GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ SYRIA: THỬ THÁCH ĐỐI VỚI MỸ

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ Ba, ngày 15/10/2013

(Tạp chí Time, ngày 9/9/2013)

Bằng chứng về một vụ tấn công hóa học tàn bạo ở Syria đặt ra một thử thách quyết định đối với danh tiếng ca Mỹ và tầm nhìn chính sách đối ngoại của Barack Obama.

Chính sách đối ngoại ban cho các Tổng thổng Mỹ những quyền lực gần như siêu nhiên. Từ xa hàng nghìn dặm, họ có thể bất chợt huy động các hạm đội và phi đội, đôi khi gây chết người mà không phải mạo hiểm mạng sống của một binh lính nào. Nhưng chính sách đối ngoại cũng có thể trở thành lời nguyền, với khả năng thần bí tương tự hủy hoại một nhiệm kỳ tổng thống. Barack Obama đã học được bài học đó khi quan sát người tiền nhiệm của ông tiến hành điều mà Obama đã có cách gọi nổi tiếng là “một cuộc chiến tranh lựa chọn ngu ngốc” ở Iraq. Việc ông phản đối cuộc xâm lược này đã phát động cuộc chạy đua đầu tiên vào chức tổng thống của vị Thượng nghị sĩ một nhiệm kỳ, và ông bước vào Nhà Trắng với một tầm nhìn rõ ràng của một người Mỹ nhún nhường tập trung hạn hẹp vào các lợi ích cốt lõi, chẳng hạn như hàn gắn các vết thương kinh tế và xã hội trong nước. Obama sẽ lùng bắt những kẻ khủng bố ở các hang động và các sa mạc và tung ra một cú đấm mạnh mẽ hơn vào Taliban ở Afghanistan. Nhưng ông cũng thể hiện mình là một người hòa giải, một sứ giả hòa bình mà giành được giải Nobel Hòa bình thậm chí trước khi ông trang hoàng lại Phòng Bầu dục.

Từ lúc bắt đầu nhiệm kỳ tổng thống của mình, Obama đã cao giọng trong các bài phát biểu từ Washington tới Praha cho đến Cairo, mô tả một trật tự thế giới được biến đổi – “một thế giới cách mạng” nơi mà “chúng ta có thể làm được những điều không chắc có thực, đôi khi là những điều bất khả thi”. Những người hoài nghi nói rằng Obama chỉ là đang đánh bóng cho hiện thực kinh tế khắc nghiệt: ngập sâu trong nợ nần với việc khu vực tài chính của nước này trong tình trạng hoang mang hỗn loạn, Mỹ không thể đáp ứng một chính sách ngoại giao can thiệp. Nhưng Obama dường như đủ thành thật khi ông đề cập đến việc khởi động một cuộc đối thoại “tôn trọng lẫn nhau” với Iran, và với các đối thủ khác, ông cam kết rằng “chúng tôi sẽ chìa tay ra nếu các bạn sẵn sàng nới lỏng nắm đấm của mình”. Lẽ phải sẽ thay thế quyền lực bất chính, và tầm nhìn kiểu bảo thủ mới sẽ bị tống khứ. Đó là niềm hy vọng và sự thay đổi ở quy mô toàn cầu.

Nhung lịch sử, hóa ra, đã không được quan tâm.

Nắm đấm vẫn được siết chặt, giọng điệu đối với Mỹ thì thiếu tôn trọng, và mặc dù cách mạng nổ ra từ Cairo qua Tripoli tới Damascus, nó thường giải phóng những cảm xúc giận dữ nguy hiểm mang tính tôn giáo và bộ tộc khắp Trung Đông. Niềm hy vọng đã chuyển hóa thành nỗi sợ hãi, sự thay đổi trở thành mối nguy hiểm. Giờ đây, ở một khu vực đã gây bối rối cho các tổng thống trong nhiều thập kỷ và nơi mà các lợi ích an ninh là cao nhất, Obama đang đối mặt với một thử thách quyết định tại Syria.

Đây không phải là nơi Obama muốn tới. Vào ngày 22/8/2013, một ngày sau khi một khối chất bị nghi ngờ là khí độc thần kinh được thả xuống vùng ngoại ô Damascus, làm chết hàng trăm người, Tổng thống Obama trông rất vui vẻ rời Nhà Trắng để đi đến phía Bắc New York bằng xe buýt, tập trung vào khả năng chi trả của các trường đại học. Nhưng vào buổi sáng hôm đó trong Phòng Tình huống, nhóm an ninh quốc gia của Obama đang cố gắng nắm bắt quy mô đáng kinh ngạc của cuộc tấn công và thách thức tiềm tàng của nó đối với quyền lực và thẩm quyền của Mỹ.

Một sự mỉa mai đầy cay đắng, cuộc tấn công đó diễn ra vào đúng dịp kỷ niệm một năm lời cảnh báo của Obama rằng việc chế độ Syria sử dụng vũ khí hóa học đã thiết lập một “giới hạn đỏ” mà, nếu bị vượt qua, sẽ gây ra “những hậu quả to lớn”. Đoạn băng video cho thấy những hình ảnh rùng rợn về những người đã chết, bao gồm cả phụ nữ và trẻ sơ sinh, những người gần như được coi là may mắn so với những người sống sót đang co giật, sùi bọt mép. Khi Obama được nghe tóm tắt lại trên chiếc xe buýt dành cho tổng thống của ông, điều trở nên rõ ràng là ông cũng đang đối mặt với triển vọng hành động quân sự ở Trung Đông xung quanh vấn đề vũ khí hủy diệt hàng loạt.

Thế giới đã quan sát để xem liệu Obama có chùn bước trước vai trò cảnh sát toàn cầu. Ông đã để cho nhiều cuộc tấn công bằng vũ khí hóa học diễn ra và trôi qua mà không có bất kỳ hành động rõ ràng nào ngoài sự hỗ trợ khiêm tốn của Mỹ cho một phong trào nổi dậy gây náo loạn.

Và cuộc khủng hoảng Syria không phải là cuộc khủng hoảng duy nhất đang thử thách các giới hạn của đường hướng chính sách đối ngoại của Obama hay quyền lực của đất nước ông. Iran đang tiến về phía trước với chương trình hạt nhân của mình bất chấp những lời cảnh báo tương tự của Obama về việc trừng phạt quân sự. Ở Ai Cập, một chế độ quân sự được những người đóng thuế của Mỹ hậu thuẫn tiếp tục phớt lờ những lời kêu gọi hòa bình của ông sau khi nước này sát hại hơn 600 người phản kháng. Chính phủ Afghanistan hay dao động thận trọng chuẩn bị cho triển vọng nội chiến khi mà binh lính Mỹ cuối cùng sẽ rút lui vào năm tới, trong khi những vụ đánh bom khủng bố tiếp tục gieo rắc đau khổ cho các thành phố bất ổn của Iraq. Trong khi đó, Al-Qaeda thì sống sót và khỏe mạnh ở những nơi như Yemen và Bắc Phi, cho dù là Osama bin Laden không còn. Ở trong nước, nhận thức về thành tích của chính sách đối ngoại đã giảm dần: giờ đây chỉ có khoảng 40% người Mỹ tán thành.

Nhà Trắng kết luận rằng sự bất chấp của Syria, nếu không bị trừng phạt, có nguy cơ gây ra “hiệu ứng đôminô” cho những hành động ngang ngạnh hơn nữa trên toàn cầu. Brent Scowcroft, cựu cố vấn an ninh quốc gia cho các Tổng thống George H.W.Bush và Gerald Ford, người đã cố vấn cho Obama một cách không chính thức, giải thích: “Chúng ta đang đặt danh tiếng của mình vào chỗ nguy hiểm”.

Đó chính là nơi Obama đã hy vọng có thể né tránh trong các bài phát biểu sớm lạc quan đó trên khắp thế giới: bị mắc kẹt bởi sự điên rồ của Trung Đông, bị ép buộc sử dụng hành động quân sự bởi nhà độc tài của Syria, một cựu bác sĩ nhân khoa mà hầu hết người Mỹ khó có thể gọi tên.

Con đường tới Damascus

Làm thế nào mà chuyện đó lại đến nông nỗi này? Một số là do vận rủi – mặc dù điều đó thường xảy ra với sự kiện: Bush với vụ 11/9, Clinton với cuộc chiến tranh vùng Balkan, Carter với vụ giải cứu các con tin tại Iran. Nhưng Obama cũng mắc sai sót. Nghệ thuật chính sách ngoại giao là ngăn không cho các quyết định bất thắng xuất hiện. Và khi nhìn lại, sự thận trọng của Obama có thể đã có tác dụng ngược đối với ông.

Ngay từ đầu, ông đã giữ khoảng cách thận trọng với phong trào Mùa Xuân Arập. Hiện thân đầu tiên, mặc dù không rõ ràng vào thời điểm đó, là một phong trào cải cách tràn ngập các đường phố Tehran vào tháng 6/2009. Việc kêu gọi thay đổi chế độ có lẽ mang dáng vẻ của Bush, và Nhà Trắng sợ phải đưa ra những tuyên bố mà sẽ cho phép Chính phủ Iran khiến cho các cuộc phản kháng trông giống như một âm mưu của nước ngoài. Obama cuối cùng chỉ nói rằng Mỹ sẽ “cung cấp bằng chứng cho các sự kiện bất thường” xảy ra ở đó, với việc hầu như không ủng hộ các cuộc phản kháng.

Trong nhận thức muộn màng, ban tham mưu của ông phát hiện sai sót một cách rụt rè. Dennis Ross, người đứng đầu về chính sách Iran trong nhiệm kỳ đầu tiên của Obama, nói: “Tôi nghĩ chúng tôi đã quá thận trọng. Tôi hối hận vì điều đó”. Đó có lẽ là một điều báo hiệu cho những việc sắp đến.

Khi các cuộc phản kháng nổ ra khắp khu vực Trung Đông hai năm sau đó, Obama tiếp tục bước đi nhẹ nhàng lựa chọn sự ổn định thay vì rủi ro của những điều chưa được biết đến và từ chối đưa ra bất kỳ thuyết thống nhất nào về phản ứng của Mỹ. Ben Rhodes, Phó cố vấn an ninh quốc gia của Obama, nói: “Tìm cách xác định xem chúng ta cần nước Mỹ dính líu như thế nào mà không trở nên quá mức đã là một câu hỏi trung tâm về chính sách đối ngoại của nhiệm kỳ tổng thống này”.

Phải mất nhiều tuần Obama mới chấp nhận được các cuộc phản kháng năm 2011 ở Cairo buộc Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak phải từ bỏ quyền lực. Khi vương quốc Bahrain ở vùng Vịnh – một đồng minh chiến lược và là nơi đóng của Hạm đội 5, Hải quân Mỹ – đàn áp một cách thô bạo cuộc nổi dậy của dân chúng, Obama đã không có hành động gì. Ngay cả ở Libya, ban đầu ông đứng ngoài khi những người nổi dậy chiến đấu với các lực lượng của Muammar Gaddafi nhận thấy họ đã bị đánh bại và phải chạy trốn.

Cuối cùng, Obama chỉ can thiệp khi các lực lượng của Gaddafi tập trung bên ngoài thành phố Benghazi, đe dọa dẫn tới cuộc thảm sát người vô tội trong khi áp lực gia tăng từ Pháp và Anh. Các đảng viên đảng Cộng hòa hiểu điều này là “lãnh đạo từ hậu trường”, thuật ngữ do một sĩ quan phụ tá của Obama sử dụng nhằm làm nổi bật sự tương phản với chính sách ngoại giao “cao bồi” được ưu tiên của George Bush, nhưng những người chỉ trích lại gọi đó là sự từ bỏ quyền lãnh đạo thực sự.

Ban đầu, sự sụp đổ khá nhanh chóng của Gaddafi khiến cho sự can thiệp vào Libya có vẻ là một thành công. Obama nói: “Chúng ta đã chứng tỏ điều mà hành động chung có thể đạt được trong thế kỷ 21”. Nhưng câu chuyện đã trở nên xấu đi. Thận trọng với việc tìm cách tái thiết quốc gia Arập khác, Obama hầu như không đầu tư gì vào Libya thời kỳ hậu Gaddafi, nơi các lực lượng dân quân bất hảo và chủ nghĩa cấp tiến nở rộ – bao gồm cả những chiến binh đã tấn công khu nhà lãnh sự quán Mỹ được canh gác ở Benghazi, chính thành phố mà Obama đã cứu vớt, sát hại Đại sứ Chris Stevens và 3 người Mỹ khác.

Cuộc nổi dậy ở Syria bắt đầu mạnh mẽ vào khoảng cùng thời điểm với hoạt động tác chiến tại Libya của Obama. Ông quan sát chế độ của Tổng thống Syria Bashar Assad ứng phó một cách tàn bạo thêm 6 tháng nữa mà không có bất cứ hành động nào. Khi số người chết tăng cao, những người quan sát đã nhìn thấy “thuyết Obama” trong cuộc can thiệp ở Libya, đã tự hỏi: Tại sao không phải là Syria? Các phụ tá của Obama nói rằng sự so sánh đó là vô nghĩa. Rhodes nói: “ý niệm về một học thuyết là có lợi như một nguyên tắc tổ chức cho những người suy tính về chính sách ngoại giao. Nhưng trong chính phủ, điều đó trên thực tế là bất khả thi”.

Syria rõ ràng là một vấn đề hóc búa hơn. Libya có các hệ thống phòng không tồi tàn và một chiến trường trên sa mạc khiến cho các cuộc không kích trở nên dễ dàng. Syria có các thành phố đông dân cư, và Assad có hỏa lực dữ dội. Không giống như Gaddafi, người không có các đồng minh quốc tế thân cận, Syria khoe khoang các mối quan hệ đối tác quân sự và tình báo kéo dài nhiều thập kỷ với cả Iran và Nga. Obama đã đợi cho đến tháng 8/2011 để tuyên bố rằng “đã đến lúc Tổng thống Assad phải tránh sang một bên”. Trong nhận thức muộn màng, điều này có lẽ là hành động sai lầm đầu tiên của ông ở Syria. Khi Assad phớt lờ lời khuyên đó, nhà độc tài này không phải đối mặt với bất kỳ hệ quả nào. Obama nói với các phóng viên một năm sau: “Ông ta đã không nhận được thông điệp”. Đúng hơn, Assad đã không thấy có lý do nào để lưu ý đến thông điệp đó.

Không phải là Obama đã có những lựa chọn lớn. Một số người lập luận rằng vào một hoặc hơn .một năm trước đây, ông có lẽ đã làm gia tăng sự ủng hộ đối với các phe phái nổi dậy ôn hòa của Syria, trước khi những người Hồi giáo cấp tiến nắm quyền kiểm soát cuộc nổi dậy. Thậm chí vào cuối năm 2012, các quan chức hàng đầu của Obama, gồm cả Hillary Clinton và David Petraeus, vẫn còn đang tranh cãi ủng hộ tiến trình này. Nhưng Obama đã bác bỏ các đề xuất của họ, lo ngại Mỹ có thể hầu như không gây được ảnh hưởng gì đối với một tình huống phức tạp như vậy.

Ông cũng lo lắng về việc trao quyền cho những phần tử nổi dậy có liên kết với al-Qaeda, những người có thể đe dọa đến các lợi ích của Mỹ nhiều hơn so với Assad. Giờ đây, ngay cả những người trước đây ủng hộ cho các chính sách như vậy cũng nói rằng cửa sổ có vẻ như đã đóng. Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ Martin Dempsey gần đây viết: “Vấn đề ở Syria ngày nay không phải là việc lựa chọn giữa hai phe mà là chọn ra một trong số nhiều phe”, không một phe nào trong số đó có cùng lợi ích với Mỹ.

Tiếp đó tới lời tuyên bố về “giới hạn đỏ”. Trả lời câu hỏi tại một cuộc họp báo vào tháng 8/2012 ở Nhà Trắng, Obama nói rằng việc sử dụng hoặc di chuyển các vũ khí hóa học sẽ có “những hệ quả to lớn”. Obama có thể đã hối hận về bình luận đó. Assad dường như chế nhạo ông bằng những cuộc tấn công hóa học quy mô nhỏ – đủ để khiến nhiều người thiệt mạng nhưng lại không hoàn toàn lớn để bất ngờ gây ra một cuộc khủng hoảng quốc tế. Có lẽ để ứng phó, Obama đã điều chỉnh định nghĩa về giới hạn đỏ của ông vào tháng 4/2013, nói rằng đó là hành động sử dụng vũ khí hóa học “có hệ thống” mà ông sẽ không tha thứ. Vào tháng 6/2013, với việc Assad thắng thế rõ ràng, Chính quyền Obama nói họ cuối cùng sẽ vũ trang cho quân nổi dậy của Syria. Tuy nhiên, các báo cáo đáng tin cho rằng rất ít vũ khí, nếu có, thực sự được chuyển giao, một lần nữa dẫn đến nghi ngờ về quyết tâm của Obama.

Vụ tấn công rõ ràng bằng khí độc thần kinh ở bên ngoài Damascus vào ngày 21/8 đã trở thành “giọt nước cuối cùng làm tràn ly”. Đây là đỉnh điểm của các nhân tố: bằng chứng về hình thái của các cuộc tấn công và đoạn phim lố bịch về các nạn nhân đang phải chịu đựng những cơn co giật. Đó là một “sự đồi bại về đạo đức”, như Ngoại trưởng John Kerry đã gọi nó, điều đó lớn đến mức Obama không thể phớt lờ, thanh minh hay chỉ thị cho một ủy ban để nghiên cứu.

Việc xác định thời điểm là hoàn toàn tồi tệ, vào lúc mà Obama đã có vẻ định ủng hộ sự ổn định hơn là các giá trị của Mỹ. Mười bảy cuộc điện thoại từ Bộ trưởng Quốc phòng Chuck Hagel tới Tướng Abdul Fattah al- Sisi của Ai Cập đã thất bại trong việc ngăn chặn cuộc đảo chính và đổ máu ở đó. Giờ đây Washington bị bỏ lại với những đồng minh hầu như không có tiếng nói trong đất nước đông dân này của thế giới Arập. Eliot Cohen, một cựu cố vấn cấp cao của Ngoại trưởng Condoleezza Rice, nói: “Điều đó khá khác thường, rằng chúng ta đã tìm cách thuyết phục mọi người ở Ai Cập là chúng ta đã phản bội họ”.

Các giới hạn của quyền lực

Một vài vấn đề của Obama có vẻ quen thuộc. Vào đầu nhiệm kỳ đầu tiên của mình, Bill Clinton – người, giống như Obama, đã tập trung vào các vấn đề trong nước – cũng đối mặt với những lời buộc tội về sự nhút nhát và yếu đuối. Một quan chức cấp cao của Bộ Ngoại giao Mỹ phàn nàn vào năm 1993: “Chúng ta đơn giản là không có đòn bẩy, chúng ta không có ảnh hưởng [hoặc] khuynh hướng để sử dụng sức mạnh quân sự”. Và giống như Obama phải đối mặt với nhiều áp lực ở trong và ngoài nước xung quanh vấn đề Syria, Clinton cũng bị chỉ trích vì đã không can thiệp vào các cuộc chiến tranh ở Balkan. Tổng thống Pháp Jacques Chirac than vãn vào năm 1995: “Vị trí nhà lãnh đạo thế giới tự do đang bị khuyết”.

Tương tự, Obama cũng phát triển một liên minh rộng lớn đến kỳ lạ của những người chỉ trích: những người theo chủ nghĩa nhân đạo muốn chấm dứt cuộc chiến tranh ở Syria; những kẻ diều hâu muốn một chính sách ngoại giao Mỹ táo bạo hơn; những người ủng hộ dân chủ và nhân quyền lo sợ rằng Obama không cứng rắn đối với các tướng lĩnh của Ai Cập. Trong khi đó, các đồng minh của Mỹ ở châu Âu phàn nàn rằng Mỹ đang không tỏ rõ quyền lãnh đạo, và một quan chức cấp cao của Chính phủ Arập nói với tờ Time rằng các nhà nước thân thiện trong khu vực không cảm thấy họ có thể trông mong vào Mỹ. Christopher Hill, một nhà ngoại giao kỳ cựu từng phụng sự với tư cách là đại sứ tại Iraq của Obama, nói: “Không có nhận thức nào rằng chúng ta đang can dự vào các vấn đề ở Trung Đông ngay lúc này”.

Những người bảo vệ cho Obama nói rằng ông đã làm hết sức đối với một di sản bị nhiễm độc – từ chủ nghĩa chống Mỹ ở nước ngoài tới ngân sách bị thắt chặt và chủ nghĩa biệt lập ngày càng tăng ở trong nước. Và những người tiền nhiệm ở Nhà Trắng của ông thường nghe thấy những tiếng kêu gào từ nước ngoài rằng khát vọng quyền lực của Mỹ đang trở nên nao núng. Nhưng cũng đúng là công chúng mệt mỏi vì phải trả giá bằng máu và của cải để giải quyết những vấn đề xa xôi mà thường có vẻ không thể giải quyết được. Adam Smith, thành viên cấp cao thuộc đảng Dân chủ tại ủy ban quân lực Hạ viện, nói: “Xét về mọi mặt, Mỹ không thể áp đặt ý muốn của mình lên mọi vấn đề trên thế giới”.

Công cụ sức mạnh quân sự không sắc bén có thể đặc biệt vô dụng khi cuối cùng nó tìm cách gỡ rối cho các cuộc biến động xã hội của Mùa Xuân Arập. Theo Mieke Eoyang, một nhà phân tích an ninh quốc gia thuộc Third Way, một tổ chức tư vấn ở Washington: “Thẳng thắn mà nói, Mỹ không giỏi trong việc giải quyết thất bại chính trị của nước khác. Có lẽ đơn giản là Mỹ không có các công cụ”.

Syria chắc chắn sẽ đòi hỏi công cụ có độ chính xác cao. Đất nước 22 triệu dân, được bao bọc bởi Địa Trung Hải ở phía Tây và Iraq ở phía Đông, đã là một chế độ độc tài kể từ năm 1949. Nó cũng luôn là cái gai trong mắt Mỹ, liên kết với các giáo sĩ Hồi giáo cầm quyền của Iran và bảo trợ cho nhóm khủng bố Hezbollah của Liban. Trong suốt thời gian Mỹ chiếm đóng Iraq, Assad đã để mở đường biên giới nước mình cho các chiến binh Hồi giáo vượt biên giới vào Iraq tiêu diệt các binh lính Mỹ. Ngay dù vậy, năm 2009 Assad nói rằng ông “muốn có một cuộc đối thoại” với Mỹ, và các nhà ngoại giao Mỹ kể cả Kerry, khi đó là chủ tịch của ủy ban quan hệ đối ngoại Thượng viện, đã có nhiều chuyến thăm tới Damascus trước khi cuộc nổi dậy bắt đầu ở đó. Nhưng Assad có lẽ không bao giờ bị dỗ ngọt để hợp tác thực sự.

Gia đình Assad đến từ phái Alawite của Syria, một nhánh của Hồi giáo Shiite. Sự cai trị của họ đối với một đất nước mà gần 3/4 là người Sunni đã luôn đòi hỏi sự đàn áp ở mức độ gợi nhớ tới Iraq của Saddam Hussein. Nhưng vào tháng 3/2011, xã hội Syria rạn nứt và sự cai trị của Assad lần đầu tiên bị thách thức công khai trên các đường phố bởi điều sẽ trở thành cuộc nổi dậy do người Sunni chi phối.

Syria có ý nghĩa rất nhiều đối với các nước láng giềng của nó. Cuộc nội chiến đã sản sinh ra gần 2 triệu người tị nạn, một cuộc di cư đe dọa sẽ gây bất ổn cho Jordan và Thổ Nhĩ Kỳ, và đã làm gia tăng căng thẳng giữa

người Shitte-Sunni ở Liban và Iraq, kích động một cuộc xung đột giáo phái mà có thể trải dài từ vùng Vịnh tới Địa Trung Hải. Trong nhiều tháng, các đồng minh của Assad ở Iran và Liban đã gửi các chiến binh tới hỗ trợ cho chế độ của ông. Đó là một lý do khiến cho các lợi ích ở Syria lại lớn đến vậy: nó đã trở thành một cuộc chiến tranh ủy nhiệm, được tiếp sức bởi tiền mặt và vũ khí, giữa Iran và các đối thủ Sunni của nước này chẳng hạn như Saudi Arabia. Có đòi hỏi về đạo đức hiển nhiên liên quan tới cuộc xung đột mà trong đó hơn 100.000 người đã thiệt mạng. Và có vấn đề về an ninh của Israel khi một nhà nước được vũ trang hóa học đang sụp đổ.

Obama không phủ nhận bất kỳ điều gì. Ông nói với Charlie Rose trên kênh truyền hình PBS vào tháng 6: “Chúng ta có những mối quan tâm thật tâm ở đó. Và không chỉ là các mối quan tâm mang tính nhân đạo. “Chúng ta không thể chấp nhận tình trạng hỗn loạn đang tiếp diễn ở một nước lớn tiếp giáp với một nước như Jordan, mà đến lượt nó lại tiếp giáp với Israel. Và chúng ta có nhu cầu hợp pháp để được can dự và dính líu”. Điều ông tranh luận đó là ông có thể định hình kết quả ở Syria thông qua can thiệp quân sự, bằng hành động trực tiếp hoặc bằng cách vũ trang cho những phần tử nổi dậy có thể có các mối quan hệ với người Hồi giáo cấp tiến.

Vì vậy, khi lên kế hoạch ứng phó với cuộc tấn công bằng vũ khí hóa học vào ngày 21/8/2013, các phụ tá của Obama đã tập trung vào việc xác định một sự ứng phó sao cho có thể gửi đi một thông điệp mà không gây ra sự hỗn loạn hơn nữa. Quá nhiều vũ lực có thể làm thay đổi sự cân bằng chiến lược của cuộc xung đột, có thể là trao quyền cho các phần tử nổi loạn Hồi giáo – một số người trong số đó có liên kết với al-Qaeda – mà Nhà Trắng cho rằng còn nguy hiểm hơn so với chính Assad. Tuy nhiên, sử dụng quá ít vũ lực thì lại có vẻ tắc trách. Scowcroft cảnh báo: “Không gì tồi tệ hơn là có một cử chỉ mà chẳng thay đổi được điều gì và khiến chúng ta có vẻ thậm chí còn bất lực hơn”.

Thông điệp gửi ti Tehran

Vào ngày 10/12/2009, Obama bay tới Na Uy để nhận giải Nobel Hòa Bình, một vinh dự đến quá sớm mà không hoàn toàn được Nhà Trắng chào

đón. Vào lúc đó Obama đã gửi thêm binh lính tới Afghanistan, leo thang các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái chống lại những kẻ khủng bố al-Qaeda và nhìn thấy bàn tay hữu nghị của ông bị Tehran từ chối. Ngày càng trở nên rõ ràng rằng xét cho cùng, thế giới có thể sẽ không biến đổi. Vì vậy, ngay cả khi Obama tán dương sự nghiệp của hòa bình thế giới vào ngày hôm đó, ông cũng thừa nhận rằng một thế giới nguy hiểm đôi khi đòi hỏi chiến tranh, thường được dẫn dắt bởi vũ khí của Mỹ. Ông nói: “Bất kể sai lầm nào chúng tôi đã mắc phải, sự thật rõ ràng là: Mỹ đã giúp cam kết tài trợ cho an ninh toàn cầu trong suốt hơn 6 thập kỷ bằng máu của công dân chúng tôi và bằng sức mạnh vũ khí của chúng tôi”.

Obama giờ đây đang áp dụng nguyên tắc này ở Syria. Bất kể điều gì đến từ cuộc đối đầu của Obama với Assad, một cuộc đối đầu thậm chí còn nguy hiểm hơn đang chờ đợi – cuộc đối đầu với Iran. Nếu một vòng đàm phán khác với Tehran thất bại, Obama có lẽ sẽ sớm bị buộc phải thực hiện lời hứa hẹn của mình nhằm ngăn không cho Iran phát triển vũ khí hạt nhân. Obama nói với ủy ban các vấn đề chung Mỹ-Israel vào tháng 3/2012: “Tôi sẽ không ngần ngại sử dụng vũ lực khi cần thiết để bảo vệ Mỹ và các lợi ích của nó”.

Nhưng đối với những người chỉ trích ông, Obama thực sự do dự, và kết quả là rắc rối theo sau đó. Với hơn 3 năm còn lại trong nhiệm kỳ tổng thống của mình, ông có cơ hội để đảo ngược ấn tượng đó. Thành công ở Syria và sau đó là Iran có thể minh oan cho ông, và thất bại có thể khiến ông điêu đứng. Brian Katulis, một cựu cố vấn cho chiến dịch tranh cử của Obama hiện nay thuộc Trung tâm vì sự tiến bộ Mỹ, nói: “Rủi ro là, nếu mọi thứ ở Trung Đông tiếp tục chuyển động theo hình xoắn ốc, điều đó sẽ trở thành di sản của ông Obama”.

Một vài tổng thống thuộc đảng Dân chủ đã bị chính sách ngoại giao làm cho thân bại danh liệt: Carter với chính sách Iran, Lyndon Johnson với chính sách Việt Nam. Nhưng không có hình mẫu nào khác. Clinton dập tắt ngọn lửa ở khu vực Balkan và chứng tỏ tính cao quý của sự can thiệp của Mỹ. Obama có thời gian để tìm ra một con đường xuyên qua sự hỗn loạn hiện tại tiến tới một di sản thành công ở nước ngoài.

Khi ông lập biểu đồ cho tiến trình của mình, ông có thể cân nhắc đến một ý kiến từ một nguồn tin không chắc có thực. Trong một cuộc phỏng vấn báo chí Anh năm 2009 mà có giọng điệu ôn hòa, Assad nói ông hy vọng Obama sẽ đóng vai trò tích cực trong tiến trình hòa bình Trung Đông vì chỉ Washington mới có thể làm trung gian cho một giải pháp bền vững. Ông nói: “Không gì thay thế được Mỹ”.

***

(Tạp chí Time, 23/9/2013)

Phản ứng không bình thường của Tng thng Obama đi với Syria đã làm tổn hại chức vụ của ông và làm nước Mỹ suy yếu. Đã đến lúc có thêm một sự chuyến hướng nữa.

Vào ngay trước ngày kỷ niệm các vụ tấn công khủng bố ngày 11/9, Barack Obama đã đưa ra lý lẽ mạnh mẽ nhất có thể ủng hộ việc sử dụng vũ lực chống lại chế độ Syria của Tổng thống Bashar al-Assad. Nhưng đó không phải là một lý lẽ quá mạnh mẽ. Quả thật, nó được xây dựng trên giả thuyết sai lầm như ông đã nói sau khi tập hợp những hình ảnh ghê rợn về những đứa trẻ đau đớn quằn quại và sùi bọt mép và rồi chết trên sàn bệnh viện: “Chúng ta có thể ngăn tình trạng trẻ em bị phun khí độc đến chết”. Liệu ông có thực sự nghĩ rằng Mỹ có thể làm được điều đó bằng một cuộc tấn công quân sự có giới hạn hay một tiến trình ngoại giao tương đối hời hợt hiện đang được theo đuổi? Họ không thể làm được điều đó ngay cả nếu họ gửi đến 250.00 binh lính và lật đổ Assad. Khí độc có thể được chuyển đến tay những kẻ khủng bố, có khả năng nhất là Hezbollah, trước khi họ tìm thấy tất cả hay thậm chí phần lớn khí đó. Và đó là cốt lõi vấn đề chính sách mà Obama đang phải vật lộn về Syria: khi người ta thăm dò những khả năng để có sự can thiệp, bất cứ hành động phần nào hợp lý cũng nhanh chóng đi đến ngõ cụt.

Tổng thống hiểu điều này, điều khiến những lời lẽ và thái độ của ông trong những tuần dẫn tới bài diễn văn của ông về Syria ngày càng bối rối hơn. Ông sẵn sàng rơi vào một cái bẫy gấu do chính ông tạo ra. Trong quá trình này, ông đã làm hỏng nhiệm kỳ tổng thống của mình và làm địa vị của Mỹ trên thế giới suy yếu. Đó là một trong những biểu hiện gây choáng váng hơn và không thể lý giải được về sự kém cỏi của một vị tổng thống mà tôi từng chứng kiến. Thất bại này làm nổi bật trọng tâm sự chỉ trích liên tục đối với Nhà Trắng của Obama: rằng Tổng thống nghĩ ông có thể một mình thực hiện đầy đủ chính sách đối ngoại. Đây là quá trình hoạch định chính sách đối ngoại được tổ chức chặt chẽ nhất của Mỳ kể từ thời Nixon và Kissinger, chỉ là không có Kissinger. Không có người giật dây – hãy nghĩ đến ai đó như Brent Scowcroft – người có thể nói với Obama bằng sức mạnh và sự tin tưởng thực sự rằng ngài Tổng thống, ngài đang làm việc sai trái ở đây. Chúng ta hãy cân nhắc những hậu quả nếu ngài gọi việc sử dụng các vũ khí hóa học là “giới hạn đỏ”. Hay, Ngài Tổng thống, làm sao ông có thể nói việc này là “giới hạn đỏ của thế giới” nếu như thế giới không sẵn sàng hành động? Có lẽ những câu hỏi đó, và nhiều câu hỏi khác nữa, đã bị bỏ sót khi đội ngũ an ninh quốc gia nhiệm kỳ đầu của Obama phải ra đi và một êkíp mới bước vào. Nhưng ông đã cho thấy sự khao khát có được các cố vấn an ninh quốc gia là “các nhà trung gian chân thật” – những người chuyển thông tin đến cho ông – hơn là các nhà chiến lược toàn cầu. Trong trường hợp này, đội ngũ mới của ông rõ ràng là đã nêu ra những câu hỏi quan trọng về việc đi đến Quốc hội để có một lá phiếu: Ông có thực sự muốn làm điều này cho một đòn tấn công có giới hạn? Nếu họ nói không thì sao? Nhưng vị Tổng thống đã tảng lờ họ, điều có thể có nghĩa là ban cố vấn đó chưa đủ mạnh.

Việc trình bày công khai của các chính sách của ông được để cho những kiểu người như Ngoại trưởng John Kerry, mà tuyên bố của ông phải bị tổng thống bẻ lại hai lần trong bài diễn văn về Syria. Kerry đã nói rằng có thể cần phải “triển khai quân” ở Syria (Obama: không triển khai quân). Kerry đã nói rằng các cuộc tấn công quân sự sẽ là “nhỏ một cách khó tin”. (Obama nói rằng: Chúng tôi không gây ra những vết kim châm). Tồi tệ nhất, Kerry đã vụng về đề cập một cách nóng vội về “kế hoạch” rất không có sức thuyết phục của Nga tiêu hủy vũ khí hạt nhân của Syria. Điều này đã được thảo luận riêng tư trong nhiều tháng, rõ ràng là kiểu thái độ do dự mà những kẻ xấu – Saddam, người Iran, Assad – thường sử dụng như một chiến thuật trì hoãn. Kerry, đang ở trong trạng thái hiếu chiến, dường như giễu cợt ý tưởng này – và người Nga đã yêu cầu ông phải chú ý đến nó. Đội ngũ của Kerry tìm cách rút lại câu nói hớ này, gọi nó là “cách nói hoa mỹ”. Như nó vẫn vậy, sẽ không một ai ngạc nhiên nếu đề xuất này là một trò mưu mẹo, nhưng chính quyền hiện nay đang vướng vào việc theo đuổi đề xuất đó và đánh cuộc rằng sẽ dễ dàng hơn có được một phiếu bầu của Quốc hội nếu như đề xuất đó thất bại.

Những gì gần với vấn đề của Chính quyền Obama: có quá nhiều “cách nói hoa mỹ”, có quá nhiều tuyên bố chính thức cẩu thả về ý định của Mỹ mà không tính đến những hậu quả. Vấn đề dai dẳng này – hãy nhớ sự khẳng định không cần thiết và nguy hiểm của tổng thống rằng chính sách của ông không phải là “kiềm chế” chương trình hạt nhân Iran – đã chuyển thành một loạt những lời nói vô nghĩa về Syria. Đã hai năm kể từ khi ông nói rằng “Assad phải từ chức”. Ông đã tuyên bố “giới hạn đỏ” và “giới hạn đỏ của thế giới”. Và hiện nay, ông nói: “Chúng ta có thể ngăn việc những đứa trẻ bị chết ngạt do khí độc”. Người Trung Quốc tin rằng người mạnh nhất là người nói ít nhất. Vị tổng thống này là người mạnh nhất về mặt quân sự trên thế giới. Ông không phải khoe khoang về những ý định của mình. Ông nên truyền đạt chúng trong khi nói chuyện riêng tư và chờ đợi câu trả lời, rồi hành động, hay không hành động. Ông nên làm những gì người Israel đã làm khi loại bỏ lò phản ứng hạt nhân của Syria: họ đã làm điều đó, mà không có bất cứ sự lớn tiếng khoe khoang nào trước đó, và thậm chí cũng không đòi khen ngợi về hành động đó. Con sói không phải kêu cứu giả, con đại bàng Mỹ cũng không cần làm vậy. Mỹ cần phải đại diện cho sức mạnh tinh thần tự chủ, sức mạnh hoàn toàn chết người và có chủ tâm khi nó được thực thi, nhưng không bao giờ được thực thi một cách bừa bãi mà không có một kế hoạch hay một mục tiêu rõ ràng.

Việc tạo ra một kế hoạch rõ ràng ở Trung Đông là hoàn toàn không thể, là thứ gì đó mà người Mỹ rõ ràng phải tiến tới hiện thực hóa. Khu vực này đang ở vị trí bản lề của lịch sử: những đường biên giới thẳng tắp, được người châu Âu vẽ ra gần 100 năm trước đây, dường như đã qua thời hoàng kim của mình. Những thập kỷ tiếp theo có thể chứng kiến sự ra đời các nước mới, như Kurdistan, dọc theo các đường ranh giới sắc tộc và phe phái, và quá trình này không còn nghi ngờ gì nữa, sẽ rất đẫm máu. Phiên bản Syria nào đó sẽ có thể xuất hiện – luôn là một Syria – nhưng có thể không phải bên trong các đường biên giới hiện nay. Phương Tây sẽ phải đứng sang một bên khi việc này được thực hiện. Mỹ đã khai quang con đường của mình dẫn đến những nơi này, dưới giả định thuộc địa mới cho rằng dù sao thì chúng cũng cần đến sự hiểu biết và sức mạnh của Mỹ, và để lại quá nhiều hỗn loạn và quá nhiều xác chết theo sau để có được bất cứ đức tin nào để lại khu vực này ngoại trừ, có lẽ là, ở Israel. Và người ta phải tự hỏi sau một vài tuần qua, liệu người Israel có tin tưởng người Mỹ sẽ mang lại an ninh cho nền hòa bình mà Kerry đang tìm cách đàm phán với người Palestine hay không.

Một lần nữa, Tổng thống Obama hiểu được tất cả những điều này. Ẩn ý của nhiệm kỳ tổng thống của ông là Mỹ không còn có thể làm việc đó một mình – ngay cả nếu ông tiếp tục tự mình làm như vậy – trừ khi nước này đối mặt với một mối đe dọa trực tiếp và ngay lập tức đối với an ninh quốc gia, và rằng nước này phải xây dựng các liên minh đa phương để củng cố các giới hạn đỏ của thế giới. Và nếu vậy, câu hỏi phải được đặt ra là: tại sao ông kiên trì theo đuổi lựa chọn quân sự có giới hạn ở Syria? Những việc này gần như chưa bao giờ có tác dụng. Chúng thường khiến tình hình trở nên tồi tệ hơn. Ryan Crocker, một nhà ngoại giao Mỹ đã nghỉ hưu có nhiều kinh nghiệm nhất ở khu vực này đã suy đoán ràng sự trả đũa hiểm ác của Assad trước đòn tấn công quân sự của Mỹ có thể là tiến hành “một cuộc tấn công bằng vũ khí hóa học khác sờ sờ trước mắt”. Và rồi hành động tiếp theo là gì? Liệu Tổng thống Obama có chịu đựng một cuộc tấn công bằng khí độc nữa không?

Tổng thống không ngu ngốc đến vậy, nhưng tôi đoán rằng ông đang khăng khăng đe dọa công khai hành động quân sự bởi vì sự tín nhiệm của Mỹ – và chính xác hơn là sự tín nhiệm của ông – thực sự đang gặp nguy hiểm. Nhưng việc chơi lá bài “sự tín nhiệm của Mỹ” là một trò chơi ngu xuẩn và hết sức nguy hiểm. Trong toàn bộ cuộc đời tôi, những mạng sống, kể cả mạng sống của người Mỹ, đã mất trong khi theo đuổi sự tín nhiệm của Mỹ nhiều hơn là do bất cứ nhân tố quân sự chính đáng nào. Đó là những gì đã khiến Lydon Johnson gia tăng nỗ lực ở Việt Nam. Đó là những gì đã giúp đẩy George W.Bush đến chỗ kéo cò súng ở Iraq, thậm chí sau khi rõ ràng là phần lớn thế giới và, một cách lặng lẽ, quân đội Mỹ đều cho rằng điều đó sẽ là một sự vận dụng thảm họa. Đó là những gì đã khiến Obama lún sâu vào Afghanistan hơn. Đừng có lầm lẫn, Obama đã đánh mất sự tín nhiệm trên thế giới, do sự thể hiện của ông trong vài tuần qua. Nhưng sự tín nhiệm của Mỹ dễ dàng được phục hồi, do sức mạnh áp đảo của quốc gia này, bằng hành động khôn ngoan, vào thời điểm tới khi một cuộc khủng hoảng nổ ra, một tầm nhìn chiến lược rõ ràng và một bàn tay cầm lái vững chắc. Sự tín nhiệm này được Ronal Reagan hồi phục vào những năm 1980. Điều đáng buồn là Obama đã xây dựng lại tầm cờ quốc tế của đất nước ông theo sự vẫy vùng đơn phương của George W.Bush . Obama hiện nay đang gây tổn hại cho khả năng đạt được điều mình muốn với người Trung Quốc, người Iran và thậm chí là người Israel.

Điều đó có thể không bao giờ quay trở lại – và có những cơ hội thực sự để đạt được tiến bộ nào đó, đặc biệt là với Iran, nơi việc vị Tổng thống không khiêu khích Hassan Rouhani và vị Ngoại trưởng có tư tưởng cải cách Mohammed Javad Zarif lên nắm quyền đã mở ra một cơ hội đạt được tiến bộ trong các cuộc đàm phán về hạt nhân và thậm chí có thể cả trong các lĩnh vực khác, như vấn đề Afghanistan. Câu hỏi hiện nay là liệụ việc ông Obama không có khả năng làm cho mối đe dọa quân sự của ông ở Syria có thể tin được – và sự căm ghét rõ ràng của người Mỹ đối với việc có nhiều hành động quân sự hơn – có sẽ cho phép những người theo đường lối cứng rắn trong Lực lượng bảo vệ cách mạng quyền không khoan nhượng trong các cuộc đàm phán hay không. Người Trung Quốc, những người thèm khát các mỏ dầu ớ Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), có thể không kiềm chế như trong quá khứ. Người Nhật Bản có thể cảm thấy cần phải hồi sinh quân đội của mình, hay thậm chí có vũ khí hạt nhân, hiện nay khi mà lời hứa hẹn bảo vệ của Mỹ dường như ít đáng tin cậy hơn. Những hậu quả của biểu hiện không chuyên nghiệp của Obama đã lan ra khắp thế giới.

Cũng có cả những hậu quả ở trong nước. Đây được cho là tháng mà các vấn đề tài chính và ngân sách nghiêm trọng của quốc gia này được xới lên, hay không, với các đảng viên đảng Cộng hòa. Đã có một cơ hội để xây dựng một liên minh ủng hộ một sự thỏa hiệp để giải quyết vấn đề nợ trần và những nỗi sợ hãi thầm lặng do việc chính phủ tạm thời ngừng hoạt động gây ra và cuối cùng để đạt được một sự thỏa hiệp dài hạn về ngân sách. Nhưng bất cứ thỏa thuận nào cũng đòi hỏi phải có sự đàm phán sâu sắc và chuyên tâm, bao gồm sự bảo vệ về chính trị, hay những sự mua chuộc, dành cho các đảng viên đảng Cộng hòa đã vượt qua ranh giới. Thời gian quý báu đã bị lãng phí. Và sau Syria, bất cứ thành viên Quốc hội nào cũng khó có thể tin được rằng vị tổng thống này khư khư giữ quan điểm của mình hay mang lại sự bảo vệ.

Có những người nói rằng Obama đã hủy hoại nhiệm kỳ tổng thống của mình. Điều đó có thế là đúng, nhưng tôi nghi ngờ điều đó. Tất cả những kiểu sự việc này có thể đảo ngược theo chiều hướng có lợi cho ông. Cuộc thăm dò dư luận nhanh sau bài diễn văn về Syria cho thấy ràng ông vẫn có khả năng quảng cáo cho một lý lẽ, dù là trong thời gian ngắn. Ông đã gặp may về các đối thủ của ông: không còn nghi ngờ gì nữa, các đảng viên đảng Cộng hòa sẽ tiếp tục có những quan điểm mà phần lớn người Mỹ nhìn nhận là ngu ngốc hay cực đoan. Chương trình Obamacare có thể tỏ ra là một sự thành công, ông có thể có những quyết định dứt khoát trong cuộc khủng hoảng tiếp theo ở nước ngoài, người ta sẽ hy vọng rằng ông học được điều gì đó từ cuộc khủng hoảng này. Nhưng ông đã gây ra mối nguy hại lớn và không cần thiết cho bản thân, và bản thân quốc gia này. Con đường có lại sự tín nhiệm và sự tôn trọng sẽ hết sức khó khăn.

* * *

(Newsweek – 27/9/2013)

Liệu có cách thực tế đ Mỹ giúp chm dứt cuộc nội chiến Syria?

Tính đến nay, trong vòng hơn một tháng, Mỹ và phần lớn cộng đồng quốc tế đã tốn nhiều thời gian và công sức bởi vấn đề làm thế nào để đáp lại việc Chính phủ Syria sử dụng vũ khí hóa học. Động cơ đằng sau những đề xuất khác nhau – đầu tiên là một cuộc tấn công bằng tên lửa, giờ là một nỗ lực giải trừ quân bị lớn – rõ ràng là hợp lý: để đảm báo rằng Syria sẽ không bao giờ sử dụng những vũ khí này một lần nào nữa. Và triển vọng thành công dường như khá khả quan, mặc dù rõ ràng đây vẫn là một vấn đề gây tranh cãi.

Nhưng một vấn đề lớn hơn thì sao? Việc đơn giản chỉ loại bỏ vũ khí hóa học ở Syria sẽ không thể chấm dứt cuộc tàn sát đã lấy đi sinh mạng của khoảng 100.000 người. Liệu chúng ta có thực sự chấp nhận ngồi yên và chứng kiến sự giết chóc này tiếp diễn? Hay chúng ta cần phải cố gắng ngăn ngặn?

Hầu hết những cuộc tranh luận về vấn đề này đều diễn ra dưới dạng tranh cãi về các hình thức can thiệp cụ thể. Các nhà phê bình theo xu hướng hành động của Tổng thống Obama – nhắc đến việc Mỹ không hành động ở Rwanda vào năm 1994 hay sự can thiệp thành công hơn của nước này tại Libya năm 2011 – đã thúc đẩy những đề xuất như vũ trang cho quân nổi dậy hoặc thiết lập một vùng cấm bay. (Tác giả ủng hộ những kiểu quan điểm như vậy). Trong khi đó, những người phản đối những lựa chọn này đã phản pháo bằng cách viện dẫn trường họp Iraq và Afghanistan – và lập luận rằng một cuộc can thiệp có khả năng tốn kém và nguy hiểm nữa dường như không phải là một ý tưởng khôn ngoan, đặc biệt là ở Trung Đông.

Nhưng phần lớn bị mất định hướng trong cuộc tranh luận này là một loạt những câu hỏi mang tính dài hạn hơn: Chúng ta đang cố gắng để đạt được điều gì? Trong viễn cảnh khả quan nhất, một Syria hậu tàn sát sẽ như thế nào trong năm 2014 hoặc hơn nữa? Nói rằng chúng ta muốn chứng kiến quân nổi dậy lật đổ Bashar al-Assad, sau đó là thỏa thuận chia sẻ quyền lực nào đó hiện vẫn chỉ được xác định một cách mơ hồ, là không đủ. Cuộc nổi dậy này là một mớ hỗn độn đầy rạn nứt, bao gồm 2 nhóm lớn của các phần tử cực đoan có liên hệ với al-Qaeda. Có khả năng họ sẽ chiến đấu chống lại nhau, hoặc có thể thực hiện những cuộc tàn sát hàng loạt nhằm vào những người đã từng thân cận với Assad, nếu họ đánh bại ông. Việc lật đổ Assad gần như không thể làm kết thúc cuộc chiến tranh tại Syria như việc lật đổ Saddam vào năm 2003 đã không đem lại sự ổn định cho Iraq.

Vì vậy, trước khi Mỹ có thể tìm ra cách giải quyết cho vấn đề Syria, nước này phải nghĩ về địa điểm mà sự can thiệp của họ có thể thực sự kết thúc. Điều này chắc chắn không dễ dàng gì vì hoàn cảnh có thể sẽ thay đổi trong những tháng tới. Nhưng lối tư duy dài hạn như vậy là hoàn toàn hợp lý.

Theo quan điểm của tác giả, hình mẫu thích hợp không phải là Iraq, Afghanistan hay Libya mà là Bosnia. Đây không phải là một hình mẫu hoàn hảo, nhưng thích hợp để bắt đầu từ đây. Nhiều người sẽ nhớ lại, 2 thập kỷ trước chúng ta đã chứng kiến sự giết chóc tương tự diễn ra ở Bosnia trong vài năm cho đến khi cơn giận dữ quốc tế và những động lực trên chiến trường đã kết hợp lại để cho ra một giải pháp khả thi. Rốt cuộc NATO đã ném bom lực lượng dân quân Serbia của Slobodan Milosevic sau đó thúc đẩy ông tiến tới một thỏa thuận hòa bình, tạo ra sự “chia sẻ quyền lực” của nước này. Đây không phải là một kết quả mỹ mãn, nhưng gần 2 thập kỷ sau đó, người Serbia, người Hồi giáo và người Croatia tại Bosnisa đã không quay trở lại chiến tranh.

Khi so sánh với Bosnia, cuộc nội chiến ở Syria thậm chí còn khó đi đến hồi kết hơn, vì lực lượng nổi dậy rất hỗn độn và họ có những phần tử cực đoan. Hơn nữa, các thành phố trung tâm lớn của Syria vẫn bị pha tạp nặng nề bởi các cá nhân thuộc các tín ngưởng khác khau, khiến cho sự chia sẻ quyền lực khó có thể hình dung vào thời điểm hiện nay.

Nhưng mọi thứ đều có thể thay đổi. Đáng tiếc thay, như ở Bosnia, cuộc chiến này đang có những tác động phân chia dân số một cách chậm chạp. Đáng buồn nhưng cũng không thể phủ nhận, điều này đồng nghĩa với việc những đề xuất cho sự chia sẻ quyền lực dường như sẽ trở nên đúng đắn khi cuộc chiến vẫn tiểp tục diễn ra.

Bởi vì mục tiêu của Mỹ thực chất không phải là chiến thắng, mà là thành công lớn hơn của quân nổi dậy – để buộc Assad đồng ý từ bỏ quyền lực và khiến những người cộng sự của ông nhất trí về một thỏa thuận hòa bình – Mỹ có thể đạt được mục tiêu này bằng cách dần củng cố những bộ phận ôn hòa của phe đối lập mà không cần bất cứ sự xoay chuyển tình thế đột ngột quá mức nào. Theo quan điểm của tác giả, Chính quyền Obama đã quá chậm trễ trong việc khởi động nỗ lực này một cách nghiêm túc, và quả thực nghe nói, sự hỗ trợ có hại của Mỹ mới chỉ bắt đầu đến được với quân nổi dậy sau 30 tháng xung đột. Nhưng vẫn chưa quá muộn.

Tất nhiên, việc vũ trang và tổ chức quân nổi dậy – và cuối cùng, có thể hỗ trợ họ trong sức mạnh không quân nếu cần – sẽ không kết thúc được cuộc chiến trong một sớm một chiều. Có thể sẽ mất nhiều tháng hoặc thậm chí một năm hoặc hơn nữa để đưa quân nổi dậy và Chính quyền Assad đến bàn đàm phán, Nhưng một khi điều đó diễn ra, sự chia sẻ quyền lực ở Syria thực sự sẽ như thế nào?

Theo bất cứ kế hoạch hòa bình thực tế nào, cộng đồng thiểu số Alawite của Assad sẽ kiểm soát một khu vực của nước này, khả năng lớn nhất là phần dọc bờ biển, nơi mà cảnh sát địa phương sẽ là lực lượng an ninh chính. Đa số người Alawite ở đó sẽ tự trị ở phần lớn khu vực này (có thể bầu lên một cựu quan chức chính phủ, mặc dù lý tưởng nhất là không phải một người thân cận hoặc họ hàng của Assad). Bản thân Assad cũng phải từ bỏ chức tổng thống và hi vọng là sẽ sống lưu vong. Người Kurd sẽ kiểm soát những khu vực ở miền Bắc nước này. Liên minh người Sunni sẽ phụ trách một nơi khác, và Mỹ sẽ phải cộng tác với họ để kiềm chế vai trò của các phần tử cực đoan. Các thành phố trung tâm lớn của nước này sẽ bị chia sẻ, giống như một vài nơi ở Bosnia, chẳng hạn như Mostar (ngay dù nếu chúng được phân chia trên thực tế trong hầu hết mọi trường hợp). Và dĩ nhiên, các quyền lợi của cộng đồng thiểu số sẽ được quy định trong thỏa thuận mà cuối cùng đã lập thành quy tắc sự dàn xếp này.

Đúng vậy, kế hoạch này hàm ý về một số lượng nhân viên gìn giữ hòa bình của Mỹ trên thực địa, có thể ngang với con số 20.000 người đã bắt đầu công việc tại Bosnia vào năm 1995. Bởi vì mức độ khó khăn của sứ mệnh này và sự cần thiết phải có một sự lãnh đạo mạnh mẽ, sự hiện diện nào đó của Mỹ là không thể thay thế. Tuy nhiên, Mỹ chỉ nên cam kết một sự triển khai quân như vậy khi những nước khác, trong đó có các nước Arập và Thổ Nhĩ Kỳ, cung cấp đa số binh lính gìn giữ hòa bình. Trên thực tế, hiện nay Mỹ nên tìm kiếm sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với chiến lược này trước khi tiến tới bất kỳ sự can dự trực tiếp nào vào cuộc xung đột.

Không có gì sai lầm trong những nỗ lực hiện nay của Mỹ nhằm buộc Assad từ bỏ vũ khí hóa học. Nhưng Mỹ không được quên một mục tiêu quan trọng và dài hạn hơn về một thỏa thuận chia sẻ quyền lực. Tán thành cách tiếp cận này giờ đây đem lại cho Mỹ cơ hội tốt nhất để tránh một cuộc “tắm máu” giữa các phe phái trong tương lai. Nó cũng có thể đóng vai trò giảm nhẹ sự phản đối của Nga đối với hành động can thiệp. Và tại Mỹ, nó sẽ cho phép người Mỹ – cuối cùng – cũng được tranh luận về các sự lựa chọn với một mục tiêu thực tế và bao quát.

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
This entry was posted in Archives, Articles, International relations and tagged , , , , , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s