TRIỀU TIÊN GIỮA ÁP LỰC ĐÒI MỞ CỬA Ở TRONG NƯỚC VÀ SỰ ĐE DỌA TỪ BÊN NGOÀI

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ Năm, ngày 03/10/2013

TTXVN (Algiers 2/10)

Tại châu Âu và Mỹ, dư luận đặt câu hỏi cơ sở nào để tiến hành cuộc chiến chống Syria. Theo tạp chí “Địa chính trị”, không phải vì họ vô cảm trước nỗi thống khổ và những mất mát của người dân Syria, mà họ biết được nguy cơ dẫn đến sa lầy, vì họ sợ Damascus và đồng minh sẽ trả thù theo kiểu khủng bố và cuối cùng, họ tự hỏi trong thời đói kém kinh tế này, có nên ưu tiên cho các vấn đề trong nước không.

Cũng có những người đặt câu hỏi những dàn tên lửa hành trình dùng để triệt hạ năng lực quân sự của Tổng thống Bashar al-Assad mà không giúp người dân Syria giảm được nỗi thống khổ của mình, liệu có gây ra làn sóng hậu quả không mong muốn trong toàn khu vực để từ đó làm thức tỉnh các phong trào khủng bố ở Liban và tạo thuận lợi cho lực lượng Hồi giáo thánh chiến lên nắm quyền ở Damascus không, có làm trầm trọng thêm cuộc chiến tranh tôn giáo giữa phái Shiite ở Iran và phái Sunni ở Saudi Arabia không, có khơi sâu thêm mối hận thù chống Mỹ không, có khiến Iran thúc đẩy chương trình hạt nhân của mình nhanh hơn không. Những câu hỏi đó vốn đặt những gì là tốt đẹp về lòng kiên nhẫn và nỗ lực ngoại giao đối lập với chủ nghĩa cực đoan hung hãn và ưa chiến tranh, cũng đáng được đặt ra đối với vùng đất Triều Tiên nằm cách đó 8.000 km về phía Đông, nơi từ năm 1994, Mỹ hết áp dụng lập trường linh hoạt lại chuyển sang thái độ cứng rắn kích động chiến tranh.

Tuy nhiên, trong lập trường của Mỹ cũng có thiên hướng rõ nét ưu tiên không nhân nhượng với những lời đe dọa trả đũa về quân sự vốn không mang lại điều gì khác ngoài tình hình căng thẳng giúp chế độ Bình Nhưỡng tái khởi động chương trình hạt nhân và với sự giúp đỡ của Trung Quốc, kéo dài sự tồn tại của chế độ kìm kẹp gây ra hậu quả nhân đạo tàn phá ghê gớm hơn hậu quả nảy sinh từ cuộc xung đột Syria. Bán đảo Triều Tiên hơn các nơi khác ở chỗ lập trường ưa chiến tranh không hề có cơ may giúp tình hình hòa dịu mà hoàn toàn ngược lại. Đó quả thực là nơi trò răn đe lẫn nhau ở mọi cấp độ khó có thể dẫn đến một cuộc xung đột quy mô lớn, nhưng lại tạo ra mối đe dọa liên tục nhằm đáp trả những tuyên bố huyênh hoang của Bình Nhưỡng giúp chế độ này duy trì bộ máy quân sự, từ đó kéo dài chế độ kìm kẹp của gia đình họ Kim và hành vi lạm dụng nhân đạo của họ.

Mặc dù các bên đều có lúc nóng mặt, song bên nào trong khu vực cũng ý thức được rằng đột ngột phá vỡ thế cân bằng chiến lược hiện nay bằng một cuộc tấn công quân sự ồ ạt có thể sẽ gây ra hậu quả đối với an ninh của chính mình. Chế độ Triều Tiên có thể sẽ sụp đổ mà không gây thiệt hại gì đáng kể cho người láng giềng phương Nam của mình. Trung Quốc có thể sẽ mất đi một “nước chư hầu” và còn hơn cả một đồng minh mặc dù không đáng tin cậy mấy với nguồn dự trữ tài nguyên khoáng sản rộng lớn nằm ở ngay cửa ngõ của mình và đang được ra sức khai thác nhưng với chi phí rất thấp, còn Mỹ có thể sẽ gặp nguy cơ leo thang quân sự với Bắc Kinh, điều mà Washington bằng mọi giá không mong muốn.

Lịch sử thời hậu chiến cho thấy rằng cả lời đe dọa lẫn chiến tranh mà không ai muốn, cả đối thoại lẫn sự can dự của Bắc Kinh đều không thể làm suy giảm khối ung nhọt Triều Tiên. Chỉ một phương án, mở cửa và hợp tác theo cách của Kim Dae Jung, mới có thể xóa bỏ những tàn dư đáng lo ngại của Chiến tranh Lạnh. Nhưng phương án đó đã bị hủy hoại bởi tư tưởng bảo thủ bất chấp mọi lôgích lịch sử và chiến lược khi cho rằng chế độ Bình Nhưỡng vì ít điên rồ hơn người ta tưởng nên có thể nhượng bộ trước những lời đe đọa và các biện pháp trừng phạt.

Trên thực tế lại là ngược lại. Lập trường cứng rắn về quân sự càng làm cho tình hình xấu thêm. Các vấn đề này được lý giải trong hai tác phẩm mới đây của một số nhân vật chuyên theo dõi tình hình ở vùng này, nói về những hệ quả siêu thực và lỗi thời của cuộc Chiến tranh Lạnh cũ vẫn chưa chấm dứt trên bán đảo Triều Tiên. Đó là cuốn sách “Nhà nước bất khả thi, Triều Tiên, quá khứ và tương lai” của Victor Cha, nguyên phụ trách các vấn đề châu Á tại Nhà Trắng đồng thời là cố vấn đặc biệt của George Bush về Triêu Tiên.

Trong khi hàng loạt hành động quân sự giả tạo nhưng vô bổ khiến tình hình tiếp tục căng thẳng và củng cố thêm chỗ đứng cho chế độ Bình Nhưỡng, chỉ có Kim Dae Jung, người đoạt giải Nobel hòa bình, Tổng thống Hàn Quốc từ năm 1998 đến năm 2003, là người có nhãn quan về chính sách hòa dịu với Bình Nhưỡng được thực hiện trong một thời gian dài, giúp người dân Triều Tiên dần dần nhận ra những cái hay của tự do và nền kinh tế được tự do hóa từng bước có thể chiến thắng chế độ độc tài. Tuy nhiên, chính sách tốt đẹp đó – “Chính sách Ánh Dương” được Kim Dae Jung chủ trương và được người kế nhiệm ông là Roh Moo-hyim thực hiện – trở nên không hợp thời vì bị phái bảo thủ cho là yếu mềm do họ không thấy được chiến lược dài hơi cũng như sức mạnh của chính sách cởi mở và hợp tác, đồng thời bị những người chủ trương cứng rắn không khoan nhượng coi nhẹ và bị nhấn chìm trong vụ bê bối tài chính khiến Roh phải tự vẫn vào tháng 5/2009.

Năm 2000, năm G.W. Bush – vốn là người không tin vào chính sách cởi mở đối với Triều Tiên – lên nắm quyền tại Mỹ, Kim Dae Jung đến Bình Nhưỡng để gặp Kim Jong II, con trai Kim Nhật Thành. Chính sách hợp tác đó được thực hiện sau 6 năm thương lượng dần đến việc thành lập Tổ chức phát triển năng lượng bán đảo Triều Tiên (KEDO) nhằm cung cấp lò phản ứng nước nhẹ cho Triều Tiên để thay thế lò Magnox. Nhưng theo Richard Parry, chỉ trong vài tháng, phái bảo thủ ở Mỹ và Bush đã phá hoại “Chính sách Ánh Dương”. Năm 2001, sau vụ khủng bố 11/9, Triều Tiên mặc dù không liên quan gì vẫn bị liệt vào “trục ma quỷ” và bị coi là một trong những mục tiêu tiềm tàng của một cuộc tấn công phòng ngừa, cùng với Iraq và Iran. Như vậy, nguyên nhân đã rõ. Từ đó trở đi, Kim Dae Jung, vốn là người bị Chính quyền Bush ghét bỏ, đơn độc chìa tay cho Bình Nhưỡng. Mỹ quay lưng lại với chính sách của Bill Clinton do bà Madeleine Albright thiết kế và trở lại với lập trường không khoan nhượng, cộng với các biện pháp trừng phạt và đe dọa trả đũa quân sự, dẫn đến hệ quả là giúp chế độ Bình Nhưỡng tiếp tục tồn tại.

Tuy nhiên, chính sách cởi mở của Kim Dae Jung nhằm mục đích giúp người dân thức tỉnh và làm suy yếu chính quyền để cuối cùng khiến chế độ Bình Nhường sụp đổ, có hai điều bất lợi. Một mặt, do bản chất mang tính lật đổ bằng cách làm cho dân chúng nhiễm dần dần vi rút tự do nên không thể giải thích chính sách đó một cách rõ ràng. Điều đó cho phép phái bảo thủ phê phán chính sách của Kim Dae Jung là ấu trĩ vì bề ngoài, chính sách này dường như đưa ra một số nhượng bộ đối với một “Nhà nước bất hảo”. Mặt khác, chính sách của Kim Dae Jung không phù hợp với tính cấp bách cũng như yêu cầu phải thúc đẩy nhanh vì chỉ tạo ra được tác dụng trong một thời gian ngắn, hơn nữa lại chỉ tác động được vào tư tưởng của những người bị nhiễm “vi rút” trong khi bản thân họ rất thận trọng và không nói nhiều về hậu quả trong bầu không khí rạn nứt và bị kiểm soát chặt chẽ.

Giải pháp cho thế bế tắc Triều Tiên không thể có được từ một hành động quân sự do khó có thể diễn ra bởi quá nguy hiểm đối với cả mục tiêu lẫn người bắn. Giải pháp đó cũng sẽ không phải là kết quả của sự hòa dịu Bắc-Nam vì phái bảo thủ của Mỹ và Hàn Quốc cảm thấy không thoải mái do căng thẳng liên tục không giải quyết được tình hình giúp họ có lợi nên họ không kiên nhẫn, cũng không rộng lượng và nhìn xa được. Do đó, chỉ còn sự can dự của Trung Quốc bị phái bảo thú liên tục gây sức ép để nước này cắt đút nguồn cung ứng hậu cần giúp chế độ Bình Nhưỡng sống sót.

Trong cuốn sách của mình, Victor Cha đưa ra những phân tích tinh tế nhất về mối quan hệ giữa Bình Nhưỡng và Bắc Kinh. Vị cựu cố vấn của Bush này quả thực cho thấy rằng việc trông đợi vào Bắc Kinh để buộc chế độ Bình Nhưỡng quy phục nhằm làm giảm nỗi thống khổ của dân chúng, chỉ là ý muốn không thể thực hiện được. Đối Victor Cha, những tuyên bố hùng hồn của các nhà lãnh đạo Trung Quốc về liên minh không gì lay chuyển nổi giữa Bình Nhưỡng và Bắc Kinh – theo đó hai nước gắn bó với nhau như “môi với răng” – không phản ánh được thực tế mối quan hệ đó. Trái lại, mối quan hệ song phương luôn dựa trên “sự khinh bỉ lẫn nhau, nhưng được điều chỉnh bởi lợi ích chiến lược mà cả hai bên đều hiểu rất rõ”.

Tình trạng đó thực sự kéo dài trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh, trong đó Kim Nhật Thành cố tình chơi con bài kình địch giữa Bắc Kinh và Moskva. Do Mao Trạch Đông bận tổng kết cuộc chiến tranh Triều Tiên nên không còn đầu óc để nghĩ đến chuyện giành lại Đài Loan, Trung Quốc cay đắng nhận ra rằng không những cuộc xung đột chỉ là trò lừa dối chiến lược đối với mình mà Triều Tiên thậm chí còn không thừa nhận sự hỗ trợ có tính quyết định của “chí nguyện quân Trung Quốc” giúp Kim Nhật Thành tránh được thảm bại. Victor Cha cũng kể rằng trong các cuộc đàm phán sáu bên về vấn đề hạt nhân của Triều Tiên, ông bắt gặp các đoàn Trung Quốc và Triều Tiên đóng cửa lăng mạ lẫn nhau.

Mặc dù nghi kỵ và hằn thù lẫn nhau, song Trung Quốc, vẫn không cắt đứt huyết mạch tiếp tế giúp Bình Nhưỡng tồn tại. Đối với Victor Cha, bên cạnh nỗi lo về vùng biên giới có thể tràn ngập người tỵ nạn trong trường hợp chế độ Bình Nhưỡng sụp đổ, Trung Quốc cũng có những ý định thực tiễn và cụ thể khác: đó là buôn bán qua biên giới và khai thác tài nguyên mỏ của Triều Tiên với điều kiện ưu đãi, trong đó sức khỏe của thợ mỏ càng không phải là mối quan tâm của các nhà đầu tư Trung Quốc. Món của Trời cho đó chỉ tương đương với một vài chuyến ngũ cốc và nhiên liệu cung cấp cho Bình Nhưỡng để giúp chế độ không sụp đổ.

Richard Parry lưu ý rằng Bình Nhưỡng và Bắc Kinh không thích tình hình đó vì khiến họ phải gắn bó rất chặt chẽ với nhau. Mọi biện pháp trừng phạt mà Washington luôn đòi Bắc Kinh phải áp dụng có nghĩa là sự sụp đổ của một chế độ, điều mà Bắc Kinh không muốn bằng bất cứ giá nào. Theo Victor Cha, điều đó giải thích tại sao khó có thể có hợp tác mang tính chất quyết định của Trung Quốc trong vấn đề hạt nhân, về phần Triều Tiên, khả năng dễ bị đánh quỵ lại chính là món bảo hiểm nhân thọ được Bắc Kinh chi trả. Trong điều kiện đó, đàm phán sáu bên hay mọi hình thức thương lượng khác giúp Bắc Kinh có vai trò lớn, sẽ chỉ mất thời gian.

Để mở rộng cuộc tranh luận về những mối đe dọa quân sự nguy hiểm, Parry đưa ra một số suy nghĩ khiến người ta nghĩ đến tình hình Iran: lý do nào thúc đẩy Bình Nhưỡng hủy bỏ chương trình hạt nhân cùa mình? Mỗi lần biểu dương lực lượng hay đe dọa trừng phạt, vốn là thứ vũ khí chính của phái bảo thủ theo khuynh hướng hiếu chiến chủ trương đánh sập chế độ họ Kim từ 20 năm nay, trái lại là một lập luận nữa khiến Bình Nhưỡng tìm cách để có được bom nguyên tử. Trong các cuộc đàm phán sáu bên, các nhà thương thuyết Triều Tiên, ít điên khùng hơn người ta tưởng, đều hỏi Victor Cha: “Các ông đã tấn công Iraq và Afghanistan vì các nước này không có vũ khí hạt nhân. Các ông sẽ không tấn công chúng tôi và các ông sẽ không tấn công Iran?”

Khi cả vũ lực lẫn nỗ lực ngoại giao hay Trung Quốc đều không có khả năng mang lại giải pháp có thể chấm dứt chế độ kìm kẹp của Bình Nhưỡng, chỉ còn cách trông đợi vào chiến lược của Kim Dae Jung mà Washington luôn chế giễu. Đó là chiến lược cần có thời gian dài, những ý định kín đáo, những hành động đan xen, những cách tiếp cận về văn hóa và thương mại, vốn là những yếu tố từng ngày reo mầm tự do trong tâm trí người dân.

Để minh chứng cho chiến lược này và những bước tiến vô hình nhưng hoàn toàn có thực mà chiến lược đó tạo ra được trong tiềm thức con người, Parry nói đến món “chocopie” được ông mô tả như một thứ bánh bích quy bọc sôcôla được gói trong túi nhỏ rất thịnh hành ở Hàn Quốc. Năm 2004, trong khuôn khổ “Chính sách Ánh Dương”, các nhà sản xuất Hàn Quốc đến làm việc tại khu công nghiệp Kaesong ở Triều Tiên đã mang theo trong hành lý “cả công nghệ lẫn đường điện thoại và một xa lộ”. Rất nhanh, các nữ công nhân Triều Tiên đón nhận bánh “chocopie” do các ông chủ Hàn Quốc tặng như một món quà thưởng, nhưng sau đó không ăn mà mang đi bán. Được bán lại với giá 10 USD/chiếc trên thị trường chợ đen ở một nước mà những đồ ăn ngọt bùi vừa hiếm vừa đắt như rượu sâm banh loại sang, món bánh sôcôla trở nên dân dã đến mức binh lính có nhiệm vụ trông coi số người Hàn Quốc ở đó cũng đòi trả bằng bánh “chocopie” số tiền phạt mà hàng ngày họ đánh vào các nhà đầu tư vừa bị canh chừng cẩn mật, vừa bị theo dõi, vừa bị cáo buộc là vi phạm, để thêm thắt vào đồng lương giúp họ sống được đến hết tháng.

Từ câu chuyện đó, Parry rút ra hai bài học đạo đức: thứ nhất, người Triều Tiên là người bình thường, cũng đạo đức và láu cá như người khác, đồng thời cũng thích ngọt bùi; thứ hai, xã hội Triều Tiên không đến mức vô cảm và không tiếp nhận ảnh hưởng của bên ngoài như người ta thường nói.

Việc Bình Nhưỡng mở cửa là nhằm mục đích rút ngoại tệ từ người Hàn Quốc, đồng thời không để cho tự do lây lan. Nhưng “kiêng cữ vẫn chưa đủ”. Tiếng gọi đeo bám của thế giới huyền bí và quyền tự do vô bờ gây ra vấn đề buôn bán ngầm qua biên giới không được kiểm soát chặt chẽ với Trung Quốc, nơi có thể tìm thấy đĩa của truyền hình Hàn Quốc mang theo những “hạt giống không thể gieo được bằng cách khác (…) “Chính sách Ánh Dương” không những không phải là hình thức cam chịu trước hành vi bòn rút vốn bị các đối thủ phê phán, mà còn là một cuộc tiến công kín đáo”…

Bản thân Victor Cha, người từng là kẻ thù đáng nghi ngại của chính sách nói trên của Kim Dae Jung, cũng phải thừa nhận rằng chính sách này tạo ra hệ quả ngắn hạn: “Nhờ có Kaesong mà hàng chục nghìn phụ nữ Triều Tiên biết thế nào là làm việc tại các nhà máy hiện đại của Hàn Quốc và được ăn ngày ba bữa trong một cửa hàng sạch sẽ. Họ sẽ không bao giờ đứng lên chống lại chế độ, nhưng sẽ kể chuyện mình cho các phụ nữ khác biết”. Victor Cha nói thêm rằng thay đổi là rất nhỏ, nhưng có thực và sẽ gây ra phản ứng khác nếu chính quyền sau này có ý định nắm lại quyền kiểm soát nền kinh tế bằng phương pháp cũ. Nỗi tức giận dâng cao khi chính phủ họ phép người dân bay bằng chính đôi cánh của mình, tự mình tạo ra thành công cho mình, rồi khi nhà nước định tìm cách tái khẳng định quyền kiểm soát của mình bằng cách không cho họ có khả năng đó nữa… Khó có thể nghĩ rằng tiến bộ có thể nảy sinh từ nạn nghèo khó cùng cực, nhưng đó chính là những gì người ta thấy diễn ra ở Bắc Triều Tiên. Tuy nhiên, cuộc thử nghiệm phải dừng lại do phái bảo thủ liên minh và phản xạ liên tiếp dọa trả đũa mà ai cũng biết sẽ chỉ giúp chế độ Bình Nhưỡng củng cố vị thế của mình. Đấy là chưa nói đến thái độ thù địch nảy sinh từ đó khiến thương lượng khó khăn hơn.

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry mới đây được trải nghiệm khi bắt tay vào thực hiện chiến lược hâm nóng nhằm nối lại thương lượng, phải khắc phục thiệt hại nảy sinh từ những lời đe dọa đáp trả hạt nhân lấp lửng và việc máy bay ném bom chiến lược từ đảo Guam và Mỹ đến bay trên bán đảo Triều Tiên ngay lập tức hủy hoại mọi tuyên bố của Washington về ý định không bao giờ để vũ khí hạt nhân xuất hiện trong vùng này nữa. Cũng có khi sức mạnh quân sự là điều tốt để cấp bách chấm dứt thảm họa nhân đạo hay không để một nước rơi vào chế độ độc tài và cực đoan – mặc dù cũng phải có phương tiện và khả năng kiểm soát những hậu quả xấu không ai muốn, từ đó đòi hỏi phải có thời gian, nguồn tài chính và chấp nhận rủi ro khi đưa quân vào đánh bộ, nhưng thường lời đe dọa, một khi được cố tình tung ra, dẫn đến hệ quả gần như trái ngược với những gì mong muốn.

Tại Triều Tiên và Iran, trong nhiều trường hợp, chiến lược bánh “chocopie” có thể có hiệu quả hơn lời đe dọa, ít nhất cũng là hỗ trợ cho cuộc thương lượng chính trị diễn ra một cách đúng đắn. Do đó, cần có thời gian để triển khai thực hiện và không biến chiến lược đó thành hư vô với lập trường sặc mùi chiến tranh ít nhiều vô bổ được đưa ra một cách đều đặn, với hệ quả đầu tiên là củng cố vị thế của các nhà độc tài. Vào tháng 4, hậu quả của thời kỳ căng thẳng là Triều Tiên đóng cửa khu công nghiệp Kaesong, biểu tượng của “Chính sách Anh Dương”, và yêu cầu người Hàn Quốc về nước. Nhưng bằng chứng cho thấy khó có thể cài số lùi là Bình Nhưỡng hiện có hơn 50.000 công nhân thất nghiệp. Tìm việc khác cho số công nhân này – vốn bị nhiễm “vi rút” mở cửa – là không đơn giản, hơn nữa vì Bình nhưỡng “cách ly” họ để tránh “dịch bệnh tự do” lây lan. Hiện nay, theo một bài báo đăng trên tờ “KoreaTime” ngày 6/5/2013, Bình Nhưỡng bảo trợ cho số công nhân này và cho họ theo học các khóa cấp tốc để diệt từ trong trứng mọi tư tưởng mở cửa mà họ đã nhiễm phải. Rồi Bình Nhưỡng định “hòa tan” thông điệp chính trị độc hại mà họ mang theo về bằng cách phân tán số công nhân này trên toàn lãnh thồ.

Nhưng vi rút này có sức đề kháng cao. Ngày 11/9, người ta biết rằng Bình Nhưỡng đồng ý “thử” mở cửa lại khu công nghiệp Kaesong nằm ở bên trong lãnh thổ Triều Tiên và chỉ cách biên giới vài cây số. Đó là vì cuộc thử nghiệm đã thu hút hơn 100 doanh nghiệp Hàn Quốc đến đầu tư vào đây vì bị hấp dẫn bởi giá nhân công rẻ và toàn bộ số doanh nghiệp này mỗi năm mang lại cho Bình Nhưỡng 80 triệu USD.

***

TTXVN (New York 2/10)

TờAl-Asiya ” (Châu Á) vừa có bài viết điểm lại một số biện pháp chống trả của Mỹ đối với Triều Tiên trong thời gian gần đây, và cho rằng bằng mọi cách Washington cùng với các đồng minh vẫn sẽ bóp nghẹt chế độ hiện nay ở quốc gia “kín như bưng’’ này. Dưới đây là nội dung bài viết:

Ở thời điểm hiện tại, lời qua tiếng lại giữa Mỹ và Triều Tiên có vẻ như đã tạm lắng xuống, nhưng không vì thế mà người ta có thể quên rằng trong chuyến thăm ba nước Đông Á cách đây chưa lâu, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đã khẳng định rằng Mỹ và các đồng minh sẽ không tha thứ cho chương trình hạt nhân của Triều Tiên, và rằng Triều Tiên không được phép nằm trong số các cường quốc hạt nhân.

Trong thời gian qua, Mỹ đã cho thấy nước này sẵn sàng tiến hành chiến tranh chống Triều Tiên, nhất là khi họ đã đưa máy bay B-52 và máy bay ném bom B-2 có thể chở bom hạt nhân tới bán đảo Triều Tiên để tiến hành tập trận hồi đầu năm nay. Đồng thời, Mỹ đã triển khai thêm bệ phóng tên lửa và các tàu chiến trong khu vực. Mới đây, ông Kerry đã khẳng định rằng nếu xảy ra cuộc xung đột vũ trang thì Mỹ sẽ đáp trả các hành động của với một sức mạnh lớn hơn nhiều Triều Tiên. Ông Kerry cũng đã nhắc lại yêu cầu của Mỹ là Trung Quốc phải gây sức ép với Triều Tiên để nước này từ bỏ chương trình hạt nhân, theo đó Trung Quốc có thể buộc Triều Tiên phải phục tùng bằng một lệnh cấm vận khi ngừng cung cấp lương thực thực phẩm và nhiên liệu vì Triều Tiên phụ thuộc dường như tất cả vào Trung Quốc. Tuy nhiên, ông Kerry cũng không quên nhắc lại rằng Lầu Năm Góc và cộng đồng các cơ quan tình báo Mỹ vẫn bảo lưu nhận định cho rằng sức mạnh của Triều Tiên đã được thổi phồng quá đáng, và cũng không cho rằng Triều Tiên là một nguy cơ và một mối nguy hiểm khủng khiếp đối với Mỹ.

Trên thực tế, Triều Tiên là một nước nghèo một cách tuyệt vọng với khoảng 25 triệu dân, nền kinh tế lụn bại trong hai thập niên vừa qua. Nền kinh tế của Triều Tiên bị suy sụp là do Liên Xô tan rã đã dẫn đến việc ngừng cung cấp năng lượng và các nguyên liệu, linh kiện cho ngành công nghiệp, nhất là đối với các máy móc nông nghiệp. Một bài báo đăng trên nhật báo Telegraph của Anh do một nhà báo đã từng tới Bình Nhưỡng viết: “Triều Tiên không chỉ là một nước kém phát triển, mà là một nước bị đẩy ra ngoài thế giới”. Những sự trừng phạt mà Mỹ áp đặt đối với Triều Tiên đã đẩy đất nước này vào thảm họa. Với nạn đói và khan hiếm thuốc men kinh niên, Triều Tiên đã phải đối mặt với các loại bệnh dịch và nạn suy dinh dưỡng nặng. Theo Liên Hợp Quốc, một phần ba trẻ em dưới 5 tuổi ở Triều Tiên có dấu hiệu chậm phát triển. Tuy vậy, do phải đối mặt với những mối đe dọa thường xuyên của Mỹ, chế độ Triều Tiên đã phát triển vũ khí hạt nhân để sử dụng nó làm phương tiện mặc cả trong các cuộc thương lượng với Mỹ. Tính toán này cũng là để có thể làm nản lòng Mỹ trong mưu toan tiến hành một cuộc chiến tranh nhằm thay đổi chế độ của Triều Tiên như Mỹ đã tùng làm ở Iraq và Lybia cho dù những phân tích mới đây cho thấy vũ khí hạt nhân của Triều Tiên là nhân tố tương đối thứ yếu trong tình hình quân sự của khu vực, nơi bị chi phối bởi cuộc đối đầu giữa Trung Quốc và Mỹ. Và người ta cũng hiểu rằng sau vụ Bình Nhưỡng thử hạt nhân lần đầu tiên vào năm 2006, Mỹ bắt đầu đe dọa Triều Tiên, song thực ra lời đe dọa này lại nhằm cả mục tiêu khác nữa. Nó không những nhằm hăm dọa Trung Quốc để nước này không sử dụng các đòn bẩy về tài chính chống chính sách của Mỹ vì hiện nay Bắc Kinh nắm giữ hơn 1.000 tỷ USD tiền nợ của Mỹ, mà còn thúc đẩy Bắc Kinh phải tuân theo những lợi ích của Mỹ ở các khu vực khác trên thế giới, nhất là ở khu vực Trung Đông, nơi Trung Quốc đã phong tỏa các nghị quyết của Liên Hợp Quốc hợp pháp hóa một cuộc can thiệp trực tiếp của Mỹ vào Syria, và phản đối các kế hoạch của Mỹ về một cuộc tấn công quân sự chống Iran.

Trong những năm gần đây, Chính quyền Obama đã thực hiện nhiều bước đi mà Triều Tiên coi đó là những mối đe dọa. Bước đi đầu tiên khiến cho mối quan hệ hai nước ngày càng xấu đi là vào tháng 10/2012 khi Mỹ dành cho Hàn Quốc quyền miễn trừ đối với chế độ kiểm soát công nghệ tên lửa, cho phép nước này kéo dài tầm bắn của các tên lửa đạn đạo để có thể bao phủ lên toàn bộ lãnh thổ của Triều Tiên. Kết quả là toàn bộ những thể thức được áp dụng cho bất kỳ nước nào đã phê chuẩn hiệp ước trừ Hàn Quốc, nước được áp dụng những thể thức khác, nhằm mục đích rõ ràng là chĩa mũi nhọn vào nước láng giềng Triều Tiên. Cũng vào thời gian này, các nhà lãnh đạo quân sự Mỹ và Hàn Quốc đã gặp nhau trong cuộc họp tham vấn về an ninh, và họ đã thỏa thuận với nhau rằng sẽ có những thay đổi triệt để trong liên minh tay đôi này. Quan trọng hơn là hai bên đã nhất trí phát triển kế hoạch “răn đe thích hợp” bao gồm các chiến dịch quân sự phối hợp giữa Hàn Quốc và Mỹ theo một số kịch bản cụ thể, kể cả những vụ rắc rối nhỏ nhất nếu nó xảy ra giữa Hàn Quốc với Triều Tiên. Theo liên minh này, trước “sự khiêu khích” từ phía Triều Tiên cần phải được đáp trả với một sức mạnh không cân xứng và theo một nhà lãnh đạo quân sự Hàn Quốc, chiến dịch sẽ được áp dụng cả trong thời bình lẫn trong thời chiến. Một thành phần chủ yếu của kế hoạch “răn đe thích hợp” là một “dây chuyền triệt hạ”, nhằm phát hiện và tấn công các địa điểm bố trí tên lửa đạn đạo nếu có của Triều Tiên, do vệ tinh và máy bay không người lái của Mỹ dò tìm mục tiêu, sau đó các tên lửa và máy bay chiến đấu Hàn Quốc sẽ xóa sổ chúng.

Nhớ lại hồi tháng 12 năm ngoái, khi Triều Tiên phóng một vệ tinh quan sát mặt đất lên quỹ đạo, Chính quyền Obama lập tức lên án gay gắt và tố cáo đây là một cuộc thử nghiệm tên lửa đạn đạo trá hình. Điều đáng nói là đúng ngày Triều Tiên phóng vệ tinh vào vũ trụ, một cường quốc hạt nhân khác là Ấn Độ cũng tiến hành một vụ phóng thử tên lửa đạn đạo, nhưng Mỹ không hề đưa ra một lời chỉ trích nào. Mỹ không thiếu các kỹ sư hàng không vũ trụ và chắc chắn họ quá hiểu rằng việc phóng vệ tinh của Triều Tiên, xét về mặt kỹ thuật, không thể được coi là một cuộc thử tên lửa đạn đạo ngụy trang. Dường như Chính quyền Obama đã lựa chọn một cách có cân nhắc bóp méo bản chất của việc phóng vệ tinh này để tiếp tục thực hiện những mưu đồ chính trị có chủ ý của mình đối với Triều Tiên. Và chính việc Triều Tiên phóng vệ tinh đã tạo cho Chính quyền Obama một cơ hội để siết chặt thêm thòng lọng xung quanh quốc gia bần cùng này. Như người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ, Victoria Nuland, đã không giấu giếm ý đồ của Chính quyền Obama là “tiếp tục gia tăng sức ép với chế độ Triều Tiên, và chừng nào Triều Tiên chưa thay đổi chính sách hiện hành thì Mỹ sẽ vẫn tiếp tục cô lập chế độ này hơn nữa”. Và đúng như vậy, với việc thông qua nghị quyết 2087 của Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc vào ngày 22/1/2013, những biện pháp trừng phạt mới, hà khắc hơn nhiều, đã được áp đặt đối với Triều Tiên.

Về phần mình, đương nhiên là Triều Tiên đã phản ứng rất mạnh mẽ và gay gắt vì họ ngày càng bị cô lập hoàn toàn, trở thành quốc gia duy nhất trên trái đất không được phép phóng vệ tinh. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Triều Tiên lưu ý rằng bằng cách buộc Liên Hợp Quốc thông qua nghị quyết trên, Mỹ đã vi phạm trắng trợn Hiến chương Liên Hợp Quốc về nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền của tất cả các nước thành viên. Phát biểu tại Liên Hợp Quốc, đại diện chính thức của Triều Tiên, So Se Pyong, chỉ rõ rằng đã có không dưới 2.000 vụ thử hạt nhân và 9.000 vụ phóng vệ tinh trên thế giới từ khi tổ chức này được thành lập cách đây gần 7 thập kỷ, nhưng chưa bao giờ có một nghị quyết của Hội đồng bảo an cấm các vụ thử hạt nhân và phóng vệ tinh. Theo quan chức này, Mỹ đã tiến hành các vụ thử hạt nhân và phóng vệ tinh nhiều hơn bất kỳ nước nào khác. Mỹ không thể ngăn cản Triều Tiên thực thi quyền “sử dụng vũ trụ vào mục đích dân sự” của mình, và Mỹ không được sử dụng Liên Hợp Quốc như một công cụ để thực hiện chính sách thù địch đối với Triều Tiên. Viện dẫn những thí dụ về số phận của Iraq và Lybia, đại diện Triều Tiên khẳng định nước ông kiên quyết chống lại sự bắt chẹt hạt nhân của Mỹ bằng những phương, sách riêng của mình, và kiên quyết không thỏa hiệp, không lùi bước.

Cùng với Mỹ, Liên minh châu Âu (EU) đã không đứng ngoài cuộc với việc siết chặt thêm các biện pháp trừng phạt chống Bắc Triều Tiên, như cấm buôn bán với các thực thể của quốc gia Đông Á này và cấm các ngân hàng châu Âu mở chi nhánh ở Triều Tiên, đồng thời không cho phép các ngân hàng Triều Tiên lập cơ sở trên lãnh thổ EU, v.v. Có thể nói Triều Tiên đang bị làm khó trăm bề khi đương đầu với Mỹ, EU và các nước láng giềng như Nhật Bản và Hàn Quốc. Chỉ riêng Nghị quyết 2094 được Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc thông qua cách đây chưa lâu đã giúp Mỹ có thể thực hiện được rất nhiều mục tiêu đối với Bắc Triều Tiên. Nghị quyết này cho phép tất cả các nước được quyền thanh tra các tàu biển và máy bay của Triều Tiên nếu nghi ngờ vận chuyển hàng hóa bị cấm. Nghị quyết này cũng đồng thời áp đặt rất nhiều hạn chế đối với các hoạt động ngân hàng của Triều Tiên, theo đó, các nước được lệnh ngăn chặn các cá nhân Triều Tiên, các nhân viên ngoại giao chuyển những số tiền lớn và buộc họ phải chấp nhận sự kiểm tra gắt gao mặc dù điều này là một sự vi phạm công ước Vienna về quyền miễn trừ ngoại giao. Song, rõ ràng là để bóp nghẹt được chế độ Bắc Triều Tiên, Mỹ và phương Tây sẵn sàng bỏ qua mọi sự vô lý, kể cả những vi phạm công khai ấy.

* * *

Tạp chí Foreign Affairs – Tháng 7-8/2013

Tại sao Washington nên học cách làm việc với Triều Tiên

Khoảng 10 rưỡi tối ngày 3/4/2013, Lee Hyeok-cheol, một ngư dân đào thoát khỏi Triều Tiên 6 năm trước, đã cướp một chiếc thuyền đậu ở Đảo Yeonpyeong do Hàn Quốc kiểm soát và đi nhanh về đất nước ông đã từ bỏ. Lực lượng giám sát của Hàn Quốc không phát hiện ra chiếc thuyền của ông trong vòng 15 phút, và vào lúc họ có thể tổ chức một cuộc đuổi bắt, Lee đã tiến vào vùng biển của Triều Tiên. Chủ thuyền đã gọi được Lee van nài ông quay về miền Nam, nhưng Lee không muốn: “ông là đồ xấu xa!”, ông ta trả lời. “Đáng ra ông phải tốt hơn với tôi khi tôi ở đó!”

Lee đã thực hiện chuyến hành trình ban đêm táo bạo của mình trong giai đoạn căng thẳng gia tăng trên Bán đảo Triều Tiên. Vào cuối tháng 3/2013, Triều Tiên đã bắt đầu một loạt sự hăm dọa gần như hàng ngày chống lại Mỹ và cắt đường dây nóng quân sự với Hàn Quốc. Trong một biểu hiện ủng hộ Seoul, Washington đã cử hai máy bay ném bom tàng hình B-2 có khả năng hạt nhân để thực hiện một chuyến bay ném bom giả ngoài bờ biển Hàn Quốc. Và các quan chức Hàn Quốc đã đáp lại bằng cách hứa sẽ đánh bom trung tâm Bình Nhưỡng, kể cả những bức tượng Kim Nhật Thành và Kim Jong II, nếu Triều Tiên tấn công. Những người đứng đầu nhà nước mới của hai miền Triều Tiên – Kim Jong Un ở miền Bắc và Park Geun Hye ở miền Nam – đã phải bắt đầu với một khởi đầu đặc biệt tồi tệ.

Vào đêm 3/4/2013 đó, lính canh gác biên giới Triều Tiên, không phát hiện ra chuyến hồi hương đột ngột của Lee, có thể đã dễ dàng nhầm sự trở về của người ngư dân này với một chiến dịch ngầm của Hàn Quốc và bắn ông. Nếu họ làm vậy, các chỉ huy hải quân Hàn Quốc – những người được nhận lệnh, theo lời bà Park Geun Hye, “đáp trả mạnh mẽ (đối với một sự khiêu khích) trong giai đoạn đầu mà không cần bất kỳ sự cân nhắc chính trị nào” – có thể đã nhầm việc nổ súng là một hành động hiếu chiến và mở một cuộc tấn công vào bờ biển Triều Tiên. Và do đó cuộc chiến tranh bán lạnh kéo dài 60 năm trên bán đảo Triều Tiên có thể đã nhanh chóng trở nên nóng bỏng một lần nữa – và là một cuộc chiến tranh hạt nhân.

Tình tiết này cho thấy tình trạng đối đầu với Triều Tiên đã trở nên nguy hiểm như thế nào. Với cả hai bên cảnh giác cao, xung đột quy mô lớn, điều không bên nào thực sự muốn, có thể nổ ra vì một sai sót. Kết quả sẽ là tai hại. Ngoài mất mát sinh mạng lớn, và khả năng các cuộc tấn công hạt nhân, chiến tranh sẽ làm khu vực bất ổn, có thể buộc Mỹ, Trung Quốc và các nước khác phải can thiệp, với kết quả không rõ ràng ngoại trừ sự tàn phá to lớn ở một trong những khu vực kinh tế năng động nhất thế giới.

Ngoài sự thông tin liên lạc yếu kém, nguy cơ chiến tranh được gia tăng bởi một sự thiếu hiểu biết lẫn nhau nghiêm trọng ở cả hai bên. Trong bối cảnh đó, việc biết được làm thế nào và tại sao Bình Nhưỡng làm điều mà nước này làm là quan trọng hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, 18 tháng sau khi Kim Jong Un lên nhậm chức lãnh đạo tối cao, các đối thủ của Triều Tiên vẫn đang phải vật lộn để tìm ra điều khiến ông và chế độ của ông đứng vững. Victoria Nuland, người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Mỹ, đã tình cờ làm nổi bật vấn đề vào ngày 5/4/2013, khi bà trả lời một câu hỏi về việc tại sao các nhà lãnh đạo Triều Tiên lại cư xử một cách đầy khiêu khích bằng việc nói: “Tôi không thể ở trong đầu họ để biết họ nghĩ gì”.

Đi như một ngưi Triều Tiên

Nuland không cô độc; không nhiều người ngoài cuộc có bất kỳ sự hiểu thấu nào về cách suy nghĩ của Triều Tiên. Trong danh sách ngắn các học giả có hiểu biết có Andrei Lankov, người mà cuốn sách mới của ông, Triều Tiên thật sự, nên được làm tài liệu đọc bắt buộc cho bất kỳ ai đang cố gắng hiểu lịch sử, hoạt động chính trị và xã hội Triều Tiên. Là một nhà sử học được giáo dục ở Liên Xô, học tại trường Đại học Kim Nhật Thành ở Bình Nhưỡng vào giữa những năm 1980 và hiện là giáo sư tại trường Đại học Kookmin ở Seoul, Lankov có một quan điểm đáng chú ý về chủ đề của mình. Kết hợp tầm nhìn lịch sử sâu rộng với chi tiết phong phú về cuộc sống đương đại, cuốn sách mới của ông mô tả Triều Tiên là một nhà nước theo chủ nghĩa Stalin thất bại đã sống sót thần kỳ sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc và đã tìm cách duy trì hệ thống chính trị và hệ tư tưởng của mình trước những biến đổi kinh tế xã hội sâu sắc. Sự miêu tả của ông về đất nước này thể hiện một đóng góp cho ngành nghiên cứu Triều Tiên phát triển kém một cách đáng thương, giống như cuốn sách năm 2009 của Barbara Demick, Không có gì đghen tị, đem lại một cửa sổ hiếm có và đầy tính chỉ dẫn nhìn vào cuộc sống tại đó.

Triều Tiên thật sự tuyệt vời nhất ở việc giải thích nguồn gốc và sự phát triển của chế độ, bắt đầu với những ngày du kích của Kim Nhật Thành chiến đấu chống người Nhật Bản trong Hồng quân của Mao Trạch Đông và Josepth Stalin sau đó. Có lẽ không bất ngờ, với lai lịch cá nhân của Lankov, tác giả nhìn nhận Triều Tiên qua một lăng kính Soviet, một quan điểm chứng tỏ là đặc biệt hữu ích để hiểu được sự phát triển ban đầu của chính phủ nước này. Xem xét các bức điện được gửi từ Đại sứ quán Liên Xô tại Bình Nhưỡng trong những năm 1950, Lankov tái tạo lại câu chuyện về cuộc họp Ủy ban Trung ương Đảng vào năm 1956 ở Bình Nhưỡng, tại đó Kim Nhật Thành đã đánh bại những thách thức đối với sự lãnh đạo của ông từ các phe phái thân Trung Quốc và thân Liên Xô. Sự kiện then chốt này là trọng tâm trong luận điểm của Lankov cho rằng Kim Nhật Thành “đã Stalin hóa hơn cả Stalin”: trong khi Nikita Khrushchev đã tiết chế chủ nghĩa cộng sản Soviet trong những năm 1950, Kim đã gia tăng dự án theo chủ nghĩa Stalin của ông bàng cách tập trung hóa đặt kế hoạch kinh tế và tập trung quyền lực chính trị của mình.

Nhưng đánh giá của Lankov về Triều Tiên theo các tiêu chuẩn Soviet trở nên ít hữu ích hơn khi câu chuyện tiếp tục. Ảnh hưởng của Moskva đã suy yếu theo thời gian, và tính chất Đông Á, thay vì đại lục Âu Á, của chủ nghĩa cộng sản Triều Tiên đã trở nên ngày càng rỗ rệt. Lankov công nhận điều đó khi ông viết: “Chủ nghĩa cộng sản ở Đông Á được nhìn nhận rộng rãi là một con đường tắt dẫn tới sự hồi sinh và hiện đại quốc gia, một cách không chỉ để giải quyết các vấn đề xã hội mà còn để vượt qua những giai đoạn lạc hậu và phụ thuộc thực dân trong quá khứ”. Những mục tiêu của việc phản đối chủ nghĩa đế quốc phương Tây và tái thống nhất lãnh thổ đã định hình chiến lược của Bình Nhưỡng theo một cách ít thích hợp với lịch sử Nga và phần lớn các nước Đông Âu hơn và tuy nhiên hoàn toàn tương đương với sứ mệnh của Mao Trạch Đông ở Trung Quốc đại lục và của Hồ Chí Minh ở miền Bắc Việt Nam. Quả thực, sự ra vẻ can đảm của Kim Jong Un trong việc trao đổi những mối đe dọa quân sự với Mỹ trong mùa Xuân vừa qua đã đánh bóng phẩm chất của ông là một người nổi nghiệp xứng đáng với truyền thống này. Việc phớt lờ nhấn mạnh làm cách nào chủ nghĩa dân tộc chống đế quốc của gia đình họ Kim tiếp tục đóng một vai trò trung tâm trong tuyên bố của chế độ về tính hợp pháp chính trị là một sai lầm nghiêm trọng trong phân tích của Lankov.

Bí mật mà ai cũng biết

Sự tập trung của Lankov vào Liên Xô dường như cũng đã thuyết phục ông rằng chế độ Triều Tiên không thể đi theo mô hình của Trung Quốc và Việt Nam bằng cách duy trì hệ thống chính trị và chuyển đổi nền kinh tế của mình. Lankov lập luận rằng không giống Trung Quốc và Việt Nam trong những năm 1970 và 1980, giới lãnh đạo hiện tại của Triều Tiên không dám mở cửa nền kinh tế của nước này và bình thường hóa quan hệ với phương Tây vì việc đi theo đường lối đó sẽ phơi bày “khoảng cách lớn” giữa sự nghèo khổ của Triều Tiên và sự thịnh vượng của Hàn Quốc, khiến người dân Triều Tiên từ bỏ chế độ và di chuyển hàng loạt xuống miền Nam. Tuy nhiên, nếu không có cải cách kinh tế, Triều Tiên cuối cùng sẽ cạn kiệt tài nguyên. Lankov lập luận do đó, Triều Tiên, giống như Liên Xô, một ngày nào đó sẽ không còn tồn tại.

Trong khi đó, Bình Nhưỡng tiếp tục tách biệt với thế giới và hăm dọa các nước giàu có hơn để đòi trao viện trợ mà nước này cần để tồn tại. Cách hành xử của Kim Jong Un mùa Xuân vừa qua dường như phù hợp với mẫu hình mà Lankov đặt ra: “Đầu tiên tạo ra một cuộc khủng hoảng, sau đó leo thang căng thẳng, và cuối cùng thu về các khoản tiền và nhượng bộ để khôi phục lại nguyên trạng”. Ông lập luận, chiến lược này có thể có hiệu quả trong ngắn hạn, nhưng nó cuối cùng không bền vững, dự đoán rằng chế độ sẽ sụp đổ vào năm 2030 – và thậm chí có thể sớm hơn nếu Kim Jong Un ngu ngốc đến mức thử tìm cách cải cách kinh tế.

Vấn đề với cách giải thích của Lankov về việc tại sao Triều Tiên không thể theo đuổi sự phát triển kinh tế là nó bị mâu thuẫn bởi chính bằng chứng của ông về việc bao nhiêu thông tin đã rò rỉ qua biên giới Trung Quốc đầy lỗ hổng. Quá trình này bắt đầu gần 20 năm trước khi những lượng lớn người Triều Tiên chạy trốn sang Trung Quốc, ban đầu là để thoát khỏi nạn đói và sau đó là để tìm việc. Nạn đói những năm 1990 đã phá hủy Triều Tiên theo kế hoạch hóa tập trung, được tổ chức chặt chẽ cao độ do Kim Nhật Thành thiết lập, tạo ra Triều Tiên “thật sự” mà Lankov khéo léo mô tả, một xã hội bán thị trường hóa, có tính di động cao trong đó khoảng 2 triệu người có điện thoại di động và “chủ nghĩa tư bản cơ sở” đang phát triển bất chấp những nỗ lực theo từng giai đoạn của chế độ nhằm khôi phục hệ thống kinh tế cũ. Những khu vực như vận tải đã được tư nhân hóa, Lankov giải thích, mô tả một người đào thoát Triều Tiên mà ông gặp ở Seoul, người đã điều hành một công ty xe tải nhỏ ở miền Bắc. Lankov cũng trích dẫn những nghiên cứu thực tiễn về sự nổi lên của các thị trường của nông dân, sự phổ biến các cửa hiệu bán lẻ tư nhân và nhà hàng, và sự tự do di chuyển ngày càng tăng của người dân. Sự di động này gồm cả việc đút lót để đến được Trung Quốc và liên hệ với các mạng lưới thương mại mà thậm chí có thể liên kết lên tới hơn 20.000 người Triều Tiên đã tái định cư ở miền Nam. Dòng người, hàng hóa và tiền gửi không ồn ào nhưng liên tục này có nghĩa là phần lớn người Triều Tiên có được thông tin chi tiết về sự thịnh vượng ở Hàn Quốc và sự tăng trưởng nhanh chóng của Trung Quốc. Quả thực, nhiều người trong số họ xem các bộ phim truyền hình Hàn Quốc lưu trữ trong các ổ USB và đĩa DVD được buôn lậu từ Trung Quốc.

Nói cách khác, bí mật không giữ được. Người Triều Tiên biết rằng họ đang tụt lại xa phía sau những nước láng giềng của mình. Hơn nữa, họ đã nghe về những người Triều Tiên đào thoát đang làm ăn tồi tệ như thế nào ở miền Nam siêu cạnh tranh, nơi những người miền Bắc tái định cư phải vật lộn để duy trì những công việc được trả lương thấp và than phiền về sự cô lập xã hội. Lời bình luận chia tay đầy căm thù của Lee, người ngư dân đã quay trở lại Triều Tiên, nắm bắt cảm xúc của nhiều, nếu không muốn nói là phần lớn, những người Triều Tiên hiện đang tìm cách sống lần hồi như những công dân hạng hai ở miền Nam. Lankov thừa nhận sự khốn khổ của những người đào thoát nhưng không liên kết điều đó lại để công nhận rằng sự thu hút về Hàn Quốc không phải là một lựa chọn đặc biệt hấp dẫn đối với người Triều Tiên, chính xác vì hố sâu ngăn cách về kinh tế do vĩ tuyến 38 tạo ra.

Không có gì đưc bảo đảm

Miếng ghép lớn khác của trò chơi xếp hình Triều Tiên không có trong phân tích của Lankov là một sự cân nhắc về tình hình địa chính trị không ổn định của Triều Tiên và ảnh hưởng của nó đối với chiến lược của chế độ. Nước này đã phải chịu một cảm giác bất ổn quốc tế buốt nhói kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, khi Moskva từ bỏ Bình Nhưỡng, đột ngột làm xấu đi quan hệ thương mại và viện trợ kinh tế, và Bắc Kinh phản bội lại Bình Nhưỡng bằng việc bình thường hóa quan hệ với Seoul. Mỹ duy trì các đội quân đóng tại thủ đô của đồng minh “then chốt” của mình, Hàn Quốc, và tổ chức các cuộc diễn tập quân sự quy mô lớn để nhắc nhở cho Bình Nhưỡng rằng nước này sẵn sàng san bằng Triều Tiên, như nước này đã làm trong những năm 1950, nếu chiến tranh nổ ra. Trong một môi trường như vậy, Bình Nhưỡng không dám chuyển từ triển khai sức mạnh sang tạo ra thịnh vượng. Sự bất ổn địa chính trị này là một cách giải thích tốt hơn cho cách tiếp cận chậm chạp đối với cải cách kinh tế và mở cửa của Triều Tiên so với tuyên bố chính của Lankov rằng Bình Nhưỡng phải bưng bít công dân của mình về sự thành công của Hàn Quốc.

Trên thực tế, có thể lập luận rằng Triều Tiên đang theo đuổi mô hình cải cách của Trung Quốc – mặc dù theo một cách chỉ có thể được đánh giá đúng nếu người ta có một cái nhìn lâu dài về sự mở cửa của Trung Quốc. Bắc Kinh đã có được vũ khí hạt nhân trong những năm 1960 và đàm phán một sự hòa hoãn với Washington vào đầu những năm 1970, vào thời điểm khi cuộc Cách mạng Văn hóa vẫn đang diễn ra ác liệt và giới lãnh đạo Trung Quốc dường như điên cuồng đối với nhiều người ngoài cuộc. Chỉ khi đó, sau khi đạt được đôi chút an ninh này, Đảng Cộng sản dưới thời Đặng Tiểu Bình rốt cuộc mới ưu tiên phát triển kinh tế. Khi được hỏi tại sao Bình Nhưỡng từ chối một cách quá ương ngạnh theo đuổi mô hình thành công của Trung Quốc, các chuyên gia người Trung Quốc về Triều Tiên chỉ ra rằng Triều Tiên hiện nay giống với Trung Quốc vào năm 1970: chờ đợi một sự bảo đảm an ninh từ Washington trước khi bắt tay vào cải cách kinh tế thật sự.

Kim Jong Un đã báo hiệu rằng ông muốn tiến gần đến giai đoạn tiếp theo của cái ông gọi là “xây dựng kinh tế”. Dấu hiệu quan trọng nhất của khát khao này, điều đã biến mất trong sự ầm ĩ của các mối đe dọa hạt nhân, tới vào ngày 1/4, khi Kim Jong Un thăng chức cho nhà kỹ trị thực dụng Pak Pong Ju lên vị trí thủ tướng, giao cho ông ta nhiệm vụ giám sát sự tăng trưởng kinh tế. Một thập kỷ trước, Pak Pong Ju đã dẫn dắt các nỗ lực “cải thiện kinh tế”, tập trung vào việc cho phép sự tư nhân hóa lớn hơn, đưa giá cả và lương đến chỗ phù hợp với thị trường, và thu hút đầu tư nước ngoài, nhưng ông đã bị đẩy ra ngoài lề vào năm 2006 bởi một phản ứng chống cải cách dữ dội. Ông đã tái xuất với sự nổi lên của Kim Jong Un, và hiện tại, với tư cách là thủ tướng, ông có thể làm việc với các nhà lãnh đạo thực dụng ở Bắc Kinh, Seoul, Tokyo và thậm chí cả Washington. Sự trở lại chức thủ tướng của Pak Pong Ju là một dấu hiệu rõ rằng Kim Jong Un coi trọng kinh tế và có một thiên hướng cải cách.

Làm hòa

Mặc dù những hiểu biết sâu sắc phong phú về quá khứ và hiện tại của Triều Tiên, cuốn Triều Tiên thực sự đánh giá thấp các lực lượng cải cách kinh tế này, đánh giá quá cao sự chắc chắn sụp đổ chế độ, và cuối cùng không thể mang lại những gợi ý hữu ích để giải quyết cuộc xung đột Triều Tiên. Theo Lankov, điều duy nhất Washington có thể làm là chờ đợi sự kết thúc không thể tránh khỏi của chế độ này, có lẽ mang lại một cú huých tại đâu đó bằng việc phơi bày Triều Tiên ra trước thế giới bên ngoài biên giới của họ. Nhưng nước này đã tồn tại hơn 60 năm và, như ngay cả Lankov cũng thừa nhận, có thể tồn tại một hay hai thập kỷ nữa, nếu không muốn nói là lâu hơn, kéo dài mối nguy hiểm của chiến tranh trong tương lai có thể thấy trước.

Một cách tốt hơn – quả thực, cách thực sự duy nhất – để thoát khỏi vũng lầy Triều Tiên là Washington phải dẫn đầu việc giải quyết vấn đề mất an ninh của Bình Nhưỡng thông qua một tiến trình hòa bình toàn diện, gồm cả một hiệp ước thay thế thỏa thuận đình chiến hiện tại và cuối cùng chấm dứt cuộc Chiến tranh Triều Tiên. Phi hạt nhân hóa nên là mục tiêu được thực hiện từng bước cuối cùng, nhưng không phải là điều kiện tiên quyết cho tiến trình đàm phán. Trong quá trình đó, để xây dựng lòng tin và tạo ra động lực cho giải pháp cuối cùng của cuộc xung đột, bà Park Geun Hye nên thực hiện mọi nỗ lực để nối lại sự hợp tác kinh tế nghiêm túc với miền Bắc bằng cách mở rộng các dự án kinh tế chung, như khu công nghiệp Keasong và Khu du lịch núi Kumgang, và mở ra những con đường mới để ràng buộc cả hai nước Triều Tiên với hòa bình, ổn định và sự hợp tác hơn nữa.

Đương nhiên, nếu bà Park Geun Hye và Tổng thống Mỹ Barack Obama theo đuổi kiểu chiến lược “phát triển hòa bình” này như cách gọi của học giả Wang Dong thuộc Đại học Bắc Kinh, những người chỉ trích sẽ tuyên bố họ đang nhượng bộ và trao thưởng cho hành vi xấu, lập lại những các buộc nhằm vào Tổng thống Richard Nixon khi ông có chuyến đi lịch sử tới Bắc Kinh năm 1972. Nhưng trên thực tế, chính việc Washington dựa vào các biện phát trừng phạt và sức mạnh quân sự mới trao thưởng cho hành vi xấu của những người theo đường lối cứng rắn ở Bình Nhưỡng, những người dùng những sự khiêu khích như vậy để biện minh cho những sự đe dọa phản công và chi tiêu quốc phòng. Khi không có sự can dự ngoại giao và hợp tác kinh tế, những người ôn hòa ở Bình Nhưỡng hầu như không có đòn bây trong các cuộc tranh luận chính sách trong nước. Vòng quay thù hận nàv tự nó duy trì.

Cuốn Triều Tiên thực sự do đó hóa ra là một câu chuyện sắc sảo về lịch sử và xã hội Triều Tiên, nhưng là một hướng dẫn ít đáng tin cậy hơn cho chính sách về Triều Tiên. Nếu bà Park Geun Hye và Obama trung thành với chính sách thất bại của Nhà Trắng là “kiên nhẫn chiến lược”, chờ đợi để vấn đề đơn thuần là tự mất đi, như Lankov tuyên bố rằng nó sẽ xảy ra, thì tất cả các bên đều có nguy cơ có một ngư dân “bất hảo” kích động một cuộc Chiến tranh Triều Tiên nữa.

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
This entry was posted in Archives, Articles, International relations and tagged , , , , , , , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s