ĐÁNH GIÁ VỀ BẢN CHẤT QUAN HỆ TRUNG-MỸ HIỆN NAY

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Phần đầu:

Thứ Hai, ngày 07/10/2013

TTXVN (New York 4/10)

Với nhận đnh “Trung Quốc chưa thể qua mặt Mỹ ở châu ”, tờ “Al- Alam As-Siasyia” (Chính trị thế giới) vừa có bài viết về việc Trung Quốc đang chạy đua quyết liệt với Mỹ để làm b chủ châu Á. Dưới đây là phần nội dung chnh:

Dường như Trung Quốc đang muốn làm tất cả để giảm bớt sức mạnh của Mỹ và giành được vị trí thống trị, nhất là ở châu Á. Để đạt được mục tiêu này, Trung Quốc đã chơi con bài kinh tế và quân sự. Các nước trong khu vực có những phản ứng khác nhau trước việc làm như vậy, nhìn chung họ không đi theo Bắc Kinh, nhưng cũng không tỏ thái độ phản đối thẳng thừng. Bối cảnh địa chính trị khu vực vì vậy cũng khác nhau và có phần nào khó hiểu như chính bản chất của cường quốc Trung Quốc: cường quốc khu vực hay cường quốc toàn cầu đang thai nghén?

Năm 2010, Trung Quốc trở thành cường quốc kinh tế thứ hai trên thế giới, sau Mỹ. Dân số nhiều nhất trên thế giới và diện tích khá lớn, ảnh hưởng ngoại giao và sự lớn mạnh nhanh chóng về quân sự, v.v làm cho Trung Quốc trở thành quốc gia duy nhất có tham vọng vươn lên ngang hàng với Mỹ, thậm chí, đến lúc nào đó sẽ vượt Mỹ. Từ khi diễn ra Thế vận hội Olympic Bắc Kinh (2008) và bắt đầu cuộc khủng hoảng tài chính cũng vào năm ấy, người ta có cảm tưởng chung là Trung Quốc không còn do dự trong việc khẳng định sức mạnh của mình nữa, cho dù nước này chưa phải là cường quốc duy nhất ở châu Á, và không ai có thể phác thảo nền địa chính trị ở châu Á mà không nói đến “siêu cường châu Á” là Mỹ. Người ta đã nói nhiều đến “sự trở lại” châu Á của Mỹ, nhưng thực ra, ai cũng biết, Mỹ đã có mặt ở châu Á về quân sự từ năm 1945 và về mặt chính trị ít nhất là từ giữa thế kỷ 19. Nhưng việc tái tạo địa chính trị cho thấy rõ có xu hướng hiện nay châu Á dường như là một cuộc cạnh tranh Trung-Mỹ, và sự cạnh tranh ấy chẳc chắn sẽ còn kéo dài rất nhiều năm nữa.

Mục tiêu của Trung Quốc: Giảm bớt sự có mặt của Mỹ ở châu Á

Khôi phục một quyền lực ở khu vực là mục tiêu của Trung Quốc được dư luận rất chú ý trong những năm vừa qua. Thế nhưng, điều cũng khá rõ ràng là nhiều nhà lãnh đạo và chuyên gia của Trung Quốc vẫn mưu toan chia rẽ thế giới thành những vùng ảnh hưởng riêng của họ bởi họ rất khó chịu với vị trí của Mỹ, nhất là ở khu vực Đông Á, nơi có Trung Quốc. Vì vậy, mục tiêu ưu tiên của Bắc Kinh là làm suy yếu sự có mặt của Washington ở châu Á và đặc biệt là từng bước đẩy xa tới mức có thể lực lượng quân sự của Mỹ khỏi các vùng biển ở khu vực này, nơi có nguy cơ bị biến thành một cuộc đối đầu song phương, với một bên là Trung Quốc, còn bên kia là bất cứ quốc gia nào khác đang có tranh chấp lãnh hải với Bắc Kinh. Đối với Trung Quốc, việc làm suy yếu sự có mặt của Mỹ tại châu Á sẽ cho phép họ giành được vị trí thống trị tại khu vực này, nhất là ở Đông Á. Vụ EP3 ở ngoài khơi bờ biển Hải Nam hồi tháng 4/2001 hay vụ Impeccable hồi tháng 3/2009 ở Biển Đông đã cho thấy tham vọng này. Hồi tháng 4/2001, một máy bay tiêm kích của Trung Quốc đã đánh chặn và suýt va chạm với một máy bay do thám EP3 của Mỹ trong vùng không phận quốc tế ở ngoài khơi bờ biển Hải Nam. Phi hành đoàn chỉ được giải thoát sau một cuộc thương lượng khó khăn. Đầu tháng 3/2009, một tàu giám sát biển Impeccable, không có vũ khí thuộc Hạm đội 7 của Mỹ, đã bị các tàu đánh cá của Trung Quốc phong tỏa theo lệnh của Bắc Kinh vì muốn tranh giành tính hợp pháp về sự có mặt của tàu này tại nơi mà Trung Quốc tự nhận là các vùng đặc quyền kinh tế của họ và tố cáo tàu này dò la các hoạt động của tàu ngầm Trung Quốc trong khu vực. Bằng sự mạo hiểm có tính toán, Chính phủ Trung Quốc đã tìm cách ngăn chặn Mỹ tiếp tục các hoạt động giám sát tại các vùng đặc quyền kinh tế, không phận và hải phận mà Trung Quốc nhận là của mình và yêu cầu việc đi lại và các hoạt động của các máy bay và tàu chiến của nước khác tại khu vực này phải được phép của Trung Quốc, về lâu dài, Trung Quốc có tham vọng biến khá nhiều vùng biển như Biển Hoa Đông lẫn Hoa Nam (Biển Đông) thành ao nhà của mình. Cách đây vài năm, một viên tướng Trung Quốc đã công khai lên tiếng, đòi Mỹ chia sẻ vùng Thái Bình Dương với một tuyến đường ngăn cách nằm ở phía Tây đảo Hawaii. Tháng 2/2012, nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình khi thăm Mỹ đã nói với các vị chủ nhà Mỹ rằng Thái Bình Dương đủ rộng lớn để Trung Quốc và Mỹ cùng tồn tại hòa bình ở đó. Người ta không thể không lưu tâm tới câu nói hóm hỉnh và đầy tham vọng này…

Ngoài mục tiêu chủ yếu ấy, Trung Quốc còn theo đuổi một loạt mục tiêu đặc biệt hơn, đó là những mục tiêu liên quan đến bản chất của chế độ, đến sự toàn vẹn quốc gia, sáp nhập Đài Loan, yên ổn ở Tây Tạng và Tân Cương, và cả những yêu sách ở Biển Đông (quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) và ở Biển Hoa Đông (Điếu Ngư/Senkaku). Mục đích lâu dài của Trung Quốc ở Biển Đông là chiếm phần lớn các hòn đảo đang do các nước khác kiểm soát (Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei, Đài Loan). Liên quan đến Đài Loan, mục tiêu trước mắt không phải là tái thống nhất mà là thiết lập mối quan hệ phụ thuộc về kinh tế và chính trị của Đài Bắc vào Bắc Kinh. Ở Bắc Á, Trung Quốc có hai mục tiêu: duy trì sự chia rẽ bán đảo Triều Tiên và cô lập Nhật Bản. Trong những năm qua mục tiêu đầu tiên đã khiến Trung Quốc phải ủng hộ Triều Tiên bất chấp mọi trở ngại, nhất là việc Triều Tiên lại tiếp tục chương trình hạt nhân quân sự sau năm 2002 và vào năm 2010, năm được đánh dấu bằng hai vụ khiêu khích lớn chống lại các lực lượng vũ trang của Hàn Quốc. Cái chết của Kim Jong II vào tháng 12/2011 đã tạo cho Trung Quốc cơ hội lợi dụng sự phụ thuộc ngày càng tăng của nền kinh tế Triều Tiên vào Trung Quốc để họ áp đặt cho nhà lãnh đạo trẻ tuổi Kim Jong Un cuộc cải cách cơ cấu củng cố chế độ Triều Tiên và như vậy sẽ tiếp tục chia rẽ được bán đảo Triều Tiên. Cô lập Nhật Bản ở châu Á trong khi vẫn mang lại thêm lợi ích cho nền kinh tế Trung Quốc: đó là hai ưu tiên của Bắc Kinh. Là nước châu Á đầu tiên thực hiện thành công công cuộc hiện đại hóa, là nước trước đây từng xâm lược Trung Quốc và là đồng minh chính của Mỹ ở Đông Á, Nhật Bản luôn là nước “đáng khả nghi” đối với người Trung Quốc. Nhưng sự suy yếu tương đối gần đây của Nhật Bản như trì trệ trong một thời gian dài về kinh tế, dân số già hóa, các tầng lớp tinh hoa chính trị hầu như tê liệt,v.v đã khiến Trung Quốc tăng cường sức ép về vấn đề đảo Điếu Ngư/Senkaku, nhưng hiện vẫn không có gì báo hiệu họ sẽ thành công.

Việc vào năm 2004 Trung Quốc và các nước ASEAN ký một thỏa thuận về quan hệ đối tác chiến lược đã dập tắt mọi ý định manh nha phản kháng tập thể của tổ chức này trước sự trở nên hùng mạnh về ngoại giao của Trung Quốc trong khu vực. Việc hiệp định thương mại tự do giữa Trung Quốc và ASEAN có hiệu lực vào tháng 1/2010 đã đẩy mạnh sự hòa nhập về kinh tế trong khu vực, mà Trung Quốc là bên được hưởng lợi nhiều nhất. Vờ chấp nhận một quan điểm đa phương về những bất đồng chủ quyền ở Biển Đông, Trung Quốc đã ký với ASEAN ngay từ năm 2002 tại Phnom Penh “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC), song điều này vẫn không ngăn cản Trung Quốc khẳng định các yếu sách của mình và tăng cường sự có mặt trên biển (các tàu tuần tra bờ biển, đánh cá v.v…) tại khu vực này. Mối quan tâm của Trung Quốc là bảo đảm rằng Đông Nam Á vẫn chia rẽ. Nếu nhìn sang Nam Á, sẽ lại thấy rõ một quốc gia nằm trong toan tính của Trung Quốc: Pakistan vẫn được Trung Quốc coi là một đồng minh có thể ngăn chặn sự hùng mạnh trong khu vực của Ấn Độ và giữ một vai trò ổn định có tính quyết định về lâu dài ở Afghanistan, khi Mỹ và các lực lượng của Tổ chức hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) rời khỏi đất nước này vào năm 2014. Mặt khác, đối với Trung Quốc, Ấn Độ đang trở thành một đối tác kinh tế và ngoại giao chủ yếu (nhất là trong khuôn khổ nhóm các nước BRICS), nhưng sự hợp tác giữa hai nước này vẫn còn bị hạn chế do tranh chấp biên giới, cạnh tranh ảnh hưởng ở châu Á và ở một mức độ nào đó là cả trên phạm vi thế giới. Việc gia tăng sự có mặt về hải quân của Trung Quốc tại Ấn Độ Dương, sự tham gia của Hải quân Trung Quốc vào cuộc đấu tranh chống cướp biển ở vịnh Aden, khả năng mở một căn cứ hậu cần ở Seychelles, đấy là chưa kể đến các dự án xây dụng cảng biển của Trung Quốc ở khu vực nằm giữa eo biển Malacca và Mozambique – nhiều người Ấn Độ đã gọi đó là “chuỗi ngọc trai” của Trung Quốc. Những dự án này trùng hợp với những tham vọng của Ấn Độ đối với một đại dương mà họ vẫn thường coi là ao nhà của mình (Ấn Độ Dương). Ngoài ra, cuộc xung đột biên giới giữa hai nước chưa được giải quyết cũng là trở ngại rất lớn để hai bên phát triển quan hệ. Cuối cùng, ở khu vực Trung Á, Trung Quốc dựa vào Tổ chức hợp tác Thượng Hải (SCO), được thành lập vào năm 2001, để củng cố sự có mặt về kinh tế của mình và những lợi ích chiến lược nhằm gây thiệt hại cho Mỹ, và cả nước Nga, mặc dù suy yếu, vẫn luôn bị người Trung Quốc đề phòng.

Các phương tiện gây ảnh hưởng của Trung Quốc ở châu Á trước hết là vấn đề kinh tế. Từ giữa những năm 2000, Trung Quốc dần dần trở thành đối tác thương mại hàng đầu của tất cả các nước châu Á (khoảng 50% kim ngạch là trao đổi với Trung Quốc), đứng trên Mỹ và Liên minh châu Âu. Nếu lượng vốn đầu tư của Trung Quốc ra bên ngoài vẫn khiêm tốn (317 tỷ USD năm 2010, và chủ yếu là vốn từ Hong Kong: 200 tỷ USD), thì lại tăng nhanh ở châu Á (29 tỷ USD năm 2010 so với 3 tỷ năm 2004) với sự tham gia của nhiều ngành công nghiệp. Ảnh hưởng về kinh tế của Trung Quốc mang lại cho nước này một vị trí chi phối trong khu vực, có tác động đến cách nhìn ngoại giao của các nước láng giềng, từ Nhật Bản đến Việt Nam, từ Hàn Quốc đến Indonesia. Trung Quốc đã được lợi hơn từ việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2001 so với các đối tác lớn khác như Mỹ và Liên minh châu Âu. Người ta không thể không chú ý tới một thực tế là Trung Quốc không chỉ đạt được sự năng động về kinh tế, mà tính tích cực về ngoại giao ở châu Á hoặc ở những nơi khác đã giúp họ có thêm ảnh hưởng toàn cầu. Mạng lưới các sứ quán dày đặc, sự hiểu biết về xã hội và ngôn ngữ địa phương được cải thiện rất nhiều trong giới ngoại giao Trung Quốc. Các đại diện của Trung Quốc giúp đỡ các doanh nghiệp Trung Quốc đứng vững trên toàn cầu. Từ vài năm nay, Trung Quốc đã chi rất nhiều tiền để tăng số lượng các viện Khổng Tử, đảm nhận việc truyền bá ngôn ngữ và văn hóa Trung Quốc và coi đây là quyền lực mềm của họ. Về mặt quân sự, rõ ràng Trung Quốc đã có những thay đổi rất nhanh chóng. Bằng quy mô, các thiết bị và khả năng hạt nhân mang tính chiến lược của mình, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã trở thành quân đội hàng đầu ở châu Á. Năm 2012, ngân sách quốc phòng của Trung Quốc được thông báo chính thức là 106 tỷ USD, song theo nhiều người, nó phải từ 160 đến 200 tỷ USD, và điều này đã giúp hiện đại hóa nhanh chóng quân đội, nhất là việc phát triển các lực lượng không quân (máy bay chiến đấu thể hệ thứ tư hoặc tàng hình kiểu J-20) và tàu biển, tên lửa, phát triển các vũ khí chống vệ tinh, v.v. Một báo cáo của IHS Jane’s cho biết ngân sách quốc phòng của Trung Quốc sẽ tăng gấp đôi vào năm 2015 và đạt 238,2 tỷ USD so với 120 tỷ USD vào năm 2011, với một tỷ lệ tăng hàng năm là 18,75%. Từ đầu những năm 1990, Trung Quốc đã tăng đều đặn ngân sách quốc phòng với gần 15% mỗi năm, riêng năm 2012 chỉ tăng 11,2% so với năm trước đó. Tuy vậy, rõ ràng là Trung Quốc không thể truất ngôi vị của Mỹ là siêu cường cường duy nhất về quân sự trên thế giới, song sự hùng mạnh đang tăng dần lên của quân đội Trung Quốc đã buộc Mỹ phải tính đến việc thông qua các chiến lược mới ở châu Á và thế giới nói chung.

Những phản ứng của khu vực

Những vụ rắc rối và tình hình căng thẳng trong những năm 2009 – 2010 ở Biển Đông và Biển Hoa Đông cũng như nhũng rắc rối xung quanh bán đảo Triều Tiên đã gây ra những phản ứng tiêu cực của các nước láng giềng đối với Trung Quốc. Chính những phản ứng này đã thuyết phục Chính quyền Obama không những tuyên bố “trở lại” châu Á mà còn đưa khu vực này vào quy chế “trụ cột” của chiến lược Mỹ sau khi vào tháng 11/2011 Mỳ đã triển khai 2.500 lính thủy đánh bộ ở phía Bắc Australia, về mặt kinh tế và thương mại, từ năm 2009 đến năm 2011, Mỹ đã tăng cường tham gia “Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương” (TPP), kiểu khu vực thương mại tự do mà Trung Quốc vẫn còn rất ngờ vực. Trước sự lớn mạnh quá nhanh của Trung Quốc, Mỹ phải tập trung thêm lực lượng quân sự, nhất là không quân và hải quân ở châu Á, còn đối với nhiều nước châu Á thì đó là tăng cường hợp tác với các nước bảo hộ chính thức hoặc tiềm năng của họ. Tất nhiên, mỗi nước trong khu vực này đều có những mối quan hệ đặc biệt với Mỹ, nhưng điều đang đoàn kết họ về mặt chiến lược là mong muốn tạo ra một thế cân bằng hơn so với Trung Quốc, với sự ủng hộ của Mỹ hoặc của bất kỳ nước nào có thể cung cấp cho họ những vũ khí hiện đại (Pháp, Anh, Nga).

Trong khi vẫn ủng hộ chiến lược này, cũng cần thấy rõ là một số nước châu Á đã dành ưu tiên cho một trò chơi cân bằng giữa Trung Quốc và Mỹ. Nhất là trường hợp Thái Lan, nước này trong khi vẫn liên quan tới Mỹ bằng một hiệp ước an ninh, nhưng vẫn tiếp tục hợp tác chặt chẽ về kinh tế, chính trị và quân sự với Trung Quốc. Đó cũng là trường họp Singapore và trong một chừng mực nào đó là Đài Loan. Ngoài ra, người ta cũng nhận thấy có hai quốc gia khác có lập trường tương tự, đó là Myanmar và Pakistan. Mặc dù trong hai năm qua đã có một sự chuyển giao chính trị, tạo thuận lợi cho tiến trình bình thường hóa quan hệ giữa Myanmar với phương Tây, và đồng thời, cũng xuất hiện những dấu hiệu căng thẳng giữa Myanmar và Trung Quốc, nhưng chắc chắn Naypidaw vẫn không thể xa rời Bắc Kinh, trong khi họ cũng đang rất cần Mỹ. Quan hệ giữa Trung Quốc và Pakistan đã được thắt chặt từ năm 2008 do những bất đồng giữa Mỹ và Pakistan ngày càng sâu sắc về vai trò của lực lượng Taliban và về tương lai của Afghanistan. Thường được coi là đồng minh thực sự duy nhất của Trung Quốc do có một sự hợp tác lâu dài và bền chặt về quân sự và hạt nhân, nhưng Pakistan không thể đoạn tuyệt quan hệ với Mỹ (và ngược lại). Quy chế hạt nhân của Pakistan, vai trò chủ chốt của nước này trong sự ổn định lâu dài của Afghanistan đã buộc chính sách của Mỹ phải duy trì ảnh hưởng đối với Pakistan, và điều đó gây phương hại cho chủ trương của Trung Quốc mở mang quan hệ với quốc gia Nam Á này.

Một động lực khác có thể dẫn đến một “mặt trận thống nhất chống Trung Quốc” là Nhật Bản. Các nhà lãnh đạo Nhật Bản đã đi khắp châu Á để tìm kiếm các đối tác có cùng chung mối lo ngại về sự hùng mạnh của Trung Quốc, lôi kéo Ấn Độ và cả Việt Nam lẫn Indonesia. Nhưng người ta cho rằng chừng nào châu Á vẫn khác nhau về mặt chính trị thì chỉ có thể hòa nhập với nhau một cách lỏng lẻo trước nước láng giềng lớn Trung Quốc. Sống sót từ cuộc Chiến tranh Lạnh, đồng minh duy nhất chính thức của Trung Quốc là Triều Tiên. Ít được Trung Quốc tin tưởng, chế độ Triều Tiên cũng chỉ “tin tưởng hạn chế” đối với nước láng giềng lớn. Cái chết của Kim Jong II đã mở ra một thập niên bấp bênh mà người ta không biết liệu Kim Jong Un có đứng vững hay không. Từ sau cái chết đó, người ta thấy Triều Tiên muốn giảm bớt sự phụ thuộc kinh tế vào Trung Quốc, vì vậy, Triều Tiên không phải là đồng minh của Trung Quốc như mọi người tưởng, và chính Trung Quốc dường như cũng đã nhận thấy điều này.

Trong khi vẫn thực hiện chủ trương “không đi đầu” từ thời Đặng Tiểu Bình và dành ưu tiên cho “sự phát triển hòa bình” và hợp tác quốc tế, Trung Quốc trên thực tế vẫn muốn tránh đối đầu, nhất là với Mỹ. Ngay cả việc Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan vào tháng 9/2011 với tổng trị giá 5,8 tỷ USD, vẫn được Bắc Kinh đón nhận “nhẹ nhàng”, chứ không phản ứng gay gắt, cũng không đe dọa trả đũa, như vụ tương tự hồi tháng 1/2010. Hơn nữa, vào năm 2011, Chính phủ Trung Quốc đã từ chối đề nghị của Pakistan mở một căn cứ hải quân ở Gwadar, phía Tây Karachi. Tuy vậy, về cơ bản, sự khẳng định sức mạnh vẫn được Bắc Kinh đề cao và nó vẫn tiếp tục diễn ra. Chẳng hạn, ở Biển Đông (các vụ rắc rối với Việt Nam và Philippines), tháng 1/2012 Hà Nội đã phản đối mạnh mẽ sau khi Bắc Kinh đơn phương áp đặt lệnh cấm đánh cá ở Biển Đông tại vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam; quần đảo Điếu Ngư/Senkaku ngày càng thường xuyên bị các tàu của quân đội Trung Quốc “ghé thăm”; Trung Quốc cũng có cách đối xử tương tự với Hàn Quốc và Ấn Độ.

Với phần đông các quốc gia, việc Trung Quốc trở nên hùng mạnh đã không thực sự biến nước này thành lực lượng có nhiều ảnh hưởng, có trách nhiệm và tham gia tích cực vào các công việc quốc tế. Trừ ngoại lệ của cuộc khủng hoảng Libya, khi đó Trung Quốc đã chấp nhận để Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc lập ra một vùng cấm bay, còn lại, Trung Quốc đều từ chối hợp tác với phương Tây, trong đó có các vấn đề Syria và Iran. Tất cả đều diễn ra như thể cường quốc thứ hai thế giới này chỉ quan tâm đến việc bảo vệ ảnh hưởng và chế độ trong nước của mình hơn là chấp nhận những trách nhiệm quốc tế và những quy chế đã trao cho Trung Quốc. Rõ ràng đó là việc làm ngược đời của cường quốc Trung Quốc: trong khi người ta cảm thấy sự hiện diện và ảnh hưởng của Trung Quốc ngày càng tăng lên thì Trung Quốc lại tập trung hành động, ý chí của mình vào môi trường xung quanh và chủ yếu là các nước láng giềng. Một phần những ưu tiên là do những đánh giá ở trong nước và nhu cầu duy trì chủ nghĩa dân tộc hùng mạnh cần thiết cho việc củng cố hình ảnh “cường quốc ôn hòa” của Trung Quốc. Đã có một số nhà lãnh đạo và chuyên gia Trung Quốc lo ngại nhũng hậu quả không mong muốn của việc khẳng định không đúng lúc về sức mạnh của Trung Quốc. Nhưng họ chỉ là thiểu số và trừ khi có những biến động chính trị nội bộ đáng kể, những người này mới có cơ may nắm quyền. Vì tất cả những lý do này, Trung Quốc đang là một cường quốc thống trị khu vực hơn là một cường quốc thế giới được tôn trọng.

Sức mạnh khu vực của Trung Quốc đã bắt đầu làm thay đổi chiến lược ở châu Á – nhất là ở Đông Á. Ảnh hưởng của Trung Quốc gia tăng nhanh chóng tới mức các nước trong khu vực đã đề ra những lựa chọn chiến lược của họ không chỉ phụ thuộc, vào nhân tố Mỹ, mà còn phụ thuộc vào cả biến số Trung Quốc. Cũng như tất cả các cường quốc đã khẳng định được mình, Mỹ đang ra sức duy trì một thế cân bằng lực lượng trong khu vực này, nhưng Mỹ cũng nhận thức được thực tế là họ không thể đảo ngược được xu thế lớn mạnh của Trung Quốc cho dù Mỹ thừa biết rằng sự hiện đại hóa nhanh chóng của quân đội Trung Quốc cũng chưa thể giúp đội quân này đủ sức thay thế Mỹ và các đồng minh châu Á của Mỹ để trở thành người khổng lồ của nền an ninh khu vực.

***

TTXVN (Hong Kong 4/10)

Theo “Đại Công báo ” (Hong Kong) số ra ngày 30/9, từ ngày 2-8/10, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình có chuyến thăm hai nước Indonesia, Malaysia thuộc khối ASEAN. Điều này được xác định là động thái ngoại giao mới nhất của thế hệ lãnh đạo mới của Trung Quốc. Trước đó, ông Tập Cận Bình đã có chuyến thăm bốn nước Trung Á nhằm hoàn thiện sắp xếp ngoại giao của Trung Quốc. Ngoài ra, điều đáng chú ý là địa điểm dừng chân trong chuyến công du nước ngoài đầu tiên của Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị cũng chính là khu vực Đông Nam Á, và chỉ 4 tháng sau đó ông Vương Nghị đã quay trở lại khu vực này. Chuyển công du lần này của Chủ tịch Tập Cận Bình ngoài mục đích tham dự Hội nghị thượng đỉnh APEC diễn ra tại đảo Bali, Indonesia, còn có ý đồ muốn tăng cường quan hệ ngoại giao của Trung Quốc ở khu vực ASEAN.

Sự phối hợp hành động giữa Tổng thống Obama và các nước ASEAN cũng không thua kém gì Trung Quốc. Động thái này ngày càng rõ rệt, đặc biệt là sau khi ông Obama tái đắc cử nhiệm kỳ tổng thống lần hai. Do vậy, dư luận buộc phải liên hệ tới chiến lược “quay trở lại châu Á-Thái Bình Dương” do ông Obama đưa ra hơn 1 năm trước.

Nội hàm chiến lược quay trở lại châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ chính là việc nước này sẽ tăng cường quan hệ với các quốc gia Đông Nam Á. Khu vực châu Á-Thái Bình Dương về cơ bản bao gồm Đông Bắc Á và Đông Nam Á. Hiện nay, điểm nóng đối vói các quốc gia khu vực Đông Bắc Á chủ yếu xoay quanh các vấn đề như hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, tranh chấp đảo Điếu Ngư/Senkaku và bốn đảo ở phía Bắc Hokkaido/quần đảo Nam Kuril; trong khi đó, đối với khu vực Đông Nam Á là các tranh luận về nhất thể hóa khối ASEAN và vấn đề Biển Đông. Trung Quốc là nước nối liền hai khu vực Đông Bắc Á, Đông Nam Á nên có mối liên hệ trực tiếp về địa giới chính trị, kinh tế đối với các quốc gia ở hai khu vực này, đồng thời cũng bị cuốn vào cuộc tranh chấp khu vực có tính chất riêng biệt.

Một trong những trọng điểm chiến lược “quay trở lại châu Á-Thái Bình Dương” của Mỹ là tìm kiếm chỗ đứng rộng hơn cũng như đạt được sự ủng hộ lớn hơn về mặt lợi ích tại khu vực Đông Bắc Á và Tây Thái Bình Dương thuộc khu vực Đông Nam Á. Nhờ đó, Mỹ có thể cạnh tranh với Trung Quốc đang ngày càng trỗi dậy mạnh mẽ, đồng thời kiềm chế sự đe dọa thực tế của Trung Quốc đối với lợi ích của Mỹ. Chính bởi đặc thù về mặt địa chính trị của Trung Quốc, Mỹ mới coi nước này là “đối thủ cạnh tranh”. Dù trong quan hệ với các nước Đông Bắc Á hay Đông Nam Á, Trung Quốc luôn là “ý ngầm” trong chính sách ngoại giao của Mỹ.

Hiện nay, vấn đề Biển Đông đang là mấu chốt trong quan hệ ngoại giao giữa Trung Quốc và Philippines. Trung Quốc chủ trương thông qua con đường ngoại giao để giải quyết tranh chấp, tuy nhiên,, những động thái của Philippines lại truyền đi một thông điệp khác: không dựa vào đàm phán song phương mà dựa vào hành động đơn phương và “điều đình” quốc tế để giải quyết vấn đề Biển Đông. Điều này khiến Trung Quốc không thể chấp

nhận. Philippines vốn là đồng minh quân sự của Mỹ. Thái độ của ông Obama đối với vấn đề này thậm chí rất có khả năng trở thành “kim chỉ nam hành động” cho Philippnies trong tương lai. Một vài năm gần đây, thái độ của giới chức cấp cao Mỹ đối với vấn đề biển Đông đều ngầm phê phán ý đồ của Trung Quốc và bảo vệ Philippines. Điều này làm cho diễn biến của vấn đề Biển Đông sẽ xuất hiện thêm nhiều nhân tố bất định.

Ngoài ra, sự coi trọng của Mỹ đối với khu vực Đông Nam Á còn được thể hiện trong chuyến thăm lần trước của Tổng thống Obama tới khu vực này. Đó là chuyên công du nước ngoài đầu tiên sau khi ông Obama đắc cử Tống thống, vì vậy ý nghĩa biểu tượng rất rõ ràng. Trong chuyến thăm đầu tiên tới Myanmar, Tổng thống Obama đã hội đàm với Thủ lĩnh Liên đoàn Quốc gia vì dân chủ (NLD) đối lập, bà Aung San Suu Kyi, và bày tỏ sự ủng hộ dân chủ hóa ở khu vực Đông Nam Á. Người Trung Quốc vẫn chưa quên khi đó Myanmar đang tiến hành cải cách chính trị, dư luận bên ngoài đồn đoán Myanmar “xa rời Trung Quốc, thân Mỹ”. Do đó chuyến thăm của ông Obama khiến dư luận càng có ấn tượng sâu sắc đối với tin đồn này.

Một vấn đề cũng thu hút sự chú ý của dư luận là trong hai chuyến thăm tới khu vực Đông Nam Á, Tổng thống Obama đều tránh Việt Nam, Singapore và Lào. Song nếu khảo sát mức độ phối hợp giữa Mỹ và các nước này sẽ phát hiện ra rằng dù Tổng thống Obama không đến thăm thì sự chú ý của các quốc gia này đối với Mỹ không hề giảm sút. Quan hệ giữa Mỹ và ba nước này đã có sự tiến triển rõ rệt trong thời gian gần đây. Điên hình là vào tháng 7/2012, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã có chuyến thăm Mỹ và cùng Tổng thống nước này tuyên bố thành lập “quan hệ đối tác toàn diện” Việt-Mỹ; Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long trong chuyến thăm Mỹ vào tháng 4/2013 đã kêu gọi Mỹ tăng cường hợp tác thương mại, quân sự đối với khu vực châu Á. Trong không khí hữu nghị như vậy, Tổng thống Mỹ không cần thiết phải một lần nữa hao tâm tốn sức đến thăm các nước này. Có thể khẳng định nhân tố Trung Quốc đã góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ giữa Mỹ với Việt Nam, Singapore.

Những năm gần đây, kinh tế Trung Quốc phát triển nhanh chóng, vượt qua Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Các nước trong khối ASEAN nhìn thấy xu thế này đương nhiên không thể bỏ qua cơ hội tốt, muốn xây dựng quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc, muốn nhờ vào Trung Quốc để làm cho nền kinh tế của khối chào đón “mùa Xuân thứ hai” trong bối cảnh ảm đạm của kinh tế toàn cầu. Đương nhiên, Trung Quốc cũng nhân cơ hội này để xây dụng mối quan hệ tốt đẹp với khối ASEAN. Giống như một câu thơ cổ đã được Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhiều lần sử dụng trong các hoàn cảnh khác nhau “Một bông hoa nở không thành mùa Xuân, trăm hoa đua nở Xuân đã về khắp nơi”. Trung Quốc hi vọng kinh tế toàn cầu khởi sắc sẽ khiến các quốc gia tìm kiếm được thắng lợi chung trên lĩnh vực hợp tác kinh tế và giao lưu chính trị.

Tuy nhiên, cùng thắng không thể là nguyện vọng chủ quan, Trung Quốc cần một mối quan hệ hài hòa với khu vực Đông Nam Á, đồng thời cũng cần một mối quan hệ Trung-Mỹ phát triển tốt đẹp. Nếu như Tổng thống Obama luôn dùng ánh mắt khác để nhìn nhận sự phát triển, trỗi dậy của Trung Quốc, cộng thêm các hành động thực tế khiến Trung Quốc cảm thấy bất bình, đến lúc đó không chỉ lợi ích của bản thân nước Mỳ bị tổn hại mà các đối tác nhỏ bé của Mỹ ở khu vực Đông Nam Á cũng sẽ trở thành vật hi sinh trong cuộc tranh chấp này.

***

TTXVN (New York 3/10)

Tờ “Al-Akhbar Al-Asyia” (Tin tức châu Á) vừa có bài viết về một số khía cạnh của nền kinh tế, quốc phòng và quan hệ với Mỹ của Trung Quốc, nội dung như sau:

Một trang mới tin tưởng lẫn nhau giữa Mỹ và Trung Quốc đã bắt đầu. Trong một cuộc gặp mới đây ở California, Chủ tịch Tập Cận Bình và Tổng thống Obama, cả hai người sẽ cùng tại vị đến năm 2017, đã hứa đặt cơ sở cho một “mô hình mới” về mối quan hệ Trung-Mỹ, là những đối thủ cạnh tranh gay gắt về kinh tế và địa chính trị nhưng lại là những đối tác thương mại lớn nhất của nhau. Hai nhà lãnh đạo này đã ghi nhận rằng mối quan hệ này rất quan trọng không những đối với sự phồn vinh của hai nước, mà còn quan trọng đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương và toàn thế giới. Trong cuộc gặp, hai bên đã đề cập đến nhiều vấn đề chính trị nóng bỏng như Triều Tiên, tranh chấp lãnh thổ với các đồng minh của Mỹ, tái triển khai nền ngoại giao và quân sự của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương, cùng với những tranh chấp thương mại và an ninh mạng. Cho dù chưa có được những giải pháp cho tất cả những bất đồng, song hai nhà lãnh đạo đã thể hiện được sự nhất trí của họ về cuộc khủng hoảng hạt nhân của Triêu Tiên, một vấn đề vô cùng hóc búa đối với Mỹ. Về vấn đề này, hai bên đã hoàn toàn nhất trí với nhau về một mục tiêu chung, đó là phi hạt nhân hóa hoàn toàn bán đảo Triều Tiên. Một câu hỏi được đặt ra là việc Triều Tiên mới đây đã chìa tay ra với Hàn Quốc có phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên hay là kết quả của những sức ép từ Trung Quốc đối với chế độ Bình Nhưỡng trước hôm diễn ra cuộc gặp cấp cao Trung-Mỹ? Đúng là Trung Quốc là đồng minh duy nhất có ảnh hưởng đối với Triều Tiên, nhưng Trung Quốc đã tỏ thái độ tức giận về tính hiếu chiến của nhà lãnh đạo trẻ Kim Jong Un của Triều Tiên trong những tháng qua, nên thật khó tin rằng người Trung Quốc có thể gây sức ép thành công với Triều Tiên, ít nhất là trong thời điểm hiện tại.

Mặc dù có sự nhất trí với nhau về giải pháp cho cuộc khủng hoảng hạt nhân của Triều Tiên, song Mỹ và Trung Quốc vẫn còn những vấn đề khác chưa đạt được sự nhất trí. Chẳng hạn, Tập Cận Bình đã kêu gọi Mỹ chấm dứt việc bán vũ khí cho Đài Loan nhưng chưa có câu trả lời của Mỹ. Hay việc ông Obama đã bày tỏ mối lo ngại về an ninh mạng, nêu rõ các cuộc tấn công thông tin hàng loạt nhằm ăn cắp các dữ liệu nhạy cảm của chính phủ hoặc liên quan đến những bí mật công nghiệp là từ lãnh thổ Trung Quốc, v.v. Dù vẫn còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết, song theo giới chuyên gia, Tập Cận Bình cởi mở trong các cuộc đối thoại và kiềm chế hơn so với người tiền nhiệm Hồ Cẩm Đào, và việc đó sẽ giúp thiết lập lòng tin với Tổng thống Mỹ.

Trong bối cảnh quan hệ Trung-Mỹ đang có chiều hướng phát triển thuận lợi như vậy, thì bất ngờ lại nổi sóng với việc mới đây, cựu nhân viên của Cơ quan an ninh quốc gia Mỹ (NSA) Edward Snowden đã tiết lộ với tờ Bưu điện Hoa Nam buổi sáng của Hong Kong, xuất bản bằng tiếng Anh, rằng Mỹ đã tiến hành liên tục hàng loạt cuộc tấn công mạng nhằm vào hàng trăm mục tiêu dân sự ở Hong Kong và Trung Quốc. Những tiết lộ của Snowden là một sự phủ nhận rõ ràng nhất những lời khẳng định của Chính quyền Obama nói rằng Trung Quốc là mối đe dọa lớn nhất đối với hệ thống an ninh mạng toàn cầu. Lời khẳng định này gần đây được Mỹ sử dụng để tăng cường sức ép chống Trung Quốc và biện minh cho khả năng xảy ra cuộc chiến tranh thông tin của Mỹ chống các mục tiêu ở bất kỳ đâu trên thế giới. Từ nhiều tháng qua, Chính quyền Obama và các tờ báo lớn của Mỹ, trong đó có tờ NewYork Times, đã gây ra nỗi sợ hãi trong người dân bằng cách khẳng định mà không có bằng chứng cụ thể nào về việc các đơn vị chiến tranh thông tin của Trung Quốc đang dò la các trang mạng của Chính phủ Mỹ, của quân đội và các doanh nghiệp lớn. Bản thân ông Obama đã nhiều lần nêu lên vấn đề này với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, kể cả trong cuộc họp cấp cao đầu tiên ở California mới đây. Snowden đã xác nhận rằng NSA đã tiến hành tấn công các máy tính nằm ở Hong Kong và Trung Quốc ít nhất là từ năm 2009. Theo các tài liệu đăng trên tờ Bưu điện Hoa Nam buổi sáng, hàng trăm mục tiêu tấn công của Mỹ ở Hong Kong bao gồm các nhà lãnh đạo, một trường đại học, các sinh viên và các doanh nghiệp, vấn đề quan trọng chính đối với mọi người ở Hong Kong và trên toàn Trung Quốc là NSA đã biết một cách bất hợp pháp các thông tin của hàng chục triệu cá nhân mà không bị nghi ngờ gì hay quy trách nhiệm cho bất kỳ ai. NSA có mọi cách để có thể tìm kiếm bất kỳ điều gì họ quan tâm. Điều mà Snowden đã tiết lộ chỉ là một phần nhỏ của cuộc chiến tranh thông tin mà Mỹ đang chuẩn bị trong khuôn khổ một cuộc chiến tranh quân sự chống Trung Quốc. Ngay trước khi có những tiết lộ của Snowden về vụ sao chép lậu thông tin của Mỹ ở Trung Quốc, Matthew Aid, chuyên gia về tình báo Mỹ, đã tiết lộ trên tạp chí Foreign Policy về sự tồn tại của một đơn vị thuộc NSA dính líu đến vụ sao chép lậu thông tin của các máy tính và các mạng lưới viễn thông của Trung Quốc từ 15 năm nay. Hiện nay, tuy Chính phủ Trung Quốc vẫn chưa đưa ra lời bình luận chính thức nào về vụ Snowden, nhưng nhật báo China Daily đã coi vụ này là một phép thử đối với mối quan hệ Trung-Mỹ đang phát triển khá thuận lợi.

Nhớ lại, tại cuộc gặp cấp cao mới đây, hai nhà lãnh đạo tối cao của Mỹ và Trung Quốc, đã nhất trí vào lúc này tạm đặt sang một bên cuộc xung đột về an ninh mạng sau khi ông Obama có được những sự nhượng bộ của ông Tập Cận Bình để Trung Quốc gây sức ép với Triều Tiên buộc nối lại các cuộc thương lượng về chương trình hạt nhân của mình. Thế nhưng việc Snowden trốn sang Hong Kong, và tiết lộ những thông tin động trời về việc Mỹ đã ngấm ngầm tấn công vào hệ thống mạng của Trung Quốc đã thực sự đặt ra những thách thức mới cho mối quan hệ song phương này, thậm chí

nó có nguy cơ làm thay đổi những gì hai nước đã thỏa thuận, và nếu thế hậu quả sẽ khôn lường không chỉ cho riêng ai.

***

TTXVN (Bắc Kinh 4/10)

Trang tin “Thng Tư” (Trung Quốc) đăng bài viết “Trung-Mỹ không phải cơ chế G2, cũng không phi là quan hệ nước lớn kiểu mớicủa tác giả Bào Thành Cương – chuyên gia nghiên cứu các vấn đề toàn cầu và dân chủ hoá quan hệ quốc tế thuộc Tập đoàn Nước ngoài Canada, có nội dung như sau:

Hiện nay, quan hệ Trung-Mỹ vừa không phải là cơ chế G2, cũng không phải là quan hệ nước lớn kiểu mới, không phải thù địch, cũng không phải bạn bè, mà là một dạng quan hệ cạnh tranh toàn diện, trong bối cảnh quan hệ cạnh,tranh như vậy vừa có hợp tác, vừa có xung đột, vấn đề căn bản nhất vẫn là quan hệ giữa một Trung Quốc trỗi dậy mạnh mẽ với một nước Mỹ muốn duy trì địa vị bá quyền thế giới. Vậy sự trỗi dậy của Trung Quốc có thách thức địa vị của Mỹ hay không? Trung Quốc có thể bị thu nạp vào hệ thống của Mỹ hoặc Mỹ phải thừa nhận và hoan nghênh sự trỗi dậy của Trung Quốc, đồng thời thiết lập một dạng quan hệ bình đẳng cùng có lợi?

5 năm trước, Mỹ đề xuất cơ chế G2, tức Trung Quốc và Mỹ cùng thống trị thế giới, rõ ràng đây là một dạng kiến nghị chưa chín muồi có tính thăm dò, thực chất của nó là Mỹ muốn đặt sự trỗi dậy của Trung Quốc và hệ thống của Mỹ, với điều kiện Trung Quốc phải gánh vác các trách nhiệm quốc tế liên quan tương ứng, kết quả là Trung Quốc khiêm tốn từ chối kiến nghị này. Nhiều học giả Mỹ cho rằng quan hệ Trung-Mỹ đã đánh mất một cơ hội tốt, đồng thời cho rằng nguyên nhân chủ yếu là do Trung Quốc không muốn gánh vác trách nhiệm quốc tế không tương xứng với địa vị của Trung Quốc hiện nay, đương nhiên sự thực hoàn toàn không đơn giản như vậy. Sau đó, Mỹ đã thay đổi hoàn toàn trong chính sách đối với Trung Quốc, hoặc có thể nói Mỹ đã lộ rõ bộ mặt thật, điều này cũng chứng minh thái độ thiếu tích cực của Trung Quốc đối với ý tưởng G2 của Mỹ là đúng. Mỹ quay trở lại châu Á, mục đích rõ ràng là nhằm kiềm chế Trung Quốc, về mặt dư luận, Mỹ thổi phồng thuyết mối đe doạ Trung Quốc, nhằm làm dấy lên sự cảnh giác và lo ngại của các quốc gia châu Á đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc, đồng thời kích thích mâu thuẫn giữa Trung Quốc với các quốc gia xung quanh, muốn quốc tế hoá các vấn đề mang tính khu vực và vấn đề lịch sử để lại. về chính trị và ngoại giao, Mỹ tuyên bố lợi ích và địa vị chủ đạo nước lớn của mình tại châu Á, thúc đẩy ngoại giao giá trị quan, tái củng cố quan hệ đồng minh với Nhật Bản và ra sức lôi kéo Ấn Độ, Việt Nam nhằm kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc, hình thành vòng cung bao vây hình chữ C kéo dài từ Đông, xuống Nam và vòng sang Tây. Về quân sự, gấp rút triển khai khí tài, đồng thời tiến hành diễn tập quân sự liên hợp luân phiên với các quốc gia tại Biển Đông, Biển Hoa Đông và Hoàng Hải, cố tình tạo ra cọ sát và khủng hoảng. Như vậy, nếu Trung Quốc không chịu nhượng bộ, chú ý đến toàn cục, xung đột khu vực châu Á-Thái Bình Dương sớm trở nên căng thẳng. Hiện nay, Mỹ cơ bản đã hoàn thành việc triên khai cái gọi là chuỗi đảo bao vây đối với Trung Quốc, trong đó đã áp chế Trung Quốc trong phạm vi chuỗi đảo thứ nhất, do đó Mỹ đã không thể tiếp tục thúc đẩy áp sát hơn nữa, trong khi Trung Quốc cũng không còn đường để có thể co cụm được nữa, vì vậy quan hệ Trung-Mỹ bước vào giai đoạn giằng co không nhân nhượng.

Vậy tại sao tại thời điểm này, nguyên thủ hai nước Trung-Mỹ đều thực hiện gấp cuộc gặp thượng đỉnh? Mà lần này là do phía Trung Quốc chủ động, hơn nữa còn đề xuất Trung-Mỹ xây dựng quan hệ nước lớn kiểu mới. Rõ ràng, quan hệ nước lớn kiểu mới không phải là phiên bản của G2, thực chất của nó là quan hệ không xung đột, không đối kháng, tôn trọng lẫn nhau, hợp tác cùng thắng, Trung-Mỹ xây dựng một dạng quan hệ bình đẳng. Học       giả phương Tây cho rằng đây là một thoả hiệp bí mật đã đạt được giữa hai nước Trung-Mỹ, tức Mỹ thừa nhận lợi ích cốt lõi của Trung Quốc, trong khi Trung Quốc lại cam kết không thách thức hệ thống thế giới và địa vị chủ đạo của Mỹ, trên thực tế Trung Quốc và Mỹ sở dĩ có thể đạt được những nhận thức chung này chủ yếu là xuất phát từ nhận thức trong quan hệ và thực lực song phương. Thứ nhất, vấn đề căn bản của quan hệ Trung-Mỹ là quan hệ giữa sự trỗi đậy của Trung Quốc và bá quyền thế giới của Mỹ, nếu vấn đề này được giải quyết, thì các vấn đề khác đều không khó. Đối với Mỹ, xu thế thực lực của Trung Quốc được nâng lên nhanh chóng tất sẽ cấu thành thách thức đối với địa vị bá quyền của Mỹ. Mỹ cho rằng Trung Quốc là đối thủ chủ yếu, buộc phải kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc. Đây là căn nguyên của chính sách kiềm chế của Mỹ, cũng là cơ sở cho “quan hệ cạnh tranh” Trung-Mỹ. Nhưng hiện nay cho dù nhìn vào thực lực hay chính sách của Trung Quốc, Trung Quốc không thể uy hiếp Mỹ, về điểm này Mỹ tự mình cũng biết rất rõ. Trung Quốc không vội vã đuổi kịp Mỹ, thách thức địa vị bá quyền của Mỹ, đối với Trung Quốc, nhiệm vụ chủ yếu vẫn là phát triển và cải cách trong nước. Thứ hai, rõ ràng quan hệ Trung-Mỹ khác với quan hệ Mỹ-Liên Xô thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Trung Quốc và Mỹ có mức độ phụ thuộc lẫn nhau rất lớn, trong đó không chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh tế. Nếu mặc cho mâu thuẫn phát triển, cọ sát leo thang, thậm chí phát sinh xung đột, hai nước không những không thể được lợi trong sự phụ thuộc lẫn nhau, mà còn dẫn đến hậu quả cả hai đều bị tổn thương khiến các bên đều không muốn thấy. Vì vậy, Mỹ cũng kêu gọi tăng cường hợp tác, mặc dù Mỹ luôn cho rằng Trung Quốc được hời trong quan hệ song phương với Mỹ, không muốn gánh vác trách nhiệm quốc tế. Đây là căn nguyên của chính sách tiếp xúc của Mỹ, cũng là cơ sở cho “quan hệ hợp tác” Trung-Mỹ. Hai nước nhận thức được rằng giai đoạn hiện nay chỉ có kiểm soát bất đồng, mở rộng hợp tác, cùng có lợi cùng thắng, mới là lối thoát tốt nhất. Đây là cơ sở để hai nước đạt được quan hệ nước lớn kiểu mới, tranh thủ hợp tác cùng thắng. Thứ ba, Mỹ nhận thức được rằng chiến lược quay trở lại châu Á, kiềm chế Trung Quốc khó đạt được hiệu quả. Nguyên nhân là Mỹ chuyển trọng tâm chiến lược sang châu Á-Thái Bình Dương trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế suy thoái, mà việc thực hiện chuyển hướng chiến lược buộc phải cần một nguồn lực to lớn, trong khi đó Mỹ không thể không cắt giảm chi tiêu quốc phòng, đây là một điểm yếu của chiến lược quay trở lại châu Á của Mỹ, cũng đã quyết định hạn chế trong xu thế tấn công của Mỹ. Vì thế Mỹ hy vọng thông qua việc kích thích mâu thuẫn giữa các nước châu Á với Trung Quốc, chủ yếu là Nhật Bản và Philippines, sử dụng các nước này để bổ sung cho những điểm yếu của mình, kiềm chế và cân bằng Trung Quốc, bản thân lùi về tuyến hai. Ngoài ra, Mỹ quay trở lại châu Á chủ yếu là sự quay trở lại về mặt quân sự, chứ không phải kinh tế. Hiện nay, Trung Quốc không chỉ là động cơ của nền kinh tế thế giới, mà còn là nhà thúc đẩy kinh tế châu Á phát triển và thịnh vượng, về kinh tế Trung Quốc vẫn chiếm ưu thế chủ đạo tại châu Á. Vì vậy, Mỹ đã ý thức được rằng bao vây quân sự Trung Quốc là không hiệu quả, phương pháp hiệu quả thực sự là bao vây kinh tế, trong khi chi phí lại thấp, cho nên Mỹ đang biến Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định thương mại tự do Mỹ-Âu thành bước triển khai chiến lược chủ yếu tiếp theo để kiềm chế Trung Quốc. Ngược lại, theo tính toán của Trung Quốc, nếu quan hệ không tốt với Mỹ, xung quanh Trung Quốc sẽ vĩnh viễn không có an ninh, vì đằng sau mâu thuẫn và xung đột giữa Trung Quốc với các nước xung quanh đều có bóng dáng của Mỹ, cho nên Trung Quốc vẫn cần hợp tác với Mỹ. Trung Quốc cũng nhận thức được rằng quan hệ tốt với Mỹ sẽ đem lại nhiều lợi ích cho Trung Quốc, cho nên Trung Quốc luôn nhấn mạnh tính bổ trợ lẫn nhau của nền kinh tế hai nước, nhưng Mỹ cho rằng mình đã chịu thiệt. Sau Chiến tranh Lạnh, chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc cơ bản là dung nạp Trung Quốc, mong muốn thông qua thị trường hoá thúc đẩy dân chủ hoá Trung Quốc, từ đó đạt được mục tiêu Mỹ hoá và phương Tây hoá Trung Quốc. Nhưng sau khi Trung Quốc hoà nhập vào hệ thống kinh tế thế giới, ngược lại đã trở thành công xưởng của thế giới, sự trỗi dậy của Trung Quốc trở thành mối đe doạ đối với sự bá quyền toàn cầu của Mỹ, cho nên phải kiềm chế Trung Quốc, một lần nữa đẩy Trung Quốc ra khỏi hệ thống thế giới, hoặc xây dựng một hệ thống mới mà Trung Quốc là kẻ đứng ngoài cuộc. Mỹ luôn cho rằng sự suy thoái của mình là do sự trỗi dậy của Trung Quốc, nước này đã cướp việc làm của người Mỹ, đánh cắp kỹ thuật của Mỹ, dựa vào các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế để kiếm lượng ngoại hối khổng lồ, vì vậy cần đặt Trung Quốc ngoài hệ thống quốc tế, như vậy Trung Quốc sẽ không có kỹ thuật, không có vốn, không có thị trường Mỹ và phương Tây, kết quả Mỹ sẽ phát triển trở lại, trong khi Trung Quốc tự nhiên rơi vào suy thoái.

Cơ chế G2 sớm đã trở thành quá khứ, quan hệ nước lớn kiểu mới có lẽ chỉ là một sự tình nguyện của Trung Quốc, trong khi Mỹ cũng không mặn mà. Hiện nay, Mỹ lộ rõ ý đồ muốn bảo vệ sự bá quyền và địa vị chủ đạo của mình trên thế giới và khu vực châu Á, nhưng do sa sút thực lực và chưa tìm ra biện pháp hữu hiệu đối phó với Trung Quốc. Dùng diễn biến hoà bình để đưa Trung Quốc vào hệ thống của mình, nhưng Trung Quốc lại trỗi dậy mạnh mẽ; sử dụng chiến lược kiềm chế Trung Quốc, rõ ràng chi phí cho việc này rất cao; sử dụng chiến lược bao vây Trung Quốc, nhưng ngoài sự tích cực của Nhật Bản và Philippines, các nước châu Á khác ngày càng có xu hướng lựa chọn trung lập. Rõ ràng toàn cầu hoá kinh tế đã làm thay đổi quy tắc trò chơi quan hệ quốc tế, tức không kẻ thù không bạn bè, vừa là kẻ thù vừa là bạn bè, ngoại giao ngày càng trở nên mơ hồ.

***

TTXVN (New York 5/10)

Phản ánh kế hoạch khôi phục và phát triển các căn cứ quân sự, đặc biệt các căn cứ không quân, của Lầu Năm Góc tại khu vực Thái Bình Dương, tạp chí “Chính sách Đối ngoại” của Mỹ cho biết Lầu Năm Góc đang triển khai các kế hoạch bao vây Trung Quốc bằng hàng loạt căn cứ không quân và quân cảng ở Thái Bình Dương. Căn cứ quân sự mới nhất của Lầu Năm Góc sẽ là một sân bay nhỏ nằm trên hòn đảo Saipan ở Thái Bình Dương. Lực lượng Không quân Mỹ có kế hoạch thuê một khu vực có diện tích 33 hécta, thời hạn 50 năm, để biến một căn cứ không quân cũ của Mỹ trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai thành “sân bay chiến thuật” trên hòn đảo, bất chấp sự phản đối của người dân trên đảo cũng như phản ứng mạnh mẽ của Bắc Kinh nhằm ngăn chặn ý đồ bao vây Trung Quốc của Mỹ.

Chiến lược mới trong thế kỷ 21 của Lầu Năm Góc được gọi là “Trận chiến trên không- trên biển”, một khái niệm trên danh nghĩa là sự phối hợp giữa các lực lượng không quân và hải quân nhằm phá vỡ các hệ thống phòng thủ ngày càng vững chắc của các quốc gia như Trung Quốc hoặc Iran. Đây có thể là một chiến lược không thể hiện hình dạng nhất định và thực tế phần lớn “Trận chiến trên không-trên biển” vẫn đang trong giai đoạn “thai nghén”. Nhưng một phần của khái niệm này đang trở thành thực tiễn ở khu vực Thái Bình Dương. Một bộ phận quan trọng nhưng thường không được chú ý của “Trận chiến trên không-trên biển” yêu cầu lực lượng Mỹ hoạt động tại các căn cứ nhỏ và cơ bản nhất ở Thái Bình Dương là: các lực lượng quân sự Mỹ có thể phân tán trong trường hợp các căn cứ chủ yếu của Mỹ là mục tiêu của các loại tên lửa đạn đạo của Trung Quốc. Các máy bay chiến đấu của Lực lượng Không quân Mỹ sẽ sử dụng căn cứ trên đảo Saipan khi căn cứ không quân lớn của Mỹ ở đảo Guam hoặc các sân bay khác ở Tây Thái Bình Dương bị hạn chế hoặc phong tỏa, mặc dù Lực lượng Không quân cho biết việc xây dựng các sân bay trên đảo Saipan và khu vực gần Tinian sẽ ảnh hưởng không tốt đến môi trường. Thực tế người dân trên đảo Saipan muốn Lực lượng Không quân Mỹ sử dụng các căn cứ không quân cũ trên đảo Tinian mà hiện các đơn vị lính thủy đánh bộ Mỹ đã và đang cải tạo nâng cấp và các máy bay chiến đấu F/A-18 Homet thường xuyên lên xuống căn cứ này. Rõ ràng, Lực lượng Không quân Mỹ muốn mở rộng sân bay quốc tế hiện có trên đảo Saipan – được xây dựng trên cơ sở một căn cứ không quân cũ do Nhật Bản và sau đó Mỹ sử dụng trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai để lưu trữ các loại hàng hóa, máy bay chiến đấu, máy bay tiếp dầu và gần 700 nhân viên phục vụ các chiến dịch đổ bộ, các cuộc diễn tập quân sự hỗn hợp và các nỗ lực viện trợ nhân đạo cũng như cứu trợ thiên tai trong khu vực. Điều này có nghĩa Lực lượng Không quân Mỹ đang có kế hoạch xây dựng thêm các bãi đỗ, nhà để máy bay, bể chứa nhiên liệu, các kho vũ khí đạn và nhiều công trình quan trọng khác tại sân bay cũ. Và đây không phải là cơ sở duy nhất đang được Lực lượng Không quân Mỹ cải tạo và nâng cấp.

Một viên tướng của Lực lượng Không quân Mỹ mới đây tiết lộ ngoài các căn cứ không quân trên đảo Saipan, Lực lượng Không quân Mỹ có kế hoạch thường xuyên triển khai các máy bay tại các căn cứ quân sự từ Australia đến Ấn Độ như một phần của kế hoạch tăng cường lực lượng tại Thái Bình Dương. Các kế hoạch này của Mỹ bao gồm thường xuyên triển khai các máy bay chiến đấu và ném bom tại các căn cứ thuộc Lực lượng Không quân Hoàng gia Australia ở Darwin và Tindal thuộc khu vực lãnh thổ Bắc Australia, căn cứ không quân ở phía Đông Changi của Singapore, căn cứ không quân Korat ở Thái Lan, căn cứ Trivandrum ở Ấn Độ và có thể cả các căn cứ tại Cubi Point và Puerto Princesa ở Philippines cũng như các sân bay tại Indonesia và Malaysia. Việc Lầu Năm Góc chính thức thông báo kế hoạch triển khai lực lượng ở căn cứ không quân trên đảo Saipan diễn ra khi Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc, Tướng Thường Vạn Toàn, đến thăm Washington để hội đàm với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel. Chủ đề cụ thể liên quan đến các căn cứ quân sự Mỹ ở Thái Bình Dương không được đưa ra trong cuộc họp báo chung của hai bộ trưởng quốc phòng ngày 20/8, nhưng trả lời câu hỏi về việc Mỹ tăng cường lực lượng quân sự ở Thái Bình Dương, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn cho biết: “Trung Quốc là một dân tộc yêu chuộng hòa bình. Chúng tôi hy vọng chiến lược của Mỹ không nhằm vào một quốc gia cụ thể trong khu vực”. Nhà phân tích an ninh quốc gia Anthony Cordesman thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) của Mỹ cho biết mặc dù quân đội Mỹ khẳng định “Trận chiến trên không-trên biển” và chiến lược tái cân bằng lực lượng ở châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ không nhằm vào Trung Quốc, nhưng thực tế các căn cứ quân sự hiện nay của Lầu Năm Góc ở Thái Bình Dương sẽ phục vụ mục tiêu ngăn chặn bất cứ sự phát triển nào của Trung Quốc trong tương lai ở Thái Bình Dương. Ông Cordesman nói: “Rõ ràng Trung Quốc sẽ thận trọng hơn trong khu vực, khi sức mạnh của Mỹ xuất hiện ở đó”. Các căn cứ quân sự này của Lầu Năm Góc cũng sẽ tái khẳng định với các nước đồng minh khu vực rằng cam kết của Mỹ với Thái Bình Dương là hợp pháp. Ông nhận định: “Là một bộ phận của chiến lược tái cân bằng châu Á- Thái Bình Dương, Mỹ phải thể hiện cho mọi người thấy đó là thực tiễn ở thời điểm khi quá nhiều sức mạnh của Mỹ ngày càng bị nghi ngờ bởi các cuộc tranh luận về ngân sách”.

Tướng diều hâu Herbert Cariisle, chỉ huy toàn bộ tài sản của Lực lượng Không quân Mỳ ở Thái Bình Dương, cho biết thêm hiện nay Mỹ cũng đang có kế hoạch cho các máy bay tiếp dầu, máy bay chiến đấu và máy bay ném bom hoạt động ở hàng loạt căn cứ khắp Nam Thái Bình Dương và Tây Nam Á. Máy bay của Lực lượng Không quân Mỹ sẽ không thường xuyên đồn trú tại căn cứ Tinian và Saipan. Thay vào đó, các đơn vị đặt căn cứ ở bắc Thái Bình Dương và lãnh thổ Mỹ sẽ thường xuyên đến thăm các căn cứ mới. Ông Carlisle khẳng định: “Chúng tôi sẽ không xây dựng thêm căn cứ không quân ở Thái Bình Dương để yểm trợ sự hiện diện ngày càng tăng của Lực lượng Không quân trong khu vực”. Nói cách khác, Lầu Năm Góc sẽ không xây dựng các căn cứ mới mà chỉ mở rộng và nâng cấp các sân bay hiện có và xây dựng lại các cơ sở bị bỏ rơi như các căn cứ tại Saipan và Tinian. Thực tế, một trong những sân bay đang được lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ xây dựng lại ở Tinian là nơi máy bay B-29 Enola Gay của Không quân Mỹ đã cất cánh để thực hiện nhiệm vụ thả bom nguyên tử xuống thành phố Hiroshima của Nhật Bản trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Các sân bay được cải tạo nâng cấp giống như trong kỷ nguyên Chiến tranh Lạnh, khi các đơn vị quân đội của Mỹ cũng thường xuyên được luân chuyển đến và rời khỏi châu Âu để quân đội Liên Xô không thể tiếp cận. Để chống lại một kẻ thù mới, Lực lượng Không quân Mỹ sẽ tiếp tục triển khai các đơn vị, hiện có căn cứ trên lãnh thổ Mỹ và Bắc Thái Bình Dương, đến hàng loạt sân bay tại Đông Nam Á. Tướng Carlisle nói: “Trở lại những năm tháng của Chiến tranh Lạnh, chúng tôi có một thứ được gọi là Lá cờ Carô: Chúng tôi luân chuyển hầu hết các đơn vị ở Mỹ đến châu Âu. Hai năm một lần, các đơn vị sẽ lần lượt được điều động đến hoạt động tại các căn cứ tác chiến tại châu Âu. Hiện nay chúng tôi đang thực hiện như vậy ở Thái Bình Dương”. Ông Jan Van Tol thuộc Trung tâm Đánh giá Chiến lược và Ngân sách-một viện nghiên cứu ở Washington nhằm giúp Lầu Năm Góc phát triển khái niệm “Trận chiến trên không-trên biển”, cho rằng việc phân tán này không những sẽ cho phép Mỹ bảo vệ các máy bay không bị đối phương phá hủy, mà đây cũng là một biện pháp hữu hiệu nhằm xây dựng các mối quan hệ giữa Mỹ với các đối tác trong khu vực. Lực lượng Không quân phải thiết lập khả năng phối hợp tác chiến, các mối quan hệ và học hỏi kinh nghiệm trên các lĩnh vực thực tiễn mà họ sẽ phải tham chiến trong tương lai.

Khi được hỏi Lầu Năm Góc có thể đang xem xét và mở rộng những căn cứ quân sự cũ nào khác ở Thái Bình Dương? Ông Van Tol cho biết, trong các cuộc thảo luận khác nhau, các quan chức Mỹ đã và sẽ đề cập đến các căn cứ mà họ mong muốn, chẳng hạn căn cứ trên đảo Wake ở phía Bắc quần đảo Marshall hoặc Cộng hòa Palau ở Tây Thái Bình Dương. Hai căn cứ này vẫn còn các bãi đỗ máy bay của Mỹ từ Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Thực tế, đảo Wake đang có sự hiện diện quân sự hạn chế của quân đội Mỹ. Trong khi đó, Cộng hòa Palau đã công khai mời quân đội Mỹ trở lại và sử dụng một trong những sân bay được xây dựng trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai của nước này. Ông Cordesman cho biết, Mỹ có thể đang tìm kiếm một hệ thống ba tầng căn cứ quân sự ở Thái Bình Dương gồm: Một số căn cứ sẽ hoàn toàn ở Mỹ; một số căn cứ khác như các căn cứ tại Australia đến Ấn Độ sẽ do các nước đồng minh điều hành và hỗ trợ quân đội Mỹ triển khai lực lượng; và tầng thứ ba có thể là một loạt căn cứ khẩn cấp và bí mật trong khu vực. Rõ ràng, đây là một dấu hiệu nữa cho thấy sau khi trở lại Thái Bình Dương, Lầu Năm Góc sẽ biến các căn cứ cũ thành mới để thực hiện mục tiêu bao vây ngăn chặn Trung Quốc trước mắt và lâu dài giống như đã từng bao vây ngăn chặn Liên Xô trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh,

Phần cuối:

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ Ba, ngày 08/10/2013

TTXVN (New York 6/10)

Theo mạng tin tình báo Stratfor, Mỹ tiếp tục đối mặt với những trở ngại trong chính sách trở lại châu Á-Thái Bình Dương của mình. Nhà Trắng đã hủy chuyến thăm của Tổng thống Obama tới 4 nước Đông Nam Á với lý do gặp khó trong vấn đề “hậu cần” phát sinh từ việc đóng cửa một phần chính phủ liên bang.

Việc hủy chuyến thăm này cho thấy Washington tiếp tục gặp khó khăn trong việc thúc đẩy chính sách trở lại châu Á. Thứ nhất, chính sách này tiếp tục bị hạn chế do sự can dự quá sâu và vẫn đang tiếp diễn ở Trung Đông. Dù đã rút quân khỏi Iraq vàAfghanistan, nỗ lực đàm phán bình thường hóa quan hệ với Iran, kiểm soát mối quan hệ với các đồng minh Israel, Thổ Nhĩ Kỳ và Saudi Arabia cùng nỗ lực xóa bỏ vũ khí hóa học của Syria cho thấy chính sách ngoại giao của Mỹ vẫn bị hút vào khu vực này.

Thứ hai, nỗ lực ngoại giao của Mỹ với châu Á thường xuyên bị tác động bởi các yếu tốđối nội. Tháng 3/2010, Obama đã hủy chuvến thăm tới Indonesia và Australia để tập trung vận động thông qua Luật Y tế tại Quốc hội. Trong tháng 6/2010, ông lại hủy tiếp các chuyển thăm đến hai nước này do sự kiện tràn dầu ở vịnh Mexico, về cơ bản, các chuyến thăm của Tổng thống có vai trò đặc biệt quan trọng nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược bao quát, trái ngược với các thỏa thuận về mặt kỹ thuật đạt được từ các cấp đàm phán thấp hơn.

Chuyến thăm của Obama là nhằm khẳng định tầm quan trọng rộng lớn của khu vực châu Á-Thái Bình Dương đối với an ninh, sự thịnh vượng của Mỹ nhưng 2 vấn đề này đã bị gạt ra ngoài chương trình nghị sự của người đứng đầu nước Mỹ. Thứ nhất, tạiPhilippines, Obama hy vọng sẽ hoàn tất một thỏa thuận cho phép bảo đảm sự linh hoạt lớn hon cho quân đội Mỹ sử dụng các căn cứ quân sự tại Philippines để luân chuyển quân. Mỹ đã mất các căn cứ thường trực tại Philippines năm 1992 và từ 1999 đã hoạt động dựa trên một thỏa thuận cho phép tăng cường luân chuyển các lực lượng viếng thăm. Với môi trường an ninh đang thay đổi nhanh chóng ở khu vực, nhất là trong bối cảnh căng thẳng gia tăng ở Biển Đông, Mỹ và Philippines đã tìm cách khôi phục liên minh quân sự. Chuyến thăm của Obama sẽ là nỗ lực thúc đẩy về mặt ngoại giao để đạt được mục đích này.

Thứ hai, tại Malaysia, Obama đáng lẽ sẽ có cơ hội trao đổi với Thủ tướng Najib Razakvề các cuộc đàm phán đang diễn ra để ký được Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) vào cuối năm nay. Sự phản đối hiệp định này đang gia tăng trong những tháng gần đây tại Malaysia vì những vấn đề hóc búa như sở hữu trí tuệ, cải tổ doanh nghiệp nhà nước, tiêu chuẩn lao động và môi trường. Hơn nữa, cựu Thủ tướng Mahathir Mohamad đang dẫn đầu phong trào phản đối này, buộc ông Najib,người sẽ đối mặt với các cuộc bầu cử nội bộ đảng cuối tháng này, phải đảm bảo rằng chính phủ của ông sẽ phải thận trọng trong đàm phán nhằm giải quyết các mối quan ngại này.

Khi liên minh cầm quyền Malaysia phải chật vật đương đầu với phong trào phản đối gia tăng, triển vọng chấp nhận thêm những nhượng bộ với Mỹ trong đàm phán TPP về các vấn đề doanh nghiệp nhà nước, tiêu chuẩn lao động, môi trường sẽ trở nên khó khăn hơn. Nếu Obama tới Kuala Lumpur theo kế hoạch vào ngày 11/10 tới, ông có thể gặp phải các cuộc biểu tình tại Malaysia. Thế nhưng, chuyến thăm của ông lại thể hiện sự cam kết mạnh mẽ trong quan hệ của Mỹ với Malaysia khi ông là vị tổng thống đầu tiên tới thăm quốc gia Hồi giáo này trong hơn 40 năm qua. Malaysia cũng là quốc gia có vai trò quan trọng trong ASEAN liên quan đến Bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC). Nếu Mỹ có thể khuyến khích Malaysia giữ lập trường kiên định trong tranh chấp lãnh hải, điều đó sẽ giúp tăng cường sự thống nhất trong ASEAN về vấn đề này.

Trong khi đó, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã đi trước một bước bằng chuyến thăm của mình tới Malaysia vào ngày 3-5/10. Từ năm 2009, Trung Quốc đã tìm cách nối lại quan hệ với Malaysia cả vì mục đích kinh tế lần do vị trí chiến lược của nước này tại ngã ba bán đảo Đông Nam Á. Trung Quốc không tham gia đàm phán TPP nhưng vẫn có thể chào mời những khoản đầu tư lớn vào Malaysia mà không cần bất cứ điều kiện đặc biệt nào. Trung Quốc cũng hy vọng sẽ khuyến khích Malaysia chia sẻ quan điểm của mình trong các cuộc đàm phán với phần còn lại của ASEAN về COC, làm tăng vị thế của cường quốc này và tiếp tục chia rẽ ASEAN trong vấn đề Biến Đông.

Khi cả Trung Quốc và Mỹ đang tìm cách ve vãn Malaysia, chuyến thăm của ông Tập Cận Bình rõ ràng đối nghịch hoàn toàn với sự vắng mặt của Obama dù việc chuyến thăm bị hủy không phá vỡ các chính sách của Mỹ với quốc gia Hồi giáo này trong dài hạn. Rõ ràng sự vắng mặt của Obama sẽ đem lại tín hiệu tiêu cực đối với Malaysia trong các cuộc đàm phán TPP. Nhưng sự lưỡng lự và tác động từ chính trị nội bộ của Malaysia cũng không thể ngăn cản việc đạt được thỏa thuận cuối cùng về hiệp định thương mại này giữa các thành viên. Malaysia hiện đã hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu, hiện cũng có vị thế cạnh tranh khá cao, đồng thời cũng đã có các hiệp định thương mại với hầu hết các đối tác TPP. Malaysia cũng muốn tiếp cận nhiều hơn tới các thị trường châu Mỹ nhằm đạt mục tiêu trở thành nền kinh tế phát triển.

Tại Philippines, chuyến thăm của Obama có thể sẽ giúp tạo ra động lực chính trị cho nỗ lực hồi phục sự hiện diện quân sự của Mỹ tại đây. Nhưng

một lần nữa, những quan ngại an ninh của Philippines, đặc biệt là việc thiếu tiềm lực quân sự để đối phó với Trung Quốc trong tranh chấp đảo, đang khiến nước này muốn tăng cường sự hiện diện quân sự của Mỹ và Chính quyền của Tổng thống Benigno Aquino cũng đang có được sự ủng hộ của dân chúng để đạt được thỏa thuận này với Mỹ. Nhưng sự trì hoãn liên tục có thể làm suy yếu lòng tin vào cam kết của Mỹ ở khu vực này, trong bối cảnh các nước ASEAN đang do dự khi quyết định có đáng phải đứng lên chống lại Trung Quốc hay không khi khu vực cần duy trì mối quan hệ kinh tế mạnh mẽ với cường quốc này.

Khi chính sách hướng Đông của Mỹ còn đang tập tễnh, điều đặc biệt quan trọng khi các đồng minh như Nhật Bản, Australia trở thành các nhà tiên phong trong chính sách khu vực và nồ lực làm sâu sắc việc can dự với ASEAN. Nhật Bản đang đặc biệt nỗ lực làm hồi sinh chủ nghĩa dân tộc, bao gồm không chỉ mở rộng tham gia các hiệp định thương mại quốc tế như TPP mà còn đưa các chính sách an ninh, kinh tế ngoại giao trực tiếp vươn tới Đông Nam Á. Thủ tướng Shinzo Abe không chỉ đưa ra chương trình nghị sự ngoại giao với mỗi thành viên ASEAN mà còn dự định chủ trì hội nghị thượng đỉnh ASEAN tại Tokyo vào cuối năm nay. Với Nhật Bản, mục tiêu xây dựng lại uy tín quốc gia được thực hiện thông qua việc làm mới các mối quan hệ hiện tại, dựa chủ yếu vào viện trợ và đầu tư, đồng thời đối phó với những bất trắc và mối lo ngại do sự trỗi dậy của Trung Quốc. Điều này đòi hỏi phải tìm kiếm sự ủng hộ của khu vực trong việc bình thường hóa vai trò quân sự của Nhật Bản vì mục đích kiến tạo hòa bình khu vực và thế giới.

Nói tóm lại, việc hủy chuyến thăm của Obama cho thấy Mỹ vẫn thiếu khả năng triển khai thành công chính sách trở lại châu Á-Thái Bình Dương. Tuy nhiên, chính sách này sẽ vẫn tiếp tục được thực hiện vì nó được đưa ra xuất phát không chỉ từ lợi ích của người Mỹ mà còn của chính các quốc gia Đông Nam Á, khu vực luôn trông đợi vào sức mạnh kinh tế và quân sự của Mỹ để cân bằng quyền lực ở khu vực. Với sức mạnh quốc gia của mình, Nhật Bản cũng có tiềm năng giúp tăng cường sự can dự Mỹ-ASEAN khi cường quốc này đang tìm cách thoát khỏi tình trạng kinh tế trì trệ. Sự trợ giúp của Nhật Bản không chỉ vì lợi ích của Mỹ mà còn vì chính nhu cầu về động lực tăng trưởng và an ninh nhằm xây dựng các mối liên kết bền vững với khu vực Đông Nam Á.

*

*        *

Tạp chí “The National Interest” của Mỹ ngày 23/9 đăng bài viết của tác giả Dean Cheng, nhà nghiên cứu cấp cao thuộc Trung tâm Nghiên cứu châu Á của ”The Heritage Foundation”, trong đó cho biết mặc dù hiện nay các nhà hoạch định kế hoạch tác chiến của Lầu Năm Góc đang tập trung mọi nỗ lực vào cuộc khủng hoảng Syria nhưng họ cũng buộc phải chuẩn bị kế hoạch đối phó với Trung Quốc trong việc nâng cao khả năng “chống tiếp cận và chống thâm nhập khu vực” (A2/AD).

Nỗ lực phát triển các khả năng A2/AD mà Bắc Kinh gọi là chiến lược “chống can thiệp” được bắt nguồn từ tốc độ tăng trưởng kinh tế và đánh giá những bài học kinh nghiệm được rút ra từ các cuộc chiến tranh lớn gần đây trên thế giới. Trong những năm 1960 và 1970, do lo sợ bị Mỹ và Liên Xô tấn công, Chủ tịch Mao Trạch Đông tập trung phát triển kinh tế trong nước. Chủ tịch Mao tìm cách bảo vệ Trung Quốc khỏi cuộc tấn công bằng cách tạo nên khoảng cách giữa các trung tâm kinh tế nằm sâu trong nội địa của Trung Quốc và các đối thủ có khả năng tấn công Trung Quốc. Nhưng sau khi kế nhiệm Chủ tịch Mao Trạch Đông, ông Đặng Tiểu Bình đã thay đổi hầu hết các chính sách như vậy và bắt đầu giai đoạn cải cách và mở cửa năm 1978. Nhờ chính sách của ông Đặng Tiểu Bình, trung tâm kinh tế của Trung Quốc đã chuyển từ nội địa đến các khu vực ven biển, từ đó thu hút mạnh mẽ các khoản đầu tư trong và ngoài nước. Nhưng ý đồ phát triển chiều sâu chiến lược nhằm ngăn chặn các kẻ thù tiềm tàng thâm nhập các trung tâm kinh tế của Trung Quôc là một trong nhiều nhân tố quan trọng trong việc phát triển các khả năng A2/AĐ và được thúc đẩy hơn nữa trên cơ sở quan sát cũng như đánh giá các cuộc chiến tranh của Mỹ với các nước khác trên thế giới trong những thập kỷ gần đây. Từ Chiến dịch Bão táp Sa mạc năm 1990 thông qua các hoạt động của NATO tại khu vực Balkan, các cuộc chiến tranh lật đổ Taliban, Saddam Hussein và phá hủy chế độ Gaddafi ở Libya, Trung Quốc nhận thấy sức mạnh không quân của Mỹ và đồng minh đóng vai trò rất lớn, nếu không muốn nói là trung tâm, trong chiến tranh. Trong mỗi cuộc xung đột như vậy, các lực lượng do Mỹ lãnh đạo liên tục sử dụng các loại máy bay chiến đấu và ném bom, phát động các cuộc tấn công từ trên không để làm suy yếu các khả năng phòng thủ của đối phương, đồng thời phá hủy nặng nề các cơ sở hạ tầng kinh tế, chính trị và thông tin liên lạc của đối phương với chi phí hạn chế tới mức tối thiểu. Trung Quốc cũng nhận thấy khả năng nhanh chóng triển khai sức mạnh không quân từ các hàng không mẫu hạm của MỸ qua cuộc khủng hoảng Đài Loan năm 1995-1996 là một nhân tổ đáng lo ngại. Từ những thực tế đó, các nhà phân tích và các nhà hoạch định chính sách chiến lược của Trung Quốc khẳng định hỏa lực không quân là con át chủ bài để Mỹ và các nước đồng minh tiến hành một cuộc chiến tranh “không tiếp xúc, không giới tuyến, không cân xứng”. Theo quan điểm của Bắc Kinh, 3 nội dung đó là đặc điểm của “các cuộc chiến tranh khu vực trong điều kiện thông tin hóa”, trong đó sức mạnh không quân, cùng với các khả năng không gian vũ trụ và mạng, rất cần thiết để giành thắng lợi trong chiến tranh. Vì vậy Bắc Kinh yêu cầu Quân Giải phóng Nhân dân (PLA) đẩy mạnh các nỗ lực phát triển khả năng A2/AD nhằm ngăn chặn và nếu có thể sẽ đánh bại bất cứ đối thủ nào, kể cả Mỹ và nước đồng minh ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, có khả năng phát động một cuộc tấn công trên không kéo dài đánh phá các mục tiêu quan trọng của Trung Quốc. Do đó hiện nay Trung Quốc đang tập trung nỗ lực phát triển các khả năng A2/AD nhằm đáp trả sức mạnh không quân đặt căn cứtrên biển cũng như trên bộ của Mỹ, không những bao gồm các hàng không mẫu hạm mà cả các tên lửa mang đầu đạn hạt nhân tầm thấp và máy bay ném bom tầm xa.

Để đạt được mục tiêu này, chiến lược A2/AD của Trung Quốc bao gồm cả quy mô chiến lược, chiến dịch và chiến thuật:

Quy mô chiến lược được thể hiện trong cái gọi là “3 cuộc chiến tranh” pháp lý, dư luận công chúng và chiến tranh tâm lý. Về cơ bản, mục tiêu của Trung Quốc là phủ nhận tính hợp pháp của các hoạt động của lực lượng Mỹ ở khu vực Tây Thái Bình Dương bằng cách phát động cuộc đấu tranh pháp lý, kích động dư luận công chúng và chiến tranh tâm lý. Những sáng kiến này của Trung Quốc được phối hợp chặt chẽ với nền ngoại giao đa phương cùng các nỗ lực khác để giành quyền kiểm soát tất cả các nước ven biển Đông Á. Tuy nhiên, Bắc Kinh xác định Mỹ không phải là mục tiêu duy nhất của chiến lược A2/AD. Các nỗ lực phát triển chiến lược A2/AD của Trung Quốc chủ yếu nhắm vào các đồng minh của Mỹ và các đối thủ khác ở khắp khu vực châu Á- Thái Bình Dương. Một mặt Bắc Kinh sẽ tìm cách thuyết phục các nước đồng minh của Mỹ không phận cho phép Washington triển khai lực lượng tác chiến trong không phận và hải phận của họ. Mặt khác Bắc Kinh cũng sẽ đe dọa việc các nước cho phép Mỹ sử dụng không phận và hải phận sẽ là hành động chống Trung Quốc và như vậy sẽ bị nguy hiểm, nhằm ngăn chặn hiệu quả và phá hủy các khả năng triến khai lực lượng của Mỹ trong khu vực.

Quy mô chiến dịch của chiến lược A2/AD tập trung ngăn chặn các khả năng của Mỹ tiến hành các hoạt động theo thông lệ. Trên cơ sở đánh giá của

giới phân tích và các nhà chiến lược Trung Quốc về hành động quân sự do Mỹ lãnh đạo trong các cuộc chiến tranh trước đây, Bắc Kinh nhận thấy việc đánh thắng trong các cuộc chiến tranh tương lai được bắt nguồn từ khả năng thiết lập “sự thống trị thông tin”. Bên nào có thể thu thập, truyền tải và khai thác thông tin tốt hơn, đồng thời ngăn chặn đối phương đạt được khá năng tương tự, sẽ là bên chiến thắng. Thực tế đối với quân đội Trung Quốc, điều này có nghĩa PLA phải tìm cách tấn công các hệ thống thông tin và đặc biệt các khả năng không gian vũ trụ của Mỹ. Bằng cách kết hợp tấn công các vệ tinh để làm gián đoạn thông tin liên lạc và hạn chế các hoạt động của chúng, đồng thời tấn công các thông tin được chuyển tải qua các vệ tinh, quân đội Trung Quốc hy vọng sẽ ngăn chặn lực lượng Mỹ tấn công hiệu quả các mục tiêu sâu trong nội địa, mặc dù quân đội Trung Quốc đã có các hệ thống phòng thủ bảo vệ lãnh thổ, có lợi thế hoạt độnggần bờ biển và cơ sở hạ tầng.

Quy mô chiến thuật của chiến lược A2/AD liên quan đến các hệ thống vũ khí nhằm tiêu diệt hoặc gây tổn thất cho các khả năng của lực lượng Mỹ như các hệ thống tên lửa đạn đạo chống tàu (ASBM), các tàu ngầm và tên lửa mang đầu đạn hạt nhân tầm xa. Hiện nay phần lớn các cuộc thảo luận về A2/AD của quân đội Trung Quốc đều tập trung vào cấp độ này. Ngoài ra, các nhà phân tích và chiến lược của Trung Quốc cũng đang thảo luận sôi nổi vấn đề liệu các hàng không mẫu hạm của Mỹ có thể hoạt động trong tầm bắn ASBM của Trung Quốc và liệu các máy bay chiến đấu F-35, với cự ly bay tương đối ngắn, có tạo nên ưu thế so với Trung Quốc hay không, Tương tự, Trung Quốc cũng ngày càng quan tâm đến các khả năng cúa căn cứ không quân Mỹ ở Tây Thái Bình Dương, kể cá trên đảo Guam, chống Trung Quốc sử dụng các loại tên lửa đạn đạo và tên lửa mang đầu đạn hạt nhân tầm thấp.

Ngược lại, Lầu Năm Góc đã và đang tìm cách đối phó với các nỗ lực A2/AD của Trung Quốc thông qua cái gọi là chính sách “trở lại châu Á”. Trên cấp độ chiến lược, Mỹ sẽ triển khai một thỏa thuận thương mại tự do rộng khắp châu Á mang tên Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP). Sau khi hoàn tất, TPP sẽ cung cấp cho các quốc gia thành viên khác nhau trong khu vực nhiều ưu đãi và quan hệ thân thiện hơn với Mỹ nhằm chống lại các nỗ lực chiến lược của Trung Quốc, từ đó hình thành 2 phe ở khu vực Thái Bình Dương. Nhưng hiện nay nỗ lực chống Trung Quốc của Mỹ đang bị hạn chế bởi những khó khăn trong chính sách an ninh và ngân sách. Mỹ cũng thường xuyên cảm thấy Trung Quốc có chung mối quan tâm trong việc cho phép Mỹ hoạt động tự do ở Tây Thái Bình Dương. Mặc dù đề cập nhiều về chính sách “trở lại châu Á”, nhưng sự cô lập của Mỹ sẽ làm giảm lòng tin của các nước đối với chính sách đó. Hơn nữa giảm bớt các cuộc diễn tập và sự hiện diện của Mỹ trong khu vực cũng sẽ ảnh hưởng đến lòng tin về vai trò ngăn chặn cũng như tính khả thi về phản ứng của Mỹ chống các nỗ lực A2/AD của Trung Quốc. Điều này càng ảnh hưởng hơn nữa đến các nỗ lực của Mỹ trong việc thuyết phục Trung Quốc chấp nhận vai trò của Mỹ trong khu vực. Chưa rõWashington làm thế nào để hợp tác với Trung Quốc trong việc hạn chế những hành động thâm nhập không gian mạng mặc dù ngày càng nhiều bằng chứng cho thấy Chính phủ Trung Quốc đang can dự vào các hoạt động gián điệp mạng. Tương tự, việc Mỹ mời Trung Quốc tham gia cuộc diễn tập quân sự đa phương mang tên “Vành đai Thái Bình Dương” (RIMPAC) dường như có ý đồ hạn chế tầm quan trọng của A2/AD ở cấp chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Nhưng một số nước tham gia RIMPAC như Nhật Bản nhìn Trung Quốc bằng con mắt nghi ngờ. Họ cho rằng mời Trung Quốc tham gia RIMPAC không những cho phép Bắc Kinh quan sát mà còn dẫn đến nguy cơ bộc lộ các khả năng quan trọng về cuộc chiến tranh chống ngầm của Mỹ và đồng minh, chiến tranh phòng không và các hoạt động tấn công một quốc gia đang âm mưu tìm kiếm và lợi dụng các điểm yếu của đối phương để đề ra biện pháp đối phó hiệu quả như một bộ phận trong chiến lược A2/AD của Trung Quốc. Lời mời này đã được Mỹ gửi tới Bắc Kinh, bất chấp PLA đã và đang tăng cường các khả năng A2/AD, do đó Mỹ dường như thể hiện sự yếu kém và thiếu định hướng trong việc đối phó với Trung Quốc.

*

*        *

TTXVN (Algiers 7/10)

Cuộc chiến bí mật giữa Mỹ và Trung Quốc tại Sudan là một trong những mặt trận mà cuộc đối đầu giữa hai cường quốc này xung quanh việc kiểm soát và khai thác nguyên liệu của châu Phi diễn ra quyết liệt. Theo tạp chí “Địa chính trị”, để biết được nguyên nhân nào dẫn đến cuộc đối đầu này, cần tìm hiểu các ván cá cược địa chính trị và địa kinh tế, chính sách mới của Mỹ và Trung Quốc ở châu Phi.

Cuộc xung đột lợi ích giữa hai nước này xuất phát từ việc tìm kiếm sức mạnh mang tính quyết định trên trường quốc tế, một số cuộc chiến kinh tế mới giữa các cường quốc lớn trên đất châu Phi sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Sự ủng hộ không gì lay chuyển nổi của Trung Quốc đối với chế độ Khartum và sự chia tách đất nước này vào tháng 7/2011 là những dấu hiệu cho phép nhìn nhận cuộc chiến bí mật giữa hai cường quốc này ở Sudan.

Cuộc đối đầu chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc ở châu Phi xung quanh việc kiểm soát và khai thác nguyên liệu được cụ thể hóa bằng một số cuộc xung đột tại chỗ. Cuộc đối đầu đó có phải là một phần của cuộc Chiến tranh Lạnh đang dần xuất hiện trở lại không? Tính quyết liệt của cuộc đối đầu này quả thực thể hiện tầm quan trọng của nguồn nguyên liệu châu Phi đối với sự sống còn của các nước này về phương diện kinh tế, đồng thời cũng cho thấy sức mạnh của họ trên trường quốc tế. Châu Phi trở thành một cuộc chơi năng lượng quy mô lớn đối với hai cường quốc kinh tế lớn này. Năm 2008, Trung Quốc nhập khẩu 32% lượng dầu mỏ của châu Phi so với 80% của Mỹ. Cuộc chiến bí mật Mỹ-Trung ở châu Phi có thể nhận biết được về nhiều phương diện, cụ thể là ở Sudan, nơi sự chia tách đất nước và việc Nam Sudan được công nhận vào tháng 7/2011 là một trong những dấu hiệu rõ nhất về cuộc đối đầu ngấm ngầm giữa hai nước này. Để nhận biết cuộc đối đầu chiến lược Mỹ-Trung ở Sudan, cần phân tích những cái được mất của sự kình địch đó và đưa ra những dấu hiệu của cuộc đối đầu này.

Liên quan đến cuộc đối đầu Mỹ-Trung ở Sudan, châu Phi là nơi diễn ra cuộc đối đầu về kinh tế và ngoại giao giữa Bắc Kinh và Washington xung quanh việc kiểm soát và khai thác nguyên liệu. Nguyên liệu châu Phi quả thực đã làm xấu đi mối quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc. Hai cường quốc này cạnh tranh ngấm ngầm để có được dầu mỏ châu Phi. Trong cuộc chạy đua tìm kiếm nguyên liệu với Trung Quốc ở châu Phi, Mỹ sử dụng nhiều mưu mẹo khác nhau để làm suy yếu các chế độ thân Bắc Kinh ở châu lục, trong đó có Sudan. Quyết tâm của Chính phủ Mỹ làm suy yếu, thậm chí phá vỡ Sudan, nằm trong lôgích đó. Việc kiểm soát vùng bờ biển của Sudan là một ván cá cược chiến lược lớn trong cuộc đối đầu chiến lược này. Trước ý đồ của Bắc Kinh, Washington quyết biến Port Sudan thành chiếc “máy bơm nhiên liệu” cho quân đội và nền kinh tế, đồng thời đưa Sudan vào vòng ảnh hưởng của mình. Như vậy, xác định cái được mất trong cuộc chiến bí mật giữa Mỹ và Trung Quốc ở nước này có nghĩa là phải phân tích những lý do khiến Mỹ không tin tưởng, còn Trung Quốc hỗ trợ chế độ Khartum.

Nguyên nhân khiến Mỹ không tin tưởng là Sudan trở thành trạm trung chuyển của khủng bố quốc tế và mối đe dọa đối với an ninh của Mỹ. Từ sau vụ khủng bố 11/9, châu Phi là một ưu tiên chiến lược lớn đối với Mỹ. Tuy nhiên, về phương diện an ninh, châu lục này là một ví dụ điển hình vì chịu ảnh hưởng của tư tưởng cực đoan từ Trung Đông. Chính xác hơn là sự kết hợp các yếu tố như việc chia sẻ một số thực tế xã hội-chính trị với Trung Đông, sự gần gũi về địa lý và khả năng tương đối của châu lục phải đối mặt với làn sóng đe dọa xuyên quốc gia gia tăng trên lãnh thổ, khiến châu Phi trở thành chủ đề đáng phải quan tâm nhất. Vùng Đông Phi, cụ thể là Sudan và Somalia, là hang ổ thực sự của khủng bố quốc tế. Kể từ sau cuộc đảo chính năm 1989 do tướng al-Bashir và cố vấn của ông là Hassan al Torabi tiến hành năm 1989, Khartum quả thực bị biến thành thủ đô của cuộc cách mạng Hồi giáo ở châu Phi.

Để ngăn chặn mối đe dọa khủng bố đó, Mỹ lập ra một liên minh thần thánh chốngKhartum. Trong cuộc chiến chống Hồi giáo chính trị đó, Chính phủ Mỹ sử dụng các đầu mối của mình ở châu Phi, như Tổng thống Uganda Yoweri Museveni, Isaias Aferwerki(thủ lĩnh Mặt trận giải phóng nhân dân Eritrea, người giành chiến thắng trước Ethiopia và tuyên bố độc lập cho Eritrea vào năm 1991, rồi được bầu làm tổng thống qua trưng cầu dân ý vào năm 1993 và Thủ tướng Ethiopia Meies Zenawi. Từ khi Clinton lên cầm quyền, một mặt trận chống Hồi giáo hình thành ở Mỹ. Ngày 18/8/1993, Bộ Ngoại giao Mỹ đưa Sudan vào danh sách các nhà nước hỗ trợ khủng bố, từ đó biến nước này thành một “Nhà nước không lương thiện”. Bà Madeleine Albright, đại diện của Mỹ tại Liên hợp quốc vào lúc đó, quan tâm đến tầm quan trọng của Sudan trong viễn cảnh cuộc xung đột ở Trung Đông. Bà đặt câu hỏi về khả năng lật đổ chế độ Bashir/Torabi để dựng lên chính phủ John Garang, chính khách và nhà quân sự Sudan đã chết năm 2005. Thay đổi như vậy ở cấp lãnh đạo cao nhất Sudan có thể sẽ bảo đảm an toàn cho chính sách gây áp lực đối với người Palestine. Chính với nhãn quan đó mà sự hỗ trợ cường độ thấp đối với Tổng thống Rwanda Paul Kagamé sau đó được Clinton biến thành cam kết vững chắc để giúp ông lên nắm quyền và, từ đó, làm vui lòng Yoweri Museveni, nhân vật chủ chốt của chế độ được dựng lên, và qua đó khiến các chiến binh thiện chiến châu Phi theo Thiên chúa giáo tập hợp xung quanh John Garang.

Vụ khủng bố vào Trung tâm thương mại thế giới ở New York tháng 2/1993 khiếnWashington quyết tâm tạo ra phương tiện và tìm cách để tiếp tục gây áp lực mạnh đối với Khartum. Việc Bin Laden sống ở Sudan từ năm 1991 đến năm 1996 càng khiến Chính phủ Mỹ quyết tâm hơn trong việc vô hiệu hóa chế độ Khartum. Bà Susan Ricekhẳng định về vấn đề này như sau: “Sudan là nhà nước châu Phi duy nhất ở vùng Hạ Xahara là mối đe dọa đối với lợi ích và an ninh của nước Mỹ.” Tổng thống Clinton cũng đi theo lôgích

đó nên tháng 11/1997 ban hành sắc lệnh Executive Order 13067 tăng cường trừng phạt đối với Khartum. Theo Chính phủ Mỹ, tình hình ở Sudan là mối đe dọa đặc biệt và bất thường đối với an ninh quốc gia và chính sách đối ngoại của Mỹ. Chính quyền Washington phản đối hành động và chính sách của Khartum, đặc biệt vì Sudan hỗ trợ khủng bố quốc tế.

Tuy nhiên, người ta nhận thấy có sự mập mờ nào đó của Mỹ vì Washington một mặt tỏ thái độ phê phán trong những vấn đề liên quan đến Darfur, mặt khác hỗtrợ Chính phủ Sudan trong cuộc chiến chống khủng bố. Chính phủ Sudan bí mật cung cấp gián điệp cho Mỹ để thu thập thông tin về cuộc nổi dậy ở Iraq. Khartumdường như cũng hỗ trợ Mỹ trong việc vô hiệu hóa Tòa án Hồi giáo ở Somalia, duy trì mối liên hệ với một số thành viên ôn hòa của tổ chức này và một số thủ lĩnh chiến tranh.

Trái lại, Sudan là nhà cung cấp dầu mỏ quan trọng của Trung Quốc. Năm 2010, Trung Quốc, vượt qua Mỹ trở thành nước tiêu thụ năng lượng nhiều nhất thế giới. Đối với ban lãnh đạo chính trị Trung Quốc, dầu mỏ trở thành “nỗi ám ảnh quốc gia” thực sự. Nước này chỉ nắm giữ 1,7% trữ lượng dầu mở thế giới, trong khi nhu cầu gia tăng một cách chóng mặt. Đến năm 2020, Trung Quốc sẽ phải nhập khẩu 10-15 triệu thùng/ngày, gấp hơn hai lần sản lượng hiện nay của Saudi Arabia, tương đương với toàn bộ sản lượng của châu Phi. Để khắc phục sự thiếu hụt trầm trọng đó, Trung Quốc triển khai trên toàn bộ các vùng chiến lược của thế giới một “chính sách ngoại giao tài nguyên” thực sự. Bắc Kinh xem xét lại trên diện rộng chính sách nhập khẩu dầu mỏ và thực hiện một chính sách năng lượng mới. Trong viễn cảnh đó, mối quan tâm về mặt địa chiến lược đối với châu Phi tăng lên đáng kể trong chính sách năng lượng của Trung Quốc. Đối với nước này, các nước châu Phi, trong đó có Sudan, là một kiểu “miền đất hứa mới”.

Trong, lòng đất Sudan có rất nhiều dầu mỏ và chỉ riêng dầu mỏ của nước này đáp ứng 10% nhu cầu của Trung Quốc. Năm 2008, Trung Quốc nhập từ Sudan mỗi ngày trung bình 800.000 thùng. Sudan là nước duy nhất ở châu Phi mà Trung Quốc khai thác dầu mỏ bằng chính các công ty của mình. Điều này còn được Bắc Kinh coi là thành công và giải thích tại sao tất cả các lãnh đạo củaChina National Petroleum Corporation (CNPC) đều được đền đáp bằng việc thăng chức trong Đảng cộng sản. Tại Sudan, Trung Quốc khai thác dầu mỏ ở vùng lòng chảo Muglad thông qua CNPC và trở thành nước mua dầu mỏ hàng đầu và nắm giữ hơn 40% vốn của tổ họp Greater Nile Petroleum OperatingCompagny (GNPOC) của Sudan.

Những dấu hiệu của cuộc chiến bí mật Mỹ-Trung ở Sudan vừa thể hiện thông qua sự hỗ trợ của Trung Quốc đối với chế độ Khartum, vừa bằng sự chia tách đất nước và sự ra đời của Nam Sudan được Mỹ đạo diễn.

Về sự hỗ trợ của Bắc Kinh đối với chế độ Khartum, tăng cường hợp tác song phương giữa Trung Quốc và Sudan trong các lĩnh vực xây dựng, nông nghiệp, giáo dục và y tế, cộng với một khoản viện trợ tài chính quan trọng, giúp Trung Quốc trở thành đối tác kinh tế quan trọng nhất của Sudan. Kim ngạch thương mại đã vượt ngưỡng 3 tỷ USD vào năm 2009. Do đó, Trung Quốc quyết tâm bảo vệ chế độ Sudan trước áp lực của các cường quốc phương Tây. Trung Quốc quả thực hỗ trợ Sudan tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc về vấn đề Darfur. Khi Tổng thống Omar al-Bashir phản đối việc triển khai quân Liên hợp quốc để thay thế binh sĩ Liên minh châu Phi ở miền Tây, Trung Quốc không bỏ phiếu theo hướng này, đồng thời phản đối việc thông qua mọi biện pháp trừng phạt đối với chế độ Khartoum, rồi cuối năm 2006 từ chối một hành động quốc tế chung trong khuôn khổ giải quyết cuộc xung đột, vì muốn thực hiện lợi ích của mình vớiKhartum.

Năm 2004, Bắc Kinh quả thực dọa dùng quyền phủ quyết để phản đối nghị quyết 1564 của Hội đồng Bảo an Liên họp quốc về cấm vận vũ khí đối với Sudan do Mỹ đề xuất. Rồi tháng 8/2006, nhờ sự hỗ trợ của Bắc Kinh nên Khartum chống lại được áp lực của quốc tế, cụ thể là của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc muốn thông qua nghị quyết 1706 đưa 17.300 lính Mũ nồi Xanh đến thay thế 7.000 lính Mũ nồi Trắng của Liên minh châu Phi. Hơn thế nữa, ngày 23/10, Jan Pronk, đại diện đặc biệt của Tổng thư ký Liên hợp quốc, bị trục xuất khỏi Sudan. Như vậy, các biện pháp trừng phạt của Mỹ và quốc tế được tăng cường bao nhiêu, ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Sudan gia tăng bấy nhiêu.

Cộng đồng quốc tế buộc phải thương lượng với Trung Quốc để đưa lính Mũ nồi Xanh đến. Bắc Kinh trong thế mạnh đưa ra điều kiện của mình để tham gia sứ mệnh này. Trung Quốc cho mình là người cứu vãn tình thế, đầu tư ồ ạt vào Sudan, cung cấp vũ khí cho nước này và hết sức bảo vệ Sudan tại Hội đồng Bảo an Liên họp quốc.

Về phần mình, Mỹ tìm cách phá vỡ Sudan. Vụ khủng bố 11/9, dự trữ dầu mỏ quốc gia giảm dẫn đến sự lệ thuộc vào các nhà cung cấp nước ngoài, cộng với việc Hugo Chavez. Tổng thống Venezuela đã qua đời, quốc hữu hóa ngành dầu mỏ, thúc đẩy toàn bộ chính giới Mỹ phải xác định lại các vùng lợi ích chiến lược mới đối với việc cung ứng năng lượng cho nước mình. Điều đó có nghĩa là giống như các cường quốc công nghiệp khác, Mỹ rất quan tâm đến tài nguyên châu Phi, cụ thể là ở Sudan. Kể từ khi Nam Sudan tuyên bố độc lập ngày 9/7/2011, Mỹ ủng hộ chính phủ nước này nhằm không cho Trung Quốc tiếp cận các mỏ dầu thuộc sở hữu của Nhà nước thứ 193 của thế giới này. Đó là khoảng 80% trữ lượng dầu mỏ của nước Sudan cũ. Để có được nguồn dầu mỏ quan trọng này, ngăn chặn Trung Quốc vào Nam Sudan và vô hiệu hóa chế độ Hồi giáo Khartum, Mỹ sử dụng tất cả bộ máy tạo ra sức mạnh của mình. Mối quan tâm của Mỹ đối với Sudan được khẳng định dưới thời Tổng thống Obama qua việc bố nhiệm đặc phái viên Scott Gration, một viên tướng về hưu. Nhiệm vụ của nhân vật này là thúc đẩy chính sách mở cửa đối với Chính phủ Sudan thông qua việc thực hiện chính sách cây gậy và củ cà rốt, đồng thời tìm cách bảo đảm lợi ích của Mỹ ở Nam Sudan.

Chính phủ Mỹ trước hết hỗ trợ về nhiều mặt đối với Quân đội giải phóng nhân dân Sudan (SPLA) của John Garang. Để thực hiện việc này, viên Đại tá Mỹ Richard Orthđóng vai trò chủ chốt trong việc cung cấp vũ khí cho SPLA. Trong cuộc chiến chiến lược này, Washington đưa cả xã hội dân sự của mình vào cuộc theo một lôgích mới. Trong khuôn khổ đó, hành động của một số người như Roger Winter (nhân vật tân bảo thủ, một trong những người nguy hiểm nhất đối với Sudan theo đánh giá của GhaziSalahdin, cố vấn của Tổng thống Omar al-Bashir), góp phần đáng kể vào việc làm suy yếu, thậm chí phá vỡ Sudan. Đối với ông Roger Winter, giải pháp tốt nhất để chấm dứt cuộc chiến tranh giữa miền Bắc và miền Nam Sudan là “miền Nam – nơi một số vùng xung đột có thể sát nhập vào, phải tách khỏi miền Bắc Sudan và trên thực tế, là một nước độc lập và có chủ quyền”. Ông tham gia tất cả các cuộc họp của Phòng chính trị SPLA. Trong một cuộc họp báo tại Viện hòa bình Mỹ tại Washington ngày 17/9/1997,Roger Winter yêu cầu “Chính phủ Mỹ hỗ trợ hoàn toàn một cuộc chiến nhằm đánh đổChính quyền Khartum, cho dù có phải gây ra thảm họa nhân đạo”. Theo nhân vật này, đó sẽ là một cuộc chiến mượn tay người khác, bằng cách sử dụng quân đội Uganda và Eritrea, với vũ khí, hậu cần và công tác huấn luyện của Mỹ. Năm 2004, ông được bổ nhiệm làm đại diện đặc biệt của Bộ Ngoại giao Mỹ trong các cuộc thưong lượng giữaKhartum và quân nổi dậy Nam Sudan. Cuộc thương lượng đó dẫn đến việc ký kết Hiệp định hòa bình toàn diện chấm dứt cuộc chiến tranh giữa miền Bắc và miền Nam và cho phép miền Nam được độc lập vào năm 2011. Mối liên hệ giữa John Garang và các phong trào nổi dậy ở Darfur được Roger Winter đảm nhận và ông này đóng vai trò quyết định trong việc cung cấp cho họ vũ khí, đạn dược và máy bay qua Nairobi (sân bay Wilson), Rumbek (thành phố ở Nam Sudan), nơi máy bay tiếp nhiên liệu và chất vũ khí đạn dược để bay đến một sân bay ở Bắc Darfur. Từ khi Nam Sudan độc lập, ông trở thành cố vấn của chính phủ Juba.

Hơn thế nữa, một đồng minh của Washington trong cuộc chiến chống khủng bố quốc tế là Israel cũng coi Sudan là quốc gia rất nguy hiểm vì nước này hoàn toàn có khả năng hỗ trợ các kẻ thù của mình. Tại một hội nghị diễn ra ở Viện an ninh vào đầu tháng 9/2008, Bộ trưởng An ninh nội địa Israel, Avi Dichter, tuyên bố: “Chúng tôi phải làm sao để Sudan luôn phải quan tâm đến các vấn đề ở trong nước.” Ông nói tiếp: “Điều quan trọng là Sudan không ổn định được lâu dài. Điều quan trọng nữa là Israel duy trì cuộc xung đột ở Nam Sudan trong ba thập kỷ và hiện đang duy trì xung đột ở Tây Sudan, cần làm gì đó để Sudan không trở thành một cường quốc có ảnh hưởng ở châu Phi và thế giới Arập.” Avi Dichter còn khẳng định tại Mỹ có một số lực lượng quan trọng, trong trường hợp để Nam Sudan được độc lập, ủng hộ việc can thiệp có hỗ trợ vào Sudan vàDarfur giống như những gì đã diễn ra ở Kosovo.

Lập trường đó giúp Washington làm suy yếu Sudan, một trong những đối tác của Trung Quốc ở châu Phi, bằng cách làm cho nước này tan vỡ. Sự chia tách đất nước đó càng không hay đối với Trung Quốc khi 3/4 nguồn tài nguyên dầu mỏ nằm ở miền Nam, thuộc ảnh hưởng của Mỹ. Nhưng sau chuyến thăm của bà Clinton ngày 3/8/2012 tại Juba ở Nam Sudan, một thỏa thuận đã được ký kết giữa hai bên, theo đó Juba trả choKhartum, trong vòng ba năm rưỡi, 9,48 USD/thùng dầu xuất khẩu. Hơn nữa, Nam Sudan cũng chấp nhận chi gần 3 tỷ USD cho người láng giềng phương Bắc để đền bù thiệt hại về thu nhập từ khi chia tách.

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
This entry was posted in Archives, Articles, International relations and tagged , , , , , , , , , , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s