QUAN ĐIỂM CỦA MỸ TRONG VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt) Thứ Tư , ngày 19/02/2014 Ngày 6/2, Viện Brookings có trụ sở. tại thủ đô Washington D.C. đăng bài phân tích của tác giả Jeffrey Bader với tựa đề:
“Mỹ và đường chín đoạn của Trung Quốc: Kết thúc sự mập mờ
”, trong đó nhấn mạnh việc lần đầu tiên Chính phủ Mỹ công
khai tuyên bố một cách rõ ràng rằng cái gọị là “đường chín
đoạn ” (đường lưỡi bò) của Trung Quốc là bất hợp pháp, đồng
thời đưa ra quan điểm về lợi ích của Mỹ ở Biển Đông và khuyến nghị về các bước đi của Mỹ trong thời gian tới. Dưới đây là nội
dung bài viết: Lần đầu tiên, Chính phủ Mỹ đã công khai ra một tuyên bố rõ
ràng rằng cái gọi là “đường chín đoạn” mà Trung Quốc phác
họa để khẳng định những đòi hỏi chủ quyền ở Biển Đông là
trái với luật pháp quốc tế. Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách khu vực Đông Á và Thái Bình
Dương Danny Russel trong buổi điều trần trước ủy ban Đối
ngoại Hạ viện ngày 5/2 nói: “Theo luật pháp quốc tế, các đòi
hỏi về lãnh hải ở Biển Đông phải được bắt nguồn từ các cấu
trúc ở đất liền. Việc Trung Quốc sử dụng ‘đường chín đoạn’
nhằm đòi hỏi các quyền lãnh hải mà không dựa trên các cấu trúc trên đất liền được tuyên bố sẽ không phù hợp với luật
pháp quốc tế. Cộng đồng quốc tế sẽ hoan nghênh Trung Quốc
làm rõ hoặc điều chỉnh đòi hỏi về ‘đường chín đoạn’ của mình
nhằm làm cho nó phù hợp với luật biển quốc tế”. Biển Đông với diện tích 1,4 triệu dặm vuông bao gồm hàng
trăm hòn đảo nhỏ, đá ngầm và đảo san hô mà hầu hết không
có người sinh sống và không thể sinh sống được. Trung Quốc
thừa hưởng “đường chín đoạn” từ Chính quyền Quốc Dân
Đảng, trong đó vẽ một đường bao quanh tất cả các đảo này,
khẳng định chủ quyền đối với tất cả các đảo, đồng thời đưa ra các đòi hỏi mơ hồ về quyền đối với vùng biển bên trong “đường
chín đoạn” này. Theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển
(UNCLOS) được đàm phán vào những năm 1970 và 1980, các
quốc gia có thể tuyên bố về các quyền tuyệt đối đối với nguồn
cá và tài nguyên khoáng sản trong Vùng đặc quyền kinh tế có
thể mở rộng ra 200 hải lý tính từ đường thềm lục địa hoặc bao quanh các đảo có người ở. Không có quy định nào trong công
ước cho quyền đối với các vùng nước như ở Biển Đông mà
không có liên quan tới quyền chủ quyền dựa trên đất liền. Vì
vậy, từ lâu điều này đã được ám chỉ trong các giải thích của Mỹ
về UNCLOS rằng các đòi hỏi đối với tài nguyên cá và khoáng
sản của Biển Đông không liên hệ với các đảo cụ thể có thể sinh sống được, là vô hiệu. Tuyên bố của Trợ lý Ngoại trưởng Russel
đã làm rõ quan điểm đó. Sự quan tâm của Mỹ đối với Biển Đông đã tăng lên rõ rệt dưới
thời Chính quyền Tổng thống Barack Obama. Biểu hiện đầu
tiên của sự chú ý đó là một tuyên bố công khai mạnh mẽ của
Ngoại trưởng Hillary Clinton tại một diễn đàn quốc tế ở Hà Nội
năm 2010, trong đó bà nêu ra các nguyên tắc điều chỉnh
chính sách của Mỹ ở Biển Đông: tôn trọng tự do hàng hải, giải quyết hòa bình các tranh chấp, tự do thương mại, đàm phán
về Bộ Quy tắc ứng xử cho việc giải quyết tranh chấp và liên
quan nhất ở đây là quan điểm rằng các đòi hỏi đối với vùng
nước chỉ có thể dựa trên các tuyên bố về đất liền một cách hợp
pháp. Tuyên bố của bà Clinton đã được các nước Đông Nam Á
đòi hỏi chủ quyền như Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei chào đón song lại gặp sự phẫn nộ của Trung Quốc. Ngoại trưởng Clinton đưa ra tuyên bố trên nhằm phản ứng
trước mối quan ngại ngày càng tăng của các nước láng giềng
của Trung Quốc rằng Trung Quốc đang đẩy nhanh các đòi hỏi
chủ quyền của mình thông qua các biện pháp chính trị vá
quân sự và thiếu vắng bất kỳ một tiến trình ngoại giao nào
nhằm giảm thiểu căng thẳng. Căng thắng lên cao này tương tự như giai đoạn 1994 – 1995 khi Trung Quốc tiến hành xây
dựng trên đảo Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa mà
Philippines đòi hỏi chủ quyền. Các quan hệ của Trung Quốc với
các nước Đông Nam Á xấu đi đã dẫn đến việc đoàn đàm phán
Trung Quốc do ủy viên Quốc vụ viện khi đó ỉà Tiền Kỳ Tham
dẫn đầu để đàm phán về Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biến Đông và cam kết không có những hành động làm thay đổi
hiện trạng. Việc thỉnh thoảng thu giữ các tàu đánh cá của bên
này hay bên kia vẫn tiếp tục và các auốc gia chủ yểu ỉà Việt
Nam đã cấp quyền thãm dò cho các công ty dầu mỏ ở cảc khu
vực tranh chấp, song không có bất kỳ hoạt động nào trong số
này dẫn đến các nguy cơ chiến tranh. Tuy nhiên, trong vài năm qua, đã có một mối quan ngại ngày
càng tăng ở khu vực này và ở Mỹ về việc Trung Quốc đã quay
lưng lại với ngoại giao và sử dụng biện pháp quân sự và pháp lý
để thúc đẩy tuyên bố của mình đối với toàn bộ Biển Đông. Các
tuyên bố của các nhà ngoại giao Mỹ đã xác định đặc trưng của
Biển Đông như một vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu đối với Trung Quốc liên quan đến chủ quyền và nước này sẽ không
chấp nhận sự can thiệp. Trong năm 2012, Trung Quốc đã trục
xuất các ngư dân Philippines ra khỏi từ ngư trường truyền
thống xung quanh bãi cạn Scarborough, cách chưa đầy 125
hải lý từ các hòn đảo chính của Philippines, đồng thời họ đã sử
dụng lực lượng bảo vệ bờ biển của mình để duy trì quyền kiểm soát. Năm 2012, Trung Quốc cũng đã thiết lập một đơn vị
hành chính và quân sự bao trùm các phần của quần đảo
Hoàng Sa mà nước này tuyên bố chủ quyền. Đối với việc thiết
lập vùng Nhận dạng phòng không (ADIZ) trên Biển Hoa Đông
vào cuối năm 2013, người phát ngôn Trung Quốc chỉ ra ý định
ở một khía cạnh nào đó việc thiết lập một vùng tương tự ở Biển Đông, điều chắc chắn sẽ bao gồm ít nhất một số khu vực
mà các bên tuyên bố chủ quyền. Biển Đông là một vấn đề phức tạp đối với Mỹ. Mỹ không có
tuyên bố chủ quyền ở đó. Mỹ không đứng về bên nào trong
các tuyên bố ( quyền tương ứng của các bên và Mỹ cũng
không nên làm việc đó. Khó có khả năng rằng bất kỳ nước nào
có thể thiết lập các công cụ hữu hiệu nhằm thực thi quyền lực
tại các đảo ở Biển Đông mà có thể đe dọa lực lượng quân sự hay các tàu Mỹ tại khu vực. Trong khi đó người ta tin rằng có
một trữ lượng đáng kể dầu khí chưa được khai thác ở Biển
Đông. Tuy nhiên, Mỹ có các lợi ích quan trọng ở Biển Đông. Một là
đảm bảo tự do hàng hải. Đây không phải là một đặc ân từ bất
cứ quốc gia nào mà nó là quyền quốc tế trong một khu vực mà
50% lượng dầu mỏ của thế giới được chuyên chở qua, là một
con đường thông thương chính của thương mại quốc tế, cũng
như nơi mà các tàu quân sự của Mỹ triển khai hoạt động phù hợp với luật pháp quốc tế. Hai là, tránh sử dụng vũ lực hoặc
biện pháp cưỡng chế để giải quyết các đòi hỏi chủ quyền về
lãnh thổ hay quyền hàng hải. Ba là, vận động các bên tôn
trọng các chuẩn mực và 1uật pháp quốc tế trong việc giải
quyết tất cả các vấn đề trên. Bốn là, đảm bảo rằng tất cả các
nước trong đó có Mỹ có quyền khai thác tài nguyên khoáng sản và nguồn cá bên ngoài các đặc khu kinh tế hợp pháp. Năm
là, ngăn chặn việc Philippines, một đồng minh của Mỹ, bị bắt
nạt hoặc bị sử dụng vũ lực. Sáu là, đảm bảo rằng quyền của
tất cả các nước không phân biệt lớn nhỏ phải được tôn trọng. Có những xung đột giữa các yếu tố khác nhau liên quan đến
lợi ích của Mỹ ở Biển Đông. Mỹ không muốn thấy Trung Quốc
giành quyền kiểm soát đối với khu vực này thông qua vũ lực.
Tuy nhiên, Mỹ đồng thời cũng không có lợi ích trong việc biến
Biển Đông trở thành một nơi đối đầu hoặc xung đột giữa Mỹ và
Trung Quốc. Những thách thức trực diện đối với các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc, nếu không dựa trên các tiêu chí
quốc tế và phù hợp với các nguyên tắc của Mỹ, có nguy cơ kích
động chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc đang lên cao liên quan đến
các ý định của Mỹ đưa đến hành vi hung hăng hơn của Trung
Quốc trong khu vực, điều sẽ biến các bên đòi hỏi chủ quyền
khác trở thành nạn nhân mà không có phản ứng hữu hiệu từ Mỹ. Mặt khác, một thái độ thụ động của Mỹ sẽ 1àm mất đi các
lợi ích được nêu ở trên và sẽ làm các bên tranh chấp khác tin
rằng Mỹ sẽ bỏ rơi các nước này cùng các nguyên tắc mà Mỹ đã
nêu ra.Điều này sẽ dẫn đến một sự nhạo bang về chính sách “
tái cân bằng “ của Chính quyền Tổng thống Barack Obama đối
với châu Á và phá hoại nghiêm trọng thái độ chào đón của khu vực đối với sự hiện diện và ảnh hưởng của Mỹ. Bằng cách từ chối một cách rõ ràng “đường chín đoạn”, Trợ lý
Ngoại trưởng Russel và Chính phủ Mỹ đã vẽ một ranh giới vào
đúng nơi cần thiết. Họ đã khẳng định rõ ràng rằng sự phản đối
của Mỹ là một vấn đề có tính nguyên tắc, dựa trên luật pháp
quốc tế, không phải là một sự phản đối đơn thuần trước một
đòi hỏi chủ quyền chỉ đơn giản là vì nó là của Trung Quốc. Chừng nào mà cách tiếp cận của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông
còn dựa một cách vững chắc trên cơ sở nguyên tắc và luật
pháp quốc tế, thì chừng đó Mỹ còn có thể thực hiện mục tiêu
của mình, củng cố vị thế của các bên khác đòi hỏi chủ quyền
với sự tôn trọng các quyền của họ và tránh sự đối đầu với
Trung Quốc trong vấn đề chủ quyền. Tác giả liệt kê một số điều mà Mỹ có thể làm và nên làm. Một
là, Mỹ cần đảm bảo rằng phương pháp tiếp cận của mình
không bị nhìn nhận là đơn phương. Không phải hoàn toàn
nhưng đôi khi các nước khác về công khai thì im lặng song sau
lưng lại ngầm ủng hộ. Chính phủ Mỹ nên nói rõ với các bên đòi
hỏi chủ quyền khác và với các nước ASEAN khác như Singapore và Thái Lan rằng Mỹ mong muốn các nước này phản
đối công khai về “đường chín đoạn” trên cơ sở luật pháp quốc
tế. Hai là, Mỹ nên thảo luận với Đài Loan về việc liệu hòn đảo này
có thể làm rõ quan điểm của mình về “đường chín đoạn”, trên
cơ sở đó xác định rõ rằng các đòi hỏi chủ quyền của Đài Loan
có phù hợp với UNCLOS hay không. Ba là, Mỹ cần tiếp tục duy trì ưu tiên cao cho cuộc đàm phán
về Bộ quy tắc ứng xử (COC) giữa Trung Quốc và các nước
ASEAN như những gì mà Mỹ đã thực hiện từ khi Ngoại trưởng
Hillary Clinton tuyên bố mục tiêu đó ở Hà Nội. Thực chất,
quyết định của Trung Quốc và ASEAN bắt đầu đàm phán về
COC là một trong những kết quả có được từ tuyên bố của Ngoại trưởng Hillary Clinton. Bốn là, Mỹ cần hối thúc Trung Quốc không thiết lập thêm bất
kỳ một vùng nhận dạng phòng không nào ở Biển Đông. Trong
khi dư luận công chúng đối vói vấn đề này là cần thiết thì
ngoại giao với tính cách cá nhân có thể mang lại hiệu quả hơn
trong việc gây ảnh hưởng đối với Bắc Kinh. Năm là, Mỹ nên thảo luận với tất cả các bên tranh chấp về
một thỏa thuận có thể đạt được liên quan đến việc khai thác
nguồn tài nguyên cá và khoáng sản mà không liên quan đến
vấn đề chủ quyền , trong đó có việc sử dụng các liên doanh
giữa các công ty. Sáu là, Thượng viện Mỹ nên phê chuẩn Công ước Liên hợp
Quốc về Luật Biển. Điều này sẽ giúp Mỹ có được vị thế pháp lý
và đạo đức để tham gia tích cực và hiệu quả hơn trong các
quyết định trong tương lai về Biển Đông. Tất cả các cựu Ngoại
trưởng Mỹ đều ủng hộ một quyết định như vậy. Các tư lệnh
Thái Bình Dương và hải quân cũng như đa số các công ty quan tâm cũng ủng hộ việc này. Mỹ cần phải có hành động dứt
khoát. (South Asia Analysis, ngày 24/12/2013) Những quan sát ban đầu về những tranh chấp ở Biển Hoa Nam (Biển Đông) do Trung
Quốc gây ra, Mỹ với tư cách là siêu cường toàn cầu và có
những lợi ích sống còn ở châu Á-Thái Bình Dương đã biểu lộ sự
bất lực chiến lược trong việc duy trì và thực thi “nguyên trạng
trước kia” trước việc Trung Quốc gây hấn với Việt Nam và
Philippines. Mỹ có các phương tiện cả về chính trị lẫn quân sự để “chiểu
tướng Trung Quốc trước sự gây hấn của nước này đối với Việt
Nam và Philippines, nhưng họ đã quyết định không làm như
vậy. Ngay từ đầu, Mỹ đã lãng quên thực tế chiến lược rằng việc
Trung Quốc gây hấn với Việt Nam và Philippines chỉ là bước
đệm cho những khát vọng chiến lược có chủ tâm của Trung
Quốc nhằm cách ly Tây Thái Bình Dương trước sự triển khai
sức mạnh của Mỹ ở khu vực này. Thất bại chính sách chiến lược thảm hại này của Mỹ ở Biến
Đông như đang chứng kiến hiện nay đã cho phép Trung Quốc
thoải mái hưởng thụ cuộc phiêu lưu quân sự tương tự trong
các tranh chấp với Nhật Bản ở Biển Hoa Đông và đưa ra những
tuyên bố về Vùng Nhận dạng phòng không (ADIZ) đầy khiêu
khích ở khu vực đó. Xung đột leo thang ở Biển Đông do Trung Quốc gây ra đáng
chú ý kế từ năm 2008 và quá trình diễn biến các sự kiện có
liên quan sau đó dẫn đến hai kết luận chính.Cần nghiêm túc
chú ý tới cả hai kết luận này giữa lúc toàn bộ sự nguyên trạng
chiến lược đang bị Trung Quốc thách thức và nếu các quỹ đạo
hiện nay của Trung Quốc không bị làm chệch hướng thì cuối cùng sẽ có khả năng dẫn đến những xung đột không thể
tưởng tượng nổi ở châu Á-Thái Bình Dương. Kết luận chính thứ nhất là Mỹ ngay từ đầu đã không nhận ra
rằng chính sách “bên miệng hố chiến tranh” quân sự của
Trung Quốc trong sự leo thang xung đột của các tranh chấp ở
Biển Đông không bị giới hạn trong việc thực thi những tuyên
bố chủ quyền bất hợp pháp của mình đối với toàn bộ Biển
Đông gây bất lợi cho Việt Nam và Philippines. Mục tiêu thực sự của Trung Quốc là công khai cho các quốc gia châu Á thấy sự
bất lực về chiến lược và quân sự của Mỹ trong việc đối phó với
một Trung Quốc đang trỗi dậy về mặt quân sự. Kết luận chính thứ hai mà Mỹ miễn cưỡng thừa nhận chính là
những chính sách Mỹ đề ra đối với Trung Quốc trong suốt hai
thập kỷ kéo dài qua các đời Chính phủ Mỹ thuộc hai phe chính
trị khác nhau đã bị thất bại thảm hại. “Chiến lược bao vây
Trung Quốc” và “Chiến lược ngăn chặn rủi ro’ của Mỹ trong
cách tiếp cận của Washington với Trung Quốc về mặt chiến lược đã chỉ khuyến khích Trung Quốc hướng tới chính sách
“bên miệng hố chiến tranh” quân sự táo bạo hơn. Sự leo thang xung đột ở Biển Đông, sự leo thang của các tranh
chấp ở Biển Hoa Đông với Nhật Bản, việc tuyên bố ADIZ mới
và mở rộng ở Biến Hoa Đông cần phải được coi là những bước
đi tuần tự của Trung Quốc trong Đại Chiến lược của nước này
nhằm xóa bỏ sự hiện diện quân sự tiền tiêu của Mỹ ở Tây Thái
Bình Dương và vô hiệu hóa về mặt quân sự những lựa chọn quân sự của Washington chống lại Trung Quốc ở Tây Thái Bình
Dương. Đáng tiếc là, đặc điểm nổi bật bất biến và gây khó chịu trong
chính sách Trung Quốc của Mỹ là tính hai mặt chẳng đánh lừa
được ai. Mỹ “khuấy động” nỗi sợ hãi Trung Quốc ở các thủ đô
của châu Á và tiếp đó có các hành động tương tự khi cử các
quan chức Mỹ tới Bắc Kinh nhằm trấn an các nhà lãnh đạo
Trung Quốc rằng họ không nên lo lắng vì những phát biểu mạnh mẽ của Mỹ về Trung Quốc ở các thủ đô của châu Á chỉ
mang tính khu vực và các chính sách của Mỹ đối với Trung
Quốc không nên được hiểu là đã bị thay đổi vì những tuyên bố
như vậy. Biển Đông: Bộ tiểu thuyết nhiều tập về chính sách
nhượng bộ Trung Quốc đầy vụ lợi của Mỹ gây nguy
hiểm cho an ninh châu Á – Thái Bình Dương Do có những đánh giá chiến lược không đúng về các ý định của
Trung Quốc thể hiện qua việc theo đuổi các chính sách sai lầm
được đề cập trên, Mỹ đã thất bại đáng kể trong những hành
động ứng phó với sự gây hấn về quân sự cũng như sự chèn ép
liên tục về chính trị và quân sự của Trung Quốc đối với Việt
Nam và Philippines. Mỹ đã do dự và dao động trong việc đưa ra những tuyên bố
mạnh mẽ rõ ràng nhằm vạch rõ “những giới hạn đỏ” mà
Trung Quốc không nên vượt qua trong các vấn đề có liên quan
đến tranh chấp ở Biển Đông. Mặc dù Mỹ có thể đã không bận
tâm đến việc ủng hộ Việt Nam chống lại Trung Quốc vì Việt
Nam không phải là đồng minh quân sự của nước này, nhưng còn Philippines thì sao? Sau nhiều khích lệ và phải mất nhiều thời gian, Mỹ cuối cùng
mới thừa nhận rằng họ có nghĩa vụ theo hiệp ước phải bảo vệ
Philippines trước gây hấn quân sự. Mỹ hầu như đã không có những lời lẽ rõ ràng và công khai về
việc nước này sẵn sàng ra mặt ủng hộ Việt Nam trước bất kỳ
sự gây hấn nào của Trung Quốc ở Biển Đông vì Việt Nam
không phải là đồng minh quân sự của Mỹ giống như Philippines
và Nhật Bản. Những tuyên bố và lập trường chính thức của Mỹ trước sự leo
thang xung đột ở Biển Đông do Trung Quốc gây ra là hạn hẹp
và mập mờ, tạo cho Trung Quốc cơ hội về chính trị và chiến
lược để diễn giải chúng theo hướng có lợi cho nước này. Những tuyên bố như vậy của Mỹ cũng không áp đặt sự kiềm
chế hoặc “chiếu tướng” Trung Quốc, trong khi lại khiến Trung
Quốc tin rằng những ứng phó chiến lược của Mỹ là khoa
trương và do đó là tùy tiện nên không hề có nguy cơ dẫn đến
những đòn phản công mạnh mẽ của ashington. Các tuyên bố chính thức của Mỹ về Biển Đông: phân
tích những mơ hồ Trong sự tương phản rõ ràng với những năm 1990 khi Trợ lý
Ngoại trưởng Mỹ , Winston Lord, tung tuyên bố rằng Mỹ sẽ
không tha thứ cho việc vẽ lại các đường biên giới và thay đổi
chủ quyền ở Biển Đông, những tuyên bố mới đây của Mỹ về
Biển Đông là mập mờ và cho thấy sự miễn cưỡng thể hiện
quan điểm cứng rắn đối với chủ nghĩa phiêu lưu quân của Trung Quốc trọng các tranh chấp ở Biển Đông. Thông cáo báo chí của Bộ Ngoại giao Mỹ vào ngày 3/4/2012
viết “Với tư cách là một quốc gia Thái Bình Dương và là một
cường quốc ngoài khu vực, Mỹ có lợi ích quốc gia trong việc
duy trì hòa bình và ổn định, tôn trọng pháp luật quốc tế, tự do
hàng hải và thương mại hợp pháp không cản trở ở Biến Đông.
Chúng tôi không đua ra quan điểm về những tuyên bố lãnh thổ đang tranh chấp xung quanh các cấu trúc đất đai và không
có tham vọng lãnh thổ ở Biển Đông; tuy nhiên, chúng tôi tin
rằng các quốc gia trong khu vực này nên cộng tác với nhau về
phương diện ngoại giao nhằm giải quyết các tranh chấp mà
không ép buộc, không hăm dọa, không có các mối đe dọa,
không sử dụng vũ lực”. Ngoại trưởng Mỹ khi đó là Hillary Clinton đã tuyên bố tại Hội
nghị Diễn đàn Khu vực ASEAN ở Hà Nội rằng: “Mỹ có lợi ích
quốc gia đối với tự do hàng hải, tiếp cận mở đối với các không
gian hàng hải chung trên biển của châu Á và tôn trọng luật
pháp qụốc tế ở Biển Đông”. Trong cả hai tuyên bố chính thức trên của Mỹ, điều rõ ràng là
Mỹ đã từ chổi đứng về phía những quốc gia ASEAN là nạn
nhân của việc Trung Quốc gây hấn và ép buộc về quân sự ở
Biển Đông. Như là phương sách để giữ thể diện, Mỹ đã viện đến cách
thức” cao quý” là quyền tự do hàng hải và tiếp cận mở đối với
các không gian hàng hải chung của châu Á. Lập trường của Mỹ
dường như được “chế tác” bởi các nhà ngoại giao Mỹ thay vì là
các chuyên gia về an ninh và chiến lược của nước này.
Washington không nhận thức được rằng quyền tự do hàng hải và tiếp cận mở ở Biển Đông sẽ là bất khả thi nếu Trung Quốc
nắm giữ các đảo tranh chấp và những cấu trúc trên biển mà
họ đã chiếm đóng, cũng như những phần còn lại đang chờ họ
chiếm giữ. Những lời kêu gọi không rõ ràng của Mỹ đối với Trung Quốc về
một giải pháp hòa bình cho Biển Đông mà không có sự ép buộc
hay phải viện đến những đe dọa sử dụng vũ lực là điều nực
cười. Có khi nào Trung Quốc kiềm chế không sử dụng vũ lực
hay không đe dọa sử dụng vũ lực trong các tranh chấp lãnh
thổ hay không? Có khi nào Trung Quốc lưu tâm tới những lời cảnh báo của Mỹ về bất kỳ vấn đề nào hay không ? Tóm lại, những tuyên bố của Mỹ về các tranh chấp ở Biển
Đông ngụ ý một “đường hướng không can thiệp” mà đến lượt
nó đã khuyến khích sự không khoan nhượng hiện tại của
Trung Quốc trong các tranh chấp ở Biển Hoa Đông và việc
tuyên bố chậm trễ rằng việc tuyên bố ADIZ ở Biển Hoa Đông
có thể là ADIZ ở đó. Mỹ đã nhận ra một ca khúc dạo đầu cho một tuyên bố tương
tự về ADIZ của Trung Quốc ở khu vực Biển Đông. Mỹ đã cảnh
báo Trung Quốc ngừng làm như vậy. Xét các kiểu lập trường chiến lược vô trách nhiệm trước đây
của Trung Quốc, liệu Trung Quốc có thực sự quan tâm tới lời
cảnh báo của Mỹ? Sẽ thật thú vị khi theo dõi những ứng phó
của Trung Quốc trước lời cảnh báo của Mỹ về việc không tuyên
bố một vùng nhận dạng phòng không của Trung Quốc ở khu
vực Biển Đông. Mỹ có khả năng sẽ cử Ngoại trưởng tới Bắc Kinh để thực hiện thêm một sứ mệnh nữa. Các tin tức cho thấy Mỹ đã đón tiếp một nhóm các sĩ quan
thuộc Lực lượng Lục quân Trung Quốc trên một tàu sân bay
của Mỹ khi nó tuần tra qua Biền Đông và điều này thật đáng
khinh. Liệu Mỹ có phát đi thông điệp gì cho Trung Quốc qua
hành động này hay là có thông điệp nào đó dành cho Việt Nam
và Philippines? Những quan sát cuối cùng Đáng tiếc là, hồ sơ của Mỹ về các tranh chấp ở Biển Đông
dường như đang cho thấy từ bỏ chiến lược những trách nhiệm
của nước này với tư cách là một cường quốc châu Á-Thái Bình
Dương trong việc duy trì hòa bình và ổn định ở khu vực Biển
Đông trước sự gây hấn của Trung Quốc nhằm vào Việt Nam và
Philippines. Giờ đây, Trung Quốc còn có cuộc đối đầu quân sự khác với Nhật Bản ở Biển Hoa Đông. Từ nay trở đi, các nhà nước trong khu vực kỳ vọng Mỹ sẽ thể
hiện sự kiên quyết và quyết tâm nhiều hơn nữa trong việc đối
phó với “Mối đe dọa mang tên Trung Quốc” mà hiện đang thò
ra những cái xúc tu gây hấn ở châu Á-Thái Bình Dương. Các
quốc gia trong khu vực kỳ vọng Mỹ sẽ vạch ra “những giới hạn
đỏ” đối với chủ nghĩa phiêu lưu quân sự của Trung Quốc ở Biển Đông cũng như ở Biển Hoa Đông.

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
This entry was posted in Articles. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s