ISRAEL-PALESTINE: CÒN XA MỚI ĐI TỚI HIỆP ĐỊNH CUỐI CÙNG

Thông TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ Sáu, Ngày 13/9/2013

TTXVN (Paris 12/9)

Sau 3 năm bế tắc, tiến trình hòa bình Trung Đông đã được nối lại và lại bắt đầu thu hút sự quan tâm của dư luận quốc tế. Đã có những n lực mới được thực hiện để mang lại cơ hội cho hòa bình lâu dài cho cả Israel và Palestine. Mặc dù vậy, không có nhiều ý kiến lạc quan về tiến bộ có thể đạt được trong những chặng đường đàm phán song phương tới. Báo Le Monde ngày 13/8 có bài nhận định rằng thậm chí ngay trước khi bắt đầu lại một tiến trình được cho là hàm chứa vô vàn khó khăn c hữu, các nhà đàm phán Israel-Palestine đã gặp ngay phải thử thách gai góc. Chng hạn,ngay trước cuộc họp đầu tiên của các nhà đàm phán (14/8 tại Jerusalem) hai ngày, Chính quyền Netanyahu đã thông báo quyết định sẽ xây dựng 1.200 căn hộ mi tại các khu định cư Do Thái ở Đông Jerusalem và Bờ Tây. Nội dung chính bài viết như sau:

Tổng thống Mahmoud Abbas và trưởng đoàn đàm phán Palestine Saeb Erekat đã lập tức gửi đi những thông điệp phản đối có nội dung “quen thuộc” tới Ngoại trưởng Mỹ John Kerry và Martin Indyk, đặc phái viên Mỹ phụ trách hòa đàm Trung Đông. Đối với Chính quyền Palestine, thông báo của phía Israel hoàn toàn đi ngược với các hứa hẹn mà Kerry đã đưa ra trong một thời gian dài trước khi có tuyên bố nối lại hòa đàm trực tiếp giữa hai phía xung đột. Thực tế, Ngoại trưởng Mỹ chỉ đạt được sự chấp thuận nối lại đàm phán của Mahmoud Abbas vào phút chót trong cuộc gặp ngày 20/7 và không ai biết Mỹ đã dành cho phía Palestine những bảo đảm như thế nào.

Như để thanh minh cho quyết định phức tạp hóa vấn đề của mình, phía Chính phủ Israel bắn tin rằng Mỹ đã biết rõ việc gọi thầu xây dựng các khu định cư mới và chấp nhận giới hạn tổng số căn hộ dự kiến xây dựng ở con số 1.200. Mark Regev, phát ngôn viên của Thủ tướng Netanyahu, nhấn mạnh các căn hộ mới này chủ yếu được xây dụng ở “các khu vực thuộc chủ quyền của Israel cho dù hiệp định hòa bình tương lai có như thế nào. Dự án mới này sẽ không làm thay đổi điều gì”. Theo giới chức Israel, các hồ sơ gọi thầu mới trên thực tế chỉ liên quan đến các khu vực ở Đông Jerusalem, gồm Gilo, Har Homa, Pisgat Zeev và Maale Adoumim, tức là các khu phố nằm trong các giới hạn mà Israel vạch ra cho toàn bộ “Jerusalem Lớn” và các khu định cư lớn, chẳng hạn như Ariel.

Theo đánh giá của Mohammed Shtayyeh, một thành viên của phái đoàn đàm phán Palestine, Chính phủ Israel muốn tìm cách làm chệch hướng tiến trình thương lượng vốn rất nhiều chông gai đối với cả hai phía. Thực chất, Israel tiếp tục sử dụng các cuộc đàm phán như một thứ hỏa mù để xây dựng nhiều khu định cư Do Thái hơn, Shtayyeh nhận định rằng nếu không muốn các nỗ lực nối lại đàm phán thất bại, Mỹ và cộng đồng quốc tế buộc phải ngăn chặn các hành động đi ngược cam kết của Chính phủ Israel.

Tuy nhiên, khi mà các nỗ lực nối lại tiến trình hòa đàm mới chỉ bắt đầu, phía Palestine không thể ngay lập tức đưa ra những phản ứng tiêu cực, chẳng hạn quyết định đơn phương không tham gia các cuộc họp song phương thời gian tới. Sau những nỗ lực ban đầu, Chính quyền của Tổng thống Abbas không muốn bị quy trách nhiệm đối với thất bại của tiến trình hòa bình ngay trước khi nó được chính thức khởi động trở lại. Nói tóm lại, Palestine luôn bị đẩy vào một vị thế yếu trước Israel.

Thực tế, cuộc chơi “quy trách nhiệm” đã diễn ra ngay từ đầu tháng 8, tức là không lâu sau tuyên bố hai bên xung đột đã nhất trí nối lại hòa đàm trực tiếp nhờ các chuyến đi con thoi tới Trung Đông của Ngoại trưởng Mỹ John Kerry. Thủ tướng Netanyahu đã lên án phía Palestine cố tình kích động hận thù nhằm vào Israel, đặc biệt trong các chương trình sách giáo khoa của Chính quyền Palestine. Đáp lại, Tổng thống Abbas đã có những tuyên bố rằng bất cứ người Do Thái nào cũng không được phép sống trong một Nhà nước Palestine tương lai. Cả hai phía đã chuẩn bị cho việc khởi động lại tiến trình hòa đàm trực tiếp như vậy.

Cho đến nay, Chính phủ mới của Netanyahu, được thành lập một cách rất khó khăn từ tháng 3/2013, sau các cuộc bầu cử lập pháp đầu năm 2013, vẫn chưa ký phê chuẩn bất cứ dự án xây dựng mới nào. Theo các nhà phân tích, quyết định cho gọi thầu xây dựng 1.200 căn hộ định cư mới được đưa ra giống như một vật bảo lãnh đối với đảng Likud, đảng của Thủ tướng Netanyahu, để đổi lại việc các nghị sĩ chấp thuận phóng thích hàng trăm tù nhân Palestine, điều mà Netanyahu đã buộc phải cam kết để nối lại hòa đàm trực tiếp.

Thực tế, thông báo trả tự do đợt đầu tiên cho các tù nhân Palestine đã diễn ra gần như đồng thời với thông báo xây dựng các căn hộ định cư mới. Theo quyết định, có 26 tù nhân, phần lớn gần mãn hạn thi hành án, được trả tự do trong đợt đầu tiên. 80 tù nhân còn lại, bị kết tội sát hại người Israel trước khi hai bên ký Hiệp định Oslo năm 1993, sẽ dần dần được phóng thích tùy theo tiến bộ đạt được từ tiến trình hòa đàm.

Quyết định phóng thích 26 tù nhân Palestine trong đợt đầu tiên được Israel xem là hành động thể hiện thiện chí nối lại đối thoại và đàm phán trực tiếp giữa hai bên, mở ra một cơ hội mới mà Palestine cần nắm bắt. Tuy nhiên, lịch sử xung đột và hòa đàm Trung Đông chứng minh rằng bất cứ nỗ lực nào cũng đều vấp phải hàng loạt trở ngại ngầm mà các cuộc thương lượng phải phá bỏ.

Còn nhớ hồi tháng 7 vừa qua tại Amman, John Kerry đã một mình đứng ra thông báo về việc nối lại các cuộc hòa đàm Israel-Palestine mà không có nhân vật chủ chốt nào khác của hai bên xung đột cùng xuất hiện tại cuộc họp báo. Hình ảnh này đã biểu tượng hóa rất tốt chủ nghĩa hoài nghi mà cả Israel lẫn Palestine đã không thể che đậy trong việc tiếp nhận thành công ngoại giao của Ngoại trưởng Mỹ. Có vẻ như cả Netanyahu lẫn Abbas đều chấp nhận nhượng bộ trước “hợp chất” được tạo thành từ các hứa hẹn và sức ép của Kerry để không xuất hiện như một kẻ cản đường.

Sau những tuyên bố lạc quan của Ngoại trưởng Mỹ, Thủ tướng Netanyahu đã tổ chức họp nội các và giải thích rằng việc nối lại tiến trình ngoại giao là “một lợi ích chiến lược sống còn đối với Israel”. Ông cam kết sẽ đưa hiệp định hòa bình tiềm ẩn ra trưng cầu dân ý và ấn định hai mục tiêu của tiến trình hòa bình: “Ngăn chặn việc thành lập một nhà nước hai dân tộc giữa sông Jordan và Địa Trung Hải, đồng thời ngăn ngừa việc thành lập một nhà nước khủng bổ khác do Iran tài trợ”.

Netanyahu cũng nhấn mạnh các cuộc hòa đàm sẽ diễn ra “không dễ dàng” nhưng các đối tác Palestine “sẽ phải nhượng bộ, cho phép Israel bảo đảm an ninh và bảo vệ các lợi ích sống còn”. Điều quan trọng với Thủ tướng Israel là phía Palestine đã từ bỏ các điều kiện tiên quyết đòi lấy việc ngừng hoạt động xây dựng các khu định cư và lấy các đường biên giới năm 1967 làm căn cứ đàm phán. Việc nối lại đàm phán đã thỏa mãn đòi hỏi của đồng minh Mỹ và mang lại cho chính phủ của Netanyahu một hình ảnh dễ chấp nhận hơn trên trường quốc tế trong bối cảnh EU vừa quyết định áp dụng các biện pháp siết chặt thương mại tại các khu định cư Do Thái mà Israel đánh giá chẳng khác nào các biện pháp cấm vận. Các cuộc thương lượng hòa bình cũng sẽ giúp ông tránh phải chứng kiến cảnh Chính quyền Palestine được công nhận về mặt ngoại giao tại Liên Hợp Quốc, điều mà Israel luôn bị ám ảnh.

Về phần mình, Tổng thống Abbas cũng đã đạt được cam kết phóng thích tù nhân Palestine từ phía Chính quyền Netanyahu. Cho dù số lượng ít hơn so với mong đợi của Palestine, nhưng quyết định trao trả tù nhân lần này sẽ được thực hiện, tuần tự và sẽ được gắn với các tiến bộ đạt được trong tiến trình hòa đàm, và đây là một thành công mang tính biểu tượng của Mahmoud Abbas, người chưa bao giờ đạt được điều gì đáng kể như vậy từ phía Israel. Ngoài ra, Abbas cũng nhận được cam kết viện trợ tài chính “ra tấm ra món” từ phía Mỹ trong bối cảnh Chính quyền Palestine đang thiếu tiền hơn bao giờ hết.

Nhưng cũng phải nói rằng ngay cả khi nỗ lực của John Kerry là rất lớn để có thể lôi kéo hai bên xung đột rời khỏi điểm chết từ năm 2010 và đàm phán trở lại, hy vọng hay niềm lạc quan về một lối thoát cho tiến trình hòa bình vẫn rất hạn chế. Các nhà đàm phán của hai bên, gồm Tzipi Livni của Israel và Saeb Erekat của Palestine, sẽ nhanh chóng vấp phải các vấn đề cần giải quyết được đặt ra cách đây hai chục năm tại Oslo: vấn đề người tị nạn Palestine, các khu định cư Do Thái, đường biên giới cơ sở và đặc biệt là quy chế của Jerusalem. Và cả hai phái đoàn sẽ lại phải đối đầu với nguy cơ tiềm tàng của 3 năm trước, khi tiến trình đàm phán chấm dứt bằng bế tắc: cái tối đa mà Netanyahu có thể nhượng bộ vẫn cách xa cái tối thiểu mà Abbas có thể chấp thuận.

Nhiệm vụ mà vai trò trung gian đặt ra cho Mỹ là nỗ lực thu hẹp khoảng cách trong lập trường và quan điểm của hai bên xung đột. Nhưng lịch sử chứng minh rằng trải qua các đời chính quyền, ngoại giao Mỹ chưa bao giờ đạt được nhiều thành công trong việc giải quyết xung đột Israel- Palestine. Ngược lại, trong lịch sử có 3 thỏa thuận Israel ký kết với những người láng giềng được đàm phán một cách hoàn toàn bí mật và sau lưng Mỹ, đó là hiệp định hòa bình với Ai Cập, hiệp định công nhận lẫn nhau với Phong trào Giải phóng Palestine (PLO) và hiệp định hòa bình với Jordan. Washington là nơi lý tưởng để tổ chức ăn mừng việc ký kết một hiệp ước, nhưng sẽ là “nghĩa trang chôn vùi các cuộc đàm phán”.

Theo Aluf Benn, tổng biên tập nhật báo cánh tả Haaretz (Israel), Netanyahu đang đối diện với “cơ hội trong đời”: “Ông có thể thiết lập các đường biên giới đất nước và gây ảnh hưởng đến diện mạo của một Trung Đông đang hồi sinh từ đống đổ nát của Mùa Xuân Arab. Quyết định đang nằm trong tay ông”. Nhưng cũng có một đấu hỏi lớn được đặt ra thường trực cho ý            đồ thực sự của Netanyahu, người từ khi có bài          phát biểu nổi tiếng ở Bar-Ilan năm 2009 luôn bày tỏ chính kiến ủng hộ hai nhà nước, nhưng cũng là người đứng đầu một nội các và một đảng có phần lớn số thành viên phản đối giải pháp này.

***

Một năm sau khi thành lập Đảng Yesh Atid (“Có một tương lai”), Yair Lapid đã về vị trí thứ hai trong cuộc bầu cử hồi tháng 3 vừa qua tại Israel và tất yếu tr thành đối tác then chốt trong liên minh cm quyn của Thủ tướng Benjamin Netanyahu. Cách đây 5 tháng, Lapid đã được bổ nhiệm làm Bộ trưỏng Tài chính Israel, một bộ chủ chốt của chính phủ mới. Trong vai trò này, ngày 14/8, Lapid đã có cuộc trả lời phỏng vn báo Le Figaro về tình hình xung quanh việc nối lại tiến trình hòa bình Trung Đông, nội dung như sau:

+ Ông vừa lần đầu tiên bày tỏ sự phản đổi với chính phủ mà ông là một thành viên, sau thông báo quyết định gọi thầu đối với dự án xây dựng các căn hộ định cư mới nằm bên kia giới tuyến xanh, nơi thuộc các vùng lãnh thổ chiếm đóng?

– Tôi nghĩ đó là một quyết định được đưa ra rất không hợp thời, ngay trước thời điểm nối lại đàm phán trực tiếp với người Palestine, trong lúc chúng tôi buộc phải chứng tỏ thiện chí của mình, về căn bản, quyết định này không làm thay đổi điều gì lớn lao. Cũng như phần lớn người Israel, tôi nghĩ rằng quy chế của Jerusalem không gặp vấn đề và thành phố này không nên bị phân chia. Nhưng kể cả như vậy thì bây giờ vẫn không phải là lúc đưa ra những hành động làm ảnh hưởng xấu đến một tiến trình vốn dĩ luôn bao trùm sự ngờ vực lẫn nhau và chứa chất rất nhiều ký ức xấu. Bởi vậy tôi đã đi ngược thói quen chơi trò tập thể và quyết định công khai và dứt khoát phản đối quyết định này. Cho dù chỉ là một giai đoạn trong tiến trình thủ tục phức tạp, nhưng theo một cách nào đó lời gọi thầu này sẽ mang lại những tác động tồi tệ hơn nhiều. Tôi muốn các đối tác của mình trong liên minh cầm quyền hiểu rằng tôi sẽ không bỏ qua chuyện này.

+ Và dư luận sẽ lại được chứng kiến một cuộc khủng hoảng của Chính phủ Israel?

– Không, chúng tôi vẫn sẽ là một phần hữu ích và ổn định của liên minh cầm quyền và các đối tác của chúng tôi hiểu điều này. Nhưng các chủ đề kiểu như xây dựng các khu định cư phải được cân nhắc nghiêm túc trước khi ra thông báo nào đó. Hy vọng quyết định vừa rồi sẽ không phá hỏng nỗ lực nối lại tiến trình hòa bình.

+ Ông phản ứng thế nào trước việc mới đây EU ra quyết định ngừng cung cấp tài chính cho các viện và các xí nghiệp Israel có hoạt động tại các vùng lãnh thổ chiếm đóng?

– Đó quả thực là một quyết định rất tồi tệ được ban hành ở một thời điểm cũng rất tồi tệ. Kết quả duy nhất mà biện pháp này mang lại là khiến cho mọi việc trở nên khó khăn hơn đối với những người ủng hộ hòa bình của cả hai phía. Với phía Israel, nó chỉ củng cố thêm lập luận cho những người luôn nói rằng Israel không thể đặt niềm tin ở các nước châu Âu và biện pháp được ban hành sẽ chẳng ích lợi gì cho tiến trình hòa bình, về phía Palestine, nó củng cố lập luận cho các phần tử cực đoan của phong trào Hamas và Thánh chiến Hồi giáo, những kẻ muốn tuyên truyền rằng thời gian đứng về phía người Palestine, và rằng cách tốt nhất là không đàm phán và hãy cứ để sức ép gia tăng đối với Israel. Đó là một quyết định được đưa ra bởi những người không am hiểu hoàn cảnh mà chúng tôi đang rơi vào hiện nay. Tôi nói “chúng tôi” không phải chỉ nhắc đến Chính phủ Israel, mà là tất cả những ai ủng hộ một giải pháp hòa bình thông qua đàm phán. Tôi thành thực hy vọng EU sẽ nghĩ và quyết định lại trong khi vẫn còn thời gian.

+ Chẳng lẽ lập trường của EU lại không có chút căn cứ nào?

– Chúng ta đang đối diện với các vấn đề rất phức tạp. Những người thông minh đã dốc sức cho tiến trình hòa bình suốt hơn 20 năm mà kết quả vẫn chưa đâu vào đâu. Trong khi những người khác, ngồi trên những chiếc ghế bành ở Brussels, lại giải thích rằng chúng tôi phải kiến tạo hòa bình bằng cách cho đất, hay nói cách khác phải đổi đất lấy hòa bình. Lẽ ra họ phải thận trọng hơn và thừa nhận rằng vấn đề không đơn giản như vậy. Cách đề cập vấn đề nông cạn này sẽ tiếp sức cho sự liên minh bại hoại giữa phe cực tả châu Âu với các phần tử Hồi giáo cực đoan, và sẽ mang hơi hướng cho các chiến dịch tẩy chay Israel. Điều này vừa tai hại, vừa thiếu đạo đức và chẳng đóng góp gì cho hòa bình khu vực.

+ Ông có tự coi mình là người yêu chuộng hòa bình?

– Có chứ. Tôi hoàn toàn ủng hộ giải pháp hai nhà nước, Israel và Palestine. Đó là giải pháp duy nhất và tôi tin giải pháp này cuối cùng sẽ thắng thế. Tôi cũng biết chúng tôi không thể phớt lờ các cuộc thương lượng trước đây, và cả thế giới đều biết những gì tôi muốn nói tới: các khu định cư Do Thái sẽ ở lại với Israel, Jerusalem sẽ ở lại với Israel. Nhưng chúng tôi cũng biết rằng đại bộ phận các vùng lãnh thổ sẽ được trao trả, trong đó nhiều khu định cư sẽ phải bị giải thể.

Cũng như đối với nhiều chủ đề khác, tôi là người không tả khuynh, cũng không hữu khuynh. Tôi là người trung dung. Phần lớn người Israel cũng vậy, điều đó giải thích tại sao chúng tôi thành công trong các cuộc bầu cử lập pháp vừa rồi. Đa số người Israel đều ôn hòa và hiểu rất rõ những gì cần thiết cho việc kiến tạo hòa bình. Tôi là người theo chủ nghĩa hiện thực và thực dụng, nhưng điều đó không có nghĩa tôi thiếu hẳn các niềm tin. Tôi tin tưởng sâu sắc vào tiến trình hòa bình và ở tầm quan trọng của tầng lớp trung lưu Israel, những người đang hứng chịu hậu quả nặng nề của khủng hoảng toàn cầu như bất cứ công dân nước nào trên thế giới. Với tư cách Bộ trưởng Tài chính Israel và đại diện của đảng Yesh Atid, tôi không nghĩ chi tiền cho các khu định cư phải di dời sau này là điều sáng suốt.

+ Ông có nghĩ các cuộc đàm phán tới sẽ có cơ hội thành công?

– Cảm giác chung là cảm giác rất ít mong đợi. Thực ra tôi mong muốn một điều như vậy. Khi phải tiến hành một tiến trình hòa đàm phức tạp đến như vậy thì đó là thái độ tốt nhất có thể có. Không thể có những bất ngờ xảy ra.

+ Ông là thành viên của nội các an ninh Israel, vậy liệu có lặp lại những lời đồn đại về khả năng Israel tấn công ngăn ngừa nhằm vào các cơ sở hạt nhân của Iran?

– Thực tế là Israel không thể tự cho phép mình chứng kiến sự ra đời của một Iran hạt nhân. Một tổng thống vừa mới được bầu tại Iran, nhưng các nhà lãnh đạo Iran vẫn vậy. Không thế để một chế độ Hồi giáo cực đoan như Iran trang bị các tên lửa mang đầu đạn hạt nhân. Đó không phải là vấn đề chỉ liên quan đến riêng Israel mà còn hệ lụy tới cả Pháp, Anh, Mỹ và toàn thế giới, kể cả Saudi Arabia và các nước vùng Vịnh khác. Đó thực sự là vấn đề của toàn thế giới và vì thế, toàn thế giới phải quan tâm đến nguy cơ này. Pháp đã tỏ rõ lập trường cứng rắn đối với các biện pháp trừng phạt Iran và chúng tôi ủng hộ Pháp. Nhưng vấn đề vẫn còn nguyên trạng và chúng tôi không thế lơ là một giây một phút nào.

** *

TTXVN (New York 10/9)

Dưới nhan đề “Ảo ởng Oslo”, tạp chỉ “Al-Alam As-Siasyia” (Chính trị thế giới) vừa có bài viết đánh giá về Hiệp định Oslo ký năm 1993 giữa Israel với Palestine dưới sự bảo trợ của Mỹ. Dưới đây là nội dung bài viết:

Tháng 9/2013 là dịp kỷ niệm lần thứ 20 ngày ký kết Hiệp định Oslo (13/9-1993) giữa Tổ chức giải phóng Palestine (PLO) và Chính phủ Israel. Chính thức mang tên Tuyên bố về các nguyên tắc dàn xếp tạm quyền tự trị của các vùng lãnh thổ Palestine, Hiệp định Oslo công bố “chấm dứt những thập niên đối đầu và xung đột”, công nhận “các quyền hợp pháp và chính trị lẫn nhau”, nhằm mục đích sống trong một bầu không khí “cùng tồn tại hòa bình, tôn trọng và an ninh lẫn nhau, và thiết lập một nền hòa bình công bằng, lâu dài và toàn diện cũng như một sự hòa giải lịch sử thông qua tiến trình chính trị đã được thỏa thuận”.

Những người tán thành hiệp định này từng hy vọng với Hiệp định Oslo, Israel sẽ dần hủy bỏ sự kiểm soát đối với vùng lãnh thổ thuộc khu vực Bờ Tây sông Jordan và dải Gaza, chính quyền mới của Palestine (PA) cuối cùng thiết lập ở đó một nhà nước độc lập. Nhưng, thay vì điều đó, tiến trình thương lượng bế tắc sau này giữa PLO và Israel đã mở đường cho tình hình phức tạp hiện nay ở khu vực Bờ Tây sông Jordan và dải Gaza. Nhà cầm quyền Palestine, hiện đang lãnh đạo khoảng 2,6 triệu người Palestine ở khu vực Bờ Tây sông Jordan, trở thành kiến trúc sư chủ chốt cho chiến lược chính trị Palestine, trong khi mọi chuyện ở Gaza lại không phải như vậy, và hy vọng về việc xây dựng một “Nhà nước Palestine độc lập” vẫn chỉ dừng lại ở mức hy vọng.

Hiệp định Oslo bị coi là một thất bại do trên thực tế, đã 20 năm sau ngày ký nó, Israel vẫn liên tục chiếm đóng các vùng lãnh thổ Palestine, và vấn đề là ở chỗ đến bây giờ người ta vẫn lẫn lộn giữa mục đích được tuyên bố của văn kiện này và những mục tiêu thực sự mà Israel theo đuổi. Đối với Chính phủ Israel, mục đích của Hiệp định Oslo không phải là chấm dứt sự chiếm đóng khu vực bờ Tây sông Jordan và dải Gaza, cũng không phải là đề cập đến các vấn đề cơ bản truất quyền sở hữu của Palestine, mà là điều gì đó mang tính tượng trưng nhiều hơn. Bằng cách tạo ra nhận thức rằng các cuộc thương lượng sẽ dẫn đến một một cái gọi là “hòa bình”, Israel đã thành công trong việc mô tả những ý định của mình như là của một đối tác chứ không phải là một kẻ thù về chủ quyền của Palestine. Từ nhận thức này, Chính phủ Israel đã sử dụng hiệp định Oslo như là một thứ để che giấu việc củng cố và làm sâu sắc thêm sự kiểm soát của mình đối với đời sống của người dân Palestine, bằng cách vẫn duy trì và sử dụng các cơ chế chiến lược như từ khi bắt đầu chiếm đóng năm 1967: Xây dựng các khu định cư mới; hạn chế các quyền của người Palestine; tống giam hàng nghìn người và phong tỏa cả kinh tế lẫn đường biên giới v.v… và tất cả những thứ ấy hợp lại để tạo nên một hệ thống kiểm soát vô cùng phức tạp đối với người bị chiếm đất. Người Palestine có thể lãnh đạo việc điều hành công việc của họ trong ngày một ngày hai, nhưng quyền lực thực sự vẫn nằm trong tay Israel. Cơ cấu này đạt tới đỉnh điểm tại dải Gaza, nơi hơn 1,7 triệu người bị nhốt trong một mảnh đất nhỏ mà sự ra vào của người dân và hàng hóa đều do Israel quyết định.

Hiệp định Oslo cũng có một hậu quả chính trị tai hại. Bằng cách làm cho cuộc đấu tranh của người dân Palestine trở thành tiến trình mặc cả những mảnh đất ở khu vực Bờ Tây sông Jordan, và ở dải Gaza, Hiệp định Oslo đã giải giáp, về mặt tư tưởng, phong trào chính trị Palestine vốn chủ trương tiếp tục cuộc kháng chiến chống công cuộc định cư của Israel và tìm cách thực hiện một cách thực sự những khát vọng của người dân Palestine. Khát vọng quan trọng nhất là người tị nạn Palestine có quyền hồi hương về nơi họ đã bị trục xuất vào năm 1947 và 1948. Với Hiệp định Oslo, việc nói đến những mục tiêu này là điều “ngông cuồng” và “phi thực tế” khi bình thường hóa một chủ nghĩa thực dụng lừa dối thay vì giải quyết những căn nguyên cơ bản về cuộc sống tị nạn của người Palestine. Ngoài ra, Hiệp định Oslo đã giáng một đòn chí tử vào tình đoàn kết và mối thiện cảm mạnh mẽ khi đó dành cho cuộc đấu tranh của người Palestine, được xây dựng trong những năm Intifada (Cuộc nổi dậy) đầu tiên, thay thế phương hướng tiến tới một sự ủng hộ tập thể của nhân dân bằng lòng tin vào các cuộc thương lượng do các chính phủ phương Tây dẫn đường.

Đồng thời với việc làm suy yếu phong trào dân tộc Palestine, Hiệp định Oslo đã giúp tăng cường vị trí khu vực của Israel. Nhận thức ảo tưởng cho rằng Hiệp định Oslo sẽ dẫn đến nền hòa bình đã cho phép các chính phủ Arab, nhất là Jordan và Ai Cập, thiết lập quan hệ kinh tế và chính trị đầy đủ với Israel dưới sự bảo trợ của Mỹ và châu Âu. Vì vậy, Israel có thể tự thoát khỏi sự tẩy chay của các nước Arab, đã khiến họ bị thiệt hại 40 tỷ USD từ năm 1948 đến 1994. Điều có ý nghĩa hơn là giới tư bản nước ngoài đã có thế đầu tư thoải mái vào nền kinh tế của Israel mà không sợ làm như vậy sẽ khiến các đối tác thương mại Arab tẩy chay. Để làm được việc này, Hiệp định Oslo chính là công cụ lý tưởng để tăng cường sự kiểm soát của Israel đối với người Palestine và đồng thời củng cố vị trí của Israel tại khu vực Trung Đông mở rộng. Không có mâu thuẫn giữa sự ủng hộ “tiến trình hòa bình” và sự tăng cường công cuộc định cư. cần phải nhắc lại rằng cùng với những sự ủng hộ của quốc tế tán thành Hiệp định Oslo – giải Nobel Hòa bình đã được trao cho Thủ tướng Israel Yitzhak Rabin, Ngoại trưởng Israel Shimon Peres và Chủ tịch PLO Yasser Arafat hồi năm 1994 – ngay từ lúc bấy giờ đã có những dự báo bi quan về những gì chúng ta hiện nay đang chứng kiến. Người ta lưu ý trong số đó có tiếng nói của Edward Said, người đã phản đối Hiệp định Oslo khi bình luận rằng việc ký kết hiệp định này chứng tỏ “thái độ đê hèn” của Yasser Arafat do việc đã tước đi phần lớn các quyền của nhân dân Palestine, và “âm mưu đen tối” của Mỹ trong việc chống lưng cho đồng minh Israel. Miêu tả Hiệp định Oslo như là “một công cụ đầu hàng của người Palestine, một Versailles Palestine”, Said đã lưu ý rằng PLO trở thành “người của Israel”, giúp Israel thống trị về kinh tế và chính trị tại các vùng lãnh thổ Palestine và củng cố một “tình trạng phụ thuộc thường xuyên” (của Palestine vào Israel).

Có một câu hỏi hiện vẫn chưa có câu trả lời trong các bài phân tích về Hiệp định Oslo và chiến lược hai nhà nước là tại sao ban lãnh đạo Palestine đóng ở khu vực Bờ Tây sông Jordan lại tự nguyện đồng lõa đến như vậy với văn kiện mang đầy tính thảm họa này. Thường người ta hay nói đến nạn tham nhũng hoặc những khó khăn của Palestine do bối cảnh quốc tế đã hạn chế những cách nhìn chính trị của họ, nhưng điều không nói đến đó là một thực tế tàn bạo: một số người Palestine có lợi ích lớn trong việc duy trì nguyên trạng. Trong suốt hai thập niên qua, sự tiến triển việc chi phối của Israel đã dẫn đến những thay đổi sâu sắc trong bản chất của xã hội Palestine. Những sự thay đổi này tập trung ở khu vực Bờ Tây sông Jordan, tạo nên một cơ sở xã hội ủng hộ quỹ đạo chính trị của ban lãnh đạo Palestine trong sự vồn vã nhượng bộ các quyền của người Palestine đổi lấy việc hòa nhập vào các cơ cấu của Israel. Chính tiến trình biến đổi xã hội – kinh tế này đã giải thích cho việc các nhà lãnh đạo Palestine đầu hàng Hiệp định Oslo, và nhắn mạnh đến sự cần thiết đoạn tuyệt cơ bản với giải pháp hai nhà nước.

Việc xây dựng nội dung Hiệp định Oslo đã được củng cố bằng những cơ cấu chiếm đóng do Israel thiết lập trong các thập niên trước. Trong thời kỳ này, Chính phủ Israel đã tiến hành một chiến dịch có hệ thống tịch thu đất của người Palestine và xây dựng các khu định cư tại các vùng người Palestine đã bị trục xuất trong cuộc chiến tranh năm 1967. Lôgích của công cuộc định cư này được thể hiện bằng hai kế hoạch lớn mang tính chiến lược, Kế hoạch Allon năm 1967 và Kế hoạch Sharon năm 1981. Hai kế hoạch này hy vọng rằng các khu định cư Israel sẽ được xây dựng giữa những trung tâm dân cư Palestine lớn và trên các vùng đất nông nghiệp phì nhiêu. Một mạng lưới đường sá dành cho người Israel nối liền các khu định cư này với nhau cũng như dành cho các thành phố của Israel bên ngoài khu vực Bờ Tây sông Jordan. Như vậy, Israel có thể chiếm đất đai và các nguồn tài nguyên, chia rẽ các vùng lãnh thổ Palestine này với các vùng Palestine khác và tránh tới mức tối đa những trách nhiệm trực tiếp đối với người dân Palestine. Việc kiểm soát không công bằng giữa người Israel và người Palestine về đất đai, các nguồn tài nguyên có nghĩa là các đường biên giới của Nhà nước Palestine đang hình thành hoàn toàn phụ thuộc vào kế hoạch của Israel. Kết hợp với những hạn chế về quân sự được áp đặt đối với việc đi lại của người dân Palestine và quyền tiếp cận nguồn nước và các nguồn tài nguyên khác, những làn sóng ồ ạt tịch thu đất và xây dựng các khu định cư, trong 20 năm đầu chiếm đóng từ năm 1967, đã làm biến đổi quyền sở hữu ruộng đất và cách thức phát triển xã hội Palestine. Từ năm 1967 đến 1974, diện tích đất đai trồng trọt của Palestine ở khu vực Bờ Tây sông Jordan đã giảm khoảng một phần ba. Với việc dân định cư trưng dụng đất đai ở thung lũng Jordan, 87% đất đai được tưới nước ở khu vực Bờ Tây sông Jordan bị tước trắng trợn khỏi tay của người Palestine. Lệnh quân sự cấm khoan các giếng mới nhàm phục vụ nông nghiệp và siết chặt việc sử dụng toàn bộ nguồn nước đối với người Palestine, trong khi dân định cư Israel lại được khuyến khích sử dụng nước theo nhu cầu.

Với việc phá hủy một cách có ý thức lĩnh vực nông nghiệp, người Palestine nghèo khổ nhất – đặc biệt là thanh niên – đã phải rời khỏi các vùng nông thôn và tới Israel làm việc trong ngành xây dựng và nông nghiệp. Năm 1970, lĩnh vực nông nghiệp bao gồm hơn 40% nhân công Palestine làm việc ở khu vực Bờ Tây sông Jordan. Năm 1987, con số này chỉ còn là 26%. Từ năm 1970 đến 1991, phần nông nghiệp của Palestine trong tổng sản phẩm quốc nội giảm từ 35% xuống còn 16%. Trong khuôn khổ do Hiệp định Oslo đưa ra, Israel đã không mấy khó khăn đưa khu vực Bờ Tây sông Jordan vào một hệ thống kiểm soát toàn bộ của họ. Đất đai của người Palestine đã dần biến thành một sự chắp vá từ những mảnh đất đơn lẻ, với bà nhóm chính ở miền Bắc, miền Trung và miền Nam của khu vực Bờ Tây sông Jordan, những nhóm này chia cách nhau bởi các khu định cư. Nhà cầm quyền Palestine chỉ được hưởng một quyền tự trị hạn chế tại các vùng có phần lớn người dân của họ sinh sống (gọi là các vùng A và B), nhưng sự đi lại giữa các vùng này có thể bị quân đội Israel ra lệnh cấm bất cứ lúc nào. Mọi sự di chuyển tới hoặc đi từ các vùng A và B, cũng như việc xác định các quyền cư trú tại các vùng này đều bị đặt dưới quyền của Israel. Đương nhiên, Israel cũng kiểm soát phần lớn nguồn nước, tất cả các nguồn tài nguyên dưới lòng đất và mọi không gian ở khu vực Bờ Tây sông Jordan. Người Palestine phải tuân theo quyết định của Israel về việc cung cấp nước và năng lượng. Sự kiểm soát toàn bộ của Israel đối với tất cả các đường biên giới bên ngoài, được quy tắc hóa trong Nghị định thư Paris năm 1994 về quan hệ kinh tế giữa nhà cầm quyền Palestine và Israel, theo đó Palestine không thể phát triển quan hệ thương mại nghiêm chỉnh và bình thường với bất kỳ một nước thứ ba nào. Nghị định thư Paris đã cho Israel quyền cho phép nhà cầm quyền Palestine nhập khẩu và xuất khẩu. Như vậy, khu vực Bờ Tây sông Jordan và dải Gaza trở nên phụ thuộc nhiều vào các sản phẩm nhập khẩu, chiếm từ 70% đến 80% ngân sách quốc gia. Năm 2005, văn phòng thống kê trung ương Palestine cho rằng 74% hàng nhập khẩu tới khu vực Bờ Tây sông Jordan và dải Gaza là từ Israel, trong khi 88% hàng xuất khẩu “của Palestine” là có xuất xứ từ các vùng thuộc Israel. Vì không có cơ sở kinh tế thực sự, nên nhà cầm quyền Palestine phụ thuộc hoàn toàn vào luồng vốn từ bên ngoài bằng các khoản viện trợ hoặc tín dụng ưu đãi, vần nằm dưới sự kiểm soát của Israel. Từ năm 1995 đến 2000, có tới 60% tổng doanh thu của nhà cầm quyền Palestine là từ thuế gián tiếp mà Chính phủ Israel thu được đối với các hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài và nhập vào các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng, và số tiền thuế mà Israel thu được này lại chuyển cho nhà cầm quyền Palestine hàng tháng theo một quy trình đã được ghi trong Nghị định thư Paris. Nguồn thu nhập chính khác của nhà cầm quyền Palestine là từ viện trợ của Mỹ, châu Âu và các chính phủ Arab, biến khu vực Bờ Tây sông Jordan và dải Gaza nằm trong số những khu vực trên thế giới phụ thuộc vào viện trợ nhiều nhất.

Những thay đổi trong cấu nhân công

Hiệp định Oslo đã dẫn đến hai thay đổi lớn trong cơ cấu xã hội kinh tế của Palestine. Thay đổi thứ nhất là bản chất của nhân công Palestine, ngày càng trở thành một cái vòi nước mà người ta mở hay đóng tùy theo tình hình kinh tế và chính trị hoặc theo nhu cầu của Israel. Từ năm 1993, Israel đã bắt đầu thay thế nhân công Palestine tới làm việc hàng ngày từ khu vực Bờ Tây sông Jordan bằng người lao động nước ngoài gốc châu Á hoặc Đông Âu. Sự thay thế này có thể thực hiện được từng phần bởi sự suy giảm tầm quan trọng của các lĩnh vực xây dựng và nông nghiệp, vì nền kinh tế Israel đã phát triển trong những năm 1990 các ngành công nghiệp công nghệ cao và những sự chuyển giao vốn tài chính. Từ năm 1992 đến 1996, người Palestine làm việc tại Israel giảm từ 116.000 người (33% nhân công Palestine) xuống còn 28.100 (tức là 6% nhân công Palestine lúc bấy giờ). Thu nhập từ việc làm ở Israel đương nhiên là đã giảm theo, từ 25% tổng sản phẩm quốc dân của Palestine, vào năm 1992 xuống còn 6% vào năm 1996. Từ năm 1997 đến 1999, số người lao động Palestine lại tăng lên mức gần như của những năm trước 1993 do nên kinh tế Israel hồi phục, nhưng tỷ lệ người Palestine làm việc ở Israel chỉ chiếm một nửa so với 10 năm trước.

Đồng thời với sự phụ thuộc ngày càng tăng của các gia đình Palestine, vấn đề thay đổi lớn thứ hai là về bản chất của tầng lớp tư bản Palestine. Do năng suất lao động thấp và nền kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào nhập khẩu và vào luồng vốn nước ngoài, sức mạnh kinh tế của tầng lớp tư bản Palestine ở khu vực Bờ Tây sông Jordan không phải có từ ngành công nghiệp địa phương, mà là từ vốn nước ngoài. Trong suốt những năm thực hiện Hiệp định Oslo, tầng lớp này đã tập hợp nhau lại thông qua sự hợp nhất của ba nhóm xã hội cho đến khi đó vẫn tách rời nhau. Đó là: các nhà tư bản “hồi hương”, phần lớn từ tầng lớp tư sản Palestine đã trỗi dậy tại các nước vùng Vịnh và có mối liên hệ chặt chẽ với nhà cầm quyền Palestine mới, cả những gia đình và các cá nhân về mặt lịch sử vẫn chi phối xã hội Palestine, nói chung đều là những ông chủ lớn từ thời kỳ trước năm 1967, nhất là tại các vùng phía Bắc của khu vực Bờ Tây sông Jordan, và cuối cùng là những người tích lũy được của cải kể từ sau năm 1967.

Hai đặc tính quan trọng trong cơ cấu của các tầng lớp Palestine – một là nhân công phụ thuộc vào công ăn việc làm do nhà cầm quyền Palestine cung cấp, và một nữa là tầng lớp tư bản luôn bị lúng túng trong các quy tắc của Israel – vẫn tiếp tục là đặc tính của xã hội Palestine ở khu vực Bờ Tây sông Jordan từ năm 2000 đến 2010. Năm 2007, sự chia rẽ giữa khu vực Bờ Tây sông Jordan và dải Gaza và giữa Phong trào Fatah và Hamas đã làm gia tăng cơ cấu này, với một khu vực Bờ Tây sông Jordan luôn phải tuân theo những sự hạn chế phức tạp của Phong trào Fatah và sự kiểm soát về kinh tế của Israel. Trong khi đó, dải Gaza đã phát triển theo một quỹ đạo khác với Phong trào Hamas phụ thuộc vào những lợi nhuận từ việc buôn bán qua đường hầm nằm trên biên giới với Ai Cập và tiền viện trợ của Qatar, Saudi Arabia và một vài quốc gia Arab giàu có khác. Tuy nhiên, trong những năm qua, người ta đã thấy một sự biển đổi quan trọng trong quỹ đạo kinh tế của nhà cầm quyền Palestine chồng chéo trong một chương trình tự do mới, mang tính thắt lưng buộc bụng được áp dụng cho dịch vụ công và một mô hình kinh tế hướng tới xuất khẩu. Nhưng chiến lược kinh tế này chỉ làm cho những lợi ích của vốn Palestine phụ thuộc chặt chẽ hơn vào Israel, nó khiến cho mức nghèo khổ ngày càng nghiêm trọng và các nguồn tài nguyên ngày càng tập trung vào tay Israel, Trong khi đó, tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức “ổn định”, khoảng 20%, là một trong những tỷ lệ cao nhất thế giới. Cùng với nó là nạn nghèo đói gia tăng: khoảng 20% dân chúng ở khu vực Bờ Tây sông Jordan sống với chưa đầy 1,67 USD mỗi ngày.

Và đấy là những gì dễ nhìn thấy nhất mà Hiệp định Oslo đã mang lại cho người Palestine cũng như tương lai của nền hòa bình và an ninh giữa họ với người Do Thái.

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
This entry was posted in Archives, Articles, International relations and tagged , , , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s