TRUNG QUỐC: BONG BÓNG TRONG CHỦ NGHĨA BI QUAN

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ Năm, ngày 07/11/2013

(Tạp chí Economist)

Nn kinh tế của Trung Quốc không hiệu quả, nhưng không phải là bt n

Paul Krugman gần đây viết trên tờ New York Times’. “Chỉ mới đây chúng ta e ngại người Trung Quốc. Nhưng giờ đây chúng ta lo sợ cho họ”. Ông nằm trong số những nhà bình luận lỗi lạc dự đoán tai ương trong nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này. Ba thước đo dường như thâu tóm những nỗi lo ngại của họ. Tăng trưởng kinh tế giảm tốc còn 7,5% từ nhịp độ tăng trưởng hai con số trước đây của nước này. Tỷ lệ đầu tư vẫn ở mức cao một cách không bền vững, hơn 48% GDP. Trong khi đó, theo một số ước tính, tỷ số nợ – nghĩa là những thứ mà các doanh nghiệp, hộ gia đình và Chính phủ Trung Quốc nợ – đã tăng một cách báo động, lên tới 200% GDP.

Những mối quan ngại về con số đầu tiên đã được làm dịu bớt chút ít trong tháng 8/2013, khi mà Trung Quốc báo cáo những con số tích cực về thương mại và sản lượng công nghiệp (tăng 9,7% trong năm tính đến tháng 7). Tuy nhiên, bên dưới sự lên xuống mang tính chu kỳ, Trung Quốc rõ ràng đã nhìn thấy đà phát triển của họ đang chậm lại.

Chính năng lực sản xuất phối hợp của người lao động vốn và bí quyết sản xuất của Trung Quốc thiết lập tốc độ lớn nhất cho nền kinh tếquyết định xem nó có thể tăng trưởng nhanh như thế nào mà không có lạm phát. Nó cũng quyết định xem nền kinh tế phải tăng trưởng nhanh như thế nào nhằm tránh công suất dư thừa và sự tăng lên về số lượng người không có công việc. Những con số gần đây nhất cho thấy rằng tỷ lệ tăng trưởng bền vững gần hơn với tốc độ phát triển hiện tại 7,5% của Trung Quốc so với tỷ lệ 10% mà nền kinh tế này từng tăng trưởng sục sôi.

Đối với nhiều nhà kinh tế học, sự giảm tốc mang tính cơ cấu này là không thể tránh khỏi và được hoan nghênh. Điều đó đánh dấu một sựtiến triển trong mô hình tăng trưởng của Trung Quốc, khi nó thu hẹp khoảng cách về công nghệ với các nền kinh tế hàng đầu và chuyển nhiều nguồn tài nguyên của nước này sang các ngành dịch vụ hơn. Ngược lai đối với ông Krugman, sự giảm tốc nay là mối đe dọa tiêu diệt mô hình tăng trưởng của Trung Quốc.

Ông lập luận rằng Trung Quốc đã không còn “những người nông dân dư thừa”. Dòng người Trung Quốc tràn từ vùng nông thôn vào các nhà máy và các thành phố trong quá khứ đã khiến tiền lương duy trì ở mức thấp và lợi nhuận từ vốn đầu tư ở mức cao. Dòng người nay đã chậm lại và trong một số trường hợp, đảo ngược. Vì vậy, Trung Quốc không còn tăng trưởng đơn giản bằng cách phân bổ vốn tới lao động mới đến từ các đồng ruộng. “Đầu tư rộng” giờ đây phải nhường đường cho “đầu tư sâu” (bổ sung thêm vốn cho mỗi một lao động cá nhân). Khi nó làm như vậy, đầu tư sẽ phải chịu “lợi nhuận suy giảm nhanh chóng” và “sụt giảm trầm trọng”. Và vì đầu tư là một nguồn cầu lớn như vậy – chiếm gần một nửa nhu cầu – một sự sụt giảm như vậy sẽ không thể bù đắp được. Trên thực tế, Trung Quốc sẽ đâm phải một “Vạn lý trường thành” (phép ẩn dụ này rõ ràng đến mức bạn có thể nhìn thấy nó từ trên không).

Vấn đề là liệu những mối quan ngại của ông Krugman có chính đáng. Ông đã đúng về việc Trung Quốc đang cạn kiệt lao động “dư thừa”. Vùng nông thông của Trung Quốc không còn quá dư thừa đến mức người dân có thể bỏ đi mà không bị nhận ra. Giờ đây khi họ đi, thị trường việc làm thắt chặt và tiền lương tăng ở những nơi họ bỏ lại phía sau. Để thu hút họ đi khỏi, tiền lương phải tăng ở những nơi mà họ tới.

Tuy nhiên Cai Fang thuộc Học viện Khoa học Xã hội của Trung Quốc tin rằng Trung Quốc cạn kiệt lao động nông thôn dư thừa ngay từ năm 2003. Nếu nền kinh tế này sắp sửa đâm vào một bức tường, thì nó đã xẩy ra như vậy từ một thập kỷ trước. Trên thực tế, nền kinh tế này từ đó đã có được tăng trưởng ngoạn mục. Có một thời gian, sự dịch chuyển của người lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ khôngphải là nguồn chính cho thành công của Trung Quốc. Louis Kujis thuộc Ngân hàng Hoàng gia Scotland nói rằng từ năm 1995 tới năm 2012, sự dịch chuyển này chỉ bổ sung thêm 1,4 điểm phần trăm cho mức tăng trưởng hàng năm của Trung Quốc. Thay vào đó, hầu hết tăng trưởng gần đây đến từ việc gia tăng năng suất của người lao động bên trong ngành công nghiệp, chứ không phải là đưa những người mới vào. Ông Krugman lo gại sự chấm dứt của một Trung Quốc kiểu mẫu đã diễn ra mà không có biểu hiện gì.

Ông và các nhà bình luận đáng kính khác, đặc biệt là Michael Pettis thuộc trường Đại học Bắc Kinh, chắc chắn đã đúng khi chỉ trích tỷlệ đầu tư cao của Trung Quốc, vì đó là cội nguồn của tính hiệu quả thấp. Đầu tư cần phải mở rộng năng lực của một nền kinh tế đáp ứng những nhưu cầu của người tiêu dùng hoặc các thị trường xuất khẩu của nó. Nhưng ở Trung Quốc ông Kragman lập luận, phần lớn chi tiêu đầu tư là vô ích: nó đơn giản là bổ sung cho năng lực của nền kinh tế nhằm mở rộng năng lực của chính nó.

Tuy nhiên đầu tư quá mức chưa phải là nguồn gốc của sự bất ổn, nhờ có một hệ thống dựa vào những người gửi tiết kiệm bất đắc dĩ. Do chính phủ đặt ra mức trần lãi suất dựa trên các khoản tiền gửi, nên các ngân hàng trả lãi thấp cho nhũng người gửi tiền và tính giá thấp đối với các tập đoàn đi vay – trên thực tế, là một gánh nặng cho những người tiết kiệm hộ gia đình và là một khoản trợ cấp cho doanh nghiệp nhà nước. Theo một báo cáo vào năm 2012 của li Houng Lee thuộc Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và các đồng tác giả, sự chuyển đổi từ các hộ gia đình sang những người đi vay lớn này hàng năm đã đạt mức trung bình 4% GDP trong giai đoạn 2001- 2011. Khoản trợ cấp cho phép các doanh nghiệp lớn đầu tư vào các dự án mà thiếu no thì sẽ không tồn tại được. Các tác giả cho rằng tỷ lệ đầu tư của Trung Quốc đáng ra phải gần mức 40% hơn là 48%. Nhưng sự bóp méo có thể được kéo dài trong khi những người gửi tiền tiếp tục cấp vốn cho nó – và cũng do sự kiểm soát của Trung Quốc đối với các dòng vốn ra, họ hầu như không có lựa chọn.

Rõ ràng là Trung Quốc nên hạ thấp tỷ lệ đầu tư của mình. Nhưng ông Krugman và những người khác nói rằng một tỷ lệ đầu tư thấp hơn có thể đẩy nhanh sự sụp đổ. Mối quan ngại của họ lặp lại một mô hình tăng trưởng có từ 70 năm nay do Roy Harrod và Evsey Domar nghĩ ra, trong đó nền kinh tế được cân bằng một cách mong manh giữa bùng nổ và vỡ nợ.

Mô hình này thừa nhận rằng đầu tư đóng vai trò kép trong một nền kinh tế. Như Martin Wolf của tạp chí Financial Times đã gọi, nó vừa là “nguồn năng lực bổ sung” vừa là “nguồn cầu”. Đôi khi hai vai trò này hoạt động tại những mục đích chồng chéo nhau. Nếu tăng trưởng chậm thì khi đó nền kinh tế sẽ không cần thiết phải bổ sung thêm nhiều năng lực như vậy. Điều đó ngụ ý đầu tư ít hơn. Nhưng bởi vì chi tiêu đầu tư là nguồn cầu, đầu tư ít hơn cũng hàm ý rằng ít nhu cầu hơn, tăng trưởng sẽ tiếp tục suy giảm hơn nữa. Trong khi tránh năng lực dư thừa, nền kinh tế cuối cùng đi đến việc tạo ra nhiều năng lực hơn.

Nhưng mô hình này phù hợp với Trung Quốc tới mức độ nào? Đất nước này có cả một trong những tỷ lệ đầu tư cao nhất thế giới lẫn một trong những mức tăng trưởng ổn định nhất trên thế giới. Điều đó có lẽ bởi đầu tư một phần được chính phủ điều khiển, mà khuyến khích chi tiêu vốn nhiều hơn trong khi các nguồn cầu khác đang yếu kém, và ngược lại. Các doanh nghiệp sở hữu nhà nước và các phương tiện đầu tư địa phương-chính phủ của Trung Quốc có thể không phân bổ vốn đúng chỗ. Nhưng ít nhất là họ huy động nó vào đúng thời điểm.

Quả thực, tính không hiệu quả trong đầu tư của Trung Quốc có thể là một lý do tại sao nó sẽ không tạo ra sự bất ổn lớn. Ông Lee và các đồng tác giả chỉ ra rằng giờ đây Trung Quốc đòi hỏi đầu tư cao hơn bao giờ hết nhằm tạo ra mức tăng trưởng tương tự (tỷ suất vốn-sản lượng tăng thêm của nước này, như các nhà kinh tế học gọi nó, đang gia tăng). Nhưng một hệ quả là tỷ lệ đầu tư tương tự thì nhất quán với mức tăng trưởng đang chậm lại của Trung Quốc.

Những người bi quan lo lắng rằng tăng trưởng chậm hơn sẽ ít đòi hỏi đầu vào năng lực hơn, điều mà đến lượt nó sẽ làm suy giảm cầu. Nhưng nếu nguyên nhân của tăng trưởng chậm hơn là sự suy giảm tính hiệu quả đầu tư, thì tăng trưởng chậm hơn sẽ chỉ đòi hỏi chùng đó, chính xác là bởi nó đem lại ít lợi nhuận hơn.

Những người chỉ trích đầu tư cao của Trung Quốc không chỉ lo lắng về năng lực dư thừa nó tạo ra, mà còn về những khoản nợ nó để lại phía sau. Trung Quốc nói chung thịnh vượng: tỷ lệ tiết kiệm của nước này thậm chí còn cao hơn tỷ lệ đầu tư của nó. Nhưng những người gửi tiết kiệm và các nhà đầu tư thường không giống nhau. Đứng giữa họ là hệ thống tài chính của Trung Quốc mà đang chuyển vô số nguồn lực từ nhóm thứ nhất sang nhóm thứ hai. Theo Goldman Sachs, các khoản nợ của các doanh nghiệp Trung Quốc lên tới 142% GDP trong năm trước và những phương tiện đầu tư được các chính phủ địa phương bảo trợ có các khoản nợ trị giá 22,5% nữa. Mặc dù không thể tính toán một cách chính xác, nhưng các khoản nợ xấu có thể lên tới mức tương đương 1/4 GDP của nước này.

Những đường ống lớn trong hệ thống tài chính

Một sự bùng nổ tín dụng tương tự đã diễn ra trước cuộc khủng hoảng của Mỹ vào năm 2008, và cuộc khủng hoảng của Nhật Bản vào đầu những năm 1990. Vì vậy, đó là điều tự nhiên khi lo sợ rằng Trung Quốc sẽ chịu số phận tương tự. Nhưng việc xem xét kỹ lưỡng hơn những gì họ đã trải qua trong hai cuộc khủng hoảng cho thấy rằng Trung Quốc không chắc lặp lại điều này.

Các nhà kinh tế học đôi khi chia những tai ương của Mỹ thành hai giai đoạn: đầu tiên là vỡ nợ nhà đất và sau đó là cú sốc Lehman. Giá nhà của Mỹ bắt đầu giảm ngay từ năm 2006, gây thiệt hại tới sự giầu có của hộ gia đình. Việc xây dựng nhà cửa giảm tốc nhanh chóng, đặt gánh nặng lên tăng trưởng, và nhiều công việc xây dựng biến mất. Nhưng trong 2 năm, ngân hàng trung ương Mỹ – Ngân hàng dự trữ liên bang, có khả năng bù đắp phần lớn thiệt hại đối với tăng trưởng, trong khi thất nghiệp chỉ tăng một cách khiêm tốn.

Tất cả những điều đó đã thay đổi vào tháng 9/2008, khi Lehman Brothers phá sản, gây ra sự hoảng loạn tài chính sâu sắc. Không ai biết được những thiệt hại từ những vụ vỡ nợ thế chấp có thể lớn đến mức nào, cũng như không biết cuối cùng ai sẽ phải gánh chịu chúng. Các chủ nợ, các cổ đông, các nhà sáng lập thị trường và các thương nhân, tất cả đều vội vã nhằm đảm bảo rằng họ không phải là những người đó, bằng cách thu hẹp giới hạn tín dụng, đòi hỏi thế chấp và bán hạ giá chứng khoán của họ.

Theo nhiều cách, việc họ vội vã lao đi tìm các lối thoát đã tỏ ra gây thiệt hại cho nền kinh tế nói chung nhiều hơn so với mối nguy hiểm mà họ đang tìm cách thoát khỏi. Sau cú sốc Lehman, một số có thể xử lý được các vụ mất khả năng thanh toán thế chấp đã trở thành một vấn đề thảm họa về khả năng thanh toán bằng tiền mặt. Các sai sót về việc cho vay trong quá khứ đã làm tê liệt cung tài chính ở hiện tại.

Trung Quốc có thể sẽ trải qua điều gì đó giống như giai đoạn đầu giảm tốc của Mỹ, nhưng nước này chắc sẽ tránh được giai đoạn thứ hai. Nước này sẽ không cho phép bất kỳ trung gian tài chính lớn nào của mình phá sản. Các nhà đầu tư có thể ngừng việc mua các sản phẩm quản lý của cải (WMP) mà giúp cấp vốn cho cái gọi là hệ thống ngân hàng ngầm. Nhưng ở Trung Quốc hoạt động ngân hàng ngầm là nguồn tài chính nhỏ hơn so với ở Mỹ. Và nếu các nhà đầu tư ngừng việc mua các WMP, họ có khả năng chuyển sang các khoản tiền gửi ngân hàng truyền thống thay vào đó. Như vậy các ngân hàng hẳn sẽ có khả năng chống cự với kiểu hạn chế tín dụng mà đã làm tê liệt nền kinh tế Mỹ. Và thậm chí sau đó chính phủ có nhiều cơ hội hơn, nếu cần thiết, cho kích thích tiền tệ và tài chính.

Một số nhà kinh tế học lập luận rằng những nỗ lực nhằm duy trì cầu sẽ tỏ ra lạc hướng. Một sự bùng nổ không bền vững sẽ bỏ mặc người lao động bị kẹt trong những công việc không phù hợp, gây ra một sự phá sản đau đớn trở nên cần thiết để phân bổ lại chúng. Nhưng việc tái cơ cấu không phải chỉ diễn ra trong tình trạng suy thoái. Ngay cả trong một nền kinh tế tăng trưởng đều đặn, nhiều biến động đang diễn ra dưới bề mặt, khi người ta được tuyển dụng và bị sa thải, và khi họ tự ý nhẩy việc. Cũng như các vụ phá sản đẩy những người lao động ra khỏi các ngành công nghiệp đang xuống dốc và lâm vào tình cảnh thất nghiệp, thì những sự bùng nổ lại kéo họ ra khỏi những ngành công nghiệp ở “lúc xế chiều” và đẩy họ vào những ngành công nghiệp đang lên.

Trung Quốc không còn xa lạ gì với việc tái cơ cấu kinh tế. Trong suốt thập kỷ trước, số lượng người lao động trong ngành nông nghiệp giảm từ một nửa xuống còn khoảng một phần ba. Xuất khâu đã giảm từ 38% GDP vào năm 2007 xuống còn 26% vào năm 2012, trong khi các ngành dịch vụ giờ đây đóng góp cho nền kinh tế nhiều như ngành công nghiệp. Và sự cải tổ đáng kể về công ăn việc làm và sản xuất này diễn ra trong một nền kinh tế đang tăng trưởng ở mức khoảng 10% một năm. Dường như nền kinh tế Trung Quốc có thể tiến triển và mở rộng cùng lúc.

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
This entry was posted in Archives, Articles and tagged , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s