NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG PHONG CÁCH NGOẠI GIAO CỦA TRUNG QUỐC Ở ĐÔNG NAM Á

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ Bảy, ngày 19/10/2013

TTXVN (Hong Kong 17/10)

Theo trang tin “Đa chiều“, nhân dịp tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) được tổ chức tại Bali, Indonesia, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã tiến hành chuyến thăm hai quốc gia quan trọng của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) là Indonesia và Malaysia. Đúng dịp này, do sự mâu thuẫn chính trị và tài chính giữa đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa ở Mỹ dẫn đến việc chính phủ phải đóng cửa, buộc Tổng thống Obama phải hủy bỏ kế hoạch tham dự Hội nghị APEC và chuyến thăm 4 nước Đông Nam Á. Điều này đã hình thành một sự so sánh rõ ràng giữa Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Mỹ Obama. Thêm vào đó, từ ngày 9 đến 15/10, Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường tham dự Hội nghị cấp cao Trung Quốc-ASEAN lần thứ 16, Hội nghị cấp cao ASEAN+3, Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) lần thứ 8 được tổ chức tại Brunei và có chuyến thăm chính thức tới Brunei, Thái Lan và Việt Nam, nâng quan hệ ngoại giao của Trung Quốc ở ASEAN lên một tầm cao mới. Với việc hai nhà lãnh đạo hàng đầu Trung Quốc lần lượt có chuyến thăm Đông Nam Á, trong đó một số nước có vai trò quan trọng ở khu vực, cộng thêm phong cách ngoại giao tích cực, chủ động, kiên quyết, nhanh chóng của chính phủ khóa mới Trung Quốc, đã góp phần tăng cường ảnh hưởng sâu rộng của Trung Quốc đối với sự phát triển địa chính trị ở châu Á-Thái Bình Dương. Ít nhất tại “khu vực trung lập” này, Trung Quốc bước đầu đã giành thắng lợi trực tiếp về phương diện sức mạnh cứng và mềm, nghĩa là khí thế mạnh mẽ và phương pháp đơn giản, hiệu quả.

Xét từ các biểu hiện trong chuyến công du đầu tiên đến Đông Nam Á của ông Tập Cận Bình khi mới lên nhậm chức và tổng thể đường lối ngoại giao của bộ đôi Tập — Lý (Tập Cận Bình — Lý Khắc Cường) chúng ta có thể thấy phong cách ngoại giao cua Trung Quốc ở Đông Nam Á có 3 đặc điểm chính sau:

Th nht, tích cực, mạnh dạn hơn, tìm kiếm xây dựng quan hệ hữu nghị hợp tác toàn diện trên cơ sở mi liên hệ kinh tế truyền thống giữa Trung Quc và ASEAN. Thời kỳ Chiến tranh Lạnh, quan hệ giữa Trung Quốc và Đông Nam Á có thể miêu tả bằng từ “đối địch”. Các nước Đông Nam Á coi các nước cộng sản chủ nghĩa là sự uy hiếp, việc “xuất khẩu cách mạng” của Trung Quốc ở một mức độ nào đó đã chứng minh thực tế này. Xét từ góc độ lịch sử, việc ra đời Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) là nhằm phối hợp với các nước phương Tây để bao vây và kiềm chế Trung Quốc. Do nguyên nhân này, các nước Đông Nam Á đã nhiều lần xuất hiện hiện tượng “bài Hoa”. Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, trọng điểm chiến lược ngoại giao của Trung Quốc cũng coi nhẹ các nước Đông Nam Á, hai bên tuy là láng giềng nhưng ít có quan hệ qua lại. Trung Quốc vừa không thể dùng biện pháp ngoại giao để gia tăng ảnh hưởng đối với Đông Nam Á, vừa không thể dùng thực lực để kìm hãm khu vực này, dẫn đến việc Trung Quốc đành phải “bó tay” trước sự kiện thảm sát người Hoa ở Indonesia năm 1998.

Động thái lớn đầu tiên trong chính sách ngoại giao của Trung Quốc đối với Đông Nam Á xuất phát từ thời chính phủ của Thủ tướng Chu Dung Cơ năm 2001. Ông Chu Dung Cơ thời đó đã bất ngờ đưa ra kiến nghị ký kết Hiệp định thương mại tự do với ASEAN khiến khu vực này cảm thấy lúng túng nhưng cũng không tiện từ chối. Một năm sau, hai bên ký kết Hiệp định khung về Khu vực Mậu dịch tự do Trung Quốc-ASEAN. Năm 2010, Hiệp định thương mại tự do giữa hai bên được thực hiện một cách toàn diện. Đây là hiệp định thương mại tự do thành công đầu tiên giữa Trung Quốc và nước ngoài và Khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc- ASEAN là một trong nhũng khu vực mậu dịch tự do lớn nhất trên thế giới. Điều này tạo nền tảng vũng chắc cho sự phát triển quan hệ song phương. Trong bối cảnh thị trường Âu-Mỹ ngày càng suy thoái, Trung Quốc đã trở thành một thị trường xuất khẩu lớn của ASEAN và ASEAN cũng là thị trường xuất khẩu lớn của Trung Quốc.

Tuy nhiên, Hiệp định thương mại tự do Trung Quốc-ASEAN chỉ bó hẹp trong lĩnh vực kinh tế. Bất kể thời kỳ Giang Trạch Dân – Chu Dung Cơ hay Hồ Cẩm Đào — Ôn Gia Bảo đều không tập trung vào quan hệ chính trị giữa Trung Quốc và ASEAN. Ngoài quan hệ kinh tế thương mại, đôi bên không hình thành “quan hệ đặc thù” nào. Đặc biệt là không sử dụng biện pháp về mặt nhà nước để thúc đẩy quan hệ hữu nghị vượt quá mức trung bình về mặt chính trị đối với bất kỳ một quốc gia thành viên nào của khối ASEAN cũng như mối quan hệ qua lại giữa các nguyên thủ đôi bên. Ngược lại, các nhà lãnh đạo Trung Quốc chú trọng tìm kiếm hợp tác với các nước phương Tây và xây dựng mối quan hệ cá nhân mật thiết với nguyên thủ các nước này.

Về ý nghĩa, chuyến công du lần này tới Indonesia và Malaysia của ông Tập Cận Bình với tôn chỉ là xây dựng quan hệ toàn diện, vừa thúc đẩy quan hệ kinh tế thương mại đôi bên vừa quảng bá hình ảnh của Trung Quốc, đồng thời tìm kiếm cảm tình của nhân dân hai nước này. Nếu so sánh với người tiền nhiệm Hồ Cẩm Đào thì phong cách của nhà lãnh đạo mới này hoàn toàn khác và thành quả đạt được cũng rất rõ nét, đặc biệt trong chuyến đi lần này, ông Tập Cận Bình đã nâng quan hệ giữa Trung Quốc và Indonesia, Malaysia lên quan hệ đối tác chiến lược toàn diện. Điều này cho thấy Trung Quốc và hai nước đã đạt mức độ hợp tác cao nhất trong bối cảnh không liên minh liên kết. Giao lưu hợp tác giữa hai bên không chỉ ở tầm song phương, mà đã nâng lên mức toàn diện, mang tính toàn cầu, đông thời hình thành quan hệ “ủng hộ lẫn nhau trong các vấn đề mà hai bên cùng quan tâm, tăng cường sự tin tưởng chiến lược”. Trên thực tế Trung Quốc chỉ có mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện như thế này đối với một số quốc gia. Mối quan hệ song phương toàn diện này cộng thêm sức mạnh “cứng” của Trung Quốc ngày càng mạnh khiến cho Trung Quốc có thể ngăn chặn các quốc gia khác gây tổn hại đến lợi ích quan trọng của mình, bất kể là vấn đề quốc tế hay trong nước, đồng thời khi xẩy ra các sự kiện như vậy sẽ đảm bảo cho việc Trung Quốc có thể áp dụng các biện pháp đối phó hiệu quả.

Đc đim th hai trong chiến lược ngoại giao đi với khu vực Đông Nam Á của Trung Quc chính là đang cân bng . Điều này có tính chất đáp trả chính sách “ chuyển trọng tâm chiến lược sang châu Á” của Mỹ. Chính quyền của ông Obama ra sức thúc đẩy chiến lược tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương với chính sách chủ yếu là “sức mạnh thông minh”. Thực chất là gây chia rẽ, sử dụng các lý do như hình thái ý thức, quan niệm giá trị và tranh chấp lãnh thổ để kích động tâm lý lo sợ Trung Quốc của các nước nhỏ trong khu vực Đông Nam Á, đồng thời nhấn mạnh sự lệ thuộc của các nước này vào Mỹ nhằm đảm bảo vị thế chủ đạo của Mỹ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Từ năm 2009 sau khi các quan chức cấp cao của nội các Mỹ như cựu Ngoại-trưởng Hillary Clinton, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates cao giọng nói về tranh chấp Biển Đông, tranh chấp đảo, lãnh hải giữa Trung Quốc và một số quốc gia Đông Nam Á vốn bị gác lại trong nhiều năm, tình hình bắt đầu căng thẳng trở lại khiến Biển Đông trở thành một trong những khu vực nóng trên thế giới, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ xẩy ra chiến tranh. Một số nước nhỏ trong khối ASEAN, dù với tư cách là một chính thể của khối hay ở lập trường tư cách một quốc gia đều có tâm lý hoài nghi, căm thù Trung Quốc ở một mức độ nào đó. Chuyến công du của ông Tập Cận Bình nhằm hướng tới điểm này thông qua việc sử dụng con bài kinh tế và hữu nghị. Một mặt, Trung Quốc kí kết hiệp định thương mại có giá trị lớn với hai nước Indonesia, Malaysia nhằm xây dựng quan hệ kinh tế lâu dài; mặt khác ra sức thúc đẩy giao lưu nhân văn và đối thoại phòng ngự song phương. Không còn nghi ngờ gì nữa, các chính sách này có thể xây dựng sự hiểu biết đôi bên về các lĩnh vực như phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, an ninh chính trị, văn hóa, đồng thời phát huy hiệu quả đối với việc xóa bỏ thái độ thù địch có liên quan.

Ngoài ra, việc Tổng thống Mỹ lỡ hẹn các diễn đàn này càng khiến các quốc gia có liên quan có ấn tượng về một nước Mỹ bất ổn về chính trị, bất lực về kinh tế và bất tín về ngoại giao. Đương nhiên, việc Chính phủ Mỹ đóng cửa có lẽ thể hiện ưu thế của chế độ chính trị Mỹ, chức năng lớn mạnh của thể chế phân quyền. Nhưng đối với các quốc gia ngoài khu vực, nước Mỹ có thể làm gì ở lĩnh vực ngoại giao mới là quan trọng nhất. Cho dù xuất phát từ bất kì nguyên nhân nội chính nào, thì từ tình hình hiện nay có thể thấy Mỹ không phải hoàn toàn không tin tưởng được, nhưng cũng không hoàn toàn tin tưởng được.

Đặc đim thứ ba trong chính sách ngoại giao của Trung Quc ở khu vực Đông Nam Á chính là đim ni bật trong chuyến công du lần này của ông Tập Cận Bình: Trung Quốc thực hiện ngoại giao “khác biệt hóa ” mà không ít người thuộc giới chức trách và học thuật cổ súy. Hàm ý cơ bản cúa chính sách này là các quốc gia đơn lẻ và những quốc gia ít nhiều được hưởng lợi ích chính trị, kinh tế từ Trung Quốc sẽ có mức độ hữu nghị tương đương với Trung Quốc. Ngược lại, mức độ xa cách về quan hệ chính trị, kinh tế của Trung Quốc đối với các quốc gia đơn lẻ cũng sẽ tương ứng với sự tổn hại lợi ích mà các nước này gây ra cho Trung Quốc. Xét từ góc độ lợi ích quốc gia và chính sách ngoại giao, điều này nên là một nội dung trong vấn đề giao lưu đối ngoại của nước đó. Nhưng do nhiều nguyên nhân trong quá khứ, Trung Quốc không tiến hành phân chia rành mạch quan hệ này. Điều này thể hiện Trung Quốc không đối xử với các quốc gia ASEAN như một chỉnh thể, cũng không coi một nước thành viên có thể đại diện cho cả khối, mà chú trọng phát triển quan hệ song phương giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á đồng thời có sự xác định vị trí, phân biệt đối xử với từng quốc gia.

Điều dễ thấy là Trung Quốc coi Indonesia là đại diện đương nhiên và “nước quyết định” trong khối ASEAN, cho nên ông Tập Cận Bình đặc biệt đề cập đến “vận mệnh cộng đồng” giữa Trung Quốc-ASEAN trong chuyến thăm Indonesia vừa qua. Cũng tại nước này ông Tập Cận Bình đã đưa ra 5 điểm kiến nghị về quan hệ Trung Quốc-ASEAN. Trải qua nhiều lần bị các nước ASEAN với tư cách đại diện cho khối cảnh cáo, sách lược hiện nay của Trung Quốc coi Indonesia mới là đại diện cho khối ASEAN. Ở một mức độ nào đó, nước này chính là ASEAN và sẽ dùng khẩu khí của khối để nói chuyện với Trung Quốc.

Ngoài ra, Trung Quốc ngày càng coi trọng Malaysia, có lẽ tính toán lâu dài của Trung Quốc là xây dựng mối quan hệ đặc thù mang tính điển hình giữa nước này với Malaysia. Malaysia là quốc gia có nguồn tài nguyên phong phú, có quan hệ kinh tế mật thiết với Trung Quốc, đồng thời là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc ở khu vực Đông Nam Á. Chính sách của Malaysia đối với Trung Quốc mềm mỏng và duy trì được sự ổn định, thận trọng. Ví dụ, Malaysia là nước có chủ quyền đối với một số hòn đảo ở Biển Đông, nhưng thái độ của nước này không cứng rắn, gây ra tranh chấp như Philippines, Việt Nam. Malaysia cũng không hùa theo chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” của Mỹ, luôn duy trì lập trường trung lập. Những điều này đối với Trung Quốc là phẩm chất tốt đẹp “đáng để giao lưu”. Cho nên, trong chuyến công du tới Malaysia, ông Tập Cận Bình đã có những đánh giá cao và hi vọng Trung Quốc-Malaysia là “những người bạn tốt có thể nói chuyện với nhau, tin tưởng lẫn nhau, dựa vào nhau”.

Tóm lại, chuyến công du lần này của ông Tập Cận Bình tới Indonesia, Malaysia có thể coi là điểm đột phá, tạo nền tảng tốt đẹp cho việc phát triển toàn diện mối quan hệ giữa Trung Quốc-ASEAN. Nếu như các chính sách có thể đáp ứng điều này, cho dù Mỹ có động thái gì cũng không thể khiến Trung Quốc rơi vào thế bị động ở khu vực. Có thể nói, trong cuộc tranh giành vị thế giữa Mỹ và Trung Quốc ở khu vực Đông Nam Á, Mỹ rất khó có thể chiếm thế thượng phong.

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
This entry was posted in Archives, Articles, International relations and tagged , , , , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s