XUNG QUANH VIỆC QUỐC TẾ HÓA VẤN ĐỀ TRIỀU TIÊN VÀ NHỮNG TRỞ NGẠI VỀ MẶT CHẾ ĐỘ

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Chủ Nhật, ngày 22/09/2013

(Tạp chí “Diễn đàn kinh tế và chính trị thế giới”, Trung Quc, số 2/2013)

Thời đại toàn cầu hóa làm cho sự phát triển của mọi quốc gia đều chịu ảnh hưởng của thế giới bên ngoài. Từ những năm 90 của thế kỷ 20 đến nay, nhiều quốc gia hoặc tự nguyện hoặc bị cuốn vào làn sóng toàn cầu hóa này một cách bị động. Trong quá trình toàn cầu hóa, một số quốc gia đã nắm được cơ hội phát triển nhanh, một số quốc gia lại bỏ lỡ cơ hội phát triển do còn lưỡng lự. Đối với toàn cầu hóa kinh tế, Triều Tiên đã áp dụng thái độ tương đối cản trở. Sau khi Kim Jong II qua đời ngày 17/12/2011, cộng đồng quốc tế đã kỳ vọng rất lớn vào việc Triều Tiên sẽ mở cửa đất nước. Tuy nhiên, cho đến nay những thay đổi thất thường của tình hình bán đảo Triều Tiên làm cho sự kỳ vọng này lại chứa đầy các nhân tố khó lường. Tác giả cho rằng mấu chốt để giải quyết tận gốc vấn đề đói nghèo và hạt nhân của Triều Tiên nằm ở việc thúc đẩy quốc tế hóa quốc gia này. Chỉ khi hội nhập cộng đồng quốc tế thì Triều Tiên mới có thể giải quyết về căn bản những vấn đề này, mới có thể thật sự duy trì hòa bình và ổn định của khu vực Đông Bắc Á. Bài viết xuất phát từ tình hình Triều Tiên hiện nay, phân tích nhu cầu hiện thực của việc quốc tế hóa Triều Tiên và các nhân tố gây trở ngại về mặt chế độ.

Sự thử nghiệm điều chỉnh và cải cách đối vi kinh tế sau Chiến tranh Lạnh

Bao năm qua Triều Tiên luôn nỗ lực duy trì chính quyền ổn định, ra sức phát triển kinh tế. Mặc dù đã thử nghiệm cải cách kinh tế và chính sách tiền tệ nhưng do hàng loạt nhân tố nên Triều Tiên chưa đạt được những tiến triển tương đối ỉớn. Ngày 17/12/2011, sau khi tin tức Kim Jong II qua đời được phát đi, bên ngoài đã đưa ra hàng loạt phán đoán đổi với sự phát triển của tình hình Triều Tiên. Có người cho rằng do Kim Jong Un trẻ tuổi lại từng du học ở châu Âu, cộng với ảnh hưởng của nhân tố Trung Quốc, mô hình phát triển kinh tế của Triều Tiên trong tương lai sẽ là “mở cửa”; có người cho rằng nội bộ Triều Tiên có thể xảy ra cuộc đấu tranh về đường lối xoay quanh vẩn đề phát triển kinh tế. Xuất phát từ toan tính tăng cường kiểm soát trong nước, Triều Tiên sẽ áp dụng mô hình phát triển “đóng cửa” hơn. Bất kể là sự lựa chọn chính sách theo “mô hình mở cửa” hay “mô hình đóng cửa” đều đã phản ánh hai vấn đề mà Triều Tiên phải đối mặt: ổn định chính quyền và phát triển kinh tế, đây cũng là hai mục tiêu Kim Jong Un muốn thực hiện ngay sau khi lên cầm quyền, và suy cho cùng nó chính là vấn đề quốc tế hóa Triều Tiên. Quốc tế hóa Triều Tiên có nghĩa là đưa kinh tế Triều Tiên hội nhập toàn cầu hóa kinh tế, làm cho vốn, tiền tệ, hàng hóa, dịch vụ và sự lưu động thông tin trong trao đổi quốc tế có xu hướng gắn chặt với thế giới. Trong xu thế quốc tế hóa, khi một nước hội nhập với thể chế chuẩn mực của thế giới, giữa lực lượng chuẩn mực của quốc tế và chính trị trong nước sẽ nảy sinh xung đột. Do nhận thức được điểm này, Triều Tiên luôn hết sức lo ngại khi mở cửa thị trường, và đã áp dụng thái độ cản trở đối với quốc tế hóa theo bản năng. Dù vậy, sau Chiến tranh Lạnh, Triều Tiên đã tiến hành thăm dò và thử cải cách ở mức độ nhất định trên con đường tìm kiểm phát triển kinh tế.

Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Triều Tiên từng có giai đoạn lịch sử kinh tế phát triển phồn vinh, nhưng sau Chiến tranh Lạnh đã bị Hàn Quốc đuổi kịp và vượt qua. Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, dưới tác động của toàn cầu hóa kinh tế, Triều Tiên đã lựa chọn thể chế kinh tế kế hoạch cố bám lấy chủ nghĩa xã hội, thời gian này, Triều Tiên đã gặp thiên tai khiến kinh tế, đời sống nhân dân hết sức khó khăn. Tháng 1/2001, Kim Jong II tới thăm Trung Quốc, nhận thấy sự thay đổi từng ngày của Thượng Hải và Bắc Kinh, thành quả cải cách mở cửa của Trung Quốc đã ít nhiều tác động tới Triều Tiên. Chuyến thăm Trung Quốc của Kim Jong II chủ yếu là muốn học tập kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư nước ngoài để phát triển công nghệ thông tin và các ngành khoa học kỹ thuật cao, dựa vào đó để xây dựng Triều Tiên thành một quốc gia phồn vinh và cường thịnh. Tháng 7/2002, Chính phủ Triều Tiên cũng đã thực hiện “các biện pháp quản lý, cải thiện kinh tế”, chính thức cho phép một số cá nhân được tiến hành giao dịch thương mại, đưa vào chế độ doanh nghiệp hạch toán độc lập, trả lương theo hiệu quả công việc và tiền thưởng, thực thi chính sách hiện thực hóa vật giá, đồng thời nâng lương lên 18 đến 25 lần so với trước. Biện pháp này của Triều Tiên đã kích thích nhu cầu hàng hóa của người dân, và đã dẫn tới sự ra đời của thị trường nông sản. Cuộc thử nghiệm cải cách kinh tể hồi tháng 7/2002 không làm cho sức sản xuất của Triều Tiên được tăng cường, ngược lại còn tăng nhập khẩu hàng hóa Trung Quốc, điều này đã kích thích nhu cầu tiêu dùng của người giàu và tầng lớp thành thị, gây ra lạm phát trong lĩnh vực lưu thông.

Do lạm phát và tình cảm bất mãn của người dân, từ nửa cuối năm 2009, Triều Tiên lần lượt phát đi một số tin tức, bày tỏ muốn đi sâu cải cách. Tuy nhiên, việc cải cách tiền tệ lần này không những chẳng đạt được mục tiêu như mong đợi, ngược lại dẫn tới lạm phát nghiêm trọng hơn, buôn bán với nước ngoài gần như rơi vào đình trệ, sự khủng hoảng và bất mãn của người dân ngày một tăng lên, dẫn tới phải dừng lại nhanh chóng. Sự thất bại trong lần cải cách kinh tế năm 2002 và cải cách tiền tệ năm 2009 làm cho Kim Jong II phải suy ngẫm nghiêm túc về bài học thất bại của hai lần cải cách và một lần nữa tới Trung Quốc học tập kinh nghiệm thành công. Từ tháng 5/2010 tới trước khi qua đời, Kim Jong II tới thăm Trung Quốc ba lần, và đánh giá cao công cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc. Sau đó, Triều Tiên đã đẩy nhanh rõ rệt các bước buôn bán với nước ngoài. Tháng 2/2010, Triều Tiên thành lập Ngân hàng phát triển quốc gia. Là cơ quan hợp tác kinh tế với nước ngoài, Ngân hàng phát triển quốc gia có kế hoạch gom 10 tỷ USD để đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng trong các lĩnh vực đường sắt, đường bộ, cảng, điện lực và năng lượng. Năm 2011, Chính phủ Triều Tiên đã thông qua Kế hoạch chiến lược quốc gia 10 năm về phát triển kinh tế với trọng tâm là xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển nông nghiệp và các ngành công nghiệp cơ bản trong đó có điện, than đá, dầu mỏ và công nghiệp kim loại cũng như phát triển các vùng miền, mở ra khả năng trở thành quốc gia thịnh vượng vào năm 2012 và viễn cảnh đạt được trình độ của các nước phát triển vào năm 2020. Ngày 8/6/2011, khu kinh tế đảo Hwanggumpyong giữa Trung Quốc và Triều Tiên được khởi công, ngày 9/6/2011 khu kinh tế-thương mại Rason cũng được khởi động. Hội nghị lần thứ hai của “ủy ban chỉ đạo chung về hợp tác và phát triển” hai đặc khu kinh tế cũng đồng thời được tổ chức dưới sự chủ trì của quan chức cấp cao hai nước. Cuối năm 2011, Triều Tiên ban hành “Luật đặc khu kinh tế” các đảo Hwanggumpyong-Wihwa, quy định các doanh nghiệp được hưởng chính sách ưu đãi về phương thức đầu tư, sử dụng đất đai, miễn thuế thu nhập khi đầu tư vào đặc khu này. Ngày 26/9/2012, tại Bắc Kinh, Trung Quốc và Triều Tiên cùng tổ chức hội nghị đầu tư liên quan đến hai đặc khu kinh tế (khu kinh tế-thương mại Rason và khu kinh tế các đảo Hwanggumpyong-Wihwa) nhằm thúc đẩy hợp tác đặc biệt là các biện pháp quan trọng kêu gọi thu hút đầu tư. Ngoài tích cực mở rộng hợp tác với Trung Quốc, Triều Tiên còn tích cực thu hút vốn của Hàn Quốc trong các dự án khu du lịch núi Kumgang và khu công nghiệp Kaesong. Ngoài ra, Triều Tiên cũng tích cực hợp tác năng lượng và nông nghiệp với Nga và các nước. Việc khởi động các dự án này đã trở thành cơ sở để Triều Tiên tìm kiếm con đường quốc tế hóa của mình.

Mặc dù chưa chủ động tích cực hội nhập toàn cầu hóa nhưng Triều Tiên cũng chưa ngừng việc tìm kiếm thay đổi hiện trạng đói nghèo, cải cách kinh tế trong nước. Sau khi lên cầm quyền, trong các chuyến thị sát Kim Jong Un cũng nhiều lần nhấn mạnh quyết tâm muốn làm cho người dân “có cơm, canh thịt”. Hiện nay, cộng đồng quốc tế đã ngừng viện trợ lượng thực và phong tỏa kinh tế, trong nước Triều Tiên cũng đứng trước tình hình thiếu lương thực, năng lượng và khan hiếm vật tư, đây vừa là trở ngại lớn để Triều Tiên quốc tế hóa, vừa là sức ép và động lực buộc quốc gia này đi theo con đường quốc tế hóa.

Nhu cầu hiện thực của việc quốc tế hóa Triều Tiên

Đối với Triều Tiên, con đường quốc tế hóa tuy có rủi ro nhất định nhưng rõ ràng có sức hút lớn đối với việc làm thay đổi hiện trạng bị phong tỏa cô lập, kinh tế gặp khó khăn và nghèo đói. Mặt khác, thúc đẩy Triều Tiên quốc tế hóa vừa có thể mang lại ấm no cho người dân, vừa có thể đưa Triều Tiên hội nhập cộng đồng quốc tế, làm cho các việc làm của nước này chịu sự ràng buộc của các quy tắc quốc tế, vừa có lợi cho việc duy trì sự hòa bình và ổn định của khu vực Đông Bắc Á.

1- Nhu cầu xây dựng “quốc gia thịnh vượng”

“Quốc gia thịnh vượng” là mục tiêu phấn đấu về chính trị, kinh tế, quốc phòng, khoa học kỹ thuật, văn hóa giáo dục và sức mạnh tổng hợp của Triều Tiên trong mấy năm gần đây, trọng tâm là xây dựng Triều Tiên thành một quốc gia thịnh vượng có thực lực hùng mạnh, đất nước hưng thịnh, người dân có cuộc sống đầy đủ. Tuy mục tiêu này đã được đưa ra từ thời kỳ Kim Nhật Thành, nhưng sự nhấn mạnh của Kim Jong II đối với mục tiêu này đã đóng vai trò tập hợp lòng dân, khích lệ sĩ khí. Để thực hiện mục tiêu này, Triều Tiên đã đầu tư tiền vào xây dụng cơ sở hạ tầng, công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ cũng như nông nghiệp liên quan đến quốc kế dân sinh. Cải cách kinh tế năm 2002 và cải cách tiền tệ năm 2009 cũng được tiến hành trong bối cảnh này. Nguyện vọng của Kim Jong II khi còn sống là mở “cánh cửa quốc gia thịnh vượng” vào năm 2012 nhân 100 năm ngày sinh nhật của Kim Nhật Thành. Để thực hiện lời kêu gọi của Kim Jong II, năm 2009 Triều Tiên đã phát động phong trào sản xuất quần chúng “150 ngày toàn dân ra sức chiến đấu” và “100 ngày toàn dân ra sức chiến đấu”. Tuy nhiên, chỉ dựa vào hai phong trào sản xuất quần chúng ngắn hạn trên thì khó có thể hoàn thành mục tiêu “quốc gia thịnh vượng”. Sự thất bại của hai lần cải cách cũng như hiệu quả yếu ớt của phong trào sản xuất quần chúng làm cho giấc mộng “quốc gia thịnh vượng” của Triều Tiên vẫn rất xa vời. Nhà lãnh đạo Triều Tiên cũng nhận thức được rằng phải phát triển kinh tế, buôn bán trao đổi với thế giới bên ngoài thì mới có thể thực hiện được mục tiêu này. Tờ “Sankei Shinbun” của Nhật Bản cho biết gần 10 năm qua Triều Tiên luôn tuyên truyền ở trong và ngoài nước về mục tiêu xây dựng “quốc gia thịnh vượng”, nhưng vào giai đoạn gần tới năm 2012 mới thay “phục hưng cường thịnh” bàng “quốc gia thịnh vượng” làm khẩu hiệu tuyên truyền chủ lưu. Kinh tế ốm yếu và thiếu hụt lương thực là nguyên nhân quan trọng dẫn tới Triều Tiên thay đôi mục tiêu quốc gia. Vị trí địa lý của Triều Tiên đã quyết định sự thiếu hụt lương thực, khan hiếm năng lượng của nước này, và chỉ khi thông qua phát triển buôn bán với bên ngoài, Triều Tiên mới có thể giải quyết được các yếu tố cốt lõi mà công cuộc phát triển kinh tế của nước này phải dựa vào. Xét từ ý nghĩa nào đó, tình hình phát triển kinh tế của Triều Tiên liên quan chặt chẽ với mức độ quốc tế hóa của nước này, đi theo con đường quốc tế hóa cũng là sự lựa chọn cần thiết để Triều Tiên thực hiện mục tiêu “quốc gia thịnh vượng”.

2- Nhu cầu nâng cao mức sống của người dân

Bao năm qua sự nghèo khó của người dân Triều Tiên đã thu hút sự quan tâm cao độ của cộng đồng quốc tế. Năm 1966, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara chỉ rõ tính toán từ góc độ chủ nghĩa nhân đạo và an ninh, xóa bỏ sự đói nghèo của các nước đang phát triển là hết sức quan trọng, đồng thời nhấn mạnh trong một thế giới mà phúc lợi chênh lệch nhau nhiều, thông qua sức mạnh quân sự để thực hiện mục tiêu an ninh là có hạn. Đối với Triều Tiên, cộng đồng quốc tế đang ở trong tình thế tiến thoái lưỡng nan về việc làm giảm vấn đề đói nghèo của quốc gia này. Một mặt, từ những năm 70 của thế kỷ 20 tới nay, giảm bớt đói nghèo đã trở thành mục tiêu rõ ràng và mang tầm quốc tế của các nước phát triển và các cơ cấu chính sách đa phương quốc tế. Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên Hợp Quốc và Hội chữ thập đỏ quốc tế hết sức quan tâm tới tình cảnh khó khăn của các nhóm người như phụ nữ và trẻ em. Mặt khác, việc viện trợ lương thực đối với Triều Tiên lại làm cho các tổ chức quốc tế này vô cùng đau đầu. Mặc dù Triều Tiên tích cực đệ đơn xin viện trợ lên các tổ chức quốc tế này nhưng lại yêu cầu nước giúp đỡ và các tổ chức quốc tế sửa đối kế hoạch viện trợ và phương án cho vay. Ngoài ra, việc Triều Tiên gây trở ngại đối với việc phân phối, kiểm tra và giám sát hàng viện trợ cũng khiến các nước viện trợ hết sức không hài lòng, đặc biệt là chính sách “tiên quân” của Triều Tiên làm cho các nước viện trợ lo ngại hàng viện trợ bị dùng vào mục đích quân sự. Ví dụ Hàn Quốc, Liên minh châu Âu và Mỹ lần lượt ngừng viện trợ đối với Triều Tiên vào năm 2008 và năm 2009. Vật giá tăng vọt do cải cách kinh tế năm 2002 gây ra cũng như sự trừng phạt quốc tế, viện trợ lương thực ngắt quãng của cộng đồng quốc tế làm cho đời sống vật chất của người dân Triều Tiên gặp nhiều thiếu thốn, cuộc sống vô cùng khó khăn. Chỉ khi Triều Tiên lựa chọn hội nhập quốc tế hóa, một mặt quy chuẩn hóa cơ chế kinh tế của đất nước, trao đổi thương mại với cộng đồng quốc tế, nâng cao trình độ phát triển kinh tế và sức sản xuất, đồng thời minh bạch hóa cơ chế phân phối, quản lý hàng hóa viện trợ thì mới có thể được cộng đồng quốc tế và nước viện trợ tin cậy, mới có thể nhận được viện trợ để cải thiện mức sống của người dân. Sự nghèo đói bao năm qua làm cho người dân khó có thể tin tưởng và nghe theo sự ưu việt của chế độ mà Chính phủ Triều Tiên tuyên truyền, chỉ khi nâng cao đời sống vật chất của người dân thì mới có thể đảm bảo địa vị hợp pháp của đảng cầm quyền Triều Tiên.

3- Duy trì an ninh của chính quyền

Muốn duy trì cảm giác an toàn của chính quyền thì Triều Tiên chắc chắn phải giữ mức đầu tư tương đối cao vào lực lượng quốc phòng. Lâu nay, Triều Tiên luôn thực hiện chính sách “tiên quân”. Sức mạnh đất nước suy yếu làm cho Triều Tiên khó có thể duy trì chi tiêu quân sự đồ sộ, chỉ dựa vào sức sản xuất trong nước thì khó có thể thực hiện mục tiêu chiến lược an ninh. Xét về kinh tế, quốc tế hóa sẽ giúp nâng cao sức sản xuất kinh tế của Triều Tiên từ đó có thể đầu tư cho sức mạnh quân sự tương ứng với hạ tầng kinh tế, không bị cộng đồng quốc tế và nước viện trợ chỉ trích về việc phát triển năng lực quân sự. Về mặt an ninh, Triều Tiên luôn cho rằng chỉ khi sở hữu vũ khí hạt nhân thì mới có thể đảm bảo an ninh của chính quyền. Tuy nhiên, thông qua sự phát triển của vấn đề hạt nhân Triều Xiên có thể nhận thấy sự đòi hỏi và kiên trì đối với vũ khí hạt nhân chẳng những không làm cho an ninh cúa chính quyền được đảm bảo, ngược lại khiến môi trường bên ngoài liên tục xấu đi, ngày càng trở nên cô lập. Vì vậy, trên con đường duy trì an ninh của chính quyền, đi theo con đường quốc tế hóa, làm cho thực lực kinh tế trở nên lớn mạnh phù hợp với hiện thực và lợi ích trong và ngoài nước hơn hẳn có vũ khí hạt nhân. Sau khi lên cầm quyền, Kim Jong Un vẫn phải đối mặt với vấn đề an ninh quốc phòng, để giải quyết vấn đề này thì ngoài cần tiếp tục cải cách và điều chỉnh đối với kinh tế trong nước, còn cần tăng cường buôn bán với bên ngoài, phá vỡ sự cô lập và trừng phạt, tăng cường thực lực quốc gia thì mới có thể làm cho chính quyền đất nước được an toàn. Tháng 3/2012, Trung Quốc mở cửa khu vực Yanban, thu hút một lượng lao động của Triều Tiên, Chính phủ Triều Tiên tỏ ra tích cực vì đây cũng là cơ hội để họ kiếm được ngoại hối.

Triều Tiên thông qua đi theo con đường quốc tế hóa thực hiện mục tiêu “quốc gia thịnh vượng”, cải thiện đời sống nhân dân, duy trì sự ổn định của chính quyền là có những đòi hỏi lợi ích sát với thực tế.

Những trở ngại về mặt chế độ

Nếu việc quốc tế hóa Triều Tiên có đầy đủ nhu cầu hiện thực thì nguyên nhân nào khiến Triều Tiên ngày nay chẳng những không thực hiện được quốc tế hóa mà lại ngày càng cô lập? Nói chung, quốc tế hóa ảnh hưởng tới các cơ hội và sự ràng buộc mà các bên tham gia trong xã hội và các bên tham gia kinh tế phải đối mặt, từ đó ảnh hưởng tới thiên hướng chính sách của họ, tức là ảnh hưởng tới sự lựa chọn của họ đối với bất cứ chính sách nào có thể thực hiện được mục tiêu căn bản mà không nhất định là những giá trị căn bản mà bên tham gia phải tìm kiếm. Quốc tế hóa cũng đã ảnh hưởng tới sự tập trung của cải quốc tế, tính nhạy cảm và dễ bị tôn thương của đất nước đối với sự thay đổi của bên ngoài cũng như các cơ hội và sự ràng buộc mà chính phủ phải đối mặt. Hơn nữa quốc tế hóa sẽ làm tổn hại một số hiệu quả chính sách nào đó của chính phủ đương nhiệm, hạn chế quyền tự quyết sách của chính phủ, cũng sẽ làm tăng thêm khả năng xảy ra rối ren kinh tế, khủng hoảng chính trị ở nước này. Chính vì nhận thức được mối quan hệ phức tạp giữa quốc tế hóa với chính trị trong nước, Triều Tiên mới tỏ tâm lý mâu thuẫn hay thay đổi chính sách. Trong vấn đề quốc tế hóa, ở Triều Tiên tồn tại các trở ngại về mặt chế độ như nhận thức về lợi ích, hệ thống ý thức hệ và thể chế kinh tế, sự trừng phạt của bên ngoài cũng trở thành nhân tố quan trọng gây trở ngại cho việc quốc tế hóa Triêu Tiên.

1- Nhận thức về lợi ích

Trong vấn đề quốc tế hóa, mặc dù Triều Tiên cũng có nhu cầu nhưng chưa có các hành động thực sự để hội nhập quốc tế hóa, nguyên nhân chủ yếu nhất là sự nhận thức của Triều Tiên đối với lợi ích của mình. Trong tiến trình quốc tế hóa, cùng lúc các nước hội nhập cộng đồng quốc tế giành được cơ hội tự phát triển thì cũng đứng trước các mối đe dọa và thách thức của môi trường bên ngoài đối với lợi ích nước mình. Các quy tắc, cơ chế và giá trị của cộng đồng quốc tế đều tạo thành ảnh hưởng đối với lợi ích quốc gia, ảnh hưởng này không phải do bên ngoài tác động, mà do chính các bên tham gia trong nước, chúng không chỉ hạn chế việc làm của đất nước mà quan trọng hơn là đã làm thay đổi thiên hướng của đất nước. Chính xuất phát từ nhận thức nguy hiểm này, Triều Tiên không dám mở cửa thị trường hoặc hoàn toàn mở cửa thị trường.

Đối với Triều Tiên, lợi ích quốc gia tối cao chính là sự an toàn của chính quyền. Nếu vì quốc tế hóa mà dẫn tới chính quyền bất ổn thậm chí bị lật đổ, Triều Tiên sẽ không tích cực hội nhập mà cản trở quốc tế hóa. Tuy Triều Tiên nhận thức được kinh tế lạc hậu không có lợi cho việc tăng cường sức mạnh quốc gia, chấn hưng dân tộc, nhưng trong tình hình bên ngoài đe dọa thể chế của chính quyền, Triều Tiên chỉ có thể thông qua duy trì sức mạnh quân sự trong nước để đảm bảo an ninh của chính quyền. “Tiên quân” bảo vệ được an ninh quốc gia nhưng cũng gây trở ngại cho các bước quốc tế hóa của Triều Tiên. Việc lựa chọn nghiên cứu phát triển vũ khí hạt nhân tuy đã giúp tăng thêm ảnh hưởng của Triều Tiên trong các cuộc đàm phán với Mỹ, nhưng kết quả lại làm cho Triều Tiên rơi vào tình cảnh cô ỉập bao vây hơn. Ví dụ, động hướng đe dọa phát động “chiến tranh hạt nhân” của Triều Tiên trong thời gian gần đây không đạt được mục tiêu và ý đồ sử dụng nó như con bài mặc cả đàm phán với Mỹ. Sự nhận thức lợi ích an ninh của chính quyền là trên hết đã gây trở ngại cho các bước quốc tế hóa của Triều Tiên.

2- Sự hạn chế của ý thức hệ

Xét về ý thức hệ, Triều Tiên và Trung Quốc đều là các nước xã hội chủ nghĩa, đều lấy Chủ nghĩa Mác làm tư tưởng chỉ đạo. Nhưng Triều Tiên vẫn kiên trì các yếu tố của Chủ nghĩa Mác đối với việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, như kiên trì chế độ công hữu, coi nền kinh tế kế hoạch là thể chế quản lý kinh tế. Sự lý giải máy móc của Triều Tiên đối với Chủ nghĩa Mác làm cho nước này khó có thể áp dụng Chủ nghĩa Mác theo đúng tình hình đất nước. Sự thâm căn cố đế của ý thức hệ làm cho mấy thế hệ lãnh đạo của Triều Tiên khó có thể chấp nhận toàn cầu hóa kinh tế do chủ nghĩa tư bản giữ chủ đạo, vì vậy ra sức cản trở và nghi ngờ quốc tế hóa. Trong khi điều chỉnh và cải cách kinh tế, Triều Tiên cũng nhiều lần thay đổi chính sách. Tờ “Rodong Sinmun” có bài viết chỉ rõ “bất kể là sự cải cách tốt đẹp như thế nào, nếu không phải là của chủ nghĩa xã hội thì không phải là của nhân dân, không phải là của Triều Tiên”. Năm 2008 khi cải cách mở rộng một chút, kinh tế dân doanh hoạt động mạnh hon, Kim Jong Il đã đi thị sát thị trường ở Bình Nhưỡng, nhìn thấy người dân giao dịch chợ đen, bùi ngùi nói rằng “Đây không phải là chủ nghĩa tư bản sao?” Triều Tiên đã tăng cường quản lý kiểm soát thị trường trên cả nước, ban hành mục lục hàng hóa có thể phải giao dịch nghiêm ngặt, quy mô thị trường thu hẹp. Sự nhấn mạnh đối với ý thức hệ làm cho Triều Tiên nảy sinh thái độ thù địch đối với quốc tế hóa do chủ nghĩa tư bản giữ chủ đạo, từ đó nảy sinh dao động đối với cải cách kinh tế. Trạng thái này không những làm cho người dân trong nước mất đi niềm tin đối với cải cách, cũng làm cho rất nhiều quốc gia và nhà đầu tư quốc tế do dự khi đầu tư và hợp tác với Triều Tiên. Dưới ảnh hưởng của ý thức hệ, con đường quốc tế hóa của Triều Tiên trở nên hết sức khó khăn.

3- Sự không hoàn thiện của thể chế kinh tế trong nước

Mỗi một quốc gia khi gia nhập hệ thống quốc tế đều cần điều chỉnh thể chế kinh tế nhằm đẩy mạnh tiến trình quốc tế hóa của nước mình. Do những hiểu biết về chế độ xã hội chủ nghĩa, Triều Tiên vẫn kiên trì cách lý giải cứng nhắc đối với Chủ nghĩa Mác, tức là kinh tế thị trường là của chủ nghĩa tư bản, chế độ xã hội chủ nghĩa phải áp dụng thể chế kinh tế kế hoạch. Bước sang thế kỷ mới, Triều Tiên đã áp dụng một loạt chính sách biện pháp mới, vừa làm cho đất nước cảm nhận được sức sống do kinh tế thị trường mang lại và vai trò tích cực của nó đối với phát triển kinh tế, lại vừa khiến Triều Tiên lo ngại những ảnh hưởng của kinh tế thị trường đối với thể chế kinh tế kế hoạch và sự thay đổi tư tưởng của người dân, vì vậy mới xuất hiện tình trạng hay thay đổi ban hành chính sách rồi lại thu về. Chính sách hay thay đổi như vậy cho thấy yếu tố thị trường khó có thể được bồi đắp và phát triển ở Triều Tiên, điều này dẫn tới quá trình quốc tế hóa Triều Tiên thiếu chỗ dựa của thể chế kinh tế trong nước. Ví dụ, sau những năm 90 của thế kỷ 20, Trung Quốc đã thay đổi cách giao dịch hàng hóa truyền thống với Triều Tiên, thay thế bằng phương thức giao dịch tiền tệ làm cho Triều Tiên khó có thể thích ứng, một thời gian làm cho kim ngạch thương mại Trung Quốc-Triều Tiên giảm mạnh. Mấy năm gần đây, mặc dù Triều Tiên đã có một số điều chỉnh về chính sách kinh tế nhưng cho đến nay, thể chế kinh tế có lợi cho thu hút vốn đầu tư nước ngoài, quốc tế hóa vẫn chưa được thiết lập. Một số thương nhân nước ngoài đầu tư ở Triều Tiên đã bị thua lỗ do các dự án đầu tư thường xuyên chịu ảnh hưởng của chính sách hay thay đổi. Môi trường chính sách và chế độ này hiển nhiên không có lợi cho việc quốc tế hóa.

4- Môi trường bên ngoài xấu đi do kiên trì sở hữu vũ khí hạt nhân

Hiện nay, do Triều Tiên khăng khăng phát triển vụ khí hạt nhân, dẫn tới cộng đồng quốc tế liên tục trừng phạt kinh tế đối với nước này, đẩy Triêu Tiên theo hướng cô lập, đây cũng là nhân tố bên ngoài quan trọng ảnh hướng tới việc Triều Tiên thực hiện quốc tế hóa. Nghị quyết 1874 của Hội đồng Bảo an Liên Họrp Quốc đã tăng cường sự trừng phạt đối với Triều Tiên từ ba phương diện kiểm soát hàng hóa ra vào, cấm vận chuyển buôn bán vũ khí và ngăn chặn hỗ trợ tài chính. Sau đó Mỹ lại tuyên bố kéo dài trừng phạt kinh tế đối với Triều Tiên thêm một năm; Liên minh châu Âu cũng dựa vào các nghị quyết có liên quan của Hội đồng Bảo an, thực thi các biện pháp trừng phạt mới đối với Triều Tiên; Chính phủ Nhật Bản và Hàn Quốc cũng lần lượt khởi động các biện pháp trừng phạt tài chính đối với các cá nhân và doanh nghiệp của Triều Tiên. Những biện pháp trừng phạt này đã làm cho Triều Tiên trở nên cô lập hơn. Quan hệ thù địch giữa Mỹ và Triều Tiên bao năm qua chưa được thay đổi về căn bản, điều này vừa gây trở ngại cho việc Triều Tiên cải thiện quan hệ với Nhật Bản và Hàn Quốc, vừa ảnh hưởng tới việc Triều Tiên giành được các khoản viện trợ lớn của các tổ chức tài chính quốc tế như Quỹ Tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng phát triển châu Á. Việc Triều Tiên kiên trì thử nghiệm hạt nhân khiến các cuộc Đàm phán 6 bên rơi vào bế tắc, Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc cùng gây sức ép chính trị, quân sự, trừng phạt kinh tế ngày càng lớn lên Triều Tiên để buộc nước này từ bỏ vũ khí hạt nhân. Đối đầu giữa Triều Tiên với Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc do vậy không ngừng leo thang, năm 2010 Triều Tiên và Hàn Quốc thậm chí đã xảy ra các cuộc xung đột quân sự như pháo kích lên đảo Yeonpyeons. Môi trường an ninh như vậy làm cho Triều Tiên chẳng có cách nào tham gia tiến trình toàn cầu hóa kinh tế, cũng làm cho các nhà đầu tư nước ngoài do dự khi đầu tư vào quốc gia này, kết quả chắc chắn sẽ làm cho kinh tế Triều Tiên chậm phát triển. Nghị quyết 2094 được Liên Hợp Quốc thông qua ngày 7/3/2013 đã mở rộng phạm vi trừng phạt trên cơ sở vốn có, đưa thêm vào “trừng phạt tài chính”, các nhân viên ngoại giao, ngân hàng thực hiện các hoạt động bất hợp pháp cũng như việc chuyển khoản tiền mặt bất hợp pháp đều thuộc danh mục trừng phạt. Tuy nhiên, trừng phạt không ngừng leo thang không làm cho Triều Tiên từ bỏ sự theo đuổi đối với vũ khí hạt nhân, ngược lại làm cho môi trường quốc tể hóa Triều Tiên xấu đi, làm cho Bình Nhưỡng càng quyết tâm sở hữu vũ khí hạt nhân.

Kết lun

Quốc tế hóa vừa là con đường để Triều Tiên thực hiện mục tiêu “quốc gia thịnh vượng”, vừa là cái đích mà cộng đồng quốc tế hướng tới. Sau khi lên cầm quyền, để ổn định chính quvền trong thời gian ngắn thì việc Kim Jong Un vẫn tiếp tục thực hiện chính sách “bàn tay sắt” của cha mình là có thể lý giải được, về lâu dài, trên cơ sở ổn định chính quyền, đẩy mạnh Triều Tiên quốc tế hóa, tăng cường hợp tác thương mại với bên ngoài nên là con đường duy nhất để Triều Tiên thoát khỏi tình cảnh kinh tế khó khăn, cải thiện dân sinh. Từ các cuộc thảo luận về dự án hợp tác với Trung Quốc, Nga và Hàn Quốc, sau khi Kim Jong Un lên nắm quyền có thể thấy ông ta có tầm nhìn và chiến lược mở cửa hơn cha mình. Và cộng đồng quốc tế nên dành cho Triều Tiên cơ hội để quốc tế hóa, Đặc biệt là cách làm lợi dụng kinh tế khó khăn để đe dọa Triều Tiên của Mỹ và Hàn Quốc trong nhiều năm qua chẳng những không có lợi cho việc phi hạt nhân hóa ngược lại làm cho Triều Tiên càng đi theo con đường nguy hiểm.

Đàm phán 6 bên tuy không giải quyết được triệt để vấn đề hạt nhân của Triều Tiên nhưng nó vần là một sự thử nghiệm quan trọng nhằm hối thúc Triều Tiên quốc tế hóa, Đàm phán 6 bên chủ yếu xoay quanh mục tiêu phi hạt nhân bán đảo Triều Tiên, ngoài ra còn đàm phán về hợp tác trong các dự án ngoại giao, viện trợ kinh tế và năng lượng. Vì vậy, đàm phán 6 bên là con đường khả thi để kéo Triều Tiên đang cô lập vào cộng đồng quốc tế, tái khởi động đàm phán 6 bên trở thành cơ sở quan trọng để thúc đẩy Triều Tiên quốc tế hóa, Trung Quốc, Nga, Mỹ và Hàn Quốc cần nỗ lực để thực hiện mục tiêu hợp tác này. Do đó, thúc đẩy Triều Tiên quốc tế hóa, làm cho kinh tế của Triều Tiên lệ thuộc vào thế giới bên ngoài, hối thúc Triều Tiên tham gia nhiều tổ chức quốc tế hơn, dùng các quy tắc quốc tế để ràng buộc các việc làm của Triều Tiên trở thành sự kỳ vọng của cộng đồng quốc tế. Bất kể là Triều Tiên phát triển vũ khí hạt nhân hay tiếp tục đói nghèo đều là mối nguy hại rất lớn đối với hòa bình và ổn định của khu vực Đông Bắc Á. Và muốn duy trì khu vực Đông Bắc Á hòa bình thì phải làm cho Triều Tiên giảm bớt khó khăn, thực hiện quốc tế hóa, không đẩy Triều Tiên vào phía đối lập.

Về phía Trung Quốc, Bắc Kinh luôn duy trì lập trường thúc đẩy Triều Tiên quốc tế hóa, đây cũng là nguyên nhân quan trọng khiến Trung Quốc không tán thành việc cộng đồng quốc tế động một chút là trừng phạt Triều Tiên. Sau khi Chính quyền Kim Jong Un ổn định, Trung Quốc đã đóng vai trò lớn hơn trong việc thúc đẩy Triều Tiên quốc tế hóa, phát triển kinh tế. Triều Tiên tự chủ về kinh tế, vừa có thể giảm bớt sự lệ thuộc vào viện trợ của Trung Quốc, vừa có thể cân bằng thế lực với Hàn Quốc, từ đó đảm bảo sự hòa bình và ổn định của bán đảo. Giúp Triều Tiên quốc tế hóa, cải cách kinh tế, không những là giúp cho Chính quyền của Triều Tiên được an toàn, đất nước ổn định mà còn giúp cho việc thực hiện mục tiêu chiến lược của Đông Bắc Á, có lợi cho sự hòa bình và ổn định của khu vực Đông Bắc Á.

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
This entry was posted in Archives, Articles, International relations and tagged , , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s