phản kháng. Trong cuộc khảo sát năm 2011 của Học viện Cộng hòa quốc tế, khi được hỏi điều gì đã thúc đẩy họ tham gia các cuộc phản kháng ngày 25/1, 64% người Ai Cập chỉ ra là mức sống thấp và thất nghiệp, trong khi chỉ 9% trả lời rằng thiếu dân chủ và thiếu cải cách chính trị. Chỉ 6% chỉ ra các sự kiện ở Tuynidi, 3% chỉ ra cái chết của Khaled Saeed, và 6% đề cập đến sự khuyến khích của bạn bè và gia đình.

Nhiều học giả lập luận rằng sự giàu có ngày càng gia tăng, chứ không phải sự bất mãn về kinh tế đã gây ra các cuộc phản kháng ủng hộ dân chủ. Họ quả quyết rằng sự giàu có tạo ra những công dân tri thức và tầng lớp trung lưu ngày càng phái triển ở những nước này, những nhóm coi trọng quyền lợi và quyền tự do mà nền dân chủ mang đến và họ có phương tiện để vận động hành động hướng đến những mục đích này. Mặc dù không có những con số chính xác, một số nhà hoạt động ở những nước này (như giám đốc Google tại Ai Cập, Wael Ghonim) thuộc về tầng lớp trung lưu, và rất nhiều người phản kháng sử dụng những công nghệ của tầng lớp trung lưu (như điện thoại di động và Internet) để tổ chức các cuộc phản kháng.

Tuy nhiên, ý kiến cho rằng tầng lớp trung lưu đóng một vai trò quan trọng trong việc tổ chức các cuộc phản kháng mâu thuẫn với lý lẽ được đưa ra ở đây. Tầng lớp trung lưu ở rất nhiều nước trong số những nước này cũng quan tâm đến mức sống, tỷ lệ lạm phát, sự bảo đảm về việc làm, đặc biệt đối với những người vừa tốt nghiệp đại học mà chưa có việc làm. Theo cuộc khảo sát của công ty Booz & Co., trong năm 2011, khoảng 50% tầng lớp trung lưu tại Ai Cập, Marốc và Arập Xêút cảm thấy bất mãn về tình trạng của nền kinh tế quốc gia và mức sống của họ, chỉ ra rằng lạm phát và thiếu cơ hội việc làm là những mối quan tâm chủ yếu.

Những mối quan tâm về dân chủ có lẽ chỉ nhất thời; kinh tế mới tồn tai lâu dài

Rất nhiều vấn đề xung quanh các cuộc phản kháng năm 2011 thu hút nhiều sự chú ý hơn nền kinh tế, bao gồm cái chết của Mohamed Bouazizi ở Tuynidi và Khaled Saeed ở Ai Cập, cũng như công nghệ hiện đại bao gồm điện thoại di động và Internet. Những vấn đề này, trong khi đã có thể tạo điều kiện cho việc huy động các cuộc phản kháng, đóng vai trò biểu tượng con người để đoàn kết người dân trong trường hợp được nhắc đến trước và nhanh chóng tập hợp người dân trong trường hợp được nói đến sau nhưng chúng không phải những chất xúc tác thực sự cho các cuộc phản kháng. Một vấn đề cũ hơn và sâu sắc hơn nhiều nằm ở trung tâm – đó là nền kinh tế. Trong năm 2011, người dân đổ xuống đường ở rất nhiều nơi và với số lượng người tham gia rất đông bởi vì họ phải đối mặt với những khó khăn về kinh tế nghiêm trọng, và họ gắn tình trạng kinh tế với bản chất độc tài của chế độ.

Sau khi diễn ra các cuộc phản kháng ủng hộ dân chủ năm 2011, rất nhiều nước đã tổ chức các cuộc bầu cử quốc gia, trao quyền lực cho những nhà lãnh đạo mới ở nhiều nơi. Tại Tuynidi và Ai Cập, các nhóm bị cấm dưới chế độ trước, đã đạt được đa số hoặc nhiều ghế hơn trong cơ quan lập pháp và giành được những chức vụ then chốt trong chính trị. Tại Libi, một nước chưa từng tổ chức các cuộc bầu cử trong hàng thập kỷ, một khối liên minh các đảng tự do và thế tục, đã hứa hẹn sẽ duy trì những cải cách dân chủ của nước này và giành được đa số ghế trong quốc hội.

Mặc dù vậy, nói chung tiến trình dân chủ đã trở nên dè dặt kể từ năm 2011. Những cuộc bầu cử mới không được tổ chức tại Haiti, Nicaragoa hay Nga, và ở những nước khác nữa. Tại Nga, Tổng thống Putin đã tước đi thêm những quyền tự do dân chủ sau khi diễn ra các cuộc phản kháng bằng cách áp đặt những mức phạt nặng nề đối với những cuộc biểu tình chưa được cho phép và hạn chế hơn nữa hoạt động của các tổ chức phi chính phủ tại nước này. Ở Ai Cập, hội đồng quân sự đã bãi bỏ cơ quan lập pháp được bầu lên một cách dân chủ của nước này và vô hiệu hóa quyền lực của tổng thống.

Các cuộc phản kháng cũng gây ra cho chính họ những khó khăn về kinh tế. Ở Trung Đông và Bắc Phi, du lịch đã giảm mạnh. Sản lượng vốn giảm mạnh, thương mại và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cạn kiệt dần. Những tác động kinh tế này cũng ảnh hưởng đến những nước láng giềng. Nếu chúng còn tiếp tục kéo dài, có thể sẽ dẫn đến nhiều cuộc biểu tình hơn nữa và củng cố thêm những quan điểm chống chính phủ của người dân.

Hiện tại, người dân dường như đổ lỗi tốc độ chậm chạp của những cải cách dân chủ ở nước mình cho tốc độ phục hồi kinh tế cũng chậm chập chạp như vậy của quốc gia. Tuy nhiên với thời gian, điều này có thể thay đổi – người dân có thể quay lưng lại với những sự chuyển tiếp này, nếu những bước chuyển tiếp ấy không dẫn đến những thay đổi về kinh tế được kỳ vọng. Vì vậy, thật trớ trêu, nguyên nhân ban đầu dẫn đến các cuộc phản kháng – một nền kinh tế vận hành yếu kém – cũng có thể góp phần vào sự suy thoái của những phong trào này.

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
This entry was posted in Archives, Articles, International relations, Teaching and tagged , , , , , , , , , , , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s