CUBA, HẬU CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Chủ Nhật, ngày 03/11/2013

(Foreign Affairs, 7-8/2013)

Những cải cách kinh tế, đang biến đổi hòn đảo này

Thoạt nhìn, những cơ cấu chính trị và kinh tế cơ bản của Cuba có vẻ bền vững ngang với những chiếc xe ô tô của Mỹ đời giữa thế kỷ XX giờ vẫn đang chạy trên đường phố nước này. Đảng Cộng sản vẫn nắm quyền, nhà nước chi phối nền kinh tế, và những bức vẽ chân dung nhà cách mạng đã qua đời từ lâu Che Guevara vẫn xuất hiện trên những bức tường của thành phố. Những dự đoán rằng hòn đảo này sẽ trải qua một sự biến đổi nhanh chóng theo con đường của Trung Quốc hoặc Việt Nam, chứ chưa nói đến khối Xô Viết cũ, thường tỏ ra là những lời nói nhảm. Nhưng ngày nay Cuba đã rất khác so với 10 hay 20 năm trước, hoặc thậm chí là gần đây vào năm 2006 khi căn bệnh nặng đã buộc Fidel Castro, vị Chủ tịch trong thời gian dài của nước này, phải rút lui. Thay vì giậm chân tại chỗ, Cuba đã bước vào một kỷ nguyên mới mà những đặc trưng của nó không thể dễ dàng phân loại hay so sánh với những quá trình chuyển tiếp ở các nước khác.

Ba năm trước, Castro đã gây ra một cơn bão truyền thông vì lời nhận xét chua cay với một nhà báo Mỹ rằng “mô hình Cuba thậm chí không còn có tác dụng với chúng tôi nữa”. Ngầm tán thành lời nhận xét này, em trai của Fidel, Raul Castro, Chủ tịch Cuba hiện nay, đang lãnh đạo một công cuộc xem xét lại toàn bộ từng bước một, nhưng, đối với Cuba, cơ bản triệt để mối quan hệ giữa nhà nước, cá nhân và xã hội, tất cả mà không cắt đứt sợi dây rốn xã hội chủ nghĩa. Cho đến nay, tình trạng chưa được giải quyết của những vấn đề này vẫn thiếu một định nghĩa hoàn chỉnh hoặc một tên gọi có sức thuyết phục. Uyển ngữ được Đảng Cộng sản ưa thích, “Hiện thực hóa mô hình kinh tế và xã hội Cuba”, quá đề cao mức độ gắn kết về hệ tư tưởng, trong khi che giấu những tác động đối với chính trị và xã hội. Hiện nay, có lẽ mô tả đúng nhất về nước Cuba mới nổi là một mô hình hỗn hợp công-tư mà ở đó nhiều hình thức sản xuất, quyền sở hữu tài sản, và đầu tư bên cạnh một hệ thống phúc lợi nhỏ gọn hơn và quyền tự do cá nhân lớn hơn, sẽ cùng tồn tại với các công ty nhà nước do quân đội điều hành trong những lĩnh vực chiến lược của nền kinh tế và sự cai trị một đảng được duy trì.

Một đạo luật về di trú mới, có hiệu lực vào năm 2013, là một ví dụ đáng chú ý về những cải cách đang diễn ra tại Cuba. Cho đến gần đây, Chính phủ Cuba vẫn yêu cầu các công dân của mình nộp đơn xin cấp giấy phép chính thức trước khi ra nước ngoài, và các bác sĩ, nhà khoa học, vận động viên và các giới chuyên môn khác còn gặp nhiều trở ngại hơn nữa. Nhà nước vẫn quản lý việc xuất nhập cảnh của các vận động viên chuyên nghiệp, các quan chức an ninh và duy trì quyền từ chối cấp hộ chiếu cho bất kỳ ai vì lý do an ninh quốc gia. Nhưng luật di trú mới đã loại bỏ yêu cầu phải có “thẻ trắng”, được biết đến là loại giấy phép xuất cảnh tốn kém và không được lòng dân chúng; cho phép những người ra khỏi đất nước bất hợp pháp như những người đào tẩu và người bỏ trốn bằng bè được về thăm hoặc có thể hồi hương; và kéo dài khoảng thời gian người dân Cuba được phép cư trú hợp pháp ở nước ngoài từ 11 tháng lên 2 năm mà không phải chịu rủi ro bị mất tài khoản ngân hàng, nhà cửa và các cơ sở kinh doanh ở hòn đảo này.

Thời khắc mới này tại Cuba không đột ngột xuất hiện mà đến ngay sau một loạt các biện pháp mang tính lích lũy – trong đó nổi bật nhất là cải cách về nông nghiệp, chính thức hóa một bộ luật thuế tiến bộ, và những nỗ lực được công khai ở mức độ cao của chính phủ nhằm bắt đầu giảm biên chế trong khu vực nhà nước bằng việc cho phép thêm nhiều doanh nghiệp nhỏ ra đời. Sự khởi đầu của các thị trường tín dụng, bất động sản và bán buôn tư nhân hứa hẹn Cuba sẽ phát triển hơn nữa. Tuy nhiên, dường như trong tương lai gần Cuba không sẵn sàng áp dụng mô hình của Trung Quốc hay Việt Nam trong quá trình tự do hoá thị trường. Thực trạng kinh tế, địa lý, nhân khẩu học có một không hai của Cuba – đặc biệt là 11 triệu dân đang ngày càng già đi của nước này, vị trí địa lý gần Mỹ, và sự kết hợp giữa nguồn nhân lực trình độ cao và cơ sở hạ tầng vật chất nghèo nàn – đã khiến Cuba khác với những nước khác, đã rời xa chủ nghĩa Cộng sản. Do đó, có lẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi những thay đổi đang diễn ra tại Cuba không giống với kịch bản chuyển tiếp nhanh chóng đã được hình dung trong đạo luật Helms-Burton 1996, quy định bãi bỏ lệnh cấm vận của Mỹ với điều kiện Cuba tổ chức các cuộc bầu cử đa đảng và hoàn trả tài sản tư nhân đã bị quốc hữu hóa trong những năm 1960. về phương diện này, Washington vẫn chậm hơn La Habana.

Có lẽ các cải cách của Cuba dường như chậm chạp đến thất vọng, không nhất quán và không đủ để giải quyết những khó khăn về kinh tế và nỗi mong mỏi được tham gia nhiều hơn vào chính trị của người dân nước này. Tuy nhiên không nên coi sự thiếu nhanh chóng này là dấu hiệu cho thấy chính phủ đơn giản là không chịu thay đổi hoặc không quan tâm đến những lợi ích chính trị. Phản ứng của các nhà lãnh đạo Cuba trước những thử thách gây quan ngại trong dài hạn liên quan đến cả tư duy chiến lược và cuộc tranh luận đáng chú ý. Quả thực, một vài năm tới sẽ vô cùng quan trong. Như Miguel Díaz-Canel, Phó Chủ tịch đương nhiệm 53 tuổi của nước này và người mới được chỉ định sẽ kế nhiệm Castro, gần đây đã lưu ý rằng Cuba đã đạt được “những tiến bộ trong những vấn đề dễ giải quyết nhất”, nhưng “những vấn đề tồn đọng lại là những lựa chọn quan trọng hơn, sẽ mang tính quyết định đối với sự phát triển của nước này”.

Những tình thế tiến thoái lưỡng nan cơ bản đó bao gồm: Cuba có thể thu hút và quản lý nguồn vốn đầu tư nước ngoài mà nước này đang rất cần, đồng thời gìn giữ chủ quyền có được nhờ cuộc đấu tranh gian khổ bằng cách nào? Người dân trên hòn đảo này sẽ chịu đựng sự bất bình đẳng ở mức độ nào để đổi lấy năng suất cao hơn và những cơ hội lớn hơn? Và mặc dù Đảng Cộng sản đang cố gắng để đứng sang một bên trong việc quản lý thường nhật, như Castro nhấn mạnh là đảng này phải làm như vậy, các nhà lãnh đạo Cuba sẽ giải quyết những áp lực đã âm ỉ từ lâu đòi tính minh bạch, trách nhiệm của khu vực công và sự tham gia chính trị lớn hơn như thế nào? Nếu những gì diễn ra gần đây là khúc dạo đầu, có thể Cuba sẽ tiếp tục đi trên con đường dần tiến tới một xã hội mở và đa nguyên hơn trong khi vẫn duy trì sự độc lập trong chính sách đối ngoại của mình.

Cải cách mang những đặc điểm Cuba

Từ lúc lên tạm nắm quyền vào năm 2006, Raul Castro đã phát biểu thẳng thắn về tình thế khó khăn của Cuba. Ông đã tuyên bố trong một bài phát biểu ngắn gọn và thẳng thắn rất đặc trưng của mình trước toàn quốc vào năm 2010 rằng: “Chúng ta cải cách hoặc chúng ta chìm nghỉm”. Ngay cả khi La Habana kiên định với niềm tin chính trị trung tâm của mình – cụ thể là Đảng Cộng sản vẫn là sự bảo vệ tốt nhất của quốc gia chống lại sự can thiệp của Mỹ trong hơn 1 thế kỷ – những thuật ngữ như “phi tập trung hóa”, “trách nhiệm” và “thể chế hóa” đã trở nên thông dụng, không còn là những từ cấm kỵ. Trong khi vào những năm 1990, La Habana chỉ sẵn sàng cấp phép cho các doanh nghiệp tư nhân ở mức độ hạn chế như một biện pháp tình thế, hiện nay chính phủ công khai nói về việc đảm bảo 50% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Cuba nằm trong tay tư nhân trong vòng 5 năm. Dù thực tế hay không, những mục tiêu tham vọng như vậy có lẽ đã bị coi là báng bổ cách đây chưa đầy 10 năm. Đến nay, sự đại diện của những chủ doanh nghiệp nhỏ Cuba trong Quốc hội nước này và sự tham gia của họ trong cuộc diễu hành kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1/5 hàng năm là bằng chứng cho thấy những thay đổi đang diễn ra.

Những cải cách này đến nay đã đạt được một số thành công có mức độ. Sau khi phải đối mặt với những cuộc khung hoảng nghiêm trọng về thanh khoản và cán cân thanh toán sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nam 2008, Cuba đã thành công trong việc phục hồi đôi chút sự ổn định tài chính, tiếp tục trả nợ, cắt giảm mạnh nhập khẩu và bắt đầu một nhiệm vụ khó khăn — giảm chi tiêu công. Một số khoản đầu tư chiến lược chủ chốt từ các đối tác quốc tế – đáng chú ý nhất là dự án tu bổ cảng Mariel, với nguồn vốn viện trợ từ Brazil, nhằm biến đổi nơi này thành một cảng chuyên chở container trọng yếu — đang tiến triển theo đúng lịch trình. Đồng thời, một cơ quan trách nhiệm tài chính nhà nước mới đã bắt tay vào nhiệm vụ khó khăn loại bỏ tận gốc tình trạng tham nhũng ở địa phương.

Tuy nhiên, Cuba vẫn phải đối mặt với những khó khăn nghiêm trọng trong công cuộc tìm kiếm sức mạnh kinh tế lớn hơn. Không giống với Trung Quốc và Việt Nam trong buổi đầu của những nỗ lực cải cách, Cuba là một nước kém phát triển với những vấn đề của thế giới phát triển. Không chỉ dân số đang ngày càng già đi (18% dân số trên 60 tuổi) mà nền kinh tế nước này còn thiên hẳn về lĩnh vực dịch vụ. Khi Việt Nam bắt đầu những chương trình cải cách kinh tế “đổi mới” của mình vào năm 1986, ngành dịch vụ chỉ chiếm khoảng 33% GDP, trong khi ngành sản xuất chiếm gần 67%. Ngược lại, ngành dịch vụ ở Cuba chiếm gần 75% GDP của hòn đảo này – kết quả của hơn 20 năm ngành công nghiệp sa sút trầm trọng và tỷ lệ tiết kiệm và đâu tư thấp. Xuất khẩu dịch vụ (chủ yếu là các chuyên gia y tế), kết hợp với du lịch và kiều hối tạo thành bức tường bảo vệ chủ yếu trước sự thâm hụt cán cân thanh toán kéo dài.

Các quan chức và các nhà kinh tế học của Cuba nhận ra điểm yếu mang tính cấu trúc này và nhấn mạnh sự cần thiết phải đẩy mạnh xuất khẩu và kích thích một thị trường nội địa năng động hơn. Tuy nhiên đến nay, nhà nước này vẫn chưa thể khắc phục được tình trạnh mất cân đối. Trong ngành công nghiệp mía đường, từng là ngành chủ lực, hoạt động sản xuất tiếp tục gặp khó khăn bất chấp giá thế giới tăng và nguồn vốn đầu tư mới của Brazil. Trong khi đó một vụ bê bối tham nhũng và giá cả thế giới sụt giảm đã làm suy yếu ngành công nghiệp nickel, dẫn đến phải đóng cửa một trong 3 cơ sở chế tạo của hòn đảo này. Nói chung, năng suất của Cuba còn thấp, và nước này vẫn chưa thể tận dụng nguồn nhân lực trình độ cao của họ.

Mặc dù đóng vai trò quan trọng, việc mở rộng khu vực doanh nghiệp nhỏ không thể giải quyết những vấn đề cốt lõi. Hiện nay có 181 loại hình hoạt động tự doanh hợp pháp, nhưng tập trung hầu hết trong ngành dịch vụ, bao gồm chủ các nhà hàng độc lập, các quầy thực phẩm và nhà trọ phục vụ bữa sáng. Các quỹ khởi nghiệp khan hiếm, lệ phí cho việc cấp giấy phép kinh doanh cao và một số phạm trù pháp lý cụ thể một cách vô nghĩa. Cơ hội kiếm được nguồn lợi nhuận chính đáng cũng vẫn chưa rõ có kéo được các doanh nghiệp chợ đen ra hoạt động công khai hay không.

Vì vậy không có gì đáng ngạc nhiên khi việc mở rộng loại hình tự doanh vẫn chưa tạo điều kiện cho nhà nước đạt được những mục tiêu cắt giảm biên chế cồng kềnh của mình. Vào cuối năm 2010, Castro đã hứa hẹn cắt giảm 500.000 việc làm trong khu vực nhà nước trong vòng 6 tháng đầu năm 2011, nhằm đưa 1,8 triệu nhân viên (trên tổng số ước tính 5,3 triệu lao động) vào khu vực tư nhân vào năm 2015. Nhưng chính phủ chỉ có thể cắt giảm 137.000 vị trí việc làm trong năm đầu tiên đó. Tuy nhiên, những cải cách này đang có một tác động quan trọng. Các doanh nghiệp nhỏ hiện nay tuyển dụng khoảng 400.000 công dân nước này, tăng 154% kể từ khi tiến trình tự do hóa loại hình tự doanh bắt đầu vào tháng 10/2010. Ngoài ra, để kích thích tăng trưởng hơn nữa gần đây các nhà chức trách đã khai trương một công ty bán sỉ, sẽ cho phép các doanh nghiệp đang nổi lên mua nguyên vật liệu đầu vào theo những điều khoản giống với các công ty nhà nước, nhờ đó giải quyết được lý do bất mãn chủ yếu của các chủ doanh nghiệp.

Để bổ sung cho những thành quả này, Cuba cần tiếp tục xây dựng lại năng lực sản xuất của mình trong những ngành cốt lõi như nông nghiệp. Trước khi Raul lên nắm quyền, khoảng 20% đất trồng trọt của nước này bị bỏ hoang và Cuba phải nhập khẩu 50% nguồn cung lương thực nội địa – một phần đáng kể trong đó đến từ Mỹ, theo một ngoại lệ năm 2000 đối với lệnh cấm vận thương mại. Để tăng sản lượng nội địa, nhà nước đã giao gần 1,5 triệu héc ta đất cho các nông dân tư nhân mà sản lượng thu hoạch của họ hiện chiếm 57% tổng sản lượng lương thực của nước này mặc dù họ chỉ được sử dụng dưới 25% đất trồng. Tuy nhiên tổng sản lượng lương thực của các loại cơ bản nhất vẫn dao động quanh hoặc đôi chút thấp hơn mức năm 2002.

Hứa hẹn hơn là dự án đầu tư nhằm nâng cấp cảng Mariel do tập đoàn Odebrecht đứng đầu, với sự hậu thuẫn từ Ngân hàng Phát triển Quốc gia Brazil. Cuba đang hi vọng có thể tự định vị mình là một trung tâm vận tải biển quan trọng trong vùng Caribbean. Nằm giữa kênh đào Panama và một số điểm tại Mỹ và châu Âu, cảng nước sâu khổng lồ tại Mariel nằm ở vị trí lý tưởng để giao dịch thương mại với Mỹ và xa hơn nữa trong một thế giới hậu cấm vận. Hơn nữa, bốn công ty dược phẩm Brazil đã ký kết hợp đồng sản xuất tại khu vực xung quanh cảng này để xuất khẩu trực tiếp sang Brazil và các thị trương khác. Tuy nhiên, nếu Mỹ vẫn duy trì lệnh cấm vận, những lợi ích dài hạn của dự án đầu tư Mariel sẽ bị hạn chế.

Dự án cảng này làm nổi bật một số tình thế tiến thoái lưỡng nam rộng lớn hơn, đang hạn chế đầu tư nước ngoài vào Cuba và những triển vọng tăng trưởng chung của nước này. La Habana đã thiết kế Mariel là đặc khu phát triển kinh tế – tại đó các công ty nước ngoài được hưởng những hình thức khuyến khích đặc biệt và các đặc quyền — trong một nỗ lực nhằm thu hút những nguồn vốn đầu tư đang vô cùng cần thiết. Các quan chức Cuba cũng nhắm đến việc tận dụng nguồn dân số trình độ cao của nước này và thiết lập các khu đầu tư hướng tới đổi mới công nghệ cao và các hoạt động giá trị gia tăng cao khác như công nghệ sinh học. Tuy nhiên nếu không có các mối liên hệ với những ngành công nghiệp địa phương, những khu đầu tư như vậy có thể trở thành các ốc đảo kinh tế, tạo việc làm cho người dân địa phương và thu nhập cho Chính phủ Cuba nhưng làm giảm những tác động nhiều mặt.

Hệ thống tiền tệ kép của Cuba khiến cho thử thách này càng trở nên khó khăn hơn. Một sản phẩm phụ của quá trình lưu thông đồng USD vào những năm 1990 – đầu tiên ở chợ đen, sau đó hợp pháp – đồng peso có thể chuyển đổi (CUC) của Cuba ngày nay có chức năng như đồng tiền của ngành du lịch và được quy định dùng cho mua bán nhiều loại hàng tiêu dùng. Đối với những người dân thường Cuba, giá trị của đồng CUC gắn liền với đồng USD, với một CUC bằng 25 peso Cuba (CUP), loại tiền tệ được dùng để trả cho hầu hết nhân viên nhà nước. Vì vậy, các công dân nhận được ngoại tệ từ nước ngoài hoặc những người kiếm tiền bằng CUC, chẳng hạn như các nhân viên nhận tiền tip của khách du lịch nước ngoài, có thu nhập cao hơn rất nhiều những nhân viên chỉ phụ thuộc vào khoản lương được trả bằng CUP.

Thậm chí còn tồi tệ hơn nữa, đồng CUC và CUP được coi là có giá trị bằng nhau bên trong và giữa các doanh nghiệp nhà nước. Tập quán kế toán kỳ lạ này đã bảo vệ giá đồng CUP khỏi lạm phát trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế trầm trọng nhất sau khi Liên Xô sụp đổ, nhưng ngày nay nó khiến cho các nhà phân tích và các nhà đầu tư khó có thể ước tính các chi phí thực tế của việc hoạt động kinh doanh trên hòn đảo này hoặc giá trị của các công ty nhà nước. Các nhà kinh tế học đồng ý rằng cách ít gây xáo trộn nhất để tiến tới một đồng tiền duy nhất là dần dần hợp nhất tỷ giá hối đoái của hai đồng tiền, cùng lúc đó gia tăng đều đặn GDP và lương nói chung. Nhưng đồng thời, tỷ lệ nhân tạo 1:1 trong khu vực nhà nước có tác động định giá quá cao tỷ giá hối đoái quốc tế của đồng CUP và do đó làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng nội địa. Nghịch lý là chế độ tiền tệ kép bảo hộ hàng nhập khẩu, gây phương hại cho sản xuất trong nước.

Xuất nhập cảnh

Cải cách gần đây của Cuba về luật di trú tóm lược ngắn gọn một số khả năng, hạn chế và tác động của chương trình nghị sự lớn hơn của Castro. Bất chấp vừa là dấu hiệu cho thấy nhà nước sẵn sàng đưa ra những quyết định chiến lược, vừa có thể nói là cải cách quan trọng nhất cho đến nay, luật mới này cũng làm nổi bật những cuộc đấu tranh khắc nghiệt còn tồn tại và làm sáng tỏ khó khăn của việc giải quyết các quan điểm và kỳ vọng. Giống như hầu hết các vấn đề trong xã hội Cuba, ranh giới giữa chính trị và kinh tế hoàn toàn mong manh.

Phải đối mặt với sự ra đi của các chuyên gia có trình độ và nguồn vốn khỏi đất nước này sau cuộc cách mạng, Chính phủ Cuba bắt đầu quy định nghiêm ngặt việc ra nước ngoài của công dân vào đầu những năm 1960. Vì “những người di cư” có liên quan trực tiếp đến những nỗ lực nhằm lật đổ chế độ của Castro, thường đo Chính phủ Mỹ tài trợ, La Habana đã coi việc di trú là vấn đề an ninh quốc gia. Trong vòng nhiều năm, những người đã thành công trong việc rời bỏ đất nước, dù hợp pháp hay bất hợp pháp, đều bị nhà nước tịch thu tài sản và trừ những trường hợp ngoại lệ vô cùng đặc biệt, đều không thể hồi hương. Nhưng những hạn chế như vậy đã để lại những vết thương sâu sắc.

Tuy nhiên đã từ lâu kể từ khi người Cuba trong và ngoài nước có thể phân biệt rõ- ràng giữa những người chống cộng sản và những người cách mạng ủng hộ Castro. Bất cứ chuyến thăm nào đến sân bay Miami ngày nay đều minh chứng cho sức mạnh của những mối quan hệ xuyên quốc gia; vào mùa cao điểm, hơn một trăm chuyến bay thuê hàng tuần đưa người Cuba và người Mỹ gốc Cuba đi lại giữa hai nước. Việc đi lại như vậy, được cho phép trong một số hoàn cảnh kể từ cuối những năm 1970, đã tăng đáng kể từ năm 2009, khi Tổng thống Mỹ Barack Obama dỡ bỏ những hạn chế về các chuyến thăm gia đình. Trong năm 2012, hơn 400.000 người Cuba sinh sống tại Mỹ đã tới thăm hòn đảo này. Và đó là chưa kể đến hàng trăm trong số hàng nghìn người Cuba di cư đang sinh sống trên khắp khu vực Mỹ Latin, Canada, châu Âu và xa hơn nữa, những người cũng về thăm và hỗ trợ gia đình ở quê hương.

Quả thực, bằng cách tạo điều kiện cho người Cuba đi lại, làm việc ở nước ngoài và sau đó quay trở lại quê hương dễ dàng hơn, luật di trú mới của Cuba cũng nhằm mục đích kích thích nền kinh tế. Với con số ước tính 1 tỷ USD mỗi năm, kiều hối đã trở thành nguồn thu lớn kể từ cuối những năm 1990, giúp người Cuba bù đắp mức lương thấp và tận đụng những cơ hội ít ỏi cho doanh nghiệp tư nhân. Vì hiện nay chính phủ đã mở rộng hơn nữa khu vực doanh nghiệp nhỏ, mối liên hệ giữa cộng đồng kiều bào lưu vong và hòn đảo này đang mang đến những khoản bù đắp thậm chí còn lớn hơn. Người Cuba ở nước ngoài hiện đang hỗ trợ đầu tư vào các quán ăn tự phục vụ ở mặt tiền, các cửa hàng sửa chữa và các doanh nghiệp nhỏ khác, đang mọc lên trên khắp cả nước. Một số người dân tại hòn đảo này cũng đang gửi tiền ra nước ngoài để người thân của họ có thể mua cho họ những hàng hóa tiêu dùng ở nước ngoài.

Tuy nhiên, ngoài việc khắc phục nguyên trạng rất không được lòng dân, luật di trú mới đã đặt chính phủ vào một tình thế khó xử. Giả thiết rằng người dân Cuba có thể đủ chi trả những khoản lệ phí hiện nay đã giảm, những vẫn tương đối cao, có liên quan đến việc được cấp các loại giấy thông hành cần thiết, những nước khác – chủ yếu là Mỹ – sẽ cần tiếp tục nhận một số lượng lớn du khách và dân di cư Cuba. Mỉa mai thay, La Habana từ lâu đã chỉ trích những ưu đãi đặc biệt dành cho người Cuba theo luật nhập cư của Mỹ vì dường như nó khuyến khích và thưởng cho những nỗ lực nguy hiểm nhằm vượt biển sang Mỹ. Hiện nay, Cuba dường như được hưởng lợi từ việc duy trì nhũng biện pháp như vậy trong luật – đặc biệt là lộ trình nhanh 1 năm để được hưởng tư cách thường trú được quy định trong Đạo luật điều chỉnh về Cuba 1966. Theo luật của Cuba cho phép kéo dài 2 năm cư trú hợp pháp ở nước ngoài, hơn 20.000 người Cuba đang di cư hợp pháp sang Mỹ mỗi năm sẽ có thể được cấp thẻ xanh mà không nhất thiết phải từ bỏ quốc tịch, nhà cửa hoặc doanh nghiệp tại hòn đảo này.

Nguồn vốn ít ỏi của kiều bào có thể tỏ ra dễ dàng hơn khi quản lý và dựa vào so với nguồn tiền đến từ các tập đoàn đa quốc gia, hoạt động hoàn toàn vì lợi nhuận. Theo các điều khoản về hồi hương trong luật di trú mới của hòn đảo này, một số người Cuba thậm chí có thể về nghỉ hưu ở hòn đảo này với tiền lương hưu và các khoản tiết kiệm sau hàng thập kỷ làm việc ở nước ngoài. Tuy nhiên mở cửa cho các công dân trẻ hơn rời khỏi đất nước có thể gây rủi ro cho một xã hội đang ngày càng già đi nhanh chóng, tỷ lệ sinh thấp, lâu nay đang bị chẩy máu chất xám. Hơn nữa, ngoài kiều hối, Cuba đang rất cần những nhà đầu tư ở cả quy mô vừa và lớn. Rốt cuộc, chỉ những khoản chi tiêu lớn hơn mới có thể giúp giải quyết vần đề căn bản nhất của nền kinh tế Cuba: nền tảng sản xuất bị suy yếu của nước này. Castro dường như nhận ra rằng thu hút đầu tư nước ngoài, phi tập trung hóa chính phủ, và mở rộng hơn nữa khu vực tư nhân là cách duy nhất để giải quyết tình thế khó khăn dài hạn này. Tuy nhiên, có lẽ chính phủ chưa bắt tay vào làm bất cứ điều gì ngoài sự thận trọng. Các quan chức đang rất thận trọng để không làm rung chuyển nền chính trị trong nước, công dân và lãnh đạo đảng đều chùn lại trước viễn cảnh về liệu pháp gây sốc triệt để hơn, Những cuộc phản kháng công khai ngày càng gia tăng tại Trung Quốc và Việt Nam phản đối sự bất công và tình trạng tham nhũng tràn lan chỉ làm củng cố thêm sự ưa thích hơn của Chính phủ Cuba đối với thuyết phát triển dần từng bước một.

Duy trì trạng thái cân bằng thích hợp sẽ không dễ dàng. Vào cuối năm 2012, La Habana đã hợp pháp hóa việc thành lập các hợp tác xã vận tải – những thực thể tư nhân, chia sẻ lợi nhuận, thuộc sở hữu và chịu sự quản lý của các thành viên của tổ chức – để giải quyết những điểm tắc nghẽn trong phân phối nông nghiệp, Trong khi đó, 100 doanh nghiệp nhà nước hiện đang quản lý nguồn tài chính của mình một cách hoàn toàn độc lập, là một phần của chương trình thí điểm kéo dài một năm. Nghe nói chính phủ cũng đang cân nhắc các cách thức nhằm đưa ra các điều khoản có lợi hơn cho một loạt rộng lớn hơn các đối tác nước ngoài tiềm năng tham gia các liên doanh. Nhưng Đảng Cộng sản đang trải qua rất nhiều mâu thuẫn – công nhận vị trí của nền kinh tế thị trường, thách thức những thành kiến cũ đối với giới doanh nghiệp, và ám chỉ đến việc phi tập trung hóa ngân sách trong khi nhấn mạnh một cách vô lý, theo từ ngữ của văn bản hướng dẫn chính thức năm 2011 của nó, rằng: “đặt kế hoạch tập trung, chứ không phải thị trường, sẽ được ưu tiên”.

Xoa dịu nhà nước gia trưởng

Giảm bớt vai trò kinh tế của nhà nước, trong khi duy trì tính liên tục về chính trị đòi hỏi phải khéo léo giải quyết vấn đề về ý thức hệ nhậy cảm. Mặc dù chính phủ kỳ vọng có thể tiếp tục cung cấp các dịch vụ xã hội chủ chốt như y tế và giáo dục cho người dân Cuba, lãnh đạo đảng đã khiển trách công dân của hòn đảo này vì mặt khác quá phụ thuộc vào cái mà một quan chức nổi bật vài năm trước đã gọi là “nhà nước gia trưởng”. Trong con mắt của nhiều người dân Cuba, điều này vô cùng mỉa mai. Những nhà cách mạng sáng lập Cuba, những người đã xây dựng nên một nhà nước gia trưởng hướng tới sự bình đẳng, hiện đang kêu gọi dỡ bỏ từng phần nhà nước đó. Hơn nữa, hầu hết người dân Cuba đều cần phải nhờ đến chợ đen hoặc sự hỗ trợ của gia đình ở nước ngoài để có được nhiều nhu yếu phẩm hàng ngày.

Điều đó không có nghĩa là các cải cách này đã được thực hiện mà không hỏi ý kiến của dân chúng. Trong khoảng thời gian trước Đại hội 6 của Đảng Cộng sản Cuba, chính phủ đã triệu tập một loạt các cuộc họp chưa từng có tiền lệ trên khắp cả nước để lắng nghe những nỗi bất bình và những đề xuất thay đổi của người dân và thảo luận về chương trình nghị sự của Castro. Mặc dù sắp tới chưa thể có các cuộc bầu cử đa đảng, việc thực hiện này đã cho phép dân chúng được tranh luận ở khắp mọi nơi và thường quyết liệt, tuy vẫn nằm trong khuôn khổ của khái niệm “xã hội chủ nghĩa” rộng lớn. Mặc dù ủng hộ chế độ cai trị một đảng, Castro cũng đã kêu gọi các công chức tạo cơ hội cho báo chí nhà nước tiếo cận vợi họ, và ông đề nghị khu vực báo chí đến lượt nó từ bỏ thái độ hân hoan chiến thắng truyền thống. Cũng với lối nói tương tự, ông khẩn thiết đề nghị các sinh viên “bạo dạn tranh luận” và các đảng viên “hãy nhìn thẳng vào mắt nhau, không đồng tình và tranh luận, thậm chí không đồng tình với những gì các nhà lãnh đạo nói bất cứ khi nào [bạn] nghĩ rằng bạn có lý do để làm như vậy”. Gần đây hơn, Điaz-Canel công khai đề cập đến việc không thể ngăn cấm lan truyền tin tức thông qua truyền thông và mạng xã hội – một dấu hiệu cho thấy đối với chính phủ, lợi ích chiến lược của việc tạo điều kiện cho kết nối mạng Internet rộng rãi hơn rất có thể còn lớn hơn lợi ích của việc kiểm soát truy cập.

Thực tế vẫn chưa bắt kịp với lời tuyên bố hùng hồn này. Cuộc tranh luận công khai giữa những quan chức cấp cao của Cuba vẫn còn hiếm, mặc dù có tin cho rằng khi họp kín, họ tranh cãi rất quyết liệt. Cũng chưa rõ liệu Quốc hội của Cuba có thể trở thành một nhánh chính quyền có tính hệ lụy và tranh luận hơn hay không. Những phát biểu công khai được coi là công kích tính hợp pháp của Cách mạng Cuba vẫn là điều cấm kỵ và là căn cứ để hứng chịu những hậu quả tại nơi làm việc hoặc thậm chí bị đuổi việc, tuy nhiên, bên ngoài các cơ quan chính phủ cấp cao và những tờ nhật báo chủ yếu vẫn mang tính xoa dịu, những tiếng nói đa dạng đã thúc đẩy đáng kể lời lẽ tranh luận trong những năm gần đây, xóa nhòa ranh giới được cho là rõ rệt, phân biệt các quan điểm “cách mạng” và “phản cách mạng”.

Sự chú ý quốc tế thường có khuynh hướng tập trung vào cộng đồng nhỏ tự ý thức về bản thân và bất đồng chính kiến của Cuba, đặc biệt là một loạt các nhà hoạt động và blogger thành thạo kỹ thuật số. Tuy nhiên ở một nước mà Internet vẫn là loại hàng hóa đắt đỏ, bị kiểm soát chặt chẽ có lẽ các cuộc tranh luận thú vị và có tính hệ lụy tiềm tàng nhất đang diễn ra trong giới học thuật, nghệ sĩ, các nhà làm phim độc lập, các cựu quan chức, và các nhà lãnh đạo tôn giáo không chuyên, đặc biệt từ Giáo hội Thiên Chúa mà các trang web, báo và-các diễn đàn công khai của họ đang ngày càng trở nên dễ tiếp cận hơn đối với người dân của hòn đảo này. Nói chung, những nhân vật này không có ý định tuyệt giao hoàn toàn với những di sản, biểu tượng và nhũng câu chuyện của Cách mạng Cuba. Họ vẫn giữ khoảng cách với nguồn hỗ trợ tài chính từ nước ngoài, đặc biệt là Mỹ và người Mỹ gốc Cuba thứ đánh dấu nhiều nhân vật bất đồng chính kiến là “lính đánh thuê” trong con mắt của nhà nước Cuba. Tuy nhiên họ làm như vậy là vì niềm tin chính trị hơn là tính toán chiến lược, không chấp nhận lựa chọn được cho là giữa việc tuân thủ hoàn toàn mệnh lệnh của Đảng Cộng sản ở quê hương và cộng tác với các âm mưu chuyển tiếp được lên kế hoạch ở nước ngoài.

Gần đây, một nhóm nhỏ các tín đồ Thiên Chúa giáo ôn hòa và những người theo chủ nghĩa Mác có chủ trương cải cách đã tập hợp lại với nhau dưới sự bảo trợ của một trung tâm văn hóa do Giáo hội tài trợ, đã truyền bá một loạt các đề xuất thẳng thắn về cải cách chính trị trên mạng. Những đề xuất này bao gồm cho phép các cuộc bầu cử trực tiếp, cạnh tranh cho tất cả các vị trí lãnh đạo chính của Cuba (mặc dù với tất cả ứng cử viên đến từ một đảng), không bị hạn chế tiếp cận với Internet, truyền thông tự do hơn, phân chia quyền lực hiệu quả hơn trong chính phủ và sử dụng nhiều hơn các cuộc trưng cầu dân ý về những quyết định quan trọng của chính phủ. Những đề nghị này đã vấp phải sự phản đối từ một số người muốn bảo vệ nguyên trạng, đồng thời tạo được sự ủng hộ, quan tâm và tranh luận rất lớn trong giới học thuật ở hòn đảo này.

Tuy nhiên, bất chấp phạm vi chưa từng có của các cuộc thảo luận này, khó có thể dự đoán được liệu chúng có tạo ra nhiều thay đổi cụ thể trong ngắn hạn hay không. Hiện nay, chúng dường như không tác động nhiều đến người dân, những người ít quân tâm tới chúng hơn những người giữ niềm tin cách mạng chính thống. Lời giải thích cho sự không can dự của người Cuba liên quan đến sự thờ ơ, trì trệ, tâm lý phòng thân và các nhu cầu vật chất họ phải đối mặt hàng ngày cũng nhiều như việc vì bị hạn chế tiếp cận với thông tin và không có quyền hội họp. Xét cho cùng, rất nhiều người dân Cuba xem các đài truyền hình Miami qua băng đĩa được sao chép bất hợp pháp hoặc các chương trình phát thanh qua vệ tinh lậu, tuy nhiên đến nay họ tỏ ra là không có nhiều khả năng sẽ kéo xuống đường phố hơn những người hàng xóm thiếu cơ hội tiếp cận như vậy. Kể từ những năm 1960, cách thức cơ bản nhất cho những người bất bình hoặc không hài lòng tại Cuba bầy tỏ ý kiến của mình là di cư – đặc biệt là sang Mỹ, vì có nhiều hình thức khuyến khích đối với người Cuba được đưa vào luật nhập cư của Mỹ. Chỉ cần chiều hướng này còn tiếp tục, La Habana sẽ có không gian chính trị để tiếp tục những cải cách theo công thức của Castro “không ngừng nghỉ nhưng không vội vàng”.

Tảng băng cuối cùng của Chiến tranh lạnh

Như vấn đề di trú cho thấy, tình thế khó khăn về kinh tế và chính trị của Cuba không thể được đánh giá đúng nếu tách rời khỏi bối cảnh quốc tế. Lệnh cấm vận của Mỹ vẫn là một trở ngại to lớn đối với sự thịnh vượng lâu dài về kinh tế của hòn đảo này, và nó phủ bóng đen lên hoạt động chính trị nội bộ Cuba, về trường hợp của Việt Nam, chỉ sau khi Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận vào năm 1994, nền kinh tế của nước này mới bắt đầu chuyển mình thực sự. Vì Cuba nằm gần Mỹ và chi phí lao động của nước này tương đối thấp, một sự thay đổi tương tự như vậy trong luật của Mỹ có thể sẽ tác động sâu sắc đến hòn đảo này.

Vào tháng 1/2013, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đã mở đầu phiên điều trần bằng việc ca ngợi sự cộng tác mật thiết của ông với Nghị sĩ John McCain (đảng Cộng hòa-bang Arizona.) trong việc vượt qua di sản chiến tranh để tái lập mối quan hệ của Mỹ với Việt Nam. Tuy nhiên cả Kerry và Obama dường như vẫn theo quan điểm truyền thống đã lỗi thời về Cuba, theo đó, Washington không thể thay đổi chính sách thất bại của mình nếu người Mỹ gốc Cuba trong Quốc hội tiếp tục phản đối. Tuy nhiên thực tế vốn đang thay đổi. Các cử tri của những nhà lập pháp này đã bắt đầu bỏ phiếu bằng đôi chân và cuốn séc đến hòn đảo này và gửi kiều hối về cho gia đình ở đó, một chuyện chưa từng xẩy ra. Hơn nữa, một số người Mỹ gốc Cuba giàu có hiện đang bàn bạc trực tiếp với La Habana về những khoản đầu tư quy mô lớn trong tương lai. Là một đảng viên Dân chủ giành được gần 50% số phiếu bầu của người Mỹ gốc Cuba tại Florida trong năm 2012, Obama ở một vị thế tốt hơn tất cả những người tiền nhiệm của mình để bắt đầu lên kế hoạch cho sự kết thúc lệnh cấm vận kéo dài 50 năm của Mỹ.

Bối cảnh địa chính trị tại Mỹ Latin là một lý do khác cho thấy Chính phủ Mỹ nên tạo ra một sự thay đổi quan trọng về Cuba. Trong vòng 5 năm qua, Obama đã phớt lờ việc khu vực Mỹ Latin nhất trí phản đối lập trường của Washington về Cuba. Thay vì duy trì sự cô lập ngoại giao của La Habana, chính sách của Mỹ là hiện thân của những kỳ vọng đế quốc trong một thời đại đã qua, góp phần đẩy Washington sang bên lề. Hầu như tất cả các nước trong khu vực này đều từ chối tham gia một cuộc họp nữa của Hội nghị Thượng đỉnh các nước châu Mỹ nếu không có sự hiện diện của Cuba. Về phía mình, Cuba hiện đang là chủ tịch cộng đồng các nhà nước khu vực Mỹ Latin và Caribbean mới được thành lập và không có Washington. Chính quyền Obama đã bắt đầu hoạch định cái có thể trở thành một chương trình nghị sự quan trọng trong nhiệm kỳ thứ 2 về khu vực Mỹ Latin, tập trung vào năng lượng, việc làm, tính toàn diện xã hội và hội nhập hơn nữa với các nước châu Mỹ. Nhưng Cuba mang ý nghĩa tượng trưng khắp khu vực này đến mức Nhà Trắng chỉ có thể dứt khoát đưa các mối quan hệ Mỹ-Mỹ Latin ra khỏi Chiến tranh Lạnh và bước vào thế kỷ 21 bằng cách thay đổi chính sách đối với Cuba.

Tuy nhiên, để tạo nên sự thay đổi như vậy, Washington phải gạt bỏ giả định rằng La Habana thích mối quan hệ đối đầu với Mỹ. Raúl Castro đã cho thấy ông không phải là anh trai của ông và ông sử dụng rất nhiều kênh, cả công khai lẫn riêng tư để gửi đến Washington một thông điệp rằng ông đã sẵn sàng đàm phán. Điều này không có nghĩa là ông hay những người kế nhiệm ông sẵn sàng thỏa hiệp về nền chính trị trong nước của Cuba; quả thực, cái mà Castro sẵn sàng đưa ra bàn đàm phán vẫn không rõ ràng. Nhưng việc chính quyền của ông quyết định sẽ thả hơn 120 tù nhân chính trị vào năm 2010 và 2011 và cho phép một số lượng lớn các blogger và nhà hoạt động bất đồng chính kiến được ra nước ngoài vào năm 2013 có lẽ nhằm mục đích chuẩn bị cho những cuộc thương thảo tiềm năng với Mỹ.

Đồng thời, cái chết của Hugo Chávez, cựu Tổng thống Venezuela, và chiến thắng sít sao trong cuộc bầu cử của người kế nhiệm ông, Nicolás Maduro, đã làm rõ rằng La Habana có những lý do riêng cho việc vạch ra một con đường trước mắt với Mỹ. Trong khoảng một thập kỷ vừa qua, Cuba đã trở nên lệ thuộc vào Venezuela về lượng cung lớn dầu mỏ được trợ cấp, đổi lại bằng một nhóm khá đông các bác sĩ Cuba sang làm việc cho các chương trình xã hội của Chính quyền Chávez. Tình hình bất ổn chính trị ở Caracas là một lời nhắc nhở mạnh mẽ về mối nguy hại của việc phụ thuộc quá nhiều vào bất cứ một đối tác nào. La Habana hiện đang bắt đầu mở rộng mối quan hệ. Ngoài việc cấp vốn cho dự án cải tạo cảng Mariel, người Brazil đã nâng hạn mức tín dụng để nâng cấp và mở rộng 5 sân bay trên khắp hòn đảo này và gần đây đã ký kết một thỏa thuận tuyển dụng 6000 bác sĩ người Cuba để bù đắp cho sự thiếu hụt về y tế ở nông thôn Brazil. Mặc dù vậy, trong dài hạn, Mỹ vẫn là thị trường tự nhiên trọng yếu cho sản phẩm và dịch vụ của Cuba.

Hiển nhiên, như những năm 1990 đã chứng minh, ngay cả một cuộc khủng hoảng tài chính lớn có lẽ cũng chưa đủ để khiến La Habana đến cầu cạnh Washington. Nửa thế kỷ chiến tranh kinh tế của Mỹ đã tạo điều kiện cho các quan chức và cán bộ đảng của Cuba gắn sự mở cửa trong nước và đối với Mỹ với mối đe dọa đối với nền độc lập của Cuba. Một số người theo chủ trương cứng rắn có lẽ thích vật lộn để vượt qua khó khăn của nguyên trạng hơn là sự bất ổn có thể đến từ sự mở cửa rộng lớn hơn của nước này.

Tuy nhiên, cách tốt nhất để thay đổi những suy nghĩ như vậy là Washington khởi xướng thiết lập một tạm ước ngoại giao và kinh tế với La Habana. Trong ngắn hạn, hai nước có nhiều vấn đề thực tiễn để cùng nhau giải quyết, trong đó có những thử thách về môi trường và an ninh, cũng như số phận của các công dân được nhiều người biết đến, đang bị giam giữ trong tù tại Mỹ và Cuba, Hầu hết các bước chính sách mà Obama nên thực hiện trong giai đoạn này – đưa Cuba ra khỏi danh sách các nhà nước tài trợ cho khủng bố, dỡ bỏ những trở ngại đối với toàn bộ người dân Mỹ khi du lịch tới Cuba, và cấp phép thương mại và đầu tư lớn hơn – sẽ không cần phải có sự phê chuẩn của quốc hội hay bất cứ cuộc mặc cả lớn nào với La Habana. Mặc dù có thể khó xử về chính trị khi một tổng thống ở Mỹ được coi là giúp đỡ Castro, trên hòn đảo này những biện pháp như vậy sẽ củng cố lập luận rằng Cuba có thể đứng vững để trở thảnh một xã hội cởi mở, dân chủ hơn mà không cần phải đối phó với những áp lực và phá hoại từ bên ngoài. Hơn nữa, những mối quan hệ thương mại sâu sắc hơn có thể có những tác động vượt ra ngoài lĩnh vực kinh tế, mang đến cho những nhà cải cách trong nước nhiều quyền tự do hơn và làm gia tăng sự ủng hộ tại hòn đảo này đối với việc tự do hóa kinh tế và chính trị lớn hơn.

Vào năm 1991, Chủ tịch Liên bang Xô Viết, Mikhail Gorbachev đã đứng bên cạnh Ngoại trưởng Mỹ James Baker tại Moskva và tuyên bố rằng Liên Xô sẽ xóa bỏ khoản trợ cấp hàng tỷ USD mỗi năm cho Cuba. Các nhà phân tích của CIA và các nhà phê bình người Mỹ ngay lập tức đã bắt đầu dự đoán về sự sụp đổ trước mắt của cuộc cách mạng Cuba và sự quay trở lại nhanh chóng về với chủ nghĩa tư bản. Hơn 20 năm đã trôi qua kể từ thời điểm đó, Fidel Castro đã nghỉ hưu, và một Raúl Castro 82 tuổi hiện đang ở trong năm đầu tiên của cái ông đã nói rằng sẽ là nhiệm kỳ 5 năm với tư cách chủ tịch của ông.

Vào năm 2018, khi Díaz-Canel lên nắm quyền, Cuba rất có khả năng sẽ tiếp tục thách thức những ảo mộng của Mỹ thời hậu Chiến tranh Lạnh ngay cả khi nước này rời xa hơn nữa quá khứ xã hội chủ nghĩa chính thống của mình. Đối với những thành viên thế hệ sáng lập cách mạng Cuba, một sự biến đổi tinh vi như vậy sẽ mang đến cơ hội cuối cùng để định hình di sản của họ. Đối với người dân Cuba ra đời sau năm 1991, những năm sắp tới sẽ mang đến một cơ hội để bắt đầu bỏ lại đằng sau tình trạng cầm tù về ý thức hệ và kinh tế kéo dài mà họ đã lớn lên cùng nó.

Trong khi đó, Obama cũng có quyền lựa chọn. Ông có thể chọn con đường ít gặp phản kháng chính trị nhất và cho phép các quan chức thủ cựu, những nhà tư tưởng an ninh quốc gia, và những tiếng nói ủng hộ lệnh cấm vận ở Mỹ tiếp tục chính sách cô lập Cuba, khiến các đồng minh trong khu vực xa lánh hơn và duy trì tâm lý bị bao vây trong các quan chức Cuba. Hoặc ông có thể đủ can đảm để trở thành vị tổng thống cuối cùng cũng đưa được Mỹ ra khỏi cuộc tranh luận nội bộ của Cuba và tìm cách để Washington và La Habana hợp tác. Nhờ đó, cả người dân Cuba lẫn các lợi ích quốc gia của Mỹ đều được lợi.

***

(Tạp chí The Economist, 20/7/2013)

Và cuối cùng có lẽ bằng một đồng tiền duy nhất, khi nhịp độ cải cách đang gia tăng.

Vào lúc 9h01 một buổi sáng đầu tháng 7, Marino Murillo, một thành viên Bộ Chính trị đang cầm quyền của Cuba, sải bước lên bục tại Trung tâm Báo chí quốc tế ở La Habana, đã đưa ra thông báo ngắn gọn về các kế hoạch kinh tế của chính phủ, và trả lời câu hỏi trong 45 phút. Những gì là chuyện thường ngày ở những nơi khác thì là đáng chú ý ở nước Cuba Cộng sản vì 3 lý do. Đã qua rồi sự chờ đợi lê thê để nghe những lời huênh hoang vào đêm muộn của Fidel Castro: sự đúng giờ là một trong những đặc trưng của chính phủ do người em trai của ông, Raul Castro, lãnh đạo kể từ năm 2006. Và sau các cuộc đấu tranh chính trị gây hại lẫn nhau về việc tự do hóa các cải cách kinh tế, chính phủ đủ tự tin về thông điệp của mình để mời một nhóm nhỏ các nhà báo nước ngoài đến nghe về nó – một sáng kiến đầu tiên như vậy trong nhiều năm.

Thứ ba, là chính bản thân thông điệp đó. Ông Murillo, một cựu đại tá quân đội vóc dáng lực lưỡng chịu trách nhiệm thực hiện các cải cách kinh tế (chính thức được gán cho cái tên “cập nhật hóa”), đã nhấn mạnh rằng cốt lõi của hệ thống vẫn là “tài sản xã hội”. Nhưng ông cũng nói về “việc tạo ra của cải” và sự cần thiết phải có “những tín hiệu giá cả” và “các nhân tố thị trường”. Ông nói: “Cuộc sống đã cho thấy rằng nhà nước không thể làm mọi việc. Sự thành công sẽ nằm ở việc làm thể nào để duy trì sự cân bằng vĩ mô trong khi tạo không gian cho thị trường và tạo ra của cải”.

Theo 313 “nguyên tắc chỉ đạo” được Đại hội Đảng Cộng sản thông qua vào năm 2011, Raul Castro đang tìm cách phục hồi nền kinh tế suy tàn cửa hòn đảo này bằng việc chuyển một lượng lớn tài sản từ nhà nước sang tay tư nhân và bằng việc sắp xếp hợp lý một hệ thống đặt kế hoạch tập trung cồng kềnh. Cho đến nay các thay đổi tập trung vào nông nghiệp và doanh nghiệp nhỏ.

Dựa trên các hợp đồng cho thuê đất có thể gia hạn với thời hạn 10 năm, chính quyền đã chuyển giao gần 1,5 triệu héc ta đất cho người nông dân hay cho các hợp tác xã, hiện đang nắm 70% đất nông nghiệp. Người nông dân có thể bán gần một nửa sản phẩm của họ cho người trả giá cao nhất, thay vì chuyển chúng cho nhà nước như trong quá khứ. Khoảng 400.000 người Cuba làm việc trong khu vực tư nhân bắt đầu phát triển gồm các doanh nghiệp nhỏ và những người tự kinh doanh, tăng lên từ 150.000 người 3 năm trước đây. Người Cuba hiện nay có thể tự do mua bán nhà ở, xe ô tô và đi du lịch nước ngoài. Từ tháng 6, họ có thể sử dụng Internet trên thứ sẽ sớm là một mạng lưới gồm 118 trung tâm viễn thông, mặc dù cái giá 4,5 USD/giờ là khoảng ¼ lương tháng trung bình của công chức nhà nước.

Nhịp độ cải cách đang gia tăng. Ông Murillo nói rằng trong 18 tháng tới, chính phủ sẽ nới lỏng 2 trong số các hạn chế gây tê liệt nhất của nền kinh tế này. Bắt đầu từ năm tới, các doanh nghiệp nhà nước sẽ được phép giữ lại1/2  lợi nhuận sau thuế, để tái đầu tư hay phân bổ cho người lao động. Quản lý của họ sẽ có được nhiều quyền tự chủ hơn. về mặt lý thuyết, các công ty công bố lỗ liên tục sẽ bị loại bỏ.

Ông Murillo cũng đang chuẩn bị để hợp nhất đồng tiền kép của Cuba, nguồn gốc của những sự bóp méo khó hiểu và những khoản trợ cấp bí mật. Phần lớn lương và giá cả được tính bằng đồng peso Cuba (đồng CUP), với tỷ giá 25 CUP/USD. Nền kinh tế du lịch hoạt động bằng đồng peso “có thể chuyển đổi” (đồng CUÇ), có giá trị tương đương với đồng USD. Trên thực tế, đồng CUC không phải có thể tự do chuyển đổi bởi vì các công ty nhà nước được phép ngụy tạo rằng mỗi đồng CUP của họ có giá trị tương đương đồng CUC. Kết quả là người dân thường Cuba được trả một khoản tiền ít ỏi (khoản lương hàng tháng 466 CUP chỉ có giá trị 19 USD). Sự bất bình đẳng thu nhập đang tăng mạnh khi ngày càng nhiều người Cuba sở hữu đồng CUC, hoặc là tiền được chuyển về từ những người họ hàng ở nước ngoài hoặc bởi vì họ làm việc trong ngành du lịch hay khu vực tư nhân đang lớn mạnh. Và vì tỷ giá hối đoái hiếm hoi được ấn định bởi sắc lệnh chính phủ quy định, các công ty không còn động lực để xuất khẩu hay thay thế hàng nhập khẩu.

Một bước lôgích sẽ là thống nhất hai đồng tiền bằng việc giảm giá đồng CUC và định giá lại đồng CUP, mặc dù hành động này sẽ gây ra lạm phát và thúc đẩy nhu cầu về các sản phẩm nhập khẩu. Thay vào đó, các quan chức nói rằng trong thời gian tới, một vài ngành công nghiệp – bắt đầu với ngành sản xuất đường, công nghệ sinh học và nghề cá – sẽ được phép bắt đầu thử nghiệm những tỷ giá hối đoái khác nhau. Pavel Vidal, cựu quan chức Ngân hàng Trung ương Cuba hiện nay đang giảng dậy tại trường Đại học Javeriana ở Cali, Colombia, cho rằng các công ty sẽ được hưởng tỷ giá 12 peso đổi 1 USD khi xuất khẩu sẽ chịu tỷ giá 7 peso đổi 1 USD khi nhập khẩu và đặt hàng các sản phẩm nhập khẩu dầu lửa từ Venezuela, nhà tài trợ chính của Cuba, với tỷ giá 4 peso đổi lấy 1 USD.

Sự phá giá thử nghiệm này hẳn tạo ra các cơ hội cũng như những phí tổn. Do các công ty cần quyền tự quản lý để tận dụng được những cơ hội này, ông Vidal cho rằng việc cải cách tiền tệ và doanh nghiệp đang diễn ra cùng với nhau là “tích cực”. Nhưng ông chỉ ra rằng nhiều tỷ giá hối đoái có xu hướng tạo ra tham nhũng và trợ cấp bí mật – những thói xấu mà các quan chức phải cam kết chống lại.

Nếu họ thành công trong mục tiêu của mình thúc đẩy năng suất lao động, những cải cách này có thể dẫn đến tình trạng mất công ăn việc làm. Ban đầu, Raúl Castro nói rằng nhà nước cho tới năm 2014 sẽ sa thải 1,1 triệu lao động. Ông bị buộc phải rút lui bởi vì nhiều người lo sợ mất đi những thứ ít ỏi mà họ có (và cơ hội để có chút tiền mà công việc nhà nước mang lại). Thay vào đó, chính phủ lặng lẽ xóa bỏ tên người lao động khỏi bảng lương nhà nước. Điều đó khuyến khích họ – hay buộc họ phải – hình thành các hợp tác xã.

Hiến pháp gần đây đã được thay đổi để cho phép có các hợp tác xã ngoài lĩnh vực nông nghiệp; theo Carlos Mateu Pereira, cố vấn Bộ Lao động cho tới nay, 197 hợp tác xã đã được phép hoạt động. Các nhà hàng do nhà nước sở hữu sẽ trở thành các hợp tác xã; nhiều doanh nghiệp vận tải sẽ quyết định đi theo con đường tương tự. Một số thị trường bán buôn cũng sẽ như vậy. Có người nói rằng những người chuyên nghiệp, như các kiến trúc sư và luật sư, có thể thành lập các hợp tác xã – thứ mà các nhà kinh tế có tư tưởng cải cách ủng hộ ngay từ đầu.

Nhưng những cải cách vẫn hạn chế và thận trọrrg. Phương pháp luận tiêu biểu là sự thay đổi được thí điểm đầu tiên ở các tỉnh hay các ngành công nghiệp có lựa chọn trước khi được phổ biến khắp hòn đảo này. Việc này phản ánh nỗi lo sợ của giới lãnh đạo về sự bất ổn xã hội – có thể cả bất ổn chính trị. Ông Pereira nói: “Chúng tôi không thể có nhiều người thất nghiệp”. Nhưng điều đó cũng hạn chế những lợi ích của sự thay đổi.

Các khẩu đội pháo chống cải cách

Cải cách có những kẻ thù đầy quyền lực. Nhân vật số hai và số ba trong hàng ngũ đảng Cộng sản, Jose Ramon Machado và Ramiro Valdes là các cán bộ lão thành theo chủ nghĩa Stalin. Cơ quan quốc phòng vẫn có các mối liên lệ với những chế độ bất hảo như Triều Tiên. Vào ngày 16/7, Panama tuyên bố nước này đã tịch thu 240 tấn vũ khí, bao gồm 2 khẩu đội tên lửa chống máy bay và 2 máy bay chiến đấu MIG-21, được cất giấu bên dưới một lô hàng đường trên một chiếc tàu chuyên chở của Triều Tiên trở lại về La Habana. Chính phủ Cuba nói rằng chúng “là các vũ khí phòng thủ đã lỗi thời” phải được gửi đi để sửa chữa. Mặc dù đây là sự vi phạm những lệnh trừng phạt của Liên hợp quốc, sự thừa nhận nhanh chóng của Cuba cho thấy nước này không muốn vụ việc này kích động các mối quan hệ với Mỹ.

Orlando Marquez, người phát ngôn của tổng giám mục La Habana nói: “Nếu người ta đã nói trong 50 năm rằng chủ nghĩa Cộng sản là con đường đi, thì có một sự kháng cự tự nhiên chống lại thay đổi”. Ông nói rằng các quan chức lo sợ mất đi việc làm của họ; đối với một số người, tư tưởng quan trọng hơn kinh tế, Nhiều quan chức bậc trung vẫn lải nhải giọng điệu đặt kế hoạch tập trung.

Cũng có quá nhiều trì trệ. Hãy thử lấy Heroes de Yaguajay, một hợp tác xã nông nghiệp lâu đời, cách La Habana một giờ đi xe về phía Nam, làm ví dụ. Hợp tác xã này đã thuê thêm 200 héc ta đất, tăng gấp đôi diện tích của mình. Nhưng hợp tác xã này tiếp tục đệ trình kế hoạch sản xuất của mình để các nhà chức trách thông qua. Bằng phép nghịch hợp về những gì ông dường như không ý thức được, chủ tịch hợp tác xã này, Alfredo Acosta, nói: “Chúng tôi có quyền tự quyết, nhưng thường là theo các quyết định của đất nước”. Ông nói rằng ông chọn tiếp tục bán 80% sản phẩm của hợp tác xã cho nhà nước. Ông Acosta đã làm chủ tịch hợp tác xã này trong 25 năm.

Trong khi ông Murillo khẳng định rằng Cuba cần có vốn đầu to nước ngoài, chính phủ dường như bị vấn đề này làm choáng váng. Như một phần của nỗ lực chống tham nhũng, chính phủ đã thanh trừng một số quan chức giỏi nhất và bắt giữ một vài doanh nhân nước ngoài (trong những điều kiện khủng khiếp nhất) cho dù gần đây hai người đã được trả tự do. Chính phủ đang thảo ra quy tắc cho một khu vực thương mại tự do nằm bên cạnh một cảng côngtenơ mới tại Mariel cách La Habana 40 km về phía Tây, do công ty Odebrecht của Brazil xây dựng và sẽ mở cửa hoạt động vào tháng 12 tới. Các công ty dược và một nhà sản xuất thủy tinh của Brazil đã bầy tỏ quan tâm đến việc xây dựng các nhà máy xuất khẩu ở đó.

Mặc dù là thận trọng, nhưng các cải cách này đang tạo ra những sự thay đổi xã hội. Một giáo viên ở La Habana nói: “Tôi đang chứng kiến sự tái sinh của tầng lớn trung lưu đang diễn ra rất từ từ và chậm rãi”. Nhiều nhà hàng, nhà khách và cửa hàng tư nhân đã trở thành các dọanh nghiệp nhỏ thực sự, trong khi nhiều người nông dân đang kiếm được tiền. Các phòng tập thể hình, các trung tâm chăm sóc sắc đẹp và thậm chí các rạp chiếu phim tư nhân đang xuất hiện nhan nhản nhằm phục vụ nhóm có tiền mới này. Người giáo viên này cho biết giá cắt tóc đã tăng từ 1,2 CUP lên 20 CUP. Gilberto Valladares, một người đàn ông mập mạp và năng động đã mở một cửa hiệu chăm sóc sắc đẹp tại căn hộ của mình ở Old Havana và đã trở thành một nhà làm tóc cho những người nổi tiếng, nói rằng ông tính giá tới 10 CUC cho 1 ngôi sao nhạc Pop.

Đối với nhưng người chỉ trích nhịp độ cải cách chậm chạp, Raúl Castro thẳng thắn chỉ ra rằng “chúng ta đang vận động với một nhịp độ nhanh” hơn nhiều người tưởng. Nhưng những lợi ích mà sự thay đổi mang lai là hạn chế. Tăng trưởng kinh tế là dươi 3%/năm. Sản lượng nông nghiệp vẫn chưa tăng, ít nhất là về mặt chính thức. Ông Márquez nói: “Cho tới nay, đề xuất của chính phủ đang tạo ra của cải chứ không tạo ra người giàu. Điều đó là phức tạp”. Hai năm tới sẽ quyết định Cuba sẵn sàng thay đổi tới mức nào.

****

(Tạp chí Time, 18-25/7/2013)

Vào thời kỳ thoái trào của kỷ nguyên Castro,sự thay đổi mang lai hoài nghi cũng nhiu như hy vọng.

Đi bộ dọc La Rampa, con phố chính ở nơi từng là phên bản La Habana của một khu ngoại ô giàu có của Mỹ vào những năm 1950, và mỗi ngôi nhà bi bom phá hoại khác dường như đang mọc lên một tấm biển hàng trong khu vườn đầy cỏ dại của nó, một chiếc bàn chất đầy những chiếc T-shirt đã qua sử dụng của CLB Bóng đá Barcelona. Một người phụ nữ ngồi cạnh một chiếc giá để những chiếc đĩa DVD in lậu, trong khi người láng giềng của cô quảng cáo những bức ảnh kỹ thuật số (dùng cho thị thực hay hộ chiếu). Ai đó ký nhận giấy hẹn sửa chữa chiếc đồng hồ Rolex hay Seiko của bạn, và mẩu giấy nhỏ viết tay ở phía trước bậc thang đầy gạch vụn ghi đơn giá cà phê và nước cam ép (chẳng có gì khác). Cách con phố náo nhiệt chỉ khoảng một khối nhà một mảnh giấy đề chữ ‘Phòng cho thuê. Ngày 18 và 19/4’ viết bằng tiếng Anh. Đó là những tháng trước đây.

Bạn có thể đi qua một biển quảng cáo xấu xí tự làm của một doanh nghiệp tự do được cập nhật và chỉnh sửa hàng ngày. Chẳng có gì được che giấu, nhưng có sự quảng cáo, bầy biện hay thậm chí những hàng hóa mới. Một chiếc xe Buick 52 năm chạy qua với tấm biển ‘để bán’ ở trên cửa sổ hậu. Từ lâu việc bán những đồ cũ đã qua sử dụng này (nhiều trong số đó có thể bán được với giá 25.000 USD) là hợp pháp, nhưng cái mới vào năm 2011 là người Cuba hiện có thể bán những chiếc xe Kia mẫu mới nhất với giá 35.000 USD – một con số ấn tượng ở một đất nước mà quan chức cấp cao chỉ kiếm được 30USD/tháng.

Tại một nhà hàng Ấn Độ tư nhân đã hoạt động được 2 năm có tên là Bollywood, cách đó không xa, ai đó đang nói về một người bạn đã tìm đến một người gốc Tây Ban Nha để mua (hoàn toàn hợp pháp) căn biệt thự đổ nát của người này với giá 140.000 USD – mang lại cho anh ta khoản tiền mà nếu làm công ăn lương bình thường thì phải mất 583 năm mới có được. 3 năm sau khi Chủ tịch Raul Castro mở ra những cánh cửa mới cho việc mua bán hơn người Cuba hiện nay là các ông chủ của chính họ, tìm cách không ngưng học tập chủ nghĩa tư bản, thường là với sự hỗ trợ của các nguồn cung cấp hay tiền gửi về từ những người thân ở nước ngoài.

Chỉ cách một vài khối nhà phía trên La Rampa, cách xa những khách sạn cũ gắn bó với Frank Sinatra và Meyer Lansky, bạn bước vào một cửa hàng bách hóa tối tăm, do nhà nước điều hành thuộc thời đại Xôviết. Những gì được cẩn thận bầy ở ô kính cửa hàng chính xác là 4 ông kẹo cao su, 3 túi khoai tây chiên và một hộp nước sốt pasta Vita Nuova. Bên trong, chỉ có duy nhất món đồ lót mỏng tang hình Helio Kitty nằm trong một chiếc hộp trưng bầy bụi bặm.

Thể hiện tinh thần cách mạng, tham gia lễ kỷ niệm thường niên sự sụp đổ của chế độ Fulgencio Batista vào năm 1959, ai đó đã ghi vài chữ trên ô kính của cửa hàng, viết là “chúng tôi chào đón kỷ niệm lần thứ 54 ngày chiến thắng của cuộc cách mạng” (revolution). Nhưng bằng cách này hay cách khác chữ R đã biến mất, vì thế dòng chữ này chỉ ca ngợi chiến thắng của sự phát triển (evolution). Một hành vi thiếu tôn kính một cách thích thú ở Cuba – hay một dấu hiệu cho thấy cái mà hành vi thiếu tôn kính luôn phải đương đầu: tình trạng thiếu thốn không bao giờ kết thúc?

Khó có thể nói được. Trong cuộc cách mạng của Cuba, dường như chẳng có gì đi theo đúng kế hoạch, và tất cả những gì được để lại là một lời bình luận kỳ cục và thường là chán nản về việc làm sao mà quá ít người vui mừng vậy.

Nghịch lý Cuba

Trong một nửa thế kỷ nay – giai đoạn kéo dài qua các nhiệm kỳ của 11 vị tổng thống Mỹ – cả Chính phủ Cuba lẫn người dân nước này đã thường đồng thời nhìn theo những hướng trái ngược nhau; người Cuba “không phải là những người theo thuyết tối giản khi đề cập đến nghịch lý này”, như Carlos Eire, một người Cuba sống lưu vong và là giáo sư lịch sử tại trường Đại học Yale đã viết: “Chúng tôi muốn những sự nghịch lý của chúng tôi phong phú và phức tạp. Càng rắc tối thì càng tốt”. Chương mới nhất trong vở bi hài kịch diễn ra từ lâu nay cho thấy chính phủ đang tìm cách duy trì nền kinh tế do nhà nước điều hành – và sự kiểm soát chính trị chặt chẽ – ngay cả khi chính phủ khuyến khích người dân tự kinh doanh. Đối với một người quan sát, việc này có thể trông như thể nhà nước đơn giản là đang hy vọng trút những vấn đề kinh tế lớn của mình lên vai 11 triệu người dân: Castro đã nói rằng ông sẽ sa thải xấp xỉ 1 triệu người lao động – gần như cứ 5 người lao động thì có 1 người bị sa thải – trong một hay hai năm tới, ngay cả khi nhà nước tiếp tục nhập khẩu 80% lương thực và mức lương trung bình mua được ¼ % số hàng hóa mà mức lương trung bình vào những ngày không quá lạc quan của năm 1989 mua được.

Do đó hiện nay có thể bán những chiếc xe ô tô mới, nhưng rất khó – bạn cần có giấy phép và thu nhập chính thức cả đời – để mua chúng. Cuối cùng người dân cũng có thể rời khỏi hòn đảo này, nhưng không ai biết khi trở lại họ sẽ được đối xử như thế nào. Khi một người Cuba hiện đang sống lưu vong ở Canada trở về thăm quê hương, tất cả họ hàng của anh này có thể gặp và chào đón anh – ngoại trừ người phục vụ trong quân đội, người chắc chắn sẽ mất việc nếu nói chuyện với “người nước ngoài”.

Cuối cùng, người Cuba ngày nay được tự do hưởng thụ phiên bản Craigslist của chính mình, có những kỳ nghỉ ở các khách sạn du lịch thời thượng ở địa phương, thưởng thức món mỳ ý lasagna hải sản và đu đủ ăn kèm với mứt cam, uống sạch chai rượu trị giá 200 USD ở một trong hơn 1.700 paladare (nhà hàng tư nhân). Họ tự do lên tiếng phản đôi mọi thứ – ngoại trừ anh em nhà Castro – và họ ngang nhiên đi khắp thủ đô trong khi mặc chiêc áo T-shirt in hình tờ tiền 1 USD hay hình Barack Obama với câu “Yes we can”, thậm chí (trong trường hợp một phụ nữ đứng dựa vào những hàng rào chấn song ở công viên Fraternity) mặc chiếc quần đùi hở hang in hình cờ Mỹ.

Tuy nhiên, khi những gì từ lâu là ngấm ngầm thì hiện nay đang trở nên không che đậy, và khi khái niệm tất cả chống lại tất cả kiểu tư bản chủ nghĩa trở thành chính sách cộng sản chính thức,‘ không một ai dường như hoàn toàn chắc liệu hòn đảo này đang rẽ sang phải hay sang trái. Bên cạnh những tấm biển nói rằng “mọi thứ là cho cuộc cách mạng”, có một cửa hàng cửa hàng Adidas- và những ngôi nhà bị quên lãng của Old Havana nằm giữa những bể bơi trên mái nhà và những chú gấu nhồi bông to bằng kích thước thật được bán với giá 870 USD. Một nhà kinh tế học chuyên nghiệp chuyên nghiên cứu thị trường nói: “Không ai biết được chúng ta đang đi đâu và mọi người không biết được những gì họ muốn. Chúng ta đang đi trong đêm tôi”.

Hâm nóng chủ đề của mình – ông rời khỏi cơ quan chính phủ khi ông nhận thấy số tiền ông kiếm được trong hơn 4 giờ bán bánh quy còn hơn cả tiền lương tháng mà công việc nhà nước cấp cao mang lại – ông tiếp tục nói: “Nếu bạn nói về Cuba ngày nay, bạn sẽ phải nói rằng chúng tôi kết hợp những khía cạnh tồi tệ nhất của chủ nghĩa xã hội với những khía cạnh tồi tệ nhất của chủ nghĩa tư bản. Điều tồi tệ nhất của chủ nghĩa xã hội là về sự áp bức và sự phủ nhận những quyền con người cơ bản. Và điều tồi tệ nhất của chủ nghĩa tư bản là về sự bóc lột và sự bất bình đẳng!”. Kết quả là một chốn u minh ở đó mọi người dường như vay chỗ này để đập vào chỗ kia.

Mt hòn đảo không tui

Nhiều năm trước đây, tôi đã đến Cuba 6 lần trong 7 năm; cũng như nhiều người trong những thập kỷ qua, tôi không thể cưỡng lại sự sống động, vẻ đẹp và sự phức tạp sinh động của nơi đây. Một ngày sau khi trở về từ chuyến đi đến Cuba đầu tiên của tôi vào năm 1987, tôi đã đến công ty du lịch ở California và đặt chuyến đi thứ hai; Cuba là một câu đố khó hiểu về tình trạng đổ nát đầy rẫy và sự vỡ mộng vui sướng mà không thể giải được. Không một thứ gì hay một ai làm việc nhưng hệ thống này đã khập khiễng đi, gần như bất chấp bản thân mình; những người mà tôi gặp khó có thể rạng rỡ hơn, ngay cả khi họ nói với tôi rằng cuộc sống của họ đã thoát khỏi địa ngục của Dante. Các học giả ở cả hai phía Eo biển Florida theo nghi thức trao đổi những lời lẽ xúc phạm và trừu tượng, dự đoán sự sụp đổ sắp xẩy ra của các nhà lãnh đạo ở cả La Habana và Washington nhưng câu chuyên thực sự – đầy những sự mâu thuẫn, phức tạp và những điều trớ trêu gây đau lòng – dường như đang diễn ra trên các đường phố.

Trong khi lưu lại nơi đây vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990 tôi đa chứng kiến đất nước này bước vào “giai đoạn đặc biệt” tai tiếng sau sự sụp đổ của những nhà tài trợ Xôviết vào năm 1999; tôi đã đến thăm những người bạn ở trong tù, những người đã nói rằng họ sống ở đó tốt hơn ở bên ngoai – có thức ăn và điều kiện sống tốt, và trong phần lớn thời gian đó, những người nước ngoài duy nhất tôi thấy là người Triều Tiên, đi thành từng cặp với ảnh “Lãnh tụ vĩ đại” Kim Nhật Thành trên ve áo họ. Bị ám ảnh bởi những nghịch lý về một hòn đảo đáng ngờ, cởi mở và nhanh nhậy đang hăng hái chạy tại chỗ, tôi đã viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên của mình về đất nước tuyệt đẹp mang hình dáng của một chiếc vuốt dài này.

Dĩ nhiên, ngày nay, người Canada và người châu Âu chiếm hết chỗ trong các khách sạn thời thuộc địa được tân trang lại nằm xung quanh các quảng trường được tôn tạo đẹp đẽ của Old Havana. Năm ngoái, tôi đã bay thẳng từ Los Angeles đến La Habana trên một chuyến bay bằng máy bay thuê riêng do Mỹ điều hành. Chỉ riêng năm 2011, có xấp xỉ 400.000 người Mỹ bay thẳng đến hòn đảo này, và lượng tiền gửi từ người Mỹ gốc Cuba trong năm 2012 là 5,1 tỷ USD, hay gấp 3 lần số tiền Chính phủ Cuba dùng để trả lương cho 4 triệu người lao động. Những con phố ở La Habana sôi động và hối hả như chưa từng thế trước đây – và không có nhiều đường phố khác ở Mỹ Latin và Caribbean được như vậy. Nhưng nhiều câu nói chào đón bạn, ở mức độ gây sốc, tương tự như những gì tôi đã nghe vào năm 1987. Và một câu nói đùa cũ đã được chỉnh sửa đôi chút (vay mượn lối nói uyển ngữ của chính phủ về những sự thay đổi không liên tục): “Chúng ta đã tìm ra những giải pháp cho 3 vấn đề lớn: y tế miễn phí, giáo dục miễn phí và gần đây là kinh doanh tự do. Hiện nay, chúng ta chỉ phải lo bữa sáng, bữa trưa và bữa tối”.

Khi Castro tìm cách làm bất cứ việc gì để tạo ra thu nhập – anh trai của ông, ông Fidel, đã từ chức vào năm 2006 – mỗi mùa lại mang đến một số cơ hội bị hạn chế mới. Nhưng sau 54 năm những lời hứa hẹn không thực hiện được và những sự đảo ngược, phần lớn người Cuba dường như coi sự lạc quan, thậm chí là sự giảm bớt căng thẳng, như những thứ hàng lậu bị cấm nhiều nhất. Những quyền tự do gần đây nhất mà họ có được gợi nhớ đến việc một người cha giao cho con mình chiếc chìa khóa xe ô tô nhiều thập kỷ sau khi người con đã lén lút lấy chiếc chìa khóa đó.

Thế hệ con cháu – của cuộc cách mạng vẫn dễ thích nghi và sôi nổi hơn bao giờ hết, nhưng sự thay đổi thực sự duy nhất dường như là họ đang trao đổi tiền mặt ở nơi mà trong nhiều thập kỷ họ đã trao đổi hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế đổi hàng lấy hàng. Đi đến một nhà hàng tư nhân, và sau bữa ăn, khi bạn tìm một chiếc xe taxi, người chủ sẽ gọi người em trai của anh ta – một sinh viên ngành dược – để nhận khoản tiền xe đó về cho gia đình mình. Một người phụ nữ sẽ chọn một số quả chanh ở agro-pecuario, hay còn gọi là chợ của những người nông dân, ở gần đó và ngay lập tức mua hết chúng về chia cho những người già mà cô biết, những người không thể tự đi đến đó.

Người Cuba từ lâu đã trở thành chuyên gia về đoàn kết và cộng đồng khi nói đến làm việc xung quanh chính phủ, được gắn kết với nhau bởi sự nhiệt tình đáng ngờ của những người đồng chí bị khóa trong phòng lái của tàu Titanic. Nhưng hiện nay, chính phủ dường như đang cạnh tranh với người dân của mình cũng nhanh như người dân tìm cách bắt kịp những ý thích chợt nẩy ra của nhà nước. Phần Cuba lộng lẫy trong Bảo tàng Mỹ thuật là vật trưng bầy tân tiến sẽ không lạc điệu ở Dallas hay Zurich. Nhưng giấy vệ sinh được phân phối ở đó. Và nếu bạn muốn rửa tay, bạn phải đợi một người phụ nữ lớn tuổi xuất hiện, đổ ít nước khoáng vào lòng bàn tay bạn và rồi nhỏ vài giọt xà phòng từ chiếc lọ nhỏ đựng xà phòng của khách sạn trước khi chìa tay xin tiền tip.

Bên ngoài La Habana, cuộc sống vẫn diễn ra theo nhịp điệu như nó thường vậy. Ở thị trấn Artemisa của những người nông dân, nơi 1/4 thế kỷ trước, tôi đã thấy Fidel hô hào những đám đông quần chúng khi những trận mưa xối xả làm chúng tôi ướt sạch, những ngôi nhà ngăn nắp, được sơn mới trông như thể chúng đã như vậy lúc đó hay có thể chúng đã có trước cuộc cách mạng. Những chiếc xe đạp nhiều hơn hẳn những chiếc xe ô tô, và các biểu ngữ ca ngợi cuộc cách mạng bay phấp phới trên một nhà hàng Trung Quốc phía bên kia nhà thờ trung tâm. Có thể ít có sự lộng lẫy và ít cơ hội hơn La Habana, nhưng cũng ít gây lo lắng và áp lực hơn. Những quả lê lớn được bán với giá 20 peso, bằng một nửa giá chúng được bán ở thủ đô. Một người chỉ có ít kiên nhẫn với cuộc cách mạng nói: “Đối với một số người, Cuba gần như một thiên đường. Họ nói: ‘chắc chắn nơi đây không phải là một thiên đường. Nhưng anh biết gì không? Tôi không phải làm việc. Tôi không phải trả tiền thuê nhà. Rượu rum được bán với giá rẻ: Tôi không cần đến máy sưởi. Tôi sống ở một hòn đảo nhiệt đới xinh đẹp. Ai cần tự do cơ chứ?’”.

Ngành y tế lừng danh của nước này đã làm nhiều người ngưỡng mộ khắp Mỹ Latin và Caribbean thậm chí là trong số các chính phủ nghiêng về cánh hữu. Cho tới nay, cuộc cách mạng đã đưa các bác sĩ của đất nước này đến hơn 75 nước, và khi Haiti gánh chịu trận động đất gây tàn phá 3 năm rưỡi trước đây, Cuba được cho là nước đầu tiên gửi cứu trợ về y tế, bất chấp vô số những vấn đề và sự thiếu thốn của chính mình. Tuy nhiên, điển hình của những nghịch lý ám ảnh hòn đảo này là thực tế rằng chính sự xuất sắc của các cơ sở y tế của nó đã dẫn đến những hậu quả không lường trước: dân số Cuba đang già đi và thu hẹp nhanh tới mức một người ở độ tuổi 50 dự đoán mình sẽ sớm sống ở “thiên đường những chiếc xe lăn”.

Theo Cơ quan thống kê quốc gia, cho tới năm 2025, Cuba sẽ có dân số già nhất ở Mỹ Latin hay Caribbean; cứ 4 người dân thì có 1 người ở độ tuổi hơn 60, và các trường đại học sẽ mất đi 30% số sinh viên của mình. Đối với cuộc cách mạng đang được vận hành bởi những người trên 80 tuổi, viễn cảnh về có nhiều người phụ thuộc hơn và ít người kinh doanh tự do hơn không phải là một triển vọng hạnh phúc.

Bất cứ nơi đâu ở La Habana, bạn sẽ thấy những người già ở trên đường phố, rung những chiếc hộp sắt trước mặt người nước ngoài, tìm cách bán những tờ báo Gramma của đảng với cái giá cao gấp 120 lần so với giá bán chính thức, ngồi cạnh những chiếc xe đẩy siêu thị trống rỗng lúc gần nửa đêm, hy vọng bán được một hay hai túi bỏng ngô. Một trong những tuyên bố đáng tự hào nhất của Fidel cách đây không lâu là đất nước của ông, không như các nước láng giềng tư bản, không có những người ăn xin hay những người sống vạ vật trên đường phố. Ngày nay, những người dân lớn tuôi ở La Habana có thể có nhà để về, nhưng họ trông như thể và hành động như thể những người vô gia cư, hầu như không đủ tồn tại với tiền trợ cấp 6 USD/ tháng.

Điều mỉa mai đen tối hơn của cuộc cách mạng, gia tăng trong nhiều thập kỷ, là đất nước này ngày càng giống cái ổ suy đồi và bất bình đẳng đã từng là Cuba trước thời Fidel. Sau khi các nhà cầm quyền quyết định tìm cách cứu cuộc cách mạng này bằng cách quảng bá nó sau khi kết thúc trợ cấp của Liên Xô vào năm 1991, đất nước này mở toang các cánh cửa cho ngành du lịch và ghi nhận có 2,8 triệu du khách lũ lượt đổ đến các đường phố Cuba vào năm 2012, mang lại doanh thu 2,5 tỷ USD.

Tuy nhiên, chúng cũng mang đến ma túy và nạn bán dâm, cũng như chính khoảng cách giàu nghèo mà Fidel đã thực hiện cuộc cách mạng của mình để xóa bỏ. Nơi đất nước này từng tìm cách quảng bá quá khứ “tuổi trẻ nổi loạn” huy hoàng, hiện nay nước này dựa nhiều hơn vào lịch sử cũ (trên thực tế là lịch sử thuộc địa). Phụ nữ ăn mặc như những nô lệ để khách du lịch chụp ảnh ở Plaza de Armas được trùng tu lại, và những cỗ xe ngựa đi qua những đường phố rải sỏi, như thể một nét đặc trưng hấp dẫn của Cuba là chính vẻ lỗi thời của nước này. Khi những người dân địa phương nhận ra cách tốt nhất để tự giúp mình trong nền kinh tế mới là bằng việc trở thành một người hát rong, một hướng dẫn viên du lịch, hay là một người đồng hành với khách du lịch, họ có thể dễ dàng cảm thấy, hơn bao giờ hết, mục tiêu cuối cùng của cuộc cách mạng là làm một người nước ngoài.

Thi k yên n ca Cuba

Trong nhiều thập kỷ nay, nguồn lực lớn nhất của Cuba là người dân nước này, những người có trí thông minh và sự nhiệt tình không thể nào dập tắt được bằng cách này hay cách khác khiến họ sống sót ngay cả khi mọi thứ dường như đang sụp đổ xung quanh họ. vẫn có sức sống tối thứ Bảy ở nơi đây, một ý thức về phong cách và sự sáng tạo mà dường như có thể khiến người ta tiếp tục tạo ra cái gì đó từ cái không có. Một quan chức Bộ Nội vụ ở đây là một người phụ nữ nhỏ nhắn với móng tay lớn sơn màu ngọc lam trông có vẻ kỳ quặc với bộ đồ của mình; một sĩ quan cảnh sát là một phụ nữ chưng diện một chiếc kẹp tóc màu xanh da trời lòe loẹt.

Như một người lớn tuổi lưu ý, người nước ngoài nhận thấy khó có thể tin được rằng người Cuba có thể đón nhận những gian khổ bất tận với sự thích thú mang vẻ trào phúng thay vì sự giận dữ hoàn toàn. Vào một buổi chiều Hè oi ả, 60 người đứng xếp hàng dưới ánh nắng mặt trời mà không có một lời than vãn để đợi mua từng chiếc kem. Thậm chí 65 năm trước đây, đức cha thuộc dòng Xitô, Thomas Merton, người đã thức tỉnh tinh thần ở Cuba lưu ý: “Đối với những người được cho là dễ bị kích động, người Cuba kiên nhẫn một cách kỳ lạ với tất cả những thứ khiến người Mỹ lo lắng và khiến mọi người phát điên”.

Hậu quả nghịch lý của việc này dĩ nhiên là chính phủ dường như không quá lo lắng về Mùa Xuân Caribbean hay cuộc nổi dậy công khai của dân chúng. Bạn vẫn thấy những tấm bảng hiệu ở đây đó tuyên bố “Chủ nghĩa xã hội: Ngày nay, ngày mai, luôn luôn, nhưng ở nhiều nơi lời kêu gọi “chủ nghĩa xã hội hay là chết’’  dường như đã được thay thế bằng “tổ quốc hay là chết”. Và đối với những người Cuba được rèn luyện trong nhiều năm khả năng châm biếm và ứng biến xuất chúng, không khó để nhận thấy rằng dòng chữ phía trên một tòa nhà ghi “sự thống nhất, năng suất, hiệu suất” chính xác đang liệt kê những phẩm chất cần nhất và đang thiếu nhất ở Cuba ngày nay.

Một kiến trúc sư địa phương nói với tôi, và ông nói một cách văn hóa: “La Habana luôn là một thành phố có vẻ bề ngoài xinh đẹp”. Nhưng chủ nghĩa bề ngoài, đúng như tên gọi của nó, có thể có những hàm ý rộng hơn. Những biểu hiện bề nổi rực rỡ cửa đất nước có thể đánh lừa như những dâu hiệu về sự khoe khoang của chính phủ. Và mọi thứ đang ở trong một dòng chẩy bất tận. Ăn ngấu nghiến những chiếc bánh kếp ngon lành tại một nhà hàng tư nhân có phong cách mang tên Chaplin’s Café, tôi biết được nó thuộc sở hữu của Roberto Robaina, người đã từng là Bộ trưởng Ngoại giao trong 6 năm vào những năm 1990. Một ngày nọ, tôi ngồi phía trên Malecón một con đường dài 4 dặm (6,4km) chạy dọc bờ biển theo hình chữ s, tôi nghe thấy tiếng một người Cuba gào lên: “Hãy nhìn kìa!”. Ông nói rằng một chiếc limo dài màu đen do Liên Xô sản xuất từng là một trong những chiếc xe của nhà lãnh đạo đất nước. Hiện nay đó chỉ là một chiếc taxi mà bất cứ ai – bất cứ ai có tiền – cũng có thể đi trên đó.

Một đất nước đang già đi

Mặc dù vậy, ở cốt lõi của tất cả những điều mỉa mai này, là một sự trống rỗng. Mỗi người Cuba mà tôi nói chuyện, từ những người vừa qua tuổi 20 đến những người gần 80 tuổi, đều bầy tỏ những lo ngại về giới trẻ. Tôi nghe được từ những người già cũng như những người trẻ tuổi: “Tất cả bọn họ đều quan tâm đến thời trang và những chiếc điện thoại iPhone”; thậm chí cả những người không thể chịu đựng được hệ thống này đều khẳng định biết tự hào hơn về nó và có ý thức hơn về mục đích khi họ còn trẻ vào những năm 1970. Những người nhớ lại sự tàn bạo và nạn tham nhũng trong cuộc sống trước cách mạng có xu hướng kiên nhẫn hơn đối với tình hình hỗn loạn hiện nay, nhưng cứ 6 người Guba thì có 5 người chưa biết đến thứ gì ngoài những sự thiếu thốn và những sự biến động thời chủ nghĩa Castro.

Một người đàn ông trong những năm gần đây đã gia nhập giáo phái Phúc Âm nói: “vào những năm 1990, khi chúng ta thiếu thốn mọi thứ, đó là một cuộc khủng hoảng vật chất thực sự. Nhưng hiện nay nó còn sâu sắc hơn. Chúng ta có một cuộc khủng hoảng tinh thần. Mọi người mất hết hy vọng”. Trên từng con phố khác, bạn thấy những người phụ nữ trùm một chiếc áo choàng màu trắng tinh khiết từ đầu đến chân của người mới thụ giáo theo tín ngưỡng Santeria, một tín ngưỡng Afro-Caribbean mà từ lâu đã là một lực lượng bí mật trên khắp hòn đảo này; hết lần này đến lần khác, những người lạ bắt đầu nói với tôi về Đức Chúa trời hay thậm chí Đấng Allah. Một người đàn ông gần 80 tuổi đã chiến đấu với một tổ chức cách mạng quan trọng trong những năm 1950 nói: “Hiện người dân đang quay sang những thứ này bởi vì chúng mang lại cho họ cái gì đó mà cuộc cách mạng không thể. Đảng cần phải suy nghĩ về điều này”.

Vấn đề sâu sắc hơn, đặc biệt là đối với giới trẻ, là không có động lực để học hành hay để có một công việc tốt, chính thức, ở một đất nước nơi bác sĩ phẫu thuật phải đi xe đạp đi làm trong khi một người bán xì gà giả có thể dùng bữa, theo đúng nghĩa, với món trứng cá muối, chính phủ đã làm được một việc tốt là giáo dục người dân của mình và một việc tồi tệ là sử dụng sự giáo dục đó. Mario Coyula-Cowley, một giáo sư về ngành kiến trúc tại Học viện Bách Khoa của La Habana trong 45 năm nói: “Tôi nói với sinh viên của tôi rằng ‘Tôi biết lúc này các em có thể kiếm được nhiều tiền bằng việc lái taxi hơn là bằng việc là một kiến trúc sư giỏi’. Nhưng điều đó không phải luôn như vậy. Đến một thời điểm nào đó, các kiến trúc sư sẽ được coi trọng, và chúng ta sẽ cần có những kiến trúc sư giỏi”.

Nền kinh tế du lịch và trao đổi tiền tệ không phải kiểu khuyến khích sự chân thật và phẩm giá mà chính phủ kiên quyết duy trì. Một cựu luật sư 40 tuổi nói: “Mọi việc đang tốt hơn trước. Nhưng tôi lo sợ. Chủ nghĩa tư bản khiến mọi người trở nên cứng rắn. Người Cuba tìm được cách tiến lên trước và họ đang bắt đầu thay đổi”.

Bước vào bóng tối

Khi nhìn về tương lai, trên lý thuyết, Cuba có thể có được sự ủng hộ, từ Trung Quốc và Việt Nam, cả hai nước đều vẫn có sự kiểm soát người dân về mặt chính trị trong khi cho họ có những động lực để kiếm tiền. Một buôi sáng ở La Habana, đập vào mắt tôi là một tiêu đề choán hết cả 1 trang báo trên tờ Granma công bố chuyến đi của ông Raúl Castro đến thăm các đồng nghiệp ở Đông Á- con trai ông Alejandro phục vụ như một mối liến lạc với Trung Quốc. Nhưng Ricardo Torres Perez, một giáo sư tại Trung tâm Nghiên cứu kinh tế Cuba tại trường Đại học La Habana (và là giáo sư thỉnh giảng gần đây tại trường Havard và trường Đại học Bang Ohio), chỉ ra rằng Trung Quốc có một chính phủ mạnh cũng như nền kinh tế phát triển thịnh vượng và rằng cả Trung Quốc lẫn Việt Nam có lực lượng lao động trẻ và đang gia tăng, các nguồn tài nguyên thiên nhiên — cũng như không phai chịu các lệnh cấm vận — đặt họ vào tình huống rất khác so với Cuba. Ngoài ra, như mọi người Cuba khác tôi từng nói chuyện, ông lưu ý những phong tục của Đông Á khac như thế nào so với của Cuba, có thể đặc biệt là trong các lĩnh vực kỷ luật và tính chính xác. Ông lưu ý: “Khi đề cập đến văn hóa và các giá trị cốt lõi, chúng tôi giống nền kinh tế Mỹ hơn”.

Tính chất lật đổ tự do thoải mái mà Cuba trở thành chuyên gia là một lý do khác mà Mùa Xuân Arập dường như không thể nổ ra ở đây. Theo một người theo dõi chặt chẽ tình hình chính trị, có hơn 30 nhóm chống đối trên hòn đảo này, nhưng mỗi nhóm chỉ có vài thành viên, và không một nhóm nào quan tâm đến việc hợp tác với nhau. “Và những gì họ đang đề xuất là quá tinh túy, quá xa người dân thường – như những gì đăng trên website – tới mức họ không thể liên hệ với sự giận dữ của người dân”. Ông chỉ ra rằng ở đất nước này không có cả Twitter lẫn Facebook để huy động các đám đông, cũng không có Aung San Suu Kyi hay Vaclav Havel. Nhưng vấn đề sâu sắc hơn có thể là phong cách thanh lịch tao nhã mà với nó người đàn ông này ghi nhận sự vỡ mộng của ông, như thể tại một bữa tiệc tối ở Manhattan. Ông nói: “Hãy nhìn xem, chúng ta là người Mỹ Latin. Chúng ta yêu cuộc sống. Ở châu Á có thể một số người sẽ nói ‘Chúng tôi sẽ chết để tỏ rõ quan điểm’. Chúng ta sẽ không tự hy sinh tính mạng”.

Trong 14 năm, nền kinh tế hoàn toàn kiệt quệ của Cuba đã được Venezuela hà hơi tiếp sức, nước này đã gửi mỗi ngày khoảng 110.000 thùng dầu đến Cuba để đổi lấy các nhân viên y tế và các giáo viên của Cuba. Như nhiều nước ở Mỹ Latinh, nhà lãnh đạo cánh tả của Venezuela, Hugo Chavez coi Fidel, là một chính khách thế hệ trước và là một người anh hùng đã đứng lên chống lại người Mỹ trong hơn 50 năm. Ngay sau khi ông Chavez qua đời vào tháng 3 do căn bệnh ung thư, người kế nhiệm được lựa chọn kỹ lưỡng Nicolas Maduro cam kết ông sẽ tiếp tục thực hiện các chính sách của người thầy thông thái của mình đối với Cuba và rằng hai nước năm nay sẽ chi 2 tỷ USD cho “các dự án phát triển xã hội”. Tuy nhiên, việc Chavez sớm mất đi đã nhắc nhở người Cuba rằng sự thay đổi nhẹ nhất cũng có thể mang lại một viễn cảnh về hậu quả đáng sợ cho một giai đoạn đặc biệt.

Raul Castro, hiện nay 82 tuổi, thường được xem là ít tự phụ và giáo điều hơn, nếu không muốn nói là ít có sức lôi cuốn hơn so với người anh trai lớn hơn ông 5 tuổi; ông cai trị bằng văn xuôi chứ không phải bằng chất thơ hùng tráng của Fidel. Và khi Castro hồi tháng 2 tuyên bố rằng ông không theo đuổi việc tái tranh cử vào năm 2018, thì tất cả mọi ánh mắt hướng tới người được cho là kế nhiệm ông, Migue Diaz-Canel, một nhà kỹ trị 53 tuổi và là cựu quân nhân đã phục vụ với tư cách là một quan chức đảng ở những nơi có quá nhiều cơ hội cho đầu tư nước ngoài. Ngay cả khi Castro nói về những giới hạn nhiệm kỳ và những cuộc trưng cầu dân ý trong tương lai, người Cuba bắt đầu tưởng tượng ra một nhà lãnh đạo thực dụng được sinh ra sau cuộc cách mạng – và một nhà lãnh đạo không mang họ Castro.

Mặc dù vậy, cho đến nay, không có ai mang lại cho Cuba một ý thức hào hứng về bản thân, một câu chuyện lôi cuốn như đôi khi người ta nói về nước Mỹ của Obama. Thực tế việc cuộc cách mạng tiếp tục trưng ra những bức chân dung vẽ Che Guevara và Camilo Cienfuegos, lần lượt đã qua đời ở tuổi 46 và 54, nhấn mạnh sự thiếu vắng những anh hùng mới;Castro, được biết đến dưới biệt danh Flea khi còn trẻ đã thay thế 64 trong số 68 bộ trưởng của Fidel khi ông đảm trách chức vụ cao nhất vào năm 2008 và đã nhanh chóng thực hiện các biện pháp cải cách mà người anh trai của ông chỉ biết nói về chúng. Nhưng người bỏ học đại học nửa chừng ít tiếng tăm này thiếu những kỹ năng biện chứng của người anh của mình, đặc biệt là khi đề cập đến việc định nghĩa lại chủ nghĩa xã hội để bao hàm cả khía cạnh cạnh tranh.

Một người La Habana chưa bao giờ rời khỏi đất nước này nói: “Như tôi đã thấy, về cơ bản có 3 lựa chọn cho tương lai và tất cả những lựa chọn đó đều khủng khiếp. Tôi gọi chúng là những phiên bản Triều Tiên, Afghanistan và Nga. Phiên bản Triều Tiên là phiên bản mà trong đó cháu trai của một người vĩ đại, người đã nhanh chóng được thăng tiến và hiện là tướng trong quân đội, lên tiếp quản quyền lực, trở thành Kim Jong Un của chúng ta. Phiên bản Afghanistan là một số người trong quân đội nắm quyền lực và trở thành Taliban vùng nhiệt đới, thành lập một hội đồng quân sự. Còn phiên bản kiểu Nga là phiên bản mà một Vladimir Putin nào đó xuất thân từ quân đội”. Những dự báo này có tiếng là không đáng tin ở một nước Cuba phản trực giác, nhưng thậm chí cả người có quan điểm tiêu cực này cũng cho rằng lòng tự hào của Cuba về nền độc lập của mình – chủ nghĩa dân tộc đã phát triển lớn mạnh cùng với cuộc cách mạng – có nghĩa nước này có thể không sớm đi theo con đường của Starbuck và American Express.

Trong khi đó, giữa các đường phố gập gềnh của trung tâm La Habana, một mệnh phụ lê bước trên con đường có tên Virtues, mang theo 2 con gấu Teddy và tìm cách bán chúng. Những căn phòng “cho thuê theo giờ, theo ngày, theo tháng”, như những chữ viết trên một tòa nhà bị đập bỏ cho thấy. Các phòng ăn không có ánh sáng được biến thành các thẩm mỹ viện ngẫu hứng, và bên ngoài một căn hộ tối đen, ở gần một bức tường trên đó có ai đó. đã sơn vẽ chữ Viva Fidel, một bàn tay xương xẩu treo một số dây chuyền vàng giơ ra trước mặt một khách hàng mặc chiếc áo T-shirt màu trắng tinh tươm. Buổi tối cuối cùng của tôi ở Cuba, mất điện ở phần lớn khu buôn bán, và thành phố trở thành chỉ là những bóng người lê từng bước trong màn đêm, thỉnh thoảng có một vài tia chớp lóe lên. Trên thực tế gần giống như những gì tôi nhớ về nó vào năm 1991. Kinh doanh tự do có thể xuất hiện ở mọi phía, nhưng trong lúc này khó có thể thấy nó trong bóng tối.

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
This entry was posted in Archives, Articles, International relations, Teaching and tagged , , , , , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s