LIÊN MINH MỸ-PAKISTAN: KHÔNG KHÓ ĐỂ PHÁ VỠ

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Chủ Nhật, Ngày 15/9/2013

(Husain Haqqcini, Tạp chí Foreign Affairs, s tháng 3-4/2013)

Tại sao liên minh Mỹ-Pakistan không đáng lo?

Không hề nói quá chút nào, Washington đã không có một khoảng thời gian dễ dàng trong việc xử lý mối quan hệ Mỹ-Pakistan. Trong nhiều thập kỷ, Mỹ đã tìm cách thay đổi tiêu điểm chiến lược của Pakistan từ cạnh tranh với Ấn Độ và tìm kiếm nhiều ảnh hưởng hơn ở Afghanistan sang bảo vệ sự ổn định nội bộ và phát triển kinh tế của chính mình. Nhưng cho dù Pakistan tiếp tục phụ thuộc vào sự hỗ trợ của Mỹ về quân sự và kinh tế, nước này đã không thay đổi hành vi của mình nhiều lắm. Hai nước buộc tội lẫn nhau là một đồng minh tồi tệ – và có lẽ họ đều đúng.

Người Pakistan có xu hướng nghĩ về Mỹ như là một kẻ hay bắt nạt. Theo quan điểm của họ, Washington lúc có lúc không mang lại sự viện trợ hết sức cần thiết, sẵn sàng rút nó đi bất cứ khi nào các quan chức Mỹ muốn thúc ép những thay đổi chính sách. Người Pakistan tin rằng Washington chưa bao giờ biết ơn vì sự hy sinh của hàng nghìn quan chức quân sự và an ninh Pakistan đã thiệt mạng trong cuộc chiến chống khủng bố trong những thập kỷ gần đây, cũng không thương tiếc hàng chục nghìn người dân thường Pakistan đã bị những kẻ khủng bố đó giết hại. Nhiều người ở nước này, bao gồm cả Tổng thổng Asif All Zardari và Tư lệnh lục quân Tướng Ashfaq Kayani, công nhận rằng Pakistan đôi lúc chán ngán kịch bản của Mỹ, nhưng họ lập luận rằng đất nước này sẽ là một đồng minh tốt hơn chỉ khi Mỹ tỏ ra nhạy cảm hơn với những mối lo ngại khu vực của Islamabad.

Ở phía kia, người Mỹ xem Pakistan là kẻ vô ơn đã nhận viện trợ kinh tế và quân sự trị giá gần 40 tỷ USD kể từ năm 1947, 23 tỷ USD trong đó là dành để chống khủng bố chỉ riêng trong thập kỷ trước. Theo quan điểm của họ, Pakistan đã vui vẻ nhận những đồng USD của Mỹ, ngay cả khi nước này bí mật phát triển vũ khí hạt nhân trong những năm 1980, đã chuyển giao những bí mật về hạt nhân cho các nước khác trong những năm 1990, và gần đây hơn hỗ trợ các nhóm phiến quân Hồi giáo. Theo một nhóm nòng cốt ngày càng tăng gồm các thượng nghị sĩ, các thành viên của Quốc hội và những người viết bình luận của Mỹ, cho dù Washington có làm gì đi nữa, thì nước này vẫn không thể trông chờ vào Pakistan với tư cách là một đồng minh đáng tin cậy. Trong khi đó, lượng lớn viện trợ của Mỹ đơn giản đã không thể tiếp thêm sinh lực cho nền kinh tế Pakistan.

Chiến dịch bí mật của Mỹ nhằm tiêu diệt Osama Bin Laden vào tháng 5/2011 ở Abbottabad đã đưa mối quan hệ đến mức thấp bất thường, khiến việc duy trì ảo tưởng về tình hữu nghị trở nên khó khăn hơn bao giờ hết. Tại thời điểm này, thay vì tiếp tục chiến đấu không ngừng vì chút lợi ích ít ỏi – tiền dành cho Pakistan, sự hợp tác tình báo hạn chế dành cho Mỹ, và một vài thành quả quân sự có tính chiến thuật cho cả hai bên – hai nước nên thừa nhận rằng lợi ích của họ đơn giản không hội tụ đủ để khiến họ trở thành các đối tác mạnh mẽ. Bằng việc đề cập đến thực tế này, Washington sẽ tự do hơn trong việc thăm dò các cách mới gây áp lực với Pakistan và đạt được các mục tiêu của riêng mình ở khu vực này. Trong khi đó, Islamabad cuối cùng có thể theo đuổi các tham vọng khu vực của mình, mà sẽ hoặc thành công một lần cho mãi mãi, hoặc, có khả năng hơn, dạy cho các quan chức Pakistan những giới hạn sức mạnh nước này.

Yêu cầu kết bạn

Người ta có xu hướng tin rằng những căng thẳng giữa Mỹ và Pakistan chưa bao giờ xấu hơn. Và chắc chắn, công chúng ở mỗi nước hiện nay không ưa gì nhau: trong cuộc thăm dò dư luận của viện Gallup năm 2011, Pakistan đứng trong hàng ngũ những nước ít được ưa thích nhất ở Mỹ, cùng với Iran và Triều Tiên; trong khi đó, cuộc thăm dò dư luận của Pew năm 2012 cho thấy rằng 80% người Pakistan có quan điểm không ủng hộ Mỹ, với 74% coi Mỹ là một kẻ thù. Sự đe dọa của Washington cắt viện trợ dành cho Pakistan và những lời kêu gọi ở Islamabad bảo vệ chủ quyền của Pakistan khỏi những sự xâm nhập bằng máy bay không người lái của Mỹ dường như cho thấy mối quan hệ hữu hảo đang theo chiều hướng đi xuống.

Nhưng mối quan hệ giữa Mỹ và Pakistan chưa bao giờ tốt đẹp. Vào năm 2002, tại cái có thể cho là đỉnh cao sự hợp tác chống khủng bố Mỹ- Pakistan, một cuộc thăm dò dư luận của Pew cho thấy 63% người Mỹ có quan điểm không ủng hộ Pakistan và khiến nước này đứng thứ 5 trong số những nước bị ghét nhất sau Colombia, Saudi Arabia, Afghanistan và Triều Tiên. Trước đó, vào năm 1980, ngay sau khi Liên Xô xâm lược Afghanistan, một cuộc thăm dò dư luận của tổ chức Harris đã cho thấy rằng đa số người Mỹ có quan điểm không ủng hộ Pakistan, bất chấp thực tế là 53% ủng hộ hành động quân sự của Mỹ nhằm bảo vệ nước này chống lại chủ nghĩa Cộng sản. Trong những năm 1950 và 1960, Pakistan không có vai trò nổi bật trong các cuộc thăm dò dư luận của Mỹ, nhưng các nhà lãnh đạo Pakistan thường phàn nàn về nền báo chí không thiện chí ở Mỹ.

Sự căm ghét của Pakistan dành cho Mỹ cũng không có gì là mới. Một cuộc thăm dò dư luận của Pew năm 2002 đã nhận ra rằng 70% người Pakistan không tán thành Mỹ. Và thái độ tiêu cực của họ có từ trước cuộc chiến tranh chống khủng bố. Số xuất bản vào tháng 9/1982 của “the Journal of Conflict Resolution” có đăng một bài viết của Shafqat Naghmi, một công chức Pakistan, dựa trên phân tích những từ chính được sử dụng trong báo giới Pakistan từ năm 1965 đến năm 1979. Ông đã tìm ra bằng chứng cho thấy chủ nghĩa bài Mỹ lan rộng ngay từ đầu nghiên cứu này. Vào năm 1979, một đám đông thù địch đã thiêu trụi sứ quán Mỹ ở Islamabad, và các cuộc tấn công nhằm vào các tòa nhà văn phòng của Mỹ ở Pakistan đã được đưa tin thậm chí vào những năm 1950 và 1960.

Kể từ khi thành lập Pakistan trở đi, hai nước đã tìm cách che đậy những lợi ích bất đồng và thực tế là người dân của họ không tin tưởng nước kia có mối quan hệ hữu nghị cá nhân ở các cấp cao nhất. Vào năm 1947, các nhà lãnh đạo Pakistan đã đương đầu với một tương lai không chắc chắn. Phần lớn thế giới thờ ơ với đất nước mới này – thù địch một cách không nhân nhượng, ngoại trừ nước láng giềng không lồ. Sự chia cắt Ẩn Độ thuộc địa của Anh đã mang lại cho Pakistan 1/3 quân đội của nước cựu thuộc địa nhưng chỉ 1/6 nguồn thu nhập của nước này. Do đó, kể từ khi được thành lập, Pakistan đã bị dồn cho gánh nặng một quân đội khổng lồ mà nước này không thể chi trả và nhiều con quái vật phải tiêu diệt.

Các quan chức và học giả của Anh, như Ngài Olaf Caroe, Tỉnh trưởng trước thời chia cắt của tỉnh North-West Frontier (hiện nay là Khyber Pakhtunkhwa) và Ian Stephens. Tổng biên tập tờ “The Statesman”, đã khuyến khích các nhà sáng lập ra Pakistan duy trì quân đội lớn của nước này như một công cụ bảo vệ chống lại Ấn Độ. Tuy nhiên, thiếu tài chính cho quân đội, các nhà lãnh đạo Pakistan đã xoay sang Mỹ, lập luận rằng Washington sẽ sẵn sàng chi trả khoản tiền đó do vị trí chiến lược quan trọng của Pakistan ở tại điểm giao nhau giữa Trung Đông và Nam Á.

Muhammad All Jinnah, nhà sáng lập và là nhà toàn quyền đầu tiên của nước này, và phần lớn các phụ tá của ông trong Liên đoàn Hồi giáo, đảng chính trị lớn của Pakistan, chưa bao giờ đến Mỹ và hiểu biết rất ít về đất nước này. Để bổ nhiệm chức đại sứ Pakistan tại Mỹ, họ lựa chọn Mirza Abol Hassan Ispahani, người đã đến Mỹ vào giữa những năm 1940 nhằm khua chiêng gõ trống kêu gọi sự ủng hộ đối với một nhà nước Hồi giáo độc lập ở Nam Á. Trong một bức thư gửi Jinnah vào tháng l1/1946, Ispahani giải thích những gì ông biết về tâm lý Mỹ. Ông viết: “Tôi học được rằng những lời nói ngọt ngào và những ẩn tượng đầu tiên rất có tác dụng với người Mỹ. Họ có xu hướng nhanh chóng thích hay không thích một cá nhân hay một tổ chức”. Vị luật sư tốt nghiệp trường Cambridge cố gắng hết sức để tạo ấn tượng tốt đẹp và trở nên nổi tiếng trong giới tinh hoa Washington vì phong cách uyên bác và trang nhã của mình.

Trở về Pakistan, Jinnah tìm cách kết giao với Paul Ailing, đại sứ mới bổ nhiệm của Mỹ ở Karachi, khi đó là thủ đô của Pakistan. Tại một trong những cuộc gặp giữa họ, Jinnah đã phàn nàn về cái nắng oi ả và đề nghị để lại dinh thự chính thức của ông cho sứ quán Mỹ. Vị đại sứ này đã gửi tặng ông một món quà là 4 chiếc quạt trần. Jinnah cũng rất cố gắng trả lời phỏng vấn các nhà báo Mỹ, nổi tiếng trong số đó là Margaret Bourke-White của tạp chí “Life”. Jinnah nói với bà: “Mỹ cần Pakistan hơn là Pakistan cần Mỹ. Pakistan là trục xoay của thế giới, một biên giới trên đó vị trí tương lai của thế giới xoay tròn”. Như nhiều nhà lãnh đạo Pakistan sau mình, Jinnah nói bóng gió rằng ông hy vọng Mỹ sẽ đổ tiền và vũ khí vào Pakistan. Và Bourke-White, như nhiều người Mỹ sau bà, đã hoài nghi. Bà cảm thấy phía sau lời dọa hão này là sự bất ổn và “sự phá sản những ý tưởng… một quốc gia tạo ra sự nồng ấm giả tạo của mình từ đám tro tàn của sự cuồng tín cổ xưa, được thổi bùng lên thành một đám cháy mới”.

Thái độ bài Mỹ theo bản năng trong số nhiều người Pakistan ngày nay khiến cho khó có thể nhớ được Jinnah và các đại sứ của mình đã không ngừng vận động hành lang Mỹ như thế nào để có được sự công nhận và tình hữu hảo trong những năm đầu đó. Tuy nhiên, người Mỹ không bị thuyết phục. Chẳng hạn, cố vấn Bộ Ngoại giao George Kennan đã không nhận thấy giá trị gì trong việc có Pakistan làm đồng minh. Vào năm 1949, khi gặp thủ tướng đầu tiên của Pakistan, Liaquat Ali Khan, ông đã trả lời yêu cầu của Khan ủng hộ Pakistan hơn so với Ấn Độ: “Những người bạn của chúng ta không được trông chờ chúng ta làm những việc mà chúng ta không thể làm. Không kém phần quan trọng là họ không nên trông chờ chúng ta là những gì mà chúng ta không thể là vậy”. Thông điệp của Kennan được phản ánh trong một lượng nhỏ viện trợ của Mỹ gửi đến đất nước mới này: trong 2 tỷ USD mà Jinnah đã yêu cầu vào tháng 9/1947, chỉ có 10 triệu USD được phát ra. Con số đó đã giảm xuống chỉ còn hơn 500.000 USD vào năm 1948 và giảm xuống con số không vào năm 1949 và 1950.

Chiến hữu

Pakistan cuối cùng đã nhận được những gì mình muốn với việc Dwight Eisenhower được bầu chọn làm Tổng thống Mỹ vào năm 1952. Ngoại trưởng của ông, John Foster Dulles, đã chấp nhận ý tưởng trao đổi viện trợ lấy sự ủng hộ của Pakistan đối với các lợi ích chiến lược của Mỹ. Ông xem Pakistan là một mối liên kết sống còn trong kế hoạch của ông bao vây Liên Xô và Trung Quốc. Dulles chống Cộng sản mạnh mẽ cũng đã thích thú với ý nghĩ có được một đội quân lớn gồm các binh lính thiện chiến với các sĩ quan được Anh huấn luyện ở phe cánh hữu trong Chiến tranh Lạnh. Bị ảnh hưởng bởi những miêu tả trước đó về người Pakistan, Dulles tin rằng họ đặc biệt thiện chiến: “Tôi đã có một số chiến binh thực thụ ở Nam Á. Những người châu Á duy nhất có thể thực sự chiến đấu là người Pakistan”, ông nói với nhà báo Walter Lippmann năm 1954.

Muhammad Ali Bogra, nhậm chức đại sứ Pakistan tại Mỹ vào năm 1952, cũng tích cực củng cố tình hữu nghị. Ông đã thành công như người tiền nhiệm của mình trong việc tranh thủ giới tinh hoa Mỹ, đặc biệt là Dulles, người cảnh giác với các nhà lãnh đạo Ấn Độ do quyết định của họ tiếp tục không liên kết trong Chiến tranh Lạnh. Bogra đảm bảo rằng quan điểm chống Cộng sản của ông được Dulles, cũng như các nhà báo và chính trị gia mà Bogra đã gặp ở Washington, biết rất rõ. Trong khi đó, Eisenhower đã giao nhiệm vụ cho Arthur Radford, chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân, giành được sự coi trọng của những người Pakistan có quyền lực – đặc biệt là tư lệnh quân sự Tướng Muhammad Ayub Khan, người cai trị đất nước này cho tới cuối thập kỷ. Ayub Khan là phương tiện để đưa Bogra lên làm Thủ tướng Pakistan vào năm 1953, sau cuộc đảo chính cung điện, với hy vọng rằng tình hữu nghị của Bogra với người Mỹ sẽ xúc tiến đưa luồng vũ khí và giúp đỡ phát triển đến Pakistan. Quả thật, viện trợ quân sự và kinh tế cho Pakistan đã bắt đầu tăng nhanh, đạt 1,7 tỷ USD vào cuối thập kỷ này.

Đến lượt mình, Mỹ đã có được Pakistan tham gia hai thỏa thuận an ninh chống Liên Xô: Tổ chức hiệp ước Đông Nam Á vào năm 1954 và Hiệp ước Baghdad (sau này gọi là Tổ chức hiệp ước Trung tâm) vào năm 1955. Nhưng đã có những dấu hiệu rắc rối. Bất cứ quan điểm nào cho rằng Pakistan sẽ tham gia cả hai liên minh hình thành trong một cuộc chiến tranh đã nhanh chóng biến mất, khi Pakistan (như nhiều nước khác) từ chối đóng góp nhiều tiền hay bất cứ lực lượng nào cho các tổ chức này. Dulles đã đến Pakistan vào năm 1954, tìm kiếm các căn cứ quân sự để sử dụng chống lại Liên Xô và Trung Quốc. Khi quay trở lại, ông đã tìm cách che giấu sự thất vọng của mình vì thiếu sự tiến bộ trước mắt. Trong bản ghi nhớ ông đã viết cho Eisenhower sau chuyến đi đó, ông đã miêu tả mối quan hệ Mỹ-Pakistan là “sự đầu tư” từ đó Mỹ “nhìn chung không ở vị thế để yêu cầu những sự đền đáp cụ thể”. Theo Dulles, sự hiện diện của Mỹ ở Pakistan có nghĩa là Mỹ có thể mở rộng ảnh hưởng của mình qua thời gian, dẫn đến “sự tin tưởng và tình hữu nghị”.

Về phần mình, Ayub Khan cho rằng một khi quân đội Pakistan được trang bị vũ khí hiện đại – bề ngoài là để chiến đấu chống lại Cộng sản – họ có thể sử dụng chúng để chống lại Ấn Độ mà không gây ra sự cắt đứt quan hệ với Mỹ. Trong cuốn hồi ký của mình, ông thừa nhận rằng “mục tiêu mà các cường quốc phương Tây muốn Hiệp ước Baghdad mang lại là hoàn toàn khác với các mục tiêu chúng tôi dự định”. Nhưng ông lập luận rằng Pakistan “không bao giờ có bất cứ bí mật nào về những ý định hay những lợi ích của mình” và rằng Mỹ hiểu rằng Pakistan sẽ sử dụng các vũ khí mới để chống lại nước láng giềng phía Đông của mình. Tuy nhiên, khi Pakistan thử học thuyết của Ayub Khan hồi năm 1965, bằng việc thâm nhập Kashmir và đẩy nhanh một cuộc chiến tranh tổng lực với Ấn Độ, Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson đã ngừng cung cấp những thiết bị phụ tùng quân sự thay thế cho cả Ấn Độ lẫn Pakistan. Để trả đũa, vào năm 1970, Pakistan đã đóng cửa căn cứ bí mật của CIA ở Peshawar mà đã cho Mỹ thuê hồi năm 1956 để tiến hành các cuộc bay do thám bằng máy bay U-2. (Mặc dù Pakistan đã quyết định đóng cửa căn cứ này ngay sau cuộc chiến tranh 1965, nước này muốn đơn giản không gia hạn hợp đồng thuê đất này thay vì kết thúc nó sớm).

Các mối quan hệ Mỹ-Pakistan đã xấu đi sau khi Mỹ ngừng viện trợ quân sự, nhưng cả hai phía có thể không từ bỏ nỗ lực tìm kiếm một điểm chung nào đó. Người kế nhiệm Ayub Khan với tư cách là tổng thống, Tướng Agha Muhammad Yahya Khan, đã đồng ý là người hòa giải giữa Mỹ và Trung Quốc, tạo thuận lợi cho chuyến đi bí mật đến Bắc Kinh vào năm 1971 của Henry Kissinger, cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Mỹ khi đó là Richard Nixon. Cuối năm đó, Nixon đã tỏ rõ thái độ biết ơn của mình đối với sự giúp đỡ của Pakistan bằng việc ủng hộ Tây Pakistan chống lại Đông Pakistan ly khai và những người Ấn Độ ủng hộ nó trong cuộc nội chiến đã dẫn đến sự thành lập Bangladesh. Mỹ đã coi nhẹ những hành động tàn bạo Tây Pakistan gây ra ở Đông Pakistan, và Nixon tìm cách phớt lờ Quốc hội để cung cấp một số vật chất cho các lực lượng Tây Pakistan. Nhưng điều đó không ngăn được đất nước này chia cắt. Khi chính quyền dân sự do Zulfikar All Bhutto lãnh đạo hàn gắn lại đất nước Pakistan mới, nhỏ hơn này, Mỹ và Pakistan vẫn duy trì khoảng cách nào đó. Trong một chuyến thăm của Nixon đến Pakistan, Bhutto đã đề nghị cung cấp cho Nixon một căn cứ hải quân nằm trên bờ Biển Arab, nhưng Nixon đã từ chối. Vào thời điểm mối quan hệ này bắt đầu hâm nóng lại, khi Washington dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí nhằm vào Pakistan vào giữa những năm 1970, Pakistan đã tìm kiếm sự hồ trợ về kinh tế từ các nước Arab ở phía Tây của mình, mà cho tới khi đó gia tăng ngang với những đồng USD thu được từ dầu mỏ.

Căn cứ bên ngoài

Lần tiếp theo Mỹ và Pakistan cố gắng làm việc cùng nhau, đó là mở rộng một cuộc nổi dậy tương đối nhỏ được Pakistan ủng hộ ở Afghanistan theo yêu cầu của Mỹ. Sau khi Liên Xô xâm lược Afghanistan hồi năm 1979, Mỹ đã nhìn thấy một cơ hội để làm cân bằng điểm số sau thành tích nghèo nàn trong cuộc Chiến tranh Việt Nam và khiến quân đội Xôviết kiệt quệ. Phiến quân Mujahideen ở Afghanistan, đã được cơ quan tình báo Pakistan (ISI) huấn luyện và được CIA tài trợ, sẽ trợ giúp. Nhà cai trị quân sự của Pakistan, Tướng Muhammad Zia-ul-Haq, đã nói với một nhà báo Mỹ trong cuộc phỏng vấn hồi năm 1980: “Liên Xô đang có mặt trên biên giới của chúng tôi. Thế giới tự do có còn bất cứ sự quan tâm nào dành cho Pakistan không?” Sau đó, Zia thậm chí đã khiến cố vấn Bộ Ngoại giao Mỹ Robert McFarlane ngạc nhiên bằng một giọng ngọt ngào hơn: “Tại sao các ông không yêu cầu chúng tôi cung cấp căn cứ cho các ông?”

Mỹ không còn quan tâm đến những căn cứ ở Pakistan, nhưng nước này muốn sử dụng Pakistan làm khu vực triển khai cho cuộc nổi dậy của Afghanistan. Vì thế Washington không chỉ chuyển vũ khí và tiền cho phiến quân Mujahideen qua biên giới mà còn tăng gấp 4 lần viện trợ cho Pakistan. Islamabad đã liên tục yêu cầu máy bay chiến đấu F-16 vào cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980; Chính quyền Reagan đã tìm ra cách cung cấp cho họ, thậm chí thúc giục Quốc hội dỡ bỏ lệnh cấm viện trợ quân sự và kinh tế cho các nước có hoặc chuyển giao công nghệ hạt nhân. James Buckley, khi đó là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao chịu trách nhiệm về các vấn đề an ninh quốc tế, đã viện lý trên tạp chí “The New York Times” rằng sự hào phóng như vậy của Mỹ sẽ giải quyết “những nguyên nhân tiềm ẩn gây ra tình trạng bất ổn mà trước hết thúc đẩy một quốc gia như Pakistan tìm kiếm khả năng hạt nhân”. Vào năm 1983, đợt máy bay chiến đấu đầu tiên được chuyển đến Rawalpindi.

Nhưng như cuộc chiến tranh 1965 giữa Ấn Độ và Pakistan đã thể hiện, quyết định của Liên Xô rút các lực lượng của mình khỏi Afghanistan vào năm 1989 đã phơi bày những căng thẳng bên dưới biểu hiện bề ngoài của liên minh Mỹ-Pakistan. Những bất đồng giữa Washington và Islamabad về ai nên lãnh đạo Afghanistan hậu Xôviết đã nhanh chóng xuất hiện và phá rối thỏa ước ngừng bắn ngầm của hai nước. Dĩ nhiên Pakistan muốn có nhiều ảnh hưởng nhất có thể, tin rằng một nước Afghanistan thân thiện sẽ mang lại cho Pakistan chiều sâu chiến lược chống lại Ấn Độ. Mỹ muốn có một chính phủ phi cộng sản ổn định có thể đặt Afghanistan trở lại đúng vị trí của mình với tư cách là cường quốc khu vực ngoài rìa.

Lần đầu tiên, vấn đề sự ủng hộ của Pakistan dành cho các tổ chức khủng bố cũng đã trở thành một điểm nhức nhối. Trong một bức thư năm 1992 gửi Thủ tướng Pakistan Nawaz Sharif, Đại sứ Mỹ tại Pakistan Nicholas Platt đã cảnh báo rằng Mỹ gần đi đến tuyên bố Pakistan là nhà nước bảo trợ khủng bố: “Nếu tình hình này tiếp tục kéo dài, ngoại trưởng có thể thấy mình bị pháp luật buộc phải đưa Pakistan vào danh sách các nhà nước bảo trợ khủng bố của Chính phủ Mỹ… Các ông phải thực hiện các bước cụ thể để ngăn chặn sự giúp đỡ cho các phần tử chiến binh và không cho phép các doanh trại huấn luyện của họ hoạt động ở Pakistan hay Azad Kashmir (phần lãnh thố Kashmir do Pakistan kiểm soát)”. Mối đe dọa đó là không có thật, nhưng Mỹ đã tìm được các cách khác để trừng phạt đồng minh từ lâu của mình. Vào năm 1991, Washington đã cắt viện trợ quân sự cho Pakistan sau khi Tổng thống George H.W.Bush không thể đảm bảo trước Quốc hội rằng Pakistan tuân thủ các cam kết không phổ biến hạt nhân. Từ năm 1993 đến năm 1998, Mỹ đã áp đặt những sự trừng phạt nghiêm khắc lên Pakistan vì sự tiến bộ và các cuộc thử hạt nhân tiếp diễn của nước này. Và Mỹ đã áp đặt nhiều sự trừng phạt hơn trong khoảng 2000-2001 để phản ứng cuộc đảo chính quân sự năm 1999 đã đưa Tướng Pervez Musharraf lên nắm quyền. Trong khi đó viện trợ dân sự đã hạ xuống mức thấp nhất.

Hợp tác hay chống lại chúng tôi

Tính gay gắt này tiếp tục tô điểm cho mối quan hệ này cho tới năm 2001, khi sau các cuộc tấn công 11/9/2011, Washington một lần nữa lại tìm cách hợp tác với Islamabad, hy vọng lần này Pakistan sẽ sửa chữa các vấn đề nội bộ của mình và dứt khoát thay đổi đường hướng chiến lược của mình. Nhưng hầu như không có sự nhiệt tình trong công chúng hay giới tinh hoa quân sự Pakistan, nơi tập trung quyền ra quyết định của đất nước, đối với việc đi theo Mỹ hay tầm nhìn của nước này về khu vực. Trong khi đó, các nhà ngoại giao Pakistan ở Mỹ đã dành phần lớn thời gian của mình để phản ứng sự chỉ trích của Quốc hội Mỹ về thái độ lá mặt lá trái của Pakistan liên quan đến những kẻ khủng bố. Chức vụ đại sứ trong giai đoạn này ban đầu do cựu nhà báo Maleeha Lodhi, và sau đó là nhân viên ngoại giao chuyên nghiệp Ashraf Qazi nắm giữ. Họ nỗ lực để tạo dựng nên trường hợp Pakistan là nhà nước tiền tuyến trong cuộc chiến tranh chống khủng bố bằng việc vươn tới giới truyền thông Mỹ và vận động hành lang Quốc hội Mỹ với sự giúp đỡ của cộng đồng người Pakistan ở Mỹ đang ngày càng gia tăng. Với sự ủng hộ từ Chính quyền George W.Bush, các đại sứ có thể né tránh được sự chỉ trích và được thông qua các gói viện trợ khổng lồ. Nhưng những người hoài nghi, như nhà báo Selig Harrison, đã chỉ ra rằng Pakistan đang bán “chính sách tồi tệ thông qua những người bán hàng giỏi”. Những người bán hàng đặc biệt này được kế tiếp bởi hai vị tướng về hưu, Jehangir Karamat và Mahmud All Durrani, những người đã tìm cách cộng tác chặt chẽ hơn với các sĩ quan quân sự Mỹ, đảm bảo với họ rằng các tin tức về sự hỗ trợ tiếp tục của Pakistan dành cho Taliban ở Afghanistan đã bị thổi phồng quá mức. Về phía Mỹ, Anthony Zinni, từng là Tư lệnh Bộ chỉ huy trung tâm quân đội Mỹ tại thời điểm diễn ra cuộc đảo chính của Musharraf và vẫn giữ liên lạc với Musharraf sau khi ông nghỉ hưu, đã công khai nói về lợi ích của việc có thể giữ liên lạc “giữa binh lính với binh lính”. Tuy nhiên, các đại sứ-chiến binh không thể vượt qua được thông tin báo chí tiêu cực về sự dính líu của Pakistan ở Afghanistan.

Các đại sứ Mỹ ở Pakistan trong giai đoạn này tập trung vào việc thúc đẩy các mối quan hệ gần gũi với nhà lãnh đạo đất nước này, Musharraf. Khi sự kiểm soát của Musharraf yếu đi vào cuối thập kỷ, Anne Patterson, đại sứ Mỹ giai đoạn 2007-2010, tìm cách vươn tới các nhà chính trị dân sự Pakistan bằng việc gặp gỡ các nhà lãnh đạo của tất cả các đảng chính trị lớn của nước này. Để kiểm soát khu cảng, Đô đốc Mike Mullen, chủ tịch hội đồng tham mưu trưởng liên quân, đã theo đuổi tình bạn cá nhân với tư lệnh lục quân Pakistan, Tướng Ashfaq Kayani. Mullen đã tổ chức 26 cuộc gặp với Kayani trong 4 năm và thường miêu tả ông này như một người bạn. Nhưng vào cuối nhiệm kỳ của mình, Mullen đã bày tỏ sự thất vọng rằng chẳng có gì có tác động để thay đổi trọng tâm của Kayani, ông đã nói trong một bài diễn văn trước ủy ban quân lực Thượng viện: “Trong khi lựa chọn sử dụng cực đoan bạo lực làm công cụ chính sách, Chính phủ Pakistan, và đặc biệt nhất là quân đội Pakistan và ISI, gây nguy hiểm không chỉ cho triển vọng quan hệ đối tác chiến lược của chúng ta mà còn đối với cơ hội để Pakistan trở thành một quốc gia được tôn trọng có ảnh hưởng hợp pháp tầm khu vực”.

Cuối cùng, trong nhiệm kỳ của Patterson và Mullen, chế độ của Musharraf đã sụp đổ và một chính quyền dân sự lên nắm quyền. Ngay từ đầu, chính quyền mới, do Zardari lãnh đạo, đã tìm cách chuyển biến mối quan hệ Mỹ-Pakistan thành cái mà ông gọi là quan hệ đối tác chiến lược. Zardari muốn huy động sự ủng hộ của dân chúng và về mặt chính trị ở Pakistan dành cho việc chống khủng bố, khi Mỹ đã có cam kết dài hạn với Pakistan thông qua một gói trợ giúp nước ngoài trong nhiều năm, bao gồm cả viện trợ dân sự nhiều hơn. Đồng thời, hai nước sẽ làm việc cùng nhau để vạch ra giai đoạn kết thúc của Afganistan có thể cùng chấp nhận được.

Là đại sứ của Pakistan tại Mỹ từ 2008 đến 2011, tôi đã tìm cách thực hiện chương trình nghị sự này và làm việc như cầu nối giữa hai bên. Tôi đã sắp xếp hàng chục cuộc gặp giữa các nhà lãnh đạo dân sự và quân sự từ cả hai bên. Các quan chức cấp cao của Mỹ, bao gồm cả cố vấn an ninh quốc gia James Jones; Ngoại trưởng Hillary Clinton; và Giám đốc CIA, sau này là Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta, đã hào phóng thời gian của mình. Các Thượng nghị sĩ John McCain, Diane Feinstein và Joseph Lieberman đã làm rối tung nhiều yếu tố trong sự cộng tác chiến lược, và Thượng nghị sĩ John Kerry đã dành không biết bao nhiêu giờ đồng hồ để xây dựng các mô hình cho các cuộc đàm phán về Afghanistan. Richard Holbrooke, đặc phái viên của Chính quyền Obama ở Pakistan và Afghanistan trước khi qua đời năm 2011, đã qua lại như con thoi giữa các thủ đô hai nước, tìm cách giải thích chính sách của Mỹ với các quan chức Pakistan và đảm bảo sự ủng hộ của Quốc hội dành cho Pakistan. Trong một vài dịp cuối tuần, khi các phu nhân của chúng tôi không có mặt ở Washington, tôi và Holbrooke dành hàng giờ liền với nhau, cùng đi xem phim hay gặp mặt ăn tối ở George Town. Chúng tôi nói về các cách để đảm bảo sự rút lui của Mỹ khỏi Afghanistan với sự hỗ trợ của Pakistan. Bị thuyết phục rằng quân đội Pakistan nắm giữ chiếc chìa khóa cho sự ổn định ở khu vực này, Tổng thống Barack Obama đã truyền đạt đến Pakistan rằng Mỹ muốn giúp Pakistan cảm thấy an toàn và thịnh vượng nhưng nước này sẽ không khuyến khích Pakistan ủng hộ các nhóm thánh chiến đe dọa an ninh Mỹ.

Nhưng cuối cùng, những nỗ lực nhằm xây dựng một quan hệ đối tác chiến lược không đi đến đâu. Các nhà lãnh đạo dân sự không thể xoa dịu sự không tin tưởng giữa quân đội và các cơ quan tình báo của Mỹ và của Afghanistan. Và thiếu sự kiểm soát dân sự hoàn toàn đối với quân đội và các cơ quan tình báo Pakistan có nghĩa là hai nước đang làm việc để hướng tới những kết quả khác nhau. Tuy nhiên, phải thừa nhận là mọi điều có thể không hẳn tốt hơn nhiều nếu những người dân sự hoàn toàn nắm quyến kiểm soát; những người cai trị bằng sức mạnh dễ dàng hơn cho đồng minh của mình những gì họ muốn bất kể nguyện vọng của dân chúng, dù đó là các căn cứ U-2 và máy bay không người lái hay cung cấp vũ khí cho quân Mujahideen ở Afghanistan. Nhiệm kỳ tôi làm đại sứ đã đột ngột kết thúc vào tháng 11/2011, chỉ vài tuần sau khi một doanh nhân người Mỹ gốc Pakistan đã buộc tội tôi một cách giả dối là sử dụng anh ta làm trung gian để tìm kiếm sự giúp đỡ của Mỹ trong việc cản trở một cuộc đảo chính quân sự ngay sau khi cuộc vây bắt tiêu diệt Bin Laden của Mỹ. Lời buộc tội này chẳng nghĩa lý gì bởi vì với tư cách là một đại sứ, tôi có quyền tiếp cận trực tiếp các quan chức Mỹ và không cần sự giúp đỡ của một doanh nhân gây tranh cãi để truyền đạt những lo ngại về quân đội Pakistan đang đe dọa sự cai trị dân sự. Tình tiết này đã khẳng định một lần nữa, nếu cần khẳng định, rằng việc ủng hộ các mối quan hệ gần gũi với Mỹ là một quan điểm không được ưa thích ở Pakistan và rằng nhìn chung là giới truyền thông, tư pháp, và tình báo Pakistan sẵn sàng tin vào điều tội tệ nhất xảy ra với bất cứ ai tìm cách cải thiện mối quan hệ đối tác đã trở nên căng thẳng.

Cho tới khi kết thúc cay đắng

Do lịch sử thất bại này, đã đến lúc phải xem xét lại liệu liên minh Mỹ-Pakistan có đáng để duy trì hay không. Ít nhất trong tương lai có thể đoán định được, Mỹ sẽ không chấp nhận tầm nhìn của quân đội Pakistan về sự vượt trội của Pakistan ở Nam Á hay đứng ngang hàng với Ấn Độ. Và chỉ riêng viện trợ sẽ không làm thay đổi những ưu tiên của Islamabad. Dĩ nhiên là khi nền dân chủ của Pakistan phát triển mạnh mẽ hơn, người Pakistan một ngày nào đó có thể có một cuộc tranh luận thực tế về lợi ích quốc gia là gì và nó nên được theo đuổi như thế nào. Nhưng thậm chí cả cuộc tranh luận đó cũng có thể không chấm dứt theo kiểu Mỹ muốn. Chẳng hạn, theo dữ liệu cuộc thăm dò dư luận 2012, mặc dù phần lớn người Pakistan sẽ ủng hộ mối quan hệ tốt đẹp hơn với Ấn Độ (69% số người được hỏi), đa số họ vẫn xem Ấn Độ là mối đe dọa lớn nhất cho nước mình (59%)

Với Mỹ và Pakistan ở vào thế bế tắc, hai nước này cần phải thăm dò các cách thức để vạch kế hoạch cho một mối quan hệ phi liên minh. Họ đã nếm trải điều này vào năm 2011 và năm 2012, khi Pakistan đóng cửa các đường quá cảnh để phản ứng lại cuộc tấn công bằng máy bay không người lái của NATO trên biên giới Afghanistan-Pakistan làm 24 binh lính Pakistan thiệt mạng. Nhưng hành động này đã không thể gây tổn hại cho nỗ lực chiến tranh của Mỹ; Mỹ nhanh chóng nhận ra rằng mình có thể dựa vào các tuyến đường khác để thâm nhập vào Afghanistan. Để làm được việc này thì phải tốn kém hơn nhiều, nhưng sự linh hoạt của Mỹ đã chứng tỏ cho Islamabad thấy rằng sự giúp đỡ của nước này không phải là không thể thiếu được đối với Washington như nó đã từng được cho là vậy. Nhận thức đó cần phải nằm trong cốt lõi của mối quan hệ mới. Mỹ cần phải rõ ràng trong việc xác định những lợi ích của mình và rồi hành động vì chúng mà không quá lo ngại về phản ứng ở Islamabad.

Tình trạng lạnh nhạt mới giữa hai nước cuối cùng sẽ dẫn đến sự tính toán này. Mỹ sẽ tiếp tục làm những gì mình cảm thấy phải làm ở khu vực này vì an ninh của chính mình, như việc đẩy mạnh các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái nhằm vào các đối tượng tình nghi là khủng bố. Những hành động này sẽ khiến Islamabad và Rawalpini, nơi đặt trụ sở của giới lãnh đạo quân sự Pakistan, tức giận. Các nhà lãnh đạo quân sự Pakistan có thể làm ầm ĩ về việc bắn hạ những chiếc máy bay không người lái của Mỹ, nhưng họ sẽ suy tính rất nhiều trước khi thực sự hành động như vậy, trước nguy cơ leo thang sự thù địch có thể xảy ra sau đó. Do ở thế yếu (thậm chí còn trở nên yếu hơn khi viện trợ quân sự của Mỹ cạn kiệt), Pakistan sẽ có thể kiềm chế không đối đầu trực tiếp với Mỹ.

Một khi giới tinh hoa an ninh quốc gia Pakistan thừa nhận những giới hạn sức mạnh của mình, đất nước này cuối cùng có thể tìm kiếm mối quan hệ đối tác mới với Mỹ – nhưng lần này với sự hổ thẹn lớn hơn và ý thức được mình có thể và không thể nhận được gì. Cũng có khả năng, dù là ít hơn, các nhà lãnh đạo Pakistan có thể quvết định rằng họ có thể tự mình hoàn toàn làm tốt, mà không phụ thuộc nặng nề vào Mỹ, như họ đã làm trong một vài thập kỷ qua. Trong trường hợp đó, những sự thất vọng đối với nhau do sự phụ thuộc miền cưỡng của Pakistan vào Mỹ sẽ chấm dứt. Các nhà ngoại giao hai nước khi đó sẽ có thể cống hiến năng lực của họ cho việc giải thích quan điểm của họ và hiểu rõ lập trường hiện nay của phía bên kia thay vì liên tục lặp đi lặp lại những câu chuyện mâu thuẫn kể về những gì đã sai trong 6 thập kỷ qua. Cho dù nếu sự đổ vỡ liên minh này không dẫn đến một đoạn kết gây xúc động như vậy, nó sẽ vẫn để hai nước tự do đưa ra những quyết định chiến lược khó khăn về việc giao thiệp với nhau mà mỗi bên đều đang tránh. Pakistan có thể biết dược liệu các mục tiêu chính sách khu vực của mình về cạnh tranh và kiềm chế Ấn Độ có thể đạt tới được mà không có sự ủng hộ của Mỹ hay không. Mỹ sẽ có thể giải quyết các vấn đề như khủng bố và phổ biến hạt nhân mà không có gánh nặng bị Pakistan buộc tội phản bội. Sự thành thật về tình trạng thực sự của mối quan hệ giữa hai nước thậm chí có thể giúp cả hai nước hòa thuận hơn với nhau và hợp tác dễ dàng hơn. Xét cho cùng, các mối quan hệ đó khó có thể tồi tệ hơn hiện nay, trung thành với ý tưởng về một liên minh cho dù không bên nào thực sự tin vào điều đó. Đôi khi, cách đi lên tốt nhất trong một mối quan hệ nằm ở việc thừa nhận rằng nó kết thúc ở hiện thân hiện nay của nó.

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
This entry was posted in Archives, Articles, India, International relations and tagged , , , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s