Đại Cách mạng văn hóa – cuộc tranh trừng và tranh giành quyền lực kinh hoàng của Mao Trạch Đông

Hoa Văn giới thiệu

Đại cách mạng văn hóa giai cấp vô sản (hay còn gọi là Đại cách mạng văn hóa, hay Cách mạng văn hóa) là một giai đoạn thanh trừng và tranh giành quyền lực kinh hoàng diễn ra ở Trung Quốc trong thời gian từ 1966 -1976. Cách mạng văn hóa do lãnh tụ cộng sản TQ Mao Trạch Đông khởi xướng, thực sự là một cơn bão tàn khốc quét qua và ảnh hưởng tiêu cực nặng nề đến đời sống chính trị, văn hóa và kinh tế xã hội ở Trung Quốc – kéo theo biết bao số phận bi thương.
Lịch sử sẽ còn bàn luận và phán xét lâu dài về Đại cách mạng văn hóa, tuy nhiên nhà lãnh đạo TQ Đặng Tiểu Bình đã nhận định: “Cách Mạng Văn Hóa là một sai lầm. Chúng ta phải mạnh dạn từ bỏ sai lầm này của Mao – trong những năm tháng cuối đời của ông. Nhưng cũng cần nhìn vào sự thật, là không phải mọi sai lầm trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa đều do Mao”.

Cách mạng văn hóa được Mao Trạch Đông khởi xướng từ ngày 16-5-1966, với mục tiêu chính thức là loại bỏ những phần tử “tư sản tự do”, để tiếp tục sự nghiệp đấu tranh của tầng lớp cách mạng, cộng sản. Tuy nhiên, ngày nay người TQ thừa nhận rằng đây chính là phương cách để Mao giành lại quyền kiểm soát Đảng Cộng sản TQ, giàn lại quyền điều hành đất nước – sau thất bại của cuộc “Đại nhảy vọt” trước đó – vốn dẫn đến sự tổn thất quyền lực đáng kể của Mao so với đối thủ chính trị là Lưu Thiếu Kỳ. Cách mạng văn hóa cũng được Mao dùng để loại bỏ những người bất đồng ý kiến với ông ta, trong đó có những tên tuổi lớn như: Đặng Tiểu Bình, Bành Đức Hoài,…
Năm 1969, mặc dù chính Mao tuyên bố Cách mạng Văn đã kết thúc, nhưng thực tế cuộc “cách mạng” này đã kéo dài đến 1976, khi Mao qua đời và nhóm Tứ nhân bang (gồm Giang Thanh (vợ Mao), Trương Xuân Kiều, Vương Hồng Văn và Diêu Văn Nguyên) bắt giữ.
Tóm gọn, xuất phát từ một bài báo phê phán vở kịch Hải Thụy bãi quan xuất bản lần đầu năm 1959, Mao Trạch Đông đã phát động và đưa đất nước vào một giai đoạn huynh đệ tương tàn, đấu đá và tranh gành quyền lực ở mức độ tàn khốc.
Đại nhảy vọt thất bại làm suy giảm ảnh hưởng của Mao lãnh tụ
Năm 1958, sau kế hoạch 5 năm lần thứ nhất của Đảng cộng sản TQ, Mao kêu gọi phát triển một “chủ nghĩa xã hội triệt để”, nhằm đưa TQ bước sang một tầm cao mới, xây dựng một xã hội cộng sản theo mô hình tự cung tự cấp. Để thực hiện, Mao khởi xướng kế hoạch có tên gọi là Đại nhảy vọt, thiết lập các “Xã Nhân dân đặc biệt” (thường gọi là Công xã nhân dân) ở nông thôn TQ – thông qua việc sử dụng lao động tập thể và vận động quần chúng. Rất nhiều “Công xã nhân dân đặc biệt” được huy động chỉ để sản xuất một mặt hàng duy nhất là thép.
Với Đại nhảy vọt, Mao tuyên bố sẽ tăng sản lượng nông nghiệp tại TQ lên mức lên gấp đôi so với mức năm 1957. Nhưng trên thực tế, sản lượng nông nghiệp của TQ thời kì này thậm chí còn không bằng so với thời vua Càn Long và thời nhà Tống. Điều đó cho thấy Đại nhảy vọt đã thất bại.
Từ tác động của Đại nhảy vọt, các ngành công nghiệp TQ rơi vào tình trạng bất ổn. Nông dân sản xuất quá nhiều thép nhưng chất lượng thấp, trong khi các ngành khác bị bỏ rơi. Phần lớn lượng thép sản xuất ra chỉ nhằm mục đích đạt chỉ tiêu do các quan chức địa phương đặt ra – từ áp lực của Đại nhảy vọt. Tồi tệ hơn nữa, để tránh bị phạt, chính quyền các địa phương đã thường xuyên phóng đại các con số và che giấu sự thật (BLA: theo kiểu thành tích ảo, báo cáo giả) khiến cho vấn đề càng thêm trầm trọng.
Nền kinh tế TQ hầu như chưa phục hồi sau chiến tranh thế giới 2 và nội chiến trước lại thêm một lần nữa rơi vào khủng hoảng.
Đến năm 1958, Đảng Cộng sản TQ buộc phải thừa nhận rằng những số liệu thống kê về sản xuất đã bị phóng đại. Phần lớn lượng thép sản xuất ra là kém chất lượng và vô ích. Trong khi đó, do thời tiết xấu và việc xuất khẩu lương thực, đã dẫn đến một trận đói kém cực lớn tại TQ. Thực phẩm trong tình trạng hết sức khan hiếm và sản xuất giảm đáng kể.
Theo nhiều nguồn khác nhau, số người chết do nạn đói này gây ra ước tính khoảng 20-30 triệu người.
Sự thất bại của Đại nhảy vọt đã tác động lớn vào uy tín của Mao trong Đảng. Năm 1959, Mao phải từ chức Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ( những vẫn nắm ghế Chủ tịch đảng cộng sản TQ), Lưu Thiếu Kỳ là người lên thay.
Tháng 7/1959, Bộ chính trị TQ họp tại núi Lu để thảo luận về các quyết sách của Đảng, đánh giá các tác động của cuộc Đại nhảy vọt. Tại hội nghị, nguyên soái Bành Đức Hoài, khi đó là Bộ trưởng Quốc phòng, đã chỉ trích chính sách của Mao trong Đại nhảy vọt là quản lý kém và đi ngược lại các quy luật kinh tế.
Hội nghị này đã dẫn đến việc chuyển giao quyền lực vào tay những người thuộc phái ôn hòa, đứng đầu là Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình – lúc này đang nắm quyền kiểm soát chính phủ.
Sau Hội nghị, Mao tìm cách tước bỏ các chức vụ chính thức của Bành Đức Hoài và buộc tội ông ta là kẻ “cơ hội cánh hữu”. Bành Đức Hoài bị thay bởi Lâm Bưu – một vị tướng khác trong lực lượng quân cách mạng. Lâm Bưu chính là người sẽ đóng vai trò chủ đạo trong việc thực hiện các chính sách của Chủ nghĩa Mao Trạch Đông về sau.
Xung đột giữa Lưu Thiếu Kỳ và Mao Trạch Đông
Đầu những năm 1960, mặc dù Mao đang giữ chức Chủ tịch Đảng, nhưng trách nhiệm chính trong sự thất bại của cuộc Đại nhảy vọt đã buộc ông ta phải giam mình, rời khỏi những vấn đề thường nhật của nhà nước và chính phủ.
Nhiều chính sách thời kỳ Đại nhảy vọt của Mao bị thay đổi, bãi bỏ. Trong số những cải cách của Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình, thì việc xóa bỏ phần nào tình trạng sản xuất tập thể được xem là thực dụng và hiệu quả, góp phần tích cực thúc đẩy nền kinh tế Trung Quốc. Lưu Thiếu Kỳ đã nói một câu nổi tiếng là “Mua tốt hơn tự sản xuất, và cho thuê tốt hơn so với đi mua”. Chính điều này đã mở ra một biên giới mới trong kinh tế Trung Quốc và rõ ràng đối lập với lý thuyết “tự cung tự cấp” của Mao Trạch Đông trong Đại nhảy vọt.
Những chính sách kinh tế thành công của Lưu Thiếu Kỳ đã và ngày càng thu hút sự ủng hộ từ bên trong Đảng. Cùng với Đặng Tiểu Bình, Lưu Thiếu Kỳ dường như muốn trục xuất Mao Trạch Đông ra khỏi bộ máy quyền lực, nhưng vẫn giữ ông ta trong vai trò biểu tượng quốc gia.
Đáp trả lại, năm 1962, Mao khởi xướng Phong trào Giáo dục Xã hội Chủ nghĩa nhằm khôi phục vai trò chính trị của mình. Mục tiêu chính của phong trào này là khôi phục lòng nhiệt thành cách mạng của các đảng viên và quần chúng. Đáng chú ý hơn, phong trào này còn tập trung vào cải cách hệ thống giáo dục tiểu học và trung học. Một trong những khía cạnh nổi bật nhất của nó là sự kết hợp của đơn vị hành chính xã và lao động nhà máy vào giáo dục. Phong trào đã đạt được kết quả là đưa chủ nghĩa Mao vào giới trẻ Trung Quốc.
Từ năm 1963, Mao Trạch Đông bắt đầu công kích Lưu Thiếu Kỳ công khai hơn. Mao tuyên bố rằng đấu tranh giai cấp vẫn đang được tiến hành tại Trung Quốc và phải được học hỏi và áp dụng “ngày một, tháng một, và năm một”. Mao còn bóng gió rằng các thành phần cố hữu của giai cấp tư sản (ám chỉ Lưu Thiếu Kỳ) vẫn còn tồn tại, mặc dù cách mạng đã thành công.
Năm 1964, Phong trào Giáo dục Xã hội Chủ nghĩa tiến triển trở thành Phong trào Bốn-dọn-dẹp, một phong trào chính trị – xã hội rộng lớn hơn nhằm mục đích “làm sạch chính trị, kinh tế, tư tưởng, và tổ chức của bọn phản động”. Mao Trạch Đông xem chiến dịch này là nhắm vào các thành phần trung lưu vừa được thiết lập nhưng đã trở nên xa rời quần chúng, trong khi Lưu Thiếu Kỳ lại muốn một cách tiếp cận từ dưới lên để loại bỏ những tội phạm nhỏ, tầng lớp địa chủ và thành phần phản động.
Sự bất đồng trong quan điểm về bản chất của phong trào đã tạo ra xung đột giữa Mao Trạch Đông Chủ tịch đảng và Lưu Thiếu Kỳ Chủ tịch nước.
Khẩu chiến chính trị
Quay lại thời điểm cuối năm 1959, khi đó nhà sử học và cũng là Phó Thị trưởng TP. Bắc Kinh Ngô Hàm xuất bản phiên bản đầu tiên của bộ kịch lịch sử tựa đề Hải Thụy bãi quan. Trong vở kịch này, xây dựng một người đầy tớ trung thành tên là Hải Thụy bị sa thải bởi một tên hoàng đế biến chất. Vở kịch này khi đó nhận được sự ca ngợi từ phía Mao.
Nhưng đến năm 1965, vợ Mao Trạch Đông là Giang Thanh và đồng minh của bà này là Diêu Văn Nguyên, biên tập viên một tờ báo ở Thượng Hải, đã viết bài báo công kích vở kịch Hải Thụy bãi quan. Trong bài viết, Diêu gọi vở kịch là “một thứ cỏ độc” nhằm hãm hại Mao chủ tịch – với ngụ ý so sánh Mao như một tên hoàng đế suy đồi. Còn Bành Đức Hoài chính là hình tượng của Hải Thụy – một công chức trung thực.
Bài báo của Diêu Văn Nguyên trên tờ Thượng Hải đã lan truyền khắp đất nước Trung Quốc và được nhiều tờ nhật báo hàng đầu khác đăng lại.
Khi đó, thị trưởng Bắc Kinh là Bành Chân, một người ủng hộ tác giả Ngô Hàm, đã thành lập ra một ủy ban nghiên cứu đánh giá về bài báo này, sau đó tuyên bố rằng những lời chỉ trích của Diêu Văn Nguyên đối với tác giả vở kịch là không chính đáng.
Ngày 12/2/1966, Ủy ban (sau này bị gọi là “Nhóm Năm tên chịu trách nhiệm về cuộc Đại Cách mạng văn hóa”) đã công bố một bản báo cáo – mà về sau được biết đến với tên “Đại cương tháng Hai” nhằm tìm cách giới hạn tranh luận về nhân vật Hải Thụy trong khuôn khổ văn chương và lôi kéo sự chú ý của dư luận ra khỏi các hàm ý chính trị.
Tuy nhiên, Giang Thanh và Diêu Văn Nguyên vẫn tiếp tục tố cáo cả Ngô Hàm và tiếp đó là Bành Chân trên báo chí.
Ngày 16/5/1966, dưới sự chỉ đạo của Mao, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc đã ban hành một thông báo chính thức về cuộc Đại Cách mạng văn hóa. Trong tài liệu này, Bành Chân bị chỉ trích gay gắt và nhóm “Năm tên” bị giải tán và được thay thế bởi Nhóm Cách mạng văn hóa.
Ngày 18/5/1966, Lâm Bưu tuyên bố trong một bài phát biểu rằng “Chủ tịch Mao là một thiên tài, và mọi thứ Chủ tịch nói đều thực sự tuyệt vời; những lời nói của Chủ tịch sẽ tạo ra ý nghĩa cuộc sống của hàng trăm ngàn người trong chúng ta”. Sự kiện này đã khởi xướng giai đoạn đầu của sự sùng bái nhân cách Mao Trạch Đông do Giang Thanh, Lâm Bưu và những kẻ cùng phe điều hành.
Ngày 25/5/1966, một giảng viên triết học tại Đại học Bắc Kinh tên là Nhiếp Nguyên Tử đã viết một tấm áp phích lớn và dán ở bảng tin công cộng. Nhiếp công kích giới lãnh đạo Đảng trong trường và các quan chức của Đảng ở Bắc Kinh là “bọn côn đồ đen tối chống lại Đảng” – ngụ ý rằng có các thế lực đen tối trong Chính phủ và các trường đại học đang cố gắng ngăn chặn tiến trình cách mạng.
Vài ngày sau đó, Mao ra lệnh phổ biến những lời của Nhiếp ra khắp nước và gọi đó là “tấm áp phích lớn tuyên truyền cho Chủ nghĩa Mác đầu tiên ở Trung Quốc”.
Ngày 29/5/1966, tại trường trung học thuộc Đại học Thanh Hoa, đơn vị Hồng vệ binh đầu tiên được thành lập. Mục đích của đơn vị này là trừng phạt và cô lập cả giới trí thức lẫn những kẻ thù chính trị của Mao.
Ngày 1/6/1966, tờ Nhân dân Nhật báo đã phát động một cuộc công kích vào “các lực lượng phản động trong giới trí thức”. Sau đó, giới chủ tịch các trường đại học và nhiều trí thức nổi tiếng đã bị truy tố.
Ngày 28/7/1966, đại diện Hồng vệ binh đã viết thư cho Mao nói rằng các cuộc thanh trừng trên diện rộng và tất cả những sự kiện chính trị-xã hội có liên quan đều được thực hiện chính xác và công minh. Mao đáp lại với sự ủng hộ toàn diện của mình bằng tấm áp phích lớn tựa đề “Oanh tạc các trụ sở”. Mao viết rằng, bất chấp cuộc Cách mạng vô sản đã được tiến hành, giai cấp thống trị vẫn bị thâu tóm bởi các thành phần tư sản, các nhà tư bản và những người theo chủ nghĩa xét lại, và rằng các thành phần phản cách mạng này vẫn còn tồn tại, thậm chí ngay trong hàng ngũ lãnh đạo cấp cao của Đảng.
Những lời Mao viết ở trên rõ ràng là một cuộc khẩu chiến chống lại Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình và những người cùng phe với họ.
Cuộc Đại Cách mạng văn hóa tiến vào giai đoạn khốc liệt nhất.
Thông cáo 16 điểm năm 1966
Ngày 8/8/1966, Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc thông qua “quyết định liên quan đến Cuộc Cách mạng Văn hóa Vô sản” (còn gọi là “Thông cáo 16 điểm”). Quyết định này quy định rằng Cuộc Cách mạng văn hóa Vô sản là “một cuộc cách mạng lớn đụng chạm đến tất cả mọi người và thiết lập một giai đoạn mới trong sự phát triển của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong nước, một giai đoạn sâu rộng hơn”.
“ Mặc dù giai cấp tư sản đã bị lật đổ, chúng vẫn cố gắng sử dụng những tư tưởng và lề thói cũ của giai cấp bóc lột để đầu độc quần chúng nhân dân, nắm bắt tâm chí họ và cố gắng khôi phục giai đoạn tư sản. Giai cấp vô sản phải làm điều ngược lại: Đó là tranh đấu với giai cấp tư sản trong lĩnh vực tư tưởng và sử dụng những tư tưởng và lề thói mới của giai cấp vô sản để thay đổi diện mạo tinh thần của toàn bộ xã hội. Hiện tại, mục tiêu của chúng ta là đấu tranh và đè bẹp những kẻ hữu khuynh muốn phá bỏ cấu trúc thượng tầng của chủ nghĩa xã hội… ” –  Trích “Thông cáo 16 điểm”
Vì vậy, quyết định đó lấy phong trào sinh viên sẵn có và phát triển nó lên một cấp độ chiến dịch đại chúng toàn quốc, kêu gọi sự tham gia của không những sinh viên mà còn cả công nhân, nông dân, quân nhân, trí thức cách mạng và các cán bộ cách mạng để tiến hành nhiệm vụ chuyển đổi cấu trúc thượng tầng bằng cách treo các áp phích ký tự lớn và tổ chức các cuộc tranh luận sôi nổi. Theo ý Mao thì Trung Quốc cần “một cuộc cách mạng văn hóa” để đưa Chủ nghĩa xã hội trở lại. Các quyền tự do quy định theo Thông cáo 16 điểm sau đó được đưa vào Hiến pháp Trung Quốc như là “Bốn quyền tuyệt vời nhất của nền dân chủ vĩ đại”: Quyền tự do ngôn luận, phát biểu ý kiến, quyền được viết các áp phích ký tự lớn và quyền được tổ chức các tranh luận lớn.
Những người mà không có mối liên quan với Đảng Cộng sản sẽ được thử thách và thông thường bị buộc tội tham nhũng và bị bỏ tù. Những quyền tự do này được bổ sung bởi quyền được bãi công, mặc dù quyền này đã bị suy yếu bởi sự dính dáng của quân đội vào nền chính trị dân sự vào tháng 2 năm 1967. (Tất cả những quyền này đã bị xóa bỏ khỏi Hiến pháp sau khi Chính phủ của Đặng Tiểu Bình dập tắt Phong trào Bức tường Dân chủ năm 1979).
Ngày 16/8/1966, hàng triệu Hồng vệ binh từ khắp các nơi trên đất nước được huy động tập trung tại Bắc Kinh để có cơ hội thấy mặt Chủ tịch Mao. Ngay trên đầu cổng Thiên An Môn, Chủ tịch Mao Trạch Đông và Lâm Bưu đã xuất hiện và diễn thuyết trước 11 triệu Hồng vệ binh, và nhận được rất nhiều tràng reo hò từ đám đông. Mao ca ngợi hành động của Hồng vệ binh trong các chiến dịch gần đây là “phát triển Chủ nghĩa xã hội và dân chủ”.
Trong Chiến dịch tiêu hủy Bốn cái cũ, tất cả những gì liên quan đến các loại tôn giáo đều bị Hồng vệ binh ngược đãi thẳng tay. Nhiều công trình tôn giáo như chùa chiền, nhà thờ, tu viện Hồi giáo, và các nghĩa trang đều bị đóng cửa, đôi khi còn bị cướp phá hoặc bị đập bỏ.
Điều khủng khiếp nhất của chiến dịch là việc sử dụng bừa bãi hình thức tra tấn, giết chóc dẫn đến các vụ tự tử do nạn nhân không chịu được tra tấn và nhục nhã.
Trong tháng 8 và tháng 9, chỉ riêng ở Bắc Kinh đã có 1772 người bị sát hại. Tại Thượng Hải, trong tháng 12 có 704 vụ tự tử và 534 ca tử vong liên quan đến Cách mạng Văn hóa. Trong thời gian này ở Vũ Hán cũng chứng kiến 62 vụ tự sát và 32 vụ giết người.
Chính quyền cũng không dám ngăn chặn hành động của Hồng vệ binh. Xie Fuzhi, cảnh sát trưởng quốc gia, cho biết: “Đừng nói rằng họ sai khi đánh đập những kẻ xấu; nếu trong cơn thịnh nộ mà họ có đánh ai đó đến chết thì cũng có thể hiểu được.”
Trong hai năm, đến tận tháng 7 năm 1968 (ở vài nơi, thời gian có thể lâu hơn), các nhóm hoạt động của Hội sinh viên như lực lượng Hồng vệ binh đã mở rộng lĩnh vực quyền lực của mình, và gia tăng các nỗ lực tái thiết Xã hội chủ nghĩa. Họ bắt đầu bằng cách phát tờ rơi giải thích cho hành động phát triển và củng cố Chủ nghĩa xã hội của họ và đưa tên các nhân vật bị khép tội “phản cách mạng” lên trên bảng tin của trường. Họ tập hợp lại thành từng nhóm lớn, tổ chức các buổi tranh luận lớn, và viết các vở kịch mang tính “giáo dục”. Họ tổ chức các cuộc họp công cộng để chỉ trích những lời bào chữa của các bị cáo “phản cách mạng”.

Thế giới này là của các bạn, cũng như của chung chúng ta, nhưng xét cho cùng thì nó vẫn là của các bạn. Các bạn, những người trẻ tuổi tràn đầy nhiệt huyết, đang ở độ thăng hoa của cuộc đời giống như mặt trời lúc tám hoặc chín giờ sáng. Chúng tôi hy vọng vào các bạn. Thế giới thuộc về các bạn. Tương lai Trung Quốc thuộc về các bạn. – Trích Hồng bảo thư, ấn bản tiếng Anh

Những cuộc khẩu chiến giữa các nhóm hoạt động thậm chí trở thành bạo lực, nhất là khi họ bắt đầu tước vũ khí của quân đội năm 1967. Những người khởi xướng Chủ nghĩa Mao đã giới hạn hoạt động của Hồng vệ binh trong khuôn khổ hình thức “bất bạo động”, nhưng chính điều đó lại dường như khuyến khích bạo lực; và chỉ sau các vụ cướp vũ khí quân đội của Hồng vệ binh, họ mới bắt đầu đàn áp các phong trào quần chúng.
Lưu Thiếu Kỳ bị đưa vào một trại tạm giam và qua đời tại đó năm 1969. (Xem thêm:  Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Lưu Thiếu Kỳ đã bị các “đồng chí” của mình hãm hại như thế nào?)
Đặng Tiểu Bình cũng bị đưa đi “cải tạo” ba lần và cuối cùng phải làm việc trong một nhà máy cơ khí cho đến khi Chu Ân Lai đưa ông trở lại vài năm sau đó.
Tuy nhiên, phần lớn những người bị bắt giữ không được may mắn như vậy và nhiều người trong số họ không bao giờ được quay trở lại.
Hành động của Hồng vệ binh được chủ tịch Mao Trạch Đông ca ngợi. Ngày 22 tháng 8 năm 1966, ông ban hành một thông cáo chung, trong đó quy đinh cấm mọi sự can thiệp từ phía cảnh sát vào hoạt động của Hồng vệ binh. Người nào làm trái với Thông cáo đó sẽ bị gán cho tội danh “phản cách mạng”.
Ngày 5/9/1966, một thông cáo khác được ban hành khuyến khích tất cả Hồng vệ binh đến Bắc Kinh trong một quãng thời gian xác định. Tất cả chi phí, bao gồm ăn ở và đi lại sẽ được chính quyền chi trả.
Ngày 10/10/1966, một đồng minh của Mao là Lâm Bưu đã công khai chỉ trích Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình là “những kẻ dẫn đường cho Chủ nghĩa Tư bản” và là “mối đe dọa” đến Chủ nghĩa Xã hội. Sau đó, Bành Đức Hoài cũng bị đưa đến Bắc Kinh và bị truy tố trước quần chúng.
Năm 1967
Ngày 3/1/1967, Lâm Bưu và Giang Thanh đã sử dụng truyền thông và cán bộ địa phương để tạo ra cái gọi là “Bão táp tháng Giêng”, trong đó nhiều quan chức cấp cao Thượng Hải cũng bị chỉ trích nặng nề và bị đem ra truy tố.
Điều này đã mở đường cho Vương Hồng Văn nắm quyền quản lý thành phố với chức danh người đứng đầu Ủy ban Cách mạng thành phố. Do đó, chính quyền thành phố bị bãi bỏ. Ở Bắc Kinh, Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình một lần nữa trở thành mục tiêu của sự chỉ trích, nhưng những chỉ trích khác cũng nhắm vào các việc làm sai trái của Phó thủ tướng Trần Vân. Các quan chức chính phủ hay đảng viên địa phương cũng nhân cơ hội này để cáo buộc địch thủ tội “phản cách mạng”.
Ngày 8 tháng Giêng, Mao đã ca ngợi những hành động này thông qua tờ báo của Đảng là tờ Nhân dân Nhật báo, khuyến khích các quan chức địa phương phê bình và tự phê bình nếu có dính líu tới hoạt động “phản cách mạng”. Điều này dẫn đến các cuộc thanh trừng trên diện rộng và liên tiếp giữa các quan chức địa phương khiến cho chính quyền nhân dân ở nhiều địa phương bị tê liệt hoàn toàn. Tham gia vào các cuộc thanh trừng “phản cách mạng” này là cách duy nhất để tránh bị thanh trừng, nhưng cũng không có gì đảm bảo.
Vào tháng hai, Giang Thanh và Lâm Bưu, dưới sự ủng hộ của Mao, đã nhấn mạnh rằng “đấu tranh giai cấp” cần mở rộng sang ngành quân đội. Nhiều tướng lĩnh chủ chốt trong Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa đã tỏ thái độ lo ngại và phản đối Cách mạng văn hóa; họ gọi đó là “một sự sai lầm”. Cựu Bộ trưởng Ngoại giao là Trần Nghị đã tỏ ra tức giận ngay trong cuộc họp Bộ Chính trị, và nói rằng sự chia bè kết phái sẽ hủy hoại quân đội hoàn toàn và sau đó là đến Đảng.
Các tướng lĩnh khác, bao gồm Nhiếp Vinh Trăn, Hạ Long và Từ Hướng Tiền cũng bày tỏ sự bất mãn. Họ lần lượt bị tố cáo bởi các phương tiện truyền thông quốc gia dưới sự kiểm soát của Trương Xuân Kiều và Diêu Văn Nguyên. Cuối cùng thì tất cả bọn họ đều bị thanh trừng bởi Hồng vệ binh. Cùng lúc đó, nhiều đơn vị Hồng vệ binh lớn quay sang đối đầu với nhau do mâu thuẫn về lập trường cách mạng khiến cho tình hình thêm phức tạp và làm đất nước thêm hỗn loạn.
Do vậy, Giang Thanh đã ra thông báo dừng tất các hành động không lành mạnh bên trong lực lượng Hồng vệ binh.
Ngày 6 tháng 4, Lưu Thiếu Kỳ đã bị lên án công khai và rộng rãi bởi nhóm thành viên gồm Giang Thanh, Khang Sinh, thậm chí có cả Mao.
Tiếp theo đó là một kháng nghị và các cuộc tuần hành của quần chúng, đáng chú ý nhất là cuộc tuần hành ở Vũ Hán ngày 20 tháng 7. Trong nơi này, Giang Thanh đã công khai tố cáo bất kỳ “hành động phản cách mạng nào”; sau đó đích thân bà ta bay tới Vũ Hán để chỉ trích Zaidao Chen, tướng phụ trách khu vực Vũ Hán.
Ngày 22 tháng 7, Giang Thanh chỉ đạo Hồng vệ binh thay thế Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa nếu cần thiết, do đó làm cho lực lượng vũ trang hiện tại bị vô hiệu. Sau lần ca ngợi ban đầu của Giang Thanh, Hồng vệ binh bắt đầu cướp phá các doanh trại và các tòa nhà quân đội. Hành động này đã không thể bị ngăn chặn bởi các tướng lĩnh quân đội và kéo dài tới tận mùa thu năm 1968.
Năm 1968
Mùa xuân 1968, một chiến dịch lớn nổ ra nhằm mục đích đẩy mạnh tôn sùng Mao Trạch Đông lên mức ngang thần thánh.
Ngày 27/7/1968, sự lấn quyền quân đội của Hồng vệ binh chính thức kết thúc và chính quyền trung ương gửi các đơn vị quân đội tới để bảo vệ nhiều khu vực là mục tiêu của Hồng vệ binh. Mao ủng hộ và thúc đẩy ý tưởng cho phép quần chúng lắng nghe một trong những chỉ dẫn tối cao của mình. Một năm sau đó, các nhóm Hồng vệ binh hoàn toàn tan rã vì Mao sợ rằng sự hỗn loạn do họ gây ra có thể làm hại nền tảng căn bản của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trong bất kỳ trường hợp nào thì mục tiêu của Hồng vệ binh đã đạt được và Mao đã củng cố được quyền lực chính trị của mình.
Đầu tháng 10, Mao tiến hành chiến dịch thanh trừng những quan chức không trung thành với ông ta. Họ bị đưa tới vùng nông thôn và làm việc trong các trại lao động. Cũng trong tháng này, tại Đại hội Đảng lần thứ 12-khóa 8, Lưu Thiếu Kỳ bị trục xuất vĩnh viễn ra khỏi Đảng và Lâm Bưu được đưa lên giữ chức Phó Chủ tịch Đảng và được Mao chọn làm người kế tục. Địa vị và danh tiếng của Bưu chỉ xếp sau Mao.[6]
Lâm Bưu, người được Mao chọn kế vị, trở thành nhân vật nổi bật nhất trong cuộc Đại Cách mạng văn hóa sau năm 1968.  Tháng 12/1971, Trung Quốc (và thế giới) bị sốc sau khi một chiếc máy bay bị rơi ở Mông Cổ và Lâm Bưu được cho là một trong những hành khách xấu số. Sự kiện này xảy ra sau một loạt những nỗ lực ám sát Mao bất thành. Từ đó đến nay, chưa thể xác minh được các sự kiện liên quan đến Lâm Bưu trong gian đoạn 1968-1971 với độ thuyết phục và chính xác được vì lý do nhạy cảm chính trị xung quanh sự kiện máy bay rơi đó. Những năm tháng quyền lực của Lâm Bưu và cái chết đầy bí ẩn của ông ta là chủ đề quan tâm của nhiều sử gia khắp thế giới nhưng chưa một ai có thể đưa ra kết luận xác đáng về vấn đề đó.
Tháng 12/1968, Mao triển khai Phong trào Tiến về nông thôn. Phong trào kéo dài từ cuối thập kỷ 1960 đến đầu thập kỷ 1970 đã huy động hàng trăm ngàn trí thức trẻ sống ở các thành phố đi về các vùng nông thôn để sống, lao động và học hỏi kinh nghiệm của những người công nhân và nông dân. Từ “trí thức” lúc đó được dùng với nghĩa rộng nhất là những học sinh mới tốt nghiệp trung học.
Cuối những năm 1970, những “trí thức trẻ” này cuối cùng cũng được phép trở về thành phố quê nhà. Xét khía cạnh nào đó thì phong trào này là một cách thức điều chuyển các thành viên Hồng vệ binh từ thành phố về nông thôn, nơi mà họ ít có khả năng gây loạn nhất.
Năm 1976, Mao qua đời.
Đặng Tiểu Bình đã nhận định như sau: “Cách Mạng Văn Hóa là một sai lầm. Chúng ta phải mạnh dạn chối bỏ sai lầm này của Mao trong những năm tháng cuối đời của ông. Nhưng cũng cần nhìn vào sự thật. Sự thật là không phải mọi sai lầm và quá đáng trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa đều do Mao”.

Thay lời kết

BỐN NĂM SAU ĐÓ, trong mùa Đông 1980/81, nhóm Tứ Nhân Bang quyền lực thời kỳ Đại cách mạng văn hóa bị mang ra xét xử. Mười bị cáo bị lên án là đã “truy nã cho tới chết” 34.800 người trong thời gian của cuộc Cách mạng Văn hóa, “phỉ báng” thêm 729.511 người nữa.
Giang Thanh, người vợ góa của Mao bị tuyên án tử hình, cũng như Trương Xuân Kiều; hai thành viên còn lại của Tứ Nhân Bang nhận án nặng. Sau đấy, người ta chuyển giảm án tử hình thành tù chung thân. Thế nhưng cả bốn người đều được trả tự do trước khi chết. Giang Thanh, đơn độc và cay đắng, tự tử năm 1991.
Chỉ một năm sau cái chết của Mao, Đặng Tiểu Bình đã được phục hồi nhờ vào sự giúp đỡ của viên chỉ huy quân đội nhiều quyền lực của tỉnh Quảng Đông và trở về Bắc Kinh. Cho tới 1981, Đặng có thể đẩy những người cạnh tranh của ông ấy ra khỏi tất cả các chức vụ quan trọng mà không dẫn đến bắt bớ hay đấu tranh. Hoa Quốc Phong mất chức vụ chủ tịch đảng, thủ tướng và chủ tịch quân ủy, nhưng vẫn được phép giữ chỗ đứng của ông ấy trong Trung ương Đảng. Đại đa số đảng viên đi theo đường lối của Đặng mà không hề càu nhàu, vì họ muốn cắt đứt với cuộc Cách mạng Văn hóa đầy bất hạnh một cách kiên quyết hơn nữa.
Trong 15 năm sau đấy, Đặng bây giờ trở thành người thống trị Trung Quốc. Trong lúc đó, ông ấy đủ khôn ngoan để không thu tóm tất cả các chức vụ quan trọng về cho mình, mà phân bổ những người trung thành vào đó: Triệu Tử Dương trở thành thủ tướng, Hồ Diệu Bang tổng bí thư Đảng. Tuy vậy, viên quan chức nhỏ người, bị lật đổ hai lần Đặng Tiểu Bình thật ra vẫn trở thành người kế nhiệm Mao.

( Nguồn thông tin: Wikipedia và các tài liệu khác)

———

Nguồn: http://dandensg.blogspot.com/2014/08/ai-cach-mang-van-hoa-cuoc-tranh-trung.html

About Văn Ngọc Thành

Dạy học nên phải học
This entry was posted in Archives, Articles, Teaching and tagged , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s