TRUNG QUỐC TRƯỚC SỨC ÉP KINH TẾ-XàHỘI

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ Ba, ngày 9/7/2013

TTXVN (Hồng Công 8/7)

Sau khi Cục Thống kế Quốc gia Trung Quốc đưa ra những số liệu kinh tế tháng 4/2013 khá thất vọng, Bộ Tài chính mróc này đã cho công bố tình hình thu, chi ngân sách của cả nước trong tháng 4/2013 không mấy lý tưởng. Theo Bộ Tài chính, trong tháng 4/2013, thu nhập ngân sách nhà nước của cả Trung Quốc là 1.243,1 tỉ nhân dân tệ (NDT), tăng 65,7 tỉ NDT, tương đương 6,1% so với cùng kỳ năm 2012. Trong đó, thu ngân sách của trung ương là 535,7 tỉ NDT, giảm 2,2%; thu ngân sách địa phương là 607,4 tỉ NDT, tăng 14,7%? Thu ngân sách từ thuế trong tổng ngân sách là 1.016, 9 tỉ NDT, tăng 7,9%.

Hãng tin Bình luận Trung Quốc của Hồng Công dẫn nguồn tin của Bộ Tài chính Trung Quốc cho biết thu ngân sách tháng 4/2013 giảm so với tháng 3/2013 chủ yếu là phần thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp tăng rất ít, phần thu từ thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu giảm xuống… Trong khi đó, thu ngân sách địa phương tăng lên chủ yếu là do giá trị giao dịch bất động sản tăng mạnh kéo theo sự gia tăng tương ứng từ việc thu các loại thuế liên quan ở địa phương.

Trong một bài viết đăng trên báo Chứng khoán Thượng Hải mới đây, nhà bình luận tài chính Chu Tử Huân cho rằng việc thu ngân sách của Trung Quốc giảm xuống liên quan chặt chẽ với việc nước này thiếu điểm sáng về kinh tế vĩ mô. Mặc dù tốc độ sản xuất công nghiệp tháng 4 phục hồi nhẹ so với tháng 3, nhưng vẫn thấp hơn dự báo của thị trường, tốc độ tăng trưởng về đầu tư vốn đóng vai trò tương đối lớn trong việc dẫn dắt tăng trưởng kinh tế cũng không được như mong đợi. Số liệu kinh tế tháng 4/2013 do Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc công bố ngày 13/5 tương đối phù hợp với số liệu Quản lý Sức mua PMI, dự đoán rằng kinh tế Trung Quốc sẽ phục hồi yếu. Tốc độ tăng trưởng kinh tế đi xuống đương nhiên sẽ kéo theo sự sụt giảm về thu ngân sách.

Điều đáng chú ý là thu ngân sách giảm, nhưng chi ngân sách vẫn tăng tương đối nhanh. Trong tháng 4, chi ngân sách của cả nước Trung Quốc đạt 930,8 tỉ NDT, tăng 142,2 tỉ NDT so với cùng kỳ năm 2012, tương đương 18%. Trong đó, chi ngân sách nhà nước là 158,8 tỉ NDT, tăng 10,5%; chi ngân sách địa phương là 772 tỉ NDT, tăng 19,7%. Chi trong lĩnh vực dân sinh là trọng điểm.

Nhìn lại quá khứ sẽ thấy, nhiều năm gần đây thu ngân sách của Trung Quốc luôn duy trì đà tăng ở mức cao, từ 20%-30%, ví dụ như năm 2011 là 24,8%. Năm 2012, tuy giảm xuống, còn 12,8%, nhưng vẫn giữ được ở mức 2 con số. Trong dự toán năm nay, mục tiêu thu ngân sách cả nước của Trung Quốc là 12.663 tỉ NDT, tăng 8% so với năm 2012. Như vậy, đà tăng đã giảm xuống mức 1 con số. Nhưng thu ngân sách tháng 4/2013 rõ ràng là thấp hơn mức 8%. Thậm chí, thu ngân sách nhà nước còn tăng trưởng âm.

Có thể dự đoán, việc thu ngân sách của Trung Quốc tăng trưởng ở mức thấp sẽ trở thành trạng thái thường xuyên và từ nay về sau sẽ nằm ở mức ngang bằng hoặc cao hơn một chút so với tốc độ tăng trưởng GDP. Đồng thời, do vấn đề dân sinh, chi ngân sách duy trì mức tăng trưởng tương đối cao. Thu, chi ngân sách hình thành xu hướng một giảm một tăng, gây áp lực lớn hơn cho vấn đề cân bằng tài chính. Vì vậy, sau kỳ họp Lưỡng hội (Hội nghị Chính trị Hiệp thương và Quốc hội) vào tháng 3/2013, tân Bộ trưởng Tài chính Lâu Kế Vĩ (Lou Jiwei) đã không giấu vẻ lo ngại nói rằng “Hiện nay, tăng trưởng về chi ngân sách rất nhanh, trong khi tăng trưởng về thu ngân sách từ nay về sau, tôi dự đoán sẽ ở mức 1 con số, khó có thể xuất hiện khả năng tăng mạnh. Áp lực đối với trong nước ở phương diện này quả thực là áp lực thực chất”. Theo Chu Tử Huân, điều mà Bộ trưởng Tài chính Lâu Kế Vĩ lo ngại chính là quy mô thâm hụt ngân sách gia tăng nhanh chóng. Thâm hụt ngân sách theo dự đoán của Trung Quốc năm 2013 đạt mức kỉ lục là 1.200 tỉ NDT, tăng 50% so với mức thâm hụt thực tế của năm 2012. Xu thế thâm hụt ngân sách gia tăng rõ ràng là hoàn toàn đi ngược lại với mục tiêu “cân bằng ổn định tài chính”.

Đà tăng về thu ngân sách chậm lại trở thành nỗi đau “chặt chân chặt tay” đối với chính phủ trung ương và chính quyền các địa phương, đặc biệt là đối với một số địa phương khó khăn tài chính nghiêm trọng. Nguyên nhân khiến chính quyền địa phương khó khăn về tài chính trước tiên có liên quan tới chu kỳ kinh tế vĩ mô vì một khi “mùa Đông đến, “vạn vật” đều xác xơ; kế đó là liên quan tới việc điều tiết thị trường bất động sản vốn được cho là đã phá vỡ mô hình “kinh tế ruộng đất” (bán đất lấy tiền) quen thuộc, làm mất đi một nguồn tài chính lớn của chính quyền địa phương.

Đối với chính quyền địa phương, áp lực tài chính rất có thể sẽ trở thành vấn đề nghiêm trọng hơn và hiện thực hơn. Ví dụ, sau khi thay thuế doanh nghiệp bằng thuế giá trị gia tăng, tình hình thu ngân sách của chính quyền địa phương có thể sẽ xuất hiện biến số. Cùng với việc thúc đẩy thực hiện việc thay thuế doanh nghiệp bằng thuế giá trị gia tăng trên quy mô toàn quốc, ngày càng có nhiều doanh nghiệp phản ánh gánh nặng về thuế đối với họ giảm xuống rất rõ. Nếu việc thay thuế doanh nghiệp bằng thuế giá trị gia tăng được thực hiện trên quy mô toàn quốc, thu nhập ròng về thuế của Trung Quốc sẽ giảm hơn 100 tỉ NDT. Thu ngân sách của chính quyền địa phương đương nhiên cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ. Bởi thuế doanh nghiệp do địa phương thu nay không còn trong khi thuế giá trị gia tăng phải chia sẻ với trung ương, phần của địa phương chỉ chiếm 25%.

Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm cũng phủ bóng đen lên vấn đề việc làm. Số liệu việc làm quý 1/2013 cho thấy số lượng việc làm tăng mới ở các thành phố và thị trấn trên toàn quốc là 3,42 triệu, cao hơn cùng kỳ năm 2011 và năm 2012, còn tỉ lệ đăng ký thất nghiệp ở các thành phố và thị trấn toàn quốc duy trì ổn định ở mức 4,1%, ngang bằng với mức cuối năm 2012. Chỉ nhìn vào số liệu sẽ không thấy vấn đề lớn, nhưng những dấu hiệu thị trường mới nhất cho thấy việc cắt giảm nhân công bắt đầu lan sang lĩnh vực tương đối ổn định là “công nhân cổ cồn trắng” (chỉ kỹ sư, là công nhân có kiến thức và trình độ Đại học) trong doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Tình hình thất nghiệp đã bộc lộ xu hướng xấu.

Tuy nhiên, điều cần phải cảnh giác hơn cả là Trung Quốc còn phải đối mặt với khủng hoảng việc làm. Khủng hoảng việc làm của Trung Quôc có hai nét khác biệt lớn so với khủng hoảng thất nghiệp ở nước ngoài. Thứ nhất, vấn đề khó khăn nhất trong tạo việc làm là tạo việc làm mới. Thứ hai, vấn đề khó khăn nhất trong tạo việc làm mới là tạo việc làm cho sinh viên đại học. Theo báo cáo, số sinh viên đại học tốt nghiệp năm 2012 tới nay vẫn chưa được thị trường lao động thu nhận hết, trong khi đó vào năm 2013 này sẽ có thêm 7 triệu sinh viên đại học tốt nghiệp. Thực trạng này sẽ gây áp lực rất lớn đối với thị trường lao động. Kinh tế vĩ mô suy giảm và một bộ phận ngành nghề ảm đạm, đã khiến việc tìm kiếm việc làm càng trở nên khó khăn so với các năm trước. Việc tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp đại học tìm được việc làm ở Bắc Kinh, Quảng Đông và Thượng Hải giảm đã chứng minh cho tình hình việc làm khó khăn hiện nay.

Tóm lại, kinh tế Trung Quốc hiện nay đang đứng trước nhiều thách thức, trong đó đáng chú ý là việc làm thế nào để lắng dịu “nỗi lo lắng về tài chính”. Trong ngắn hạn, theo Chu Tử Huân, không có thuốc đặc hiệu cho vấn đề này buộc cả chính quyền trung ương và chính quyền địa phương đều phải đối mặt. Tuy nhiên, về trung và dài hạn, biện pháp giải quyết căn bản nhất có thể là mô hình “kinh tế hậu ruộng đất” như các chuyên gia đã nêu ra (không tiến hành bán đất đai hoặc giảm thiếu việc bán đất đai, chuyển sang lấy việc xây dựng các khu dân cư làm hạt nhân, kiếm tiền từ việc kinh doanh tài sản trong 70 năm theo quy định của pháp luật chứ không phải là lấy tiền một lần từ bán và cho thuê đất đai với thời hạn sử dụng 70 năm). Đây có thể có là lối thoát giúp kinh tế Trung Quốc phát triển bền vững.

*

*          *

TTXVN (Niu Yoóc, 1/1)

Theo mạng tin tình báo “Stratfor”, Chính phủ Trung Quốc đang tìm cách thúc đẩy tiến trình đô thị hóa bên cạnh việc cố gắng giảm thiểu những rủi ro, cản trở mà quá trình này mang lại. Để làm giảm sự mất cân bằng kinh tế, xã hội sâu sắc giữa nông thôn và thành thị, các tỉnh duyên hải và nội địa, Bắc Kinh muốn định hướng nền kinh tế thoát khỏi việc phụ thuộc vào xuất khẩu và đầu tư nhà nước hiện nay sang một nền kinh tế tăng trưởng dựa trên tiêu thụ nội địa. Thúc đẩy đô thị hóa, nhất là ở các tỉnh nội địa, là phần cốt lõi của tiến trình cải cách này. Để thực hiện điều này, Trung Quốc sẽ phải cải cách các thể chế đã tồn tại từ lâu như hệ thống đăng ký hộ khẩu, các vấn đề mang tính cơ cấu về tài khóa cho chính quyền địa phương và trong quá trình thực hiện, Bắc Kinh sẽ phải tìm cách cân bằng giữa hai mục tiêu: cải cách và kiểm soát.

Truyền thông Trung Quốc ngày 13/6 cho biết ủy ban cải cách và phát triển Trung Quốc, cơ quan hoạch định chính sách kinh tế, xã hội cao nhất của nước này, sẽ công bố kế hoạch đô thị hóa quốc gia vào tháng 7. Tuy nhiên, trước đó, ngày 13/5, ủy ban này thông báo rằng một cuộc họp quan trọng về đô thị hóa dự kiến được tổ chức vào cuối tháng 5 hoặc 6 đã bị hoãn lại do không, nhận được sự đồng thuận trong Đảng về hình thức và mức độ cải cách để đạt được mục tiêu đô thị hóa 60% vào năm 2020.

Theo ước tính của Ngân hàng Phát triển Trung Quốc, để đạt được mục tiêu trên sẽ cần nguồn vốn khoảng 8,1 nghìn tỷ USD để xây dựng cơ sở hạ tầng cho dân cư đô thị trong thập kỷ tới. Với nguồn vốn và yêu cầu cải cách mạnh mẽ này, Trung Quốc sẽ phải cân nhắc tiến độ thực hiện vì quá nhiều cải cách được thực hiện trong thời gian ngắn sẽ tạo gánh nặng lên hệ thống tài chính đang ngày càng eo hẹp, tạo ra sự dịch chuyển lớn trên thị trường lao động, có thể dẫn tới thất nghiệp cao và bất ổn xã hội. Chi tiết về việc kế hoạch đầy tham vọng này có thể giải quyết các vấn đề trên đây hay không hiện còn chưa rõ nhưng các vấn đề cốt lõi đã được thảo luận từ lâu. Các vấn đề này sẽ bao trùm các cuộc tranh luận công khai cũng như trong nội bộ Đảng vào quý III sắp tới và sẽ được quyết định tại Hội nghị Trung ương Đảng lần 3 vào tháng 10.

Yêu cầu cải cách hộ khẩu

Một lĩnh vực chính cần phải cải cách là hệ thống hộ khẩu, cơ bản phân chia công dân Trung Quốc làm hai nhóm chính thời gian qua: hộ khẩu địa phương và phi địa phương; hộ khẩu nông thôn và thành thị. Những người có hộ khẩu thành thị, đặc biệt ở các thành phố lớn như Thượng Hải và Bắc Kinh, được bảo đảm tiếp cận hàng loạt dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục và quỹ hưu trí của nhà nước. Trong khi đó, những người có hộ khẩu nông thôn lại chỉ nhận được rất ít các phúc lợi này. Những thập kỷ gần đây, xu hướng đó đã củng cố việc hình thành một tầng lớp rất thấp trong xã hội, đặc biệt ở các thành phố duyên hải Trung Quốc, nơi khoảng 250 triệu lao động nhập cư khổng có hộ khẩu địa phương hoặc vẫn giữ hộ khẩu nông thôn, đã không nhận được các dịch vụ xã hội căn bản nhất.

Từ năm 1978, hộ khẩu đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế dựa trên xuất khẩu giá trị thấp của Trung Quốc nhờ lực lượng lao động dồi dào, giá rẻ. Tuy nhiên, hiện nay, với việc chính quyền đang nỗ lực thúc đẩy tiêu dùng nội địa và hội nhập kinh tế khu vực rộng lớn hơn, hộ khẩu đang nhanh chóng trở thành một trách nhiệm kinh tế, chính trị và xã hội của chính phủ.

Xây dựng một tầng lớp tiêu dùng nội địa lớn hơn sẽ đòi hỏi việc tăng tiền lương rộng rãi, một tiến trình mà chính phủ đã thúc đẩy nhanh trong 5 năm qua.

Tăng tiêu dùng cũng đòi hỏi các dịch vụ xã hội tốt hơn trên khắp cả nước và mở rộng tiếp cận các dịch vụ xã hội này. Mỗi cải cách này cũng sẽ giúp lực lượng lao động linh hoạt hơn và đáp ứng các nhu cầu thị trường. Thêm vào đó, việc củng cố tầng lớp tiêu dùng sẽ đòi hỏi phải thực thi mạnh mẽ quyền lợi của người lao động địa phương, đặc biệt với những lao động nhập cư không có địa vị pháp lý. Việc tăng tiếp cận với hộ khẩu thành thị hoặc ít nhất với các dịch vụ xã hội, cải thiện chất lượng các dịch vụ giáo dục và xã hội ở khu vực nội địa là điểm mấu chốt cho những yêu cầu trên, tạo nền tảng cho tiến trình đô thị hóa khư vực nội địa.

Phụ thuộc Trung ương về tài chính

Cải cách mối quan hệ tài chính giữa Bắc Kinh và chính quyền các địa phương cũng là điểm cốt yếu để quản lý các làn sóng di dân ra thành thị mạnh mẽ trong thập kỷ tới và để chi trả cho việc mở rộng hạ tầng cần thiết để tiếp nhận họ. Ví dụ, hệ thống hộ khẩu chỉ được cởi mở hơn một khi chính quyền trung ương và địa phương đủ khả năng chi trả cho các dịch vụ xã hội được mở rộng cho những người nhập cư thành thị mới. Mối quan tâm này đặc biệt cao với nhiều thành phố nội địa quy mô nhỏ và trung bình, nơi thiếu các thị trường bất động sản phát triển mạnh như ở vùng duyên hải vì chi phí chuyển nhượng đất từ các công trình xây dựng là nguồn thu cơ bản của chính quyền địa phương.

Từ khi hệ thống thuế của Trung Quốc được cải cách vào giữa những năm 1990, phần lớn nguồn thu thuế (khoảng hơn 70%) được đổ về chính quyền trung ương và phần nhiều trong số này lại được đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng quốc gia. Đổi lại, Bắc Kinh trao cho chính quyền địa phương quyền kiểm soát đất đai để bán lại cho các doanh nghiệp phát triển bất động sản. Điều này dẫn tới sự thông đồng giữa các doanh nghiệp bất động sản, những người chỉ muốn kiếm lời lớn từ thị trường đang bùng nổ và các chính quyền địa phương muốn thu được nhiều ngân sách. Do vậy, Trung Quốc vấp phải thực tế là nhiều chính quyền địa phương quá phụ thuộc vào việc bán đất đai để làm nguồn thu.

Hiện nay, trong quá trình thúc đẩy đô thị hóa, Trung Quốc đang cố gắng đảo ngược sự phụ thuộc này trong khi vẫn muốn cung cấp nhà ở với giá cả phù hợp cho dân cư mới trước bối cảnh giá nhà bị đẩy lên quá cao. Để tạo điều kiện cho phát triển đô thị, các chính quyền địa phương trong nội địa sẽ cần những nguồn thu khác, ổn định hơn. Đảng Cộng sản Trung Quốc đang thảo luận về việc chuyến quyền thu một số loại thuế cho chính quyền địa phương đồng thời hợp thức hóa và mở rộng quyền phát hành trái phiếu địa phương.

Các biện pháp nhằm giảm bớt sự phụ thuộc của chính quyền địa phương vào nguồn thu từ việc bán đất cũng được thực hiện để duy trì sự ổn định xã hội của khu vực nông thôn. Trong suốt những năm 2000, sự phụ thuộc quá nhiều vào nguồn thu đất của chính quyền địa phương đã dẫn tới sự gia tăng đột biến các hoạt động tước đoạt đất nông nghiệp cho phát triển, thường là trái pháp luật hoặc không bồi thường thỏa đáng cho nông dân. Đất thường là nguồn thu nhập và bảo hiểm duy nhất của người dân nông thôn. Với đỉnh cao là sự kiện Ô Khảm tháng 1/2012, các cuộc biểu tình phản đối hoạt động tước đoạt đất đai đã ngày càng trở nên có tổ chức và tiềm ẩn bất ổn chính trị.

Những rủi ro cải cách

Năm 2011, Bắc Kinh đã triển khai thử nghiệm cải cách chính sách tài chính ở Thượng Hải và Trùng Khánh và ngày 20/6 vừa qua, Trung Quốc thông báo rằng việc phát hành trái phiếu chính quyền địa phương sẽ được phép thực hiện ở thêm một số nơi khác như Sơn Đông và Giang Tô. Nhưng việc mở rộng thử nghiệm từ một số lượng nhỏ các thành phố lớn ra toàn bộ đất nước sẽ rất khó khăn vào thời điểm hiện nay khi mà các điều kiện kinh tế đang xấu đi và những yếu kém trong việc thực hiện các cải cách tài khóa cũng gây phản tác dụng theo nhiều cách. Thị trường bất động sản có thể sẽ lao dốc trước khi các chính quyền địa phương có thời gian áp dụng những mô hình tài chính mới này, tạo ra các cuộc khủng hoảng nợ địa phương và thất nghiệp lan rộng.

Cho tới gần đây, chính quyền trung ương vẫn luôn duy trì việc kiểm soát cuối cùng với các thị trường bất động sản nhờ khả năng kiểm soát dòng tín dụng cho chính quyền địa phương thông qua các ngân hàng thương mại nhà nước. Nếu các chính quyền địa phương có thể huy động vốn độc lập với chính quyền trung ương như thông qua trái phiếu, ảnh hưởng của chính quyền trung ương sẽ bị yếu đi. Trong trường hợp để xảy ra tình trạng bùng nổ trái phiếu địa phương rồi vỡ nợ, Bắc Kinh sẽ bị đặt vào tình huống khó khăn hoặc phải cứu trợ chính quyền địa phương hoặc đối mặt với tình trạng phá sản rộng khắp, thất nghiệp tăng cao.

Trong khi đó, Bắc Kinh cũng đang tìm cách giải quyết một số vấn đề khác mà chính quyền địa phương đang vấp phải như tư nhân hóa các ngành công nghiệp cốt lõi, bùng nổ các thị trường tín dụng đen thời gian gần đây do quản lý yếu kém. Những vấn đề này không thể được giải quyết một cách tách bạch vì chúng có quan hệ mật thiết với nhau. Đây là lý do tại sao chính quyền trung ương Trung Quốc đang đặc biệt thận trọng trong giải pháp cải cách của mình. Nhưng việc quá thận trọng có thể ngăn cản Trung Quốc hành động quyết đoán vào thời

điểm khó khăn kinh tế, và bản thân việc làm này có thể trở thành kẻ thù lâu dài của đất nước. Kế hoạch đô thị hóa của ủy ban cải cách và phát triển quốc gia Trung Quốc vào tháng 7 tới sẽ hoạch định những cải cách thận trọng để dần hướng tới một tiến trình phát triển đô thị tự do hóa, hợp lý hóa mà không gây quá nhiều xáo trộn trong xã hội.

*

*          *

Tờ “Al-Akhbar Al-Asyia” (Tin tức châu Á) vừa có bài viết về một s khía cạnh của nền kinh tế, quốc phòng và quan hệ với Mỹ của Trung Quốc, nội dung như sau:

Cuộc khủng hoảng toàn cầu vi cuộc cải cách Trung Quốc

Đảng Cộng sản Trung Quốc, hiện do hai nhân vật tối cao là Chủ tịch Tập Cận Bình và Thủ tướng Lý Khắc Cường (Li Keqiang) lãnh đạo, đã quyết định tiến hành làn sóng cải cách thứ ba thân thị trường nhằm mở cửa tối đa nền kinh tế. Trước chuyến công du tới châu Âu mới đây, ông Lý Khắc Cường đã gửi một bức thông điệp rõ ràng trên một tờ báo nước ngoài là “cùng nhau nỗ lực để làm sâu sắc thêm cuộc cải cách tự do ủy ban quốc gia về cải cách và phát triển đất nước cũng đã đưa ra những đề nghị, như đẩy nhanh tiến độ các dự án có nguồn vốn đầu tư lớn, tự do hóa lãi suất và tỷ giá hối đoái, nhất là vốn đầu tư tư nhân trong các lĩnh vực công như tài chính, năng lượng và hệ thống viễn thông. Chính sách này sẽ được trình bày tại Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc vào mùa Thu tới. Một trong những lý do quan trọng nhất dẫn đến việc người Trung Quốc muốn thúc đẩy cuộc cải cách này là tình hình kinh tế và địa chính trị ngày càng căng thẳng do cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu. Các thị trường xuất khẩu của Trung Quốc bị suy giảm do tác động của các biện pháp thắt lưng buộc bụng, giảm lương và thất nghiệp hàng loạt, dẫn đến việc giảm mạnh sức mua của người dân ở Mỹ và châu Âu, giảm mạnh nhu cầu đối với hàng tiêu dùng giá rẻ. Chiến lược của Trung Quốc về một sự tăng trưởnghướng tới xuất khẩu” đang đứng trước nguy cơ thất bại, nền kinh tế nước này hiện còn duy trì được nhờ khoản 650 tỷ USD cứu trợ nền kinh tế hồi năm 2008. Sự bùng nổ các khoản cho vay ngân hàng tiếp theo đó đã làm tăng chi phí tới hàng nghìn tỷ USD, khiến chính quyền các địa phương vướng vào những khoản nợ lên tới hơn 2000 tỷ USD, giảm tỷ lệ lợi nhuận và thổi phồng bong bóng đầu cơ bất động sản có nguy cơ nhấn chìm hệ thống ngân hàng Trung Quốc. Bất chấp các khoản tín dụng với giá thấp, tăng trưởng của Trung Quốc vẫn tiếp tục chững lại: người ta đang hy vọng năm nay tăng, trưởng đạt 7% hoặc dưới 8%. Đây được Đảng Cộng sản Trung Quốc coi là mức tối thiểu để ngăn chặn nạn thất nghiệp gia tăng.

Ban lãnh đạo do Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường đứng đầu cũng phải đối mặt với những sức ép từ Mỹ, hiện đang gia tăng các hoạt động nhằm kiềm chế Trung Quốc vê mặt quân sự với chủ triĩơna ‘Trở lại châu Á” của Chính quyền Obama. Mục đích của Mỹ là bao vây Trung Quốc bằng những liên minh quân sự và các căn cứ quân sự trước khi sự tăng trưởng kinh tế và công nghệ của Trung Quốc có thể gây tổn hại đến ảnh hưởng của Mỹ. Một trong những yêu cầu chính của Mỹ là phá bỏ 120 “độc quvền nhà nước” của Trung Quốc. Các công ty nhà nước thuộc một số lĩnh vực như năng lượng, hệ thống viễn thông và đường sắt nắm giữ những tài sản trị giá hàng nghìn tỷ USD, và một khi việc tư nhân hóa các công ty này được thực hiện sẽ làm giảm đáng kể lợi lộc của những nhân vật quan liêu ở cấp cao nhất của Trung Quốc cũng như các đối tác làm ăn của họ.

Từng theo học Lệ Dĩ Ninh (Li Yining), một nhà kinh tế có tư tưởng tự do nổi tiếng, Lý Khắc Cường đã góp phần vào việc thiết lập học thuyết chính thức của những năm 1990, biện minh cho làn sóng tư nhân hóa vừa qua vốn đã làm mất đi hàng chục triệu công ăn việc làm. Tầng lớp tinh hoa kinh doanh của Trung Quốc, có liên quan chặt chẽ với các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc, đang nỗ lực đoạn tuyệt với những gì còn thuộc về các cơ cấu của nhà nước, đã từng cho phép họ tích lũy của cải. Chính sách thị trường tự do đã cho phép họ không những tăng cường việc bóc lột người lao động và có được tỷ lệ lợi nhuận cao nhất, mà còn mang đến một cơ sở pháp lý vững chãi hơn cho nguồn của cải cá nhân mà họ tích lũy được ở Trung Quốc. Bằng cách thông qua một chính sách như vậy, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tự đặt mình vào quỹ đạo buộc họ phải xung đột với người dân lao động. Những sức ép để đạt năng suất cao hơn, giảm lương và nạn thất nghiệp gia tăng đã dẫn đến những cuộc đối đầu giữa người dân và ban lãnh đạo. Điều mà người ta gọi là những “vụ rắc rối của quần chúng” đã gia tăng trên toàn lãnh thổ Trung Quốc. Theo các thống kê được công bố gần đây, số vụ việc này đã tăng từ 90.000 vào năm 2006 lên 180.000 vào năm 2010, nghĩa là gấp đôi sau 4 năm.

Trên báo chí phương Tây, Đảng Cộng sản Trung Quốc nói rằng họ đã dự đoán trước những nguy cơ này. Dene Yuwen, một cựu giám đốc trường đảng của Đảng Cộng sản Trung Quốc, mới đây đã viết trên tờ Financial Times rằng nếu chính phủ phạm một sai lầm lớn về chính trị thì không ai có thể bảo đảm rằng một cuộc cách mạng sẽ không nổ ra. Hon nữa, cho dù một cuộc nổi dậy ở cấp trung ương có thể tránh được, thì các vụ lộn xộn xã hội vẫn có thể nổ ra ở cấp địa phương. Nếu đảng cầm quyền không giải quyết được các vụ bùng nổ lẻ tẻ thì có thể nó sẽ biến thành một cuộc cách mạng mới ở Trung Quốc. Những lời nói bóng gió đến các cuộc nổi dậy có thể xảy ra của nhân dân chứng tỏ sự phá sản lịch sử chủ trương của Đảng Cộng sản Trung Quốc là “xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ trong một đất nước”. Theo giới quan sát, chế độ quan liêu của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tái thiết lập chủ nghĩa tư bản, trong bối cảnh các cuộc xung đột xã hội và các cuộc đấu tranh của người dân trong những năm 1970, bởi vì không thể tìm ra được đủ các nguồn tài nguyên chỉ trong một nước để xây dựng một xã hội xã hội chủ nghĩa. 30 năm sau, một xã hội mới được lập ra ở Trung Quốc bằng cách dựa vào một sự tiếp cận với nền kinh tế thế giới bằng những mối quan hệ với tư bản phương Tây cũng đã bị phá hoại bởi những mâu thuẫn riêng của nó. Đảng Cộng sản Trung Quốc thấy rõ rằng ở bên ngoài những nguy cơ ngày càng lớn về một cuộc chiến tranh chống Mỹ và các đồng minh của Mỹ và ở trong nước mối đe dọa ngày càng tăng về sự bất bình của người dân và cuộc cách mạng. Người dân Trung Quốc cũng không thể tin vào các phe phái bảo thủ khác nhau của Đảng Cộng sản Trung Quốc nữa, những người này chỉ trích các cuộc “cải cách tự do hoặc đưa ra những lời cảnh cáo về việc “chủ nghĩa tư bản mới” thống trị Trung Quốc. Các phe phái bảo thủ khác nhau này hy vọng biến các doanh nghiệp công lớn nhất thành những “quán quân kinh tế” như Samsung và Hyundai của Hàn Quốc, trong đó gia đình của các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc là những cổ đông chính.

Trung Quốc, nhà cung cấp vũ khí lớn

Trung Quốc trở thành nhà sản xuất vũ khí lớn thứ năm trên thế giới. Việc Trung Quốc trở nên hùng mạnh trong lĩnh vực xuất khẩu vũ khí trong những năm qua nằm trong một chiến lược biến Trung Quốc thành một công xưởng của thế giới. Vì vậy, việc nước này trở thành một chủ thể lớn trong lĩnh vực này cũng như là một chủ thể lớn trong nhiều lĩnh vực công nghiệp khác là lôgích. Sự khác nhau là ở chỗ trái với tình hình diễn ra trong các lĩnh vực khác, ngành công nghiệp vũ khí của Trung Quốc là một ngành công nghiệp thuần túy mang tính quốc gia và càng không phải là ngành công nghiệp phục vụ các doanh nghiệp nước ngoài. Thiết bị được xuất khẩu rất đa dạng, từ các loại vũ khí có kích cỡ nhỏ đến các máy bay chiến đấu, tàu chiến và tên lửa. Ngoài ra, Trung Quốc là người bán hàng ít so đo đồng tiền hơn nhiều so với các nước khác. Trung Quốc bán vũ khí với giá rất rẻ, rẻ hơn nhiều so với vũ khí cùng loại mà các nước phương Tây và Nga bán.

Thông báo về việc Trung Quốc trở thành nước xuất khẩu vũ khí lớn thứ năm thế giới được đưa ra vào một thời điểm đặc biệt: Hội nghị cuối cùng của Liên hợp quốc về hiệp ước buôn bán vũ khí, bắt đầu hôm 18/3 vừa qua tại trụ sở Liên Hợp Quốc ở New York và Trung Quốc đã công khai nói rằng họ không muốn hiệp ước này có những ràng buộc đối với họ. Ngành công nghiệp vũ khí của Trung Quốc hầu như đã được quốc hữu hóa hoàn toàn, cho dù một sự mở cửa dè dặt đối với lĩnh vực tư nhân đang hé mở. Ngành công nghiệp này được tổ chức sản xuất kết hợp cả dân sự và quân sự, vào năm 2010 sử dụng 3 triệu nhân công với tổng doanh thu 180 tỷ USD, nhưng sản xuất quân sự chỉ chiếm khoảng 20%. Sự vận hành của Trung Quốc như một công xưởng xuất khẩu thiết bị quân sự tuân theo những lôgích rất đặc biệt. Trước hết, danh sách các khách hàng của Trung Quốc khác với danh sách các khách hàng của các nước xuất khẩu lớn khác. Chỉ riêng Pakixtan đã chiếm 55% tổng lượng vũ khí xuất khẩu này của Trung Quốc. Các khách hàng quan trọng khác là Mianma, Iran, Angiêri, Bănglađét và Vênêxuêla. Ngoài ra, Trung Quốc cung cấp cho nhiều nước ở châu Phi, tuy số lượng không nhiều, nhưng thường bị bên ngoài phóng đại thêm. Một đặc tính khác về vũ khí của Trung Quốc là thường làm giả mạo hoặc phát triển” từ các thiết bị của Nga hay phương Tây hoặc sử dụng các bộ phận được sản xuất không có giấy phép, hoặc vượt qua các thỏa thuận có giấy phép và vi phạm những điều khoản không tái xuất khẩu. Người ta cũng phát hiện ra rằng Trung Quốc không sản xuất được các lò phản ứng có khả năng vận hành tốt và có tính cạnh tranh, và trang bị cho các máy bay chiến đấu mà Trung Quốc xuất khẩu hoặc thử xuất khẩu chủ yếu với những động cơ mua của Nga. Trung Quốc hiện đã có ngân sách quốc phòng lớn thứ hai thế giới sau Mỹ, và đang nuôi tham vọng quân sự: “Tất cả những gì Mỹ có thì Trung Quốc đều muốn có”.

Theo giới quan sát, Trung Quốc bắt đầu theo đuổi mục tiêu trở thành nhà xuất khẩu vũ khí lớn từ khi xảy ra cuộc Chiến tranh vùng vịnh, với việc họ nhận ra rằng các vũ khí mà mình sở hữu cũng như đã được quân đội Irắc sử dụng đều hoàn toàn lỗi thời và tổ hợp quân sự công nghiệp của họ rất lạc hậu và kém hiệu quả. Cũng cần phải nói thêm rằng cố lãnh đạo Đặng Tiểu Bình, người đã đặt sự phát triển kinh tế của Trung Quốc lên trên hết và đưa quốc phòng vào ưu tiên sau cùng, làm cho ngành công nghiệp quốc phòng của Trung Quốc nhiều năm không có cơ hội để phát triển. Vì vậy, từ cuối những năm 1990, Trung Quốc đã bắt đầu một lôgích chuộc lại những sai lầm ấy một cách đầy tham vọng. Từ đó, việc bán vũ khí được coi là vô cùng quan trọng. Song người ta cũng nhận thấy việc xuất khẩu vũ khí của Trung Quốc thưòng kèm theo một yêu cầu là các khách hàng của họ thường là những nước tham gia bao vây Ấn Độ, tham gia chia rẽ trong khối ASEAN hoặc ủng hộ các chế độ bị phương Tây lên án, nhưng có nguồn nguyên liệu dồi dào. Trong nhiều lĩnh vực, Trung Quốc đã trở thành cường quốc thứ hai thế giới, và họ cho rằng nền quốc phòng của mình phải ngang tầm với nền kinh tế, cho phép bảo đảm cho Trung Quốc có một ưu thế khu vực và thế giới. Trong đó, lực lượng Hải quân và Không quân phải đủ sức chống lại một cách hiệu quả các hạm đội của Mỹ.

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
This entry was posted in Archives, Articles, Teaching and tagged . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s