KINH TẾ TRUNG QUỐC VÀ NHỮNG BÀI HỌC TỪ NHẬT BẢN

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ Sáu, ngày 22/11/2013

TTXVN (Hong Kong 20/11)

Theo Thời báo châu Á trực tuyến, thông cáo của Hội nghị Trung ương 3 Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 18 vừa kết thúc hôm 12/11 tại Bắc Kinh đã nêu rõ: “Trọng tâm của việc tái cấu trúc hệ thống kinh tế… là cho phép các lực lượng thị trường đóng ‘vai trò quyết định’ trong việc phân bổ các nguồn lực”.

Điều đó có nghĩa là gì? Cả thế giới đang nín thở chờ đợi – và đây là những gì mà thế giới có được: một bí ẩn bị phong bế trong một câu đố nằm trong một chiếc hộp Trung Quốc, dưới hình thức một thông cáo khó hiểu được đưa ra bởi Hội nghị Trung ương 3, một sự kiện rất được mong đợi của Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 18.

Để biết được ai là người cuối cùng chịu trách nhiệm về vấn đề này  – dấu ấn chính sách quan trọng đầu tiên được công bố bởi các nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc là Chủ tịch Tập Cận Bình và Thủ tướng Lý Khắc Cường – một điều chỉ cần nhìn thoáng qua hình ảnh: 7 ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, những người thực sự cai trị Trung Quốc. Và những gì bị đe dọa không thể nghiêm trọng hơn được; không ít hơn những sự lựa chọn chiến lược để nhằm vào sự thăng tiến chắc chắn sẽ xẩy ra của Trung Quốc, là trở thành nền kinh tế số một thế giới.

Một điều phải luôn ghi nhớ là Đảng Cộng sản Trung Quốc hoạt động như thế nào. Hội nghị Trung ương 3 được cho là nhằm “củng cố sự đồng thuận giữa các thành viên ban lãnh đạo cấp cao Đảng Cộng sản Trung Quốc và thiết lập tinh thần chung cho giai đoạn phát triển tiếp theo với nhiều thách thức của Trung Quốc.

Tuy nhiên, sự thất vọng dường như đã trở thành ý niệm chung có ý nghĩa nhất ở đây. Giới truyền thông mê loạn ở Trung Quốc, trước Hội nghị Trung ương 3, đã không ngừng rêu rao về một “sự thay đổi mà chúng ta có thể tin tưởng”. Trên hết, nhân vật số 4 trong Thường vụ Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Hội nghị Chính trị Hiệp thương Nhân dân (Chính Hiệp – tương đương Mặt trận Tổ quốc) Du Chính Thanh, đã công khai cam kết Đảng Cộng sản sẽ thực hiện những cuộc cải cách “chưa từng có tiền lệ”, dẫn đến một “sự chuyển đổi to lớn về kinh tế xã hội và các lĩnh vực khác”.

Sự mê loạn này chủ yếu là do một lộ trình cải cách mang tên “Phương án 383” được Trung tâm Nghiên cứu Phát triển của Quốc Vụ viện (Chính phủ Trung Quốc) công bố. Trong cách đặt tên phương án bằng các con số của Trung Quốc, lộ trình này bao gồm “tư duy cải cách tam vị nhất thể”) (3 mặt của một vấn đề), 8 lĩnh vực cải cách chủ chốt và 3 tổ hợp cải cách liên quan”. Bí mật của một cuộc cải cách thành công sẽ là “việc giải quyết hợp lý các mối quan hệ giữa chính phủ và thị trường”.

Một trong những tác giả của “phương án 383”, ông Lưu Hạc, Chủ nhiệm Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về Kinh tế và Tài chính, kiêm Phó Chủ nhiệm Ủy ban Cải cách và Phát triển Nhà nước, trên thực tế đã trở thành một siêu sao. Và ngay trước Hội nghị Trung ương 3, Chủ tịch nước – Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình đã nhấn mạnh “cải cách và mở cửa là một quá trình không bao giờ kết thúc”.

Vậy sự công khai thẳng thắn mang đặc sắc Trung Quốc này thực sự sẽ có ý nghĩa là gì? Dư luận Trung Quốc vẫn không tiếp cận được với các chi tiết của “con rồng bí ẩn trong câu đố” – hoặc ngược lại – mặc dù tất cả mọi thứ về những cuộc cải cách này trực tiếp ảnh hưởng đến cuộc sống của 1,3 tỷ người. Trên thực tế, chiếc hộp chứa đựng bí ẩn được giấu bên trong một kim tự tháp – phản ánh một quá trình ra quyết định được độc quyền bởi một ban lãnh đạo đảng khôn khéo. “Sự minh bạch” ở đây cũng không đủ tiêu chuẩn để được xem như một hình ảnh phản chiếu.

Tất cả mọi người đều mong đợi Đảng Cộng sản Trung Quốc cam kết tăng cường tính độc lập của hệ thống tư pháp, đồng thời tiếp tục cuộc chiến chống tham nhũng và bất công xã hội. Tất cả mọi người đều mong chờ sự nới lỏng chính sách sinh một con đã được thực hiện trong 33 năm qua – cho phép các cặp vợ chồng sinh con thứ hai; đó là lẽ tự nhiên, khi xét đến những mục đích của Đảng Cộng sản Trung Quốc là một nền kinh tế dựa vào tiêu dùng khi mà dân số Trung Quốc đang già đi. Tất cả mọi người đều đã mong chờ việc thực hiện cải cách đất đai, liên quan trực tiếp đến chiến dịch đô thị hóa mới.

Đây là lần đầu tiên Đảng Cộng sản Trung Quốc thừa nhận rằng “cả lĩnh vực công và tư nhân đều là những thành phần quan trọng của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, đồng thời là những nền tảng quan trọng cho sự phát triển kinh tế và xã hội của đất nước chúng ta”.

Trên thực tế, điều này sẽ đồng nghĩa với việc Đảng Cộng sản Trung Quốc phá vỡ sự độc quyền của nhà nước trong một số ngành chiến lược. Đầu tư tư nhân sẽ được cho phép, chẳng hạn, trong lĩnh vực ngân hàng, năng lượng, cơ sở hạ tầng và viễn thông. Điều này cũng sẽ có nghĩa là nhiều doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước sẽ chấm dứt hoạt động như những cánh tay của bộ máy chính phủ quan liêu. Trong trường hợp này, sẽ có sự phản đối mạnh mẽ từ những nhóm lợi ích thâm căn cố đế mà ai cũng biết – giống như trong cuộc chiến của các chính trị gia ưu tú các khu vực với Bắc Kinh.

Kế hoạch tổng thể của Đảng Cộng sản Trung Quốc là tăng tầng lớp trung lưu của nước này lên hơn 50% tổng dân số vào năm 2050 (hiện nay là 12%) – cân bằng hơn giữa tiêu dùng và ổn định xã hội. Cho tới thời điểm này, lĩnh vực công chiếm khoảng 25% Tổng giá trị sản phẩm quốc nội (GDP) của Trung Quốc. Hầu hết giới kinh doanh ở Trung Quốc là doanh nghiệp công tư nhân – nhưng với 25% số doanh nghiệp tư nhân có các công ty mẹ là doanh nghiệp nhà nước. Chỉ có 1,3% số người lao động Trung Quốc là các nhà doanh nghiệp tư nhân. Hai phần ba trong số họ trước đây từng làm việc trong hệ thống đảng-nhà nước, và 20% từng giữ mội vị trí lãnh đạo trong hệ thống chính quyền hoặc hệ thống đảng ở địa phương.

Vai trò trung tâm của nhà nước không nên bị thay đổi bởi những cuộc cải cách sắp tới. Trên hết, 40% doanh nhân là đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc. Họ đã thu được lợi nhuận đáng kể từ hoạt động tư nhân hóa bất động sản. Họ không có sự đối lập chính trị với Đảng Cộng sản Trung Quốc – và chắc chắn sẽ được hưởng lợi từ các cuộc cải cách. Điều mà họ mong muốn nhất là một hệ thống hiệu quả hơn và có sự công bằng xã hội hơn. Họ không nuôi dưỡng những tư tưởng thay đổi chế độ.

Cuối cùng, vấn đề hết sức quan trọng cho sự tiến triển tiếp theo của Trung Quốc có thể dễ dàng được xây dựng thành hệ thống theo kiểu Trung Quốc, đó là làm cách nào để chấn chỉnh nền kinh tế mà không cần cải cách chính trị. Ngay cả nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình – người được cho là chính khách vĩ đại nhất trong 50 năm cuối của thế kỷ 20 – cũng đã nhiều lần nhấn mạnh rằng cải cách kinh tế ở Trung Quốc sẽ không thể đi xa nếu không có một cuộc cải cách hệ thống chính trị.

Trong ngắn hạn và trung hạn, thật khó để thấy Đảng Cộng sản Trung Quốc cho phép “tính cách thất thường” của “Nữ thần thị trường” làm rung chuyển và cuốn nền kinh tế Trung Quốc đi một cách tùy ý. “Thị trường” hơn, theo kiểu phương Tây, chắc chắn sẽ làm gia tăng sự bất bình đẳng trong khu vực đến những mức độ không được phép – chính xác là khi Đảng Cộng sản Trung Quốc đang rất cố gắng để đẩy mạnh sự phát triển của các tỉnh nghèo hơn.

Tất nhiên, bản thông cáo khó hiểu chỉ là một lộ trình đã được rút gọn. Sẽ mất nhiều ngày, nhiều tuần và thậm chí là nhiều tháng để tìm ra những chi tiết ẩn sâu bên trong bản thông cáo đó. Điều chắc chắn là “vai trò quyết định” của cải cách thị trường mang hàm ý rằng Đảng Cộng sản Trung Quốc chỉ đạo, giám sát từng bước của quá trình cải cách.

Đó sẽ là một trận chiến mang tính chất sử thi của thời đại khi chứng kiến Đảng Cộng sản Trung Quốc – một bộ máy quan liêu cố hữu trong Chính phủ Trung Quốc – thực hiện hành động cân bằng này; phù hợp với những khuynh hướng bản năng của nó về một sự kiểm soát tập trung hóa thậm chí còn mạnh mẽ hơn (ví dụ, không cho phép thẳng thắn công khai trên Internet) đối với một sự bùng nổ của học thuyết xã hội Darwin đã gây ra bởi những lực lượng “phi lý” này, những kẻ không thể không chú ý đến việc làm và ổn định xã hội.

Các Gweilos – những kẻ man rợ nước ngoài nói chung – sẽ đánh giá thấp quyết tâm của Trung Quốc trong hoàn cảnh nguy hiểm của riêng họ. Khi nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình thực hiện cuộc cải cách kinh tế của riêng mình – và mang “thương hiệu” công khai thẳng thắn – vào năm 1978, ông đã thay đổi Đảng Cộng sản Trung Quốc từ trên xuống dưới, toàn diện và làm những điều không thể làm được; sự phát triển kinh tế nhanh chóng tạo thêm thời gian cho việc xử lý các vấn đề chính trị, và thậm chí một số thay đổi chính trị còn cho phép phát triển kinh tế nhanh hơn.

Vậy nếu như Chủ tịch Tập Cận Bình và Thủ tướng Lý Khắc Cường đưa ra phương thức cải cách với một sự pha trộn phương pháp của Đặng Tiểu Bình – như việc phát minh ra một khái niệm mới về thị trường mang đặc sắc Trung Quốc – thì sẽ thế nào? Bầu trời – hay việc Trung Quốc quay trở lại nơi mà họ từng ở đó trong suốt 18 thế kỷ – là điều giới hạn.

* * *

Theo tạp chí “Minh kinh” (Hong Kong), số tháng 10/2013, kinh tế Trung Quốc hiện đang đi vào mô hình lệ thuộc vào đầu tư và vay mượn quy mô lớn, và ngày càng giống mô hình của Nhật Bản 20 năm trước. Sau khi đạt đỉnh cao vào năm 1991, kinh tế Nhật Bản đã bắt đầu bước vào thời kì suy thoái và trong suốt hơn 20 năm qua, hoàn toàn không thể hồi phục trong bối cảnh kinh tế thế giới ngưng trệ.

Trải qua 20 năm tăng trưởng nhanh do phụ thuộc vào sản xuất tập trung, thực lực kinh tế Trung Quốc đã có được một lượng lớn ngoại tệ dự trữ. Hiện nay, nguồn tiền này đã trở thành áp lực đối với quá trình tiếp tục phát triển của Trung Quốc. Những năm gần đây, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này quá lệ thuộc vào các dự án đầu tư khai thác, đồng thời can thiệp sâu vào cán cân hiệu ứng đầu tư tạo ra làn sóng vay nợ, dẫn đến hiệu ứng đôminô nợ nần không có cách nào thanh toán.

Việc đầu tư quá độ và vay mượn quá lớn trong những năm qua khiến cho ngành xây dụng, sản xuất ở nước này bắt đầu giảm tốc. Điều này không phải là một sự kiện khiến dư luận cảm thấy bất ngờ. Đồng thời, tỉ lệ giãn nợ tăng mạnh, một khoản tiền lớn trong ngân sách các địa phương được mang ra xây dựng đường sá, mở rộng sân bay, xây dựng nhà máy luyện gang thép, đóng tàu… Và điều đáng nói hơn là rất nhiều tòa nhà văn phòng, chung cư hiện bị bỏ hoang, không có cách nào để tiêu thụ. Từ năm 2006, một số chuyên gia kinh tế dự đoán Trung Quốc sẽ phải đối mặt với hàng loạt vấn đề nợ nghiêm trọng. Đến năm 2010 lời tiên đoán này đã thành sự thật. Ngay cả các nhà kinh tế học hữu khuynh và các nhà đầu tư đều nhận thấy thị trường Trung Quốc đang bất ổn.

Nếu muốn tự bảo vệ mình và không chịu những ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng nợ, Trung Quốc buộc phải tạm thời trì hoãn việc chi tiêu. Bắc Kinh phải tái cân bằng kinh tế, điều chỉnh các bước, không được tiếp tục dựa vào đầu tư khai thác và vay nợ từ các địa phương để kích thích tăng trưởng kinh tế; ngược lại, cần điều chỉnh nền kinh tế, chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa vào tiêu dùng. Tuy nhiên, kế hoạch này chỉ có thể thực hiện được trong bối cảnh kinh tế tăng trưởng thấp.

Vậy bước tiếp theo có phải là sự sụp đổ của nền kinh tế Trung Quốc không? Có lẽ không phải như vậy, bởi nguyên nhân quan trọng gây ra sự sụp đổ tài chính là lượng tiền cho vay của các ngân hàng vượt quá dung lượng của Ngân hàng Nhà nước. Chỉ Ngân hàng Nhà nước có nguồn lực tài chính mạnh, Thống đốc Ngân hàng làm việc nghiêm túc, tổ chức tài chính hoạt động theo quy đinh của chính phủ thì nguồn vốn sẽ được quản lý có hiệu quả và không phát sinh vấn đề gì nghiêm trọng. Trong những năm tới, kinh tế Trung Quốc sẽ trải qua một thời kỳ u ám, đó chính là chỉ số tăng trưởng GDP tiếp tục lao dốc.

Nguyên nhân của việc này rất đơn giản. Một khi thị trường Trung Quốc bắt đầu chuyển sang mô hình phát triển kinh tế dựa vào tiêu dùng, đa số người dân sẽ không ngừng mua sắm, tiêu dùng làm chủ đạo sẽ dẫn đến điều đó. Tuy nhiên, cũng cần nhớ rằng, nền kinh tế Mỹ chính là một kiểu kinh tế tiêu dùng. Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 bắt nguồn từ khủng hoảng vay nợ và tín dụng của Mỹ, có thể nói đây chính là hiểm họa do người tiêu dùng gây ra.

Nếu như Chính phủ Trung Quốc dưới thời Chủ tịch Tập Cận Bình có thể khống chế chi tiêu trong phạm vi quản lý cân bằng, có hiệu quả thì sẽ không có mô hình kinh tế với chỉ số tăng trưởng GDP vượt quá mức 3-4%. Nền kinh tế tăng trưởng chậm lại liệu có gây ra tai họa cho Trung Quốc? Đáp án sẽ là: Có.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức 3 – 4% có sự khác biệt rất lớn so với tốc độ tăng trưởng 10% liên tục trong 30 năm qua. Bắc Kinh mong đợi kinh tế Trung Quốc sẽ “hạ cánh mềm”. Bên cạnh đó, thách thức mà Chính quyền Bắc Kinh cần tích cực đối phó là cùng với sự sụt giảm về tốc độ tăng trưởng, tỉ lệ thất nghiệp ở nước này cũng đang gia tăng. Tuy nhiên, các chuyên gia kinh tế quốc tế đều đánh giá tốt các động thái nhằm ứng phó với nền kinh tế hiện nay của Trung Quốc. Từ bài học trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, sức đề kháng của thể chế kinh tế Trung Quốc vẫn rất tốt.

Tuy nhiên, cộng đồng quốc tế thực ra không cần quá lo lắng về việc nền kinh tế Trung Quốc suy thoái sẽ gây ra những ảnh hưởng tiêu cực. Bởi vì Trung Quốc không phải là một nên kinh tế thực sự lớn trên thế giới, cho nên không phải quá căng thẳng. Quan điểm này hoàn toàn trái ngược với ý kiến của số đông coi Trung Quốc là một đại công xưởng, chỉ biết sản xuất mà không biết tạo ra nhu cầu. Đây chính là nguyên lý cân bằng cung cầu của các nhà kinh tế. Có nhu cầu của thị trường mới có tăng trưởng, hơn 30 năm nay do có nhu cầu của thị trường quốc tế nên mới tạo ra cung ứng xuất khẩu cho thị trường Trung Quốc Đại lục. Tăng trưởng của kinh tế thế giới không chỉ dựa vào một mình sự trỗi dậy của Trung Quốc, ngược lại, khi kinh tế Trung Quốc bắt đầu đi xuống, không có nghĩa các quốc gia khác sẽ sụp đổ. Do vậy, Trung Quốc cần giống như Mỹ trở thành một nước tiêu dùng lớn, đến lúc đó kinh tế Trung Quốc sẽ có một vị thế hết sức quan trọng trong nền kinh tế thế giới.

Nếu như tỉ lệ tăng trưởng của ngành dịch vụ và nhập khẩu vượt quá tỉ lệ xuất khẩu thì kinh tế Trung Quốc sẽ chuyển đổi mô hình thuận lợi đúng thời hạn, cũng như mang lại những ảnh hưởng tích cực đối với kinh tế thế giới. Các quốc gia sản xuất trên thế giới có thể xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc đồng thời tầng lớp làm công ăn lương ở Trung Quốc có thể được hưởng mức lương cao hơn và tiêu dùng các hàng hóa, dịch vụ này. Lúc đó, danh hiệu công xưởng thế giới của Trung Quốc sẽ nhường lại cho các quốc gia cung cấp dịch vụ cho người tiêu dùng Trung Quốc, đúng với triết lý “vật đổi sao dời” của tổ tiên người Trung Quốc?

Đương nhiên Bắc Kinh sẽ phải đối mặt với một cuộc chiến cải cách kinh tế gian nan, trong đó mục tiêu là “hạ cánh mềm”, trong bối cảnh tăng trưởng sụt giảm, và nguyên tắc là không theo gót Nhật Bản, đồng thời áp dụng sách lược tăng lương. Nếu như vậy, không chỉ người Trung Quốc cải thiện được tiêu chuẩn sống mà các quốc gia khác trên thế giới cũng được hưởng lợi.

Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden đã phát biểu trong buổi trả lời phỏng vấn của kênh Bloomberg tại Singapore vào ngày 28/7/2013, biết cho dù kinh tế Trung Quốc Đại lục giảm tốc cũng không ảnh hưởng đến sự hồi phục kinh tế đúng quỹ đạo của Mỹ. Ông Joe Biden nói: “Tốc độ tăng trưởng kinh tế Trung Quốc sụt giảm sẽ không khiến sự phục hồi của Mỹ chệch ra khỏi quỹ đạo, Nhưng rõ ràng, sự giảm tốc của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này, cũng giống như kinh tế Mỹ, nếu tăng trưởng sụt giảm sẽ gây ra chấn động toàn diện”.

Chỉ số tăng trưởng GDP quý 2 của Trung Quốc tăng 7,5% so với cùng kì năm 2012, nhưng thấp hơn tỉ lệ 7,7% của quý 1 và đây là lần đầu tiên trong vòng 20 năm qua, Trung Quốc không thực hiện được mục tiêu tăng tưởng 8% như dự kiến. Ngày 25/7/2013, giới chức Trung Quốc đã chỉ đạo 19 ngành nghề lớn với hơn 1.400 doanh nghiệp giảm năng suất dư thừa của năm 2013 nhằm thay đổi cục diện sụt giảm tăng trưởng, đồng thời đảm bảo duy trì sự phát triển của nền kinh tế.

Trung Quốc là đối tác thương mại chính của Mỹ sau Canada. Năm 2012 kim ngạch thương mại song phương Trung – Mỹ đạt 536,2 tỉ USD. Cán cân phát triển thương mại nghiêng về phía Trung Quốc. Năm 2012, tỉ lệ nhập siêu hàng hóa từ thị trường Đại lục của Mỹ đạt 315 tỉ USD, vượt qua tỉ lệ nhập siêu từ các quốc gia khác. Ngoài ra, theo số liệu thống kê của Bộ Tài chính Mỹ, Trung Quốc là chủ nợ nước ngoài lớn nhất của Mỹ, tính đến tháng 5/2013, Trung Quốc nắm giữ 1.316 tỉ USD số nợ của Chính phủ Mỹ và quy mô thương mại song phương đã đạt 267,6 tỉ USD.

Phó Tổng thống Joe Biden đã đề cập đến quan hệ Trung-Mỹ sau khi kết thúc hành trình 6 ngày đến thăm hai nước Singapore và Ấn Độ. Tại Singapore, ông Biden còn có buổi hội kiến với Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe. Theo ông Tống Thành Hoán (Song Sengwun), chuyên gia kinh tế của tổ chức CIMB Research, Singapore: “Kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm không ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế Mỹ. Tăng trưởng kinh tế Mỹ chủ yếu dựa vào tiêu dùng nội địa nền kinh tế phát triển tương đối ổn định”.

Theo số liệu thống kê, trong tháng 6/2013, hoạt động sản xuất của ngành chế tạo ở khu vực châu Á có xu hướng sụt giảm, sản lượng xuất khẩu thấp, trong đó các đơn hàng xuất khẩu của Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Ấn Độ đều giảm. Theo số liệu công bố của Tổng cục thống kê quốc gia Trung Quốc, trong tháng 6 chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) của ngành chế tạo giảm xuống còn 50,1%. Trong khi đó, chỉ số PMI tháng 6 do Ngân hàng HSBC công bố lại là 48,2% và tháng 5 là 49,2%. Điều này cho thấy trong vài tháng tiếp theo, xu thế tăng trưởng kinh tế của khu vực châu Á vẫn yếu ớt. Thị trường dự đoán phải đợi đến cuối năm khi nhu cầu của các nước Âu-Mỹ hồi phục thì nền kinh tế khu vực mới tăng trưởng trở lại.

Theo số liệu công bố hồi tháng 6 về “Chỉ số giá cả thị trường bất động sản ở 100 thành phố” của Viện nghiên cứu chỉ số đại lục, trong tháng 6/2013 giá nhà ở của 100 thành phố của Trung Quốc vẫn tiếp tục đà tăng của 13 tháng vừa qua, ở mức 10.258 nhân dân tệ (NDT)/m2, tăng 7,4% so với cùng kì năm 2012. Theo dự đoán của các chuyên gia, trong vài năm tới Trung Quốc Đại lục sẽ tiếp tục khai thác thị trường bất động sản, đồng thời nhu cầu mua nhà ở của người dân vẫn tiếp tục tăng. Xét một cách tổng thể, trong một thời gian ngắn thị trường bất động sản sẽ rất khó có sự điều chỉnh rõ rệt.

Thời gian gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Đại lục có xu hướng giảm nhưng tốc độ điều chỉnh tăng lương tối thiểu không sụt giảm. Theo số liệu thống kê, năm 2013 đã có 18 tỉnh, thành phố điều chỉnh tăng lương, trong đó lương tối thiểu ở Thượng Hải cao nhất, đạt 1.620 NDT/tháng. Đầu tháng 7, ba tỉnh Giang Tô, Tứ Xuyên, Liêu Ninh cũng tuyên bố nâng lương tối thiểu, trong đó các doanh nghiệp Đài Loan ở tỉnh Giang Tô đã điều chỉnh tăng lương tới hơn 12%, đạt 1.480 NDT/tháng. Quốc vụ viện (Chính phủ) Trung Quốc cho biết phải căn cứ vào các nhân tố như phát triến kinh tế, biến động giá cả để có sự điều chỉnh lương tối thiểu đúng thời điểm. Mục tiêu đến năm 2015, lương tối thiểu của đại đa số các khu vực đạt 40% trở lên mức lương bình quân của nhân viên làm việc tại thành phố, thị trấn ở khu vực đó. Do vậy, việc điều chỉnh mức lương tối thiểu ở Đại lục vẫn sẽ tiếp tục diễn ra.

Khu thí điểm hợp tác ngành vật liệu mới hai bờ Trung Quốc – Đài Loan (Trấn Giang) đã làm lễ khánh thành vào ngày 29/6/2013 tại khu Trấn Giang mới, Giang Tô. Khu thí điểm ngành nghề cấp quốc gia này là cơ sở quan trọng của ngành vật liệu mới ở khu tam giác lưu vực sông Trường Giang, cũng như là khu thí điểm đặc sắc trong việc hợp tác kinh tế với Đài Loan. Theo quy hoạch, đến năm 2015, mỗi năm ngành sản xuất vật liệu mới đạt doanh thu 80 tỉ NDT, 2 doanh nghiệp có doanh thu đạt hơn 10 tỉ NDT/năm, 8-10 doanh nghiệp có doanh thu trên 5 tỉ NDT/năm, hơn 20 doanh nghiệp có doanh thu trên 1 tỉ NDT/năm; đồng thời xây dựng 30 khu nghiên cứu phát triển kĩ thuật như Trung tâm kĩ thuật công trình cấp tỉnh trở lên, Trung tâm kĩ thuật doanh nghiệp, khu làm việc của các doanh nhân có học vị tiến sĩ…

Đối với Nhật Bản, trong giai đoạn từ 1973 đến 1986, kinh tế nước này từng bước suy thoái, tốc độ tăng trưởng sụt giảm chỉ còn 4%. Tuy nhiên, sau thập niên 80, cụ thể là từ tháng 11/1986 đến tháng 1 – 3/1991, kinh tế Nhật Bản có chuyển biến tốt, tiếp tục khởi sắc. Đây là thời kì thịnh vượng thứ hai của kinh tế Nhật Bản từ sau những năm 1960 – giai đoạn kinh tế phát triển nhanh chóng sau khi kết thúc chiến tranh. Thời kì này Nhật Bản gọi là “khởi sắc”, nhưng dư luận quốc tế lại gọi là thời kì kinh tế bong bóng. Ngày 29/12/1989, chỉ số Nikkei 225 của sàn chứng khoán Nhật Bản đạt 38.915 điểm, cao nhất trong lịch sử, bên cạnh đó giá bất động sản ở Kyoto, Osaka tăng mạnh. Lúc đó, giá đất, giá nhà ở tại Nhật Bản cao nhất thế giới, Nhật Bản đến khắp nơi trên thế giới mua bất động sản, các nước bao gồm cả Mỹ ào ào tới Nhật Bản để học hỏi kinh nghiệm cải thiện kinh tế. Cuốn sách “Thành tựu phồn vinh của Nhật Bản” cho rằng Nhật Bản của năm 1989 có thể gọi là “xã hội công nghiệp hoàn thiện nhất trong lịch sử nhân loại”.

Song sự phát triển cao độ đó không duy trì được lâu, 1 năm sau, kinh tế Nhật Bản bắt đầu thay đổi. Tháng 5/1991, bong bóng kinh tế Nhật Bản chính thức tan vỡ. Trong nháy mắt, tiền vốn đầu tư không có, nhu cầu thị trường biến mất, thị trường bất động sản cung vượt quá cầu, giá cả giảm hơn 60%, thị trường cổ phiếu lao dốc, tình hình Nhật Bản lúc đó giống hệt Trung Quốc hiện nay. Chỉ số Nikkei 225 của Nhật Bản từ 38.915 điểm rơi xuống mức 14.309 điểm, mức thấp nhất là vào ngày 18/8/1992, với biên độ sụt giảm 63%, đánh dấu biên độ sụt giảm mạnh nhất trong lịch sử. Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức thấp nhất trong số các nước công nghiệp. Mặc dù Chính phủ Nhật Bản không ngừng đưa ra hàng loạt chính sách khôi phục kinh tế, nhưng vẫn không có cách nào khiến Nhật Bản thoát khỏi đáy suy thoái. Kinh tế Nhật Bản lúc đó rơi vào thời kì suy thoái dài nhất, sâu nhất kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai, và được cho là “10 năm mất mát”.

Có thể nói, Trung Quốc hiện đang diễn lại vai của Nhật Bản hơn 20 năm về trước. Trải qua hơn 10 năm kinh tế tăng trưởng nhanh chóng dựa vào xuất khẩu, hiện nay Trung Quốc đã rơi vào cạm bẫy tăng trưởng của Nhật Bản trong quá khứ và suốt 20 năm qua Nhật Bản vẫn chưa có cách nào phục hồi từ trạng thái tê liệt, thiểu phát. Hơn 20 năm trước, kinh tế Nhật Bản phát triển nhanh chóng giống như sự phồn vinh hiện nay của Trung Quốc, nhưng tình hình tốt đẹp đó không kéo dài. Nhật Bản đã khai thác đầu tư và áp dụng tín dụng tài chính quá mức dẫn đến hiện tượng giãn nợ, nợ xấu kéo dài; các dự án đầu tư không đạt lợi nhuận khiến niềm tin của các nhà đầu tư sụt giảm. Một loạt báo cáo tài chính cho thấy chỉ số Nikkei 225 đã nhanh chóng rơi từ đỉnh cao trong lịch sử xuống đáy, sau đó kinh tế Nhật Bản bước vào thời kì 20 năm đình trệ, kém phát triển.

Đây chính là hiện trạng của Trung Quốc. Từ ngành khoáng sản đến ngành điện tử đều xuất hiện hiện tượng đình trệ, khoản nợ ngân hàng của chính quyền các địa phương không biết đến bao giờ mới trả được. Thủ tướng Quốc vụ viện Lý Khắc Cường kiên quyết chấn chỉnh ngành xây dựng vốn đang thâm hụt và khai thác quá mức, “nhưng lao lực lâu ngày dễ sinh bệnh, tổn thương đã xuất hiện ra bên ngoài, nếu muốn cứu chữa phải chấp nhận đau đớn một thời gian”.

Ông Chetan Ahya, chuyên gia kinh tế, Chủ tịch chi nhánh châu Á của Công ty Morgan Stanley cho biết ông không lo ngại vấn đề dân số của Trung Quốc, mà lo lắng hiện tượng đình trệ do nền kinh tế thiểu phát mang lại. Điều này mới đáng sợ.

Nếu so sánh tốc độ tăng trưởng kinh tế 7,5% với chỉ số tiêu dùng hàng hóa 2,7% mỗi năm sẽ thấy Trung Quốc hiện là bản sao của Nhật Bản vào năm 1989, giống như tình hình Nhật Bản 2 năm trước khi nền kinh tế nước này sụp đổ. Trung Quốc và Nhật Bản đều phải dựa vào ngân hàng để điều tiết vốn đến các nhà đầu tư nhằm tạo tỉ lệ xây dựng và việc làm. Nhưng có một điểm người Trung Quốc và người Nhật Bản giống nhau là xây dựng hiệu ứng giới hạn quá mức, chưa đạt được kết quả đã lập tức thu về.

Tăng trưởng kinh tế phải dựa vào 3 động lực là đầu tư, xuất khẩu và tiêu dùng. Đây là lý luận được hầu hết các nhà kinh tế học công nhận. Tăng trưởng kinh tế Trung Quốc trong hơn 10 năm qua dựa vào xuất khẩu và đầu tư trong nước. Từ trước đến nay, tăng trưởng tiêu dùng thị trường nội địa Trung Quốc yếu ớt, đây cũng là nhận thức chung của các nhà kinh tế học trong và ngoài nước. Hơn nữa muốn cải thiện vấn đề này cần tiến hành chuyển biến quy mô lớn đối với việc phân phối thu nhập trong nền kinh tế, tức là can dựa vào sự thay đổi của tổng thể nền kinh tế. Với tình hình hiện nay, dường như đây là một nhiệm vụ bất khả thi.

Nếu như xem xét kỹ nền kinh tế Trung Quốc, nguyên nhân quan trọng của tăng trưởng kinh tế nước này chính là quá trình tiền tệ hóa của bản thân nền kinh tế, trong đó một khâu quan trọng là thị trường bất động sản. Theo số liệu thống kê của ông Quản Thanh Hữu, nghiên cứu viên thuộc Trung tâm nghiên cứu tình hình quốc gia thuộc Đại học Thanh Hoa (Trung Quốc) trong một năm vừa qua, ngành bất động sản Trung Quốc đã đóng góp 3000 tỉ NDT vào nguồn thu tài chính của Chính phủ. Ông Quản Thanh Hữu còn công bố một bảng biểu về nguồn thu từ tiền bán đất của chính quyền các địa phương Trung Quốc trong 20 năm qua, kết quả khiến dư luận rất bất ngờ.

Theo tính toán của ông Quản Thanh Hữu, trong thời gian 21 năm từ nam 1989 — 2010, số tiền bán đất của chính quyền các địa phương ở Trung Quốc tăng từ 450 triệu NDT lên 3.000 tỉ NDT, tăng 6.700 lần. Ngân sách tài chính của chính quyền các cấp đã tăng 21 lần từ 184,238 tỉ NDT vào năm 1989 lên 461.5,04 tỉ vào năm 2010. Điều khiến dư luận ngạc nhiên là trong ngân sách tài chính hơn 4.000 tỉ NDT có hơn 3.000 tỉ là tiền bán đất. Mức độ phụ thuộc của ngân sách tài chính vào đất đai của chính quyền địa phương Trung Quốc lên tới 75%.

Gần mười năm nay, đầu tầu thúc đẩy kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chính là xuất khẩu. Giá trị xuất khẩu của Trung Quốc mỗi năm lên tới 10.000 tỉ NDT, chiếm 1/4 GDP năm 2010, nếu như cộng thêm giá trị nhập khẩu, thì ngành xuất nhập khẩu đóng góp hơn 50% GDP Trung Quốc. Đại đa số các doanh nghiệp nhà nước, tư nhân Trung Quốc đều dựa vao xuất khẩu hàng hóa để tồn tại.

Song trong bối cảnh kinh tế Mỹ ảm đạm, châu Âu rơi vào tình cảnh khó khăn mới, lạm phát ở Trung Quốc đã đẩy giá lao động, nguyên liệu lên cao đồng thời tỉ giá đồng NDT tăng, cho dù ngành xuất nhập khẩu của Trung Quốc không suy thoái nhưng cũng khó có thể đạt được tăng trưởng thực tế như trước đây. Số liệu thống kê của Chính quyền Ôn Châu (Chiết Giang) cho thấy với tư cách là tính xuất khẩu lớn nhất Trung Quốc nhưng sản lượng xuất khẩu năm 2013 của Chiết Giang đã giảm 30%; khoảng 40% các doanh nghiệp xuất khẩu thua lỗ, đại đa số các doanh nghiệp phải tạm ngừng sản xuất.

Vấn đề còn ở chỗ, kinh tế Trung Quốc lao dốc, ngân sách của chính phủ sụt giảm sẽ dẫn đến hậu quả trực tiếp là nguồn vốn bị chẩy ra nước ngoài. Trong vài tháng gần đây, tình trạng này đã bắt đầu xuất hiện ở Trung Quốc, các doanh nghiệp nước ngoài bán tháo các dự án nhà ở thương mại cao cấp. Sự phát triển của nền kinh tế chủ yếu dựa vào nguồn tích lũy ban đầu không ngừng chuyển động, xáo trộn, một khi nguôn vốn bị “chẩy máu” một cách có hệ thống, nền kinh tế sẽ rơi vào trạng thái đình trệ là điều khó tránh khỏi. Nửa cuối thế kỉ 20, nhiều quốc gia Nam Mỹ đã trải qua tình trạng như vậy, ví dụ như Argentina, Chile, Brazil…

Những ông trùm giới thương mại Trung Quốc đang chạy ra nước ngoài. Theo số liệu thống kê, khoảng 70% người giầu Trung Quốc (có giá trị tài sản trên 1 triệu USD) đang chuẩn bị hoặc đã di dân. Tình trạng một lượng tiền chẩy ra nước ngoài quy mô lớn đang diễn ra ở Trung Quốc.

Biện pháp kích thích tăng trưởng kinh tế chính là giảm thuế và tăng cường đầu tư. Chính phủ Trung Quốc không lựa chọn biện pháp giảm thuế, trong khi đó, biện pháp tăng cường đầu tư đã được sử dụng và không còn phát huy sức mạnh. Khoản tiền đầu tư 4.000 tỉ NDT để kích thích tăng trưởng kinh tế vào năm 2008 chủ yếu rơi vào các doanh nghiệp nhà nước lũng đoạn. Do vậy, kết quả của gói kích thích kinh tế này cũng giống như việc Chính phủ Mỹ áp dụng chính sách giãn nợ đối với các khoản vay của thị trường bất động sản, rốt cuộc đều rơi vào hầu bao của các ngân hàng. Trong hai năm vừa qua, thị trường bất động sản, thị trường cổ phiếu của Trung Quốc phát triển nhanh chóng, giá cổ phiếu tăng cao đều là kết quả các chính sách kích thích kinh tế theo kiểu Trung Quốc. Nhưng các doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn là đối tượng cần tiền lại không được hưởng ưu đãi thực sự từ chính phủ.

Tình cảnh khó khăn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Chiết Giang, Quảng Đông là những bằng chứng xác thực. Từ năm 2012 đến nay rất nhiều chuyên gia kinh tế đã chỉ ra tính tất yếu và ảnh hưởng xấu của hiện tượng này đối với kinh tế Trung Quốc. Nhưng chế độ hiện nay của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã mất đi tính linh hoạt trong việc điều chỉnh chính sách. Quan chức chính quyền các cấp và bè cánh của họ đã hình thành một phạm vi thế lực rộng lớn, đến Trung Nam Hải cũng không có cách nào ngăn chặn được việc này. Kinh tế Trung Quốc đang phải đối mặt với khủng hoảng. Tuy nhiên theo định luật Newton, chất lượng vật chất càng lớn, quán tính chuyển động càng nhanh. Với quy mô kinh tế Trung Quốc to lớn như vậy, cho dù một số ý kiến nhận định sẽ có nguy cơ xẩy ra, thì cũng không ai đủ sức mạnh để thay đổi kết quả trong tương lai.

Theo dự đoán của các chuyên gia, cho dù tăng trưởng tổng thể của nền kinh tế Trung Quốc sụt giảm, nhưng sau quá trình phân phối lại nguồn vốn, vấn đề khó khăn nhất Bắc Kinh phải đối mặt lại là thu hẹp khoảng cách giầu nghèo. Chỉ khi giải quyết được vấn đề này, thu nhập bình quân hàng năm của tầng lớp trung lưu đạt được mức 5-6% thì mới có thể mở rộng thị trường tiêu dùng một cách hiệu quả, nhờ đó mới thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đây chính là phương hướng đúng đắn của việc chuyển đổi mô hình kinh tế ở Trung Quốc.

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
This entry was posted in Archives, Articles, International relations and tagged , , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s