VỀ TIẾN TRÌNH HÒA BÌNH Ở MYANMAR

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ Ba, ngày 19/11/2013

TTXVN (Hong Kong 18/11)

Từ lâu, đất nước Myanmar luôn chìm trong xung đột giữa chính phủ với các nhóm sắc tộc có vũ trang. Nguyên nhân sâu xa của tình trạng này là quyền lực và những nguồn tài nguyên khoáng sản dồi dào tại các khu vực do các nhóm sắc tộc kiểm soát. Thời báo châu Á trực tuyến vừa đăng bài viết về vấn đề này, nội dung như sau:

Một loạt các vụ đánh bom gần đây tại Myanmar được cảnh sát quy trách nhiệm cho những người kinh doanh mỏ địa phương gây ra nhằm ngăn chặn đầu tư nước ngoài. Những yếu tố tiêu cực này dường như đã gây lo ngại về tác động đối với các lợi ích kinh doanh.

Các cuộc tấn công trong bóng tối, bao gồm vụ quả bom phát nổ trong căn phòng của một người Mỹ tại khách sạn Traders, cho thấy môi trường phức tạp như thế nào đối với các nhà đầu tư ở Myanmar. Nó cũng cho thấy sự mập mờ trong lợi ích khai thác khoáng sản có thể phá hỏng tiến trình hòa bình giữa chính phủ và các phiến quân có vũ trang, đồng thời gây nguy hiểm cho quá trình chuyển tiếp dân chủ của đất nước.

Sự cường điệu về nguồn tài nguyên giầu có của Myanmar vẫn tiếp diễn cùng với việc quốc gia Đông Nam Á này đang tăng cường đón làn sóng đầu tư mới và những luật mới về khai thác mỏ được dự đoán sẽ sớm có hiệu lực. Một nghiên cứu mới đây của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) nhấn mạnh rằng Myanmar có thể trở thành “ngôi sao đang lên” tiếp theo của châu Á nếu nước này có thể tận dụng tiềm năng tài nguyên phong phú của mình. Tuy nhiên, dù có nhiều lạc quan song những khó khăn vẫn còn đó và nếu không được giải quyết thì có thể gây bất ổn cho tiến trình hòa bình.

Vấn đề quan trọng nhất đối với các nhà đầu tư và cả những người dân sống gần các nguồn tài nguyên là việc cải cách khuôn khổ pháp lý và quy định. Sự thiếu chắc chắn của những khuôn khổ hiện nay đã làm xói mòn môi trường đầu tư. Tương tự như vậy, thời hạn sử dụng đất phải được xác định và đạt được một thỏa thuận bền vững với các nhóm sắc tộc có vũ trang để thực hiện tiến trình dân chủ. Tính minh bạch cũng cần thiết để thúc đẩy lòng tin trong các quan chức địa phương vẫn còn dính líu tới những kẻ môi giới chính trị và quân sự. Nêu như cách tiếp cận thận trọng này không thành công thì những nguôn tài nguyên có thể trở thành một gánh nặng thay vì một lợi ích trong quá trình chuyển giao của đất nước Myanmar.

Myanmar là một quốc gia giầu khoáng sản, bao gồm niken, vàng, bôxít, đồng, than đá và đá quý. Sau lĩnh vực năng lượng, khai thác khoáng sản là lĩnh vực lớn thứ hai về mặt tiềm năng đầu tư trực tiếp nước ngoài. Không giống như lĩnh vực năng lượng, phần lớn được giám sát bởi đa số nhóm sắc tộc của Myanmar, khoáng sản có giá trị cao được tìm thấy trên toàn quốc, bao gồm cả trong các khu vực thuộc quyền kiểm soát cua các nhóm sắc tộc thiểu số khác.

Mặc dù Myanmar có tiềm năng khoáng sản dồi dào, song người dân chủ yếu vẫn làm nông nghiệp. Khoảng 70% lực lượng lao động của nước này tham gia sản xuất nông nghiệp, trong khi chỉ có 7% tham gia sản xuất công nghiệp. Việc chuyển dịch cơ cấu lao động nhầm gia tăng tỷ lệ dân số làm trong ngành khai thác mỏ có thể, ít nhất là trong ngắn hạn, cung cấp nguồn thu nhập có giá trị cho các cộng đồng dân cư ở khu vực nông thôn.

Quan trọng nhất, việc khai thác tại khu vực nông thôn và các khu vực sắc tộc xa xôi có thể góp phần chi trả cho cơ sở hạ tầng cốt yếu – trong đó có điện, giao thông, nước, và các cơ sở xử lý nước thải – đến nay vẫn là những lĩnh vực bị lãng quên của đất nước này. Tuy nhiên, Myanmar, với nhiều cuộc xung đột dữ dội giữa chính quyền trung ương và các nhóm sắc tộc vũ trang phải đi trên một con đường đầy nguy hiểm để tránh rơi sâu hơn vào một “lời nguyền tài nguyên” đã có thế nhìn thấy trước.

Các nguồn tài nguyên của Myanmar phân bổ tại nhiều khu vực dân tộc, rất nhiều trong số đó nằm dưới quyền kiểm soát của chính quyền trung ương. Theo số liệu của Chính phủ Myanmar, đất nước này chia thành 8 chủng tộc lớn trong đó bao gồm 135 dân tộc khác nhau. Theo các bản đồ khảo sát của Bộ Mỏ, vành đai năng lượng hydrocarbon (dầu mỏ, khí đốt, than đá) tập trung ở các khu vực sắc tộc Miến Điện, một nhóm sắc tộc chiếm đa số và đang cầm quyền ở Myanmar.

Chì, kẽm, bạc và các vành đai khoáng sản được tìm thấy tại các trung tâm và khu vực Đông Bắc của đất nước Myanmar – phần nhiều trong số đó thuộc các vùng do người dân tộc kiểm soát, bao gồm dân tộc Shan, Mon, và Wa, theo bản đồ cua Bộ Mỏ Myanmar. Người Kachin kiểm soát phần lớn vành đai khoáng sản Đông Bắc, bao gồm các loại khoáng sản như vàng, sắt, chì, kẽm, bạc và đồng.

Vành đai khoáng sản các loại đá quý cũng có thể được tìm thấy ở phía Đông Bắc khu vực Kachin và vùng Bắc Trung Bộ khu vực Shan. Trong khi đó, các khu vực miền núi Trung – Tây, nơi có cơ sở hạ tầng kém phát triển nhất ở Myanmar và bị chi phối bởi dân tộc Chin, lại sở hữu vành đai hydrocarbon và các khoáng chất như niken, nhôm, đồng, bạch kim và vàng.

Không có gì ngạc nhiên khi các khu vực do chính phủ kiểm soát và thường là khu vực của người Miến Điện tiếp tục nắm giữ phần lớn các khoản đầu tư trong lĩnh vực khai thác mỏ. Những phần khu không thuộc sự kiểm soát của người Miến Điện, nơi các dự án khai thác khoáng sản quan trọng đang được triển khai ít hơn, bao gồm bang Kachin, Kayah, và bang Shan.

Sự thiếu bình đẳng của các hoạt động khai thác thương mại khoáng sản giữa người Miến Điện và những khu vực không thuộc quyền kiểm soát của người Miến Điện không có gì đáng ngạc nhiên. Cho đến khi thỏa thuận ngừng bắn gần đây đã được ký kết, Myanmar là một điểm nóng của các cuộc xung đột sắc tộc với hàng chục nhóm sắc tộc có vũ trang hoạt động trên khấp đất nước, khiến cho các khu vực sắc tộc không nhận được nguồn đầu tư.

Ngoài ra, chính sách đồng hóa dân tộc – “một chủng tộc, một ngôn ngữ, một tôn giáo” – được theo đuổi bởi U Nu, Thủ tướng đầu tiên của Myanmar sau khi nước này độc lập vào năm 1948 – vẫn được các hội đồng quân sự cầm quyền nối tiếp nhau duy trì, những người đã tìm cách khiến cho các dân tộc thiểu số bị gạt ra ngoài lề và nghèo khó, để mang lại lợi ích cho Chính phủ do người Miến Điện kiểm soát.

Chính sách này kìm hãm đáng kể sự phát triển kinh tế của các khu vực sắc tộc. Mặc dù chính sách này hiện nay đã chính thức thay đổi nhưng sự oán giận sâu xa vẫn còn tồn tại. Do đó sự việc khai thác các nguồn tài nguyên khoáng sản tại các khu vực sắc tộc của Myanmar cũng sẽ được thử thách bằng sự cần thiết phải thay đổi tư duy phân biệt đối xử.

Nền hòa bình thương mại

Trong khi các cuộc đàm phán chính thức với các nhóm sắc tộc vũ trang đang được tiến hành thì các phong trào khác, do các cá nhân trong lĩnh vực sản xuất tư nhân đứng đầu, cũng xuất hiện. Tại các khu vực tranh chấp, nơi có nguồn tài nguyên phong phú, đã xuất hiện một nền kinh tế phát triển hòa bình.

Theo một báo cáo của Nhóm nghiên cứu khủng hoảng quốc tế năm 2012, Công ty Princess Dawei, doanh nghiệp nắm giữ quyền khai thác mỏ và sự nhượng quyền đốn gỗ ở các khu do Liên đoàn quốc gia Karen (KNU) kiểm soát, đã cung cấp tiền cho các cuộc đàm phán hòa bình và tạo điều kiện cho các cuộc tiếp xúc để thảo luận về thỏa thuận ngừng bắn tại bang Karen. Một trường hợp tương tự cũng có thể thấy tại bang Kachin, nơi Yup Zaw Hkawng, một doanh nhân nổi tiếng trong lĩnh vực buôn bán đá quý đã tạo điều kiện cho cuộc đối thoại giữa Chính phủ Myanmar và Tổ chức Kachin Độc lập. Những ví dụ như vậy về sự xuất hiện của một nền kinh tế hòa bình vẫn còn tiếp diễn.

Các công ty nhìn thấy được lợi ích thương mại trong việc “môi giới hòa bình mà từ đó sau này họ có thể đòi hỏi chia phần từ sự liên quan của mình, qua đó thu lợi từ tiến trình hòa bình. Việc tiếp cận với các hoạt động khai thác gỗ cho họ khả năng tiếp cận nhanh nhất với những sự chia phần như vậy, và có tin nói rằng nó đã được sử dụng như một phương tiện mặc cả của các nhóm Kareni trong các cuộc đàm phán ngừng bắn. Một nền kinh tế hòa bình như vậy, nếu cách tiếp cận minh bạch, có thế có một tác động tích cực tới việc thúc đẩy tiến trình hòa bình và đem đến kết quả có lợi cho tất cả các bên xung đột. Tuy nhiên, khi điều này trở nên chắc chắn hơn, sẽ khó khăn hơn để đánh bật những lợi ích kinh doanh ra khỏi các cuộc đàm phán tiếp theo.

Các nhóm sắc tộc thiểu số có vũ trang, chẳng hạn như Quân đội Kachin Độc lập (KIA), biết rằng họ đang ngồi trên nguồn tài nguyên quý giá có thể củng cố việc tạo ra một lượng của cải đáng kể. Hiện nay việc khai thác các khoáng sản chủ yếu dựa vào lao động thủ công, vốn rất không kinh tế lại còn bao gồm cả những thực tiễn trái với nguyên tắc, như sử dụng lao động trẻ em.

Việc hiện đại hóa và công nghiệp hóa khu vực khai thác khoáng sản có thể làm tăng lợi nhuận khai thác một cách đáng kể, xóa bỏ các hoạt động bất hợp pháp, cải thiện cơ sở hạ tầng và dịch vụ cho các vùng sâu vùng xa. Trên thực tế, việc xây dựng cơ sở hạ tầng cho phép sự tương tác lớn hơn với các dân tộc, và cung cấp khả năng tiếp cận nhiều hơn cho các nhóm dân tộc trong việc đưa hàng hóa ra thị trường, tạo ra một sự toàn diện hơn trong sự phát triển tổng thể của đất nước.

Tuy nhiên, để các nhóm sắc tộc có vũ trang ở Myanmar cho phép những sự phát triển như vậy – do cơ sở hạ tầng gần như chắc chắn sẽ giảm bớt sự kiểm soát của họ bằng cách làm giảm sự độc quyền của họ trong khả năng tiếp cận và quyền lực trong lãnh thổ riêng của họ – họ phải thấy được một số lợi ích lớn hơn và một mức độ tin cậy đáng kể giữa chính phủ, người dân địa phương và các bên tham gia kinh doanh sẽ cần phải được củng cố. Bất chấp những khó khăn này, việc chia sẻ lợi nhuận từ khai thác tài nguyên mang đến một sự lựa chọn cho hợp tác và xây dựng lòng tin, nếu được thực hiện đúng.

Tuy nhiên, điều này vẫn ẩn chứa một số vấn đề. Các vấn đề cơ bản trong tiến trình hòa bình vẫn còn và phải được giải quyết trước khi bất kỳ việc chia sẻ lợi nhuận từ khai thác tài nguyên nào có thể diễn ra. Thật vậy, việc giải quyết những vấn đề như vậy trên thực tế có thể là điều kiện thiết yếu để phát triển bền vững tại Myanmar. Các vấn đề cốt lõi chắc chắn là: Ai là người đại diện hợp pháp trong các cuộc thương lượng và ai là người thu lợi nhuận hợp pháp? Liệu đại diện của các tổ chức sắc tộc có đồng ý với những thỏa thuận hợp tác sẽ khiến cho nguồn thu địa phương bị giảm đi không? Hoặc việc gia nhập vào tiến trình chính trị có phải là một điều kiện kiên quyết trước khi thực hiện đầu tư không? Những câu hỏi này sẽ cần phải được đưa ra thương lượng với các nhóm lợi ích cá nhân.

Thật sự sẽ không mấy ngạc nhiên khi thấy sự tái xuất hiện cuộc tranh luận trên hệ thống liên bang, lần đầu được anh hùng độc lập Aung San đưa ra trong Hiệp định Panglong vào năm 1947, nhằm tạo một khuôn khổ quản trị đối với việc quản lỷ các nguồn tài nguyên phong phú. Tuy nhiên, vấn đề này vẫn còn nhậy cảm đối với Naypyidavv, đặc biệt đối với những quan chức kỳ cựu của hội đồng quân sự cầm quyền trước đây và đảng Liên minh Đoàn kết và Phát triển – những người xem liên bang như hình thức nhượng lại quyền lực của trung ương và làm tổn hại đến sự đoàn kết trong đảng này.

Mặc dù việc thiết lập một hệ thống liên bang sẽ không thể là liều thuốc chữa bách bệnh cho tất cả các căn bệnh của Myanmar, nhưng nó sẽ cho phép Naypyidaw có quan hệ nhiều hơn với các nhóm sắc tộc ở cấp độ chính trị chứ không phải ở cấp độ quân sự với quân sự. Các bang sau đó có thể phải chịu trách nhiệm cho việc phát triển và quản lý các nguồn tài nguyên của mình. Trong tiến trình hòa bình phức tạp của đất nước, có rất nhiều “câu hỏi hóc búa” mà vẫn chưa được trả lời.

Tuy nhiên, một số cải cách trong lĩnh vực khai thác khoáng sản tương đối có hiệu quả và có thể tạo ra một con đường rộng mở cho các vấn đề khác phức tạp hơn. Trong ngắn hạn, việc cải thiện khuôn khổ pháp lý và quy định cần được ưu tiên, như sự tham gia của tổ chức Sáng kiến minh bạch ngành công nghiệp khai khoáng quốc tế (EITI); tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước nến được duy trì một cách từ từ để đảm bảo tăng trưởng ổn định; thỏa thuận chia sẻ tài nguyên giữa các nhóm sắc tộc và chính phủ hoặc các công ty tư nhân cần có sự minh bạch; và các nhà đầu tư nước ngoài nên nhậy cảm với những căng thẳng tiềm ẩn và khả năng bạo lực chính trị.

Mặc dù có thể đạt được những tiến bộ khác, song đầu tư trong lĩnh vực khai thác khoáng sản sẽ vẫn ẩn chứa nhiều vấn đề cho đến khi tiến trình hòa bình được đảm bảo hơn nữa. Tuy nhiên, nếu công cuộc cải cách liên tục và sự kiên nhẫn chiếm ưu thế thì vận may bất ngờ có thể được chia sẻ bởi tất cả các bên.

***

Theo báo mạng Asiasentinel mới đây, biểu tượng dân chủ của Myanmar, thủ lĩnh phe đối lập Aung San Suu Kyi đã đến thăm Belfast để tìm hiểu về tiến trình đấu tranh gian khổ giành hòa bình của Bắc Ireland và khả năng phát triển, tồn tại độc lập của Bắc Ireland là một điều tương tự với những rắc rối sắc tộc hiện nay ở Myanmar. Chuyến thăm cho thấy bà Aung San Suu Kyi có thể học hỏi được một số điều.

Phát biểu tại trường Đại học Wellington, bà Suu Kyi nói: “Điều chúng tôi học được ở đây sẽ giúp chúng tôi rất nhiều khi quay trở về Myanmar.” Ý nghĩa của lời phát biểu này không phải là điều được cường điệu bởi vì nó cho thấy một nhận thức đã bị bỏ qua trước đó rằng các giải pháp cho những vấn đề rắc rối của Myanmar có thể tồn tại bên ngoài các đường biên giới của quốc gia Đông Nam Á này.

Tuy nhiên, tuyên bố trên của bà đã bị phủ bóng đen bởi điều mà nhiều chuyên gia quan sát Myanmar coi là một loạt sai lầm chính sách trong chuyến công du châu Âu của bà Suu Kyi. Khi bà Suu Kyi không được chấp nhận trao các giải thưởng hòa bình và các huy chương tự do từ các nhà lãnh đạo châu Âu, bà đã dứt khoát từ chối những tuyên bố về một cuộc thanh lọc sắc tộc ở Myanmar. Điều mỉa mai này không thể bị bỏ qua.

Trong hai năm qua, ban lãnh đạo gần như dân sự của Myanmar đã thay đổi tình trạng bỏ rơi những người dân khốn khỏ của họ thông qua một loạt các cải cách mang tính xây dựng. Từ việc thả hàng nghìn tù nhân chính trị (trong đó có cả bà Aung San Suu Kyi) cho đến việc tổ chức các cuộc bầu cử tự do và công bằng, thế giới đã nhanh chóng hoan nghênh và tái thiết lập quan hệ với nhà nước Myanmar. Tất cả những cải cách này hiện nay đang phải đối mặt với nguy cơ bởi hình ảnh Myanmar là một quốc gia Đông Nam Á với kinh tế tăng trưởng đang trở thành hình ảnh của một quốc gia bạo lực sắc tộc.

Kể từ khi bạo lực bùng phát giữa những người theo đạo Phật và các tín đồ Hồi giáo ở bang Rakhine có người Hồi giáo chiếm đa số ở Myanmar vào năm ngoái, hơn 140.000 người Hồi giáo Rohingya đã bị mất chỗ ở và hàng trăm – nếu không muốn nói là hàng nghìn người đã bị giết hại. Bức tranh này đang thay đổi theo chiều hướng ngày càng tồi tệ hơn.

Trong khi bà Suu Kyui đang ở Italy để nhận “Giải thưởng Rome vì Hành động Hòa bình và Nhân đạo,” Tomas Ojea Quintana, báo cáo viên đặc biệt của Liên hợp quốc về Myanmar đang điều trần trước Ủy ban Thứ 3 của Liên hợp quốc về Nhân quyền. Quintana đã kêu gọi Chính phủ Myanmar giải quyết mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với các cuộc cải cách hiện nay và khả năng phát triển trong tương lai của nước này, đó là một làn sóng “chống người Hồi giáo” đang lan rộng.

Chính phủ Myanmar, từ Tổng thống Thein Sein cho đến nghị sĩ Aung San Suu Kyi, có thể chứng tỏ cam kết của họ nhằm ngăn chặn bạo lực sắc tộc ở Myanmar bằng cách quay trở lại trường học – ở Belfast.

Vậy thì có những bài học nào đáng học hỏi ở Bắc Ireland và Ireland? Đầu tiên, các nhà lãnh đạo Myanmar – nhiều người trong số họ là những cựu sĩ quan quân đội – cần phải thoải mái với ý tưởng cho quân đội đình chiến. Trong giai đoạn “Những rắc rối ở Bắc Ireland”, ủy ban Đình chiến Quốc tế Độc lập (IICD) đã thành công trong việc làm cho các tổ chức bán quân sự hạ vũ khí. Myanmar là quốc gia có hơn 135 nhóm sắc tộc khác nhau, nhiều trong số đó đều có các lực lượng quân sự riêng, và những nhóm này thường xuyên tham gia các cuộc nội chiến quy mô nhỏ với quân đội Chính phủ Myanmar. Những cuộc chiến như vậy đã xẩy ra trong gần một nửa thế kỷ qua.

Thứ hai, Chính phủ Myanmar cần phá vỡ truyền thống và tham gia vào một tiến trình hòa bình toàn diện. Các cuộc thương lượng hòa bình ở Myanmar thường là chính phủ “môi giới” một thỏa thuận hòa bình riêng rẽ với từng nhóm phiến quân sắc tộc. Tuy nhiên, những thỏa thuận như vậy không có hiệu quả. Một trường hợp như vậy là hồi đầu tháng 10, khi chính phủ của Tổng thống Then Sein “môi giới” một thỏa thuận ngừng bắn với Tổ chức Kachin Độc lập. Trong vòng hai tuần, các vụ nã pháo và những vụ không kích mới đã thay thế cho hòa bình. Trong tương lai, Myanmar có thể thực hiện một biện pháp thương lượng hòa bình được rút ra từ kinh nghiệm ở Bắc Ireland và ngồi vào bàn đám phán với tất cả các nhóm sắc tộc, chứ không phải riêng rẽ với từng nhóm mỗi lần. Một nền hòa bình lâu dài là một nền hòa bình đạt được thông qua một tiến trình hòa bình toàn diện, và Chính phủ Myanmar phải chấm dứt việc giải quyết các cuộc xung đột sắc tộc theo kiểu cứ như thể những cuộc xung đột đó là những vấn đề riêng rẽ. Mớ bòng bong đó phức tạp và lớn hơn nhiều.

Một điểm thứ ba cần phải được nhấn mạnh là một nền hòa bình bền vững không thể được thúc đẩy chỉ qua một đêm. Do nguồn gốc xung đột, tiến trình hòa bình Bắc Ireland đã phải trải qua một khoảng kéo đài 4 năm từ thỏa thuận “Tạm thời chấm dứt các hành động thù địch” vào tháng 4/1994 đến “Thỏa thuận thứ Sáu tốt lành” vào tháng 4/1998. Và các cuộc thảo luận về việc cải thiện quan hệ giữa Bắc Ireland và Ireland đang tiếp diễn. Nếu Chính phủ Myanmar thực sự nghiêm túc về việc giải quyết xung đột sắc tộc như Tổng thống Thein Sein và bà Suu Kyi đã thể hiện, thì họ phải biến những lời nói khoa trương của mình thành thực tế. Và thực tế đó có thể phải mất nhiều năm để nhận ra. Sự kiên nhẫn phải đến từ cả hai phía, và các nhà quan sát tình hình nhân đạo chú ý đến những rắc rối riêng của Myanmar phải để cho những viên than hồng hòa bình sắp tắt có cơ hội bùng cháy trở lại.

Điều tương tự ở Bắc Ireland nên được khởi động lại với Mỹ cũng như là sự lặp lại những nỗ lực của Thượng Nghị sĩ George Mitchell. Được Tổng thống Bill Clinton bổ nhiệm là Đặc phái viên tại Bắc Ireland vào năm 1995 công việc của Thượng Nghị sĩ George Mitchhell là tìm cách đưa các chính quyền và các đảng phái chính trị ngồi vào bàn thương lượng để cuối cùng dẫn đến Thỏa thuận Belfast. Do Mỹ đang phải đối mặt với những chỉ trích ngày càng mạnh là vội vã trong việc ủng hộ các cuộc cải cách của Myanmar, cam kết nhân đạo cửa Mỹ để thấy được một Myanmar thành công cần được tăng cường hơn nữa. Và cam kết này nên được bắt đầu với việc Tổng thống Mỹ Barack Obama kêu gọi Đại sứ Mỹ tại Myanmar Derek Mitchell thực hiện một vai trò tích cực hơn trong việc đưa Chính phủ Myanmar tham gia sâu hơn các cuộc thảo luận về vấn đề bạo lực sắc tộc ở nước này.

Myanmar hiện đang bị dồn đến bờ vực của một cuộc xung đột tôn giáo-sắc tộc nghiêm trọng, có lẽ có thể coi là diệt chủng khi xem xét tình trạng bạo lực ở bang Rakhine. Sẽ là khôn ngoan nếu coi bài học Bắc Ireland là điều mà Chính phủ Myanmar đang tìm kiếm để đạt được hòa bình. Nếu Myanmar chọn việc tìm kiếm sự hỗ trợ của nước ngoài, Mỹ sẽ sẵn sàng cung cấp cho chính phủ nước này bất kỳ và tất cả những công cụ cần thiết để đạt được hòa bình và kéo dài nền hòa bình đó. Hiếm khi nào một quốc gia thừa nhận họ không có tất cả các giải pháp cho những thách thức nội bộ của riêng họ. Giờ đây, hãy hi vọng Chính phủ Myanmar sẽ quyết định đầu tư thêm nhiều thời gian và năng lượng vào người dân của họ như họ đã làm trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế.

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
This entry was posted in Archives, Articles, International relations, Teaching and tagged , , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s