“TÁI CÂN BẰNG” CHÂU Á-THÁI BÌNH DƯƠNG: GIẢM TỐC ĐỂ SỬA SAI?

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Chủ Nhật, ngày 17/11/2013

(Tạp chí “Nghiên cứu các vấn đề quốc tế”, Trung Quốc, số 2/2013)

Chiến lược “tái cân bằng” châu Á-Thái Bình Dương là biện pháp mang tính bước ngoặt quan trọng của việc điều chỉnh chiến lược toàn cầu trong nhiệm kỳ đầu tiên của Tổng thống Mỹ Barack Obama.

Chiến lược này dựa trên giả thiết “Tương lai của châu Á-Thái Bình Dương ngày càng liên quan đến tương lai của Mỹ” và sự thực về việc bố trí quyền lực mất cân bằng trên toàn cầu của Mỹ (coi trọng Trung Đông, xem nhẹ châu Á-Thái Bình Dương); mong muốn tăng cường tiếp xúc toàn diện với các nước châu Á trên các linh vực chính trị, kinh tế và an ninh: về chính trị, lợi dụng sự bất đồng giữa các nước châu Á-Thái Bình Dương để thực hiện “ngoại giao tiền duyên” về an ninh lợi dụng sự “lo ngại” về tranh chấp lãnh thổ giữa các nước châu Á. .. để thực hiện sự “quay trở lại” bằng quân sự; về kinh tế, lợi dụng sự không đầy đủ của các cơ chế trong khu vực châu Á để thúc đẩy mở rộng “Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP). Mỹ tuyên bố mục tiêu của chiến lược “tái cân bằng” là duy trì sự ổn định và hòa bình của khu vực châu Á-Thái Bình Dương, nhưng trên thực tế lại tạo ra sự căng thẳng và rối ren mới, trong nước Mỹ và cộng đồng quốc tế đã có không ít tiếng nói phê phán đối với chiến lược này, bước tiếp theo của chiến lược “tái cân bằng sẽ điều chỉnh ra sao đã đưa tới sự quan tâm rộng rãi của các học giả.

I. Sự thay đổi và điều chỉnh nhỏ của chiến lược “tái cấn bằng”

Từ bài diễn thuyết gần đây của Trợ lý Tổng thống Mỹ về an ninh quốc gia Thomas Donilon tại Hiệp hội châu Á và chuyến thăm châu Á đầu tiên của tân Ngoại trưởng Mỹ John Kerry có thể thấy luận điệu của Mỹ về việc thúc đẩy chiến lược “tái cân bằng” có phần giảm xuống, trong tiết tấu, nội dung và phương pháp đều xuất hiện sự điều chỉnh và thay đổi nhỏ.

1. Giọng điệu giảm xuống, ngôn từ có xu hướng ôn hòa

Khác với kiểu ngoại giao mang tính di sản như khi rút quân khỏi Iraq và Afghanistan, Chính quyền Obama cho rằng lần điều chỉnh này là biện pháp có ý nghĩa sáng tạo thực sự về ngoại giao của mình, vì vậy giọng điệu rất hùng hồn. Tại Nhật Bản, Obama từng tự cho rằng “mình là vị tổng thống đâu tiên của Thái Bình Dương trong lịch sử Mỹ”, “Mỹ đã và sẽ luôn là một quốc gia Thái Bình Dương trong tương lai”, “sẽ phát huy vai trò lâu dài và lớn hơn cho việc xây dựng khu vực châu Á-Thái Bình Dương và tương lai của khu vực này”. Cựu Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton lần lượt đưa ra một loạt khái niệm nhận được sự quan tâm của mọi người như Mỹ “quay trở lại và thường trú tại châu Á”, “Ngoại giao tiền duyên”, “Thế kỷ Thái Bình Dương của Mỹ”, “Chuyển hướng chiến lược”… Bộ Quốc phòng Mỹ thì nhân cơ hội này thúc đẩy kế hoạch bố trí quân sự mới, đồng thời trong “Báo cáo đánh giá về chiến lược quốc phòng mới” chính thức đưa ra khái niệm “tái cân bằng” khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Khi giải thích về việc Mỹ và Australia tăng cường hợp tác quân sự, Phó Trợ lý Tổng thống Mỹ về an ninh quốc gia Ben Rhodes tỏ rõ hành động của Mỹ là “do nhu cầu đến từ bên trong khu vực”, “các nước trong khu vực này đã bầy tỏ, họ hy vọng sự hiện diện của Mỹ, và hy vọng tăng cường quan hệ đối tác với Mỹ trên nhiều mặt và tình hình”.

Nhưng gần đây, lời lẽ của giới chính trị Mỹ khi giải thích về chiến lược “tái cân bằng” có xu thế ôn hòa một cách rõ rệt. Trợ lý Tổng thống Mỹ về an ninh quốc gia Thomas Donilon không chỉ trực tiếp giải thích ý nghĩa của chiến lược “tái cân bằng”, mà còn gián tiếp nêu rõ chiến lược “tái cân bằng” “không có nghĩa là mối quan hệ giữa Mỹ với các đối tác quan trọng ở khu vực khác sẽ yếu đi, đồng thời không muốn kiềm chế Trung Quốc hoặc chỉ huy đối với khu vực châu Á, chiến lược này cũng không chỉ là vấn đề hiện diện quân sự”. Khi đọc diễn văn về “Quan hệ đối tác Thái Bình Dương trong thế kỷ 21” tại Nhật Bản, Tân Ngoại trưởng Mỹ John Kerry chỉ đề cập đến vấn đề “tái cân bằng” có một lần, “Tổng thống Obama đã đưa ra cam kết chiến lược sáng suốt, sự hứng thú và đầu tư của Mỹ sẽ tái cân bằng vào châu Á”. Thứ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter nhấn mạnh tăng cường đầu tư chiến lược đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương là chỉ “các ban ngành chính phủ sẽ tái cân bằng thời gian, tinh lực, trí lực cũng như các nguồn lực khác vào khu vực châu Á-Thái Bình Dương”, chiến lược “tái cân bằng” không nhằm vào bất kỳ một quốc gia nào, cũng không nhằm vào bất kỳ tập đoàn quốc gia nào.

2. Điều chỉnh tiết tấu, nguồn lực và tinh lực để quay trở lại một cách thích hợp

Tháng 12/2012, ngay sau khi Obama tranh cử thành công nhiệm kỳ thứ hai đã chọn châu Á làm nơi đi thăm nước ngoài đầu tiên, trước khi tham dự Hội nghị cấp cao Đông Á, Obama đến thăm 3 nước Thái Lan, Myanmar và Campuchia Hành động này thông thường được hiểu là ngoại giao trong nhiệm kỳ mới của Obama vẫn sẽ tập trung vào khu vực châu Á, Giám đốc Chương trình nghiên cứu Đông Nam Á của Trung tâm Nghiên cứu vấn đề quốc tế và chiến lược Mỹ (CSIS) Ernest Z. Bower nêu rõ: “Hành động đã chiến thắng những lời nói suông, chuyến thăm của Obama cho thấy trong nhiệm kỳ thứ hai, Obama vẫn coi trọng châu Á như trước kia”, về tính chất lâu dài của chiến lược “tái cân bằng” mà nói, sự phán đoán này hoàn toàn phù hợp với lôgích, nhưng hành động này của Obama cũng đã đặt dấu chấm mang tính giai đoạn đối với ngoại giao khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong nhiệm kỳ thứ nhất của mình, làm cơ sở cho việc làm chậm lại và điều chỉnh tiết tấu của chiến lược “tái cân bằng”. Tại phiên điều trần trước Thượng viện Mỹ, khi đề cập đến chiến lược “tái cân bằng” khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry bầy tỏ “việc mở rộng sự hiện diện quân sự vẫn chưa phải là việc rất quan trọng”, số lượng căn cứ quân sự và quân đội của Mỹ tại châu Á-Thái Bình Dương đều “nhiều hơn so với bất kỳ một quốc gia nào khác trên thế giới bao gồm cả Trung Quốc”. Tại phiên điều trần bổ nhiệm mình, tân Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel bầy tỏ “việc ‘tái cân bằng’ khu vực châu Á-Thái Bình Dương là rất quan trọng đối với lợi ích của Mỹ trong tương lai”, nhưng đồng thời cho rằng có thể lợi dụng sức mạnh của lực lượng không quân, hải quân và sự phân bố địa lý hợp lý của lực lượng mặt đất của Mỹ để tiến hành “tái cân bằng”, không cần phải hy sinh sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Trung Đông.

Hai thành viên mới của nội các Mỹ, một người nhấn mạnh Mỹ không cần phải gấp rút tăng quân tới châu Á-Thái Bình Dương, một người thì nhấn mạnh không thể lấy việc hy sinh sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Trung Đông làm cái giá phải trả để thúc đẩy chiến lược “tái cân bằng” châu Á-Thái Bình Dương, hai người đều đã bộc lộ đường lối điều chỉnh tiết tấu của chiến lược “tái cân bằng”. Tại phiên điều trần trước Quốc hội Mỹ, khi tiến hành đánh giá về “tái cân bằng” và “chuyển hướng”, nghiên cứu viên cao cấp của Trung tâm An ninh Mỹ mới (CNAS) Janine Davidson nêu rõ “tái cân bằng” phù hợp hơn “chuyển hướng”, vì “tái cân bằng” thể hiện rõ là một “quá trình tiệm tiến”, chứ không phải là “hành động bố trí lực lượng quân sự bất ngờ đơn giản”, thể hiện thái độ đồng tình của học giả đối với việc chuyển dịch quân sự sang phía Đông một cách tiệm tiến, vững chắc. Chuyến thăm đầu tiên sau khi John Kerry chính thức nhậm chức ngoại trưởng Mỹ là châu Âu và Trung Đông, chuyến thăm nước ngoài đầu tiên sau khi Tổng thống Obama chính thức điều hành Nhà Trắng trong nhiệm kỳ thứ hai cũng là Trung Đông, điều này chứng tỏ trong sự lựa chọn đối với hai vấn đề chiến lược lớn là “tái cân bằng” châu Á-Thái Bình Dương và xử lý vấn đề Trung Đông, Chính quyền Obama sẽ xác định lại thứ tự ưu tiên thực hiện. Tính chất lâu dài và tính chiến lược của vấn đề châu Á-Thái Bình Dương có ý nghĩa to lớn hơn, nhưng tính cấp bách của vấn đề Trung Đông lại lớn mạnh hơn.

3. Biện pháp “tái căn bằng” từ chỗ chú trọng ngoại giao và quân sự chuyển sang chú trọng lĩnh vực phát triển kinh tế, nhấn mạnh thúc đẩy cân bằng

Do tiến độ thúc đẩy “tái cân bằng” quân sự và ngoại giao tương đối nhanh, nên tình hình bố trí quân sự và ngoại giao của Mỹ tại khu vực châu Á- Thái Bình Dương cơ bản đã định hình, nhưng từ tổng thể, ý nghĩa mang tính tượng trưng lớn hơn ý nghĩa chính trị và quân sự thực tế. Chiến lược “tái cân bằng” trong giai đoạn đầu của Mỹ chủ yếu dựa vào việc vận dụng “sức mạnh thông minh”, nhưng đàm phán TPP trên lĩnh vực thương mại vẫn còn lâu mới kết thúc, vì vậy, xét từ tính cân bằng trong nội dung chiến lược “tái cân bằng” mà nói, “sự kết dính” trên lĩnh vực kinh tế và phát triển còn thiếu hụt nghiêm trọng. Gần đây, chính phủ và người dân Mỹ đều nhấn mạnh “tái cân bằng” không chỉ là vấn đề hiện diện quân sự, mà là một chiến lược tổng hợp bao gồm tất cả các yếu tố như “quân sự, chính trị, thương mại, đầu tư, phát triển và quan niệm giá trị.. Nhân dịp đến thăm châu Á, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đã khái quát lại bốn nguyên tắc “tăng trưởng công bằng, tăng trưởng rộng rãi, tăng trưởng bền vững và tăng trưởng dân chủ” do Tổng thống Obama đưa ra thành “tăng trưởng mạnh mẽ, tăng trưởng công bằng, tăng trưởng khôn khéo và tăng trưởng hợp lý”, cố tình tăng thêm sắc thái phát triển của chiến lược “tái cân bằng”.

Trên thực tế, xu thế này đã được thể hiện rõ trong giai đoạn cuối của nhiệm kỳ thứ nhất của Tổng thống Obama. Năm 2012, Mỹ và ASEAN tuyên bố hoạch định kế hoạch mở rộng hợp tác kinh tế, coi “Thỏa thuận tiện lợi hóa thương mại Mỹ-ASEAN”, “Hiệp định đầu tư song phương Mỹ-ASEAN” và “Thỏa thuận công nghệ thông tin và tin học Mỹ-ASEAN” là những nội dung trọng điểm thảo luận trong chương trình nghị sự; công bố kế hoạch về “Quan hệ đối tác hợp tác toàn diện giữa Mỹ và khu vực châu Á-Thái Bình Dương hướng tới tương lai năng lượng bền vừng”, Mỹ có kế hoạch hỗ trợ 6 tỷ USD cho dự án này, trong đó trong 4 năm tới, Ngân hàng xuất nhập khẩu Mỹ sẽ hỗ trợ 5 tỷ USD với lãi suất ưu đãi cho khu vực này và Tập đoàn đầu tư nước ngoài (OPIC) ủng hộ 1 tỷ USD cho việc xây dựng cơ cở hạ tầng năng lượng bền vững. Từ đó có thể thấy lĩnh vực thương mại, đầu tư và phát triển sẽ trở thành nội dung trọng điểm của chiến lược “tái cân bằng” trong nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Mỹ Barack Obama, và trở thành một xu thế lâu dài.

4. Về  vấn đề tranh chấp lãnh thổ châu Á, chuyển từ gây chia rẽ sang quản lý kiểm soát

Với phong cách ngoại giao mạnh mẽ trong thời gian đảm nhiệm chức vụ của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton, cộng thêm việc Mỹ ra sức thúc đẩy chiến lược “tái cân bằng” quân sự đã khiến giọng điệu của Mỹ có lúc rất gay gắt khi can thiệp vào tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và các nước xung quanh, như Ngoại trưởng Hillary Clinton ngang nhiên gọi Biển Đông là “Biên Tây Philippines”; trong vấn đề đảo Điếu Ngư (Senkaku), phá vỡ chính sách truyền thống không giữ lập trường về quyền chủ quyền, tuyên bố Mỹ “công nhận đảo Điếu Ngư trong phạm vi quản lý hành chính của Nhật Bản, phản đối bất kỳ một hành động đơn phương nào tìm cách phá hoại sự quản lý hành chính của Nhật Bản”, trang mạng của tạp chíForbes Mỹ gọi hành động này là “món quà chia tay” mà Hillary Clinton tặng cho Nhật Bản; về tranh chấp Biển Đông giữa Trung Quốc và Việt Nam, Bộ Ngoại giao Mỹ lần đầu tiên ra tuyên bố về vấn đề Biển Đông, đơn phương chỉ trích phương án thành lập thành phố Tam Sa và Ban chỉ huy quân sự Tam Sa của Trung Quốc đã “làm trầm trọng thêm” tình hình căng thẳng của khu vực Biển Đông, hành động này lại một lần nữa đã phá vỡ lập trường “không can dự”, “không lựa chọn một bên nào” của Chính phủ Mỹ đối với vấn đề Biển Đông.

Từ nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Obama đến nay, lời nói và hành động của Chính phủ Mỹ về vấn đề tranh chấp lãnh thổ châu Á chuyển sang thận trọng. Trong thời gian Ngoại trưởng Nhật Bản Fumio Kishida đến thăm Mỹ Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đã đánh giá cao việc Nhật Bản duy trì sự kiềm chế trong vấn đề đảo Điếu Ngư, và không đề cập đến “Hiệp ước bảo đảm an ninh Mỹ-Nhật”; trong thời gian đến thăm Mỹ, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe liên tiếp đề cập đến vấn đề đảo Điếu Ngư, nhưng vẫn không nhận được sự hồi âm của Obama. Lập trường của Ngoại trưởng Mỹ John Kerry về vấn đề đảo Điếu Ngư trong thời gian đến thăm Nhật Bản có thể khái quát thành: Mỹ không giữ lập trường về chủ quyền cuối cùng của đảo Điếu Ngư, nhưng công nhận đảo Điếu Ngư nằm trong sự -quản lý của Nhật Bản; hy vọng các bên giải quyết vấn đề tranh chấp lãnh thổ thông qua phương thức hòa bình; bất kỳ hành động nào làm cho tình hình căng thẳng, leo thang hoặc phán đoán sai lầm đều ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định và phồn vinh của toàn khu vực; phản đối bất kỳ hành động đơn phương hoặc mang tính cưỡng chế nào lấy việc thay đổi hiện trạng làm mục tiêu. Khi đến thăm Indonesia, Thứ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter cũng cho rằng “Mỹ không giữ lập trường về vấn đề chủ trương lãnh thổ và lịch sử tranh chấp giữa các bên, nhưng giữ lập trường về vấn đề giải quyết hòa bình các tranh chấp dựa trên luật pháp quốc tế”, “kêu gọi kiềm chế và giải quyết tranh chấp bằng con đường ngoại giao, phản đối khiêu khích, gây sức ép và sử dụng vũ lực”. Chuyên gia Michael Auslin của Viện Doanh nghiệp Mỹ (AEI) cho rằng cần khích lệ Nhật Bản kiên trì chủ trương của nước này, kêu gọi Shinzo Abe cam kết Nhật Bản không nổ súng trước trong vấn đề đảo Điếu Ngư. Hiển nhiên, Mỹ tìm cách trên cơ sở duy trì hiện trạng, thông qua gây sức ép với hai phía để tiến hành quản lý và kiểm soát tranh chấp.

5. Việc xác định vai trò của Trung Quốc có phần chuyển sang hướng tích cực

Trong nhiệm kỳ thứ nhất của Obama, trong khuôn khổ chiến lược “tái cân bằng”, việc xác định vai trò của Trung Quốc thiên về phản diện, tiêu cực. Trong diễn văn “Thế kỷ Thái Bình Dương của Mỹ”, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton từng cho rằng từ mặt chính diện cho thấy quan hệ Trung-Mỹ chỉ là một cặp quan hệ ngoài hệ thống đồng minh của Mỹ, trong quan hệ đối tác với rất nhiều nước mới nổi. nhưng từ mặt phản diện hoặc tiêu cực cho thấy lại là cặp “quan hệ song phương mà Mỹ chưa từng quản lý, mang tính thách thức lớn nhất và hậu quá lớn nhất”. Trong “Báo cáo đánh giá chiến lược quốc phòng mới” của Mỹ, vì Trung Quốc thực hiện chiến lược “chống tiếp cận xâm nhập khu vực” (A2/AD) nên đã bị liệt vào là “đối thủ tiềm tàng”, tạo nên thách thức đối với việc điều chuyển binh lực của Mỹ, “Trung Quốc trỗi dậy thành nước lớn khu vực sẽ khiến cho nước này có khả năng tiềm tàng ảnh hưởng đến kinh tế và an ninh của Mỹ từ các mặt khác nhau . Tóm lại, về chính trị Mỹ coi Trung Quốc là lực lượng mang tính không xác định và nước thách thức tiềm tàng địa vị lãnh đạo toàn cầu của Mỹ; về quân sự, coi Trung Quốc là đối thủ và nước cạnh tranh chiến lược tiềm tàng của Mỹ; về kinh tế, coi Trung Quốc là nước cạnh tranh “không tuân thủ quy tắc.

Từ những phát biểu gần đây của giới chính trị Mỹ cho thấy việc xác định vị trí quan hệ Trung-Mỹ của Mỹ trong khuôn khổ “tái cân bằng” có dấu hiệu chuyển sang tích cực. Khi đọc diễn văn tại Hiệp hội châu Á, Trợ lý Tổng thống Mỹ về an ninh quốc gia Thomas Donilon lần đầu tiên đưa “việc thiết lập quan hệ Trung-Mỹ mang tính xây dựng” vào trụ cột thứ ba trong chiến lược “tái cân bằng” của Mỹ, đồng thời đưa ra sự hưởng ứng rõ ràng và tích cực đối với sáng kiến xây dựng quan hệ nước lớn kiểu mới của Trung Quốc, cho rằng “việc cố gắng xây dụng mối quan hệ kiểu mới giữa các nước lớn hiện nay với các nước lớn đang trỗi dậy là trách nhiệm chung của Trung Quốc và Mỹ . Khi diễn thuyết tại Trung tâm nghiên cứu quốc tế và chiến lược, Thứ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter cũng cho rằng “Xây dựng và duy trì quan hệ hợp tác tích cực với Trung Quốc là điều rất quan trọng đối với sự thành công của chiến lược ‘tái cân bằng”. Những thay đổi nêu trên cho thấy Mỹ ngày càng nhận thức được rằng việc xử lý tốt quan hệ Trung-Mỹ là một trong những nhân tố then chốt quan trọng quyết định liệu chiến lược châu Á- Thái Bình Dương của Mỹ có thể thành công hay không?

II. Nguyên nhân đưa tới những điều chỉnh và thay đổi nhỏ

Bắt đầu từ nhiệm kỳ thứ hai, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã phát ra tín hiệu tiến hành điều chỉnh đối với chiến lược “tái cân bằng”, nguyên nhân chủ yếu là do sự kiểm soát và quản lý chiến lược sai lệch của giai đoạn trước, khiến cho chiến lược “tái cân bằng” đưa tới hiệu ứng tiêu cực ngoài dự đoán và khó kiểm soát cho Mỹ; đồng thời, nhiệm kỳ mới của chính phủ cũng có nhu cầu chính trị muốn có sự thay đổi.

1. Tính bền vững của chiến lược “tái cân bằng” bị hoài nghi

Thực chất của việc Chính quyền Obama điều chỉnh chiến lược toàn cầu là thu hẹp chiến lược, mục tiêu căn bản là giải quyết sự mở rộng chiến lược quá mức do hai cuộc chiến tranh ở Iraq và Afghanistan gây ra cho Mỹ. “Báo cáo chiến lược an ninh quốc gia” năm 2010 nêu rõ phải thông qua việc phục hồi nền tảng thực lực của Mỹ để khôi phục địa vị lãnh đạo toàn cầu. Vì vậy, báo cáo chiến lược quốc phòng mới nêu rõ điều chỉnh nhiệm vụ tác chiến của quân đội Mỹ từ “đồng thời đánh thắng 2 cuộc chiến tranh” thành “1,5 cuộc chiến tranh”, tức là “đồng thời với việc quân đội Mỹ tiến hành tác chiến trên quy mô lớn ở một khu vực, phải có khả năng không khiến cho nước xâm lược thực hiện mục đích ở một khu vực khác, hoặc khiến cho nước xâm lược phải trả cái giá khó có thể chịu đựng”. Từ bối cảnh chiến lược lớn này mà nói, mặc dù “chiến lược tái cân bằng” nhằm chuyển nguồn lực chiến lược từ việc rút khỏi Iraq và Afghanistan sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương, nhưng sự chuyển dịch nguồn lực này phải lấy việc không đột phá ranh giới cuối cùng của việc thu hẹp chiến lược làm giới hạn. Nhưng do Chính quyền obama khuếch trương thanh thế quá mức, chiến lược “tái cân bằng” vốn phải triển khai lâu dài đã được thực hiện vội vã vì lợi ích trước mắt, khiến cho tính khuếch trương chiến lược này tăng lên, nhanh chóng tăng thêm nhu cầu đối với việc đầu tư nguồn lực.

Bên cạnh đó, tài chính Mỹ đứng trước những khó khăn cắt giảm ngân sách. Do cơ chế cắt giảm thâm hụt của Mỹ đã bắt đầu có hiệu lực, trong 10 năm tới, Chính phủ Mỹ dự định lại cắt giảm 500 tỷ USD trên cơ sở đã cắt giảm 471 tỷ USD, trong đó chi phí quốc phòng chiếm đại đa số. Chịu ảnh hưởng của cơ chế này, Bộ Quốc phòng Mỹ đã bắt đầu cắt giảm các chuyến đi công vụ và chi phí duy tu bảo dưỡng cơ sở hạ tầng; thậm chí có thể giảm biên chế. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel cho rằng “một trong những vấn đề lớn nhất mà việc cắt giảm ngân sách tạo nên đó là việc nhanh chóng cắt giảm chi tiêu với quy mô lớn, điều này có nghĩa là Bộ Quốc phòng sẽ phải xem xét việc thông qua cắt giảm một cách mạnh mẽ các hoạt động quân sự và các khoản chi hiện đại hóa thì mới có thể thực hiện mục tiêu này”, điều này sẽ liên quan đến việc chi tiêu của các hoạt động quân sự trọng tâm, và thay đổi vai trò và sứ mệnh truyền thống của quân đội”. Cho dù Chính phủ Mỹ nhiều lần nhấn mạnh chiến lược “tái cân bằng” sẽ không chịu ảnh hưởng bởi việc cắt giảm ngân sách, trong thời gian đến thăm các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines và Indonesia… Thứ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter cũng tìm cách xóa bỏ sự lo ngại hoài nghi của những nước này đối với việc chiến lược “tái cân bằng” thiếu kinh phí hoạt động, nhưng “cho dù các quan chức chính phủ nói như thế nào, việc cắt giảm ngân sách quốc phòng sẽ tạo thành ảnh hưởng sâu sắc đối với tình hình quân sự của Mỹ ở châu Á”. Khi điều trần trước Hội đồng đánh giá an ninh kinh tế Trung-Mỹ, chuyên gia của Viện Doanh nghiệp Mỹ (AEI) Michael Auslin nêu rõ các nước châu Á hiểu rõ vấn đề suy thoái kinh tế, khó khăn ngân sách của Mỹ, và “hiểu rõ cơ chế cắt giảm ngân sách của Mỹ”, vì vậy họ không tin tưởng sự hiện diện quân sự của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương sẽ có những thay đổi mang tính thực chất, “nói quá lên một chút thì đó là Chính quyền Obama đang phải đối diện với việc thiếu hụt lòng tin ở châu Á”, các nước châu Á đang quan sát một cách thận trọng việc liệu Mỹ có thể thực hiện “lời nói đi đôi với hành động” hay không?

2. Tình hình Trung Đông và Đông Bắc Á buộc Mỹ phải toan tính một cách thận trọng

Dự tính ban đầu của việc Mỹ thực hiện chiến lược “tái cân bằng” khu vực châu Á-Thái Bình Dương là chuyển trọng tâm bố trí nguồn lực chiến lược từ Trung Đông sang châu Á-Thái Bình Dương, đồng thời trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương chuyển dịch từ Đông Bắc Á sang Đông Nam Á. Nhưng từ tình hình thực hiện của chiến lược này trong 3 năm qua cho thấy việc bố trí tài nguyên chiến lược của Mỹ trong thời gian ngắn khó có thể thực hiện sự chuyển dịch thuận lợi, và càng không thể nhanh chóng thực hiện.

Về vấn đề Trung Đông, việc Mỹ rút quân khỏi Iraq không có nghĩa là các lợi ích chiến lược như dầu mỏ, chống khủng bố, mở rộng dân chủ, an ninh đồng minh… của Mỹ ở khu vực Trung Đông cũng sẽ rút theo, trái lại, do phong trào “Mùa Xuân Arập”, cuộc chiến Libya cũng như nội chiến Syria, toàn khu vực Trung Đông vẫn đang rối ren, khiến môi trường bảo vệ lợi ích chiến lược của Mỹ ở Trung Đông càng thêm phức tạp. Để tránh bị cuốn vào vấn đề Syria trên quy mô lớn, Mỹ luôn dựa vào biện pháp đa phương để quản lý và kiểm soát tình hình, tìm cách lợi dụng các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc, Hội nghị quốc tế “Những người bạn của Syria” và các tổ chức khu vực như Hội đồng hợp tác vùng Vịnh (GCC) để gây sức ép với Chính phủ Syria, và hợp tác với lực lượng phe đối lập Syria, còn sáng kiến thiết lập vùng cấm bay tại Syria của các nước như Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ… , đều bị Mỹ từ chối. Chính sách can dự có giới hạn này của Obama đứng trước sự phê phán ngày càng gay gắt ở trong nước, họ chỉ trích Chính quyền Obama dung túng cho việc “tàn sát”, thực hiện “tiêu chuẩn kép” trong vấn đề Libya và Syria.

Về vấn đề hạt nhân Iran, Chính quyền Netanyahu của Israel đang dần dần mất đi sự nhẫn nại, để làm yên lòng Israel, Mỹ buộc phải tiếp tục duy trì lực lượng răn đe quân sự hùng mạnh ở khu vực vùng Vịnh. Bộ Tư lệnh trung ương Mỹ cho rằng tổng cộng đã có 125.000 quân Mỹ được bố trí gần Iran, trong đó có 90.000 quân được bố trí ở Afghanistan và khu vực xung quanh, 20.000 quân được bố trí ở khu vực Trung Đông, 15.000 đến 20.000 quân đang đợi lệnh trên các tầu chiến; hai tầu sân bay của hải quân Mỹ tiếp tục đóng giữ vùng Vịnh và biển Arập, bố trí tầu vận tải lưỡng dụng USS Ponce làm cơ sở hậu cần cho máy bay trực thăng quét mìn, tầu cao tốc và lực lượng đột kích; tại căn cứ không quân Al Dhafra của Các Tiểu vương quốc Arập thống nhất (UAE), Mỹ đã bố trí máy bay chiến đấu tảng hình F-22 Raptor  “Chim ăn thịt” tiên tiến nhất, máy bay tiếp dầu KC-10, máy bay do thám U-2 và các loại máy bay do thám không người lái như Global Hawk….

Sáu tháng cuối năm 2012, Trung Đông lại bùng nổ làn sóng chống Mỹ mới tại Libya, Ai Cập, Yemen, Tunisia, Maroc, Sudan, Iran, Iraq, Palestine liên tục diễn ra các cuộc biểu tình phản đối Mỹ; Đại sứ của Mỹ tại Libya Christopher Stevens thiệt mạng vì bị tấn công khủng bố; Palestine và Israel bùng nổ cuộc xung đột vũ trang mới. Tình hình Trung Đông liên tục rối ren, khiến cho chiến lược “tái cân bằng” “nói thì dễ mà làm thì khó”.

Sự kiềm chế của tình hình bán đảo Triều Tiên đối với Mỹ cũng có gì đó giống như vấn đề Trung Đông. Từ đầu năm 2013 đến nay, trước việc Triều Tiên phóng thử vệ tinh và thử nghiệm hạt nhân lần thứ 3, Mỹ và Hàn Quốc đã phản ứng mạnh mẽ tăng cường răn đe, cuộc khủng hoảng của bán đảo Triều Tiên tăng lên, đến mức chưa từng có. Điều này cũng khiến cho Mỹ phải tỏ ra thận trọng khi tiến hành chuyển trọng tâm chiến lược sang Đông Nam Á, khi cần thiết thậm chí có thể điều chỉnh lại chiến lược.

3. Rủi ro của việc Mỹ bị lôi cuốn vào cuộc xung đột khu vực tăng lên do việc làm thiếu thận trọng của một số nước

Trong nhiệm kỳ thứ nhất của Tổng thống Obama, sắc thái quân sư trong chiến lược “tái cân bằng” rất được mọi người chú ý, Mỹ đã liên tiếp áp dụng các hành động quân sự vừa có ý nghĩa tượng trưng và vừa có ý nghĩa chiến thực tế: cử 2.500 lính thủy đánh bộ đến đồn trú tại Australia- tỷ lệ số lượng tầu chiến của hải quân Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương tăng từ 52% lên 60%; ưu tiên bố trí tầu chiến và trang thiết bị vũ khí tiên tiến nhất đến khu vực châu Á-Thái Bình Dương, như kế hoạch điều 12 máy bay Osprey tới căn cứ Futenma ở Okinawa, máy bay chiến đấu tàng hình F-35 và máy bay trinh sát chống ngầm “Thần biển” đến Okinawa, sử dụng máy bay trinh sát không người lái “Global Hawk” của quân đội Mỹ đóng tại căn cứ Guam để giám sát tầu chiến của Trung Quốc và tầu thuyền của các nước khác triển khai trạm giám sát mặt đất trang bị rađa “C-band” không quân và bố trí kính viễn vọng giám sát không gian tại Australia; quay trở lại căn cứ hải quân ở vịnh Subie của Philippines… Báo cáo của Cơ quan nghiên cứu Quốc hội Mỹ (CRS) cho rằng “lĩnh vực quân sự là bộ phận có nội dung mang tính thực chất nhất trong chiến lược ‘tái cân bằng mà chính phủ tuyên bố”.

Điều rất quan trọng là mọi hành động “tái cấn bằng” quân sự của Mỹ phần lớn bị cho là “bao vây” Trung Quốc. “Cho dù các nhà lãnh đạo chính trị của Mỹ thường phủ nhận điều này, nhưng trên thực tế, quân đội Mỹ đang ra sức kiềm chế Trung Quốc ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương”. Quan điểm này đều rất phổ biến ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương và các khu vực khác trên thế giới, khiến cho các nước tồn tại tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc cho là có cơ hội có thể lợi dụng, muốn dựa vào sức mạnh của Mỹ để thách thức Trung Quốc. Việc Philippines gây ra sự kiện đối đầu ở bãi cạn Scarborough và Nhật Bản diễn màn kịch “mua đảo”, đều là sự phản ánh của tâm lý đầu cơ này. Mỹ phát ra tín hiệu sai lầm khiến cho những quốc gia này nẩy sinh sự mong đợi quá mức đối với Mỹ, họ hy vọng Mỹ không chỉ nói ngoài miệng, mà phải ủng hộ mạnh mẽ đồng minh trong các hành động thực tế. Mỹ vì nhân tố tứ 3 mà bị cuốn vào xung đột với Trung Quốc thậm chí là rủi ro chiến tranh cũng ngày càng tăng lên, và đây là cục diện Mỹ không muốn nhìn thấy nhất ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Ngoài ra, cạnh tranh gay gắt giữa Trung Quốc và Mỹ cũng gây nên sự lo ngại của một số quốc gia châu Á, họ không muốn bị ép buộc phải lựa chọn giữa Trung Quốc và Mỹ. Sự thay đổi thái độ của Singapore đối với chiến lược “tái cân bằng” của Mỹ đã phản ánh tình hình này. Năm 2009, chiến lược “tái cân bằng” của Mỹ vẫn chưa công khai, trong thời gian diễn ra hội nghị “Hội đồng thương mại Mỹ-ASEAN”, Bộ trưởng cố vấn trong nội các Singapore Lý Quang Diệu nhắc nhở Mỹ: “nếu không đến châu Á để kiềm chế và cân bằng sức mạnh quân sự và kinh tế của Trung Quốc, Mỹ sẽ có nguy cơ mất đi địa vị lãnh đạo toàn cầu”. Nhưng sau 4 năm Lý Quang Diệu lại khuyên Mỹ: “nếu Mỹ tìm cách làm nhục Trung Quốc, gây sức ép với Trung Quốc, Trung Quốc chắc chắn sẽ trở thành kẻ thù của Mỹ”, “sự cạnh tranh giữa Trung Quốc và Mỹ là không thể tránh khỏi, nhưng xung đột lại có thể tránh khỏi” Hiển nhiên, từ góc độ các nước nhỏ châu Á cho thấy việc buộc phải lựa chọn giữa Trung Quốc và Mỹ không phù hợp với lợi ích của họ, sự cạnh tranh ở mức độ thích hợp, có thể kiểm soát giữa Trung Quốc và Mỹ mới là lợi ích tốt nhất của họ.

4. Sự nghi ngờ về mặt chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ ngày càng tăng, thúc đẩy Mỹ xem xét lại chính sách đối với Trung Quốc

Một quan điểm rất phổ biến của phương Tây cho rằng từ khi nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính đến nay, sự ngạo mạn của Trung Quốc tăng lên, cho rằng “Mỹ sức cùng lực kiệt về kinh tế ngày càng không thể tiếp tục ở lại châu Á”, vì vậy về ngoại giao chuyển sang cứng rắn, gây nên sự lo ngại phổ biến của các nước châu Á-Thái Bình Dương, vì vậy những nước có tâm lý hoài nghi đối với Trung Quốc này đã “mời Mỹ quay trở lại châu Á”. Giáo sư Khoa Chính trị thuộc Học viện Boston Robert S. Ross cho rằng ở mức độ nào đó Mỹ muốn chứng minh với các nước đồng minh châu Á của mình rằng Mỹ “có thể duy trì thế cân bằng ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương”, nhưng chính sách này đã làm tăng lên không cần thiết cảm giác mất an ninh của Trung Quốc, và chỉ khuyến khích tính xâm lược của Trung Quốc, phá vỡ ổn định khu vực, giảm bớt khả năng hợp tác Trung-Mỹ. Từ sự phân tích của các học giả, chính trị gia phương Tây có thể thấy mục tiêu trực tiếp và ngắn hạn của chiến lược “tái cân bằng” nhằm vào Trung Quốc là: kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc liên tục tăng lên từ cuộc khủng hoảng tài chính đến nay, đề phòng trật tự khu vực và quốc tế mà Mỹ chủ đạo bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Thiết kế lâu dài của chiến lược “tái cân bằng” cũng có ý đồ phòng ngừa Trung Quốc. Khi tuyên bố đưa quân đến Australia, Tổng thống Mỹ Barack Obama nói “cách nhìn nhận cho rằng chúng tôi sợ Trung Quốc là sai lầm, cách nhìn nhận cho rằng chúng tôi tìm cách bài xích Trung Quốc cũng là sai lầm”. Khi đọc diễn văn trước Australia, Tổng thống Obama đã nêu rõ Mỹ sẽ nói một cách thẳng thắn với Trung Quốc về tầm quan trọng của việc tôn trọng các quy tắc quốc tế và tầm quan trọng của việc tôn trọng nhân quyền. Có thể thấy, cách nói chiến lược “tái cân bằng” có ý đồ nhằm vào Trung Quốc không phải là không có cơ sở, nhưng từ đó mà nhận định mục tiêu của Mỹ là kiềm chế Trung Quốc cũng không phù hợp hiện thực. Mục tiêu lâu dài của Mỹ là: thông qua việc xây dựng và hoàn thiện trật tự chính trị, kinh tế và an ninh của khu vực châu Á-Thái Bình Dương, chế định các quy tắc quốc tế, xây dựng một môi trường chiến lược tổng thể tác động và quy phạm phương hướng phát triển của Trung Quốc trong tương lai. Cuối cùng, Trung Quốc chỉ có hai lựa chọn chiến lược: hoặc là thông qua sự điều chỉnh và thay đổi của bản thân, tranh thủ hội nhập hệ thống mới; hoặc là làm bạn với một số nước, tách khởi hệ thống mới này. Điều này cũng có nghĩa là từ khi cải cách mở cửa đến nay, tiến trình hội nhập cộng đồng quốc tế liên tục của Trung Quốc vẫn ở “giai đoạn bước đầu”, liệu Trung Quốc có đồng ý hoặc liệu có thể chuyển tiếp lên giai đoạn cao hơn hay không, được quyết định bởi lựa chọn chiến lược của Trung Quốc.

Những toan tính chiến lược của Mỹ là đặt Trung Quốc vào lựa chọn mới, và điều này nhìn từ góc độ Trung Quốc cho thấy lại thể hiện tính không xác định trong chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc. Ngoài ra, sự can thiệp tùy tiện cộng thêm sự tuyên truyền lệch lạc của các phương tiện thông tin đại chúng của Mỹ về sự tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc với các nước láng giềng, chắc chắn sẽ làm tăng hơn nữa sự hoài nghi chiến lược của Trung Quốc đối với Mỹ.

5. Phong cách chính trị của êkíp ngoại giao mới ôn hòa giầu kinh nghiệm, có động lực nội tại tìm kiếm cái mới

Tuy Tổng thống Obama đồng ý chiến lược “tái cân bằng”, nhưng phong cách chính trị mạnh mẽ của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton và nhu cầu tích lũy vốn chính trị cá nhân của mình đã hối thúc Hillary Clinton thực hiện đường lối ngoại giao với tư thế mạnh mẽ khiến cho chiến lược “tái cân bằng” mang đậm sắc thái cá nhân Hillary Clinton và Bộ Ngoại giao do bà lãnh đạo, nhưng các khái niệm như “quay trở lại”, “xoay trục chiến lược”… mà Bộ Ngoại giao Mỹ thường sử dụng lại không trở thành từ ngữ thông dụng của Nhà Trắng và Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ (NSC). Cùng với việc các nhân vật quan trọng chủ đạo chính sách châu Á-Thái Bình Dương như Hillary Clinton, Kurt Campbell… rời khỏi cương vị công tác, sự phai nhạt sắc thái của Hillary trong chiến lược “tái cân bằng” cũng là điều tất yếu.

Trái lại, tân Ngoại trưởng Mỹ John Kerry và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel, do hai người đều từng tham gia Chiến tranh Việt Nam, có sự hiểu biết hơn đối với việc tránh để Mỹ bị cuốn vào các cuộc chiến tranh, vì vậy lời nói và hành động sẽ nghiêng về ôn hòa, thận trọng. So với Hillary Clinton, hai người này đều không có khát vọng cá nhân lớn hơn nữa trên sân khấu chính trị tương lại, vì vậy khi thực hiện chiến lược “tái cân bằng” không cần phải giống như Hillary vì khát vọng chính trị của cá nhân mà chỉ theo đuổi lợi ích trước mắt. Việc chế định và triển khai chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Hillary đã cơ bản hoàn thành, đồng thời cũng đã thu được thành quả rất lớn, người kế nhiệm rất khó có sáng tạo và vượt qua được. Ngoài ra, sự hứng thú của John Kerry và Chuck Hagel lại nằm ở khu vực Trung Đông và Afghanistan, vì vậy họ sẽ điều chỉnh tập trung tinh lực và thời gian nhiều hơn vào khu vực Trung Đông.

III. Ảnh hưởng đối với quan hệ Trung-Mỹ

Từ sự điều chỉnh nhỏ “giảm tốc để sửa sai” trong chiến lược “tái cân bằng” cho thấy Obama đã chuẩn bị chuyển việc thực hiện sự chuyển dịch sang phía Đông theo “kiểu nhẩy vọt” sang thực hiện mang tính lâu dài ổn định hơn, chiến lược “tái cân bằng” trong nhiệm kỳ thứ hai của Obama sẽ phát triển theo hướng ổn định, cân bằng hơn.

Việc “tái cân bằng” quân sự sẽ duy trì xu thế ổn định, hóa giải những hiệu ứng tiêu cực do phô trương thanh thế quá mức mà giai đoạn trước gây nên. Do phải đối phó với các vấn đề có tính cấp bách như Syria, hạt nhân Iran và khủng hoảng bán đảo Triều Tiên, nên hiện nay, Trung Đông, Đông Bắc Á vẫn là khu vực ưu tiên trong bố trí nguồn lực chiến lược của Mỹ, tiến độ “tái cân bằng” quân sự của Mỹ sẽ được làm chậm lại ở mức độ thích hợp, để tránh đưa tới sự căng thẳng mới về nguồn lực, đồng thời cung cấp đẩy đủ thời gian để Mỹ hóa giải những hiệu ứng tiêu cực do việc phô trương thanh thế quá mức trước kia gây nên.

Mức độ “tái cân bằng” kinh tế sẽ tiếp tục được đẩy mạnh, nhưng trọng điểm sẽ chuyển từ xây dựng chủ trương và xác định cơ chế sang tăng cường đầu tư và phát triển dự án. Thúc đẩy TPP mở rộng thành viên là nhiệm vụ quan trọng trong việc thúc đẩy chiến lược “tái cân bằng” khu vực châu Á-Thái Bình Dương về kinh tế của Mỹ, sau khi Nhật Bản chính thức tham gia đàm phán, tốc độ tiến triển của TPP sẽ giảm đi, nhưng ý nghĩa kinh tế và chiến lược tăng lên. Trong giai đoạn tiếp theo, Mỹ sẽ ưu tiên thúc đẩy các dự án phát triển đầu tư cụ thể, viện có sắc thái quân sự trong chiến lược “tái cân bằng” đang phai nhạt, để mở rộng sự hiện diện kinh tế của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Khuynh hướng dựa vào pháp luật và kênh đa phương để quản lý và kiểm soát tranh chấp lãnh thổ châu Á sẽ ngày càng nổi bật. Việc trực tiếp tham gia tranh chấp khu vực dễ đưa tới cam kết quá mức của Mỹ và mong đợi quá mức của các nước đồng minh, khiến cho rủi ro Mỹ bị lôi cuốn vào xung đột tăng lên, điều này không phù hợp với lợi ích của Mỹ. Nhiệm kỳ thứ nhất của Chính quyền Obama từng tìm cách thúc đẩy Quốc hội phê chuẩn “Công ước Liên hợp quốc về Luật biển” (UNCLOS), để tăng cường địa vị pháp lý và đạo đức cho việc Mỹ can dự tranh chấp biển ở châu Á, trong tương lai nỗ lực này vẫn sẽ tiếp tục, và thuận theo tình thế thúc đẩy cơ chế tư pháp quốc tế để can dự vào tranh chấp lãnh thổ châu Á. Mỹ tăng cường thúc đẩy chức năng hóa các cơ chế an ninh châu Á, biến các cơ chế đa phương như “Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (mở rộng)”, “Hội nghị cấp cao Đông Á”… thành diễn đàn bình thường có thể thảo luận tranh chấp lãnh thổ.

Những thay đổi và điều chỉnh nêu trên của chiến lược “tái cân bằng” là sự thay đổi nhịp nhàng, thay đổi có trọng điểm, thay đổi của biện pháp và thay đổi của tư thế, với mục đích là tiến hành sửa đổi và bổ sung đối với những sai lầm và mất cân bằng trong quá trình thực hiện chiến lược “tái cân bằng”. Những thay đổi này đều là những điều chính mang tính cục bộ, sẽ không thay đổi phương hướng tổng thể và bố cục cơ bản của việc Mỹ thúc đẩy chiến lược “tái cân bằng” khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Nhưng, những điều chỉnh và thay đổi nêu trên cũng có mặt tích cực:

Trước tiên, về bản chất, ý định của việc Mỹ quản lý và kiểm soát tranh chấp lãnh thổ ở châu Á là duy trì hiện trạng trật tự khu vực châu Á-Thái Bình Dương, tuy không giúp gì cho việc giải quyết tận gốc vấn đề, nhưng biện pháp giảm tốc để sửa sai, thận trọng trong lời nói và hành động của Mỹ có thể phát ra tín hiệu mạnh mẽ tới các nước châu Á rằng Mỹ hy vọng duy trì ổn định khu vực, không hy vọng bị cuốn vào xung đột khu vực mới, xóa bỏ suy nghĩ của một số nước tìm cách lợi dụng chiến lược “tái cân bằng” để trói buộc Mỹ, để thực hiện lợi ích của nước mình, thúc đẩy các nước tìm cách lợi dụng tranh chấp để làm to chuyện trở nên có lý tình hơn, tình hình khu vực châu Á-Thái Bình Dương có hy vọng ấm lên.

Thứ hai, xu thế của việc Trung Quốc và Mỹ tìm kiếm hợp tác an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương có hy vọng phát triển hơn. Việc xác định vai trò của Trung Quốc trong khuôn khổ chiến lược “tái cân bằng” có xu hướng tích cực, điều này có nghĩa là Mỹ đã nhận thức được một cách đầy đủ rằng chiến lược “tái cân bằng” có thể thực hiện một cách thuận lợi hay không, mấu chối là ở việc liệu có thể xử lý ổn thỏa quan hệ Trung-Mỹ hay không, đây là mệnh đề trọng tâm liên quan đến xu hướng của khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong tương lai. Khi đọc diễn văn tại Đại học Công nghiệp Tokyo Nhật Bản, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đưa ra ý tưởng “Giấc mơ Thái Bình Dương”, phát đi thông điệp muốn cùng Trung Quốc xây dựng tương lai của khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Hiện nay, Mỹ đã chính thức mời Trung Quốc tham gia tập trận ở Thái Bình Dương vào năm 2014, đây được coi là bước tiến thực chất mang tính xây dựng đối với việc bồi dưỡng niềm tin về an ninh giữa hai nước. Trong tương lai, chỉ cần hai bên có thể tôn trọng lợi ích cốt lõi của nhau, hai nước và quân đội hai nước có hy vọng tiếp tục mở rộng hợp tác, cùng tìm kiếm con đường chung sống hợp tác ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Cuối cùng, việc Trung Quốc và Mỹ xây dựng quan hệ nước lớn kiểu mới đang đứng trước cơ hội mới. Chiến lược “tái cân bằng” giảm tốc để sửa đổi có lợi cho việc làm giảm sự hoài nghi chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ, khi diễn thuyết tại Hiệp hội châu Á, Trợ lý Tổng thống Mỹ về an ninh quốc gia Thomas Donilon đã đưa ra những phản ửng rõ ràng và tích cực đối với sáng kiến xây dựng quan hệ nước lớn kiểu mới do Trung Quốc đề xuất, trong thời gian đến thăm Trung Quốc, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry cũng bầy tỏ, Mỹ sẽ “xác định quan hệ Trung-Mỹ bằng tầm nhìn rộng rãi và quan điểm lâu dài hơn”, đồng thời muốn cùng phía Trung Quốc “xây dựng quan hệ nước lớn kiểu mới truyền sức sống mạnh mẽ cho cả Trung Quốc và Mỹ”. Cùng với sự hội tụ về nhận thức chung chiến lược này, Trung Quốc và Mỹ cũng đã thể hiện rõ thái độ tích cực hơn so với trước kia đối với việc quản lý và kiểm soát bất đồng, việc nhóm biến đổi khí hậu cấp cao và nhóm công tác an ninh mạng của Trung Quốc và Mỹ lần lượt được thành lập đã phản ánh xu thế tích cực này. Đương nhiên, quản lý kiểm soát và hóa giải sự nghi ngờ chiến lược không chỉ cần có bối cảnh chung, mà cần có hành động thực tế lâu dài, Trung Quốc và Mỹ xây dựng tin cậy chiến lược vẫn là nhiệm vụ nặng nề, nhưng cơ hội bước đầu để xây dựng quan hệ nước lớn kiểu mới giữa Trung Quốc và Mỹ đã được thể hiện rõ.

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
This entry was posted in Archives, Articles, International relations and tagged , , , , , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s