MY HNUE PAGE

XEM THÊM NHỮNG BÀI MỚI CÓP NHẶT TRÊN HNUE

Posted in Archives, Articles, India, International relations, Teaching | Tagged , | Để lại bình luận

Xung đột tôn giáo nhìn từ góc độ quan hệ quốc tế

Hoàng Khắc Nam

Lịch sử nhân loại bị vò xéo bởi xung đột và bạo lực. Khi chiến tranh Lạnh kết thúc, niềm tin về một nền hoà bình vĩnh cửu như mơ ước của Immanuel Kant đã sống lại. Thế nhưng, niềm tin này đã nhanh chóng bị lung lay. Vô số cuộc xung đột đã xảy ra, nhiều cuộc chiến tranh đã bùng nổ, máu tiếp tục chảy, bạo lực tiếp tục được sử dụng trong quan hệ quốc tế. Con người đánh nhau không chỉ vì miếng ăn, của cải và đất đai mà còn vì các giá trị tinh thần. Dường như trong xã hội loài người nói chung, trong quan hệ quốc tế nói riêng, xung đột và bạo lực là không tránh khỏi.

Trong số này, xung đột tôn giáo được coi là một trong nguồn tiềm tàng của xung đột quốc tế. Xung đột tôn giáo liên quan đến các giá trị tinh thần và niềm tin tuyệt đối. Đó là những sản phẩm của nhận thức nên có thể thay đổi được. Vì thế, có người cho rằng, xung đột tôn giáo không có tính tất yếu. Họ lấy thực tế không có chiến tranh tôn giáo trong vài thế kỉ gần đây để chứng minh cho quan điểm này. Những người phản đối lại lập luận rằng, tôn giáo là một phần tất yếu của xã hội loài người và dù thực tế có đứt đoạn song xung đột tôn giáo vẫn hiện diện trong mọi thời kì. Và như vậy, xung đột tôn giáo luôn là một phần của cuộc sống.

Những người theo quan điểm sau đang cố gắng tìm kiếm sự ủng hộ về lí thuyết và thực tiễn. Về lí thuyết, đó là quan điểm nổi tiếng gần đây của Samuel Huntington. Ông cho rằng, thế giới hậu chiến tranh Lạnh đang bước vào thời kì “đụng độ giữa các nền văn minh” và sự phân chia thế giới lớn nhất sẽ dọc theo các chiến tuyến văn hoá. Tôn giáo là một phần của văn hoá nên không đứng ngoài xu thế này. Xung đột giá trị tinh thần vẫn tiếp diễn bất chấp sự phổ biến các giá trị chung nhân loại trong thời đại toàn cầu hoá. Sự nổi lên gần đây của các phong trào tôn giáo chính thống được coi như minh chứng thực tiễn cho lập luận này.

Vậy xung đột tôn giáo có phải là tất yếu hay không? Xác định bản chất và nguyên nhân của hiện tượng sẽ giúp trả lời câu hỏi đó. Việc tìm hiểu vấn đề này có ý nghĩa nhất định đối với việc củng cố hoà bình và giữ gìn các giá trị văn hoá.

Do tính phức tạp của hiện tượng này cũng như khuôn khổ có hạn của một bài viết, chúng tôi chỉ đề cập đến các nguyên nhân cơ bản và chung nhất trong xung đột tôn giáo. Ngoài ra, vấn đề này cũng được tập trung xem xét từ một trong các góc độ nghiên cứu – góc độ quan hệ quốc tế. Nói cách khác, đối tượng nghiên cứu của bài này giới hạn trong các xung đột tôn giáo có tính quốc tế.

Bản chất tôn giáo không phải là xung đột và bạo lực. Bản chất tôn giáo thể hiện trên hai phương diện chính là nguyên nhân ra đời và tinh thần giáo lí. Nguyên nhân ra đời phản ánh cơ sở tồn tại và phát triển. Giáo lí chứa đựng mục đích và con đường, nhận thức và hành vi, nội dung và phương tiện.

Tôn giáo xuất hiện rất sớm từ thời thượng cổ như một phần không thể thiếu trong đời sống tâm linh. Trong các cộng đồng cổ đại, đều tồn tại những tín ngưỡng hay tôn giáo bản địa. Đã có nhiều công trình đề cập đến nguyên nhân ra đời của tôn giáo. Các kết quả nghiên cứu đều không cho thấy xung đột tôn giáo được bắt đầu cùng với sự ra đời của tôn giáo. Theo chúng tôi, một trong những lí do ra đời của tôn giáo chính là nhằm đáp ứng nhu cầu an ninh của con người. Con người cần niềm tin và sức mạnh tinh thần trước quá nhiều hiểm hoạ đe doạ sự tồn tại của mình. Tôn giáo ra đời không phải là sự phản ứng bằng bạo lực trước những đe doạ đó. Xuất phát điểm của các tôn giáo đều bắt đầu bằng con đường phi bạo lực. Đa phần quá trình tôn giáo đều diễn ra một cách hoà bình. Xung đột tôn giáo xuất hiện muộn hơn và không liên quan đến nguyên nhân hình thành tôn giáo. Đây đó có những xung đột bạo lực xảy ra xung quanh thời điểm ra đời của tôn giáo nhưng thường là do tôn giáo hoặc bị lợi dụng, hoặc là nạn nhân của bạo lực. Trong chừng mực nào đó, tôn giáo ra đời như sự “cứu rỗi” con người trước thực tiễn quá nhiều đau khổ vì xung đột.

Tôn giáo là phong trào tinh thần với các mục đích hoà bình. Hầu hết các tôn giáo đều hướng con người tới một thế giới siêu nhiên mà ở đó không có xung đột và bạo lực. Trên phương diện giáo lí, không tôn giáo nào khuyến khích xung đột và chủ trương giải quyết xung đột bằng bạo lực. Tinh thần này được phản ánh cả trong nội dung lẫn phương cách thực hiện. Tôn giáo dạy con người phải biết tha thứ và thương yêu nhau – một khái niệm khác với mâu thuẫn và hằn thù vốn là cơ sở của xung đột. Điều quan trọng, tôn giáo hướng con người tới lòng nhân ái – một quan điểm và thái độ cần thiết để ngăn chặn và giải quyết xung đột. Tôn giáo cũng có thái độ phi đấu tranh khi khuyên con người phải biết chấp nhận thực tại. Tôn giáo cũng không chủ trương phổ biến các giá trị và niềm tin của mình bằng công cụ bạo lực như quân đội và vũ khí. Tôn giáo phát triển được qua biên giới chủ yếu nhờ những giá trị nhân bản đáp ứng được nhu cầu tâm lí chung của con người. Thái độ phi bạo lực của tôn giáo đã đem lại sức sống cho nó trong các cộng đồng vốn luôn bị đè nặng bởi xung đột và bạo lực.

Xung đột tôn giáo không xuất phát từ bản chất tôn giáo. Vậy nguyên nhân nào khiến xung đột tôn giáo vẫn xảy ra trong lịch sử?

Thứ nhất, sự đa dạng tôn giáo chứa đựng tiềm năng xung đột. Các tôn giáo thường có thế giới quan và nhân sinh quan khác nhau. Đó là cơ sở tạo nên những hệ thống giá trị tinh thần, quan niệm đạo đức và các niềm tin tuyệt đối khác nhau giữa các tôn giáo. Một hệ thống giá trị và niềm tin như vậy thường khiến tín đồ đặt trọn lòng tin vào tôn giáo đó. Đó là tâm lí độc quyền tôn giáo và thái độ phủ nhận tôn giáo khác. Tín điều tôn giáo thường được coi là thiêng liêng nên dễ nhạy cảm với giáo lí và quan niệm của tôn giáo khác. Những tín điều không phù hợp với tôn giáo đó dễ bị coi là báng bổ và từ đó làm nảy sinh bất đồng tôn giáo. Tôn giáo dễ trở thành nguồn xung đột chính bởi sự đa dạng tôn giáo. ít nhất, đa dạng tôn giáo cũng góp phần tạo thêm ranh giới trong một thế giới vốn đã khá chia rẽ với sự hình thành những cộng đồng tôn giáo và lãnh địa tinh thần riêng. Nguy cơ xung đột này càng tăng lên bởi xu hướng bành trướng của nhiều tôn giáo. Sự cạnh tranh giáo dân và lãnh địa nhiều khi trở thành nguyên nhân xung đột trực tiếp giữa các tôn giáo.

Thực tế cũng cho thấy điều này: Xung đột tôn giáo nhiều nhất trong lịch sử là giữa các cộng đồng tôn giáo khác nhau. Các cuộc chiến tranh tôn giáo lớn nhất cũng chủ yếu xảy ra giữa các tôn giáo khác nhau. Điển hình là cuộc xung đột giữa Công giáo và Hồi giáo với các cuộc Thập tự chinh kéo dài gần 200 năm từ cuối thế kỉ XI đến cuối thế kỉ XIII. Xung đột kéo dài giữa hai tôn giáo này còn được phản ánh qua các cuộc chiến tranh giữa Đế quốc Ottoman với các quốc gia Châu Âu thời kì hiện đại. Việc đàn áp “dị giáo” ở Châu Âu thời Trung cổ bên cạnh nguyên nhân chính trị, cũng có nguyên nhân tâm lí độc quyền tôn giáo. Ngày nay, xung đột giữa những tôn giáo khác nhau vẫn đang tiếp tục như Hồi giáo – Công giáo ở Nagornui Karabak, Sudan và Philippines; Hồi giáo – Ấn Độ giáo ở Nam á, Chính Thống giáo – Hồi giáo ở Serbia,v.v… Tôn giáo là một yếu tố làm tăng thêm tính quốc tế trong các xung đột này.

Mặc dù thực tế trên là phổ biến song theo chúng tôi, không có mối liên hệ tất yếu giữa tôn giáo – tâm lí độc tôn – xung đột tôn giáo. Không một tôn giáo nào ra đời để nhằm chinh phục một tôn giáo khác. Không phải tôn giáo nào cũng có xu hướng độc tôn. Trong chừng mực nào đó, mặc dù có những cách giải thích trần thế khác nhau, tôn giáo phần nào là sự chấp nhận thực tế. Hơn nữa, về bản chất, tôn giáo là sự bổ sung những giá trị tinh thần mới cho cuộc sống thực tại chứ không nhằm thay thế nó. Chấp nhận thực tế cũng có nghĩa là chấp nhận thực tế tồn tại của các tôn giáo khác. Tính chấp nhận này còn thể hiện ở sự tiếp thu giá trị của các tôn giáo khác. Ba tôn giáo thế giới hiện nay đều là những ví dụ điển hình của mối quan hệ tiếp biến này. Đó là chưa kể tới những điểm chung trong nội dung giáo lí của các tôn giáo đã từng xung đột với nhau. Nhiều xung đột mang màu sắc tôn giáo thực ra xuất phát chủ yếu từ xung đột giữa các cộng đồng văn hoá khác nhau mà tôn giáo chỉ là một trong số đó. Mặc dù xu hướng độc tôn tôn giáo là có thể, song sự chuyển biến thành thái độ kì thị và xung đột tôn giáo lại xuất phát từ một số người thực hành tôn giáo chứ không phải từ bản chất tinh thần tôn giáo. Tinh thần tha thứ và lòng nhân ái đã góp phần ngăn cản xu hướng độc tôn bằng con đường bạo lực.

Thứ hai, trong nhiều tôn giáo lớn thường có các giáo phái khác nhau. Sự phân chia này hoặc do những bất đồng giáo lí (Công giáo với Chính Thống giáo và Tin Lành), mâu thuẫn về địa vị và tổ chức (Sunni, Shi’ite hay Harijit của Hồi giáo) hoặc sự phân nhánh và biến đổi qua quá trình địa phương hoá (Tiểu thừa, Đại thừa và các giáo phái nhỏ hơn của Phật giáo). Sự bất nhất dẫn đến bất đồng, bất đồng dẫn đến mâu thuẫn, mâu thuẫn tạo ra xung đột. Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của tôn giáo là sự xuất hiện yếu tố chính trị trong tôn giáo do chi phối của môi trường kinh tế – chính trị – xã hội và sự tác động của yêu cầu tổ chức. Sự tranh chấp địa vị trung tâm giữa các giáo phái đã góp thêm nguyên nhân phi tôn giáo vào kiểu dạng xung đột tôn giáo này.

Xung đột cao có thể dẫn đến li khai tôn giáo và điều này lại càng “đổ thêm dầu vào lửa”, nhiều khi biến xung đột tôn giáo thành các cuộc chiến tranh tôn giáo. Kitô giáo là một ví dụ điển hình. Cuộc li khai đầu tiên dẫn đến sự hình thành Chính Thống giáo (Othodoxism) trong thời gian 974-984, hình thành nên giáo hội Phương Đông mới ở Nam Âu. Cuộc li khai thứ hai là của đạo Tin Lành (Protestantism) trong thế kỉ XVI. Sự li khai này dẫn đến cuộc xung đột tôn giáo có thể là đẫm máu nhất trong lịch sử tôn giáo. Nhiều vụ thảm sát và chiến tranh giữa hai tôn giáo này đã nổ ra như cuộc tàn sát giết chết khoảng 8.000 người Tin Lành ở St.Bartholomew năm 1572, các cuộc chiến tranh tôn giáo trong thời kì 1560-1590 hay cuộc chiến tranh 30 năm 1618-1648,v.v… Cuộc li khai thứ ba là Anh giáo tách ra khỏi Giáo hội Công giáo năm 1543. Sự li khai này dẫn đến việc vua Philip II của Tây Ban Nha bảo hộ Công giáo đã phái hạm đội Armanda đến đánh nước Anh dưới thời Nữ hoàng Elizabeth I. Dấu vết của cuộc xung đột Công giáo – Tin Lành hiện nay vẫn phản ánh ít nhiều ở Bắc Ai Len. Những xung đột giáo phái tương tự cũng diễn ra trong Hồi giáo dưới thời Đế quốc Ả Rập, hay gần đây là xung đột Sunni-Shi’ite. Ngày nay, dù đã giảm đi, giáo phái vẫn tiếp tục là nguồn tạo ra những vấn đề trong quan hệ quốc tế. Điển hình là những chia rẽ mới từ sự nổi lên của các giáo phái chính thống trong một số tôn giáo.

Cũng như nguyên nhân từ sự đa dạng tôn giáo, hiện tượng đa giáo phái không có mối liên hệ bản chất với xung đột tôn giáo. Về mặt lí thuyết, giữa các giáo phái có nhiều điểm chung hơn nên khả năng thoả hiệp giải quyết xung đột là lớn hơn. Về mặt thực tiễn, xung đột giáo phái chỉ xảy ra giữa thiểu số các giáo phái, số lượng giáo phái không tham gia xung đột là lớn hơn nhiều. Các giáo phái Công giáo vẫn đa dạng nhưng đang cùng nhau hợp tác dưới sự lãnh đạo của Vatican. Tương tự như vậy, các giáo phái Phật giáo cũng đang cùng tồn tại hoà bình. Ngày nay, dấu vết của những mâu thuẫn giáo phái vẫn còn tồn tại ít nhiều, nhất là trong Hồi giáo nhưng khả năng dẫn đến xung đột bạo lực ngày càng hạn chế. Các tôn giáo đều đang cố gắng xây dựng và duy trì sự thống nhất cả về nội dung lẫn hình thức. Hầu hết các tôn giáo lớn đều có tổ chức toàn cầu của mình dù khả năng điều phối thực tế là rất khác nhau. Đó là chưa kể tình cảm cộng đồng tự nhiên xuất phát từ cùng cội nguồn tôn giáo của các tín đồ thuộc những giáo phái khác nhau. Tình cảm chống Mỹ trong thế giới Hồi giáo sau các sự kiện Afghanistan và Iraq vừa qua là một minh chứng cho điều này.

Thứ ba, tôn giáo được coi là nguồn của xung đột còn bởi những liên hệ về mặt giá trị với các nguyên nhân xung đột khác, đặc biệt là xung đột lãnh thổ và sắc tộc. Trong quá trình phát triển, nhiều giá trị tôn giáo đã kết hợp với những yếu tố bản địa, trở thành bộ phận không tách rời trong hệ thống giá trị cộng đồng và góp phần tạo nên bản sắc cộng đồng. Trong chừng mực nào đó, tôn giáo đóng vai trò như một sợi dây liên kết cộng đồng nên dần dần chúng hoà trộn với các giá trị quốc gia, dân tộc. Bởi mối liên hệ như vậy và với tư cách là giá trị cộng đồng, tôn giáo thường dễ bị lôi kéo vào trong các xung đột lãnh thổ hay sắc tộc nhằm kích thích chủ nghĩa quốc gia, chủ nghĩa dân tộc. Điều này đôi khi tạo nên suy nghĩ cho rằng đây là xung đột tôn giáo.

Thực tế cho thấy có nhiều xung đột về lãnh thổ và sắc tộc thường mang đậm màu sắc tôn giáo. Màu sắc này đậm đến nỗi sự phân chia tôn giáo dường như là một chiến tuyến giữa các nhóm đối địch. Trong cuộc xung đột Ấn Độ-Pakistan, hầu hết người Ấn Độ theo Ấn Độ giáo (Hinduism) và hầu hết người Pakistan theo Hồi giáo. Trong cuộc xung đột Nagornui – Karabak, người Azerbaijan là Hồi giáo, còn người Armernia là Công giáo. Trong khi đó, xung đột ở Sudan lại xảy ra giữa người gốc Ả Rập theo Hồi giáo và người gốc Phi theo Công giáo. Tương tự như vậy, cuộc chiến tranh Iran – Iraq (1980-1988) cũng được coi là phản ánh mâu thuẫn giáo phái Shi’itee – Sunni. Trong các cuộc xung đột ở Nam Tư, tình hình tôn giáo còn phức tạp hơn. Người Croat là Công giáo, người Serb là Chính Thống giáo còn hầu hết người Albania là Hồi giáo. Đây là mẫu hình khá phổ biến trong nhiều xung đột sắc tộc và lãnh thổ. Không chỉ vậy, tôn giáo còn được sử dụng để kích động các cuộc xung đột quyền lực, lãnh thổ hay sắc tộc. Trong cuộc chiến giành Vukova giữa người Croat và người Serb, các biểu tượng tôn giáo đã được đem ra trận nhằm kích thích thêm lòng căm thù đối phương. Sức mạnh tinh thần của tôn giáo với tư cách là giá trị cộng đồng, đôi khi còn lấn át cả yếu tố sắc tộc. Những người Serb theo Hồi giáo ở Bosnia đã sẵn sàng liên minh với người Croat để chống lại những “anh em chung một dòng máu” là người Serb theo Chính Thống giáo.

Trong các xung đột kiểu này, tôn giáo không đóng vai trò chính như lãnh thổ hay sắc tộc. Mức độ liên kết quốc gia hay nhóm sắc tộc thường cao hơn nhóm tôn giáo nên lợi ích lãnh thổ hay sắc tộc cũng lớn hơn. Mâu thuẫn tôn giáo chỉ là mâu thuẫn phụ. Trong trường hợp ở Bosnia nói trên, lãnh thổ là nguyên nhân xung đột chính chứ không phải là tôn giáo. Khi các xung đột lãnh thổ và sắc tộc được giải quyết, xung đột kiểu này cũng lắng xuống bất kể mâu thuẫn tôn giáo vẫn còn. Tuy nhiên, sự hoà trộn như vậy lại làm cho xung đột tôn giáo trở nên sâu sắc, khó giải quyết hơn và dễ trở thành vấn đề giữa các quốc gia – dân tộc.

Rồi đây, những bất đồng văn hoá/tôn giáo và việc giữ gìn bản sắc vẫn tiếp tục là vấn đề trong quan hệ quốc tế. Nhưng do tôn giáo không còn chi phối chính quyền như trước kia nên khó có lợi ích tôn giáo nào được đặt lên trên lợi ích quốc gia. Trong tình hình phần lớn quốc gia là đa tôn giáo, lợi ích của các tôn giáo chỉ là lợi ích nhóm nên càng khó bị lôi kéo vào xung đột liên quốc gia. Trong quan hệ quốc tế ngày nay, lợi ích chính trị và kinh tế vẫn chiếm địa vị ưu tiên nên nhiều khi đã góp phần kiềm chế các xung đột tinh thần. So với trước kia, xung đột kiểu này đã trở nên ít hơn và cũng ít ảnh hưởng đến quan hệ quốc tế hơn. Chúng thường chỉ xảy ra bên trong quốc gia hoặc với các quốc gia có quốc giáo. Xu thế này chứng tỏ sự tương tác giữa giá trị tôn giáo và xung đột quốc tế không phải là tất yếu.

Thứ tư, đó là mâu thuẫn giữa tôn giáo và thế tục. Thực ra, bản chất của mâu thuẫn này cũng gần giống mâu thuẫn trong quan niệm và niềm tin giữa các tôn giáo khác nhau. Về mặt nào đó, tôn giáo ra đời nhằm cải biến thực tại theo quan niệm và cách thức riêng của mình. Trong khi đó, thực tế lại đa dạng và phức tạp hơn nhiều những gì tôn giáo quan niệm. Vì thế, bất đồng về quan niệm, trái ngược về niềm tin là khó tránh khỏi. Xung đột tôn giáo – thế tục hiện diện khá nhiều trong lịch sử và được thể hiện trên nhiều khía cạnh đời sống khác nhau như chính trị, xã hội và văn hoá. Chính vì mâu thuẫn này mà các tôn giáo khi mới ra đời đều gặp không ít khó khăn để có được chỗ đứng trong đời sống cộng đồng. Nhiều tôn giáo hoặc bị coi là bất hợp pháp hoặc thậm chí bị đàn áp như Công giáo chẳng hạn. Để tồn tại, nhiều tôn giáo phải dựa vào bạo lực. Xung đột tôn giáo – thế tục càng gay gắt. Tuy nhiên, loại xung đột này không đơn thuần chỉ xuất phát từ các tôn giáo mà còn cả từ phía chính quyền thế tục. Khi thần quyền nắm chính quyền, đó có thể là sự phân biệt đối xử hoặc sự kì thị tôn giáo khác. Những cuộc đàn áp “dị giáo” ở Châu Âu thời Trung cổ là trường hợp như vậy. Trong trường hợp chính quyền thế tục, đó có thể là sự phân biệt đối xử lương giáo hoặc nỗi lo ngại chính trị hoá tôn giáo. Sự bài bác về văn hoá, địa vị xã hội lương giáo khác nhau, cấm đạo hoặc đàn áp tôn giáo là những hiện tượng của vấn đề này. Những xung đột liên quan đến tôn giáo này thường hay được quy vào phạm trù xung đột tôn giáo.

Hiện nay, tầm ảnh hưởng của mâu thuẫn này trong quan hệ quốc tế vẫn là đáng kể. Đáng chú ý là sự nổi lên của các phong trào chính thống trong vài thập kỉ gần đây. Sự nổi lên của các phong trào chính thống diễn ra cả trong Hồi giáo, Công giáo, Do Thái giáo (Judaism) và Ấn Độ giáo. Xu hướng chủ yếu của các phong trào này là mong muốn trở về các giá trị ban đầu của tôn giáo. Những người chính thống phản kháng các hệ thống giá trị bên ngoài. Họ thường có thái độ cực đoan đối với một số giá trị nào đó của đời sống thế tục mà họ cho là ngược với quan điểm của họ. Điều này nhiều khi đã dẫn đến sự đụng độ với các tổ chức chính trị thế tục. Những người chính thống Do Thái phản đối hòa bình với Palestine và chủ trương xây dựng các khu định cư trong các vùng lãnh thổ bị Israel chiếm đóng. Những người Công giáo chính thống ở Mỹ cố gắng thuyết phục chính phủ rút khỏi Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) vì họ cho rằng quỹ này khuyến khích nạo phá thai. Phong trào chính thống nổi bật hơn cả là trong Hồi giáo bắt đầu nổi lên từ cuộc Cách mạng Iran năm 1979. Những người chính thống Hồi giáo muốn kinh Coran trở thành hiến pháp quốc gia. Họ phản đối các giá trị thế tục Phương Tây và cho đó là sự suy đồi đạo đức.

Việc quy kết cho các mâu thuẫn loại này vào xung đột tôn giáo có thể không hoàn toàn chính xác. Các xung đột thường đa nguyên nhân mà tôn giáo chỉ là một. Ví dụ, tâm lí chống Phương Tây của những người Hồi giáo chính thống không chỉ phản ánh mâu thuẫn giữa tư tưởng tôn giáo truyền thống với các giá trị thế tục ngoại lai mà còn xuất phát từ mâu thuẫn lịch sử giữa người dân bản địa với chủ nghĩa thực dân Phương Tây, giữa người Ả Rập và người Do Thái và giữa những bất đồng chính trị với chính quyền đương nhiệm.

Xung đột này đang ngày càng giảm đi. Về phía tôn giáo, đó là những cải biến theo tinh thần nhập thế đang tăng lên và sự tiếp tục ý nghĩa bổ sung cho thực tiễn. Điển hình là những thay đổi mạnh mẽ của Công giáo thể hiện trong Công đồng Vatican II. Về phía thế tục, trên bình diện quốc tế, đó là quá trình công nhận tự do tôn giáo được chính thức hoá trong Hiệp định hoà bình Oliva năm 1660, được nhắc lại trong Bốn Quyền Tự do của Roosevelt năm 1941 và được Uỷ ban Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc khẳng định trong thời gian 1955-1960. Trên bình diện quốc gia, quyền tự do tôn giáo đã được hầu hết các quốc gia tuân thủ. Hơn nữa, bước sang thế kỉ XX, quá trình thế tục hoá nhà nước đã phổ biến trên toàn cầu. Điều này góp phần phân định chức năng rạch ròi hơn giữa tôn giáo và chính quyền. Thực tế này đang cho thấy sự không thực sự vững chắc trong quan điểm của Samuel Huntington.

Thứ năm, rất nhiều xung đột tôn giáo xảy ra do liên quan đến chính trị. Trong lịch sử tôn giáo, sự liên quan với chính trị đã đem lại cả nguyên nhân lẫn điều kiện cho xung đột tôn giáo. Là điều kiện khi chính trị được tôn giáo sử dụng để phát huy thế lực và ảnh hưởng. Là nguyên nhân khi chính trị sử dụng tôn giáo để thực hiện mục tiêu của mình. Mâu thuẫn tôn giáo được chính trị tiếp sức đã bị trầm trọng thêm. Ngược lại, mâu thuẫn chính trị đi cùng tôn giáo lại tạo nên xung đột tôn giáo.

Công giáo và Hồi giáo là những trường hợp điển hình của sự kết hợp tôn giáo với chính trị. Công giáo được “chính trị hoá” từ dưới lên với đỉnh cao là sự thành lập Đế quốc La Mã thế kỉ IX. Trong khi đó, Hồi giáo lại là quá trình ngược lại từ trên xuống với việc hình thành Đế quốc Ả Rập thế kỉ VII. Chính nhờ quyền lực chính trị của các đế chế mà hai tôn giáo này đã bành trướng rất nhanh. Ngược lại, các thế lực chính trị cũng sử dụng tôn giáo như công cụ thống trị tư tưởng và ràng buộc những phần khác nhau của đế quốc. Sự lợi dụng tôn giáo cho các mục đích chính trị cũng góp phần làm tăng xung đột tôn giáo. Cuộc chiến tranh Ba mươi năm (1618-1648) là một ví dụ. Đây là cuộc chiến tranh giữa các quốc gia theo Tin Lành và Công giáo được nhiều người coi là cuộc chiến tranh tôn giáo điển hình. Nhưng thực tế, việc Pháp là quốc gia theo Công giáo lại đứng về phe Tin Lành chống lại các quốc gia Công giáo khác cho thấy cuộc chiến tranh này không hoàn toàn vì mục đích tôn giáo. Đây là cuộc chiến tranh giành quyền lực bá chủ giữa Pháp và Tây Ban Nha. Tương tự như vậy, trong thời kì Đế quốc La Mã và Đế quốc Ả Rập, xung đột tôn giáo diễn ra rất nhiều ở các khu vực này. Mối liên kết chính trị – tôn giáo là nguồn của xung đột còn phản ánh rõ nét trong quá trình truyền bá Công giáo sang Phương Đông. Sự đụng độ với các tôn giáo bản địa không chỉ do gốc văn hoá khác nhau mà còn bởi sự truyền đạo này liên quan ít nhiều đến chủ nghĩa thực dân và sự xâm lược thuộc địa.

Vậy tôn giáo có bản chất chính trị hay không? Nếu có thì đây sẽ là nguồn tiềm tàng của xung đột tôn giáo? Theo chúng tôi, giữa tôn giáo và chính trị có sự liên quan nhưng không mang tính bản chất. Chính trị ít nhiều được phản ánh trong hệ thống nhân sinh quan và thế giới quan của một số tôn giáo nhưng không phải tất cả. Trong khi đó, thực tế phi chính trị của hầu hết tôn giáo ngày nay càng cho thấy chính trị không phải là một phần tất yếu của tôn giáo. Hơn nữa, kể cả có sự liên kết chính trị – tôn giáo mạnh mẽ thì mối quan hệ đó cũng không nhất thiết là nguy cơ của xung đột. Rất nhiều quốc gia – quốc giáo yêu chuộng hoà bình. Ở đây, cần có sự phân biệt giữa tôn giáo với những tư tưởng chính trị mang màu sắc tôn giáo. Đối với các tư tưởng này, chính trị là mục tiêu chính trị, còn tôn giáo chỉ là phương tiện. Đôi khi sự liên kết giữa chính trị với tôn giáo dễ tạo sự lầm tưởng tôn giáo là nguyên nhân của xung đột

Cũng có ý kiến cho rằng, chính trị mới giúp cho một số tôn giáo trở thành tôn giáo thế giới. Các tôn giáo này truyền bá vượt qua khuôn khổ văn hoá và biên giới chính trị bởi vì chúng mang trong mình những giá trị tự thân như đề cao giá trị nhân loại và tình thương yêu đồng loại trên toàn thế giới. Chính sự nhấn mạnh vào các giá trị cá nhân và giá trị toàn cầu khiến cho các tôn giáo này có khả năng thẩm thấu qua biên giới. Quá trình quốc tế hoá quan hệ xã hội đã tiếp sức cho sự truyền bá này. Chính trị đơn giản chỉ là một trong số công cụ truyền bá tôn giáo mà thôi.

Như vậy, xung đột tôn giáo không xuất phát từ bản chất tôn giáo. Xung đột tôn giáo còn xảy ra bởi các nguyên nhân phi tôn giáo. Vì thế, coi xung đột tôn giáo là nguồn tiềm tàng của chiến tranh và bạo lực thì không hẳn như vậy. Đa phần các tôn giáo là hoà bình. ở nhiều nơi, các tôn giáo cùng tồn tại bên nhau, tiếp thu lẫn nhau hoặc thâm nhập vào nhau. Tín đồ của các nhóm tôn giáo khác nhau đã chung sống một cách hoà bình. Thực tế, hoà bình tôn giáo phổ biến hơn nhiều so với xung đột tôn giáo.

Cùng với sự phát triển của quan hệ quốc tế, xung đột tôn giáo ngày càng dễ trở thành vấn đề trong quan hệ giữa các quốc gia. Tuy nhiên, xung đột tôn giáo đang có xu hướng giảm. Xung đột tôn giáo giảm nhiều so với lịch sử cả về số lượng, quy mô lẫn tác động xã hội. Nhiều người đang nói đến sự nổi lên của xung đột tôn giáo sau chiến tranh Lạnh. Cần công bằng hơn với tôn giáo trong nhận định này khi rất nhiều xung đột trong số đó không xuất phát từ mâu thuẫn tôn giáo. Thậm chí, trong không ít trường hợp, chính tôn giáo lại là nạn nhân chứ không phải là nguyên nhân của xung đột.

Các nhận định này chắc chắn sẽ dễ được chấp nhận hơn khi khái niệm xung đột tôn giáo được xem xét lại. Chính vì quy tất cả xung đột có liên quan đến tôn giáo vào chung một khái niệm mà đã tồn tại cái nhìn tương đối bi quan về hiện tượng xã hội này. Điều này góp phần tạo nên suy nghĩ xung đột tôn giáo là cái gì đó thường trực trong xã hội loài người. Khái niệm này chỉ nên bao gồm những xung đột trong đó mâu thuẫn tôn giáo là động lực chủ yếu với các lực lượng tôn giáo là chủ thể chính. Sự phân biệt giữa các xung đột tôn giáo này với những xung đột trong đó tôn giáo chỉ là dấu hiệu hình thức là rất cần thiết. Một sự chia tách như vậy không chỉ giúp có cái nhìn đúng hơn về tôn giáo và xung đột tôn giáo mà còn là cơ sở để xây dựng biện pháp giải quyết xung đột thích hợp cho từng trường hợp cụ thể./.

TS. Hoàng Khắc Nam

Posted in Articles | Để lại bình luận

Chính phủ Ấn Độ khuyến khích định cư dọc biên giới tranh chấp Ấn Độ-Trung Quốc (Indian Government to Encourage Settlements Along Disputed India-China Border)

By Ankit Panda

http://thediplomat.com/, June 21, 2014

VNT: Theo The Indian Express, Chính phủ Liên minh Dân chủ Quốc gia (NDA) có kế hoạch chi $ 830,000,000 (50 tỷ rupee) để khuyến khích người dân Ấn Độ ở phía đông bắc định cư ở các khu vực gần biên giới Trung-Ấn Độ.

Kiren Rijiju -Bộ trưởng Bộ Nội vụ hiện nay của Bang Arunachal Pradesh, cho biết: ngoài  $ 830,000,000 sẽ được dành cho sáng kiến ​​này, có một $ 39000000000 (240 tỷ rupee) dành cho cơ sở hạ tầng quan trọng khác trong khu vực, bao gồm đường giao thông và các tiền đồn biên giới.

—–

Prior to its election, India’s new government was expected to be considerably more active in pressing India’s claims to its disputed borders with China. While a recent trip by China’s foreign minister focused primarily on economic and trade matters and sidelined contentious political issues almost entirely, recent reports in the Indian media suggest that the Bharatiya Janata Party-led government is planning on engineering settlements along India’s disputed border with China in Arunachal Pradesh, in the country’s northeast. India administers Arunachal Pradesh while China claims almost the entirety of the state as its own territory. Chinese foreign minister Wang Yi met with Indian Prime Minister Narendra Modi less than a week ago and pledged to work towards resolving the border disputes between the two countries.

According to The Indian Express, the National Democratic Alliance (NDA) government plans to spend $830 million (50 billion rupees)  to encourage Indian villagers in the northeast to settle areas closer to the Sino-Indian border. So far, it looks like the central government is not planning on offering direct cash incentives to settlers but will instead use the earmarked funds for infrastructure development. The northeast has generally been neglected by previous Indian governments, particularly northern Arunachal Pradesh, which contains very little infrastructure on the Indian side of the border. China, by contrast, has not been shy to build infrastructure along the disputed border in an attempt to demonstrate to locals that the Chinese government might better serve their interests.

Currently, India-administered territory up to 50 kilometers south of the disputed border is quite sparsely populated, owing to a lack of infrastructure. If the NDA government is able to make a concerted push to develop this area, then it is likely that villagers from across the region may choose to relocate. The strategic advantages of converting the immediate threshold of the disputed territory into a population dense area are not lost on New Delhi: while China has increasingly been provoking its neighbors on both land and maritime disputes, it has hardly ever done so in a population dense area. The April 2013 stand-off between India and China, which took place on the other disputed border along Aksai Chin in Kashmir, took place in an area without any permanent civilian inhabitation. The governor of Arunachal Pradesh, Lt. Gen. (Retd.) Nirbhay Sharma wrote a communique to Prime Minister Narendra Modi in which he suggested that should India fail in encouraging the active inhabitation of these disputed areas, a “gradual assimilation of our area by China is along the cards, on the lines already witnessed in north Myanmar.”

India’s current Minister of State for Home Affairs Kiren Rijiju is originally from Arunachal Pradesh and is likely the originator of this initiative. “The negative policy of the past — that the border should be closed, not be accessible to civilians, not be developed — will be done away with. We have come to the conclusion that we must initiate steps to enhance our capacity, manpower and developmental activities along the border. Fences cannot be there; there is no demarcation,” he noted in a prior interview. He adds: “If we have adequate manpower guarding those areas, there will be no chance of their forces transgressing. A massive road network, telecommunication, landing ground and facilities to be created for security forces, amenities and access to people. Why should people be restricted from going [to] till the border areas?” The Indian government, in addition to the $830 million that will be devoted to this initiative, has another $39 billion (240 billion rupees) earmarked for other critical infrastructure in the area, including roads and border outposts.

Part of this plan was developed during India’s previous United Progressive Alliance (UPA) government. In particular, India began to steadily increase the number of Indo-Tibetan Border Police in Arunachal Pradesh, add new border outposts, and maintain a more forward position along the disputed border to deter any Chinese incursions.

The land that currently comprises Arunachal Pradesh was an important front in the India-China War of 1962. After India’s defeat in that war, subsequent governments in New Delhi chose not to prioritize infrastructure development in the area and generally discouraged inhabitation there. The fear was that any roads installed by New Delhi in the region could be used by a potential Chinese invasion force. During the 1962 war, the northeastern front was particularly brutal due to how difficult it was for India to establish reliable military supply lines to the region. The governor’s communique emphasized that the central government should undertake this project “on a war footing.” The new BJP government appears to be keen to reverse over this decades-long consensus in India’s northeast policy and actively develop the area.

——–

Source: http://thediplomat.com/2014/06/indian-government-to-encourage-settlements-along-disputed-india-china-border/

Posted in Archives, Articles, India, International relations | Tagged , , | Để lại bình luận

Vì sao Nga không ủng hộ China ở Biển Đông? (Why Doesn’t Russia Support China in the South China Sea?)

By Mu Chunshan

http://thediplomat.com/, June 21, 2014

VNT:  Nga không hậu thuẫn China trong tranh chấp ở Biển Đông vì 4 lý do:
1. Nga và China không phải là đồng minh. Không có hiệp ước liên minh giữa hai nước, trong khi có những điều ước an ninh giữa Mỹ và Philippines cũng như giữa Mỹ và Nhật Bản. Mối quan hệ China-Nga có một số đặc điểm của quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, hai bên không bị ràng buộc bởi các nghĩa vụ hiệp ước để phấn đấu cho không gian quốc tế của nhau và lợi ích quốc gia.
2. Nga muốn có quan hệ tốt đẹp với các nước Đông Nam Á (Người Nga được thừa kế mối quan hệ của Liên Xô với khu vực này).Với VN: ngoài tàu ngầm lớp kilo, cuối năm 2014 Nga sẽ cung cấp 4 máy bay chiến đấu Su-30MK2 cho Việt Nam.Có thể đây sẽ là vũ khí trong cuộc đối đầu Việt Nam – China trong tương lai…
3. Hiện nay tập trung của Nga là ở châu Âu. Cuộc khủng hoảng Ukraina đã gia tăng cuộc đối đầu giữa Nga và phương Tây. Vấn đề này khó có thể được giải quyết trong ngắn hạn. Vì vậy, Nga không mong muốn cũng như không có khả năng để đối đầu với Mỹ ở Biển Đông.
4. Mặc dù các quan chức Nga rất lạc quan về tiềm năng hợp tác ở Viễn Đông song chưa có giây phút nào họ xao nhãng mất cảnh giácđể đối phó với cái gọi là “bành trướng lãnh thổ.” của China.

—— Xin mời:

Recently, tensions over maritime disputes in the South China Sea seem to have surpassed even those caused by the Senkaku/Diaoyu Islands. China and Vietnam are embroiled in their worst political conflict in decades over an oil drilling platform near the Paracel Islands. The resulting anti-China protests in Vietnam brought China-Vietnam relations to a temporary halt. In addition, the Philippines’ detention of Chinese fishermen has increased the discord between China and the Philippines. With all these frictions occurring at the same time, the situation in the South China Sea has suddenly become very serious.

Against this background, we have seen the U.S. criticize China, express support for Vietnam, and shield the Philippine military. But we have not heard Russia, China’s “strategic partner,” take a stand on the South China Sea disputes, much less publicly support China’s position.  This has upset some people in China, who now think that China-Russia relations aren’t as good as previously imagined. Even on the Senkaku/Diaoyu dispute between China and Japan, Russia has kept an ambiguous position. In my eyes, however, this does not mean that Russia’s is of two minds in its relationship with China. Instead, there are complicated political and strategic factors, including four main reasons I will list below.

First, the China-Russia relationship is different from U.S.-Philippines relations. China and Russia are not allies. There is no alliance treaty between them, while there are security treaties between the U.S. and the Philippines as well as between the U.S. and Japan. In an alliance relationship, each side has treaty obligations to provide political and even military support to its partner. In international relations, this is the highest-level type of bilateral relationship. While the China-Russia relationship has some characteristics of a comprehensive strategic partnership, the two parties are not bound by treaty obligations to strive for each other’s international space and national interests.

For a long time, China’s state media has been emphasizing and promoting the positive factors in China-Russia relations, while overseas media also often over-praise this relationship. Sometimes media outlets even posit that China and Russia are “allies” without an alliance treaty. This has led many people to believe that China-Russia political cooperation is boundless, causing a great improvement to China’s security situation. But the facts of international relations tell us that no matter how good the China-Russia relationship is, it won’t influence China’s basic policy in the South and East China Seas. The fact is that China-Russia relations are fundamentally based on mutual interests. The South China Sea is not a place where Russia can expand its interests, nor is it necessary for Russia to interfere in this region absent a formal alliance with China. Chinese people cannot misinterpret the character of China-Russia relations and expect too much from Russia.

Second, Russia enjoys good relations with countries bordering the South China Sea and does not need to offend Southeast Asia for the sake of China. As noted above, Russia is not enthusiastic about publicly backing China on the South China Sea issue. One of the most important reasons for this is that Russia enjoys good relations with many of the Southeast Asian countries.

For example, Russia’s predecessor, the Soviet Union, was historically even closer to Vietnam than it was to China. Because of the USSR’s strong support, Vietnam was able to fight off the United States. Afterward, Vietnam began to undertake anti-China activities, again with Soviet backing. After the collapse of the USSR, Russia inherited this extraordinary friendship. There are no major obstacles to the development of the Russia-Vietnam relationship — there are no serious disputes or conflicts on either the historical or the practical level. And there is one particular area of cooperation between the two countries: defense, where cooperation has stretched from World War II to today. Many of Vietnam’s weapons come from Russia, such as the Kilo-class diesel submarines fueling the growth of Vietnam’s navy. In addition, in the second half of 2014 Russia will deliver four Su-30MK2 fighters to Vietnam, which could potentially become weapons in a future China-Vietnam confrontation.

Russia also enjoys a good relationship with the Philippines. For example, two years ago, three Russian navy vessels (including the anti-submarine destroyer Admiral Panteleyev) arrived in Manila for a three-day port visit. According to Russia, this visit helped improve Russia-Philippine ties.

Third, it’s unnecessary for Russia to seek out a direct confrontation with the U.S. over the South China Sea. Currently Russia’s focus is on Europe, especially the Ukraine crisis that has already solidified the confrontation between Russia and the West. Such a problem will be difficult to solve in the short term. Given this, Russia has neither the desire nor the ability to confront the U.S. in the South China Sea.

Besides, the South China Sea disputes are not really conflicts between China and the United States. The disputes stem from disagreements between the South China Sea border countries about the history and the status quo of maritime rights. The U.S. is only an influencing factor, not a determining factor that will determine the future of the situation. In this context, as an outsider and bystander, Russia has even less of a motivation to support China and criticize the U.S.

Fourth, the development of China has actually caused some worries within Russia. To some people in the West, the discord between China and other South China Sea countries could help restrict China’s “expansion” into other regions. In Russia, there has always been some concern that China’s development will lead to the Russian far east being gradually “occupied” by the Chinese, with this vast territory, along with its resources, becoming fodder for China’s development. Although Russian officials are optimistic about the potential for cooperation in the far east, they have never for a moment relaxed their guard against China’s so-called “territorial expansion.”

There is no need for China to feel doubtful and disappointed about Russia’s stance on the South China Sea disputes. Dozens of years of sounding each other out has formed the foundation for tacit agreements and mutual understanding in the China-Russia relationship. For example, on the issue Russia currently takes most seriously, the Crimea question, China refrained from publicly supporting Russia, choosing instead to abstain from the U.N. Security Council vote. However, this doesn’t mean that China opposes Russia’s position. By the same logic, Russia’s neutral stance in the South China Sea disputes doesn’t mean that Russia doesn’t support China. Russia has its own ways of supporting China, such as the recent China-Russia joint military exercises in the East China Sea. This display of deterrence caused envy and suspicion in the West. China and Russia leave each other ample room for ambiguous policies, which is actually proof of an increasingly deep partnership. This arrangement gives both China and Russia the maneuvering space they need to maximize their national interests.

——-

Source: http://thediplomat.com/2014/06/why-doesnt-russia-support-china-in-the-south-china-sea/

Posted in Archives, Articles, International relations, Teaching | Tagged , , , , | Để lại bình luận

Chủ quyền đối với Hoàng Sa: Về một bài báo thiên vị Trung Quốc

Vào ngày 15/5/2014, Sam Bateman, nghiên cứu viên cấp cao của Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam (RSIS, thuộc Đại học Công nghệ Nanyang, Singapore), đã có bài phân tích đăng trên Eurasia Review, nhan đề “Công hàm Phạm Văn Đồng làm lung lay yêu sách chủ quyền của Việt Nam”. Đại ý tác giả cho rằng: Do Công hàm Phạm Văn Đồng 1958 thừa nhận Hoàng Sa là của Trung Quốc và từ đó đến năm 1975, Việt Nam cũng không phản đối gì; cho nên nếu bây giờ Việt Nam đòi chủ quyền đối với Hoàng Sa thì sẽ yếu thế. Vài ngày sau đó, hai học giả Việt Nam là TS. Dương Danh Huy và TS. Phạm Quang Tuấn đã có bài viết phản bác tác giả Sam Bateman. Hai ông gửi đăng bài này ở RSIS. Ngày 26/5, RSIS đăng tải bài viết của Dương Danh Huy và Phạm Quang Tuấn (số thứ tự 99), cùng ngày, đăng luôn một bài viết mới của Sam Bateman phản biện hai học giả Việt Nam (số thứ tự 100). Dưới đây là nội dung bài viết của TS. Dương Danh Huy và TS. Phạm Quang Tuấn. * * * CHỦ QUYỀN ĐỐI VỚI HOÀNG SA: VỀ MỘT BÀI BÁO THIÊN VỊ TRUNG QUỐC Huy Duong – Tuan Pham Tóm tắt Trong bài bình luận của RSIS, số 88/2014, “Căng thẳng trên Biển Đông: Ai có chủ quyền đối với Hoàng Sa?”, Sam Bateman cho rằng Trung Quốc đang thực hiện đúng quyền của mình khi triển khai giàn khoan Haiyang 981 ở tọa độ hiện tại. Bài viết của ông không bảo vệ được quan điểm đó và cho thấy một cái nhìn không công bằng về những mặt mạnh tương đối trong từng trường hợp – Việt Nam và Trung Quốc. Bình luận Trong bài bình luận gần đây của RSIS, số 88/2014, Sam Bateman đã nêu ý kiến về tranh cãi giữa Việt Nam và Trung Quốc xoay quanh việc Bắc Kinh đặt giàn khoan dầu của họ tại một địa điểm gần Việt Nam. Ông Bateman cho rằng “giàn khoan nằm ở vị trí chỉ khoảng 14 hải lý tính từ một hòn đảo nhỏ thuộc quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc có yêu sách chủ quyền, và 80 hải lý tính từ đảo Phú Lâm (Woody Island, thuộc Hoàng Sa – ND), một cấu trúc địa lý lớn, với diện tích khoảng 500 hecta, mà Trung Quốc đang chiếm hữu”. Câu này có một số lỗi và thiếu sót, mà tất cả đều thiên về bênh vực Trung Quốc. Cấu trúc địa lý gần giàn khoan nhất là đảo Tri Tôn (Triton, thuộc Hoàng Sa – ND), cách đó 17 hải lý. Chênh lệch giữa con số 14 và 17 hải lý có vẻ nhỏ, tuy nhiên, con số 14 ngụ ý rằng giàn khoan chỉ nằm ngoài lãnh hải (territorial waters – vùng biển rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở – ND) của đảo Tri Tôn có 2 hải lý, trong khi khoảng cách thực sự là 5 hải lý. Đảo Phú Lâm nằm cách giàn khoan 103 hải lý chứ không phải 80, và diện tích của đảo nhìn chung được ghi nhận là khoảng 200 hecta, thống nhất với Google Map (bản đồ của Google). Còn cái thiếu sót ở đây là tác giả đã không đề cập rằng quần đảo Hoàng Sa là nơi Việt Nam cũng có tuyên bố chủ quyền. Tọa độ của giàn khoan Haiyang 981. Nguồn: CSIS/CNN Xem nhẹ các yêu sách của Việt Nam Tác giả Bateman viết rằng: “Một đường biên giới hàng hải đã được đàm phán trong khu vực này thì chắc chắn sẽ xác định rằng giàn khoan dầu nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc, ngay cả khi những lập luận của Trung Quốc khẳng định các đặc tính của đảo có kém sức thuyết phục đi chăng nữa”. Một bài phân tích thận trọng sẽ cho thấy điều ngược lại: Thứ nhất, cả Việt Nam và Trung Quốc đều tuyên bố chủ quyền đối với Hoàng Sa; do đó, sẽ là sai lầm nếu mặc định rằng tất cả các đảo thuộc Hoàng Sa và phần vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) bao quanh mỗi đảo đều tự nhiên thuộc về Trung Quốc và đàm phán hay các thủ tục trọng tài đều phải dựa trên cơ sở đó. Ngay cả trong một trường hợp không có khả năng xảy ra, là Việt Nam tuyên bố từ bỏ chủ quyền đối với Hoàng Sa, thì một tòa án trọng tài có thể cũng sẽ phải ra phán quyết giao khu vực bao quanh giàn khoan cho Việt Nam, bởi lẽ khoảng cách từ giàn khoan tới đất liền Việt Nam (120 hải lý) chỉ xa hơn một chút so với khoảng cách từ giàn khoan đến đảo Phú Lâm (103 hải lý). Trong quá khứ, tại nhiều phiên đàm phán và trọng tài về biên giới trên biển, có những đảo lớn hơn Hoàng Sa nhiều, nhưng chỉ được tính hệ số nhỏ hơn hoặc bằng 1/3 so với bờ biển thuộc đất liền. (xem chú thích) Trong hiệp định biên giới Vịnh Bắc Bộ (năm 2000), đảo Bạch Long Vỹ của Việt Nam được hưởng 1/4 hiệu lực. Trong phán quyết năm 2012 của Tòa án Quốc tế (ICJ) về tranh chấp giữa Nicaragua và Colombia, các đảo của Colombia được tính cộng thêm 1/4 khoảng cách đến Nicaragua. Các đảo liên quan trong những trường hợp trên đều có diện tích từ tương đương cho đến gấp 13 lần diện tích đảo Phú Lâm. Đảo Tri Tôn nằm gần giàn khoan hơn, nhưng theo Điều 121 UNCLOS, đảo này khó được hưởng quy chế có vùng đặc quyền kinh tế (EEZ), cho nên việc giàn khoan ở gần nó chẳng có ý nghĩa gì. Bateman viết rằng “Việt Nam tuyên bố rằng, do giàn khoan ở gần đất liền của họ hơn gần Trung Quốc và nằm hoàn toàn trong khoảng cách 200 hải lý tính từ bờ biển Việt Nam, cho nên nó rơi vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam… nhưng gần gũi về địa lý không thôi thì không phải là một cơ sở rõ ràng cho việc ra yêu sách chủ quyền hay quyền chủ quyền”. Đây là một cách mô tả rối rắm và sai lầm về căn cứ của yêu sách chủ quyền của phía Việt Nam. Sự nhầm lẫn bắt nguồn từ việc Bateman làm lẫn lộn hai khái niệm “chủ quyền” và “quyền chủ quyền”. Thực sự là có tranh chấp chủ quyền Quả thật là có tranh chấp chủ quyền, nhưng đó là về quần đảo Hoàng Sa chứ không phải về khu vực đặt giàn khoan. Các yêu sách chủ quyền của Việt Nam chưa bao giờ căn cứ vào chuyện “gần gũi về mặt địa lý”, cho nên lập luận của Bateman về việc các nước có thể có chủ quyền cả với những cấu trúc địa lý nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của nước khác, là hoàn toàn chẳng ăn nhập gì. Còn về những ví dụ mà Bateman đưa ra, về việc có những đường phân định vùng đặc quyền kinh tế được thiết lập gần một quốc gia nào đó hơn hẳn quốc gia khác, thì thật ra lập luận này lại là có lợi cho Việt Nam chứ không phải cho Trung Quốc. Đó là bởi vì, nếu Hoàng Sa thuộc về Trung Quốc, thì các tiền lệ đàm phán và trọng tài về phân định vùng đặc quyền kinh tế đều ngả theo hướng ưu tiên đất liền (trong trường hợp này là Việt Nam) hơn là đảo, như đã trình bày ở trên. (Xem chú thích) Bateman coi thường yêu sách chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, thế nhưng các lập luận của ông lại rất yếu. Đúng là Bắc Việt đã im lặng, không phát biểu gì về vấn đề chủ quyền, nhưng theo luật pháp quốc tế, đó không phải là hành vi công nhận. Trong công hàm ngoại giao năm 1958 mà Bateman nhắc đến, Thủ tướng Bắc Việt lúc đó là ông Phạm Văn Đồng đã không đề cập gì tới Hoàng Sa hay Trường Sa. Thêm vào đó, miền Nam Việt Nam đã luôn luôn khẳng định và bảo vệ yêu sách chủ quyền của mình. Bateman viết, Hoa Kỳ đã công khai hoặc ngấm ngầm công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với một số hoặc tất cả các hòn đảo thuộc Hoàng Sa, nhưng ông không đưa ra được bằng chứng thuyết phục nào về việc này. Trên thực tế, Hoa Kỳ thậm chí còn không công nhận chủ quyền của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với lục địa Trung Hoa, cho mãi đến năm 1979. “Bằng chứng” duy nhất (mà Bateman đưa ra) là các hoạt động của quân Mỹ trong chiến tranh có thể đã bị ảnh hưởng nếu Bắc Việt chiếm được đảo Phú Lâm, nhưng Bateman cũng không giải thích được tại sao lại như vậy và cụ thể như thế nào, và ông ta bị nhầm lẫn giữa “chiếm đóng” và “có chủ quyền”. Trung Quốc nên tuân thủ UNCLOS Bên cạnh lập luận mấu chốt nêu trên, một quan điểm khác của Bateman, tuy không phải là chính, nhưng cũng có ý bênh vực Trung Quốc, là khi ông cho rằng Trung Quốc chỉ đang đòi quyền đánh bắt cá truyền thống cho các ngư dân của họ, trên gần như toàn bộ Biển Đông. Quan điểm này không đả động gì tới một thực tế gây tranh cãi, là Trung Quốc sử dụng lập luận “các quyền đánh bắt cá truyền thống” để đòi cả quyền khai thác dầu, mặc dù hai thứ quyền này đã được Tòa án Quốc tế (ICJ) phán quyết là chẳng liên quan gì, như trong vụ Lybia-Tunisia. Kết luận là, có quá nhiều sai lầm, thiếu sót, lập luận yếu và quan điểm không công bằng trong bài báo của Bateman nhằm bảo vệ luận điểm gây tranh cãi của ông ta, rằng Trung Quốc đang thực hiện đúng quyền của mình khi triển khai giàn khoan Haiyang 981 ở tọa độ hiện tại, hoặc Việt Nam nên đơn phương từ bỏ yêu sách chủ quyền đối với Hoàng Sa. Vụ giàn khoan Haiyang 981 là một trường hợp các yêu sách về vùng đặc quyền kinh tế bị chồng lấn. Điều 74 UNCLOS đã quy định về việc các bên tranh chấp phải giải quyết các vụ việc kiểu này như thế nào, và Điều 74 cũng đã được diễn giải, áp dụng trong phán quyết năm 2007 của Tòa Trọng tài Thường trực, trong tranh chấp Guyana-Suriname. TS. Bateman có thể có đóng góp tích cực hơn cho hòa bình và hợp tác bằng cách khuyến khích Trung Quốc chịu khó tuân theo các thủ tục giải quyết tranh chấp đã được cụ thể hóa trong UNCLOS. Nguồn: http://www.rsis.edu.sg/publications/Perspective/RSIS0992014.pdf Chú thích: Để hiểu cặn kẽ bài viết này và bút chiến “Dương Danh Huy và Phạm Quang Tuấn vs. Sam Bateman”, bạn đọc cần có một số kiến thức căn bản về luật pháp quốc tế liên quan đến biển đảo, như sau: Theo truyền thống, các đảo đều có nội thủy và lãnh hải bao quanh. (Như thế nào là đảo, thì dựa vào Điều 121 UNCLOS). Chiều rộng của lãnh hải, theo Điều 3 UNCLOS, không quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở. Nói cách khác, đường cơ sở là ranh giới bên trong của lãnh hải, từ đây tính thêm 12 hải lý thì ra đường ranh giới bên ngoài của lãnh hải. (Xem ảnh trên) Bên ngoài lãnh hải của một đảo, là tới vùng tiếp giáp, rồi vùng đặc quyền kinh tế (EEZ), và rộng nhất là thềm lục địa của đảo đó. (Một cấu trúc địa lý nếu không phải là đảo thì chỉ được có nội thủy và lãnh hải). Trong công pháp quốc tế liên quan đến xác định biên giới trên biển, từng có những án lệ theo đó, nếu so giữa bờ biển đất liền và đảo thì bờ biển đất liền có giá trị hơn là đảo trong việc phân định nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Lý do có thể là bởi các đảo đó quá nhỏ, không thích hợp cho con người ở… Áp dụng vào trong trường hợp Việt Nam hiện nay, theo TS. Dương Danh Huy và TS. Phạm Quang Tuấn: Giàn khoan nằm gần đảo Phú Lâm (103 hải lý) hơn là gần đất liền Việt Nam (120 hải lý). Tuy nhiên, xét về hiệu lực, đảo Phú Lâm chỉ có hệ số bằng 1/3 hoặc ít hơn nữa, so với (hiệu lực của) bờ biển đất liền Việt Nam. Do đó, nếu sử dụng làm cơ sở để phân định vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa… đất liền Việt Nam có giá trị hơn đảo Phú Lâm, và giàn khoan, ở vị trí hiện tại, phải bị coi là nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam (chứ không phải của Hoàng Sa, cho dù Hoàng Sa thuộc về Trung Quốc hay Việt Nam thì cũng vậy).

Đoan Trang dịch và chú thích
http://www.phamdoantrang.com/2014/05/chu-quyen-oi-voi-hoang-sa-ve-mot-bai.html?m=1

Posted in Articles | Để lại bình luận

KATYN – GIẢI MÃ BÍ ẨN LỊCH SỬ

Nguyễn Thị Mai Hoa

Trong những năm tháng tồn tại, Liên Xô đã có không ít bí mật, trong đó, có những bí mật có khả năng ảnh hưởng đến uy tín và an ninh quốc gia; vì thế, được che chắn, bảo vệ một cách hết sức cẩn trọng với nỗ lực của cả hệ thống chính trị. Chỉ sau khi Liên bang Cộng hòa XHCN Xô-viết sụp đổ, với độ lùi thời gian và dưới tác động của các yếu tố khách quan, chủ quan, những bí mật đó mới dần được hé lộ. Một trong những bí mật như vậy có tên gọi “Sự kiện bi thảm Katyn”.

1- Sự biến mất đầy bí ẩn của những tù binh Ba Lan

Cho đến mùa Hè năm 1939, I.V. Stalin có đầy đủ lý do để nghi ngờ Pháp và Anh không thực sự muốn liên minh quân sự với Liên Xô. Việc Ba Lan từ chối cho phép Hồng quân đóng trên đất Ba Lan trở thành trở ngại chính cho việc phòng thủ của Liên Xô; việc hình thành liên minh Nga-Anh-Pháp bảo vệ Ba Lan khó thành hiện thực… những diễn biến đó khiến lãnh đạo Liên Xô ngả sang đề nghị an ninh của Hitler. Ngày 23-08-1939, Ngoại trưởng V.M. Molotov đại diện cho Liên Xô và Ngoại trưởng J.V.Ribbentrop – đại diện cho nước Đức Quốc xã  ký kết Hiệp ước không xâm lược lẫn nhau (còn được biết đến dưới cái tên Molotov–Ribbentrop hay Hiệp ước Hitler-Stalin) kèm với một Nghị định thư bí mật. Ngoài việc cam kết kiềm chế không tấn công lẫn nhau và giữ thái độ trung lập trong trường hợp một trong hai bên trở thành mục tiêu những hành động quân sự của bên thứ ba bất kỳ, Liên Xô và Đức còn thống nhất phân vùng ảnh hưởng đối với các nước Phần Lan, Estonia, Latvia, Lithuania, Roman; đồng thời, thỏa thuận phân chia Ba Lan. Ngày 1-9-1939, Đức tấn công Ba Lan và ngày 17-9-1939, Hồng quân Liên Xô tiến vào miền Đông Ba Lan, việc phân chia lãnh thổ của Ba Lan giữa Liên Xô và Đức được hoàn thành – điều đó cũng có nghĩa là cần “thiết lập những trật tự nhất định” tại Ba Lan. Bắt đầu từ thời điểm đó, những sĩ quan Ba Lan bất hợp tác với Liên Xô, những cảnh sát, hiến binh, điệp viên, chủ xưởng, chủ đất, viên chức chính quyền cũ, thậm chí cả những người tị nạn, dân thường Ba Lan… được chuyển đến giam giữ tại các trại đặc biệt ở vùng Ostashkov, Kozielsk và Starobilsk (Liên Xô), song không được hưởng những quy chế Công ước Geneva đối với tù binh.

Một khoảng thời gian sau đó, những tù binh này bỗng bặt tin,“biến mất” một cách bí ẩn, thân nhân không còn nhận được tin tức của họ, thư từ, quà, bưu phẩm gửi cho các tù binh đều bị chuyển trả lại. Mọi nỗ lực tìm kiếm thông tin về các tù binh, về nơi họ bị giam giữ đều rơi vào vô vọng. Tháng 11-1941, trong dịp tiếp kiến I.V.Stalin, Đại sứ Ba Lan Stanislaw Kot đã hỏi về số phận những tù nhân Ba Lan, song I.V.Stalin lảng tránh trả lời bằng cách thay đổi chủ đề câu chuyện. Tháng 12-1941, một lần nữa,Tướng Wladislaw Anders – Tổng tư lệnh Quân đội Ba Lanquay trở lại vấn đề trên, song I.V.Stalin một mực khăng khăng: “Những tù binh Ba Lan đã được ân xá hết, có thể do những khó khăn về phương tiện giao thông, nên họ chưa thể về tới Ba Lan”[1]. Cho tới mùa Xuân năm 1942, số phận các tù nhân Ba Lan là chủ đề của nhiều cuộc thảo luận giữa chính phủ Liên Xô và Ba Lan. Nhiều lần, I.V.Stalin khẳng định dứt khoát: “Không có bất kỳ một người Ba Lan nào trong các nhà tù, trại tạm giam của Liên Xô, ngoại trừ những tù hình sự hoặc những tội phạm có dính líu đến phát-xít Đức”[2]. Thậm chí, có lần I.V.Stalin còn nói rằng, số tù binh này đã trốn thoát tới Mông Cổ[3](?!). Ngày 28-1-1942, Bộ trưởng Rachinsky thay mặt chính phủ Ba Lan trao cho Đại sứ Liên Xô Bogomolov Bản ghi nhớ về sự mất tích khó hiểu của hàng chục ngàn sĩ quanvà công dân Ba ​​Lan. Đáp lại, câu trả lời từ phía Liên Xô vẫn hết sức mập mờ, mâu thuẫn.

Sự biến mất phi lý của hàng chục ngàn con người khiến ngày càng có nhiều tổ chức kháng chiến Ba Lan vào cuộc. Các nỗ lực điều tra trở nên tích cực hơn từ năm 1943, có điều, chính quyền Xô-viết – từ đầu đến cuối – vẫn bác bỏ mọi giả thuyết về trách nhiệm và sự can dựcủa mình.

2- Những bí mật dần phát lộ

Năm 1943, quân đội Đức Quốc xã tìm thấy hàng loạtngôi mộ tập thể tại rừng Katyn (cách thành phố Smolensk 18 km về phía Tây) sau khi chiếm đóng khu vực này vàonăm 1941. Trong những ghi chép của mình, Bộ trưởng Tuyên truyền Đức J. Goebbels gọi sự kiện này là “món quà hiếm có của số phận”, “con át chủ bài”, đảm bảo cho một chiến dịch tuyên truyền nhiều mặt chống lại Liên Xô. Quả bom Katyn “đủ để gây ra một đòn đau đớn, đánh mạnh vào tâm tư, tình cảm của những người dân Ba Lan ủng hộ liên minh chống phát-xít, nổ tung vào mối liên kết lỏng lẻo giữa chính phủ Liên Xô và Ba Lan”[4].

Ngày 18-2-1943, người Đức bắt đầu đào các ngôi mộ tập thể, đến ngày 13-4-1943, có chừng 400 thi thể được khai quật. Cũng trong ngày 13-4-1943, Đài phát thanh Berlin đưa tin nước Đức tìm thấy hơn 10.000 thi thể các sĩ quan Ba Lan bị giết tại vùng  Katyn, khẳng định “đây chính là thi thể các sĩ quan Ba Lan bị Liên Xô bắt làm tù binh khi chiếm đóng miền Đông Ba Lan”[5]. Ngày 17-4-1943, chính phủ Ba Lan lưu vong ra Tuyên bố “lên án mọi tội ác chống lại các công dân Ba Lan”[6], yêu cầu chính phủ Liên Xô một lời giải thích về vụ việc này và đề nghịHội Chữ thập đỏ quốc tế tham gia làm rõ vấn đề. Ngày 21-4-1943, TASS ra Tuyên bố với lập trường cứng rắn: “Một chiến dịch chống Liên Xô bắt đầu trên báo chí Đức và Ba Lan – thực tế này cho thấy chiến dịch bôi nhọ Liên Xô được tiến hành bởi sự thỏa thuận bẩn thỉu với những kẻ xâm lược Đức”[7]. Trong một động thái quyết liệt hơn, lãnh đạo Liên Xô đã cảnh báo các đồng minh Anh và Mỹvề ý định cắt đứt quan hệ ngoại giao với chính phủ Ba Lan Sikorski, với lý do: “Thời gian gần đây, hành vi của Chính phủ Ba Lan đối với Liên Xô hoàn toàn bất thường, phá vỡ tất cả các quy tắc và chuẩn mực của quan hệ đồng minh. Chiến dịch vu khống chống Liên Xô được phát xít Đức đưa ra liên quan đến việc các sĩ quan Ba Lan bị giết trong khu vực Smolensk, trên lãnh thổ Đức chiếm đóng, lập tức được chính phủ  Ba Lan nắm lấy và thông tin rầm rộ trên báo chí (…). Tất cả những điều đó khiến chính phủ Liên Xô không thể không nhận thấy chính phủ Ba Lan đang đi vào con đường thông đồng với chính phủ Hitler, muốn chấm dứt quan hệ đồng minh và trở nên thù địch với Liên Xô”[8]. Quả thật, J. Goebbels đã dự đoán không sai, “quả bom chính trị Katyn” đã phát nổ, vấn đề Katyn trở thành một trong những “điểm đau đớn” trong quan hệ Liên Xô – Ba Lan không chỉ tại thời điểm đó, mà còn mãi về sau này.

Với mục tiêu hạ uy tín và tuyên truyền về sự tàn bạo của Liên Xô đối với tù binh, ngày 16-4-1943, phía Đức mời Hội Chữ thập đỏ quốc tế và đại diện một số tổ chức xã hội Ba Lan trong vùng bị phát-xít Đức chiếm đóng đến tham dự việc khai quật và khám nghiệm tử thi tại 8 ngôi mộ tập thể. Trong số các xác chết được khai quật, người ta tìm thấy tử thi hai vị tướng Ba Lan Bronisław Bohatyrewicz và Mieczysław Smorawiński. Từ ngày 15-4 đến ngày 15-6-1943, tổng cộng hơn 4.100 xác chết được khai quật; 2.800 tử thi được nhận dạng[9]. Công việc thu thập tư liệu và nhận dạng tử thi được tiến hành một cách khoa học, chú trọng luận giải cách thức và loại hình hung khí thực hiện thảm sát. Đã thu thập được nhiều luận cứ chứng minh cho sự vô tội của người Đức: Những thư từ còn lại trongthi thể các nạn nhân đều có thời gian dừng lại ở năm 1940; tuổi của những cây cối mọc trên mộ, các chỉ số đo đạc phân tử canxi trên hộp sọ tử thi… đều cho chung một kết quả về thời điểm của vụ thảm sát – năm 1940, khi mà người Đức chưa có mặt ở vùng này.

Ngày 3-6-1943, việc khai quật bị dừng lại do diễn biến chiến sự, nhưng những phân tích, kết luận của toàn bộ quá trình đã được nước Đức kịp xuất bản thành “Tập tài liệu chính thức về vụ thảm sát tại Katyn” (Amtliches Material zum Massenmord von Katyn, Berlin, 1943), khẳng định Liên Xô phải chịu hoàn toàn tránh nhiệm về cái chết của 11.000 tù nhân Ba Lan[10]. Tài liệu này được dịch ra hầu hết các ngôn ngữ châu Âu, lưu hành trên các vùng Đức chiếm đóng và ở các nước đồng minh của Đức.

Sau khi Hồng quân tiến vào vùng Smolensk và đẩy lùi quân đội Đức, Liên Xô thành lập một Ủy ban đặc biệt điều tra tội ác của quân đội phát-xít Đức trong rừng Katyn. Tháng 1-1944, Ủy ban này công bố một loạt “chứng cứ” chứng minh vụ thảm sát Katyn là do quân đội Đức gây ra. Năm 1945, I.V. Stalin quyết định tháo “nút thắt Katyn” bằng cách đưa vụ thảm sát ra Toà án Quân sự tại Nürnberg. Công tố viên Liên Xô, Tướng R.A. Rudenco đã buộc tội phát xít Đức thảm sát 11.000 tù binh Ba Lan tại Katyn; tuy nhiên, Toà án Quân sự tại Nürnberg đã không đi đến một phán xét chung cuộc, vì phía Liên Xô không đưa ra được những bằng chứng thuyết phục. Ngày 22-12-1955, sau nhiều nỗ lực vận động của cộng đồng người Ba Lan tại Mỹ, một Ủy ban của Thượng viện Hoa Kỳ đề nghị chính phủ Hoa Kỳ đưa vụ Katyn lên Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc và buộc tội Liên Xô trước Tòa án Quốc tế(International Court of Justice) tại Netherlands, song đề nghị này không được chính phủ Mỹ chấp thuận.

Năm 1953, I.V. Stalin chết, bắt đầu “thời kỳ tan băngKhrushchev”, thắp lên hy vọng về một kỷ nguyên mới trong quan hệ quốc tế giữa các nước xã hội chủ nghĩa, song để đảm bảo “sự thống nhất và đoàn kết”, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô N. Khrushchev đã không vượt qua “phương pháp áp lực trực tiếp” đối với nước láng giềng Ba Lan; vì thế, “vấn đề Katyn” không thể khêu lên.Phục vụ mục tiêu nói trên, cuối những năm 50 (XX), dưới chỉ đạo của N. Khrushchev, A.Shlepin[11] đã bí mật nghiên cứu hồ sơ vụ Katyn. Ngày 3-03-1959, A.Shlepin đệ trình Văn bản N-632-SH (Н-632-Ш), kiến nghị tiêu huỷ 21.857 cặp tài liệu về các nạn nhân Katyn – những tài liệu như A.Shlepin giải thích, chẳng những “không có bất kỳ ý nghĩa thực tiễn cũng như giá trị lịch sử đối với chính phủ Liên Xô (…) và có lẽ chúng cũng không phải là mối quan tâm thực sự đối với những bạn bè Ba Lan”[12]; trái lại, nếu ngẫu nhiên bị phát hiện, “có thể dẫn đến những hậu quả vô cùng bất lợi cho Nhà nước Xô-viết”[13]. A. Shlepin đề nghị giữ lại những hồ sơ quan trọng nhất: “Biên bản cuộc họp Troika[14] NKVD đồng ý xử bắn tù binh Ba Lan và những văn bản thực hiện quyết định đó. Do khối lượng của các tài liệu này không đáng kể, nên có thể lưu trữ chúng trong một cái cặp đặc biệt (…) phòng trường hợp phát sinh những chất vấn từ Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô hoặc chính phủ Liên Xô”[15]. Ngay sau đó, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đã chuẩn y đề nghị của A. Shlepin, chỉ giữ lại những hồ sơ quan trọng, được tập hợp thành một bộ “Hồ sơ đặc biệt № 1”. “Hồ sơ đặc biệt № 1” được bảo quản theo chế độ tuyệt mật và chỉ những người lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Liên Xô mới có quyền tiếp cận.

Trong những năm 1971-1976, một số nước phương Tây (đặc biệt là nước Anh) liên tục đòi làm sáng tỏ vụ việc Katyn, đề nghị đưa ra Tòa án Quốc tế tại Netherlands. Phản ứng với “chiến dịch chống đối, bôi nhọ Nhà nước Xô viết dựa trên việc bóp méo sự thật lịch sử về các thủ phạm thực sự của thảm kịch Katyn, nhằm làm căng thẳng tình hình quốc tế”[16] – như Liên Xô nhiều lần khẳng định, năm 1978, Liên Xô dựng bia tưởng nhớ nạn nhân tại Katyn với dòng chữ: “Nạn nhân của chủ nghĩa phát xít – những sĩ quan Ba Lan bị bắn chết bởi quân đội Hitler năm 1941”.

Cho đến trước khi Liên Xô thực hiện cải cách (perestroika) năm 1986, “câu chuyện Katyn” vẫn là điều húy kị, nhạy cảm, bị nghiêm cấm nhắc tới trong các tranh luận xã hội với lý do “ảnh hưởng tiêu cực đến tình cảm dân tộc và tình hữu nghị Liên Xô-Ba Lan (…) gây nên những “vết đen” trong quan hệ hai nước”[17].

Tiến hành “perestroika”, thực hiện “glasnost”, với “người đồng minh Ba Lan”, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô M. Gorbachev đặt mục tiêu “phát triển quan hệ chặt chẽ, vững chắc, đoàn kết, hỗ trợ lẫn nhau nhằm cùng tiến hành cải cách một cách tối ưu”[18]. Trong tiến trình thắt chặt toàn diện quan hệ Liên Xô – Ba Lan, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô M. Gorbachev và Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Ba Lan W.Jaruzelski ký Hiệp định về hợp tác Liên Xô – Ba Lan trong lĩnh vực tư tưởng, văn hóa và khoa học (1986); theo đó, hai bên “chú trọng cùng nghiên cứu lịch sử quan hệ giữa hai nước, hai Đảng, hai dân tộc, không để tồn tại “những vết đen” trong lịch sử hai nước, nhằm tăng cường tình đoàn kết, chống lại những luận điệu chia rẽ”[19]. Trên quan điểm “không để lịch sử đốt lên hận thù dân tộc”, W.Jaruzelski bày tỏ mong muốn “những trang sử quan hệ Liên Xô – Ba Lan phải được nhìn nhận một cách thực sự cởi mở và trung thực”[20]. Tiếp nối dòng chảy sự kiện, ngày 19-5-1987, tại Moscow diễn ra phiên họp toàn thể đầu tiên Ủy ban Liên Xô – Ba Lan về lịch sử quan hệ song phương, “vấn đềKatyn” được đưa vào chương trình nghị sự, song những nghiên cứu về sự kiện này diễn tiến khá trì trệ, “bí mật Katyn” được khai lộ một cách chậm chạp, bị chi phối bởi tư tưởng giáo điều, bởi các yếu tố chính trị trong nội bộ mỗi nước và trong quan hệ Liên Xô – Ba Lan. Đến ngày 13-4-1990, sau rất nhiều chần chừ, một số tư liệu lưu trữ liên quan đến sự kiện Katyn mới được chuyển giao cho Tổng thống W.Jaruzelski nhân chuyến thăm Liên Xô. Ngày 13-4-1990, TASS ra Tuyên bố chính thức thừa nhận trách nhiệm của Liên Xô trong “thảm kịch Katyn”[21], nói rõ: “Tài liệu tìm thấy trong kho lưu trữ cho phép kết luận về vai trò, trách nhiệm của Beria, Merkulov và các đồng sự”[22]. TASS đồng thời bày tỏ sự hối tiếc sâu sắc về sự kiện bi thảm Katyn, gọi đó là “một trong những tội ác khủng khiếp nhất của chủ nghĩa Stalin”[23].

Tháng 6-1991, B. Yeltsin trở thành Tổng thống Liên bang Nga và ngay lập tức đã nhận thấy “vấn đề Katyn” – vào thời điểm đó – có thể có lợi cho những diễn biến chính trị nội bộ của nước Nga liên quan đến việc xóa bỏ Điều 6 trong Hiến pháp về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đặt Đảng Cộng sản Liên Xô ra ngoài vòng pháp luật[24]. “Hồ sơ Katyn” chính là một chứng cứ thuyết phục choB.Yeltsin “luận tội” chủ nghĩa Stalin và Đảng Cộng sản Liên Xô. Nhằm chứng minh cho tính bất hợp pháp củaĐảng Cộng sản Liên Xô, theo lệnh của B.Yeltsin, kho lưu trữ tư liệu Đảng Cộng sản Liên Xô được mở, hơn 6.000 các tài liệu tuyệt mật được giải mã, kể cả bộ sưu tập tài liệu về vụ thảm sát Katyn[25]. Ngày 24-9-1992, “Hồ sơ đặc biệt № 1” được mở ra và trước tính chất nghiêm trọng của nó, Tổng thống B.Yeltsin đã có một quyết định nhanh chóng: Lệnh chuyển ngay lập tức toàn bộ những tài liệu “chết người” này cho Ba Lan; đồng thời, chuyển một bản sao đến Tòa án Hiến pháp và Viện kiểm sát tối cao[26].Ngày 14-10-1992, “Hồ sơ đặc biệt № 1” được đại diện chính phủ Nga trao cho Tổng thống Ba Lan Walesa và nội dung của nó nhanh chóng được công bố trước công luận Ba Lan. Sau sự kiện này, ngày 15-10-1992, trả lời phỏng vấn của Đài truyền hình Ba Lan, B.Yeltsin “hào hứng nói về những tội ác khủng khiếp của chủ nghĩa Stalin, bày tỏ hy vọng rằng nó sẽ không còn là điểm nghẽn trong quan hệ song phương Nga – Ba Lan”[27].

3- Toàn cảnh sự kiện

Những diễn giải trên đây cho thấy, đến trước năm 1992, trên các văn bản chính thức của Liên Xô, kẻ bị buộc tội gây ra vụ thảm sát Katyn là quân đội Đức Quốc xã. Chỉ đến năm 1992 (khi Liên bang Cộng hòa XHCN Xô-viết sụp đổ một năm), sau rất nhiều toan tính chính trị, Liên bang Nga mới công bố những tài liệu trong bộ “Hồ sơ đặc biệt № 1” về vụ thảm sát Katyn[28]. Giải mã bộ Hồ sơ, câu chuyện về vụ thảm sát Katyn được hình dung như sau:

Ngày 3-3-1940, L.Beria[29] gửi đến Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô (b) Văn bản 794/B[30], báo cáo: “Trong các trại giam và trại tạm giam ở phía Tây Ucraina và Tây Belaruxia hiện đang giam giữ một số lượng lớn các sĩ quan cũ của quân đội Ba Lan, cảnh sát Ba Lan, các nhân viên tình báo, thành viên các tổ chức phản cách mạng, người tị nạn, lực lượng nổi dậy và một số người khác (…) tất cả bọn họ đều là kẻ thù truyền kiếp, chứa đầy thù hận với chính quyền Xô viết”[31]. L.Beria khẳng định: “Những tù binh này dù đang bị giam giữ song vẫn cố gắng, nỗ lực tiếp tục tuyên truyền chống Liên Xô và chỉ chờ được phóng thích là sẵn sàng tích cực tham gia vào cuộc chiến chống lại chế độ Xô viết”[32]. L.Beria thống kê: “Trong các trại giam tù binh chiến tranh hiện giam giữ tổng cộng (không tính các binh sĩ và hạ sĩ quan) 14.700[33] tù binh người Ba Lan gồm các quan chức của bộ máy chính phủ, các chủ đất, cảnh sát, điệp viên, hiến binh, cai ngục; trong số đó, 97% mang quốc tịch Ba Lan (…). Ở trại giam ở vùng miền Tây Ukraina vàBelorusia có tổng cộng 18.632[34] người bị bắt giữ (trong đó có 10.685 người Ba Lan”[35]. Sau khi kết luận rằng, “xuất phát từ thực tế bọn họ đều là những kẻ thù sắt đá không đội trời chung với chính quyền Xô-viết, không có khả năng cải hóa”, L.Beria đề nghị “giao cho NKVD xem xét, giải quyết, xử lý toàn bộ 14,700 trường hợp tù binh Ba Lan và 11.000 trường hợp tù binh tại các nhà tù phía Tây Ukraine và Tây Belorussia bằng các thể thức đặc biệt với hình thức trừng phạt cao nhất (…), không cần bất kỳ một cuộc hỏi cung, xét xử, luận tội và kết án chính thức”[36]. L.Beria đề cử giao cho L.Beria, V.Merkulov và L.Bashtakovthực hiện quyết định nêu trên[37].

Xem xét đề nghị của L.Beria, ngày 5-3-1940, một số thành viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô (b) biểu quyết thông qua Quyết định No.13/144 (gồmI.V.Stalin, K.Voroshilov, V. Molotov và A.Mikoyan[38], kèm ghi chú: M.Kalinin – đồng ý; L.Kaganovich – đồng ý)[39],chuẩn y đề nghị của L.Beria xử bắn toàn bộ số tù binh Ba Lan đang bị giam giữ; giao trách nhiệm hoàn tất công việc cho “bộ ba” V.Merkulov, B.Kobulov và  L.Bashtako[40].

Ngày 22-03-1940, L. Beria ký Sắc lệnh No. 00350, “Về việc sơ tán các nhà tù của Cộng hòa XHCN Ukraina và Cộng hòa XHCN Belorusia”, chỉ đạo thực hiện một kế hoạch thảm sát lớn nhất và ghê rợn nhất lịch sử thế giới thế kỷ XX, mang mật danh “Chiến dịch giảm tải trại tù[41].

Chưa đầy một tháng sau quyết định nói trên, các công việc chuẩn bị cho cuộc thủ tiêu tù bình Ba Lan được xúc tiến khẩn trương. NKVD lên kế hoạch vận chuyển tù nhân đến chỗ xử bắn: Các tù nhân đang bị giam giữ tại vùng phía Tây Ukraina được chuyển tới Kharkov, Kherson và Kiev, các tù nhân ở Belorusia được chuyển về Minsk, còn các tù nhân ở Ostashkov được chuyển tới Kalinin. Ở làng Mednoye, không xa Kalinin, các máy xúc bắt đầu đào những chiếc hố lớn.

Đầu tháng 4-1940, những chuyến xe chở tù nhân bắt đầu lăn bánh, mỗi đợt, vận chuyển khoảng từ 350-400 tù nhân. Các tù nhân không hay biết mình đang bị đem đến chỗ chết, thậm chí nhiều người còn vui mừng ngỡ rằng sẽ được trả tự do. Ghi chép của một tù nhân – Thiếu tá Solxki Adam (được chuyển đi từ trại Kozelski ngày 7-4-1940) về những giây phút thương tâm cuối cùng đã nói lên điều đó:

Ngày 20-4. 12 giờ, chúng tôi đang ở phía TâySmolensk. Ngày 21-4. Chúng tôi bị đánh thức, được đưa lên những chiếc xe ôtô và được mang đi đâu đó. Ngay từ buổi sáng, mọi việc đã có vẻ bất thường (…). Chúng tôi được đưa tới một khu rừng giống như khu nghỉ dưỡng mùa hè, bị lục soát một cách kỹ lưỡng, bị tịch thu nhẫn cưới, thắt lưng, dao nhíp, đồng hồ – lúc đó đồng hồ đang chỉ 6h30 phút sáng[42].

“Đồng hồ dừng lại ở 6h30 phút sáng” – những “bản án” được thực hiện một cách lạnh lùng. Các tù nhân ởKharkov và Kalinin bị bắn ngay trong nhà tù. Tại Katyn, tù nhân bị dẫn đến trước những hố to đã đào sẵn và bị bắn vào đầu ở cự ly gần bằng những khẩu súng lục, chủ yếu là súng Đức – “Walter” và “Browning” (đó cũng là một trong những cơ sở để sau này Liên Xô đổ lỗi cho quân đội Đức là thủ phạm).

Vụ xử bắn tù nhân kéo dài đến giữa tháng 5-1940 và diễn một cách suôi sẻ: Tại khu rừng gần làng Katyn cũng như trong một số trại giam trên đất nước Liên Xô, chỉ trong vài tuần đã có gần 22.000 tù nhân – công dân Ba Lan bị giết chết theo lệnh của Ủy ban Nhân dân Nội vụ. Sau khi “Chiến dịch giảm tải trại tù” kết thúc, “đã xử bắn 21.857 người; trong đó: 4.421 bị bắn tại Katyn (vùngSmolensk), 3.820 người bị bắn tại trại Starobelsk gầnKharkov, 6.311 người bị bắn tại trại Ostashkov (vùngKalinin), 7.305 người bị bắn chết trong các nhà tù phía Tây Ukraine và Tây Belorusia”[43].

Vụ thảm sát không chỉ diễn ra ở Katyn, nhưng thuật ngữ “Thảm sát Katyn” được gọi chung cho việc giết hại các tù nhân Ba Lan (đa phần là tầng lớp tinh hoa, sĩ quan từ cấp tá trở lên) vì vụ nổ súng tại làng Katyn xảy ra trước nhất. Sau đó, việc sát hại 7.000 người (trong số đó có 1.000 sĩ quan cao cấp Ba Lan) bị Liên Xô giam giữ trong các nhà tù ở miền Tây Ukraina và Belorusia cũng được gắn với cái tên “Thảm sát Katyn”.

4- Câu chuyện chưa kết thúc

Sau rất nhiều nỗ lực và biến động chính trị, cuối cùng, sự thật về một thảm kịch khủng khiếp trong lịch sử cũng đã dần phơi tỏ. Tại nước Nga, năm 1993, tư liệu Hồ sơ Katyn được đăng tải trên Tạp chí khoa học “Câu hỏi của lịch sử” (Вопросы истории); đồng thời, Nhà nước Ngatạo điều kiện cho các nhà khoa học nghiên cứu Hồ sơ[44]. Cũng từ thời điểm đó, các nhà khoa học Nga và Ba Lan nỗ lực điều tra, làm rõ nhiều vấn đề xung quanh vụ thảm sát Katyn. Tháng 8-1993, những kết quả điều tra ban đầu được công bố trong công trình “Nước Nga và Katyn” (Nxb. Karta, Ủy ban Khoa học toàn Ba Lan tài trợ)[45]. Năm 1995, các nhà khoa học Liên bang Nga và Ba Lan xuất bản ấn phẩm “Katyn: Tư liệu tội ác[46]. Năm 1999, toàn bộ những tư liệu quan trọng tiếp tục được công bố trong cuốn “Katyn: Những tù binh của cuộc chiến không tuyên bố. Hồ sơ và tư liệu”[47].

Những năm 1990-2004, Viện Kiểm sát quân sự tối cao Liên Xô (từ năm 1992 là Viện Kiểm sát quân sự tối cao Liên bang Nga) thực hiện nhiệm vụ điều tra thảm họaKatyn; trong quá trình đó, Viện Công tố đã tiến hành 18 cuộc khảo sát, nghiên cứu hơn 1.000 đối tượng, khai quật 200 thi thể và phỏng vấn hơn 9.000 nhân chứng[48]. Kết quả điều tra được lưu giữ trong 183 tập hồ sơ, song chỉ có 116 tập được công bố đầy đủ. Ngày 11-3-2005, Viện Kiểm sát Quân sự tối cao Liên bang Nga chính thức tuyên bốchấm dứt điều tra, xem vụ Katyn là tội phạm thông thường, “không đủ cơ sở để coi vụ thảm sát ở Katyn là diệt chủng” vì tính chất của nó không nhằm vào sự phân biệt đối xử với người dân Ba Lan và đã quá thời hạn hiệu lực hồi tố[49]. Ngày 10-4-2010, nguyên Tổng thống Ba Lan Lech Kaczynski cùng phu nhân và 94 quan chức đã tử nạn bởi một tai nạn máy bay ở Smolensk, khi thực hiện chuyến công du dự lễ tưởng niệm Katyn. Trong một động thái chia sẻ nỗi đau vì cái chết của Tổng thống Ba Lan và Đoàn quan chức tháp tùng, ngày 8-5-2010, Tổng thống Nga D.Medvedev trao cho người đồng cấp Ba Lan B. Komorowski 67 tập tài liệu mật về vụ thảm sát Katyn, hứa sẽ trao tiếp tài liệu và những thông tin liên quan. Năm 2010, trong Lễ kỷ niệm 65 năm chiến thắng phát-xít, Tổng thống Nga D.Medvedev đã nhắc đến “tội ác Katyn”, gọi đây là một “trang đen tối của lịch sử”.

Ngày 25-11-2010, với tỉ lệ ủng hộ là 342/450, Quốc hội Liên bang Nga bỏ phiếu thừa nhận vụ thảm sát hàng chục ngàn công dân và sĩ quan Ba Lan là do lực lượng công an Liên Xô thi hành[50]. Quyết định của Quốc hội Nga được người dân Ba Lan đánh giá cao, coi “Nghị quyết lịch sử” này không chỉ quan trọng đối với người Ba Lan, mà còn đối với quan hệ Nga – Ba Lan, cũng như với bản thân người Nga.

Ngày 21-10-2013, tương tự như trong phán quyết cấp sơ thẩm năm 2012, trong một phán quyết chung cuộc về vụ thảm sát Katyn, Tòa án Nhân quyền châu Âu (trụ sở tại Strasbourg) tuyên bố không có thẩm quyền phán quyết về các trường hợp giết người “xảy ra 58 năm trước khi Công ước Châu Âu về nhân quyền có hiệu lực tại Nga từ năm 1998”[51]. Tuy nhiên, 17 thẩm phán của thuộc Đoàn thẩm phán tối cao Tòa án Nhân quyền châu Âu đã phê phán Nga về tội “thiếu tường trình tích cực” đối với số phận các tù nhân Ba Lan tại Katyn bị Liên Xô tử hình vào năm 1940; nhất trí lên án: “Nga thiếu sót trong nghĩa vụ hợp tác với Toà án Châu Âu, miễn cưỡng trong việc cung cấp đầy đủ các chứng cứ cho việc xem xét vụ án”[52].

Nhìn chung, người dân Ba Lan không hài lòng và không thỏa mãn với những tuyên bố của Viện Kiểm sátquân sự tối cao Liên Xô cũng như Tòa án Nhân quyền châu Âu. Phía Ba Lan trước sau nhất quán quan điểm: Vì tính chất giết người hàng loạt, những cuộc thảm sát này thích hợp để quy vào tội ác chống nhân loại; mong muốn nước Nga “có những cử chỉ thiện chí và chân thành hơn”, chính thức xin lỗi và bồi thường cho gia đình các nạn nhân.

Có thể thấy rằng, Nhà nước Liên bang Nga chỉ dừng lại ở mức độ công nhận vụ thảm sát Katyn là lỗi của “chế độ toàn trị Stalin”, không muốn đi xa hơn điều đó. Mặc dù thừa nhận “đây là tội ác không có lời bào chữa”, song Nhà nước Liên bang Nga tìm cách lý giải làm nhẹ bớt vấn đề[53], chỉ dừng lại ở những việc như giải mật hồ sơ, công bố sự thật, thừa nhận là tội ác của “chế độ toàn trị Stalin”…, coi đó như là những hành động mang tính thực tế (đã thừa nhận).

Vẫn chưa có một kết cục cuối cùng cho “vấn đề Katyn” – một kết cục vừa có thể xoa dịu nỗi đau, chữa lành nỗi ám ảnh của thân nhân những người bị thảm sát, lại vừa có thể thỏa mãn được nước Nga hiện đại đang có những tranh luận khác nhau về quá khứ, nhằm cổ vũ cho những giá trị trường tồn, khơi dạy lòng tự hào dân tộc, phục vụ mục tiêu chấn hưng đất nước, khôi phục vị thế cường quốc[54].

Có lẽ, không có cách nào khác hơn để chia tay với nỗi đau bằng cách dũng cảm nhìn nhận/thừa nhận nó. Và trên hết, không thể đầu cơ lịch sử! Với quá khứ, với lịch sử, luôn cần sự thẳng thắn, công tâmtrung thực.


[1] Катынь. Март 1940 г. – сентябрь 2000 г. Расстрел. Судьбы живых. Эхо Катыни. Документы. М., 2001, С. 387.

[2] Катынь. Март 1940 г. – сентябрь 2000 г. Указ. Соч, С.388.

[3] Развитие польско-советских отношений после событий под Катынью, Библиотека иследователям Катынского дела, РФ.

[4] Бабий Яр под Катынью? // Военно-исторический журнал. 1990. № 12. С. 35.

[5] Катынь, Библиотека иследователям Катынского дела, РФ.

[6] Е. Прудникова, И. Чигирин: Катынь. Ложь, ставшая историей,Библиотека иследователям Катынского дела,РФ.

[7] Катынь. Март 1940 г. – сентябрь 2000 г. Указ. Соч, С. 455.

[8] Катынь. Март 1940 г. – сентябрь 2000 г. Указ. Соч, С. 455-456.

[9] Расследование Катынской трагедии немецкой комиссией, Библиотека иследователям Катынского дела, РФ.

[10] Выписка из протокола 3-огo заседания Политбюро ЦК КПСС от 5 апреля 1976 год, АПРФ по катынскому делу

[11] Người đứng đầu KGB từ tháng 12-1958 đến tháng 11-1961.

[12] Pукописная записка председателя КГБ при СМ СССР А.Н. Шелепина от 3 марта 1959 г. № 632-Ш, Закрытый пакет документов о катынском деле, РГАСПИ, Ф. 17, оп. 166, д.621,Л.139.

[13] Pукописная записка председателя КГБ при СМ СССР А.Н. Шелепина от 3 марта 1959 г, Указ. Соч. Л.139

[14] Troika NKVD là một Ủy ban đặc biệt gồm ba người: Bí thư thứ nhất BCH Trung ương Đảng; Chủ tịch NKVD, Công tố viên trưởng Viện kiểm sát liên bang Tối cao. Ủy ban này có trong tay siêu quyền lực, xử lý những vấn đề về an ninh không cần qua tiến trình xét xử theo luật pháp.

[15] Pукописная записка председателя КГБ при СМ СССР А.Н. Шелепина от 3 марта 1959 г, Указ. Соч. Л.139

[16] Выписка из протокола 3-огo заседания Политбюро ЦК КПСС от 5 апреля 1976 год, Указ. Соч.

[17] Медведев В.А. Распад: Как он назревал в “мировой системе социализма”. М., 1994. С. 96.

[18]И. Яжборовская, А. Яблоков, B. Парсаданова: Катынский синдром в советско-польских и российско-польских отношениях, Указ. Соч.

[19] Декларация о советско-польском сотрудничестве в области идеологии, науки и культуры. М., 1987. С.9.

[20] Декларация о советско-польском сотрудничестве в области идеологии, науки и культуры, Указ. Соч. С. 10.

[21] Признание советскими властями ответственности за Катынскую трагедию, Библиотека иследователям Катынского дела, РФ.

[22] Признание советскими властями ответственности за Катынскую трагедию, Указ. Соч.

[23] Tuy thừa nhận trách nhiệm của Liên Xô trong vụ thảm sát Katyn, nhưng trong Sắc lệnh “Về kết quả củachuyến thăm Liên Xô của Bộ trưởng Ngoại giao nước Cộng hòa Ba Lan Skubiszewski” (3-11-1990), tại Điều 9,Gorbachev chỉ thị Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô dưới sự hỗ trợ của Tòa án Tối cao, Bộ Quốc phòng và các cơ quan hữu quan khác, nghiên cứu, làm rõ “những sự kiện lịch sử trong quan hệ song phương Liên Xô – Ba Lan, mà phía Ba Lan có gây tổn hại cho Liên Xô. Kết quả đó, trong những trường hợp cần thiết, có thể đem ra trong các cuộc hội đàm về những “vết đen” trong quan hệ hai nước” (Nguồn:Расположение  Президентa Союза Советских Социалистических Республик, 3 ноября 1990 г, №РП-979, АПРФ по катынскому делу).

[24] Này 20-7-1991, Yeltsin ban bố Sắc lệnh phi đảng hóa và tuyên bố nghiêm cấm hoạt động của các chính đảng trong cơ quan nhà nước các cấp, cũng như các đoàn thể quần chúng và doanh nghiệp cơ sở, chĩa mũi dùi vào Đảng Cộng sản Liên Xô, dẫn đến sự sụp đổ của Đảng CS Liên Xô và sự giải thế của Liên Xô.

[25] Центр хранения современной документации, Ф. 89. Оп. 14. Д. 1-20.

[26] Секреты пакета № 1. С. 38.

[27] И. Яжборовская, А. Яблоков, B. Парсаданова: Катынский синдром в советско-польских и российско-польских отношениях, Указ. Соч.

[28] Главная военная прокуратура, Уголовное дело № 159. Т. 115. Л. 4-29, 45-78.

[29] Phụ trách bộ máy an ninh quốc gia và cảnh sát mật Liên Xô những năm1946–1953.

[30] No 794/Б, đóng dấu của Ủy ban Nhân dân Nội vụ Liên Xô – NKVD (tiếng Nga:НКВД).

[31]Записка НКВД СССР № 794/B, о польских военнопленных, подписанная Л. П. Берия, Закрытый пакет документов о катынском деле, РГАСПИ, Ф. 17, оп. 166, д.621, Лист 130-133.

[32]Записка НКВД СССР № 794/B, о польских военнопленных, подписанная Л. П. Берия, Указ. Соч, Л. 130..

[33] L.Beria đưa ra con số thống kê cụ thể về thành phần14.700 tù binh người Ba Lan: Cấp tướng, đại tá và trung tá: 295; thiếu tá, đại úy: 2.080; thượng úy, trung úy, thiếu úy: 6049; cảnh sát, hiến binh, lính biên phòng: 1.030; cảnh vệ, dân binh, điệp viên, cai ngục: 5.138; chức sắc, chủ đất, linh mục, người nhập cư: 144 (Nguồn:Записка Л.Берии И. В. Сталину (3-3-1940), № 794/Б, АПРФ, ф. 3. Закрытый пакет № 1, Л.131).

[34] L.Beria thống kê cụ thể về thành phần 18.632 tù binh như sau: Sĩ quan cũ: 1.207; cảnh sát, trinh sát, hiến binh:5.141; điệp viên, biệt kích: 347; chủ đất, chủ xưởng, quan chức: 465; thành viên các tổ chức nổi dậy và các thành phần khác: 5.345; người tị nạn: 6.127 (Nguồn: Записка Л.Берии И. В. Сталину (3-3-1940), № 794/Б, АПРФ, ф. 3. Закрытый пакет № 1, Указ. Соч, Л. 131).

[35] Записка Л.Берии И. В. Сталину (3-3-1940), № 794/Б, АПРФ, ф. 3. Закрытый пакет № 1, Указ. Соч. Л.133.

[36] Записка Л.Берии И. В. Сталину (3-3-1940), № 794/Б, АПРФ, ф. 3. Закрытый пакет № 1, Указ. Соч. Л..132.

[37] Записка Л.Берии И. В. Сталину (3-3-1940), № 794/Б, АПРФ, ф. 3. Закрытый пакет № 1, Указ. Соч. Л..133.

[38] Trong cuốn sách: “Stalin: The Court of the Red Tsar” (Nxb. Vintage, 2005), tác giả Simon Sebag Montefiore có chú giải: Con trai của Mikoyan là Stepan nói rằng, chữ ký của cha mình trên tờ Quyết định này là “gánh nặng nặng nhất đối với gia đình của chúng tôi” (p.94).

[39] Выписка из протокола № 13 пункт 144 заседания Политбюро ЦК ВКП(б), № П13/144 , 5 марта 1940 (В книгеКатынь:Пленники необъявленной войны”, Под редакцией Р.Г.Пихои, А.Гейштора, М. 1999), C.606.

[40] Выписка из протокола №13 заседания Политбюро ЦК ВКП(б) “Особая папка” от 5 марта 1940 г, No.13/144,Указ. Соч, Л.134.

[41] Còn được dịch là: “Chiến dịch sơ tán nhà tù và trại giam”.

[42] Катынский расстрел — официальные сведения и версии, Библиотека иследователям Катынского дела, РФ.

[43] Pукописная записка председателя КГБ при СМ СССР А.Н. Шелепина от 3 марта 1959 г. №632-Ш, Закрытый пакет документов о катынском деле, РГАСПИ, Ф. 17, оп. 166, д.621,Л.138.

[44] Секретные документы из особых папок / Подготовка публикации и вступительная статья к ней М.И. Семиряги // Вопросы истории. 1993. № 1. С.7-22

[45] Orzeczenie Komisji ekspertów. Moskwa, 2 sierpnia 1993 // Rosja a Katyn. W-wa, 1994.

[46] Katyn. Dokumenty zbrodni. T. 1. Jeńcy nie wypowiedzianej wojny. Sierpień 1939 — marzec 1940. W-wa, 1995; T. 2. Zagłada. Marzec-czerwiec 1940. W-wa, 1998; Катынь: Пленники необъявленной войны.

[47]Катынь. Пленники необъявленной войны.Документы и материалы, Под редакцией Р.Г.Пихои, А.Гейштора, М. 1999.

[48] Расследование Катынского убийства Главной военной прокуратурой СССР, Библиотека иследователям Катынского дела, РФ.

[49] Trong việc đánh giá sự kiện Katyn năm 1940, phía Nga cho rằng phải xuất phát từ Bộ Luật Hình sự Liên Xô năm 1926, theo đó, thời hạn hiệu lực của những hành vi phạm tội như ở Katyn được xác định là 10 năm, đó là chưa kể đến chuyện các thủ phạm của vụ thảm sát đều đã qua đời (Nguồn: Nhân tai nạn của vợ chồng tổng thống Ba Lan: công lý trong vụ thảm sát Katyn đã được tái lập? Nhịp Cầu Thế Giới Online, 14-4-2010)

[50] Mỹ Loan: Nga thừa nhận Stalin ra lệnh thảm sát Katyn, Tuổi trẻ Online, 28-11-2010.

[51] Европейский суд по правам человека поставил точку в “катынском деле”: Россия оправдана, Politikus.ru, 21-10-2013.

[52] Европейский суд по правам человека поставил точку в “катынском деле”: Россия оправдана, Указ. Соч.

[53] Phía Nga cho rằng, sở dĩ Stalin đưa ra quyết định thực hiện thảm sát Katyn là nhằm trả thù cho thất bại của Hồng quân Liên Xô năm 1920 (trong chiến tranh Ba Lan-Liên Xô, đã có 32.000 Hồng quân Liên Xô bị phía Ba Lan giết hại). Nước Nga cũng đưa ra quan điểm: Nhìn lại thấu đáo lịch sử, không phải để gánh nặng lịch sử đè lên quan hệ Nga – Ba Lan, cũng không phải đổ lỗi cho nhân dân Nga, mà loại bỏ những thành kiến, thiếu tin cậy đã từng tồn tại trong quan hệ Nga- Ba Lan do vấn đề thảm sát Katyn và để đóng lại trang sử cũ, lật trang sử mới, viết những điều tốt đẹp (Nguồn: Максим Жapoв, Судьба Катыни, Жyp. Валовой внутренний продукт (ВВП), № 5 (55), 2010).

[54]Một nước Nga trên con đường phục hưng, khôi phục vị trí cường quốc đang rất cần sự thống nhất, những giá trị tinh thần truyền thống, lòng tự hào dân tộc…; do vậy; rất khó vượt qua ngưỡng để gọi chính xác tên sự vật. Ở nước Nga hiện nay, dư luận xã hội cũng cho rằng, lại một lần nữa, Nhà nước Liên bang Nga đang sử dụng lịch sử và các khoa học xã hội vào cuộc chiến tư tưởng (chứ không phải cuộc chiến ý thức hệ như trước đây).

Nguồn: http://viet-studies.info/kinhte/MaiHoa_Katyn.htm

Posted in Archives, Articles, International relations, Teaching | Tagged , , , | Để lại bình luận

Những phương pháp nghiên cứu lịch sử

Nguyễn Lệ Nhung
Như chúng ta đã biết, những phương pháp để nghiên cứu lịch sử là:
1.Những phương pháp chung cho tất cả các khoa học xã hội thích ứng với đặc thù và nhiệm vụ của khoa học lịch sử;
2. Những phương pháp riêng của nhận thức lịch sử;
3. Những phương pháp lấy từ các khoa học khác, các khoa học phụ cận và đã trở thành phương pháp chung của các khoa học, chung của các ngành của một khoa học.
1. Những phương pháp chung cho tất cả các khoa học xã hội thích ứng với đặc thù và nhiệm vụ của khoa học lịch sử
Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgích là hai phương pháp chủ yếu trong nghiên cứu lịch sử nói chung và nghiên cứu lịch sử đảng nói riêng. Kết quả và chất lượng mỗi công trình nghiên cứu lịch sử phụ thuộc rất nhiều vào việc kết hợp chặt chẽ và vận dụng nhuần nhuyễn hai phương pháp này.
Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgích là sự vận dụng các phạm trù “lịch sử” và “lôgích” vào công tác nghiên cứu, coi đó là phương tiện để đạt mục đích nghiên cứu và đây là những phương pháp quan trọng của ngành sử học. Trước khi đi sâu vào việc vận dụng kết hợp hai phương pháp trên, chúng ta cần nắm được đặc trưng và tính độc lập tương đối của từng phương pháp.
1.1.Phương pháp lịch sử
Phương pháp lịch sử là phương pháp xem xét và trình bày quá trình phát triển của các sự vật, hiện tượng lịch sử theo một trình tự liên tục và nhiều mặt, có lớp lang sau trước, trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác. Yêu cầu đối với phương pháp lịch sử là đảm bảo tính liên tục về thời gian của các sự kiện; làm rõ điều kiện và đặc điểm phát sinh, phát triển và biểu hiện của chúng, làm sáng tỏ các mối liên hệ đa dạng của chúng với các sự vật xung quanh.
Khi nghiên cứu bất cứ một hiện tượng xã hội nào như chế độ chính trị, chiến tranh, nghệ thuật lãnh đạo chỉ đạo cách mạng,… phương pháp lịch sử xem xét rất kỹ các điều kiện xuất hiện và hình thành ra chúng, làm rõ quá trình ra đời, phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến hoàn thiện của các hiện tượng xã hội này. Đồng thời đặt quá trình phát triển của hiện tượng trong mối quan hệ nhiều hiện tượng tác động qua lại, thúc đẩy hoặc hỗ trợ lẫn nhau trong suốt quá trình vận động của chúng. Bằng phương pháp lịch sử, có thể cho phép chúng ta dựng lại bức tranh khoa học của các hiện tượng, các sự kiện lịch sử đã xảy ra. Vì thế, có thể nói rằng phương pháp lịch sử đã trở thành một mặt không thể tách rời của phương pháp biện chứng duy vật.
Đặc trưng của phương pháp lịch sử là:
1/ Tuân thủ nguyên tắc niên biểu, nghĩa là trình bày quá trình hình thành và phát triển của sự vật, hiện tượng theo đúng trình tự vốn có của nó. Phương pháp lịch sử trình bày một sự vật, hiện tượng có đầu đuôi, có thời gian xuất hiện, hình thành và các bước vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng đó. Chỉ trên cơ sở tuân thủ theo nguyên tắc niên biểu mới thấy được tính liên tục trong vận động, phát triển của một hiện tượng cần nghiên cứu, và từ đó mới có thể rút ra được tính chất, đặc điểm, xu hướng và quy luật vận động của chúng.
2/ Làm rõ sự phong phú, muôn hình muôn vẻ của sự vận động, phát triển của lịch sử – nghiên cứu lịch sử phải tỉ mỉ, công phu, phải xem xét các mặt biểu hiện của nó, không được đơn giản, càng không được cắt xén làm cho lịch sử trở nên đơn điệu, tẻ nhạt. Đúng như Lênin đã viết: “Lịch sử bao giờ cũng phong phú về nội dung, cũng đa dạng về nhiều mặt, cũng sinh động hơn điều mà chúng ta hình dung được” . Thí dụ như: Quy luật phổ biến của cách mạng Việt Nam là toàn dân vũ trang, cả nước đánh giặc, lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Những biểu hiện của quyluật này trong thực tiễn lịch sử của hai cuộc kháng chiến lại rất phong phú đa dạng và hết sức sinh động, không giống nhau cả về hình thức và nội dung. Tính rộng khắp và sâu sắc của toàn dân đánh giặc trong kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) đã có bước phát triển mới, cao hơn với hình thức phong phú, sáng tạo hơn thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Nếu không đầu tư công sức nghiên cứu tài liệu thực tiễn sẽ không làm sáng tỏ được bước phát triển mới của quy luật này.
Tuy vậy, khi chúng ta trình bày các sự vật, hiện tượng lịch sử phải tránh sa vào liệt kê hiện tượng, sự kiện, dồn đống tư liệu mà không chú ý đến sự vận động “lôgích” của các sự kiện, hiện tượng để chỉ ra xu hướng vận động có tính quy luật của chúng. Cho nên, phản ánh sự phong phú, đa dạng của nội dung lịch sử không đồng nghĩa với tập hợp thật nhiều sự kiện vụn vặt, lắp ghép theo trình tự thời gian. Làm như vậy, không bao giờ có thể tạo ra được một bức tranh khoa học, phản ánh đúng lịch sử và quy luật vận động của nó.
3/ Một đặc trưng nữa là phải bám sát và phản ánh đúng các bước phát triển quanh co, thậm chí thụt lùi tạm thời của lịch sử, bởi lẽ trong sự phát triển phong phú, muôn màu, muôn vẻ của xã hội loài người, không phải lịch sử tiến lên theo con đường bằng phẳng, mà các bước phát triển của lịch sử diễn ra có lúc nhanh, lúc chậm, lúc thuận, lúc nghịch, có khi quanh co hoặc thụt lùi. Tái hiện lịch sử phải trung thực, phản ánh đúng tiến trình vận động của nó, không được tùy tiện lược bỏ những khuyết điểm, hạn chế và những bước thụt lùi. Chỉ có được như vậy, việc nghiên cứu lịch sử mới thực sự rút ra được những bài học bổ ích.
Phương pháp lịch sử giúp chúng ta có thể đi sâu tái dựng được cả không khí lịch sử, cả tâm lý và tình cảm của con người trong những sự vật, hiện tượng tiêu biểu. Như chúng ta đã biết, lịch sử diễn biến, phát triển thông qua các sự vật, hiện tượng lịch sử. Phương pháp lịch sử không phải chỉ là trình bày nhiều sự vật, hiện tượng mà phải biết lựa chọn, trình bày các sự vật, hiện tượng tiêu biểu, điển hình. Những sự vật, hiện tượng đó là những biểu hiện tập trung nhất phản ánh quy luật vận động của lịch sử. Thí dụ, trong vô vàn cuộc nổi dậy của nhân dân miền Nam thời kỳ 1958-1960 thì khởi nghĩa Trà Bồng (8/1959, đồng khởi Bến Tre 1/1960, Tua Hai-Tây Ninh 1/1960,… là những sự kiện tiêu biểu, điển hình hơn cả của phong trào cách mạng giai đoạn đó. Khi nghiên cứu các sự kiện quan trọng này, không những phải làm sáng tỏ điều kiện hình thành và diễn biến của sự kiện mà còn phải đi sâu tìm hiểu để làm rõ sắc thái riêng của từng sự kiện, mô tả được tâm lý, tình cảm của quần chúng nhân dân và cả không khí sôi động, hào hùng của cuộc đấu tranh cách mạng lúc bấy giờ. Một thí dụ nữa, trong cuộc đồng khởi Bến Tre, việc dựng lại không khí đấu tranh hừng hực vùng lên của quần chúng nhân dân,… là rất cần thiết, làm cho lịch sử sống lại, mang sức truyền cảm lớn lao. Xây dựng lại sự kiện sơ sài, giản đơn, thiếu con người và tình cảm của họ sẽ sa vào những phản ánh chung chung, làm giảm đi tính sinh động của bản thân lịch sử.
4/ Vận dụng phương pháp lịch sử trong nghiên cứu cần chú ý nêu rõ địa điểm, thời gian xẩy ra sự vật, hiện tượng, con người đã tham gia vào sự kiện, hiện tượng đó, bởi vì các yếu tố này là những dấu ấn quan trọng của lịch sử. Nó đảm bảo tính khách quan và xác thực trong tái hiện lịch sử, nhất là khi trình bày các sự kiện tiêu biểu của các cuộc đồng khởi nêu trên, các hoạt động đánh dấu bước ngoặt của lịch sử hoặc cuộc tổng tiến công chiến lược làm chuyển biến cục diện cách mạng chẳng hạn. Đối tượng nghiên cứu của lịch sử rất phong phú đòi hỏi giới sử học phải nắm chắc phương pháp lịch sử để khai thác nó một cách triệt để và sâu sắc. Dĩ nhiên, phương pháp lịch sử, như trên đã trình bày, không chỉ là đơn thuần trình bày tiến trình phát triển của lịch sử bằng cách sưu tầm và liệt kê nhiều sự kiện, hiện tượng. Quan trọng hơn là phải đầu tư tìm hiểu, vạch ra được cái “lôgích” phát triển của các sự kiện, có nghĩa là tìm quy luật phát triển của lịch sử.
Phương pháp lịch sử có ưu thế trong việc nghiên cứu lịch sử nhưng chỉ riêng phương pháp lịch sử thì chưa thể tạo nên một công trình nghiên cứu lịch sử có tính lý luận và khoa học. Bởi vậy, cần vận dụng có hiệu quả phương pháp lôgích và các phương pháp khác trong nghiên cứu lịch sử.
1.2. Phương pháp lôgích
Phương pháp lôgích là phương pháp xem xét, nghiên cứu các sự kiện lịch sử dưới dạng tổng quát, nhằm vạch ra bản chất, khuynh hướng tất yếu, quy luật vận động của lịch sử. Khác với phương pháp lịch sử, phương pháp lôgích không đi vào toàn bộ diễn biến, những bước quanh co, thụt lùi của lịch sử; nó bỏ qua những cái ngẫu nhiên có thể xảy ra trong lịch sử mà nắm lấy bước phát triển tất yếu, nắm lấy cái cốt lõi của sự phát triển, nghĩa là nắm lấy quy luật lịch sử. Như vậy, phương pháp lôgích cũng phản ánh quá trình lịch sử nhưng phản ánh dưới hình thức trìu tượng và khái quát bằng lý luận. Có nghĩa là, phương pháp lôgích trình bày các sự kiện một cách khái quát trong mối quan hệ đúng quy luật, loại bỏ các chi tiết không cơ bản. Đó là hình thức đặc biệt phản ánh quá trình lịch sử.
Phương pháp lôgích theo Ăngghen, không phải là cái gì khác là phương pháp lịch sử, chỉ có điều là nó thoát khỏi những hình thức lịch sử và những ngẫu nhiên pha trộn. Lịch sử bắt đầu từ đâu, quá trình tư duy cũng phải bắt đầu từ đó. Và sự vận động tiếp tục thêm nữa của nó chẳng qua chỉ là sự phản ánh quá trình lịch sử dưới một hình thức trìu tượng và nhất quán về mặt lý luận. Nó là phản ánh đã được uốn nắn lại, nhưng uốn nắn theo những quy luật mà bản thân quá trình lịch sử thực tế đã cung cấp, hơn nữa mỗi một nhân tố đều có thể xem xét ở cái điểm phát triển mà ở đó quá trình đạt tới chỗ hoàn toàn chín muồi, đạt tới cái hình thái cổ điển của nó .
Phương pháp lôgích sử dụng các luận điểm khoa học trong tư duy nhằm lý giải, khái quát, đánh giá và rút ra những kết luận từ các sự kiện lịch sử. Vận dụng phương pháp lôgích trong nghiên cứu lịch sử cần tuân thủ những yêu cầu sau:
1/ Tránh máy móc và định kiến
Cần chú ý trong nghiên cứu lịch sử, khi sử dụng các luận điểm khoa học phải coi đó chỉlà các phương tiện, công cụ của tư duy lôgích, chứ không phải cái có sẵn để định hình hco lịch sử theo ý muốn chủ quan của người nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu phải dùng các luận điểm đểphát hiện ra “lôgích” phát triển của lịch sử chứ không được đưa ra một cái khung lôgích phát triển rồi gán cho lịch sử. Trong các quy luật vận động của lịch sử có quy luật phổ biến và quy luật đặc thù (riêng). Chung ta nắm chắc quy luật phổ biến để xem xét các sự kiện, hiện tượng lịch sử, nhưng lại phải đi sâu vào các sự kiện, hiện tượng lịch sử nhằm tìm ra quy luật đặc thù của chúng. Thí dụ: Nói đến chiến tranh nhân dân thì quy luật phổ biến của nó là đấu tranh toàn diện và đông đảo quân fhcúng tham gia. Nhưng chiến tranh nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng vận động và phát triển trong điều kiện lịch sử của đất nước và con ngươì Việt Nam nên nó có những biểu hiện riêng, phát triển với những nét đặc thù riêng không giống như chiến tranh nhân dân ở các quốc gia, dân tộc khác.
Nếu nghiên cứu lịch sử mà không làm rõ được những nét riêng đó thì khái quát lôgích chỉ dừng lại ở những biểu hiện của quy luật chung, không rút ra được điều gì bổ ích của chiến tranh nhân dân vô cùng phong phú, sáng tạo của dân tộc ta. Xét cho cùng thì làm rõ được tính phổ biến, cũng như tính đặc thù của lịch sử, có nghĩa là các nhà nghiên cứu đã khái quát đúng đắn được quy luật của lịch sử cụ thể, tránh được sự chủ quan và định kiến trong nghiên cứu.
2/ Trên cơ sở những diễn biến của lịch sử thì khái quát lôgích mới có căn cứ. Tách rời diễn biến lịch sử, chỉ dùng khái quát lôgích thay thế cho phương pháp lịch sử thì thường dẫn đến những suy luận trìu tượng, nhận xét chung chung, thậm chí kết luận sai lệch nữa. Do vậy, người nghiên cứu cần chú ý tránh sự hời hợt trong nghiên cứu, phân tích các sự kiện, hiện tượng lịch sử rồi vội vã rút ra các kết luận nông cạn, thậm chí sai lệch, đồng thời cũng cần phải tránh sự khái quát thiếu hẳn các sự kiện, hiện tượng lịch sử làm cơ sở cho những điểm kết luận.
Như vậy, có nghĩa là phương pháp lôgích là sự phân tích khoa học biện chứng của sự phát triển thực tế của sự vật, hiện tượng chứ không phải rút một khái niệm này từ một khái niệm khác một cách tư biện . Sự phù hợp giữa lôgích và lịch sử là một nguyên tắc phương pháp luận của lôgích biện chứng mácxít. Bởi lẽ muốn hiểu được bản chất, quy luật của sự vật thì phải hiểu sự phát sinh, phát triển của nó. Ngược lại, chỉ có nắm được bản chất và quy luật của sự vật, hiện tượng thì mới nhận thức được lịch sử của nó một cách đúng đắn.
Dựng lại cái lôgích khách quan của sự phát triển của sự vật, hiện tượng là nhiệm vụ của phương pháp lôgích. Muốn vậy, khi nghiên cứu sự vật, hiện tượng phải bắt đầu từ hình thức phát triển tương đối hoàn thiện và chín muồi nhất của nó chứ không thể tùy tiện. Nếu lịch sử chính là bản thân cuộc sống thì lôgích là bản chất của cuộc sống do nghiên cứu lý luận chỉ ra.
Không có sự khác nhau về nguyên tắc giữa lịch sử và lôgích. Vấn đề là ở chỗ sự kết hợp giữa chúng một cách nhuần nhuyễn trong nghiên cứu sao cho đối tượng được dựng nên với một diện mạo lịch sử trung thực, đúng như bản thân nó vốn có và trong đó nổi bật lôgích về sự vận động, sinh thành, phát triển của nó. Giải thích tính thống nhất giữa hai phương pháp, khi bàn về phương pháp lôgích, Ph. Ăngghen đã viết: “Về bản chất, phương pháp lôgích không phải là cái gì khác mà chính là phương pháp lịch sử đã được giải thoát khỏi hình thức lịch sử, không bị phụ thuộc vào cái hoàn cảnh ngẫu nhiên, pha trộn…” và phương pháp lôgích “hoàn toàn không nhất định đóng khung trong phạm vi trìu tượng thuần túy. Trái lại, nó đòi hỏi phải có sự minh họa lịch sử. Như vậy, có thể hiểu rằng, phương pháp lịch sử đã chứa đựng tính “lôgích” của sự phát triển lịch sử; còn phương pháp lôgích đã bao hàm phương pháp lịch sử. Hai phương pháp này kết hợp chặt chẽ với nhau, và trong bản thân phương pháp này đã có sự thâm nhập của phương pháp kia, không thể vận dụng từng phương pháp tách rời nhau.
Tóm lại, xem xét từng phương pháp, ta thấy được các yêu cầu và tính độc lập tương đối của mỗi phương pháp nhưng cả hai phương pháp lịch sử và lôgích đều thống nhất ở mục tiêu là làm sáng tỏ quy luật khách quan của sự phát triển lịch sử. Trong nghiên cứu, biên soạn lịch sử phải vận dụng được tính thống nhất trong sự khác biệt của chúng. Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa phương pháp lịch sử và phương pháp lôgích trong nghiên cứu, biên soạn lịch sử có một ý nghĩa phương pháp luận rất quan trọng. Nó tránh cho ta mắc phải cách xem xét một chiều khi nghiên cứu lịch sử, ngăn ngừa chủ quan, máy móc. Nó cũng giúp ta tránh tình trạng ôm đồm, chỉ liệt kê tài liệu và ngăn ngừa cả kiểu lý luận suông không cần thiết.
2. Những phương pháp riêng của nhận thức lịch sử
2.1. Phương pháp phân tích so sánh
Phương pháp này là sự hỗ trợ cần thiết làm nổi bật tính thống nhất giữa lịch sử và lôgích. Đó là sự so sánh giữa đối tượng này với đối tượng khác trong những điều kiện, hoàn cảnh xác định chi phối chúng, cho phép nhìn rõ nét tương đồng và sự khác biệt, nhận rõ những cái riêng có cùng một cái chung bản chất hoặc những dấu hiệu phân biệt cái riêng này với cái riêng khác.
Phương pháp phân tích so sánh cũng có thể dựa trên những cái mốc của sự kiện và thời gian của cùng một cái trục vận động lịch sử để tìm ra sự phát triển khác nhau của cùng một đối tượng, chỉnh thể trong những thời điểm và hoàn cảnh khác nhau.
2.2. Phương pháp lịch đại
Trong số các phương pháp riêng để nhận thức lịch sử có phương pháp lịch đại. Phương pháp này cho phép nghiên cứu quá khứ lần theocác giai đoạn phát triển trước kia của nó. Dựa vào quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin về sự thống nhất giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, dựa vào quan niệm biện chứng cho rằng trong một quá trình phát triển mỗi giai đoạn tiếp sau đều mang trong mình nó những đặc điểm và những yếu tố của giai đoạn trước. Quan niệm rằng, đối với mỗi hiện tượng cũng như đối với mỗi hệ thống đều chứa đựng những yếu tố của các giai đoạn trước và các giai đoạn tiếp sau, đã mở ra con đường, nhằm vạch ra khuynh hướng phát triển, cũng như hiểu rõ được những việc đã qua của nó. Một trong những cách hiểu quá khứ là dựa vào những mối liên hệ nhân quả giữa các hiện tượng. Giới sử học có khả năng đánh giá hiện tượng quá khứ theo các kết quả và hậu quả mà nguyên nhân của chúng là hiện tượng đó, có nghĩa là nghiên cứu nó, theo cách nói của Lênin, “trong mối liên hệ với những kinh nghiệm lịch sử cụ thể” . Tuy nhiên, tác dụng của phương pháp lịch đại bị hạn chế khi nghiên cứu các hiện tượng xảy ra gần với ta và có ưu thế khi nghiên cứu các hiện tượng xa xôi.
2.3. Phương pháp đồng đại
Phương pháp riêng để nhận thức lịch sử thứ hai là phương pháp đồng đại. Phương pháp này mở ra khả năng nhận thức rộng lớn. Thực chất của nó là xác định các hiện tượng, quá trình khác nhau xảy ra cùng một thời điểm (có liên quan đến nhau). Phương pháp này giúp chúng ta bao quát được toàn vẹn và đầy đủ quá trình lịch sử ; so sánh được cái gì đã xảy ra trong cùng một thời gian, ở các nước khác nhau, ở các vùng khác nhau trong một nước, ở các tổ chức đảng khác nhau, cũng như so sánh các quá trình có tính chất khác nhau xảy ra trên cùng một lãnh thổ (thí dụ như phong trào công nhân, phong trào nông dân, phong trào trí thức, phong trào trong quân đội, v.v…). Thực hiện phương pháp đồng đại này, thường thường chúng ta dùng các bảng đối chiếu niên đại.
Sự kết hợp lịch đại và đồng đại trong nghiên cứu sự phát triển của một đối tượng, của những đối tượng khác trở nên cần thiết một cách khách quan. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với nghiên cứu quá trình hình thành tư tưởng, chuyển đổi thế giới quan của một nhân vật lịch sử, hoặc những cống hiến khác nhau của những nhân vật lịch sử khác nhau trong cùng một thời đại cũng như trong những thời đại lịch sử khác nhau.
2.4. Phương pháp phân kỳ
Phương pháp này cho phép giới sử học nghiên cứu sâu sắc các quá trình lịch sử, làm sáng tỏ nội dung và đặc điểm của các giai đoạn phát triển của chúng, ghi lại các thời kỳ biến đổi về chất của chúng, mà tính chất của sự biến đổi đó thể hiện trong các khuynh hướng và các quy luậtls chủ yếu của chúng. Cho nên, phương pháp phân kỳ phải được coi làmột trong các phương pháp chủ yếu, riêng biệt của việc nhận thức lịch sử.Không được lẫn lộn phương pháp này với phương pháp nhận thức lịch sử có tính chất khoa học phổ cập, là phương pháp nghiên cứu quá trình phát triển theo thời gian. Vấn đề là ở chỗ, phương pháp phân kỳ là phương pháp riêng của khoa học lịch sử, là phương tiện nghiên cứu sâu sắc các sự kiện lịch sử, và là phương pháp vạch rõ được nội dung khách quan của chúgn, nhưng không phải chỉ theo thời gian của các sự kiện, hiện tượng, mà còn căn cứ vào cả cái điển hình của các sự kiện, khi áp dụng phương pháp lịch sử trong các khoa học khác.
3. Những phương pháp lấy từ các khoa học khác, các khoa học phụ cận và đã trở thành phương pháp chung của các khoa học, chung của các ngành của một khoa học
Khoa học lịch sử nói chung, khoa học lịch sử đảng nói riêng, sử dụng các phương pháp có tính chất chung của các môn khoa học phụ cận. Việc vay mượn các phương pháp (và để có thể vay mượn được là vì có sự đồng nhất về cơ sở triết học – phương pháp luận của các môn khoa học) là một hiện tượng phổ biến và rất có kết quả trong trong trình độ phát triển của khoa học hiện nay. Mặt khác, không phải chỉ có khoa học lịch sử sử dụng những phương pháp của khoa học khác, mà những khoa học khác cũng sử dụng những phương pháp đặc thù của khoa học lịch sử khi nó phải giải quyết những nhiệm vụ về nhận thức lịch sử.
3.1. Phương pháp thống kê
Trong các phương pháp của các môn phụ cận, trước hết ta phải chú ý nhiều đến phương pháp thống kê. Phương pháp này cho phép thông qua tất cả các bản thống kê về số lượng, (được nghiên cứu nhờ sự giúp đỡ của các thủ thuật và các hệ phương pháp riêng) vạch ra tính quy định thuộc về tính chất của các hiện tượng và quá trình lịch sử. Không phải ai khác, mà chính Lênin đã chỉ ra là có thể áp dụng rộng rãi phương pháp này, một phương pháp ra đời trong ngành thống kê – kinh tế để nghiên cứu các hiện tượng xã hội.
3.2. Phương pháp nghiên cứu xã hội cụ thể
Cùng với phương pháp thống kê, ta phải kể đến phương pháp nghiên cứu xã hội cụ thể. Phương pháp này buộc nhà sử học phải theo dõi trực tiếp các hiện tượng và quá trình của đời sống xã hội nhờ các phương pháp riêng. Phương pháp này được sử dụng trước hết trong xã hội học, theo bản chất của nó, hoàn toàn có thể áp dụng vào việc nghiên cứu lịch sử, bởi lẽ nó cho phép nghiên cứu sự tác động của các quy luật chung trong hình thức lịch sử cụ thể mà chúng xuất hiện. Trong công tác nghiên cứu lịch sử đảng, phương pháp này không phải chỉ là phương tiện có hiệu lực làm cho việc nghiên cứu trở nên hợp thời, mà nó còn cho phép bổ sung về cơ bản những chỗ thiếu hổng trong tư liệu, đặc biệt khi viết về hoạt động của Đảng trong điều kiện hiện nay.
Thay lời kết luận
Tuy nhiên, trong nghiên cứu lịch sử đảng, một số phương pháp được coi trọng, còn một số đóng vai trò thứ yếu, hoặc chỉ có một vài khía cạnh nào đó của phương pháp nghiên cứu riêng biệt là có ý nghĩa. Nhà sử học có thể chọn cho mình những phương pháp thích hợp trong nghiên cứu nhưng dù phương pháp nào thì việc ứng dụng nó cũng phải được hỗ trợ bởi các nguồn sử liệu. Phương pháp nghiên cứu luôn tìm được chỗ dựa trong các nguồn này. Đến lượt mình, tính chất của các nguồn sử liệu lại làm sáng tỏ con đường và nhiệm vụ nghiên cứu. Việc lựa chọn sử liệu điển hình và xem xét quan hệ giữa các loại tài liệu với nhau và với sự kiện, hiện tượng lịch sử được nghiên cứu là điều tuyệt đối cần thiết để đảm bảo cho việc nghiên cứu không bị sa vào những chi tiết không cần thiết nhưng cũng không quên đi những khía cạnh sâu sắc, có tính bản chất của vấn đề. Nói cách khác, điều này sẽ giúp cho nhận thức lịch sử có được khả năng trở nên toàn diện và chính xác.

Tài liệu tham khảo
1. Bàn về mấy vấn đề phương pháp luận của khoa học lịch sử đảng. In trong T/c Những vấn đề lịch sử Đảng Cộng sản Liên xô, số 7/1976. (Bản dịch của UBKHXHVN)
2. Những vấn đề phương pháp luận của khoa học lịch sử đảng. In trong T/c Những vấn đề lịch sử Đảng Cộng sản Liên xô, số 4/1976. (Bản dịch của UBKHXHVN)
3. Văn Tạo – Phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Viện Sử học Việt Nam xuất bản, 1995.

4. Hà Văn Tấn: Mấy suy nghĩ về phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, 1967, số 96.
5. Về phương pháp nghiên cứu khoa học lịch sử quân sự. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. H., 1999.

Posted in Articles | 1 Phản hồi

VỀMỐI LIÊN HỆGIỮAVĂN BẢNHỌC VÀ SỬLIỆUHỌC

Hà Văn Tấn (*) Là người giảng dạy đồng thời hai môn văn bản học đại cương và sử liệu học đại cương trong nhiều năm
nay trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, tôi có những suy nghĩ về mối liên hệ giữa hai bộ môn khoa học này.
Mặc dù đó là vấn đề thuần tuý lý thuyết, nhưng tôi nghĩ rằng nếu mối liên hệ đó được làm sáng tỏ thì những
người làm công tác nghiên cứu văn bản Hán Nôm và những người làm công tác sử học càng hiểu biết nhau
hơn, thấy rõ những mối liên hệ chặt chẽ trong công việc của hai bên mà xác định một phương thức hợp tác
có hiệu quả. Khi nói về mối liên hệ giữa văn bản học và sử liệu học, chúng ta nhớ đến một cuộc tranh luận đã xảy ra ở
Liên Xô cách đây 15 năm. Nhiều người trong chúng ta ở đây chắc đã biết đến quyển Văn bản học nổi tiếng của Viện sĩ Đ.s. Li-khát-chốp xuất bản năm 1962 . Trong quyển này, tuy dựa vào các tài liệu văn bản Nga và
Slave cổ, Li-khát-chốp đã nêu lên những nguyên lý chung của văn bản học. Nhưng có lẽ vì là một chuyên
gia về lịch sử văn học Nga cổ, Li-khát-chốp đã coi văn bản học như một bộ môn của khoa học ngữ văn. Rõ
ràng vấn đề vị trí của văn bản học giữa các khoa học thật đáng được thảo luận. Thế rồi, năm 1966 trên tạp
chí Lịch sử Liên Xô, xuất hiện bài báo của S.N. Az-bê- lép với đầu đề “Văn bản học như là một bộ môn phụ trợ của khoa học Lịch sử” . Ngay lập tức, cũng trên tờ Lịch sử Liên Xô, Li-khát-chốp đã viết bài phê phán bài báo của Az-bê-lép. Ông tiếp tục coi văn bản học là một bộ môn thuộc khoa học ngữ văn chứ không phải là
một bộ môn thuộc khoa học lịch sử. Nhưng gần mười năm sau, Li-khát-chốp lại giữ một lập trường có khác
trước. Trong bài báo “Về một số nhiệm vụ cấp thiết của các khoa ngữ văn chuyên biệt” đăng trên tờ “Tin tức Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô” năm 1976, Li-khát-chốp viết rõ ràng như sau: “Văn bản học là một bộ phận cấu thành của sử liệu học lịch sử, không những quan trọng đối với các nhà ngữ văn mà cả đôi với các nhà
sử học” Như vậy là vấn đề mối liên hệ giữa văn bản học và sử liệu học đã không tách rời vấn đề vị trí và đối tượng
của hai khoa học này. Riêng tôi, tôi nghĩ rằng các nhà ngữ văn và các nhà sử học không nên tranh giành
môn Văn bản học về phía mình. Trên tạp chí “Lưu trữ Liên Xô năm 1976, V.A. Tche-r-nykh đã có một lập
trường dung hòa khi coi văn bản học là một bộ môn khoa học ngữ văn – lịch sử chuyên biệt. Nói thế dường
như nghe được nhưng thực ra chưa phải. Theo tôi, văn bản học là khoa học không thể xây dựng và hoạt
động nếu không sử dụng các tri thức ngữ văn và lịch sử, nhưng nó không phải là một bộ phận của ngữ văn hay sử học, hoặc của cả hai, mà là một khoa học độc lập, phục vụ cho tất cả những khoa học nào có mối
liên hệ với văn bản, không chỉ riêng các khoa học xã hội như triết học, sử học, văn học, ngôn ngữ học…mà
cả các khoa học tự nhiên như y học, dược học, nông học…Chẳng hạn, gần đây, tôi được đọc bài báo thú vị
của giáo sư Đào Văn Tiến, nhà sinh học, viết về các động vật trắng (albiniques) và đen (mélaniques) ở Việt
Nam, dựa vào sự thống kê các động vật cống cho vua Lý trong khoảng từ năm 1032 đến năm 1166, được
chép trong Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên. Như vậy theo tôi, văn bản học chẳng phải của riêng ai, nó là nó, nhưng lại cho tất cả. Từ một sự nhìn nhận như vậy, tôi muốn nói về mối liên hệ giữa văn bản học và sử liệu học. Đó là hai khoa
học có đối tượng khác nhau: đối tượng của sử liệu học là sử liệu, còn đối tượng của văn bản học là văn
bản. Đối với các nhà sử học thì tất cả những vết tích do hoạt động của con người tạo ra (cũng như những
vết tích tự nhiên nói lên môi trường hoạt động của con người) đều là sử liệu dùng để khôi phục lịch sử của
con người. Văn bản cũng là một kết quả hoạt động của con người, do đó cũng là một loại sử liệu, sử liệu
viết. Tất nhiên, đối với nhà sử học, sử liệu có nhiều loại. Theo cách phân chia truyền thống có tính quy ước thì sử liệu có 6 loại: 1. Sử liệu vật thực; 2. Sử liệu hình ảnh (mà ngày nay bao gồm cả sử liệu photo-cino-
phono); 3. Sử liệu dân tộc học; 4. Sử liệu ngôn ngữ học; 5. Sử liệu truyền miệng; 6. Sử liệu viết. Văn bản hay sử liệu viết là một loại sử liệu vô cùng quan trọng trong việc nghiên cứu lịch sử. Như vậy, văn
bản cũng là một đối tượng của sử liệu học, với tư cách là một bộ môn của khoa học lịch sử. Nhưng không thể vì văn bản là một đối tượng của sử liệu học mà coi văn bản học là một bộ môn của sử
liệu học. Văn bản là đối tượng của sử liệu học khi nó mang tư cách của sử liệu, được các nhà sử học
nghiên cứu. Nhưng không phải bao giờ văn bản cũng được nghiên cứu với tư cách là sử liệu. Con người
còn nghiên cứu văn bản với những mục đích khác. Văn bản học khác với sử liệu học là vì vậy. Nhưng một mặt, không thể đồng nhất sử liệu học với văn bản học, hoặc bao gồm văn bản học vào trong sử
liệu học, thì mặt khác, lại phải thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa sử liệu học và văn bản học. Một lẽ đơn giản:
cả hai cùng nghiên cứu văn bản. Đáng tiếc là cho đến nay, tuy đã có rất nhiều sách viết về văn bản học, nhưng bản thân khái niệm văn bản
lại không được định nghĩa rõ ràng. Theo tôi, có thể định nghĩa văn bản là một bản tin được truyền đạt bằng ký hiệu ngôn ngữ. Ngôn ngữ thì có thể là tự nhiên hay nhân tạo, và trong nghĩa hẹp của văn bản mà người ta từng dùng trong khoa văn bản học thì ký hiệu của ngôn ngữ là chữ viết. Do đó, một chữ cũng có thể là
một văn bản, cái quan trọng là ở bản tin mà nó truyền đạt. Nói đến bản tin là nói đến các thông tin chứa
dựng trong đó. Mà thông tin thì có nhiều loại. Định nghĩa văn bản một cách tổng quát như vậy, ta ít thấy được sự khác biệt giữa cách nghiên cứu văn
bản nói chung và cách nghiên cứu văn bản của nhà sử học. Vãn bản chứa đựng nhiều thông tin, nhưng nhà
sử học thì khai thác ở đó những thông tin về quá khứ (mặc dầu quá khứ của nhà sử học có thể kể cả ngày
hôm qua hay giờ vừa qua, thì vẫn là quá khứ!). Đối với nhà sử học thì tất cả những gì chứa đựng thông tin về quá khứ của con người đều là sử liệu. Văn
bản mà trở thành sử liệu là cũng vì bên cạnh những thông tin khác, nó còn chứa đựng những thông tin về
quá khứ. Như vậy, về mặt đối tượng, chỗ gặp gỡ giữa văn bản học và sử liệu học có thể biểu diễn bằng sơ
đồ sau: Nhưng thông tin bao giờ cũng được truyền đi bằng kênh thông tin. Không có kênh, thông tin sẽ không truyền
đạt, tôi hoàn toàn đồng ý với J. Topolski, nhà sử học Ba Lan, khi ông coi sử liệu là mọi thông tin về quá khứ
xã hội cùng với những gì mà các thông tin đó truyền đạt, tức là các kênh thông tin. Chẳng hạn, khi ta biết những người có sự kiện lịch sử nào đó qua một tấm bia cổ, thì không chỉ những
thông tin về sự kiện đó là sử liệu, mà bản thân tấm bia cũng là sử liệu. Trong trường hợp ta biết về sự kiện
nào đó qua một câu chuyện kể, thì câu chuyện là thông tin, và người kể là kênh thông tin. Nhà sử học phê
phán sử liệu tức là đánh giá các kênh thông tin thì trước hết phải đánh giá kênh thông tin. Khi coi văn bản là bản tin, tôi cũng nghĩ rằng phải coi văn bản là bao gồm thông tin và kênh thông tin. Có
điều là thông tin trong văn bản không chỉ giới hạn trong thông tin về quá khứ. J. Topolski có phân biệt rằng
trong sử liệu viết, các nhà sử học đọc được các thông tin ngữ nghĩa, còn trong các loại sử liệu khác, thông
tin phi ngữ nghĩa . Nhưng nếu quan niệm rằng văn bản là bao gồm cả thông tin và kênh thông tin, thì không
phải lúc nào ta cũng nhận được ở văn bản những thông tin ngữ nghĩa. Nếu văn bản là bao gồm cả nội dung
lẫn giấy, mực và các hình thức tạo nên nó thì hoàn toàn có thể nhận được từ đó những thông tin phi ngữ nghĩa. Từ chỗ coi sử liệu cũng như văn bản, bao gồm cả thông tin, lẫn kênh, chúng ta thấy rõ hơn mối quan hệ
chặt chẽ giữa phương pháp xử lý văn bản và phương pháp xử lý sử liệu. Chúng ta biết rằng, văn bản học cũng như sử liệu học đều có mầm mống từ lâu đời, trong thời cổ đại,
nhưng cả hai khoa học này chỉ thực sự trở thành khoa học vào nửa cuối thế kỷ 19 ở châu Âu, dưới ảnh
hưởng mạnh mẽ của trào lưu thực chứng chủ nghĩa. Thời đó và ngày nay ở Tây Âu cũng vậy, văn bản học
được gọi là phê phán văn bản (critique des texts) và sử liệu học được gọi là phê phán sử liệu (critique des
sources). Các từ phê phán đó nảy nở trong cái khí hậu tinh thần thực chứng của thế kỷ 19. Ngày nay,
chúng ta phải xây dựng văn bản học và sử liệu học trên lập trường phản thực chứng từ phía mác-xít, nhưng không gạt bỏ hoàn toàn những thành tựu đã đạt được của khoa học này từ thế kỷ 19. Từ cuối thế kỷ 19 cho đến nay, các nhà phương pháp đã chia việc phê phán sử liệu thành hai bước: Bước
thứ nhất được gọi là phê phán bên ngoài (critique rxterne), tức bước xác định niên đại, nguồn gốc, tính chân giả của sử liệu, cũng như khôi phục văn bản đúng đắn của nó. C. Langlois và C. Seignobos còn gọi phê
phán bên ngoài là phê phán uyên bác (critique dérudition) và chia làm hai khâu: phê phán khôi phục( critique de restitution) và phê phán xuất xứ (critique áe provenance). Bước thứ hai được gọi là phê phán bên trong (critique r.terne), tức là bước xác định các thông báo về các sự kiện trong nội dung sử liệu có đúng đắn hay không. Nếu ta coi sử liệu là bao gồm thông tin và kênh thông tin, thì sẽ dễ dàng nhận ra rằng phê phán bên trong là
phê phán thông tin và phê phán bên ngoài là phê phán kênh. Muốn phê phán thông tin, phải biết kênh có chính xác hay không. Không thể có những thông tin chân thật
trong một tài liệu giả mạo. Thế nhưng trong một tài liệu thật, vẫn có thể có những thông tin không đúng. Vì
vậy, hai bước phê phán nói trên đề ra cho sử học là rất cần thiết. Đối với sử liệu viết,ở bước thứ nhất, tức bước phê phán bên ngoài hay phê phán kênh, có thể nói là nhà sử
liệu học đã sử dụng những công cụ của văn bản học, hay nói cách khác, đã đem phương pháp văn bản học
làm phương pháp của mình, ở giai đoạn phê phán bên trong hay phê phán thông tin, nhà sử học ít sử dụng
các phương pháp văn bản học hơn. Nói ít không có nghĩa là hoàn toàn không, vì cả hai giai đoạn phê phán
sử liệu này không có ranh giới rõ rệt trong thực tế mà luôn gắn với nhau. Chẳng hạn, đánh giá thông tin sử
liệu cũng có nghĩa là đánh giá người thông tin, mà người thông tin chính là tác giả sử liệu. Chính vì vậy mà việc xác định tác giả sử liệu được nhà sử học này coi là phê phán bên ngoài (phê phán xuất xứ), còn nhà
sử học kia thì coi là phê phán bên trong. Và mọi người đều biết, tìm tác giả văn bản cũng là một nhiệm vụ
văn bản học. Như vậy, ta đã thấy sự gắn bó về mặt phương pháp giữa văn bản học và sử liệu học (viết), nhất là ở mức
phê phán kênh. Nhưng như vậy có phải là nhà sử học xuất phát ở chỗ mà nhà văn bản học dừng lại hay không? Không hẳn
thế ! Thật khó phân biệt được điểm dừng lại và điểm xuất phát. Nếu một văn bản đó được phê phán tốt, nhà
sử học có thể dựa vào thành quả của các nhà văn bản học mà tiếp tục khai thác và đánh giá những thông
tin. cần thiết cho việc nghiên cứu của mình mà không phải tiến hành từ bước phê phán văn bản. Nhưng
chính để làm tốt công việc phê phán văn bản, nhà văn bản học lại không thể không đọc, giải và đánh giá mọi
thông tin chứa đựng ở trong văn bản. Đôi khi, nhà văn bản học phải làm việc với một tập thể nhiều chuyên gia, không riêng gì nhà sử học. Giờ đây, chúng ta đang cố gắng xây dựng khoa học văn bản Hán Nôm. Hội nghị văn bản học Hán Nôm hẳn
là bước đầu thực hiện mục đích đó. Chúng ta có thể và nên xây dựng văn bản học Hán Nôm từ hai phía, từ
những nguyên lý chung của văn bản học và từ những đặc điểm cụ thể của văn bản Hán Nôm. Hoàn toàn
không nên coi nhẹ phía nào. Trong công việc xây dựng này, một sự hợp tác giữa các nhà nghiên cứu khoa
học khác nhau có liên hệ với văn bản Hán Nôm là rất cần thiết. Các nhà sử học đã từng xử lý các sử liệu
Hán Nôm rõ ràng có thể đóng góp phần mình vào việc này. Điều đó chỉ có lợi cho họ, vì phương pháp văn bản học Hán Nôm càng được hoàn thiện, họ càng có những
công cụ tốt hơn trong việc phê phán sử liệu. Mặt khác, trong quá trình phê phán sử liệu Hán Nôm, các nhà
sử học cũng có thể đi tới kết luận có ích cho phương pháp sử liệu học, mà cũng có ích cho phương pháp
văn bản hoc Hán Nôm. Xin nêu một thí dụ. Chắc ai cũrg biết rằng trong văn bản học phương Tây, ở những nơi có văn tự ghi theo
âm vị, có một hiện tượng thường làm đau đầu các nhà văn bản học là sự dính liền nhau của các con chữ,
do đó, là của các từ, và như vậy, thị thànhcó thể đọc là thịt hành. Người ta mừng là trong các văn bản chữ khối vuông như chữ Hán, chữ Nôm, hiện tượng đó ít xảy ra. Nhưng các nhà sử học thì đã biết đến một
người con vua Lý được chép trong Đại Việt sử ký toàn thư với tên là Lý Nhật Quang và cũng người đó được các thần tích ở Nghệ Tĩnh chép với tên là Lý Hoảng . Như vậy là khối chữ vuông cũng có thể dính lại
với nhau, gây ra sự lầm lẫn. Thậm chí, có khi chỉ một bộ phận chữ này dính với một bộ phận của chữ kia.
Như khi đọc Nguyên sử, tôi đã gặp một tên sứ Nguyên đến Việt Nam năm 1291 tên là Oai-đầu. Nhưng thực ra không có người nào tên là Oai-đầu cả. Oai-đầu chỉ là do chữ Bất Nhan – tức Buyan Temur viết nhầm do một góc bên phải của chữ Nhan dính liền với chữ Bất ở trên. Như vậy, các nhà sử học ít nhiều có thể làm các nhà văn bản học cảnh giác hơn với hiện tượng dính. Nói đến văn bản Hán Nôm, tôi thường nghĩ đến các bản sao. Mà tam sao thì thất bản! Khi nói về hiện tượng
này, người ta thường dẫn câu sau đây trong Bảo phác tử, Nội thiên: “Thư tam tả, ngư thành lỗ, đế thành hổ” . Câu cũng dễ hiểu: sách chép ba lần thì chữ ngư biến thành chữ lỗ , chữ đế biến thành chữ hổ. Nhưng ngư thành lỗ thì hiểu được, vì chữ ngư là một phần của chữ lỗ. Điều không rõ là vì sao đế lại biến thành hổ được. Vì vậy, khi sao chép Bảo phác tử, nhiều người cho rằng ở đây hẳn đã có chỗ sai và đã chữa là “hư thành hổ” vì chữ hư gần giống chữ hổ. Mãi đến gần đây, khi nhiều văn bản Tần Hán được phát hiện, như các sách lụa ở mộ Mã Vương Đôi,Hồ Nam, ta mới gặp được chữ đế được viết rõ ràng gần với chữ hổ. Thật là oái ăm khi chính câu nói về các sai lầm do sao chép lại mang những sai lầm do sao chép! Nhưng điều tôi muốn nói ở đây là các tri thức ngữ văn cần được bổ sung bằng các phát hiện lịch sử. ‘Lỗ, ngư, thỉ, hợi ‘ là câu chuyện văn bản học Hán. Văn bản Hán Việt và Nôm chắc còn có những sai lầm theo quy luật khác. Chẳng hạn, trong Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn, câu “Điều tât tác tượng các cục “ (Điều các cục thợ sơn) có bản chép nhầm thành ‘Điều tất các tượng cục”, ở đây cái âm thanh lục cục lạc cạc đó ảnh hưởng đến sự chép sai này. Và đây là âm Hán – Việt. Như vậy, chi tiết này cũng nói lên
rằng văn bản Hán Việt Nam cũng có những lỗi khác với những văn bản Hán Trung Quốc, do những quy luật
riêng. Tôi không dám đi vào các vấn đề khác của văn bản học Hán Nôm vì xa với chủ đề bài này. Nhưng đã nói
đến các sai lầm trong văn bản Hán Nôm, tôi bất giác nhớ đến hai câu thơ của Nguyễn Trãi: “Trường văn nằm ngả mấy thu dư Uổng tốn công nhàn biện lỗ ngư.” Trong cái “trường văn bản” này thì công việc “biện lễ ngư” chẳng phải là nhàn, nhưng có nhận thức được
những đóng góp thiết thực của nó thì mới khỏi cái mặc cảm “uổng tốn công”. Nhưng cái lợi ích thiết thực
của nó, đối với những người làm sử liệu hay làm sử nói chung, là rất lớn, không nói thì chắc mọi người cũng đã rõ.
——–
Trích từ cuốn Đến với Lịch sử văn hoá Việt Nam, của Hà Văn Tấn, NXB Hội Nhà Văn, năm 2005.

Posted in Articles | Để lại bình luận

CHÍNH SÁCH “XOAY TRỤC” SANG CHÂU Á-THÁI BÌNH DƯƠNG CỦA MỸ: NHIỀU HỎA MÙ HƠN HỎA LỰC

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt) Thứ Hai, 31/03/2014 (Tạp chí Foreign Policy – 31/1/2014) Chiếc tàu sân bay ì ạch được biết đến như là nước Mỹ nên thực hiện một sự “xoay trục” đúng
như cái tên của nó: một sự chuyển dịch từ chủ trương quân sự sang tinh thần ưa chuộng hòa
bình Trong thời đại của chính sách kinh tế thắt lưng buộc bụng và hợp tác về mặt chính sách với
Trung Quốc, sự “xoay trục” sang Thái Bình Dương của Mỹ chẳng khác gì một điệu nhảy phức tạp
mà ở đó Mỹ lùi về phía sau trong khi đấy những đồng minh của mình về phía trước. Trong bản cập nhật cuốn “Từ điển của quỷ dữ” trong tương lai, tác phẩm mổ xẻ thái độ đạo đức
giả trong ngôn ngữ học của đời sống hiện đại của tác giả người Mỹ nổi tiếng Ambrose Gwinnett
Bierce, một từ duy nhất sẽ đi kèm với cụm từ “sự xoay trục sang Thái Bình Dương” đó là: rút lui. Dường như đó là một cách thức kỳ lạ khi miêu tả nỗ lực mạnh mẽ của Chính quyền Obama trong
việc tái định hướng chính sách đối ngoại và quân sự của mình nhằm vào châu Á. Xét cho cùng,
êkíp của Tổng thống Obama đã nhấn mạnh rằng “sự xoay trục” sang Thái Bình Dương sẽ là một
sự tái khẳng định mạnh mẽ về quyền lực của Mỹ tại một khu vực mang tính chiến lược trên thế
giới và một sự tái đảm bảo có chủ tâm đối với các đồng minh ủng hộ Mỹ khi đối đầu với Trung
Quốc. Quả thực, đôi khi “sự xoay trục” dường như không hẳn là một thứ thuốc chữa bách bệnh cho tất
thảy những gì gây phiền não cho chính sách đối ngoại của Mỹ. Bối rối về những thất bại ở Iraq và
Afghanistan? Vậy hãy ra đi để tìm kiếm các vùng đất hòa bình hơn. Lo âu về việc tất cả kẻ địch
đang tan biến và Lầu Năm Góc đã đánh mất lý do hiện hữu của mình? Vậy hay là theo gót Trung
Quốc, siêu cường tương lai duy nhất có thể tưởng tượng được đang trỗi dậy? Và nếu bận tâm về
tình trạng của nền kinh tế Mỹ? Vậy Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), thỏa thuận thương mại tự do khu vực mà Mỹ đang cố gắng thương lượng có thể là liều thuốc bổ mà các tập
đoàn của Mỹ đang thèm muốn. Tuy nhiên, trên thực tế, sự “tái cân bằng mang tính chiến lược” mà Chính quyền Obama đang
thúc đẩy như là sự điều chỉnh giữa nhiệm kỳ đối với chính sách đối ngoại của Mỹ vẫn chỉ mạnh
mẽ trong giọng điệu nhưng lại khá yếu ớt về nội dung. Hãy nghĩ về điều này như là một tiểu
thuyết hư cấu tài tình mà nhiều độc giả sẵn sàng tạm ngừng sự hoài nghi của họ vì sự quảng
cáo của nó. Xét cho cùng, trong thời đại sắp tới của chính sách thắt lưng buộc bụng của Lầu Năm
Góc và phản ứng dữ dội của công luận trong nước,Washington có thể sẽ cảm thấy khó khăn khi dịch chuyển thêm bất kỳ nguồn lực đáng kể nào sang khu vực châu Á. Thậm chí TPP cũng chỉ là
một sự thừa nhận về việc khá nhiều quyền lực kinh tế trong khu vực đã rơi vào tay Trung Quốc. Ngoài ra cũng cần phải lưu ý đến một giai đoạn lịch sử lâu dài hơn. Mỹ đã bắt đầu rút quân khỏi
châu Á kể từ những năm 1970, mặc dù “động thái chiến lược rút lui về hậu phương” này theo
thuật ngữ quân sự nổi tiếng – cũng đã không diễn ra nhanh chóng hay đi kèm với những bức
ảnh “sứ mệnh hơàn thành” . “Sự xoay trục” được quảng bá rầm rộ này của chính phủ giống hơn bao giờ hết một mảng cỏ tróc
– một cú xuynh gậy, một cú đánh trượt, và một lỗ gôn, so với là bất cứ cái gì gần giống như một
cú át (hole-in-one – ghi bàn thắng chỉ bằng một cú đánh). Dấu chân dần thu hẹp Trong Chiến tranh Lạnh, Mỹ đã tham chiến và đổ máu ở châu Á nhiều hơn bất cứ nơi nào khác
trên Trái Đất. Từ năm 1950 đến năm 1953, dưới ngọn cờ Liên hợp quốc, các lực lượng Mỹ đã
phải vật lộn để kiểm soát bán đảo Triều Tiên, kết thúc mà không ký kết được một hiệp ước hòa
bình nào cùng với một sự bế tắc ở cùng đường phân chia nơi cuộc chiến đã bắt đầu. Tại một thời
điểm khi cuộc chiến tranh Việt Nam mở rộng vào những năm 1960 và 1970, số lính Mỹ tại châu
Á đã tăng lên tới hơn 800.000 quân. Tuy nhiên, kể từ khi cuộc chiến tranh thảm khốc này kết thúc, Washington đã rút quân khỏi khu vực này một cách rất từ từ và từng đợt. Hiện giờ, số
nhân viên quân sự Mỹ ở khu vực này đã giảm xuống dưới 100.000. Có thể cho là con số thấp
này ở vào những năm George w. Bush nắm quyền khi quân đội Mỹ sa lầy ở Iraq và Afghanistan,
và những người chỉ trích đã bắt đầu cáo buộc Chính quyền Bush đã “đánh mất châu Á” vào tay
một Trung Quổc đang trỗi dậy. Nhìn vào các con số, không khó để đi đến kết luận rằng sự chú ý của Washington quả thực đã
dịch chuyển ra khỏi khu vực Thái Bình Dương. Hãy xem xét Triều Tiên. Hòa bình khó có thể diễn
ra trên bán đảo này. Thực tế, vũ khí hạt nhân của Triều Tiên và sự hiện đại hóa quân sự trên
diện rộng của Hàn Quốc chỉ có tác dụng làm gia tăng căng thẳng. Tuy nhiên, Mỹ đã liên tục cắt giảm các lực lượng của mình cả về quy mô lẫn tầm quan trọng ở
Hàn Quốc trong một tiến trình chuyển giao quyền lực bị ngắt quãng. Trong vòng 45 năm qua,
Washington đã ba lần đơn phương rút quân khỏi bán đảo Triều Tiên và đều nhận được sự không
đồng tình từ phía Chính phủ Hàn Quốc. Đầu những năm 1970, gần 70.000 lính Mỹ đã đóng
quân ở Hàn Quốc vào thời điểm Chính quyền Nixon lần đầu tiên rút toàn bộ một sư đoàn gồm
20.000 quân. Sau đó, chính quyền Carter, ngay từ đầu đã rất muốn rút tất cả các lực lượng của Mỹ, đã chấp nhận một sự giảm quân hạn chế khác. Vào năm 1991, trước việc chủ nghĩa cộng
sản trên phần lớn thế giới bị sụp đổ (nhưng không phải ở Triều Tiên), Chính quyền George H.w.
Bush đã đơn phương rút vũ khí hạt nhân chiến thuật khỏi bán đảo này. Ở thế kỷ 21, sự hiện diện quân sự Mỹ đã một lần nữa thu hẹp lại – từ khoảng 37.000 quân
xuống còn 28.500 quân ở thời điểm hiện tại, lần này là bởi các cuộc đàm phán giữa Washington
và Seoul. (Một đội quân nhỏ gồm 800 binh sỹ mới đây đã được cử sang Hàn Quốc để gửi một tín
hiệu về “quyết tâm” của Mỹ đối với Triều Tiên, nhưng chỉ luân phiên 9 tháng một lần). Ngoài ra,
quân đội Mỹ đồn trú gần khu vực phi quân sự phân cách hai miền Bắc Nam, từ lâu đã mang ý
nghĩa như là “một sợi dây bẫy” sẽ đảm bảo cho sự dính líu của Mỹ trong bất kỳ cuộc chiến nào trong tương lai giữa hai nước, đang được dịch chuyển về phía Nam. Tuy nhiên, các quan chức của
Lầu Năm Góc gần đây đã nói bóng gió về việc để lại một phần lực lượng ở khu vực này. Hai nước
hiện vẫn đang đàm phán việc chuyển giao những gì mà sáu thập kỷ sau khi cuộc chiến tranh
Triều Tiên kết thúc vẫn được nhắc tới như là “kiểm soát hoạt động thời chiến,” một việc đáng ra
phải làm từ lâu. Việc cắt giảm lực lượng đã đi cùng với việc Mỹ đóng cửa và củng cố các căn cứ
của mình, bao gồm cả đơn vị đồn trú lớn Yongsan nằm giữa thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Hàn Quốc sẽ nắm toàn quyền kiểm soát nó trong một vài năm tới. “Dấu chân” Mỹ không chỉ thu hẹp lại ở Hàn Quốc. Một chiều hướng tái triển khai lặng lẽ hơn
cũng đã cắt giảm các lực lượng mặt đất của Mỹ ở Nhật Bản, từ khoảng 46.000 vào năm 1990
xuống đội ngũ gồm 38.000 quân hiện tại. Những thay đổi thậm chí còn lớn hơn hiện đang được
xem xét. Vào năm 2000, trong một chuyến công du tới Okinawa – quận lớn nhất phía Nam Nhật Bản,
Tổng thống Bill Clinton đã hứa hẹn sẽ thu nhỏ sự hiện diện quân sự đáng kinh ngạc của Mỹ trên
hòn đảo này. Vào thời điểm đó, người dân Okinavva đã rất giận dữ về một loạt vụ sát hại và
cưỡng hiếp do lính Mỹ thực hiện cũng như những vụ tai nạn liên quan đến quân sự đã cướp đi
sinh mạng của người dân Okinawa và những mối đe dọa đến sức khỏe của họ từ đủ thứ ô nhiễm
tạo ra bởi hơn 30 căn cứ quân sự của Mỹ. Kể từ đó, Washington đã theo đuổi một kế hoạch nhằm đóng cửa Căn cứ Không quân – Thủy quân lục chiến Futenma – một cơ sở cũ kỹ tọa lạc
một cách nguy hiểm giữa một thành phố hiện đại – và xây dựng một căn cứ thay thế ở một nơi
khác trên đảo hòn này. Kế hoạch này cũng đòi hỏi tái bố trí 9.000 lính thủy đánh bộ trên đảo
Okinawa tới các khu căn cứ khác của Mỹ ở Thái Bình Dương. Nếu kế hoạch này được triển khai,
các lực lượng của Mỹ tại Nhật Bản sẽ được giảm đến 25%. Tại những nơi khác ở châu Á, dưới áp lực từ các nhà hoạt động chính trị địa phương, Mỹ đã phải
đóng cửa hai căn cứ quân sự ở Philippines vào năm 1991, rút gần 15.000 binh sỹ ở nước này và
thay thế một dàn xếp đặt căn cứ lâu dài bằng một thỏa thuận khiêm tốn hơn: “Thỏa thuận Các
lực lượng thăm viếng”. Trong những năm gần đây, Washington đã đàm phán về “các hiệp định
hợp tác” với nhiều nước trong khu vực, bao gồm cả kẻ địch cũ của mình là Việt Nam, nhưng đã
không xây dựng được bất kỳ căn cứ mới đáng kể nào. Ngoài các lực lượng ở Nhật Bản và Hàn Quốc, các binh sỹ trên các tàu chiến và tàu ngầm, sự hiện diện quân sự của Mỹ ở phần còn lại
của khu vực này là không đáng kể. Dĩ nhiên, việc cắt giảm binh sỹ và đóng cửa các căn cứ không nhất thiết là những dấu hiệu rút
lui. Xét cho cùng, Lầu Năm Góc đang tập trung vào sự chuyển đổi sang một tư thế chiến đấu linh
hoạt hơn, xem nhẹ các căn cứ cố định và chú trọng vào các đơn vị phản ứng nhanh nhẹ nhàng
hơn. Trong khi đó, việc Mỹ hiện đại hóa các lực lượng của mình có nghĩa rằng hỏa lực của Mỹ đã
tăng lên ngay cả khi sự hiện diện của nước này ở Thái Bình Dương đã suy giảm. Ngoài ra, Mỹ đã
nhấn mạnh vào việc triển khai các lực lượng tác chiến đặc biệt như một phần của các hoạt động chống khủng bố ở những nơi như Philippines, Thái Lan và Indonesia, trong khi đẩy mạnh triển
khai nhiều lớp phòng thủ tên lửa đạn đạo ở khu vực. Tất cả những chính sách này đã đi trước
chiến lược “xoay trục”. Tuy nhiên, đường xu hướng kể từ những năm 1970 ngày càng trở nên rõ nét. Ngay cả khi năng
lực được nâng cấp, các lực lượng Mỹ cũng đã từ từ dịch chuyển sang một tư thế ngoài đường
chân trời ở châu Á, với việc các căn cứ quân sự ở Guam và Hawai ngày càng trở nên quan trọng
trong khi những căn cứ ở Hàn Quốc và Nhật Bản thì âm thầm xuống cấp. Khi rút lui dần,
Washington cũng gia tăng sức ép đối với các đồng minh, buộc họ phải chi trả nhiều hơn để hỗ trợ
các lực lượng của Mỹ đồn trú tại các vùng lãnh thổ của các nước này, mua các hệ thống vũ khí đắt đỏ hơn của Mỹ và tăng cường quân đội của riêng họ. Như Mỹ từng tìm cách “Việt Nam hóa”
và “Iraq hóa” các lực lượng quân sự ở các nước mà Mỹ đã rút quân khỏi, Mỹ đã thực hiện chiến
lược “châu Á hóa” từ từ của riêng mình ở khu vực Thái Bình Dương. “Sự xoay trục” không tồn tại “Sự xoay trục” sang Thái Bình Dương đã được quảng cáo như là một đường hướng nhằm tạm
ngưng chiều hướng chuyển dịch này và củng cố vị thế của Mỹ như là một bên tham gia ở châu
Á. Tuy nhiên, cho đến giờ, chiến lược “tái cân bằng” được quảng cáo rùm beng này về cơ bản
cũng chỉ là một trò cua cá, liên quan đến không phải việc tăng cường lực lượng đáng kể mà tới
một sự chuyển dịch xung quanh các lực lượng của Mỹ ở châu Á. Trò chơi này đòi hỏi, trong số các
yếu tố khác, một đội quân gồm 18.000 lính thủy đánh bộ ở căn cứ Futenma. Trong hơn 15 năm, Washington và Tokyo đã thất bại trong việc đi đến một thỏa thuận về việc đóng cửa căn cứ đã cũ
nát này và xây dựng một căn cứ mới thay thế. Đại đa số người dân Okinawa vẫn bác bỏ bất kỳ
một kế hoạch xây dựng căn cứ mới nào, một căn cứ sẽ gây tổn hại cho hệ sinh thái mỏng manh
ở khu vực nàỵ. Ngoài ra, Okinawa là nơi đồn trú của hơn 70% căn cứ quân sự của Mỹ ở Nhật
Bản, và những cư dân trên hòn đảo này mệt mỏi vì những thiệt hại phụ thêm mà binh sỹ Mỹ
gây ra cho các cộng đồng sở tại. Dù sớm hay muộn, khoảng 5.000 lính thủy đánh bộ sẽ được chuyển đến một căn cứ mở rộng
trên đảo Guam, một dự án xây đựng khổng lồ do Chỉnh phủ Nhật Bản cam kết hỗ trợ. 2.700 lính
thủy đánh bộ khác dự kiến sẽ được bố trí đến Hawaii. Khoảng 2.500 binh sỹ sẽ luân phiên đóng
quân tại căn cứ Không quân Hoàng gia Australia ở Darwin. Khoảng 8.000 đến 10.000 lính thủy đánh bộ được cho rằng sẽ tiếp tục đồn trú tại Okinawa –
hoặc ít ra, Washington và Tokyo muốn giữ nguyên lực lượng này tại đây. Nhưng điều này còn
phải phụ thuộc vào vòng đàm phán mới đây nhất. Cuối tháng 12/2013, Thị trưởng Okinawa, ông
Hirokazu Nakaima đã đột ngột thay đổi lập trường của mình phản đối xây dựng một căn cứ quân
sự mới, một phần nhờ vào khoản tiền 300 tỷ yên một năm mà Tokyo hứa hẹn sẽ bơm vào nền
kinh tế Okinawa trong 8 năm tới. Thế nhưng thỏa thuận này còn lâu mới thực hiện được. Tại cuộc bầu cử hồi tháng Giêng ở thành
phố Nago – đơn vị có thẩm quyền đối với Henoko, địa điểm căn cứ mới sẽ được xây dựng, Thị
trưởng Susumu Inamine đã tái đắc cử nhiệm kỳ thứ hai sau khi cam kết giữ vững lập trường của
mình phản đối chương trình xây dựng được đề xuất, số lượng cử tri đi bầu cao, cũng như biên độ
thắng cử của Inamine – bất chấp một sự hứa hẹn từ đảng bảo thủ cầm quyền về việc cấp thêm
cho Nago một khoản tiền trị giá 50 tỷ yên nếu người dân từ chối ủng hộ Thị trưởng đương nhiệm. Trong khi đó, các tổ chức dân sự vẫn tiếp tục nỗ lực nhằm buộc dự án này phải dừng
hoạt động. Ngoài việc bố trí lại lực lượng lính thủy đánh bộ ở khu vực Thái Bình Dương, “sự xoay trục” này
còn bao gồm những gì? Cũng chẳng có gì nhiều. Bốn tàu chiến duyên hải mới đang được chuyển
tới Singapore để tăng cường cho lực lượng tàu tuần duyên tại khu vực này. Trước hết, một biểu
hiện mức độ nhỏ, chiếc tàu thực nghiệm đó, mà đã phải chịu những chi phí phát sinh lớn, là một
phương tiện hư nát. Tàu đầu tiên tới Singapore đã phải quay lại cảng chỉ sau 8 giờ đông hồ hạ
thủy, vấn đề mới đây nhất trong một loạt các vấn đề đã khiến Quốc hội Mỹ xúc tiến một cuộc điều tra về khả năng tồn tại của chương trình này. Lầu Năm Góc đã nêu bật tầm quan trọng của một sự tái điều chỉnh đã được lên kế hoạch từ
trước về việc cân bằng các hạm đội Mỹ trên toàn cầu. Hiện tại, tỷ lệ triển khai tàu chiến giữa khu
vực Thái Bình Dương và các khu vực phi Thái Bình Dương là 50 – 50. Trong những năm sắp tới,
tỷ lệ này có thể chuyển sang 60 – 40 nghiêng về phía khu vực Thái Bình Dương. Nhưng những
tỷ lệ này không có ý nghĩa nhiều lắm nếu quy mô tổng thể của hạm đội Mỹ dịch chuyển xuống
phía Nam. Hải quân Mỹ mới đây đã đệ trình một kế hoạch tăng cường quy mô hạm đội từ 285 tàu hiện nay lên 306 tàu trong vòng 30 năm tới. Thế nhưng kế hoạch này dựa trên khía cạnh
lạc quan nhất của phân bổ ngân sách trong tương lai được tưởng tượng ra: cao hơn 1/3 so với
lượng phân bổ mà quân chủng này đã nhận được trong những thập kỷ vừa qua. Một kịch bản có
nhiều khả năng xảy ra hơn, trong thời đại của chính sách thắt lưng buộc bụng, đó là cắt giảm
hạm đội tàu chiến xuống còn 250 tàu hoặc ít hơn khi số tàu chiến giải nhiệm nhiều hơn số tàu
chiến được thêm vào hàng năm. Ở Không Lực, tình trạng này cũng chẳng khác là mấy, “sự xoay trục” cũng không đạt được mục tiêu, căn cứ vào những gì Mỹ đã triển khai ở khu vực này. Như
ông Michael Auslin thuộc Viện Nghiên cứu Doanh nghiệp Mỹ đã điều trần trước Quốc hội hồi hè
năm 2013 vừa qua: “Không quân Mỹ đã luân phiên triển khai các máy bay F-22, B-52 và B-2 tại
khu vực Thái Bình Dương, chủ yếu ở đảo Guam và Okinawa, và giờ ngày càng ít máy bay chiến
đấu hơn có thể được chuyển tới khu vực này một cách đều đặn.” Đúng là, Washington đang thúc đẩy sản xuất loại máy bay chiến đấu F-35 thê hệ mới của mình
– Nhật Bản đã hứa sẽ mua 28 máy bay loại này nhưng thật đáng thương cho nhũng đồng minh
của Mỹ. Theo một báo cáo của Tổng thanh tra Lầu Năm Góc, đây là hệ thống vũ khí đắt đỏ nhất
trong lịch sử, loại máy bay này hiện gặp phải 719 vẩn đề kỹ thuật. Quả thực đó là quá nhiều vấn
đề đối với một hệ thống vũ khí trị giá gần 200 triệu USD cho mỗi chiếc (ở một vài phiên bản khác
là gần 300 triệu USD mỗi chiếc). Phần lớn tương lai của Lầu Năm Góc ở châu Á tập trung vào “Không Hải chiến”, một kế hoạch
chung hợp nhất giữa Lực lượng Hải-Không quân của Mỹ ra mắt vào năm 2010 với mục tiêu cụ
thể là ngăn chặn các quốc gia thù địch tiếp cận hải phận và không phận của khu vực Thái Bình
Dương. Lục quân, về cơ bản cảm thấy rằng mình đã bị gạt ra ngoài, cũng đã đề xuất sáng kiến
“Các tuyến đường Thái Bình Dương” (Pacific Pathways) của riêng mình, với mục đích là chuyển
đổi một lực lượng chủ yếu trên đất liền thành một lực lượng viễn chinh hàng hải có khả năng cạnh tranh trực tiếp với Lực lượng Lính thủy đánh bộ. Tuy nhiên, các đồng minh của Washington tại Thái Bình Dương không nên quá trông đợi vào kế
hoạch này. Chương trình này quả thực không nhiều hơn một nỗ lực ngăn chặn hao tổn binh lực
trong Lục quân, dự kiến sẽ cắt giảm 10% quân số hiện có trong vài năm tới – cùng với những
dấu hiệu về sự thu hẹp nhiều hơn trước mắt. Nhà khoa học chính trị Andrew Bacevich viết rằng:
“Các tuyến đường Thái Bình Dương hình dung ra các yếu tố tương đối nhỏ loanh quanh vùng
Viễn Đông để bất kể điều gì xảy ra, cho dù là hành động của Chúa hay hành động của kẻ ác, quân chủng này sẽ không bị lãng quên”. Mặc dù “sự xoay trục” này có thể không mang nhiều ý nghĩa, có một điều chắc chắn đó là: kế
hoạch này sẽ rất tốn kém, ngay cả khi các đồng minh đóng góp vào chăng nữa. Chẳng hạn, việc
mở rộng căn cứ quân sự Guam hiện giờ ước tính khoảng 8,6 tỷ USD (hoặc nhiều hơn), với chỉ
khoảng 3 tỷ USD do Nhật Bản đóng góp. Theo như Lầu Năm Góc ước tính, tổng chi phí cho việc
tái bố trí lực lượng lính thủy đánh bộ có thể lên tới 12 tỷ USD. Và theo ước tính của Văn phòng
Trách nhiệm Chính phủ, con số này chắc chắn vẫn còn quá thấp, chỉ riêng phí tổn di dời đến Guam cũng đã gấp đôi con số này. Do vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi Thượng Viện – trên
tinh thần nhất trí lưỡng đảng bất thường, đã chỉ trích chi phí tốn kém này. Sự thật đơn giản là Lầu Năm Góc sẽ không còn có đủ của cải để mà vung vãi như trong thập kỷ
vừa qua. Nếu chỉ riêng phí tổn di dời các lực lượng ở khu vực Thái Bình Dương cũng đã tốn kém
như vậy thì khoản kinh phí cho các triển khai mới sẽ rất khó lòng được Quốc Hội thông qua. Và
đó là chưa kể đến việc công chúng Nhật Bản, Hàn Quốc, và Australia sẽ chống đối các sắc thuế
cần thiết khi họ phải bắt đầu thanh toán “phần đóng góp” của chính mình. Tại sao là châu Á? Tại sao là lúc này? Ngay cả nếu “sự xoay trục” sang khu vực Thái Bình Dương là nhiều hỏa mù hơn hỏa lực, Mỹ
cũng khó có thể là một con hổ giấy ở châu Á. Cho đến giờ, Mỹ vẫn là bên tham gia quân sự hùng
mạnh nhất ở khu vực này. Với các tàu sân bay, tàu khu trục, máy bay chiến đấu và tàu ngầm
nguyên tử, tất cả đều có nghĩa rằng Mỹ có thể chứng tỏ sức mạnh của mình bất cứ khi nào cần
thiết.. Nhưng nhận thức cũng đóng một vai trò quan trọng trong địa chính trị và hiện giờ Trung Quốc
đang thắng thế trong trò chơi nhận thức. Bắc Kinh có của cải dồi dào và đã sử dụng đáng kể
thặng dư ngoại tệ của mình để lôi kéo các quốc gia trong khu vực (ngay cả khi Trung Quốc làm
giảm bớt một phần trong thiện chí đó với các tuyên bố lãnh thổ và hành động quân sự của nước
này). Vào năm 2010, Trung Quốc đã hợp tác với các nước láng giềng Đông Nam Á của mình để
thiết lập một khu vực thương mại tự do đủ lớn nhằm cạnh tranh với châu Âu và Bắc Mỹ một cách thuận lợi. Mặc dù Trung Quốc sẽ không có khả năng triển khai sức mạnh của mình ngay cả là có thể so
sánh được với Mỹ trong tương lai có thể thấy trước, chi tiêu quân sự 2 con số trong suốt thập kỷ
qua đã giúp Trung Quốc thu hẹp khoảng cách với Nhật Bản và Hàn Quốc. Tình hình căng thẳng
tại khu vực này đã gia tăng – xoay quanh các tranh chấp về các quần đảo giữa Nhật Bản và
Trung Quốc, xung quanh vùng Biển Hoa Nam (Biển Đông) giàu tiềm năng dầu mỏ, và cả trong
không phận sau khi Trung Quốc đơn phương thiết lập “Vùng nhận dạng phòng không” (ADIZ) của mình vào tháng 11/2013, bao trùm cả quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư. Hành động phô trương sức mạnh của Trung Quốc vẫn là yếu tố duy nhất có thể biến “sự xoay
trục” sang khu vực Thái Bình Dương trở thành hiện thực. Nhiều quốc gia đã từng có thái độ nước
đôi với sự hiện diện quân sự của Mỹ – chẳng hạn như Việt Nam hay Philippines – giờ đây đang
sẵn sàng trải thảm nghênh đón các lực lượng quân sự Mỹ. Nhật Bản hiện đang lấy cớ “mối nguy
cơ Trung Quốc” để làm ngơ “hiến pháp hòa bình” và tăng cường hợp tác với Lầu Năm Góc. Và Mỹ
cũng đang háo hức khớp nối các mối quan hệ song phương khác nhau của mình từ Ấn Độ đến Australia và Hàn Quốc – thành một tấm áo choàng để kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc. Ngay cả khi chẳng mấy thực chất, sự tái bố trí lực lượng ở Thái Bình Dương cho tới nay có tác
dụng bởi các bên tham gia khác nhau nhận thấy rằng sự tái bố trí này là hữu ích để có thể tin
tưởng. Đối với Trung Quốc, thực tế này đem lại một lý do căn bản thuận lợi để mua hoặc xây
dựng các hệ thống vũ khí mới nhằm ngăn chặn Mỹ kiểm soát hoàn toàn không phận và hải
phận. Đối với các đồng minh của Mỹ, “sự xoay trục” này đem lại một chính sách bảo hiểm mà nó
đòi hỏi các nước này phải trả phí bảo hiểm dưới hình thức tăng cường quân đội của chính mình. Ở Mỹ, các thành phần diều hâu đang hoan hỉ với sự trở lại châu Á giống như Rambo, trong khi
các thành phần bồ câu lại than phiền về chủ nghĩa quân phiệt cố hữu của chính sách mới. Lầu
Năm Góc đang có thêm cơ hội lựa chọn căn cứ mới; các công ty sản xuất vũ khí có khả năng
kiếm được các hợp đồng béo bở; các tập đoàn khác của Mỹ cũng nhìn thấy nhiều cơ hội tiếp cận
lớn hơn vào các thị trường nước ngoài qua thông qua TPP. Tuy nhiên, một thực tế quan trọng ở châu Á cũng cần được lưu ý khi xem xét việc Washington
đang ngày càng tập trung vào khu vực Thái Bình Dương cũng như các lợi ích ở khu vực này: kể
từ khi Chiến tranh Thế giới lần thứ Hai kết thúc, Mỹ chưa bao giờ có thể áp đặt ý muốn của mình
lên khu vực này. Mỹ đã lâm vào thế bế tắc trong cuộc chiến tranh Triều Tiên; đã thất bại trong cuộc
chiến tranh Việt Nam; cũng không thể ngăn ngừa Triều Tiên sở hữu vũ khí hạt nhân. Mỹ thậm
chí cũng không thể ngăn cản việc hai đồng minh là Nhật Bản và Hàn Quốc tranh cãi về quyền sở
hữu các hải đảo nhỏ bé giữa hai quốc gia. Và quan hệ kinh tế của Mỹ với Trung Quốc – một sự
cùng phụ thuộc dựa trên sản xuất thái quá và tiêu thụ thái quá – là một sự kiềm hãm đối với
chủ nghĩa đơn phương của Mỹ trong khu vực. Trong thời đại của chính sách kinh tế thắt lưng buộc bụng và hợp tác về mặt chính sách với
Trung Quốc, “sự xoay trục” sang Thái Bình Dương chẳng khác gì một điệu nhảy phức tạp mà ở
đó Mỹ lùi về phía sau trong khi đẩy những đồng minh của mình về phía trước. Đó có thể dường
như là lối xử sự khôn vặt trong việc chia sẻ gánh nặng an ninh, nhưng sự tái bố trí lực lượng này
vẫn tốn kém một cách ghê gớm… Và việc “châu Á hóa” Thái Bình Dương thông qua xuất khẩu vũ
khí và các thỏa thuận thăm viếng chẳng khác gì đổ thêm dầu vào lửa trong cuộc chạy đua vũ trang quan trọng nhất trên thế giới hiện nay. Chiếc tàu sân bay ì ạch được biết đến như là nước Mỳ nên thực hiện một “sự xoay trục” đúng
như cái tên của nó: một sự chuyển dịch từ chủ trương quân sự sang tinh thần ưa chuộng hòa
bình. Thay vào đó, Mỹ chỉ làm xáo trộn mọi thứ và để lại đàng sau sự bất ổn.

Posted in Articles | Để lại bình luận

Ai Cập, Syria – Liên Xô

Ai Cập, Syria:Bài học đau đớn khi bỏ Liên Xô theo TQ
(Quan hệ quốc tế) – Ngoài những chiến đấu cơ bị phi công các nước Arập đánh cắp mang sang Israel, Liên Xô còn nếm nhiều “trái đắng” trong hợp tác quân sự với các nước Arập.

Mấy dòng lịch sử

Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, vùng đất Palestine trở thành một vùng lãnh thổ ủy trị dưới sự cai quản của người Anh. Trước đó, từ nửa sau thế kỷ thứ XIX, rất nhiều người Do thái từ khắp nơi trên thế giới đã đổ về vùng đất này với hy vọng thành lập một nhà nước Do thái tại nơi mà họ cho là lãnh thổ lịch sử của tổ tiên họ.

Nguyện vọng trên của người Do thái được cả Mỹ và Liên Xô hăng hái ủng hộ, dù mỗi bên đều có các toan tính khác nhau. Ngay từ năm 1921, được sự hậu thuẫn của Liên Xô, Đảng cộng sản Palestine (theo nghĩa Palestine là một vùng lãnh thổ chứ không phải là người Palestine theo cách hiểu hiện nay) được thành lập.

Chính phủ Liên Xô khuyến khích và hỗ trợ những người Do thái về định cư tại khu vực này với hy vọng là sẽ xây dựng được một quốc gia xã hội chủ nghĩa ngay tại trung tâm của khu vực Trung Đông. Còn Mỹ tích cực hỗ trợ các tổ chức Zionist (các tổ chức của người Do thái) với tính toán là các tổ chức này sẽ là nòng cốt cho một nhà nước Do thái thân Mỹ (Israel ngày nay không chỉ thân và còn là đồng minh chiến lược của Mỹ).

Mùa Thu năm 1947, trong các khóa họp của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, ngoại trưởng Liên Xô A. Gromyko đã nhiều lần đòi hỏi phải thành lập một nhà nước Do thái độc lập, Mỹ rất ủng hộ và vì thế ngày 25/11/1947, Đại hội đồng LHQ đã ra nghị quyết chia Palestine thành hai khu vực, thành lập nhà nước Do thái và nhà nước Arập, Jerusalem có quy chế là một thành phố quốc tế (chính vì thế mà khi V.Stalin mất, Israel đã tổ chức quốc tang mặc dù lúc này hai nước đã cắt đứt quan hệ ngoại giao). Ngay ngày hôm sau, 26/11/1947, cuộc chiến tranh giữa Israel và các nước Arập bùng nổ vì các nước Arập không chấp nhận sự tồn tại một nhà nước Do thái tại khu vực này.

Liên xô đứng hẳn về phía các nước Arập

Việc Liên Xô từ lập trường ủng hộ việc thành lập một nhà nước Do thái quay sang sang hỗ trợ các nước Arập trong các cuộc chiến với Israel là cả một câu chuyện dài, xin đề cập ở dịp khác.

Chỉ biết rằng, trong cuộc chiến 6 ngày năm 1967 với Israel, Quân đội Ai Cập bị thiệt hại nặng nề, nhất là không quân và lực lượng tăng – thiết giáp. Ngày 5/6/1967, Israel bắt đầu chiến dịch “Udar Siona” (Cú đấm của Xion). Chỉ trong vòng 3 tiếng đồng hồ, Lực lượng không quân Ai Cập gần như bị xóa sổ.

Các máy bay Israel bay thành từng đoàn bổ nhào xuống các sân bay của đối phương ở Bán đảo Sinai, đồng bằng sông Nil và bắn thẳng vào các máy bay Ai Cập đang đậu trên sân bay. Hơn 2/3 máy bay Ai Cập bốc cháy ngay tại các sân bay, không một chiếc nào kịp cất cánh.

Sang ngày 6/6, gần 3/4 xe tăng và xe chiến đấu của Ai Cập mới được Liên Xô cung cấp đã bị máy bay và xe tăng Israel tiêu diệt tại khu vực Mistla trong trận chiến giành bán đảo Sinai.

Ngày 11/6/1967, Chính phủ Liên Xô lại một lần nữa tuyên bố sẽ chuyển giao vũ khí (viện trợ không hoàn lại) đủ để bù đắp cho Ai Cập tất cả những tổn thất trong các trận đánh trên bán đảo Sinai.

Đến giữa năm 1968, số lượng máy bay chiến đấu của Không quân Ai Cập đã đạt mức trước chiến tranh, và đến năm 1969, số xe tăng của nước này thậm chí còn nhiều hơn số lượng tăng thiết giáp đã có trước cuộc chiến 6 ngày.

Từ tháng 7/1969, Không quân Israel bắt đầu không kích Ai Cập. Mặc dù đã có được những máy bay và phương tiện phòng không hiện đại nhất của Liên Xô thời đó, Ai Cập vẫn chịu những tổn thất nặng.

Các máy bay F-4 và Skyhawk mà Mỹ cũng mới cung cấp cho Israel liên tục bắn hạ các máy bay MiG do phi công Ai Cập điều khiển, còn tên lửa SAM -2 Xô Viết cũng do các kíp trắc thủ Ai Cập điều khiển đã không hạ được một chiếc máy bay nào của đối phương. Chỉ trong năm 1969, Ai Cập dã mất 48 máy bay trong khi Israel chỉ mất 5 chiếc.

Ngày 22/1/1970, Tổng thống Ai Cập Nasser đến Moscow và đã có buổi trao đổi rất lâu với L. Breznhev (Tổng bí thư) và Grechko (Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô). Sau khi chê bai chất lượng của vũ khí Liên Xô như thường lệ, ông này yêu câu Liên Xô đưa quân vào Ai Cập và yêu cầu này được chấp thuận.

Tổng thống Ai cập Nasser
Đến giữa tháng 2/1970, đã có 1.500 quân nhân Xô Viết đến Cairo và sau đó con số này tăng lên tới 20.000 người. Người được bổ nhiệm làm cố vấn trưởng Liên Xô tại Ai Cập là tướng Okunhev – vị tướng phòng không được coi là giỏi nhất Liên Xô thời kỳ đó.

Tướng Okunhev, sau khi đến Ai Cập đã bố trí hệ thống phòng không của Ai Cập thành 3 khu vực phòng không (3 tuyến). Khu vực một kéo dài 30 km từ kênh Suez sâu vào trong nội địa Ai cập và tại đây bố trí 120 tổ hợp tên lửa và 6 trạm radar.

Tiếp theo sau là khu vực phòng không số hai có 60 tổ hợp tên lửa phòng không và 300 máy bay tiêm kích- ném bom. Khu vực ba kéo dài đến bờ sông Nil, tại khu vực này có 90 tổ hợp tên lửa và 150 máy bay tiêm kích (dĩ nhiên, máy bay và tên lửa, radar đều của Liên Xô).

Các chuyên gia Xô Viết tự mình bảo dưỡng và sử dụng các tổ hợp tên lửa, tự mình lái MiG và Su tham chiến.

Sự hiện diện của các cố vấn quân sự và chuyên gia Xô Viết đã có tác động tức thời và từ mùa xuân năm 1970, cục diện cuộc chiến đã có những thay đổi căn bản.

Do ngại đụng độ với các phi công và hệ thống phòng không Xô Viết, phía Israel chấm dứt các cuộc không kích Cairo và Alexandria. Các cuộc không chiến trên bầu trời kênh đào Suez vẫn tiếp tục, nhưng lần này không chỉ có mình MiG và Su bị bắn hạ, mà là cả F-4 và Mirage.

Các tổ hợp công nghiệp quốc phòng Mỹ được một phen ngạc nhiên không mấy thú vị khi F-4, vốn được coi là “không thể tiếp cận” đối với các hệ thống phòng không, đã bị SAM-3 bắn hạ (xin nói lại là SAM-3).

Tháng “trăng mật” nhanh chóng qua đi

Sau cuộc chiến 6 ngày, Ai Cập và Syria vô cùng cần viện trợ của Liên Xô nên đã yêu cầu Liên Xô đưa quân vào như đã nói ở trên. Nhưng sau đó, quan hệ giữa 2 nước này với “Người bạn phương Bắc” dần xấu đi.

Có nhiều nguyên nhân, nhưng theo nhiều chuyên gia thì có lẽ nguyên nhân hàng đầu là do tính cách dân tộc giữa những người Nga và người Arập quá khác nhau. Các quân nhân Liên Xô sống ở khu vực riêng, được bảo vệ cẩn mật và không bao giờ đi một mình vào thành phố, không thích tham gia vào các phi vụ buôn bán trao đổi với người Arập.

Người Ai Cập vì thế cho rằng người Nga kiêu ngạo và khó hợp tác. Có thể tóm tắt thái độ của người Ai Cập đối với binh lính Xô Viết bằng câu nói như sau: “Chúng tôi cảm ơn người Nga vì bom đã không còn rơi xuống đầu chúng tôi nữa, nhưng chúng tôi không thích họ”.

Về phần mình, các chuyên gia Nga hết sức phẫn nộ trước những lời chỉ trích chất lượng vũ khí Xô Viết mà họ thường xuyên phải nghe đồng thời cũng cực kỳ thất vọng trước trình độ kỹ thuật yếu kém của các chuyên gia Ai Cập, thêm nữa, họ cũng không hiểu mình chiến đấu tại đây vì cái gì. Trong con mắt của những người lính Nga, binh sỹ Ai Cập và Syria là những người hèn nhát, trình độ kỹ thuật và sử dụng vũ khí – khí tài kém, không muốn và không dám chiến đấu.

Chính vì thế mà những loại vũ khí và khí tài mới chỉ các chuyên gia Liên Xô mới được phép bảo dưỡng, sử dụng, người Arập không được tiếp cận. Mâu thuẫn tích tụ đến mức người Ai Cập có ấn tượng những người lính Nga không phải là bạn mà là những kẻ chiếm đóng.

Cố lãnh đạo Libya M. Gadafi
Thêm nữa, nhà lãnh đạo Libay M. Gadafi (mới bị lật đổ năm 2011) lại đổ thêm dầu vào lửa trong một lần đến thăm Cairo. Ông này nói với Tổng thống Ai Cập A.Sadat (người kế nhiệm Nasser từ tháng 9/1970) là người Ai Cập đã là khách ngay trên đất nước mình, bởi vì người chủ thực sự ở nước này chính là người Nga.

Nhằm chứng minh cho nhận xét của mình, M. Gadafi đề nghị A. Sadat cùng đến thăm một căn cứ Xô Viết bất kỳ để “mục sở thị”. Cả hai Tổng thống lên xe đến căn cứ quân sự Liên Xô ở Mersa- Matrukh.

Đúng như Gadafi cảnh báo trước, các binh sỹ gác cổng đã không cho hai ông này vào căn cứ cho đến khi có sự can thiệp trực tiếp của đích thân đại sứ Liên Xô tại Cairo Vinogradov. A. Sadat coi đây là một sự sỉ nhục cá nhân và không bao giờ tha thứ cho điều đó.

Tổng thống Ai cập A.Sadat
Tuy nhiên, không chỉ có vậy. Liên Xô không muốn có một cuộc chiến tranh mới ở Trung Đông và điều đó càng làm tăng mâu thuẫn giữa hai nước. Sau khi thăm Liên Xô vào giữa năm 1971, qua các buổi trao đổi với giới lãnh đạo nước này, A. Sadat hiểu rằng đối với Liên Xô, việc khôi phục lại tuyến đường hàng hải qua kênh đào Suez quan trọng hơn nhiều so với việc giúp các nước Arập lấy lại các lãnh thổ bị Israel chiếm đóng.

Liên Xô muốn giải quyết xung đột Arập- Israel bằng giải pháp hòa bình. Nhưng cả Ai Cập lẫn Syria đều không chấp nhận bất kỳ một thỏa hiệp nào. Họ không muốn đàm phán với một quốc gia mà ngay sự tồn tại của của nó đã là một điều không thể chấp nhận được.

Một mâu thuẫn nữa không thể giải quyết là dòng người di cư gốc Do thái từ Liên Xô đến Israel – Liên Xô ngấm ngầm khuyến khích trong khi Ai Cập cho rằng đây là tiến trình “tăng sức ép của chủ nghĩa đế quốc Do thái đối với nhân dân Palestine” (và lo ngại này là có cơ sở, trong số những người Do thái đến từ Liên Xô và con cháu của họ đã có những tướng lĩnh nổi tiếng gây rất nhiều phiền toái cho các nước Arập như tướng “Meir (Slutski) và tướng Sharon mới qua đời cách đây không lâu).

Giọt nước làm tràn ly là việc Liên Xô từ chối cung cấp cho Ai Cập những loại vũ khí mới nhất của Công nghiệp quốc phòng Xô Viết vì không muốn Ai Cập lại khởi động một cuộc chiến mới.

Và tất cả đã kết thúc khi chiều ngày 18/7/1973, Đài phát thanh Ai Cập truyền đi tuyên bố của tổng thống A. Sadat: “Đất nước Ai Cập đã giành lại được tự do: tất cả các cố vấn quân sự Xô Viết phải chuyển giao ngay toàn bộ vũ khí- trang thiết bị kỹ thuật quân sự cho Quân đội Ai Cập và rời Ai Cập”.

Quan hệ giữa Liên Xô với Syria cũng không tốt đẹp hơn. Trên khắp các bức tường ở Damascus dày đặc các hàng chữ: “Ivan, hãy cút đi”. Không những thế, Tổng thống Hafez Assad (Assad cha) bắt đầu mua vũ khí từ một kẻ thù không đội trời chung của Liên Xô (lúc bấy giờ) là Trung Quốc (dĩ nhiên, đằng sau đó còn nhiều thỏa thuận khác khiến Moscow điên tiết).

Tổng tham mưu trưởng Quân đội Syria thăm Trung Quốc và hai bên thống nhất về việc Trung Quốc cung cấp các tên lửa cho nước này mà không hề có tham vấn gì với phía Liên Xô.

Tổng thống Syria Hafez Assad
Ngày 13/9, chỉ trong một trận không chiến trên biển Địa Trung Hải, các “con ma” (F-4) của Israel đã bắn hạ 13 MiG-21 của Syria. Syria yêu cầu Liên Xô cung cấp cho mình loại MiG-23 mới nhất nhưng Liên Xô vẫn từ chối với quan ngại là cung cấp nó không khác gì khuyến khích nước này khởi động chiến tranh.

Gần như ngay lập tức, Syria cũng tuyên bố tống khứ các cố vấn quân sự Xô Viết về nước.

Ngày 4/10, những chiếc máy bay Liên Xô đầu tiên hạ cánh xuống các sân bay ở Cairo và Damascus để di tản gia đình các cố vấn và chuyên gia Xô Viết. Cùng ngày, tất cả các tàu quân sự Liên Xô rời cảng Alexandria, kết thúc một thời gian hợp tác quân sự không mấy có hậu với Ai cập và Syria.

Hai ngày sau, ngày 6/10, Ai Cập và Syria lại tấn công Israel. Cuộc chiến tranh này còn được gọi là cuộc chiến ngày phán xét 1973. Quân đội Ai Cập và Syria với 3.225 xe tăng, 946 máy bay chiến đấu và 430.000 tay súng đối đầu với Quân đội Israel có trong tay 1.700 tăng, 488 máy bay chiến đấu và 115.000 binh sỹ.

Trong cuộc chiến tranh này, sự kiện đáng chú ý nhất là trận đấu tăng lớn nhất sau thế chiến thứ hai (quy mô chỉ sau trận đấu tăng ở Vòng cung Kursk) từ 6 giờ sáng đến tối ngày 14/10/11973. Có hơn 2.000 tăng của cả hai bên tham gia. Kết quả đến tối cùng ngày: 264 tăng của Ai cập bị tiêu diệt trong khi Israel mất 10 chiếc.

Đến năm 1976, tổng thống A.Sadat chính thức xé bỏ “Hiệp ước về hữu nghị và hợp tác” mà Ai Cập đã ký với Liên Xô trước đó.

Lê Hùng (Tổng hợp)
—————-
Nguồn: http://baodatviet.vn/the-gioi/quan-he-quoc-te/ai-cap-syriabai-hoc-dau-don-khi-bo-lien-xo-theo-tq-3031592/

Posted in Articles | Để lại bình luận

Mối quan hệ văn hóa giữa Trung Hoa và Ấn Độ

Amartya Sen
Đỗ Kim Thêm dịch

Tác giả Amartya Sen đoạt giải Nobel kinh tế năm 1998. Ông hiện là giáo sư Kinh tế học tại Ðại học Harvard, Hoa Kỳ. Hai tác phẩm mới của ông là Rationality and Freedom (Belknapp Press, 2004) và The Argumentative Indian, Writings on Indian Culture, History and Identity, (Penguin Allan Laune, 2005). Bản Việt ngữ sau đây được dịch từ Anh ngữ: “Passage to India”, đăng trong The New York Review of Book, Volume 51, Nummer 19, DecĐại ý:

Không phải chỉ có Phật Giáo mà còn nhiều khoa học khác (thiên văn, toán học, y khoa…) tạo nên mối quan hệ văn hóa lâu đời giữa hai nước. Qua thời gian, sự hợp tác đa dạng này bị chìm vào lãng quên. Hiện nay, mối quan hệ này được siết chặt trở lại, và hai nước có nhiều cơ hội tốt đẹp để học hỏi lẫn nhau. Trung Hoa có thể học hỏi hệ thống dân chủ đa đảng, phương tiện truyền thông đại chúng và các biện pháp cải thiện y tế công cộng tại Ấn Độ. Ngược lại, Ấn Độ sẽ học hỏi được những thành công vượt bực về các biện pháp cải cách kinh tế của Trung Hoa. Tinh thần vô úy trước bạo lực, nhiệt tình thảo luận công khai trước những bất đồng, sẵn sàng chấp nhận phê bình để sửa sai là một trong những truyền thống đặc sắc của Phật Giáo mà Trung Hoa có thể học hỏi và áp dụng vào những cải cách chánh trị trong tương lai.

1.

Mối quan hệ trí thức giữa Trung Hoa và Ấn Độ kéo dài từ hơn hai ngàn năm và đã để lại những ảnh hưởng sâu đậm trong lịch sử của hai nước, nhưng hiện nay điều này hầu như bị lãng quên. Nếu có đề tài nào còn gây đưọc chú ý, đó chỉ là do những tác giả có quan tâm đến lịch sử tôn giáo, đặc biệt là lịch sử Phật Giáo, một tôn giáo từ Ấn Độ du nhập sang Trung Hoa từ thế kỷ thứ nhất. Khi đó, Phật Giáo đã trở thành một sức mạnh quan trọng, nhưng khoảng hơn ngàn năm sau, bị Khổng Giáo và Lão Giáo thay thế. Nhưng tôn giáo chỉ là một phần trong lịch sử bao la của Trung Hoa và Ấn Độ trong thiên niên kỷ đầu tiên. Một sự hiểu biết toàn diện hơn về mối quan hệ này là tối cần thiết, không những giúp chúng ta hiểu rõ hơn về lịch sử một phần ba dân số thế giới, mà còn cần bởi vì mối bang giao của hai nước này rất quan trọng trong các vấn đề chính trị và xã hội hiện nay.

Một điều chắc chắn tôn giáo là một nguồn gốc chủ yếu trong sự tiếp xúc giữa Trung Hoa và Ấn Độ, và Phật giáo là trọng tâm cho những giao lưu giữa con người và tư tưởng của hai nước. Nhưng Phật Giáo không những giới hạn ảnh hưởng trong phạm vi tôn giáo, mà còn gây tác động trên các lãnh vực thế tục khác như khoa học, toán học, văn chương, ngôn ngữ, kiến trúc, y khoa và âm nhạc. Qua các du ký của người Trung Hoa tham quan Ấn Độ, thí dụ như Pháp Hiển vào thế kỷ thứ V, Huyền Trang và Nghĩa Tịnh vào thế kỷ thứ VII, cho chúng ta thấy mối quan tâm của họ không chỉ là lý thuyết hay thực hành Phật Giáo[1]. Cũng tương tự như vậy, những học giả người Ấn Độ du hành sang Trung Hoa, đặc biệt vào thế kỷ thứ VII và thứ VIII, không chỉ thuần là bậc tu hành, mà trong số nhóm người này còn có nhiều người với nghề nghiệp khác như các nhà thiên văn và toán học. Vào thế kỷ thứ VIII, một nhà thiên văn học người Ấn Độ tên là Cồ Đàm Sĩ Đạt Ta đã trở thành chủ tịch Ủy ban Thiên Văn tại Trung Hoa.

Amartya Sen đang nhận giải thưởng từ tay vua trao Photo: Anders Wiklund

Những sự phong phú và đa dạng của các mối quan hệ trí thức này bị chìm vào lãng quên qua thời gian. Hiện nay sự lơ là này còn ngày càng nhiều bởi vì người ta có khuynh hướng phân loại dân chúng thế giới qua các nền văn minh khác nhau, mà chủ yếu là định nghiã theo tiêu chuẩn tôn giáo. Một thí dụ quen thuộc nhất là lí thuyết của Samuel Huntington. Ông ta phân chia thế giới theo tiêu chuẩn văn minh Tây phương, Hồi giáo và Ấn độ giáo. Do đó ngưòi ta có khuynh hướng chỉ tìm hiểu con người qua tín ngưỡng tôn giaó, mà phần lớn những yếu tố này không thể nắm bắt được. Quan điểm chật hẹp này là một điều tác hại, đặc biệt nó không giúp chúng ta tìm hiểu về những khía cạnh khác của lịch sử tư tưởng một cách toàn diện hơn. Thí dụ như hiện nay có nhiều người còn thành kiến rằng lịch sử của người Hồi phần chủ yếu là dựa vào lịch sử Hồi giáo. Quan điểm này coi nhẹ những phát triển về khoa học tự nhiên, toán học và văn chương thu lượm đưọc qua những thành quả của giới trí thức người Hồi, đặc biệt trong khoảng thời gian từ giửa thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ XIII. Hậu quả của cái nhìn hạn hẹp thuần tôn giáo này giúp cho thành phần hoạt động cực đoan bất mãn đi tới chỗ suy nghĩ cực kỳ kiêu ngạo về sự thuần khiết của Hồi Giáo, thay vì hãnh diện lịch sử Á Rập dựa trên sự phong phú và đa dạng. Tại Ấn Độ cũng vậy, những người Hindu cực đoan cố tình giản lược nền văn hoá Ấn Độ đa dạng chỉ là văn hoá Hindu, và chỉ thích sử dụng khái niệm này, đó là một đặc điểm chung của lý thuyết gia Huntington và những chính trị gia Hindu.

Samuel Huntington

2.

Mối quan hệ giữa Trung Hoa và Ấn Độ được khởi đầu, không phải là Phật Giáo mà là thương mại. Từ hơn hai ngàn năm trước, thói quen tiêu thụ của ngưòi Ấn, đặc biệt là giới nhà giàu, bị ảnh hưởng sâu xa từ những tân tiến của Trung Hoa. Trong một tài liệu nghiên cứu về tình hình kinh tế và chính trị của Kautila, học giả về tiếng Sankrit, soạn thảo vào thế kỷ thứ IV trước Thiên Chúa, và được bổ sung thêm vào vài thế kỷ sau đó, thì tơ lụa của Trung Hoa là một trong những sản phẩm hiếm quí. Ngay trong thiên hùng ca cổ Mahabharata và trong “bộ luật về Manu” thì tơ lụa của Trung Hoa được đề cập tới như là những quà tặng.

Theo nhiều danh tác bằng tiếng Sankrit vào đầu thiên niên kỷ đầu tiên thì phẩm chất của các sản phẩm Trung Hoa được đề cao, ngay trong kịch bản “Sakuntala” do Kaladasa soạn ra vào thế kỷ thứ V cũng có đề cập, ông có lẽ là một nhà thơ và soạn kịch tài hoa nhất trong văn chương cổ điển tiếng Sankrit. Qua kịch bản này thì vua Dusyanat, trong một chuyến đi săn, đã gặp một thiếu nữ đẹp tuyệt trần tên là Sakuntala. Ông thú nhận yêu nàng say đắm bằng cách tự ví von với chiếc cờ bằng lụa phất phơ trong gió:

Thân tôi tiến về phía trước,

lòng tôi chùng lại và thoái lui

như dải lụa đào

đang phất phơ trong gió

Trong kịch bản “Harsacarita”, do Bana soạn ra từ thế kỷ thứ VII, nàng Rajyasri xinh đẹp đã mang trang phục lộng lẫy của mình bằng lụa Trung Hoa trong ngày hôn lễ. Trong văn chương Sankrit thời kỳ này, có vô số bằng chứng khác nói về những sản phẩm của Trung Hoa du nhập vào Ấn Độ, thí dụ như long não, son, hàng da quí, táo và đào.

Trong khi Trung Hoa cung ứng cho Ấn Độ từ trên 2000 năm những sản phẩm vật chất thì Ấn Độ đã du nhập Phật Giáo sang Trung Hoa, ít nhất là vào đầu thế kỷ thứ nhất. Lúc đó, theo lời mời của hoàng đế Mingdi thời nhà Hán, hai vị sư người Ấn, Dharmaraska và Kasyapa Matanga, đã du hành sang Trung Hoa. Sau đó cho đến thế kỷ XI, có vô số học giả và sư tăng người Ấn đã tiếp tục đến Trung Hoa. Hằng trăm dịch giả và học giả đã chuyển các kinh điển từ tiếng Sankrit sang Hoa ngữ. Công trình phiên dịch tiến hành với một tốc độ đáng ngạc nhiên. Mặc dầu làn sóng dịch thuật này chấm dứt vào cuối thế kỷ XI, khoảng giữa năm 982 đến năm 1011, có chừng hơn 200 bộ kinh từ tiếng Sankrit được dịch.

Học giả đầu tiên đã viết rất chi tiết về chuyến du hành Ấn Độ của mình là Pháp Hiển. Ông gốc ở miền Hoa Nam, sang Ấn thỉnh kinh Phật, để sau này về dịch lại. Sau một chuyến đi gian khổ hướng về Bắc Ấn, xuyên qua vùng Khotan, nơi Phật Giáo có ảnh hưởng mạnh, ông đã đến Ấn Độ vào năn 401. Mười năm sau ông trở về bằng đường biển. Khi vượt qua cửa khẩu sông Hằng, không xa với Calcuta ngày nay, ông cũng đã thăm Sri Lanka theo Phật Giáo và Java theo Hồi Giáo. Trong mười năm ở Ấn Độ, Pháp Hiển đã chiêm bái nhiều nơi, sưu tầm nhiều tài liệu, và sau đó dịch sang Hoa ngữ. Trong cuốn Phật quốc ký lục, ông đã mô tả khá chi tiết về Ấn Độ và Sri Lanka. Pháp Hiển cũng lưu lại nhiều năm ở Patalipura (Patna), nơi ông không những nghiên cứu kinh điển Phật Giáo mà còn mà còn học hỏi về ngôn ngữ và văn chương. Như chúng ta sẽ thấy sau này, ông còn quan tâm đến hệ thống y tế của Ấn Độ.

Huyền Trang

Còn một khuynh hướng thứ hai cho là có một sư tương phản lạ lùng và sai lầm trong việc tìm hiểu và diễn đạt những tư tưởng của Tây phương và không phải Tây phương. Khi giải thích những công trình không phải Tây phương, các nhà bình luận thưòng có khuynh hướng xem tôn giáo đóng một vai trò quan trọng, và họ quên đi những khía cạnh thế tục khác của các công trình này.Thí dụ như có một số ít người coi những công trình khoa học của Issac Newton trước hết phải hiểu theo ý nghĩa của Thiên Chúa giáo, dù hiển nhiên Newton là một tín đồ Thiên Chúa giáo. Phần đông nguời khác lại không xác quyết rằng những đóng góp khoa học của Newton cần đưọc giải thích theo chiều hướng của ánh sáng thần bí học. Chính những suy đoán nhuốm màu thần bí đã có một ý nghĩa quan trọng và đã thúc đẩy ông theo đuổi những công trình này.

Khi nói về những nền văn hóa không phải Tây phương, người ta có một cái nhìn khác biệt. Ở đây chủ thuyết giản lược vào tôn giáo có ảnh hưởng sâu đậm. Nhiều học giả thường cho rằng các công trình nghiên cứu quy mô của các học giả Phật Giáo, hay của các môn đệ theo Mật tông, chỉ có thể hiểu được một cách đúng đắn, khi người ta hiểu được giáo lý và các phương thức tu tập.

Nhưng Huyền Trang là tăng khách nổi tiếng nhất từ Trung Hoa thăm Ấn Độ vào thế kỷ thứ VII. Học giả này đã đi trong 16 năm dài xuyên qua Ấn Độ để thỉnh kinh Phật, và để sau đó lúc về Trung Hoa dịch lại. Ông cũng đã lưu lại nhiều năm ở Na Lan Đà, một tu viện nổi tiếng, không xa Patna lắm. Lúc ở Na Lan Đà, ngoài việc nghiên cứu Phật Gíáo ra, Huyền Trang còn tham khảo các lãnh vực y khoa, triết học, luận lý, toán học, thiên văn và ngữ pháp. Lúc về Trung Hoa, ông được hoàng đế nghinh đón trọng thể[2].

Nghĩa Tịnh, một vị sư đến Ấn Độ sau Huyền Trang, cũng lưu lại Na Lan Đà, ngoài nghiên cứu Phật giáo của mình, ông còn tìm hiểu thêm y khoa và y tế công cộng.

3.

Công trình dịch thuật kinh điển Phật Giáo của Nghĩa Tịnh gồm có cả những bài kinh của các tín đồ Mật tông mà truyền thống bí truyền giữ một vai trò quan trọng trong thiền định. Mật tông đã có ảnh hưởng mạnh tại Trung Hoa vào thế kỷ thứ VII và VIII. Các học giả theo Mật tông quan tâm đặc biệt đến toán học, có lẽ thoạt đầu vì có sự liên hệ trong sự màu nhiệm của Mật tông với các con số. Những nhà toán học Mật tông cũng ảnh hưởng mạnh đến toán học Trung Hoa.

Theo Joseph Needham (1900-1995) thì Nghĩa Tịnh (672-717) là đồ đệ quan trọng nhất của Mật tông và là một nhà thiên văn và toán học Trung Hoa tài hoa nhất vào thời ấy[3]. Là một tu sĩ, ông thông thạo Sankrit và am tường toán học Ấn Độ. Nhưng nếu cho rằng những công trình toán học của ông bị ảnh hưởng từ Phật Giáo, quả là một điều sai lầm. Là một nhà toán học, và do sự tình cờ, trở thành một môn đệ của Mật tông, những phân tích toán học của ông không liên hệ gì đến tông phái này. Ông giải những bài toán cổ điển bằng cách tính ra tổng số những tính huống có thể xảy ra trong một bàn cờ tướng. Ông quan tâm đặc biệt đến cách tính để làm lịch, và theo lịnh của nhà vua, ông cũng triển khai một loại lịch mới cho Trung Hoa.

Joseph Needham

Những nhà thiên văn người Ấn Độ sống ở Trung Hoa vào thế kỷ thứ VIII nghiên cứu đặc biệt khoa học về làm lịch. Họ cũng biết sử dụng các phương pháp triển khai của lượng giác, đã hình thành trước đó tại Ấn Độ. Thành tựu này vượt xa hơn cả lượng giác tại Ấn Độ mà nó bắt nguồn từ nguồn Hy Lạp. Cũng chính trong thời kỳ này, thiên văn và toán học Ấn Độ, kể cả lượng giác, đã ảnh hưỏng đến toán học và khoa học của thế giới Á Rập, qua công trình dịch thuật của Aryabhata, Varahamihira, Brahmagupta và nhiều người khác nữa.

Tư liệu của Trung Hoa cho thấy, nhiều nhà thiên văn và toán học Ấn Độ đã giữ nhiều chức vụ quan trọng trong thời kỳ này tại thủ đô Trung Hoa. Một trong số người này là Cồ Đàm, ngài không những chỉ giữ chức vụ Chủ tịch Ủy ban thiên văn Trung Hoa, mà còn trước tác nhiều bảng tổng kết nổi tiếng về thiên văn, Kayvan Zahnjing, một danh tác cổ điển vào thế kỷ thứ VIII. Ngài đã phóng tác một vài một công trình thiên văn của Ấn Độ và phổ biến tại Trung Hoa. Một trong số những tác phẩm này là Juizhi li, nói về cách soạn lịch thuộc về hành tinh ở Ấn Độ. Tài liệu này căn cứ vào một kinh sách cổ điển Sankrit, được nhà toán học Ấn Độ Vaharamihira trước tác vào khoảng năm 55 sau Công nguyên. Đây là công trình chủ yếu nhắm vào việc hướng dẫn kỹ thuật toán học cho việc ước tính những khoảng thời gian của nhật và nguyệt thực, dựa trên đường kính của mặt trăng, và những thông số liên hệ khác. Những kỹ thuật liên hệ đề ra những phương pháp này do Aryabhata lập ra vào cuối thế kỷ thứ V, sau này được các môn đệ triển khai, đặc biệt là Varahamihira và Bramaguta[4].

Yang Jingfen, một nhà thiên văn học Trung Hoa vào thế kỷ thứ VIII, đã mô tả nguồn gốc Ấn Độ của ngành thiên văn Trung Hoa như sau:

“Ai muốn biết về vị trí của ngũ hành tinh, đều phải chấp nhận phương pháp soạn lịch của Ấn Độ. …Chúng ta có ba nhóm học giả về chuyên về lịch Ấn Độ, Chiayeh, Cồ Đàm và Chumoli, cả ba đều làm việc tại ủy ban thiên văn… Nhưng phương pháp phổ biến nhất là của Cồ Đàm, cùng kết hợp với công trình ‘một nghệ thuật vĩ đại’, do chính quyền đề ra”[5].

Những nhà thiên văn học Ấn Độ nêu trên đã không đến Trung Hoa nếu không có mối quan hệ trước đó với Phật Giáo. Nhưng những đóng góp này không thể chủ yếu gọi là công trình cho Phật Giáo.

4.

Trong các tài liệu về văn hóa và văn minh, đã có nhiều đề tài thảo luận đặc biệt cáo giác về sự cô lập của văn hóa Trung Hoa và những nghi ngờ các tư tưởng ngoại nhập. Quan điểm này được viện dẫn trong những năm gần đây để giải thích sự chống đối của Trung Hoa trước những phong trào đòi hỏi dân chủ hóa. Tuy nhiên, sự giải thích đơn giản này không nói lên được tại sao Trung Hoa sẵn sàng chấp nhận nền kinh tế thị trường trong nước và tại hải ngoại tiếp theo những cải cách kinh tế của năm 1979, trong khi đó, giới lãnh đạo lại kiên quyết không đồng ý cải cách dân chủ chánh trị. Trên bình diện trí thức, Trung Hoa thật ra không hề tự cô lập như thường được người ngoài suy đoán. Sự thật ở đây khác hẳn.

Về điểm này, mối quan hệ của Trung Hoa và Ấn Độ đóng một vai trò quan trọng. Ấn Độ là quốc gia duy nhất trong thế giới bên ngoài mà các học giả Trung Hoa đến để học tập. Điều này đã xảy ra. Chúng ta ghi nhận được hơn hai trăm học giả lỗi lạc Trung Hoa đã lưu trú một thời gian dài ở Ấn Độ. Trong nửa hậu bán của thiên niên kỷ đầu, người Trung Hoa chủ yếu đi thỉnh kinh Phật và tư liệu bằng tiếng Sankrit, nhưng họ cũng quan tâm đến các lãnh vực khác. Một vài ảnh hưởng của Ấn Độ thể hiện rõ, thí dụ như sử dụng những thuật ngữ và khái niệm thiền bắt nguồn từ dhyana, cũng như đề tài kịch nghệ Trung Hoa bắt nguồn từ các chuyện kể bằng tiếng Sankrit, như chuyện tiên nữ rải hoa.[6] Học giả Hoa Kỳ John KIeschnick đã chứng minh rằng kiến trúc về chùa chiền và cầu cống của Trung Hoa phần lớn đều chịu ảnh hưởng Phật Giáo Ấn Độ[7].

Dĩ nhiên sự giao lưu kiến thức giữa Trung Hoa và Ấn Độ đi theo hai chiều. Joseph Needham đã thử liệt kê một danh sách những ý niệm toán học từ Trung Hoa lan truyền sang Ấn Độ. Ông lập luận rằng đã có nhiều ý niệm từ Trung Hoa đến Ấn Độ hơn là ngược lại. Ấn Độ tiếp nhận nhiều hơn trong việc giao lưu hai nền văn hóa[8]. Vì thiếu bằng chứng trực tiếp về sự giao lưu tư tưởng đặc thù, với chiều hướng riêng biệt nào, giữa hai nước, nên Needham cho là tư tưởng di động từ một nước khi người ta tìm ra những chứng tích đầu tiên cho sự sử dụng. Phương pháp này bị các nhà sử học và khoa học khác mạnh bạo phê bình, như Jean Claude Martzloff[9]. Điều hiển nhiên là tư liệu chứng minh tại Ấn Độ hầu như đã mất đi rất nhiều so với Trung Hoa[10], Nhưng điều quan trọng nhất thật ra là đã có quá nhiều giao lưu tư tưởng về toán học, khoa học, cũng như những đề tài không liên quan gì đến tôn giáo giữa hai nước.

5.

Việc trao đổi tư tưởng và kỹ năng trong toán học và khoa học vẫn còn là trọng điểm trong thế giới mậu dịch hiện nay, cho dù chỉ quan hệ đến sự phát triển công nghệ thông tin, hay những phương thức công nghiệp hiện đại. Có lẽ, điều không được sáng tỏ hiện nay, là cả hai nước đã học hỏi lẫn nhau như thế nào, trong việc mở rộng phạm vi truyền thông công cộng và cải thiện các phương thức y tế công cộng. Nhưng hai khía cạnh này đã rất quan trọng trong mối quan hệ trí thức giữa Trung Hoa và Ấn Độ trong thiên niên kỷ đầu tiên mà đến nay vẫn còn đóng vai trò chủ yếu.

Về phần tôn giáo, Phật Giáo ngay từ khởi thủy đã có hai đặc điểm được xem là đặc biệt: thuyết bất khả tri và nhiệt tình tham gia thảo luận các vấn đề công cộng. Theo sử liệu, những cuộc họp công khai đầu tiên nhằm giải quyết các vấn đề tranh chấp về tự do tín ngưỡng và các vấn đề khác, đã xảy ra tại Ấn Độ, trong các đại hội Phật tử được tổ chức chặt chẽ, nơi các tín đồ tranh luận những quan điểm dị biệt nhau. Một đại hội kết tập được tổ chức lần đầu tiên tại Thành Vương Xá (Rajagriha) sau ngày Phật nhập niết bàn, cách đây vào khoảng 2500 năm. Đại hội kết tập lần thứ ba, được tổ chức tại thủ đô Patna, dưới sự chủ trì của hoàng đế A dục (Askosa), vào thế kỷ thứ II trước Công nguyên. Vua A Dục cũng đã điển chế và cho lưu hành những quy luật đầu tiên liên quan đến những cuộc thảo luận công cộng, đây là một bản văn loại xưa nhất về “Quy Luật Trật Tự của Robert” Thí dụ như ông đòi hỏi rằng cần giới hạn sự phát biểu để tránh tự ca ngợi tông phái của mình và tránh nhục mạ đến tông phái khác trong một thời điểm không thích hợp. Những nhiệt tình phát biểu nên thận trọng, ngay cả trong những thời điểm phù hợp nhất.
Những cuộc thảo luận công khai và có lập luận hợp lý là trọng tâm của nền dân chủ (như John Stuart Mill, John Rawls và Jürgen Habermas, ba người chính trong số nhiều người khác, đã từng lập luận). Thực ra, nguồn gốc của dân chủ bắt nguồn một phần từ trong truyền thống thảo luận công cộng, mà tại Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn và nhiều nơi khác ở Á Châu đã hấp thụ được tinh thần đối thoại trong Phật Giáo. Đây là một điều giải thích tại sao những thử nghiệm về ngành in sách tại Trung Hoa, Đại Hàn và Nhật Bản thoạt đầu do những Phật tử đảm nhận[11].

Cuốn sách in đầu tiên trên thế giới, đúng hơn là cuốn sách in đầu tiên mà đến ngày nay đưọc ghi nhận, là bản dịch kinh Kim Cang từ Sankrit sang Hoa Ngữ, được in vào năm 868 sau Công nguyên. Mặc dù kinh Kim Cang là một kinh điển thuần túy tôn giáo, nhưng đây là một cống hiến đáng ca ngợi vào thế kỷ thứ IX. Theo lời tựa, đây là một tác phẩm phân phối miễn phí cho đại chúng, trong một chương trình giáo dục dân chúng.

John Rawls

John Kieschninich ghi nhận rằng một trong những lý do về tầm quan trọng của kinh điển trong truyền thống Phật Giáo Trung Hoa dựa trên niềm tin cho là người ta sẽ tạo phúc đức trong việc phổ biến kinh sách. Ông cũng lập luận rằng niềm tin này bắt nguồn từ Ấn Độ[12].

Có nhiều cơ sở cho quan điểm này, chắc một điều là có một mối quan hệ thông cảm sâu xa giữa vua A dục, cũng là một Phật tử, và đại chúng. Vị vua này cũng đã dựng nên những bia đá lớn, ghi các luật đạo đức công cộng, có cả luật về lập luận

Sự phát triển ngành in đã có những kết quả đáng kể trong việc phát triển dân chủ. Nhưng trong ngắn hạn nó mở ra những khả năng mới cho những cuộc thảo luận công khai và gây những tác động sâu xa trong sinh hoạt xã hội và chính trị tại Trung Hoa. Trong số những yếu tố khác, phải kể đến ảnh hưởng của nền giáo dục Khổng Giáo tân thời. Như Theodore de Bary ghi nhận: “Giáo dục phụ nữ đạt được một tầm quan trọng mới nhờ vào sự khai thông giáo dục trong thời nhà Tống, và mở rộng giáo dục Khổng Giáo thời nhà Minh, được ghi nhận bằng sự phát triển của ngành in, xóa nạn mù chữ và giáo dục học đường.”[13]

6.

Mối quan hệ giữa Trung Hoa và Ấn Độ trong lãnh vực y tế công cộng rất quan trọng, nhưng ít được biết tới. Sau khi Pháp Hiển tới Ấn Độ vào năm 401 sau Công nguyên, ông quan tâm tới các công tác về chăm sóc y tế công cộng. Những cơ sở y tế phục vụ công cộng tại thành phố Patna vào thế kỷ thứ V đã gây cho ông những ấn tượng tốt đẹp:

“Những người nghèo và bất hạnh… và tất cả những người bệnh tật, đều đi đến các cơ quan này, họ được giúp đỡ đủ thứ, và các thầy thuốc chữa trị cho họ. Họ nhận được thực phẩm và thuốc men trong trường hợp cần thiết và họ cảm thấy thoải mái. Khi họ hết bịnh thì họ tự động ra về.” [14]

Dù những lời mô tả về những y viện tại Patna vào thế kỷ thứ V có vẻ tâng bốc quá lố hay không (mà hình như vậy), điều đáng nói là lòng mong muốn học hỏi của Pháp Hiển về những phương thức cung ứng các dịch vụ y tế của các nơi mà ông tới thăm trong một thập niên.

Hai thế kỷ rưỡi sau, Nghĩa Tịnh cũng quan tâm đến vấn đề y tế công cộng. Ông đã dành riêng ba chương sách để nói về đề tài này trong một tác phẩm của ông về Ấn Độ. Những phương thức trị liệu của Ấn Độ đã gây cho ông những ấn tượng mạnh mẽ hơn các kiến thức về y học. Ông tin vào những phương thức trị liệu của Ấn Ðộ nhằm giảm đau nhức và khó chịu, thí dụ như bơ loãng, mật ong, nước đường trị cảm lạnh. Ông kết luận rằng: “Trong nghệ thuật trị liệu bằng châm cứu và bắt mạch thì Trung Hoa không hề qua mặt được Ấn Độ, nhưng những phương thuốc làm tăng tuổi thọ chỉ do Trung Hoa tìm ra”. Mặt khác, ông viết thêm, có nhiều điều cần phải học hỏi ở Ấn Độ về phương diện y tế công cộng. Người Ấn Độ biết dùng vải trắng sạch để lọc nước, trong khi đó, tại Trung Hoa người ta dùng vải lụa. Ở Trung Hoa, người ta ăn cá và dùng rau quả hầu hết không nấu chín, mà không một người Ấn Độ nào làm như vậy”. Khi Nghĩa Tịnh vui mừng khi về lại nước của mình, ông cũng tự đặt ra một câu hỏi rất tế nhị: “Có người nào dù ở đâu trên đất Ấn Độ mà không khâm phục Trung Hoa?” Ông cũng đề ra phương cách đánh giá những gì mà Trung Quốc có thể học hỏi được ở Ấn Độ.

7.

Y tế công cộng là đề tài mà một nước này có thể học được ở một nước khác. Điều rõ ràng là hiện nay Ấn Độ đã phải học hỏi nhiều ở Trung Hoa. Thật ra tuổi thọ trung bình tại Trung Hoa đã tăng cao hơn tại Ấn Độ trong nhiều thập niên qua. Tuy nhiên, lịch sử về việc gia tăng tuổi thọ trung bình của hai nước đem lại nhiều chuyện thú vị. Ngay sau thời kỳ cách mạng Mao, Trung Hoa đã phát động sớm việc cung ứng y tế công cộng lan rộng, và Ấn Ðộ không có gì để so sánh được với Trung Hoa trong thời kỳ này. Vào năm 1979, khi Đặng Tiểu Bình du nhập các cải cách kinh tế, thì một người Trung Hoa trung bình sống 14 lâu năm hơn người Ấn Độ.

Sau cải cách kinh tế 1979, nền kinh tế Trung Hoa tăng trưởng mạnh và nhanh hơn Ấn Độ. Mặc dù kinh tế Trung Hoa phát triển vượt bực, nhưng từ năm 1979, tỷ lệ tăng tuổi thọ trung bình tại Ấn Độ đã tăng gấp ba lần nhanh hơn Trung Hoa. Tuổi thọ trung bình hiện nay tại Trung Hoa vào khoảng 71, tại Ấn Độ là 64. Khoảng cách về tuổi thọ trung bình là 14 năm nghiêng hẳn về phía Trung Hoa vào năm 1979. Đến nay đã giảm xuống còn 7 năm.

Thực ra thì tuổi thọ trung bình là 71 tuổi tại Trung Hoa còn thấp hơn một vài nơi ở Ấn Độ, đặc biệt là tại tiểu bang Kerala. Kerala là một tiểu bang với 30 triệu dân, rộng hơn một vài nước khác. Kerala đã thành công trong việc kết hợp nền dân chủ đa đảng kiểu Ấn Độ (gồm có những thảo luận công khai và sự tham dự của dân chúng vào sinh hoạt công cộng), với sự cải thiện về hệ thống y tế, qua sáng kiến của nhà nước, theo mô thức mà Trung Hoa đã áp dụng sau thời kỳ cách mạng[15]. Ưu điểm của sự kết hợp này cho thấy, không phải chỉ đạt kết quả ở phạm vi tuổi thọ trung bình mà còn ở nhiều lãnh vực khác. Thí dụ như tỷ lệ phụ nữ so với nam giới trong toàn thể dân chúng tại Trung Hoa chỉ là 0,94, toàn thể Ấn Độ là 0,93, trong khi tỷ lệ tại Kerala là 1,6, giống như tỷ lệ tại Bắc Mỹ và Tây Âu[16]. Tỷ suất cao này phản ảnh sự sống lâu của nữ giới khi mà họ không phải chịu sự trị liệu khác nam giới. Việc giảm tỷ lệ sinh sản tại Karala cũng nhanh hơn tại Trung Hoa một cách đáng kể, đặc biệt là chính sách cưỡng bách kiểm soát sinh sản[17].

Cùng lúc với cải cách tại Trung Hoa vào năm 1979, thì tuổi thọ trung bình tại Kerala không thấp hơn Trung Hoa là bao. Tuy nhiên, giữa năm 1995 và năm 2000 (thời điểm cuối mà số liệu thống kê về tuổi thọ trung bình ở Ấn Độ có thể cập nhật đưọc), tuổi thọ của Kerala là 74, cao hơn số liệu cuối cùng của Trung Hoa là 71 vào năm 2000[18].

Hơn nữa, từ sau cải cách kinh tế 1979, tỷ lệ tử vong của trẻ em ở Trung Hoa giảm một cách chậm chạp, trong khi đó, ở Kerala, tốc độ giảm cực kỳ nhanh chóng. Vào thời kỳ cải cách 1979, tỷ lệ tử vong trẻ em ở Kerala hầu như tương đương với ở Trung Hoa, 37 phần ngàn. Tỷ lệ đạt được hiện nay là 10 phần ngàn, chỉ còn một phần ba so với Trung Hoa. Trung Hoa đã không có những tiến bộ nào đáng kể trong thập niên vừa qua.

Có hai yếu tố liên hệ đến vấn đề dân chủ có thể giải thích được tại sao có sự tiến triển chậm chạp trong vấn đề gia tăng tuổi thọ trung bình, mặc dầu những thành quả phát triển kinh tế rất tốt đẹp. Trước hết, cải cách kinh tế 1979 đã loại bỏ mọi bảo hiểm sức khỏe công cộng miễn phí, hầu hết dân chúng phải tự bỏ tiền mua bảo hiểm sức khỏe tư nhân, ngoại trừ trường hợp chủ nhân đóng bảo hiểm, nhưng đây là trường hợp rất ít xảy ra. Việc loại bỏ phục vụ y tế công cộng quí giá này đã tạo nên một sự chống đối chánh trị không đáng kể, hiển nhiên điều này sẽ gây chấn động nếu nó xảy ra ở một nền dân chủ đa đảng.

Thứ hai, dân chủ và tự do chánh trị không những tự nó có giá trị, nhưng nó còn đóng góp trực tiếp vào việc thiết lập chính sách công, kể cả y tế công cộng, khi những khuyết điểm của chính sách xã hội được thảo luận và đầu phiếu công khai[19]. Ấn Độ đã cung ứng những cơ sở tiện nghi y khoa với phẩm chất cao cho những người tương đối giàu có và người ngoại quốc đến Ấn Độ để trị bịnh, nhưng dịch vụ y tế cơ bản tại Ấn Độ vẫn còn nghèo nàn, điều này chúng ta đã biết qua những lời chỉ trích mạnh mẽ từ báo chí Ấn Độ. Nhưng những lời phê bình nghiêm khắc tạo cơ hội cho chúng ta có dịp sửa đổi. Thực ra, những phúc trình thường xuyên về sự thiếu sót trong dịch vụ y tế tại Ấn Độ, và những nỗ lực thu lượm được để cải thiện, là nguồn gốc về một thế mạnh tại Ấn Độ. Điều này phản ánh sự cách biệt trong mức giảm thiểu đáng kể về tuổi thọ trung bình tại Ấn Độ và Trung Hoa. Thế mạnh này cũng phản ảnh được những thành tựu khi Kerala biết kết hợp sự tham gia dân chủ cùng với sự quan tâm cao đến các vấn đề xã hội. Sư nối kết giữa truyền thông công cộng và chăm sóc sức khỏe được thể hiện rõ, qua những hậu quả tai hại khủng khiếp trong việc bưng bít chung quanh bịnh dịch SARS tại Trung Hoa. Bệnh dịch này từ lúc khởi đầu từ tháng 11 năm 2002 bị dấu nhẹm đến mùa xuân năm sau.[20] Trong khi Ấn Độ đã phải học hỏi rất nhiều từ chính sách kinh tế và xã hội của Trung Hoa, thì những kinh nghiệm về thông tin công cộng và dân chủ của Ấn Độ cũng đáng cho Trung Hoa học hỏi. Cũng cần nên nhắc lại là tinh thần vô úy và chống đối quyền lực thâm nhập vào Trung Hoa qua Phật Giáo đến từ Ấn Độ. Điều này đã bị người Trung Hoa phê phán kịch liệt qua những đợt đầu tiên đấu tố về Phật giáo.

Fu Yi một nhà lãnh đạo Khổng Giáo vào thế kỷ thứ VII đã dâng sớ với vua Tống để tố giác Phật Giáo. Thật ra điều này có một vài sự tương đồng với sự tấn công vào môn phái Luân Công gần đây:

“Phật Giáo đã thâm nhập vào Trung Hoa bằng một hình thái quái dị và man rợ. Điều này ít nguy hiểm hơn khi từ thời nhà Hán, kinh điển Phật Giáo được dịch sang Hoa ngữ. Sự phổ biến kinh sách này đưa đến một ảnh hưởng thù nghịch là làm thay đổi lòng trung thành đối với quân vương, lòng tôn kính cũng giảm đi. Dân chúng bắt đầu có thói quen bắt tay và không chịu cúi đầu trước quân vương và tổ tiên.”[21]

Fu Yi đề nghị không những cấm chỉ truyền bá đạo Phật mà còn đưa ra phương cách mới nhằm đối phó với hàng mười ngàn người hoạt động tại Trung Hoa. “Tôi xin yêu cầu Ngài bắt hết họ phải lập gia đình và dạy cho con cái họ sau này gia nhập quân đội”. Như chúng ta đã biết, nhà vua, không làm theo cách ấy để loại trừ sự bất khuất của Phật Giáo.

Với thành công đáng kể, Trung Hoa đã trở thành một nhà lãnh đạo kinh tế thế giới, và Ấn Độ, cũng như nhiều nước khác trên thế giới đã học hỏi rất nhiều ở quan điểm này, đặc biệt là trong thời gian gần đây. Nhưng những thành tựu về sự tham gia dân chủ tại Ấn Độ, kể cả tại Kerala, cho thấy rằng Trung Hoa, về phần mình, cũng có thể học hỏi một cái gì đó ở Ấn Độ. Thực vậy, lịch sử của các cuộc thử nghiệm nhằm vượt qua sự cô lập của Trung Hoa – đặc biệt trong suốt hậu bán thiên niên kỷ đầu tiên- vẫn luôn luôn còn thú vị và bổ ích cho thế giới ngày nay[22].

Chú thích

[1] Có nhiều cách phiên âm khác nhau các nhân danh này: Pháp Hiển (Faxian, Fa Shien, Fa-hien), Huyền Trang (Xuanzang, Hiuan-tsang và Yuang Chwang) và Nghĩa Tịnh (Yi Jing, I Tsing và I- Ching).

[2] Hai cuốn sách hay viết rất hay về chuyến du hành của Huyền Trang: Richard Berstein, Ultimate Journey: Retracing the Path of an Ancient Buddhist Monk Who Crossed Asia in Search of Enlightement, Kopft, 2001; Sun Shunyn, Ten Thousand Miles Without a Cloud, Harper Collins, 2003

[3] Joseph Needham, Science and Civilization in China, Vol. 2, Cambridge University Press 1956, p. 427.

[4] Một thí dụ thú vị về sự truyền đạt về tư tưởng và thuật ngữ có thể tìm thấy qua khái niệm sinus trong lượng giác học. Theo một tài liệu toán học, do Arybhata viết bằng tiếng Sankrit vào năm 499 sau Công nguyên, jya-ardha, sau này được dùng ngắn gọn là jya, mà sau này chúng ta dùng là sinus. Các nhà toán học Á Rập cũng chuyển âm jya này sang jiba và sau này đổi thành jaib, có nghĩa là vinh. Ý niệm này sau đó được Gherardo of Crenoma (khoảng 1150) dịch sang tiếng La tinh, có nghĩa là Sinus hiện nay. Xin đọc thêm Howard Eves, An Introduction to the History of Mathematics, Sauder, 6th ed. 1990; Jean Claude Martzloff, A History of Chinese Mathematics, Springer 1997.

[5] Needham, Science and Civilization, Vol. 3, p. 22, 12, 37; Amartya Sen, “India through Its Calendars”, The Little Magazines, No. 1 Delhi 2000.

[6] Mandari xuất phát từ tiếng Sankrit là mantri, có nghĩa là tư vấn đặc biệt, du nhập sang Trung Hoa, sau này qua Malaya.

[7] John Kieschnick, The Impact of Buddhism on Chinese Material Culture, Princeton University Press 2003.

[8] Needham, Science and Civilization in China, Vol. 3, p. 146-148.

[9] Martzloff, A History of Chinese Mathematics, p. 90.

[10] John Kieschnick, The Impact of Buddhism on Chinese Material Culture, Princeton University Press 2003, p. 166.

[11] Dưòng như cũng đã có những thử nghiệm đầu tiên trong việc in của Phật tử Ấn Độ. Nghĩa Tịnh cho rằng đã có những hình Phật in trên lụa hoặc giấy ở Ấn Độ, nhưng chỉ là bước sơ khai trong việc in hình. Xem thêm Needham, p. 148-149.

[12] Kieschnik, p. 164.

[13] W. M. Theodore de Bary, Neo Confucian Education, Source of Chineses Tradition, 2nd. ed. 1999 Vol. 1 p. 820.

[14] James Lages, The Travels of Fa-Hien or Record of Buddhist Kingdom, Patna, Eastern Book House 1993, p. 79.

[15] Tuy nhiên Kerala ít thành công hơn trong việc đạt đưọc mức độ tăng trưởng cao về tổng sản lượng quốc dân, chỉ bằng với Ấn Độ, nhưng lại thấp hơn so với các tiểu bang khác của Ấn Độ. Theo ước lượng của Ngân hàng Thế giới, ngoài những thành tựu trong hai lãnh vực giáo dục và y tế công cộng, Kerala đạt được tốc độ tăng trưỏng nhanh nhất. Drexe, India: Development and Participation,Oxford University Press, 2002, section 3.8, p. 97-101.

[16] Amartya Sen, “More Than 100 Million Women Are Missing”, The New York Review December 2, 1999; “Missing Women”, British Medical Journal , Vol. 33, March 7, 1992; “Missing Wonen Revisited”, British Medical Journal, Vol. 327, December 6, 203.

[17] Amartya Sen,“Population, Delusion and Reality”, The New York Review, September 22, 1994; “Fertility and Coercion”, University Chicago Law Review, Vol. 63 Summer 1996.

[18] National Bureau of Statistics of China, China Statistical Yearbook 2003, Table 4-17 p. 118. Về tuổi thọ trung bình thì ở các thành phố lớn của Trung Hoa,thí dụ như Thượng Hải và Bắc Kinh, cao hơn so với Kerala, nhưng hầu hết những tỉnh khác của Trung Hoa thì thấp hơn Kerala.

[19] Về mối quan hệ này giống như so sánh những nạn đói đã không xảy ra ở những nước dân chủ, dù rằng rất nghèo, xem: Amartya Sen, “How is India Doing”, The New York Review, December 16, 1982; Amartya Sen & Jean Dreze, Hunger and Public Action, Oxford Claredon Press 1989. Những năm đói lớn đã xảy ra vào cuối thời kỳ thuộc địa Anh tại Ấn (nạn đói tại Bengal 1943 chỉ xảy ra 4 năm trước khi Ấn Độ dành độc lập) và biến mất khi Ấn thiết lập được nền dân chủ đa đảng. Ngược lại Trung Hoa đã bị những trận đói dữ dội, chết trên 3 triệu người, từ 1958-61.

[20] Có thể là những sự phát triển kinh tế bất quân bình trong thời gian gần đây làm giảm đi những tiến bộ trong vấn đề tuổi thọ trung bình. Thật ra ở Ấn Độ cũng có vấn đề bất công kinh tế, nhưng không phổ biến như tại Trung Hoa. Chính vì sự bất công kinh tế càng gia tăng là một lý do thất bại của chính quyền trong cuộc bầu cử tháng 5. Yếu tố khác cho sự thất bại này là vi phạm quyền thiểu số của người Hồi trong cuộc nổi loạn tại Gurajat.

[21] Prabodh C. Bagch, India and China: A Thousand Years of Cultural Relations, Calcutta Sarawat, Library revisited edition, 1981, p. 134.

[22] Một tiểu luận dài hơn về tất cả các đề tài này sẽ được đăng trong The Argumentative India, Penguin Book. 2005.

Chú thích của người dịch:

1. Gautama Siddhartha, Cồ Đàm Sĩ Đạt Ta, Chủ tịch Ủy Ban Thiên Văn Trung Hoa vào thế kỷ VIII không phải là Đức Phật Thích Ca, vì ngài sinh vào năm 485 trước Công nguyên. Đây chỉ là sự trùng tên.

2. Quy luật trật tự của Robert: Đạo luật cuả Robert tại Anh quốc công bố vào năm 1915, nhằm qui đinh các trật tự công cộng, đặc biệt các nội quy trong việc phát biểu ý kiến tại các phiên họp công cộng.

3. Amartya Sen đã chú thích khá chi tiết và giới thiệu nhiều tác phẩm liên hệ bằng Anh ngữ. Tuy nhiên, có những danh tác bằng Việt ngữ về các đề tài này, xin giới thiệu một vài công trình tiêu biểu để bạn đọc tham khảo:

Võ Đình Cường, Đường Tăng Tam Tạng Thỉnh Kinh.

Thích Minh Châu, Huyền Trang, Nhà Chiêm Bái và Học Giả.

Thích Minh Châu, Pháp Hiển, Nhà Chiêm Bái.

Trần Trúc Lâm, Đại Đế Askosa Maurya và những pháp dụ trên đá.

Thích Nữ Trí Hải (dịch), Tìm Hiểu Mật Tông.

Thích Thiện Hoa, Lịch sử Phật Giáo Trung Hoa và Ấn Độ.

Posted in Articles | Để lại bình luận

VIỆT NAM NÊN SỚM ĐƯA VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG RA TÒA ÁN QUỐC TẾ

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt) Thứ Tư, ngày 19/03/2014 (Đài RFI 15/3 ) Ngày 14/3/2014, đúng 26 năm ngày Trung Quốc ngang nhiên đưa quân đánh chiếm đảo Gạc Ma
thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, sát hại 64 lính hải quân Việt Nam. Năm 2014 cũng là
đúng 40 năm ngày Trung Quốc dùng vũ lực chiếm quần đảo Hoàng Sa từ tay quân đội Việt Nam
Cộng hòa, khiến 74 người lính miền Nam thiệt mạng. Trước một người láng giềng khổng lồ, lại
hung hăng, đầy tham vọng như thế, Việt Nam phải đối phó như thế nào? Theo nhận xét của ông
Thái Văn cầu, chuyên gia về không gian ở Mỹ, không thể kéo dài tình trạng hiện nay mà cần đưa vấn đề ra trước các tòa án quốc tế càng sớm càng tốt. – Xin chào ông Thái Văn Cầu, ông nhận định như thế nào về thái độ của Việt Nam và Trung Quốc
đối với vấn đề Biển Đông? + Sau Hội nghị Thành Đô năm 1990 giữa lãnh đạo 2 nước Việt Nam và Trung Quốc, trong gần
20 năm Việt Nam không hề có một phương án nào ngoài việc đi theo lập trường của Trung Quốc
trong tranh chấp Biển Đông. Việt Nam chủ trương giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán,
trên cơ sở 16 chữ vàng-4 tốt. Trong cùng thời gian đấy, Trung Quốc tranh thủ xây dựng cơ sở
vững chắc cho tham vọng chiếm đoạt Biển Đông của họ. Trước hành động ngày càng ngang
ngược của Trung Quốc bất chấp luật pháp quốc tế và trước phản ứng của nhân dân trong nước, lãnh đạo Việt Nam đã thể hiện lập trường khi vào năm 2011, lần đầu tiên công khai đề cập đến
sự kiện Trung Quốc đã dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa và sau đó vào năm 2013
cũng lần đầu tiên đề cập đến việc sử dụng công cụ luật pháp quốc tế trong giải quyết tranh chấp.
So với các nước khác trong tranh chấp, Việt Nam có chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý về chủ
quyền Hoàng Sa, Trường Sa một cách mạnh mẽ và rõ ràng. Tuy nhiên, các quyết định của tòa
án quốc tế trong giải quyết tranh chấp cho thấy thuận lợi về chủ quyền lãnh thổ của một nước không tồn tại lâu dài với nước ấy. Tòa án quốc tế vẫn sử dụng nguyên tắc không làm xáo trộn sự
ổn định. Theo nguyên tắc này, tòa án quốc tế có thể đưa phán xét thuận lợi cho một nước đang
chiếm giữ một vùng đất, một vùng biển mặc dù chủ quyền ban đầu không thiết lập rõ ràng,
nhưng có hành xử thích hợp trong thời gian dài. – Như vậy, Việt Nam phải đối phó như thế nào? + Một trong những phương hướng mà chúng tôi đề nghị là phải tận dụng luật pháp quốc tế. 3
điểm mà tôi thấy Việt Nam cần phải khẩn trương thực hiện trong thời gian tới là: Thứ nhất, Việt
Nam phải kiện toàn hồ sơ chủ quyền qua sự đóng góp của giới nghiên cứu người Việt ở trong
nước và ngoài nước cũng như qua tham vấn chuyên gia luật pháp quốc tế người nước ngoài. Thứ
hai, tiếp tục tranh thủ sự ủng hộ của các nước về lập trường sử dụng luật pháp quốc tế để giải
quyết tranh chấp Biển Đông. Thứ ba, quy định ngay cả đảo lớn nhất của Hoàng Sa và Trường Sa có lãnh hải 12 hải lý và không có vùng đặc quyền kinh tế hay trên lục địa để giảm thiểu mức độ
xung đột với các nước liên quan và vô hiệu hóa đường lưỡi bò của Trung Quốc. Mục đích của
Trung Quốc là gì? Họ biết rằng càng kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp thì càng có lợi cho họ.
Đấy là dựa trên các quyết định của tòa án quốc tế trong thời gian vừa qua. Do đó, một số người
có ý kiến cho rằng vấn đề giải quyết tranh chấp Biển Đông rất là khó khăn, đôi khi cần thời gian
100 năm hay lâu hơn nữa. Theo tôi nghĩ, nếu Việt Nam có một chiến thuật tốt thì Việt Nam không cần phải đợi 100 năm nữa mới giải quyết vấn đề chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa. – Trong các tòa án quốc tế, tòa án trọng tài quốc tế, tòa án quốc tế về luật biển, theo ông, Việt
Nam nên đưa vấn đề ra trước tòa án nào? + Tòa án quốc tế và tòa án quốc tế về luật biển đòi hỏi các bên phải đồng ý tham dự thì họ mới
xét xử. Trong khi đó, Công ước Liên Hợp Quốc về luật biển đưa ra hai công thức khác là tòa án
trọng tài theo phụ lục 7 và tòa án trọng tài đặc biệt theo phụ lục 8. Tòa án này không cần thiết
sự hiện diện của các bên tham dự mà họ vẫn phán xét. Vấn đề Việt Nam nên theo tòa án nào là
điều mà hiện nay Việt Nam cần phải nghiên cứu thêm. Mỗi bên đều có cái lợi riêng của nó, ví dụ
trong một đề nghị mà tôi muốn đưa ra là Việt Nam có thể cùng Philippines, Malaysia kêu gọi Trung Quốc chấp nhận đưa tranh chấp Biển Đông ra tòa án quốc tế. Vì từ trước tới giờ, Trung
Quốc luôn khẳng định họ có bằng chứng rất rõ ràng về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa, về
đường lưỡi bò. Nếu đó là khẳng định dựa trên cơ sở sự thật thì Trung Quốc không có một lý do
nào khác để từ chối đưa tranh chấp ra tòa án quốc tế, nhất là khi hiện nay Trung Quốc đang có
quan tòa đại diện trong tòa án quốc tế cũng như trong tòa án quốc tế về luật biển. – Chắc ông cũng biết sự kiện cách đây vài hôm Trung Quốc bao vây một đảo đá ngầm nhỏ hiện
do Philippines chiếm giữ ở Trường Sa, tức là Bắc Kinh vẫn tiếp tục lấn chiếm trên Biển Đông? + Không ai có thể biết trước được những bước đi tiếp theo của Trung Quốc như thế nào. Tuy
nhiên, có một điều mà chúng ta nhận được là nếu chúng ta dùng sự quan tâm của dư luận thế
giới về hành động bất chấp luật pháp quốc tế trên Biển Đông thì đó là một cách có thể ngăn chặn
hành động vô lối của Trung Quốc trong thời gian tới. Việt Nam nên nhấn mạnh vào yếu tố đấu
tranh bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông, đồng nghĩa với đấu tranh để gìn giữ trật tự ổn
định trong giao thông hàng hải trên Biển Đông. – Đó là đối với luật pháp quốc tế, còn ở trong nước thì việc giáo dục về bảo vệ chủ quyền biển đảo
lại bị lơi là? + Phải nói trong 3 tháng đầu năm 2014 cũng có một số diễn biến gọi là tương đối tích cực dù
rằng ta có thể làm tốt hơn. Thứ nhất, Việt Nam đã cho kỷ niệm một cách giới hạn sự kiện Hoàng
Sa 40 năm trước. Ngoài ra, gần đây họ đã cho thành lập Quỹ hỗ trợ nghiên cứu Biển Đông. Bên
cạnh đó, người dân trong nước cũng cần phải hiểu được rằng chúng ta đang sống trong thời đại
tin học thì nguồn thông tin không chỉ từ nhà nước mà còn từ những nguồn khác. Qua đó, người
dân có thể hiểu hơn về những gì đã xảy ra trong lịch sử, trong mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc./.

Posted in Articles | Để lại bình luận

QUAN ĐIỂM CỦA MỸ TRONG VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt) Thứ Tư , ngày 19/02/2014 Ngày 6/2, Viện Brookings có trụ sở. tại thủ đô Washington D.C. đăng bài phân tích của tác giả Jeffrey Bader với tựa đề:
“Mỹ và đường chín đoạn của Trung Quốc: Kết thúc sự mập mờ
”, trong đó nhấn mạnh việc lần đầu tiên Chính phủ Mỹ công
khai tuyên bố một cách rõ ràng rằng cái gọị là “đường chín
đoạn ” (đường lưỡi bò) của Trung Quốc là bất hợp pháp, đồng
thời đưa ra quan điểm về lợi ích của Mỹ ở Biển Đông và khuyến nghị về các bước đi của Mỹ trong thời gian tới. Dưới đây là nội
dung bài viết: Lần đầu tiên, Chính phủ Mỹ đã công khai ra một tuyên bố rõ
ràng rằng cái gọi là “đường chín đoạn” mà Trung Quốc phác
họa để khẳng định những đòi hỏi chủ quyền ở Biển Đông là
trái với luật pháp quốc tế. Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách khu vực Đông Á và Thái Bình
Dương Danny Russel trong buổi điều trần trước ủy ban Đối
ngoại Hạ viện ngày 5/2 nói: “Theo luật pháp quốc tế, các đòi
hỏi về lãnh hải ở Biển Đông phải được bắt nguồn từ các cấu
trúc ở đất liền. Việc Trung Quốc sử dụng ‘đường chín đoạn’
nhằm đòi hỏi các quyền lãnh hải mà không dựa trên các cấu trúc trên đất liền được tuyên bố sẽ không phù hợp với luật
pháp quốc tế. Cộng đồng quốc tế sẽ hoan nghênh Trung Quốc
làm rõ hoặc điều chỉnh đòi hỏi về ‘đường chín đoạn’ của mình
nhằm làm cho nó phù hợp với luật biển quốc tế”. Biển Đông với diện tích 1,4 triệu dặm vuông bao gồm hàng
trăm hòn đảo nhỏ, đá ngầm và đảo san hô mà hầu hết không
có người sinh sống và không thể sinh sống được. Trung Quốc
thừa hưởng “đường chín đoạn” từ Chính quyền Quốc Dân
Đảng, trong đó vẽ một đường bao quanh tất cả các đảo này,
khẳng định chủ quyền đối với tất cả các đảo, đồng thời đưa ra các đòi hỏi mơ hồ về quyền đối với vùng biển bên trong “đường
chín đoạn” này. Theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển
(UNCLOS) được đàm phán vào những năm 1970 và 1980, các
quốc gia có thể tuyên bố về các quyền tuyệt đối đối với nguồn
cá và tài nguyên khoáng sản trong Vùng đặc quyền kinh tế có
thể mở rộng ra 200 hải lý tính từ đường thềm lục địa hoặc bao quanh các đảo có người ở. Không có quy định nào trong công
ước cho quyền đối với các vùng nước như ở Biển Đông mà
không có liên quan tới quyền chủ quyền dựa trên đất liền. Vì
vậy, từ lâu điều này đã được ám chỉ trong các giải thích của Mỹ
về UNCLOS rằng các đòi hỏi đối với tài nguyên cá và khoáng
sản của Biển Đông không liên hệ với các đảo cụ thể có thể sinh sống được, là vô hiệu. Tuyên bố của Trợ lý Ngoại trưởng Russel
đã làm rõ quan điểm đó. Sự quan tâm của Mỹ đối với Biển Đông đã tăng lên rõ rệt dưới
thời Chính quyền Tổng thống Barack Obama. Biểu hiện đầu
tiên của sự chú ý đó là một tuyên bố công khai mạnh mẽ của
Ngoại trưởng Hillary Clinton tại một diễn đàn quốc tế ở Hà Nội
năm 2010, trong đó bà nêu ra các nguyên tắc điều chỉnh
chính sách của Mỹ ở Biển Đông: tôn trọng tự do hàng hải, giải quyết hòa bình các tranh chấp, tự do thương mại, đàm phán
về Bộ Quy tắc ứng xử cho việc giải quyết tranh chấp và liên
quan nhất ở đây là quan điểm rằng các đòi hỏi đối với vùng
nước chỉ có thể dựa trên các tuyên bố về đất liền một cách hợp
pháp. Tuyên bố của bà Clinton đã được các nước Đông Nam Á
đòi hỏi chủ quyền như Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei chào đón song lại gặp sự phẫn nộ của Trung Quốc. Ngoại trưởng Clinton đưa ra tuyên bố trên nhằm phản ứng
trước mối quan ngại ngày càng tăng của các nước láng giềng
của Trung Quốc rằng Trung Quốc đang đẩy nhanh các đòi hỏi
chủ quyền của mình thông qua các biện pháp chính trị vá
quân sự và thiếu vắng bất kỳ một tiến trình ngoại giao nào
nhằm giảm thiểu căng thẳng. Căng thắng lên cao này tương tự như giai đoạn 1994 – 1995 khi Trung Quốc tiến hành xây
dựng trên đảo Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa mà
Philippines đòi hỏi chủ quyền. Các quan hệ của Trung Quốc với
các nước Đông Nam Á xấu đi đã dẫn đến việc đoàn đàm phán
Trung Quốc do ủy viên Quốc vụ viện khi đó ỉà Tiền Kỳ Tham
dẫn đầu để đàm phán về Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biến Đông và cam kết không có những hành động làm thay đổi
hiện trạng. Việc thỉnh thoảng thu giữ các tàu đánh cá của bên
này hay bên kia vẫn tiếp tục và các auốc gia chủ yểu ỉà Việt
Nam đã cấp quyền thãm dò cho các công ty dầu mỏ ở cảc khu
vực tranh chấp, song không có bất kỳ hoạt động nào trong số
này dẫn đến các nguy cơ chiến tranh. Tuy nhiên, trong vài năm qua, đã có một mối quan ngại ngày
càng tăng ở khu vực này và ở Mỹ về việc Trung Quốc đã quay
lưng lại với ngoại giao và sử dụng biện pháp quân sự và pháp lý
để thúc đẩy tuyên bố của mình đối với toàn bộ Biển Đông. Các
tuyên bố của các nhà ngoại giao Mỹ đã xác định đặc trưng của
Biển Đông như một vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu đối với Trung Quốc liên quan đến chủ quyền và nước này sẽ không
chấp nhận sự can thiệp. Trong năm 2012, Trung Quốc đã trục
xuất các ngư dân Philippines ra khỏi từ ngư trường truyền
thống xung quanh bãi cạn Scarborough, cách chưa đầy 125
hải lý từ các hòn đảo chính của Philippines, đồng thời họ đã sử
dụng lực lượng bảo vệ bờ biển của mình để duy trì quyền kiểm soát. Năm 2012, Trung Quốc cũng đã thiết lập một đơn vị
hành chính và quân sự bao trùm các phần của quần đảo
Hoàng Sa mà nước này tuyên bố chủ quyền. Đối với việc thiết
lập vùng Nhận dạng phòng không (ADIZ) trên Biển Hoa Đông
vào cuối năm 2013, người phát ngôn Trung Quốc chỉ ra ý định
ở một khía cạnh nào đó việc thiết lập một vùng tương tự ở Biển Đông, điều chắc chắn sẽ bao gồm ít nhất một số khu vực
mà các bên tuyên bố chủ quyền. Biển Đông là một vấn đề phức tạp đối với Mỹ. Mỹ không có
tuyên bố chủ quyền ở đó. Mỹ không đứng về bên nào trong
các tuyên bố ( quyền tương ứng của các bên và Mỹ cũng
không nên làm việc đó. Khó có khả năng rằng bất kỳ nước nào
có thể thiết lập các công cụ hữu hiệu nhằm thực thi quyền lực
tại các đảo ở Biển Đông mà có thể đe dọa lực lượng quân sự hay các tàu Mỹ tại khu vực. Trong khi đó người ta tin rằng có
một trữ lượng đáng kể dầu khí chưa được khai thác ở Biển
Đông. Tuy nhiên, Mỹ có các lợi ích quan trọng ở Biển Đông. Một là
đảm bảo tự do hàng hải. Đây không phải là một đặc ân từ bất
cứ quốc gia nào mà nó là quyền quốc tế trong một khu vực mà
50% lượng dầu mỏ của thế giới được chuyên chở qua, là một
con đường thông thương chính của thương mại quốc tế, cũng
như nơi mà các tàu quân sự của Mỹ triển khai hoạt động phù hợp với luật pháp quốc tế. Hai là, tránh sử dụng vũ lực hoặc
biện pháp cưỡng chế để giải quyết các đòi hỏi chủ quyền về
lãnh thổ hay quyền hàng hải. Ba là, vận động các bên tôn
trọng các chuẩn mực và 1uật pháp quốc tế trong việc giải
quyết tất cả các vấn đề trên. Bốn là, đảm bảo rằng tất cả các
nước trong đó có Mỹ có quyền khai thác tài nguyên khoáng sản và nguồn cá bên ngoài các đặc khu kinh tế hợp pháp. Năm
là, ngăn chặn việc Philippines, một đồng minh của Mỹ, bị bắt
nạt hoặc bị sử dụng vũ lực. Sáu là, đảm bảo rằng quyền của
tất cả các nước không phân biệt lớn nhỏ phải được tôn trọng. Có những xung đột giữa các yếu tố khác nhau liên quan đến
lợi ích của Mỹ ở Biển Đông. Mỹ không muốn thấy Trung Quốc
giành quyền kiểm soát đối với khu vực này thông qua vũ lực.
Tuy nhiên, Mỹ đồng thời cũng không có lợi ích trong việc biến
Biển Đông trở thành một nơi đối đầu hoặc xung đột giữa Mỹ và
Trung Quốc. Những thách thức trực diện đối với các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc, nếu không dựa trên các tiêu chí
quốc tế và phù hợp với các nguyên tắc của Mỹ, có nguy cơ kích
động chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc đang lên cao liên quan đến
các ý định của Mỹ đưa đến hành vi hung hăng hơn của Trung
Quốc trong khu vực, điều sẽ biến các bên đòi hỏi chủ quyền
khác trở thành nạn nhân mà không có phản ứng hữu hiệu từ Mỹ. Mặt khác, một thái độ thụ động của Mỹ sẽ 1àm mất đi các
lợi ích được nêu ở trên và sẽ làm các bên tranh chấp khác tin
rằng Mỹ sẽ bỏ rơi các nước này cùng các nguyên tắc mà Mỹ đã
nêu ra.Điều này sẽ dẫn đến một sự nhạo bang về chính sách “
tái cân bằng “ của Chính quyền Tổng thống Barack Obama đối
với châu Á và phá hoại nghiêm trọng thái độ chào đón của khu vực đối với sự hiện diện và ảnh hưởng của Mỹ. Bằng cách từ chối một cách rõ ràng “đường chín đoạn”, Trợ lý
Ngoại trưởng Russel và Chính phủ Mỹ đã vẽ một ranh giới vào
đúng nơi cần thiết. Họ đã khẳng định rõ ràng rằng sự phản đối
của Mỹ là một vấn đề có tính nguyên tắc, dựa trên luật pháp
quốc tế, không phải là một sự phản đối đơn thuần trước một
đòi hỏi chủ quyền chỉ đơn giản là vì nó là của Trung Quốc. Chừng nào mà cách tiếp cận của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông
còn dựa một cách vững chắc trên cơ sở nguyên tắc và luật
pháp quốc tế, thì chừng đó Mỹ còn có thể thực hiện mục tiêu
của mình, củng cố vị thế của các bên khác đòi hỏi chủ quyền
với sự tôn trọng các quyền của họ và tránh sự đối đầu với
Trung Quốc trong vấn đề chủ quyền. Tác giả liệt kê một số điều mà Mỹ có thể làm và nên làm. Một
là, Mỹ cần đảm bảo rằng phương pháp tiếp cận của mình
không bị nhìn nhận là đơn phương. Không phải hoàn toàn
nhưng đôi khi các nước khác về công khai thì im lặng song sau
lưng lại ngầm ủng hộ. Chính phủ Mỹ nên nói rõ với các bên đòi
hỏi chủ quyền khác và với các nước ASEAN khác như Singapore và Thái Lan rằng Mỹ mong muốn các nước này phản
đối công khai về “đường chín đoạn” trên cơ sở luật pháp quốc
tế. Hai là, Mỹ nên thảo luận với Đài Loan về việc liệu hòn đảo này
có thể làm rõ quan điểm của mình về “đường chín đoạn”, trên
cơ sở đó xác định rõ rằng các đòi hỏi chủ quyền của Đài Loan
có phù hợp với UNCLOS hay không. Ba là, Mỹ cần tiếp tục duy trì ưu tiên cao cho cuộc đàm phán
về Bộ quy tắc ứng xử (COC) giữa Trung Quốc và các nước
ASEAN như những gì mà Mỹ đã thực hiện từ khi Ngoại trưởng
Hillary Clinton tuyên bố mục tiêu đó ở Hà Nội. Thực chất,
quyết định của Trung Quốc và ASEAN bắt đầu đàm phán về
COC là một trong những kết quả có được từ tuyên bố của Ngoại trưởng Hillary Clinton. Bốn là, Mỹ cần hối thúc Trung Quốc không thiết lập thêm bất
kỳ một vùng nhận dạng phòng không nào ở Biển Đông. Trong
khi dư luận công chúng đối vói vấn đề này là cần thiết thì
ngoại giao với tính cách cá nhân có thể mang lại hiệu quả hơn
trong việc gây ảnh hưởng đối với Bắc Kinh. Năm là, Mỹ nên thảo luận với tất cả các bên tranh chấp về
một thỏa thuận có thể đạt được liên quan đến việc khai thác
nguồn tài nguyên cá và khoáng sản mà không liên quan đến
vấn đề chủ quyền , trong đó có việc sử dụng các liên doanh
giữa các công ty. Sáu là, Thượng viện Mỹ nên phê chuẩn Công ước Liên hợp
Quốc về Luật Biển. Điều này sẽ giúp Mỹ có được vị thế pháp lý
và đạo đức để tham gia tích cực và hiệu quả hơn trong các
quyết định trong tương lai về Biển Đông. Tất cả các cựu Ngoại
trưởng Mỹ đều ủng hộ một quyết định như vậy. Các tư lệnh
Thái Bình Dương và hải quân cũng như đa số các công ty quan tâm cũng ủng hộ việc này. Mỹ cần phải có hành động dứt
khoát. (South Asia Analysis, ngày 24/12/2013) Những quan sát ban đầu về những tranh chấp ở Biển Hoa Nam (Biển Đông) do Trung
Quốc gây ra, Mỹ với tư cách là siêu cường toàn cầu và có
những lợi ích sống còn ở châu Á-Thái Bình Dương đã biểu lộ sự
bất lực chiến lược trong việc duy trì và thực thi “nguyên trạng
trước kia” trước việc Trung Quốc gây hấn với Việt Nam và
Philippines. Mỹ có các phương tiện cả về chính trị lẫn quân sự để “chiểu
tướng Trung Quốc trước sự gây hấn của nước này đối với Việt
Nam và Philippines, nhưng họ đã quyết định không làm như
vậy. Ngay từ đầu, Mỹ đã lãng quên thực tế chiến lược rằng việc
Trung Quốc gây hấn với Việt Nam và Philippines chỉ là bước
đệm cho những khát vọng chiến lược có chủ tâm của Trung
Quốc nhằm cách ly Tây Thái Bình Dương trước sự triển khai
sức mạnh của Mỹ ở khu vực này. Thất bại chính sách chiến lược thảm hại này của Mỹ ở Biến
Đông như đang chứng kiến hiện nay đã cho phép Trung Quốc
thoải mái hưởng thụ cuộc phiêu lưu quân sự tương tự trong
các tranh chấp với Nhật Bản ở Biển Hoa Đông và đưa ra những
tuyên bố về Vùng Nhận dạng phòng không (ADIZ) đầy khiêu
khích ở khu vực đó. Xung đột leo thang ở Biển Đông do Trung Quốc gây ra đáng
chú ý kế từ năm 2008 và quá trình diễn biến các sự kiện có
liên quan sau đó dẫn đến hai kết luận chính.Cần nghiêm túc
chú ý tới cả hai kết luận này giữa lúc toàn bộ sự nguyên trạng
chiến lược đang bị Trung Quốc thách thức và nếu các quỹ đạo
hiện nay của Trung Quốc không bị làm chệch hướng thì cuối cùng sẽ có khả năng dẫn đến những xung đột không thể
tưởng tượng nổi ở châu Á-Thái Bình Dương. Kết luận chính thứ nhất là Mỹ ngay từ đầu đã không nhận ra
rằng chính sách “bên miệng hố chiến tranh” quân sự của
Trung Quốc trong sự leo thang xung đột của các tranh chấp ở
Biển Đông không bị giới hạn trong việc thực thi những tuyên
bố chủ quyền bất hợp pháp của mình đối với toàn bộ Biển
Đông gây bất lợi cho Việt Nam và Philippines. Mục tiêu thực sự của Trung Quốc là công khai cho các quốc gia châu Á thấy sự
bất lực về chiến lược và quân sự của Mỹ trong việc đối phó với
một Trung Quốc đang trỗi dậy về mặt quân sự. Kết luận chính thứ hai mà Mỹ miễn cưỡng thừa nhận chính là
những chính sách Mỹ đề ra đối với Trung Quốc trong suốt hai
thập kỷ kéo dài qua các đời Chính phủ Mỹ thuộc hai phe chính
trị khác nhau đã bị thất bại thảm hại. “Chiến lược bao vây
Trung Quốc” và “Chiến lược ngăn chặn rủi ro’ của Mỹ trong
cách tiếp cận của Washington với Trung Quốc về mặt chiến lược đã chỉ khuyến khích Trung Quốc hướng tới chính sách
“bên miệng hố chiến tranh” quân sự táo bạo hơn. Sự leo thang xung đột ở Biển Đông, sự leo thang của các tranh
chấp ở Biển Hoa Đông với Nhật Bản, việc tuyên bố ADIZ mới
và mở rộng ở Biến Hoa Đông cần phải được coi là những bước
đi tuần tự của Trung Quốc trong Đại Chiến lược của nước này
nhằm xóa bỏ sự hiện diện quân sự tiền tiêu của Mỹ ở Tây Thái
Bình Dương và vô hiệu hóa về mặt quân sự những lựa chọn quân sự của Washington chống lại Trung Quốc ở Tây Thái Bình
Dương. Đáng tiếc là, đặc điểm nổi bật bất biến và gây khó chịu trong
chính sách Trung Quốc của Mỹ là tính hai mặt chẳng đánh lừa
được ai. Mỹ “khuấy động” nỗi sợ hãi Trung Quốc ở các thủ đô
của châu Á và tiếp đó có các hành động tương tự khi cử các
quan chức Mỹ tới Bắc Kinh nhằm trấn an các nhà lãnh đạo
Trung Quốc rằng họ không nên lo lắng vì những phát biểu mạnh mẽ của Mỹ về Trung Quốc ở các thủ đô của châu Á chỉ
mang tính khu vực và các chính sách của Mỹ đối với Trung
Quốc không nên được hiểu là đã bị thay đổi vì những tuyên bố
như vậy. Biển Đông: Bộ tiểu thuyết nhiều tập về chính sách
nhượng bộ Trung Quốc đầy vụ lợi của Mỹ gây nguy
hiểm cho an ninh châu Á – Thái Bình Dương Do có những đánh giá chiến lược không đúng về các ý định của
Trung Quốc thể hiện qua việc theo đuổi các chính sách sai lầm
được đề cập trên, Mỹ đã thất bại đáng kể trong những hành
động ứng phó với sự gây hấn về quân sự cũng như sự chèn ép
liên tục về chính trị và quân sự của Trung Quốc đối với Việt
Nam và Philippines. Mỹ đã do dự và dao động trong việc đưa ra những tuyên bố
mạnh mẽ rõ ràng nhằm vạch rõ “những giới hạn đỏ” mà
Trung Quốc không nên vượt qua trong các vấn đề có liên quan
đến tranh chấp ở Biển Đông. Mặc dù Mỹ có thể đã không bận
tâm đến việc ủng hộ Việt Nam chống lại Trung Quốc vì Việt
Nam không phải là đồng minh quân sự của nước này, nhưng còn Philippines thì sao? Sau nhiều khích lệ và phải mất nhiều thời gian, Mỹ cuối cùng
mới thừa nhận rằng họ có nghĩa vụ theo hiệp ước phải bảo vệ
Philippines trước gây hấn quân sự. Mỹ hầu như đã không có những lời lẽ rõ ràng và công khai về
việc nước này sẵn sàng ra mặt ủng hộ Việt Nam trước bất kỳ
sự gây hấn nào của Trung Quốc ở Biển Đông vì Việt Nam
không phải là đồng minh quân sự của Mỹ giống như Philippines
và Nhật Bản. Những tuyên bố và lập trường chính thức của Mỹ trước sự leo
thang xung đột ở Biển Đông do Trung Quốc gây ra là hạn hẹp
và mập mờ, tạo cho Trung Quốc cơ hội về chính trị và chiến
lược để diễn giải chúng theo hướng có lợi cho nước này. Những tuyên bố như vậy của Mỹ cũng không áp đặt sự kiềm
chế hoặc “chiếu tướng” Trung Quốc, trong khi lại khiến Trung
Quốc tin rằng những ứng phó chiến lược của Mỹ là khoa
trương và do đó là tùy tiện nên không hề có nguy cơ dẫn đến
những đòn phản công mạnh mẽ của ashington. Các tuyên bố chính thức của Mỹ về Biển Đông: phân
tích những mơ hồ Trong sự tương phản rõ ràng với những năm 1990 khi Trợ lý
Ngoại trưởng Mỹ , Winston Lord, tung tuyên bố rằng Mỹ sẽ
không tha thứ cho việc vẽ lại các đường biên giới và thay đổi
chủ quyền ở Biển Đông, những tuyên bố mới đây của Mỹ về
Biển Đông là mập mờ và cho thấy sự miễn cưỡng thể hiện
quan điểm cứng rắn đối với chủ nghĩa phiêu lưu quân của Trung Quốc trọng các tranh chấp ở Biển Đông. Thông cáo báo chí của Bộ Ngoại giao Mỹ vào ngày 3/4/2012
viết “Với tư cách là một quốc gia Thái Bình Dương và là một
cường quốc ngoài khu vực, Mỹ có lợi ích quốc gia trong việc
duy trì hòa bình và ổn định, tôn trọng pháp luật quốc tế, tự do
hàng hải và thương mại hợp pháp không cản trở ở Biến Đông.
Chúng tôi không đua ra quan điểm về những tuyên bố lãnh thổ đang tranh chấp xung quanh các cấu trúc đất đai và không
có tham vọng lãnh thổ ở Biển Đông; tuy nhiên, chúng tôi tin
rằng các quốc gia trong khu vực này nên cộng tác với nhau về
phương diện ngoại giao nhằm giải quyết các tranh chấp mà
không ép buộc, không hăm dọa, không có các mối đe dọa,
không sử dụng vũ lực”. Ngoại trưởng Mỹ khi đó là Hillary Clinton đã tuyên bố tại Hội
nghị Diễn đàn Khu vực ASEAN ở Hà Nội rằng: “Mỹ có lợi ích
quốc gia đối với tự do hàng hải, tiếp cận mở đối với các không
gian hàng hải chung trên biển của châu Á và tôn trọng luật
pháp qụốc tế ở Biển Đông”. Trong cả hai tuyên bố chính thức trên của Mỹ, điều rõ ràng là
Mỹ đã từ chổi đứng về phía những quốc gia ASEAN là nạn
nhân của việc Trung Quốc gây hấn và ép buộc về quân sự ở
Biển Đông. Như là phương sách để giữ thể diện, Mỹ đã viện đến cách
thức” cao quý” là quyền tự do hàng hải và tiếp cận mở đối với
các không gian hàng hải chung của châu Á. Lập trường của Mỹ
dường như được “chế tác” bởi các nhà ngoại giao Mỹ thay vì là
các chuyên gia về an ninh và chiến lược của nước này.
Washington không nhận thức được rằng quyền tự do hàng hải và tiếp cận mở ở Biển Đông sẽ là bất khả thi nếu Trung Quốc
nắm giữ các đảo tranh chấp và những cấu trúc trên biển mà
họ đã chiếm đóng, cũng như những phần còn lại đang chờ họ
chiếm giữ. Những lời kêu gọi không rõ ràng của Mỹ đối với Trung Quốc về
một giải pháp hòa bình cho Biển Đông mà không có sự ép buộc
hay phải viện đến những đe dọa sử dụng vũ lực là điều nực
cười. Có khi nào Trung Quốc kiềm chế không sử dụng vũ lực
hay không đe dọa sử dụng vũ lực trong các tranh chấp lãnh
thổ hay không? Có khi nào Trung Quốc lưu tâm tới những lời cảnh báo của Mỹ về bất kỳ vấn đề nào hay không ? Tóm lại, những tuyên bố của Mỹ về các tranh chấp ở Biển
Đông ngụ ý một “đường hướng không can thiệp” mà đến lượt
nó đã khuyến khích sự không khoan nhượng hiện tại của
Trung Quốc trong các tranh chấp ở Biển Hoa Đông và việc
tuyên bố chậm trễ rằng việc tuyên bố ADIZ ở Biển Hoa Đông
có thể là ADIZ ở đó. Mỹ đã nhận ra một ca khúc dạo đầu cho một tuyên bố tương
tự về ADIZ của Trung Quốc ở khu vực Biển Đông. Mỹ đã cảnh
báo Trung Quốc ngừng làm như vậy. Xét các kiểu lập trường chiến lược vô trách nhiệm trước đây
của Trung Quốc, liệu Trung Quốc có thực sự quan tâm tới lời
cảnh báo của Mỹ? Sẽ thật thú vị khi theo dõi những ứng phó
của Trung Quốc trước lời cảnh báo của Mỹ về việc không tuyên
bố một vùng nhận dạng phòng không của Trung Quốc ở khu
vực Biển Đông. Mỹ có khả năng sẽ cử Ngoại trưởng tới Bắc Kinh để thực hiện thêm một sứ mệnh nữa. Các tin tức cho thấy Mỹ đã đón tiếp một nhóm các sĩ quan
thuộc Lực lượng Lục quân Trung Quốc trên một tàu sân bay
của Mỹ khi nó tuần tra qua Biền Đông và điều này thật đáng
khinh. Liệu Mỹ có phát đi thông điệp gì cho Trung Quốc qua
hành động này hay là có thông điệp nào đó dành cho Việt Nam
và Philippines? Những quan sát cuối cùng Đáng tiếc là, hồ sơ của Mỹ về các tranh chấp ở Biển Đông
dường như đang cho thấy từ bỏ chiến lược những trách nhiệm
của nước này với tư cách là một cường quốc châu Á-Thái Bình
Dương trong việc duy trì hòa bình và ổn định ở khu vực Biển
Đông trước sự gây hấn của Trung Quốc nhằm vào Việt Nam và
Philippines. Giờ đây, Trung Quốc còn có cuộc đối đầu quân sự khác với Nhật Bản ở Biển Hoa Đông. Từ nay trở đi, các nhà nước trong khu vực kỳ vọng Mỹ sẽ thể
hiện sự kiên quyết và quyết tâm nhiều hơn nữa trong việc đối
phó với “Mối đe dọa mang tên Trung Quốc” mà hiện đang thò
ra những cái xúc tu gây hấn ở châu Á-Thái Bình Dương. Các
quốc gia trong khu vực kỳ vọng Mỹ sẽ vạch ra “những giới hạn
đỏ” đối với chủ nghĩa phiêu lưu quân sự của Trung Quốc ở Biển Đông cũng như ở Biển Hoa Đông.

Posted in Articles | Để lại bình luận

HỌC GIẢ MỸ VIẾT GÌ VỀ SỬ VIỆT?

Hà Văn Thùy

Sau năm 1975, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu Việt Nam của xã hội Mỹ, một lớp nhà Việt học người Mỹ xuất hiện. Đẫn đầu là Keith W. Taylor. Vốn là cựu chiến binh  Việt Nam với vốn tiếng Việt và những trải nghiệm trong chiến tranh, ông đến với môi trường đại học và nhanh chóng trở thành học giả tên tuổi. Chỉ 8 năm sau, 1983, ông công bố cuốn Việt Nam thời khai sinh (The Birth of Vietnamese). Tôi đã hồ hởi đón nhận cuốn sách này với hy vọng, từ bên kia Trái đất, bằng nguồn tư liệu riêng, tác giả cung cấp cái nhìn mới về lịch sử Việt Nam. Nhưng rồi sớm thất vọng vì đó là cuốn sách nhạt nhẽo, gần như là sự nhai lại những gì đã có trong thông sử Việt, không cung cấp điều gì mới, ngoài một số tư liệu thời Bắc thuộc mà ví tính thứ yếu của nó, các sử gia Việt Nam đã không sử dụng. Không những thế, tôi buộc phải phản biện những bài Tôi đã bắt đầu giảng dạy về chiến tranh Việt Nam như thế nào (talawas.org 30.4.05), Các xung dột vùng miền giữa các dân tộc Việt từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XIX (talawas 30.5.05) và Cách nhìn mới về Việt Nam (BBCVietnamese.com 12.9.03).

Một người khác là Liam Kelley, còn có tên Việt là Lê Minh Khải. Không chỉ viết nhiều mà tác giả còn lập leminhkhaiviet.blog để đăng tải những bài được dịch sang tiếng Việt.

Bài viết này được dành riêng để trao đổi với tác giả.

I. Điểm một số bài viết của Liam Kelley.

1. Về bài:  “Hồng Bàng thị truyện” như một truyền thống được kiến tạo của người Việt Nam thời trung đại.

Phản bác ý tưởng cho rằng “có thông tin về các giai đoạn xa xưa của lịch sử trong các công trình của người Việt Nam, vốn không tồn tại trong các nguồn tư liệu Trung Hoa, các học giả về cơ bản đã kết luận: người Việt Nam hẳn đã có những truyền thống lịch sử của riêng mình được họ lưu truyền bằng miệng và rồi cuối cùng được viết ra ngay khi vùng đất của họ thoát khỏi sự cai trị của Trung Hoa,” Liam Kelley viết:

“Tôi cho sự thảo luận về Hồng Bàng thị truyện trong bài tiểu luận này đã chứng minh rằng các vua Hùng không có thật. Thay vào đó, họ được kiến tạo ở thời trung đại với tư cách là một bộ phận của một quá trình trong đó đầu tiên giới trí thức tinh hoa Hán hoá ở Đồng bằng sông Hồng đã kiến tạo ra, sau đó khớp nối một bản sắc riêng vào các khái niệm thuộc di sản văn hoá của người Trung Hoa”

Để khẳng định luận điểm của mình, tác giả đưa ra những chứng cứ sau:

a. Không hề có một cộng đồng dân cư ổn định ở đồng bằng sông Hồng vào thiên niên kỷ đầu tiên trước Công nguyên:

“Các học giả Việt Nam cho rằng những phát hiện khảo cổ học ở đồng bằng sông Hồng từ thế kỉ đầu trước CN, như các trống đồng Đông Sơn, và những bằng chứng về các cuộc khởi nghĩa trong xấp xỉ một ngàn năm Trung Hoa cai trị, như cuộc khởi nghĩa của chị em họ Trưng ở thế kỉ đầu sau CN, đều chỉ ra sự tồn tại của một nhóm dân cư ổn định ở khu vực này trong suốt thời kì dài. Tuy nhiên, kiểu chứng cứ này không nhất thiết ủng hộ cho một tuyên bố như thế.

Thứ nhất, việc kết hợp các di vật khảo cổ với nhóm người đã tạo ra những câu chuyện trong Liệt truyện đòi hỏi một điều là người ta đã phóng chiếu sự tồn tại của một nhóm sắc tộc được cho là đã tồn tại trong lịch sử (“người Việt”) được nhận dạng từ các văn bản trung đại lên những di vật khảo cổ tiền sử…”

“Hệ quả là, các học giả Việt Nam không chất vấn sự tạo dựng [khái niệm] “nhân dân/dân gian” của họ và xem xét mức độ khác biệt của khái niệm “nhân dân/dân gian” với quan niệm của Vũ Quỳnh ở thế kỉ XV.”

b. “Và một vấn đề có can hệ nhiều hơn là: Liệt truyện được ghi chép bằng chữ Hán cổ, một ngôn ngữ không được dùng rộng rãi để nói và hẳn là không được những người được cho là thuộc phạm trù vua Hùng biết đến trong hầu hết lịch sử được biết của nó. Hơn nữa, nếu những cư dân đó sở hữu một kiểu cổ xưa của cái rốt cuộc sẽ trở thành ngôn ngữ tiếng Việt [sau này], như một số học giả ở Việt Nam tin tưởng, thì phải nhận thức rằng thứ ngôn ngữ nói đó đã thay đổi khá đột ngột qua các thế kỉ, đặc biệt là khi khối từ vựng Trung Hoa xâm nhập vào, trước hết là ở một mức độ hạn chế bắt đầu trong thời nhà Hán (206B trước CN – 220 sau CN), và rồi rộng mở hơn trong suốt thời kì trung đại. Vì vậy, nếu những thông tin cốt lõi trong một câu chuyện như Hồng Bàng thị truyện bắt nguồn trong các câu truyện dân gian được lưu truyền từ thời viễn cổ, thì các học giả cần phải giải thích làm thế nào có thể xảy ra điều đó, và những sự lưu truyền nào đã chuyển tải các thông tin khi ngôn ngữ tiếng Việt phát triển qua các thế kỉ và khi những thông tin truyền miệng này rốt cuộc được dịch sang tiếng Hán cổ.”

c. “Hồng Bàng thị truyện” gần gũi với những văn bản Trung Hoa khác như

Thục chí:

“Rõ ràng như mọng đợi, thông tin trong đoạn văn này rất giống với đoạn mở đầu Hồng Bàng thị truyện của Liệt truyện. Đặc biệt, cũng như Hồng Bàng thị truyện, văn bản này tạo nên sự kết nối về phả hệ với một thủ lĩnh Trung Hoa huyền thoại, có một đứa con được sinh ra từ cuộc hôn nhân giữa một phụ nữ địa phương với một hậu duệ của vị thủ lĩnh ấy, và rồi có những thành viên khác của gia đình cá nhân ấy được phong làm người cai trị địa phương ấy. Nói khác đi, cả Liệt truyện và Hoa Dương quốc chí tạo ra một câu chuyện giống nhau nhằm kết nối những địa điểm tương ứng với một nhân vật ở thời cổ đại của Trung Hoa.”

Liễu Nghị truyện:

“Tất nhiên, có vô số câu chuyện về rồng và tiên trong văn học Trung Hoa liên quan đến những khu vực phía Nam sông Dương Tử. Theo đó, để xác định xem liệu có bất kì cái gì thống nhất trong câu chuyện về Lạc Long Quân và Âu Cơ hay không, sẽ là khôn ngoan khi trước hết nên đào xới danh mục các câu chuyện Trung Hoa viết về rồng và tiên. Chỗ tốt nhất để bắt đầu có lẽ là Liễu Nghị truyện,và như đã biết, có những mối liên hệ rõ ràng giữa câu chuyện đó với câu chuyện về Kinh Dương Vương và Thần Long. Và hoá ra, cũng có những sự tương đồng giữa Liễu Nghị truyện và đoạn văn trong Liệt truyện  đã dẫn ở trên. Những mối liên hệ ở đây không trực tiếp như những mối quan hệ liên quan đến Kinh Dương Vương và Thần Long, nhưng chúng gợi ý một cách mạnh mẽ rằng câu chuyện này ít nhất gợi một số ý tưởng cho câu chuyện về Lạc Long Quân và Âu Cơ.”

d. “Việt/Yue” như là một khái niệm tự xưng.

“Sự ảnh hưởng của lịch sử và văn học Trung Hoa đối với Hồng Bàng thị truyện là cực kì có ý nghĩa, ở chỗ nó hoàn toàn ủng hộ lập luận rằng câu chuyện này là một kiến tạo thời trung đại. Với sự thật đó, chúng ta cần phải xét lại toàn bộ hiểu biết của chúng ta về lịch sử Việt Nam để điều chỉnh cho đúng với thực tế này. Bằng những gì tiếp theo, tôi sẽ cố gắng phác thảo đại lược một đề cương của một sự diễn giải thay thế về lịch sử Việt Nam thời trung đại và sớm hơn, cái có thể giúp lí giải về người viết Hồng Bàng thị truyện và lí do viết.

Thứ nhất, đối lập với niềm tin rằng “nhân dân” của Đồng bằng sông Hồng ở thiên niên kỉ đầu trước CN đã sở hữu bản sắc nào đó mà họ duy trì suốt cả nghìn năm Trung Hoa cai trị, tôi cho rằng chúng ta có thể nhận thấy xu hướng từ từ trong một phần của giới tinh hoa Hán hoá, những người sống ở một khu vực trải dài từ vùng Bắc Việt Nam ngày nay đến tận Quảng Đông là sử dụng khái niệm “Việt” (Yue) để tự xưng,”

Không thể không nói rằng, đó là những chứng cứ có vẻ vững chắc, khiến cho sử gia Việt Nam không có đường phản bác, đành giữ thái độ im lặng.

Tuy nhiên, trên thực tế, tri thức lịch sử về Việt Nam và phương Đông mà tác giả dựa vào để đưa ra những ý tưởng trên, đã lạc hậu, bị thế kỷ XXI phủ nhận, khiến cho những luận cứ đó trở nên vô giá trị!

Nếu thế kỷ XX, khoa học nhân văn phương Đông được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Hoa tâm cho rằng, con người xuất hiện tại Tây Tạng sau đó xâm nhập Trung Hoa rồi từ Trung Hoa tràn xuống Việt Nam và Đông Nam Á, đem theo văn minh “khai hóa” vùng đất này; thì vào cái ngày định mệnh 29 tháng 9 năm 1998, khi công trình Quan hệ di truyền của dân cư trung Quốc (Genetic Relationship of population in China) (1) được công bố, nền tảng của cái “khoa học” thống trị một thời ấy đã sụp đổ!

Phát kiến của khoa học thế kỷ mới khẳng định:

- Người hiện đại Homo sapiens được sinh ra tại châu Phi 180.000 năm trước.

- 70.000 năm cách nay, người tiền sử theo bờ biển Nam Á tới Việt Nam.

- 50.000 năm trước, người từ Việt Nam di cư ra các hải đảo Đông Nam Á, tới Ấn Độ.

- 40.000 năm trước, do khí hậu phương bắc ấm lên, người từ Việt Nam đi lên khai phá vùng đất ngày nay có tên là Trung Hoa.

Với phát kiến động trời này, tri thức nền tảng về phương Đông đã thay đổi. Xu hướng của lịch sử không phải “Hoa tâm” mà là sự thật ngược lại: Việt Nam chính là trung tâm phát tích của dân cư và văn hóa phương Đông!

Năm 2004, khi tiếp cận thông tin trên, tôi đã dừng mọi công việc văn chương, tập trung toàn tâm lực để khảo cứu thời tiền sử phương Đông. Sau mười năm, cùng hàng trăm bài báo, tôi đã công bố ba cuốn sách: Tìm lại cội nguồn văn hóa Việt (NXB Văn học, 2007), Hành trình tìm lại cội nguồn (NXB Văn học, 2008), Tìm cội nguồn qua di truyền học (NXB Văn học, 2011) và cuốn thứ tư đang trên bàn biên tập viên nhà xuất bản Trí thức: Viết lại lịch sử Trung Hoa.

Từ khảo cứu của mình, tôi khám phá rằng, khoảng 5000 năm TCN, tại miền trung Hoàng Hà và cửa sông Dương Tử, do người Việt Australoid tiếp xúc với người Mongoloid phương Bắc (những người cũng từ Việt Nam lên nhưng do di cư riêng rẽ, đã giữ được nguồn gen thuần chủng, sau này sống tập trung trên đất Mông Cổ) sinh ra chủng Mongoloid phương Nam. Người Mongoloid phương Nam tăng nhân số, dần trở thành chủ thể của văn hóa Ngưỡng Thiều, Hà Mẫu Độ và sau đó làm nên văn hóa Long Sơn nổi tiếng. Ở thời điểm này, những thủ lĩnh người Việt là Phục Hy, Thần Nông xuất hiện. Vào khoảng năm 2879 TCN xảy ra việc Đế Minh chia đất và phong vương cho con là Đế Nghi và Kinh Dương Vương lập nước Xích Quỷ. Là những người đánh cá và đi biển thành thạo, người Việt đã giao thương bằng thuyền tới Đài Loan, Indonesia, Philippine, Việt Nam và hiểu các vùng đất này. Sử Trung Hoa ghi, khoảng năm 2700 TCN, xảy ra cuộc xâm lăng của người phương Bắc vào Trác Lộc ở bờ nam Hoàng Hà. Trong trận này, Đế Lai (văn bản Trung Hoa ghi là Si Vưu) tử trận còn Lạc Long Quân đưa đoàn quân dân Việt dùng thuyền vượt biển đổ bộ vào Nghệ An Việt Nam. Sau này, do sức ép của quân xâm lăng, người Việt từ vùng Trong Nguồn (nay là Trung Nguyên) và duyên hải phía đông di cư xuống phương Nam. Người di cư mang nguồn gen Mongoloid phương Nam xuống, chuyển hóa đại bộ phận dân cư Đông Nam Á thành Mongoloid phương Nam. Hiện tượng này được nhân chủng học gọi là quá trình Mongoloid hóa dân cư Đông Nam Á (2). Trên đất Việt Nam, khảo cổ và nhân chủng học xác nhận cuộc di cư này: khoảng 4000 năm trước, người Phùng Nguyên từ mã di truyền Australoid chuyển sang người Đông Sơn Mongoloid phương Nam. Đặc biệt tại di chỉ Mán Bạc tỉnh Ninh Bình, có tuổi trên 2000 năm TCN, phát hiện khu mộ táng với 30 thi hài người Australoid và Mongoloid được chôn chung (3). Đây là chứng cứ vững chắc cho thấy người Mongoloid từ phía bắc xuống chung sống với người bản địa Australoid để rồi chuyển hóa di truyền toàn bộ dân cư sang Mongoloid phương Nam, là tổ tiên người Việt Nam hiện đại. Như vậy, khảo cổ học và nhân chủng học xác nhận, dân cư đồng bằng sông Hồng hiện nay không phải đám trôi sông lạc chợ mà là cộng đồng được hình thành từ hơn 4000 năm trước!

Trên vùng đất chiếm được cùa tộc Việt ở nam Hoàng Hà, người Mông Cổ lập vương triều Hoàng Đế. Do sống chung, họ hòa huyết với người Việt, sinh ra người Hoa Hạ. Với thời gian, người Hoa Hạ được Việt hóa và thay cha ông Mông Cổ lãnh đạo xã hội vương quốc Hoàng Đế, tạo dựng các triều đại Nghiêu, Thuấn, Vũ… Là con cháu người Việt, sống trên đất đai Việt, người Hoa Hạ thấm nhuần văn hóa Việt, tôn Phục Hy, Thần Nông làm tổ cùng với Hoàng Đế.

Người Việt từ Trong Nguồn (tên cũ của đồng bằng Trung Nguyên) và duyên hải phía đông Trung Hoa di tản về Việt Nam, định cư ở vùng đất cao của đồng bằng sông Hồng đang được bồi tụ, đã mang theo ký ức về Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông, Kinh Dương Vương… Từ ký ức, họ lập những ngôi mộ gió và sau đó xây đền kính ngưỡng thờ các vị cho đến nay.

Với quá trình lịch sử và sự hình thành dân cư Đông Á như vậy thì bốn “chứng lý” mà tác giả L. Kelley dẫn trên không những không ủng hộ mà trái lại còn  phản bác lập luận của chính ông:

- Không phải là “Không hề có một cộng đồng dân cư ổn định ở đồng bằng sông Hồng vào thiên niên kỷ đầu tiên trước Công nguyên” mà đó là khối dân cư đông đảo mang mã di truyền Mongoloid phương Nam, hình thành từ hơn 4000 năm trước, tiếp nối truyền thống Việt cổ, làm nên văn hóa Đông Sơn.

- Những ghi chép trong Thục Chí, truyện Liễu Nghị hay Hồng Bàng thị truyện… là những phiên bản của truyền thuyết lập nước Xích Quỷ, Văn Lang lưu truyền trong cộng đồng người Việt vùng Ba Thục, Lưỡng Quảng và Bắc Việt Nam.

- “Việt/Yue” như là “một khái niệm tự xưng” là điều hoàn toàn có thật. Bởi lẽ, khoảng 18.000 năm trước, khi sáng tạo ra chiếc rìu đá mới, người Hòa Bình đã tự hào là chủ nhân công cụ tiên tiến của nhân loại nên tự gọi mình làngười Việt  với chữ Qua (戈) . Khoảng 12.000 năm trước, khi phát minh ra cây lúa nước, người Việt tự xưng là tộc Việt với chữ Việt bộ Mễ (粤). Và khoảng 4000 năm trước, khi sáng tạo chiếc rìu bằng đồng, người Việt lại tự xưng bằng danh hiệu mới: chữ Việt bộ Tẩu (越) !

- Về thắc mắc quan trọng của tác giả là ngôn ngữ: Liệt truyện được ghi chép bằng chữ Hán cổ, một ngôn ngữ không được dùng rộng rãi để nói và hẳn là không được những người được cho là thuộc phạm trù vua Hùng biết đến trong hầu hết lịch sử được biết của nó…” có thể giải đáp dễ dàng: Tiếng Việt là chủ thể tạo nên ngôn ngữ Hán (4). Không những vậy, chính chữ tượng hình Trung Hoa cũng do người Việt sáng tạo để ký âm tiếng Việt!(5)

Phân tích ở trên cho thấy, “Hồng Bàng thị truyện” dù được ghi vào thời Trung đại và có những thêm bớt không phù hợp của (những) người chép thì nó vẫn là hồn cốt của sự kiện có thật xảy ra trong quá khứ, được lưu giữ nơi ký ức sâu thẳm của cộng đồng người đông đảo, sống trên địa bàn rộng lớn nay là Trung Hoa và Việt Nam, trong suốt thời gian gần 5000 năm. Đó hoàn toàn không phải một “truyền thống được kiến tạo”!

2. Về bài “Từ ngữ Thái (Tai) và vị trí của người Thái trong quá khứ của người Việt Nam”

Trong chuyên luận dài gần 20.000 chữ: “Từ ngữ Thái (Tai) và vị trí của người Thái trong quá khứ của người Việt Nam,” L. Kelley do chỗ cho rằng “quan lang”, “mị nương”, “bồ chính”, “cổ”… là những từ gốc Thái đi vào tiếng Việt ở thời Trung đại, đã khẳng định:  “Người Thái và người Việt không phải là anh em sống hài hoà thời cổ và sau đó đi những con đường khác nhau. Thay vào đó, họ là những tộc người khác nhau trở thành láng giềng ở thời trung đại và đấu tranh với nhau cho đến khi người Việt rốt cuộc đã giành được sự thống trị lên người Thái ở khu vực lớn hơn Đồng bằng sông Hồng vào thế kỉ XV.”

Lịch sử văn hóa là hoạt động xã hội của con người trong thời gian và không gian. Do vậy, muốn hiểu lịch sử, văn hóa của một cộng đồng người, điều tiên quyết là phải hiểu biết về họ. Xin hỏi giáo sư: Người Việt là ai? Người Thái là ai? Mã di truyền của họ là gì? Nguồn gốc phát tích từ đâu? Trải qua quá trình lịch sử thế nào để rồi cùng sống trên đất Việt? Tôi dám chắc, giáo sư không trả lời được! Do vậy, việc bàn về từ nào của Việt, từ nào của Thái rồi chuyện họ sống với nhau ra sao trong quá khứ chỉ là chuyện nói mò! Tôi rất thông cảm với giáo sư vì biết rằng, cho tới cuối thế kỷ trước, chưa có lời giải cho những câu hỏi trên! Nhưng theo tôi, sự thể thế này:

- 70.000 năm trước, hai đại chủng người Australoid và Mongoloid từ châu Phi tới Việt Nam. Họ gặp nhau, hòa huyết, cho ra bốn chủng người Việt cổ: Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid, đều thuộc loại hình Australoid. Sau khi sống chung với nhau ít nhất 30.000 năm trên đất Việt, họ không chỉ có chung huyết thống mà còn chung văn hóa, trong đó tiếng nói Lạc Việt là ngôn ngữ chung. Từ 40.000 năm cách nay, các chủng người Việt chia tay nhau lên khai phá Trung Hoa. Có cơ sở để cho rằng, từ Tây Bắc Đông Dương, một bộ phận người Thái theo hành lang Ba -Thục lên Tây Bắc Trung Quốc, chiếm lĩnh vùng Thiểm Tây, Sơn Tây, sau này trở thành chủ nhân nền văn hóa Ngưỡng Thiều nổi tiếng. Chính họ đặt tên cho những địa danh có từ “cổ/gu” còn tới ngày nay ở vùng này.  Đó cũng là ngôn ngữ và văn hóa tạo nên kinh Thi như phát hiện của Maspéro như được dẫn trong bài viết. Về người Thái, từ rất sớm, sách sử ghi rằng: vợ Đế Khốc, ông vua thứ tư của vương triều Hoàng Đế là bà Khương Nguyên, một người con gái thị tộc Thái (Thai thị nữ): “Chu Hậu Tắc, tên Khí. Mẹ người thị tộc Thái, tên là Khương Nguyên. Khương Nguyên là nguyên phi của Đế Khốc.” (周后稷,名弃。其母有邰氏女,曰姜原。姜原为帝喾元妃.) Một dòng khác trong Lạc Việt đi lên Trung Hoa, khai phá đồng bằng Trong Nguồn, nơi sau này là đất phát tích của ông vua sáng lập triều Hán. Vị nữ hoàng đế duy nhất của Trung Hoa Võ Tắc Thiên đặt tôn hiệu của mình là Việt Cổ Kim Luân Thánh Thần hoàng đế (越古金轮圣神皇帝) và Từ Thị Việt Cổ Kim Luân Thánh Thần hoàng đế (慈氏越古金轮圣神皇帝).  Điều này chứng tỏ bà là người Việt. Căn cước Việt của bà còn ở chỗ tên sữa, tên gọi khi con gái là Mỵ Nương! Như vậy chứng tỏ “mỵ nương” không chỉ là sở hữu riêng của người Thái mà là chung cho các tộc Việt. Cũng vậy, cổ/gu là từ Việt cổ, được biến âm từ “kẻ” rất phổ biến ở Bắc Bộ! Vì thế, Mỵ Nương trong truyện Sơn tinh, Thủy tinh không hề là cô “công chúa người Thái” như L. Kelley tưởng tượng!

Có thể lịch sử của một bộ phận người Thái là thế này: từ Việt Nam, họ đi lên Tây Bắc Trung Quốc, sáng tạo văn hóa Ngưỡng Thiều, Long Sơn. Khi vùng này bị người Mông Cổ xâm lăng, một bộ phận dân cư chung sống với người Mông Cổ, góp phần sinh ra người Hoa Hạ. Một trong những mỵ nương người Thái lấy Đế Khốc, sinh ra tổ nhà Chu. Sau này, do sự xâm nhập, chèn ép của dân du mục phương tây, người Thái làm cuộc di cư lớn từ Thiểm Tây, Sơn Tây vào Hà Nam rồi vượt Trường Giang xuống Quảng Tây. Tiếp đó, họ di cư vào Lào, Thái Lan, Miến Điện. Tại Việt Nam, do số dân Việt quá đông nên người Thái xâm nhập không nhiều và chỉ có thể sống ở vùng ngoại vi. Như vậy là, sau thời gian đằng đẵng đi xa, một bộ phận người Thái trở về đất tổ tiên của mình. Những người từ Trung Quốc trở về Lào, Thái Lan gọi chi thứ tư của Thập nhị chi là Thỏ. Tuy vậy, vẫn có một bộ phận người Thái không di cư mà sống bám trụ tại Việt Nam và các nước khác như Thái Lan, Lào… Người Thái ở Điện Biên là tộc người đã sống từ xa xưa trên đất Việt bởi lẽ trong sổ Chóng Bang (Một kiểu sách bói toán) của họ chép chi thứ tư trong Thập nhị chi là Mẩu, tức Mão. Phát biểu của W.G. Solheim II: “Có nhiều nét tương đồng và không có sự khác biệt quan trọng giữa người dân thời đá mới ở Bản Kao với người Thái hiện nay” (2) làm chứng cho việc này!

Như vậy, hoàn toàn không như L. Kelley nghĩ,“họ là những tộc người khác nhau trở thành láng giềng ở thời trung đại và đấu tranh với nhau cho đến khi người Việt rốt cuộc đã giành được sự thống trị lên người Thái.” Đó là quá trình hòa nhập của người Thái vào cộng đồng Việt khi nhà nước Việt hình thành!

3. Về bài Kinh Dịch và những thông điệp lạc lõng

Để phản bác bài Kinh Dịch là của người Việt của học giả Nguyễn Thiếu Dũng, L. Kelley viết:

“Gần đây có người chuyển tiếp cho tôi một bài báo xuất hiện trên một tờ báo điện tử giật tít “Kinh Dịch là của người Việt”.

Đã có một nỗ lực trong nhiều năm nay trong bộ phận một nhúm người để chứng minh rằng văn bản cổ ấy do người “Việt” sáng tạo ra. Đó là một nỗ lực rất đậm chất dân tộc chủ nghĩa nhằm cố nói lấy được rằng tri thức và văn hoá “Việt” có trước tri thức và văn hoá “Tàu” và rằng Trung Quốc do đó đã vay mượn từ “Việt”, và không có điều ngược lại, như vẫn thường được tin là vậy.

Tôi cần phải đọc nhiều hơn nữa các công trình của Kim Định, nhưng tôi tin rằng nỗ lực nhằm cho thấy “phương Nam” đã sáng tạo ra nền văn hoá mà giờ đây “phương Bắc” ca ngợi đã bắt đầu từ ông ấy (nhưng có lẽ có những ví dụ sớm hơn về tuyến lập luận này chăng?).

Tôi đã băn khoăn từ lâu về cái gì đã thúc đẩy người ta duy trì nỗ lực tạo ra luận điểm này, khi mà hầu hết mọi người không tin vào những gì họ nói. Có phải nó chỉ là chủ nghĩa dân tộc? Liệu lòng tự ái dân tộc chủ nghĩa có thực sự mạnh mẽ đến thế?

Do một sự trùng hợp ngẫu nhiên đáng kinh ngạc, một người bạn của tôi làm việc cho NASA đã gửi cho tôi một file âm thanh vào sáng nay về một loại thông điệp mà các máy ghi âm không gian của NASA đã thu thập được từ một nơi nào đó bên ngoài hệ mặt trời của chúng ta. Bạn tôi nghĩ kiểu âm thanh đó nghe giống tiếng Việt, nên anh ấy gửi cho tôi.

Có một chút khó nghe, nhưng tôi nghĩ họ đang nói…Kinh Dịch là của người Việt!

Không hề đưa ra một chứng cứ hay luận lý nào để phản bác đối phương mà đã quy kết nặng nề họ là dân tộc chủ nghĩa sao tránh khỏi vội vàng và võ đoán?! Việc “hầu hết mọi người không tin” đâu phải là một chứng lý để phủ định? Biết bao điều nhiều người không tin mà có thật! Nhân loại đã từng không tin là Trái đất tròn thì có gì lạ khi nhiều người không tin kinh Dịch là của người Việt! Của đáng tội, cần gì vị giáo sư đại học phải phí sức đẩy một cánh cửa đã mở sẵn?!

Những câu chữ hùng hồn trên chỉ nói lên rằng: giáo sư chẳng biết gì về điều mình nói! Có sự thực mà giáo sư không ngờ là chính học giả Trung Quốc cũng không dám nhận kinh Dịch là của họ.

Trong một bài được in trên “Thế giới những điều chưa biết” (phần lịch sử, khảo cổ), Nhà xuất bản Giang Tô, Trung Quốc, năm 2008. Sau khi dẫn cổ thư “Bào Hy họa quái”, tác giả đưa ra cật vấn: “người ta liền nảy sinh nghi vấn rằng chẳng lẽ một thứ phức tạp như vậy mà lại do một nhân vật trong truyền thuyết là Phục Hy sáng tạo ra?” Phủ nhận Phục Hy, tác giả dẫn ý kiến cho rằng Bát quái có khả năng là do người triều Thương dùng giáp cốt để chiêm bốc, đã suy diễn từ các đường vân nứt do bị cháy trên mai rùa mà thành, đó là sáng tạo vào đời nhà Thương, chứ không phải là do Phục Hy sáng tạo ra vào thời thượng cổ theo truyền thuyết.”

Thấy thuyết này không ổn, thuyết khác được đưa ra: “Còn “Kinh dịch” thì rất có thể là tác phẩm của thời nhà Chu, rất khó hiểu, cho nên Khổng Tử thời Xuân Thu đọc “Dịch”, vi biên tam tuyệt, tức ban đầu đến cả Khổng Tử đọc cũng không hiểu, đọc đi đọc lại, khiến cho dây da trâu buộc thẻ tre bị đứt tới 3 lần. Cuối cùng khi đã đọc hiểu rồi, Khổng Tử đã chỉnh sửa thêm, và như thế, “Kinh dịch” liền trở thành kinh điển của Nho gia.”

Nhưng lại cũng có những người cho rằng, Bát quái và “Kinh dịch” đại diện cho quá trình diễn tiến nhận thức của người Trung Quốc cổ đại đối với các hiện tượng tự nhiên, hiện tượng xã hội… Mỗi một giai đoạn phát triển đều không thể chỉ là sự sáng tạo phát minh của một người nào đó, mà là một quá trình diễn tiến có sự kế thừa và phát triển trước sau, liên tục không ngừng. Nói họ Phục Hy sáng tạo ra Bát quái kì thực là đã quá đơn giản hóa vấn đề này.”

Bài viết kết luận: “Giải thuyết cuối cùng trong số 3 giải thuyết trên tuy khá hợp lí, nhưng nó đã phủ định giải thuyết “Bào Hy họa quái” đã được lưu truyền từ mấy ngàn năm nay ở Trung Quốc, nên lại rất khó lòng được mọi người tiếp nhận.
Rút cục Bát quái là do ai sáng tạo? Khi còn chưa tìm ra được lời giải đáp tốt hơn, thì vẫn đành phải dựa theo lời trong sách xưa mà qui công về cho họ Phục Hy theo truyền thuyết thôi.”(6)

Ở đây người ta vì sợ “khó được lòng” đám đông nên đã hy sinh chân lý! Rõ ràng luận thuyết cuối cùng là hợp lý nhưng bị bỏ qua để rồi mèo vẫn hoàn mèo, mọi chuyện lại trở về điểm xuất phát! Đúng là Phục Hy khôngg thể làm ra Dịch mà đó là công trình của hàng nghìn người diễn ra trong hàng nghìn hàng vạn năm. Nhưng một khi đã thành tựu, thì theo tập quán xưa, công quy vu trưởng, người ta phong tặng sáng kiến của cả cộng đồng cho vị thủ lĩnh tôn kính, cũng như từng quy cho Thần Nông công “giáo dân nghệ ngũ cốc” hay Hoàng Đế làm ra Nội kinh… Nhưng Phục Hy là ai? Sách nói, ông sống khoảng 4800 năm TCN. Thời kỳ này, đất Trung Hoa hoàn toàn là giang sơn của người Việt. Phải 2000 năm sau, với cuộc xâm lăng của Hoàng Đế, người Hoa Hạ mới ra đời. Đó là lớp con lai của con cháu Phục Hy, Thần Nông với những chiến binh Mông Cổ của Hoàng Đế. Nhận thức ra gốc gác ấy, người Hoa Hạ gọi mình là Viêm Hoàng tử tôn!

Tại Hội thảo quốc tế Dịch học tại Sơn Đông Trung Quốc năm 2011, học giả Việt Nam Trần Ngọc Thêm đã chứng minh rằng triết lý âm dương hình thành từ thực tiễn đời sống nông nghiệp lúa nước Đông Nam Á, hai từ “âm dương” bắt nguồn từ hai từ “mẹ” và “trời” trong các ngôn ngữ Đông Nam Á (ina – yang). Cặp khái niệm “âm dương” với trật tự âm trước dương sau được hình thành trên cơ sở tổng hợp hai cặp khái niệm quan trọng bậc nhất trong cuộc sống của người trồng lúa nước là “mẹ cha” và “đất trời”. Nó mang đậm nét dấu tích của một truyền thống văn hoá trọng nữ Đông Nam Á, khác hẳn truyền thống trọng nam   Trung Hoa thể hiện qua hai cặp từ “phụ mẫu” và “thiên địa”. ThS. Nguyễn Ngọc Thơ đưa ra hàng loạt biểu hiện của tư tưởng âm dương ngũ hành trong mọi lĩnh vực phong tục, tập quán, truyền thuyết, v.v. của Việt Nam từ xưa đến nay như những minh chứng cho tính nguyên thủy, tính tự phát của tư tưởng âm dương, lưỡng phân lưỡng hợp trong truyền thống văn hoá Việt Nam và Đông Nam Á.

Bình luận về các báo cáo của đoàn Việt Nam, GS. Ngô Di (Viện nghiên cứu Chỉnh thể học California, Mỹ) nhận xét rằng: “Lâu nay giới nghiên cứu Dịch học thường chỉ dựa vào sách vở xưa và các tư liệu khai quật được từ lăng mộ mà bỏ qua quá trình phát triển lịch sử của nó. Chu dịch chắc hẳn phải là kết quả sự đóng góp của cư dân nhiều vùng, là sản phẩm phát triển qua nhiều thời đại. Do vậy việc tìm hiểu nguồn gốc Dịch học phải được mở rộng ra để nhìn từ nhiều góc độ như các học giả Việt Nam đang làm, chứ không phải chỉ giới hạn ở một nơi, bằng một loại chứng cứ quen thuộc.

Tổng kết phiên hội thảo này, GS. Vương Tuấn Long (Viện nghiên cứu tư tưởng truyền thống Trung Quốc thuộc Đại học Sư phạm Thượng Hải) kết luận: Trong báo cáo của mình, GS. Trần Ngọc Thêm đến từ Việt Nam đã cho thấy rằng nguồn gốc của Kinh Dịch không thể tìm trong truyền thuyết mà phải đi tìm trong sự phối hợp giữa điều kiện tự nhiên với bối cảnh lịch sử – xã hội của thực tiễn cuộc sống. Bằng những nghiên cứu tỷ mỷ, với những dẫn chứng rõ ràng, trên cơ sở phân tích tính đặc thù của cuộc sống nông nghiệp lúa nước, tác giả đã chứng minh có sức thuyết phục về nguồn gốc Đông Nam Á của tư tưởng âm dương. Hai báo cáo của các nhà khoa học Việt Nam liên kết chặt chẽ với nhau thành một thể thống nhất, cho thấy kiểu văn hoá âm dương ưu tiên mẹ hơn cha, địa hơn thiên, với một tư duy lưỡng phân lưỡng hợp rất thú vị. Nó rất khác lạ với truyền thống trọng nam Trung Hoa và khái niệm lưỡng nghi vốn rất quen thuộc ở Đông Bắc Á. (7)

Đó là sự thật mới được khám phá, không hề có trong cổ thư. Cố nhiên, L. Kelly không biết!

Đáng trách là ở cuối bài, giáo sư L. Kelley diễn trò đùa nhả! Điều này chứng tỏ tác giả đã không biết gì về người mình tranh biện. Nay vào tuổi 73, ông Nguyễn Thiếu Dũng từng là giảng viên Đại học Huế. Sau 1975  ông ở nhà làm thày lang chữa bệnh, nghiên cứu Đông y, Dịch lý. Ông đã phát hiện biểu tượng Âm là những dấu chấm …. Còn biểu tượng Dương là vạch liền –  trên trống đồng. Trung thiên đồ do ông khám phá được nhiều nhà Dịch học Việt Nam ghi nhận, coi như cống hiến mới cho Dịch học. Trong những comments trao đổi giữa ông Dũng và Kelley, tôi thấy lời lẽ của ông nhu thuận chân tình, thực lòng muốn bàn về học thuật nhưng Kelley lại luôn tránh né! Chơi trò bất nhã với học giả đáng kính, tác giả không khỏi mang tiếng là thiếu lễ!

II. Nguyên nhân những sai lầm của L. Kelley

Có thể thấy hai nguyên nhân dẫn tới sai lầm của vị giáo sư Đại học Manoa. Một là bất cập về phương pháp luận. Tác giả đã áp dụng phương pháp luận là chỉ căn cứ vào văn bản. Phương pháp như vậy có thể phù hợp với phương Tây, nơi mà các quốc gia hình thành muộn và các sự kiện lịch sử được ghi chép khá đầy đủ, lại được lưu trữ tốt. Công việc của sử gia là đọc các văn bản rồi đưa ra những ý kiến của mình. Với Việt Nam, phương pháp như vậy chưa đủ. Bởi lẽ, lịch sử Việt Nam quá dài, trong đó có 1000 năm bị nước ngoài thống trị rồi khi giành được nước thì chiến tranh liên miên. Tài liệu lịch sử của Việt Nam không những ít mà còn bị cướp phá, thiêu hủy. Những gì còn sót lại thì nhiều khi đã bị xuyên tạc. Người phương Tây có ngạn ngữ: nửa chiếc bánh mì là bánh mì nhưng nửa sự thật không còn là sự thật! Do vậy, những văn bản hiện có, dù rất quý nhưng cũng không hẳn là sự thật lịch sử. Một khi cho đó là tất cả lịch sử sao tránh khỏi chủ quan, phiến diện? Vì vậy, viết sử Việt Nam rất khó. Đó không chỉ là những trang giấy mà người viết phải hiểu được hồn của sử! Điều này không dễ đối với học giả nước ngoài vốn xa lạ với văn hóa Việt.
Nguyên nhân thứ hai, quan trọng hơn là, cũng như học giả phương Tây khác, L. Kelley mắc phải cái mà tôi gọi là bẫy kiến thức. Cái bẫy này do chính học giả phương Tây dựng lên trong thế kỷ trước. Đó là việc áp đặt cho phương Đông quan niệm Hoa tâm. Xuất phát từ thuyết con người xuất hiện ở Tây Tạng, đi vào Trung Hoa rồi sau đó xuống Đông Nam Á, học giả của Viễn Đông Bác Cổ cho rằng, Trung Hoa là trung tâm của châu Á. Người Trung Hoa đã sáng tạo văn minh: tiếng nói, chữ viết, kinh Dịch, Nho giáo, Lễ, Nhạc… rồi truyền bá tới các dân tộc man di Đông Nam Á. Quan niệm như thế trở thành gông cùm trói buộc học thuật thế giới suốt thế kỷ XX!

Nhưng sang thế kỷ XXI, một sự thật khác được phát lộ: Không phải Hoa tâm mà chính Việt tâm mới là dòng chảy của lịch sử phương Đông! Không phải từ Bắc xuống mà từ Việt Nam, người Việt mang nguồn gen, tiếng nói, công cụ đá mới, cây lúa, cây kê cùng văn hóa nông nghiệp đi lên xây dựng Trung Hoa! Đấy là khám phá làm đảo lộn quan niệm về lịch sử, văn hóa phương Đông. Nhưng do sức ý trí tuệ, không đủ khả năng tiếp nhận thông tin mới, nhiều học giả phương Tây, trong đó có L. Kelley, vẫn ngụp lặn trong tư duy cũ!

III. Kết luận

Lịch sử Việt Nam từng bị xuyên tạc bằng tiếng Tàu, tiếng Tây và bây giờ bằng tiếng Mỹ. Đấy là sự thật đắng cay không ai chối cãi được!

Bằng những bài viết của mình, L. Kelley dường như muốn đập phá tan hoang ngôi đền sử học Việt Nam được gầy dựng từ xưa và dầy công vun đắp suốt trong nửa thế kỷ của chế độ dân chủ cộng hòa. Đó cũng là sự phủ định quyết liệt chính những sử gia Việt Nam hiện đại, là tác giả hay đồng tác giả của cuốn sử Việt Nam hôm nay!

Điều không bình thường là vì sao giới sử gia Việt Nam hoàn toàn im tiếng?!

Có lẽ, lời đáp sát hợp nhất là họ không thể trả lời! Không thể bởi lẽ cùng đọc chung những cuốn sách mà họ khai thác khía cạnh này, trong khi đối phương khai thác khía cạnh khác, họ không có lý lẽ để phản bác! Một dẫn chứng cụ thể: khi Trần Trọng Dương “eureka” “Kinh Dương Vương chỉ là sản phẩm của văn hóa Tàu” thì các nhà khoa bảng đành ngậm tăm, thậm chí có người còn hùa theo nữa! Điều này cũng giống như trước đây, khi thấy một người tuyên bố: “Những từ như Kẻ, Mơ… chẳng hề là tiếng thuần Việt gì ráo trọi mà tất cả 100% Made in China” thì dù rất bức bối nhưng Trần Quốc Vượng chỉ có thể than thở với Cao Xuân Hạo: “Biết ông ta nói bậy nhưng không làm sao phản bác được!” (6) Sở dĩ vậy vì sử gia Việt và L. Kelley cùng đứng trên hệ quy chiếu Hoa tâm, một hệ quy chiếu chỉ cung cấp cái nhìn lịch sử từ 2000 năm trở lại nhưng là bị nhìn lộn ngược!

Tuy nhiên một khi thoát khỏi hệ quy chiếu này, bước sang hệ quy chiếu Việt tâm, mọi chuyện trở nên sáng rõ. Khi giác ngộ điều này, chắc chắn, L. Kelley sẽ thấy, muốn thành nhà Việt học tử tế, phải viết khác trước! Còn học giả Việt Nam sẽ được trang bị vũ khí tuyệt vời để khám phá lịch sử, văn hóa kỳ vĩ của tổ tiên. Thứ vũ khí ấy đã có và mỗi ngày được rèn thêm sắc bén. Nhưng vì sao họ không dùng để đến nỗi trở thành kẻ tội đồ khi không bảo vệ được bát hương trên bàn thờ tổ tiên?

                                                                          Nguyên Tiêu năm Giáp Ngọ

Tài liệu tham khảo.

1. J. Y. Chu at al. Genetic Relationship of population in China http://www.pnas.org/content/95/20/11763.long

2. Nguyễn Đình Khoa. Nhân chủng học Đông Nam Á. NXB Đại học&THCN, 1983.

3. TS. Marc Oxenham: Tôi thất vọng về thông tin lệch lạc!

http://vietbao.vn/Van-hoa/TS-Marc-Oxenham-Toi-that-vong-ve-thong-tin-lech-lac/20422593/181/

4. Hà Văn Thùy. Hành trình tìm lại cội nguồn. NXB Văn học 2008

5. Chữ Việt chủ thể tạo nên chữ viết Trung Hoa. vanhoanghean.com.vn/index.php?option=com_k2..

6. Nguyễn Trung Thuần: HỌC GIẢ TRUNG QUỐC CŨNG CHƯA DÁM NHẬN KINH DỊCH CỦA MÌNH.

http://www.lyhocdongphuong.org.vn/dich-hoc/chi-tiet/hoc-gia-trung-quoc-cung-chua-dam-nhan-kinh-dich-cua-minh-2668/

7. Hội thảo Quốc tế Dịch học tại Sơn Đông năm 2011.

http://www.vanhoahoc.edu.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=2110&Itemid=94

7. Lời Cuối Cùng Thưa Với Ông An Chi !http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=17094

TS. Marc Oxenham: Tôi thất vọng về thông tin lệch lạc!

http://vietbao.vn/Van-hoa/TS-Marc-Oxenham-Toi-that-vong-ve-thong-tin-lech-lac/20422593/181/

Posted in Archives, Articles, International relations, Teaching | Tagged , , | Để lại bình luận

MÂU THUẪN, XUNG ĐỘT TRONG QUAN HỆ VIỆT – TRUNG VÀ CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI THÁNG 2 – 1979

NGUYỄN THỊ MAI HOA

Trong những năm đầu sau ngày giải phóng miền Nam Việt Nam (1975), Trung Quốc là nước tiếp tục giúp đỡ, viện trợ cho Việt Nam. Theo một logic thông thường, lý ra sự hợp tác, quan hệ truyền thống giữa hai nước càng phải được củng cố, phát triển. Tuy nhiên, từ giữa năm 1975, do nhiều nguyên nhân lịch sử, chính trị…. quan hệ Việt Nam – Trung Quốc rạn nứt và trở nên không bình thường, rơi vào tình trạng thường xuyên căng thẳng dẫn đến đến đối đầu, xung đột với sự kiện đỉnh cao là cuộc tấn công của Trung Quốc dọc theo biên giới phía Bắc Việt Nam (2-1979).

1- “Khoảng lặng” trong quan hệ Việt – Trung

Sau năm 1975, điều bất thường là quan hệ Việt Nam – Trung Quốc bắt đầu bộc lộ nhiều “lỗ hổng” và mang dáng vẻ lạnh nhạt. Dường như không phải ngẫu nhiên mà đúng lúc Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn bắt đầu chuyến thăm cấp Nhà nước tại Bắc Kinh, tờ Nhân dân nhật báo ngày 18-9-1975 đã đăng 6 ảnh lớn về các đơn vị quân đội Trung Quốc ở Hoàng Sa[1]. Tương tự, một ngày sau khi phái đoàn Việt Nam rời khỏi Trung Quốc, các bức ảnh lớn về Hoàng Sa tiếp tục xuất hiện trong những tờ báo uy tín tại Bắc Kinh. Nhìn chung, chuyến thăm Bắc Kinh tháng 9-1975 của Lê Duẩn được các nhà quan sát coi như một thất bại chính trị – ngoại giao[2], bởi mặc dù được tiếp đón có vẻ như trọng thị, song phái đoàn đã rút ngắn thời gian lưu lại tại Bắc Kinh và đã không mở tiệc chiêu đãi để cảm tạ lòng hiếu khách của người Trung Hoa như vẫn thường thấy trong thông lệ ngoại giao. Phái đoàn đã rời Bắc Kinh đúng hai ngày trước khi kỷ niệm ngày Quốc khánh Trung Quốc (1-10), mà không đưa ra bất cứ một phát biểu hoặc thông cáo nào về cuộc viếng thăm. Tiếp đó, ngày 26-11-1975, sau khi Đoàn Việt Nam kết thúc chuyến thăm hữu nghị Liên Xô, tờ Quang minh nhật báo có bài viết về Hoàng Sa và Trường Sa với lời báo động không giấu giếm: “Một số đảo vẫn chưa trở về trong tay nhân dân Trung Hoa… Tất cả các đảo thuộc về Trung Hoa đều phải trở về lãnh thổ của Tổ quốc”[3].

Tuy hai nước còn cố gắng kiềm chế, tránh xung đột, nhưng từ giữa những năm 1976, quan hệ Việt – Trung đã xấu đi rất nhanh chóng với các tranh cãi liên quan đến vấn đề biên giới, vấn đề người Việt gốc Hoa và đặc biệt về vai trò của Liên Xô trong các vấn đề thế giới, khu vực. Trong bài phát biểu của Lê Duẩn tại Hội nghị lần thứ 25 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (họp từ ngày 24-9 đến 24-10-1976) xuất hiện những cụm từ nhiều hàm ý: “Ta thắng là nhờ có sự giúp đỡ tích cực của Liên Xô, Trung Quốc, của phe ta, của thế giới, Liên Xô và Trung Quốc giúp ta rất nhiều. Không có sự giúp đỡ của họ ta khó lòng thắng được. Ta phải luôn luôn biết ơn Liên Xô, Trung Quốc và các nước anh em khác đã giúp ta; ta nói cho con cháu ta mãi mãi nhớ ơn họ. Nhưng chúng ta phải độc lập, tự chủ bởi vì trong quan hệ quốc tế, mỗi nước có lập trường riêng do vị trí và quyền lợi mỗi nước một khác, cho nên giữa các nước anh em, khó có sự nhất trí với nhau, có khi về những vấn đề rất quan trọng đối với một nước trong phe, cũng không nhất trí được”[4].

Tháng 2-1977, Trung Quốcngỏ ý với Việt Nam rằng, không sẵn sàng cung cấpviện trợ cho Việt Nam trong công cuộc tái thiết đất nước sau chiến tranh[5].

Cũng vào thời kỳ này, biên giới Việt Nam – Campuchia liên tục có xung đột. Chính phủ Việt Nam không dưới một lần đề nghị Trung Quốc giúp đỡ dàn xếp, mong muốn thông qua hợp tác với Trung Quốc tác động tới phía Campuchia, song Trung Quốc đã im lặng. Việc Trung Quốc từ chối ủng hộ Việt Nam trong việc tìm kiếm các phương thức giải quyết căng thẳng biên giới với Campuchia càng cho thấy những vết nứt sâu hơn trong quan hệ hai nước. Điều đáng chú ý là trong thời điểm phức tạp, nhạy cảm của quan hệ Việt Nam – Campuchia, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Hoàng Hoa đã chính thức phát biểu (30-7-1977): “Chúng tôi ủng hộ lập trường chống đế quốc xét lại Liên Xô của Campuchia… và sẽ không thể ngồi nhìn bất cứ sự can thiệp nào đối với chủ quyền Campuchia hoặc thèm khát lãnh thổ nào bởi đế quốc xã hội. Chúng tôi sẽ ủng hộ Campuchia trong cuộc đấu tranh và có các hành động nhằm bảo vệ lãnh thổ, chủ quyền quốc gia Campuchia bằng mọi sự giúp đỡ có thể”[6]. Ngầm sau lời tuyên bố đó, người ta dễ dàng nhận thấy ẩn ý “chống lưng” của Ban lãnh đạo Trung Quốc đối với tập đoàn Polpot-Iêngxari.

Ngày 20-11-1977, Lê Duẩn sang thăm Trung Quốc một lần nữa. Đây được coi như một nỗ lực nhằm hàn gắn những vết rạn nứt trong quan hệ với Trung Quốc, thực hiện việc cố gắng cân bằng quan hệ giữa Việt Nam – Liên Xô; Việt Nam – Trung Quốc. Tuy nhiên, giới quan sát nhận thấy rằng, người đứng đầu Nhà nước Việt Nam Lê Duẩn đã được đón tiếp với một thái độ vừa phải (nếu không muốn nói là lạnh nhạt), trái ngược với sự trọng thị và nồng nhiệt được dành cho Polpot trước đó một tháng[7]. Chuyến viếng thăm Trung Quốc lần này của Lê Duẩn chẳng những không làm cho quan hệ hai nước ấm lên, mà bộc lộ những bất đồng mới. Trong cuộc hội đàm giữa Lê Duẩn và Hoa Quốc Phong, mặc dù hai bên đều tránh nói đến một vấn đề tế nhị trong quan hệ hai nước là những tranh chấp về Hoàng Sa, Trường Sa, song sự khác biệt về quan điểm đối với việc nhìn nhận thế giới, chiến tranh và hòa bình… đã bộc lộ ngày càng rõ. Lê Duẩn bày tỏ quan điểm không tham gia vào cuộc tranh cãi Trung – Xô thông qua việc “chân thành cảm ơn Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác về sự nhiệt tình, giúp đỡ to lớn đối với Việt Nam”. Không khí có vẻ căng thẳng hơn, khi Lê Duẩn đề nghị những nhà lãnh đạo Trung Quốc yêu cầu Campuchia Dân chủ chấp nhận một giải pháp cho cuộc xung đột trên tuyến biên giới Tây Nam, nhưng Trung Quốc đã không mấy mặn mà. Cuối cùng, giống như chuyến thăm Trung Quốc vào tháng 9-1975, Lê Duẩn cũng đã ra về mà không mở tiệc khoản đãi “những người Trung Hoa anh em”.

Về phía Trung Quốc, từ cuối năm 1977, các văn kiện của Quân khu Quảng Châu luôn nhấn mạnh tinh thần “phải chuẩn bị các mặt để đánh Việt Nam”, tuyên truyền: “Việt Nam là tay sai của Liên Xô, có tham vọng xâm lược Campuchia, Lào, chiếm Đông Nam Á, thực hiện bá quyền khu vực, phải đánh cho bọn xét lại Việt Nam, không đánh là không thể được và phải đánh lớn. Việt Nam là tiểu bá ở châu Á, xâm lược Campuchia, xua đuổi người Hoa”[8]. Tháng 1-1978, Thủ tướng Phạm Văn Đồng yêu cầu các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ giải quyết cuộc xung đột Việt Nam – Campuchia. Một lần nữa Trung Quốc không đáp ứng. Trong khi đó, tháng 1-1978, Bà Đặng Dĩnh Siêu, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc sang thăm Phnompenh và ký một hiệp định xúc tiến viện trợ quân sự cho Campuchia Dân chủ, bắt đầu chuyển vũ khí đến Campuchia. Thậm chí, trong chuyến thăm, bà Đặng Dĩnh Siêu đã tuyên bố, Trung Quốc sẽ không tha thứ cho một cuộc tấn công nào vào liên minh của họ (ngụ ý ám chỉ Việt Nam đã rõ, mặc dù không nêu đích danh).

2- Những đợt sóng mới

Sự rạn nứt trong quan hệ Việt – Trung trở nên sâu sắc và chuyển dần sang trạng thái căng thẳng, xung đột thể hiện qua hàng loạt sự kiện rắc rối khác, mà trước tiên là vấn đề người Việt gốc Hoa.

So với các khu vực khác trên thế giới, Đông Nam Á (trong đó có Việt Nam) là nơi có số lượng tương đối lớn Hoa kiều làm ăn, sinh sống, “lên tới hơn 20 triệu người (năm 1978)”[9]. Ở Việt Nam có khoảng 1,2 đến 2 triệu người Hoa đến lập nghiệp từ lâu đời, là một trong những thế lực kinh tế mạnh mẽ, nhất là ở miền Nam Việt Nam. Hoa kiều được gọi là “đội quân thứ năm” trong chính sách tăng cường ảnh hưởng của Trung Quốc ở khu vực.

Người Hoa là một bộ phận cùng hợp thành cộng đồng dân tộc Việt Nam với 54 dân tộc thống nhất trong đa dạng. Cư dân người Hoa ở Việt Nam có nguồn gốc từ Trung Quốc, thuộc nhóm ngôn ngữ Hán của ngữ hệ Hán – Tạng[10]. Dưới các triều đại phong kiến Việt Nam thế kỷ XVIII, XIX, quy chế đối với người Hoa ở Việt Nam không khác gì so với cư dân thuộc các cộng đồng dân tộc khác[11]. Trong chiến tranh và xây dựng đất nước thời bình, người Hoa đã “đồng cam cộng khổ”, sát cánh cùng các dân tộc Việt Nam.

Về phía Trung Quốc, trước năm 1949, Trung Quốc yêu cầu tất cả các Hoa kiều tiếp tục giữ quy chế công dân Trung Quốc, hoặc có hai quốc tịch. Điều đó đồng nghĩa với việc Trung Quốc đòi duy trì quyền lãnh ngoại (quyền có thể can thiệp vào nước khác để bảo vệ kiều dân của mình). Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các quốc gia độc lập ở Đông Nam Á đã đưa ra những đạo luật hạn chế các hoạt động của người Hoa, đặc biệt là hạn chế quy chế hai quốc tịch. Năm 1950, theo sáng kiến của Chu Ân Lai, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa chính thức từ bỏ yêu sách về quyền lãnh ngoại, coi như là sự chấp nhận những nguyên tắc bình đẳng giữa các quốc gia.

Năm 1955, ở miền Bắc Việt Nam, theo thỏa thuận của Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc, “người Hoa cư trú ở miền Bắc Việt Nam phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”[12], sau dần dần chuyển thành công dân Việt Nam, được hưởng những quyền lợi như người Việt Nam và tự nguyện nhận quốc tịch Việt Nam. Cho đến năm 1975, giữa Việt Nam – Trung Quốc không có bất cứ một bất đồng nào trong vấn đề người Hoa ở miền Bắc Việt Nam. Còn ở miền Nam Việt Nam, từ năm 1956, dưới Chính quyền Ngô Đình Diệm, Hoa kiều đã gia nhập quốc tịch Việt Nam để có điều kiện dễ dàng làm ăn, sinh sống[13].

Tháng 4-1978, Việt Nam tiến hành cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Nam. Vấn đề người Hoa được Trung Quốc nêu lên. Trung Quốc coi việc Việt Nam tiến hành cải tạo công thương nghiệp, động chạm tới người Hoa ở một số thành phố lớn miền Nam như một sự công khai thách đố chính sách bảo vệ Hoa kiều hải ngoại mà Trung Quốc vừa công bố[14]. Một phong trào đòi lấy quốc tịch Trung Quốc trong người Hoa ở Việt Nam được dấy lên. Trung Quốc đưa ra chính sách “đoàn kết với giai cấp tư sản Hoa kiều”, kêu gọi chống lại chính sách “bài Hoa” của Việt Nam; đồng thời, loan truyền trong cộng đồng người Việt, gốc Hoa những luận điệu kích động[15]về một cuộc chiến tranh không thể tránh khỏi giữa Việt Nam – Trung Quốc, gây tâm lý hốt hoảng trong quần chúng người Hoa. Do sự khuyến khích đó của Trung Quốc và với sự im lặng đồng tình ngầm của Việt Nam muốn tống xuất hiểm họa của “đội quân thứ năm”, trong năm 1978, các dòng người Hoa ở Việt Nam ồ ạt kéo về Trung Quốc[16]. Ngày 30- 4-1978, Chủ nhiệm Văn phòng Hoa kiều vụ đã phát biểu bày tỏ “sự quan tâm đối với hiện tượng Hoa kiều ở Việt Nam về nước hàng loạt”, hứa hẹn “sẽ sắp xếp thích đáng cho những Hoa kiều đã trở về một cách vội vàng”. Để thu hút sự chú ý của dư luận thế giới về tình trạng”nạn kiều”, Trung Quốc lập ra các trạm đón tiếp dọc theo biên giới hai nước, tuyên bố sẽ gửi hai tầu chuyên chở sang Việt Nam để đón “nạn kiều” về nước, nói trắng ra rằng, tàu Trung Quốc sang Việt Nam không phải để đón người Hoa, người Việt gốc Hoa, hay Hoa kiều muốn đi Trung Quốc”, mà đón “nạn kiều”[17].Tháng 5-1978, Trung Quốc đơn phương đưa tàu sang đón người Hoa về Trung Quốc[18]. Ngày 12-7-1978, Trung Quốc đóng cửa biên giới Việt Nam – Trung Quốc, làm cho hàng vạn người Hoa muốn đi Trung Quốc bị kẹt lại, tạo nên tình trạng mất an ninh ở khu vực biên giới. Đến khi các đợt ra đi của người Hoa trở nên ồ ạt, Trung Quốc lại đưa ra điều kiện là người Hoa muốn về Trung Quốc phải chính thức xin giấy phép hồi hương do Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội cấp, cần có hộ chiếu xuất cảnh của Chính quyền Việt Nam. Trung Quốc chỉ đón nhận những “nạn kiều người Hoa” đang bị Chính quyền Việt Nam ngược đãi, chứ dứt khoát không nhận về “người Việt gốc Hoa”, hay người Hoa có quốc tịch Việt Nam. Cũng cần nói thêm rằng, trong khi Trung Quốc khêu lên vấn đề bảo vệ Hoa kiều một cách mạnh mẽ, thì ở Campuchia, do chính sách khủng bố trong nước của Chính quyền Campuchia, hàng vạn Hoa kiều chạy khỏi Campuchia, song Trung Quốc đã không có bất cứ một động thái phản đối nào.

Sự ra đi đông đảo của cư dân người Hoa đã làm cho tình trạng kinh tế tại các vùng biên giới phía Bắc Việt Nam trở nên tồi tệ. Hàng vạn người Hoa vội vã bỏ nhà cửa, chuẩn bị “hồi hương” đã phá hoại nghiêm trọng nền kinh tế nhỏ trong các hộ gia đình, làm tăng thêm tình trạng khan hiếm hàng hoá tiêu dùng một cách gay gắt, đánh mạnh vào nền kinh tế Việt Nam vốn đã khủng hoảng. Vấn đề người Hoa ở Việt Nam và phong trào đòi trở lại quốc tịch Trung Quốc đã làm mối quan hệ giữa Việt Nam – Trung Quốc trở nên phức tạp. Đây là một trong những nguyên nhân làm căng thẳng quan hệ Việt Nam – Trung Quốc sau năm 1975.

Việc Trung Quốc đơn phương cắt viện trợ cho Việt Nam là một trong những nguyên nhân tiếp theo làm cho sự căng thẳng trong quan hệ Việt – Trung ngày càng gia tăng. Ngày 12-5-1978, Bộ Ngoại giao Trung Quốc gửi Công hàm cho Đại sứ quán Việt Nam ở Trung Quốc thông báo quyết định cắt 21 dự án ở Việt Nam, với lý do là để chuyển các khoản tiền cùng vật chất trong các dự án này cho người Hoa hồi hương sinh hoạt và lao động sản xuất. Sau đó, Chính phủ Trung Quốc đã gửi Chính phủ Việt Nam Công hàm ngày 30-5-1978 hủy bỏ thêm thêm 51 dự án khác[19], cũng với lý do cách đối xử của Chính phủ Việt Nam đối với người Hoa là gánh nặng tài chính cho Trung Quốc, do Trung Quốc phải giải quyết vấn đề người Hoa nhập vào Trung Quốc từ Việt Nam[20]. Chỉ trong tháng 5-1978, Trung Quốc đã cắt 72 trong số 111 công trình viện trợ[21],gây cho Việt Nam nhiều khó khăn trong lĩnh vực kinh tế. Ngày 3-7-1978, Trung Quốc gửi thêm một công hàm nữa cho Chính phủ Việt Nam thông báo chấm dứt mọi trợ giúp kinh tế, kỹ thuật[22]và rút tất cả các chuyên gia Trung Quốc đang làm việc ở Việt Nam về nước[23].Ngày 22-12-1978, Trung Quốc đơn phương hủy bỏ việc chuyên chở trên tuyến đường sắt liên vận từ Hà Nội đến Bắc Kinh. Lý giải việc cắt toàn bộ viện trợ, ngoài  lý do vì “gánh nặng rất lớn về tài chính của Trung Quốc trong việc sắp xếp sản xuất và đời sống cho nạn kiều”[24], Trung Quốc còn đưa thêm lý do “Việt Nam ngày càng chống Trung Quốc, bài Hoa một cách nghiêm trọng, phá hoại các điều kiện tối thiểu nhất để các chuyên gia Trung Quốc tiếp tục công tác tại Việt Nam”[25], nên “Chính phủ Trung Quốc mới buộc phải quyết định ngừng viện trợ kinh tế, kỹ thuật cho Việt Nam, điều cán bộ Trung Quốc ở Việt Nam về nước”[26].  Cần lưu ý rằng, từ chối viện trợ cho Việt Nam với lý do “gánh nặng kinh tế giải quyết vấn đề người Việt gốc Hoa”, nhưng trong dịp Vương Thượng Vĩnh, Phó Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc đến Phnôm Pênh đàm phán với Son Sen (2-1976), những nhà lãnh đạo Trung Quốc đã ký viện trợ quân sự cho Campuchia một khoản tiền không hề nhỏ, trị giá 226 triệu nhân dân tệ (tương đương 1,5 tỷ USD) trong ba năm (1976-1978)[27].

Cắt viện trợ cho Việt Nam vào thời điểm Việt Nam mới ra khỏi khói lửa chiến trường, đang nỗ lực khắc phục hậu quả chiến tranh, kiến thiết đất nước và gồng mình bảo vệ tuyến biên giới Tây Nam, quả thật, Trung Quốc đã giáng một “đòn chí tử” có tính toán vào nền kinh tế của Việt Nam đang trong thời kỳ bấp bênh, khiến Việt Nam tiếp tục phải đối mặt với những thử thách mới.

Cùng với việc đơn phương cắt bỏ mọi khoản viện trợ mà hai bên đã ký kết, Trung Quốc hủy bỏ hiệp ước về lãnh sự. Ngày 17-6-1978, Trung Quốc yêu cầu các lãnh sự quán Việt Nam ở Côn Minh, Quảng Châu và Nam Ninh phải dời về nước. Quan hệ Việt – Trung tiếp tục đi xuống một bước.

Đi kèm với vấn đề người Hoa,“câu chuyện Campuchia” tiếp tục là một nhức nhối mới trong quan hệ Việt – Trung.

Ngay từ giữa những năm 60 (XX), các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã có kế hoạch nắm trọn vấn đề Campuchia, phục vụ  mục đích tạo vùng ảnh hưởng của mình tại khu vực Đông Nam Á, sau khi nhận thấy “những biểu hiện bướng bỉnh” của Việt Nam đi chệch quỹ đạo mà Trung Quốc muốn sắp đặt. Từ năm 1973, Ban lãnh đạo Trung Quốc đã có chỉ thị: “Bề ngoài ta đối xử tốt với họ (Việt Nam – TG) như đối xử với đồng chí mình, nhưng trên tinh thần phải chuẩn bị họ trở thành kẻ thù của chúng ta”[28].Nói như nhà báo Gareth Porter (tờ Dân tộc, New York), thì “Campuchia đóng vai trò trung tâm trong chiến lược của Trung Quốc, nhằm bao vây ảnh hưởng của Việt Nam tại Đông Nam Á”[29]. Thực hiện kế hoạch nắm Campuchia, Trung Quốc tăng cường viện trợ cho Campuchia Dân chủ. Theo tính toán của nhà nghiên cứu D.R.SarDesai, “từ năm 1975-1978, Trung Quốc cung cấp cho Campuchia súng đại bác, súng cối, súng bazoca, súng đại liên, súng trung liên, vũ khí các loại, xe cộ và xăng đầu đầy đủ để trang bị cho đội quân 200.000 người. Trung Quốc cũng viện trợ cho Campuchia một khoản tiền rất lớn. Thêm vào đó, Trung Quốc đã gửi khoảng 10.000 cố vấn và chuyên gia quân sự sang Campuchia để hỗ trợ và rèn luyện quân đội Pôn Pốt”[30]. Nhà báo Marish Chandona[31] cung cấp một thông tin: Nếu tháng 7-1977, Campuchia chỉ có 6 sư đoàn, thì vào tháng 1-1978, Campuchia có 25 sư đoàn, Trung Quốc đã cung cấp vũ khí để lập ra 19 sư đoàn mới trong ba năm[32].

Những năm 1975-1976, Trung Quốc vẫn còn muốn giữ quan hệ, duy trì ảnh hưởng của mình tại Việt Nam, muốn Việt Nam đứng về phía mình để chống Liên Xô, giảm ảnh hưởng của Liên Xô tại Việt Nam và vùng Đông Nam Á; do vậy, Trung Quốc vẫn đóng vai trò trung gian hoà giải khi những cuộc đụng độ quân sự giữa Việt Nam và Campuchia mới bắt đầu diễn ra. Nhưng từ đầu năm 1977 trở đi, khi quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia trở nên gay gắt, rồi dẫn đến tan vỡ ngoại giao vào cuối năm 1977 và tiếp diễn chiến tranh trong năm 1978, quan hệ Việt – Trung cũng chuyển sang một tình trạng xấu hơn, phức tạp hơn, nhất là khi Trung Quốc ủng hộ cả chính trị, lẫn quân sự cho chế độ Khơme Đỏ.Từ tháng 9 đến tháng 10-1977, Pôn Pốt có chuyến thăm dài ngày tới Trung Quốc, nhằm thắt chặt thêm quan hệ liên minh được thiết lập. Sau chuyến thăm này, tháng 12-1977, Phó Thủ tướng Trung Quốc Uông Đông Hưng đã tới thăm Campuchia và đi thị sát những vùng gần biên giới Việt Nam. Tuyên bố của Phó Thủ tướng Uông Đông Hưng cũng mạnh mẽ hơn và đầy hàm ý: “Không một lực lượng nào có thể đứng cản trở quan hệ hữu nghị giữa Trung Quốc và Campuchia, hai nước sẽ là đồng chí với nhau mãi mãi”[33]. Tháng 3-1978, các kỹ sư Trung Quốc xây dựng lại đường xe lửa Konpongthom – Phnôm Pênh và ở lại tại chỗ sau khi sửa xong. Ngày 12-7-1978, lần đầu tiên, tờ Nhân dân Nhật báo – cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc, công khai buộc tội Việt Nam “tìm cách sáp nhập Campuchia vào một Liên bang Đông Dương dưới sự thống trị của Việt Nam”[34]. Ngày 4-11-1978 (một ngày sau khi Việt Nam và Liên Xô ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa hai nước có giá trị 25 năm), Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc Uông Đông Hưng đi Phnôm Pênh để tỏ sự ủng hộ của Bắc Kinh đối với chính sách của Campuchia[35]. Theo Cơ Bằng Phi, thì đó là sự trả lời trực tiếp của Trung Quốc đối với việc ký Hiệp ước Việt – Xô. Tháng 1-1979, Việt Nam đưa quân vào Campuchia, lật đổ chế độ Pôn Pốt và đối với Trung Quốc, “việc không thể chấp nhận được đã thành sự thật”[36].  Một thời gian ngắn sau khi Phnompenh bị thất thủ, tờ Nhân dân Nhật báo (27-1-1979) đã có bài viết, trong đó chứa nhiều hàm ý: “Sự thất thủ của Phnompenh không có nghĩa là chiến tranh chấm dứt mà chỉ là khởi đầu”. Nói một cách cụ thể hơn, đối với Trung Quốc, “vấn đề Campuchia đóng vai trò vật xúc tác để đẩy các quan hệ với Việt Nam vượt quá một điểm không thể nào quay trở lại được nữa”[37].

Campuchia bị mất, Thái Lan trở nên một địa bàn quan trọng để Trung Quốc có thể tiếp tục giúp đỡ cho Khơme Đỏ. Tháng 1-1979, Đặng Tiểu Bình bí mật cử Uỷ viên Bộ Chính trị Gừng Giao cùng Thứ trưởng Ngoại giao Hàn Niệm Long khẩn cấp sang Bangkok, hội đàm với Thủ tướng Thái Lan Kriangsak tại căn cứ không quân Utapao. Thái Lan lúc này không còn giữ thái độ trung lập nữa, đồng ý để Trung Quốc sử dụng lãnh thổ của mình làm nơi tiếp tế cho Khơme Đỏ. Đồng thời, trước sự vận động của Trung Quốc, sau hơn mười năm vắng bóng trên chính trường, ông Hoàng Sihanouk xuất hiện, đại diện cho Campuchia đọc diễn văn trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, yêu cầu Đại hội đồng ra nghị quyết buộc Việt Nam phải rút quân ra khỏi Campuchia[38].

Trong thời gian này, bên cạnh những khúc mắc như đã nói ở trên, xung đột biên giới trên bộ và tranh chấp chủ quyền trên biển Đông là một trong biểu hiện cụ thể, tập trung nhất trạng thái bất bình thường trong quan hệ Việt – Trung, nó đẩy quan hệ Việt – Trung rơi xuống nấc thấp nhất.

Với Trung Quốc, Việt Nam có đường biên giới đất liền dài khoảng 1.406 km, từ ngã ba biên giới Việt Nam – Trung Quốc – Lào đến bờ biển vịnh Bắc Bộ (Quảng Ninh – Quảng Đông), đi qua 7 tỉnh biên giới phía Việt Nam, tiếp giáp với hai tỉnh phía Trung Quốc[39]. Đường biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc là đường biên giới thực tế lịch sử, đến cuối thế kỷ XIX đã trở thành đường biên giới pháp lý (được luật pháp quốc tế thừa nhận). Theo R.V.Pretcot thì đây là “một trong những biên giới được xác định tốt nhất trong khu vực”[40].

Từ giữa năm 1975, tình hình biên giới Việt Nam – Trung Quốc trở nên căng thẳng do những hoạt động vũ trang từ phía Trung Quốc. Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc ngày càng xấu đi với những xung đột ở biên giới Việt Nam – Trung Quốc tại khu vực Cao Bằng – Lạng Sơn vào cuối năm 1976. Tháng 3-1977, Việt Nam và Trung Quốc tiến hành đàm phán về vấn đề biên giới Cao Lạng – Quảng Tây. Đoàn Việt Nam yêu cầu bàn biện pháp chấm dứt các vụ vi phạm biên giới quốc gia và trở lại đường biên giới lịch sử, trong khi đó, Đoàn Trung Quốc chỉ đề nghị bàn biện pháp ngăn ngừa xung đột, giữ nguyên trạng trong khi chờ Chính phủ hai nước đàm phán giải quyết vấn đề biên giới Việt Nam – Trung Quốc.

Từ năm 1978 đến đầu năm 1979, mức độ xâm phạm lãnh thổ, vũ trang khiêu khích biên giới Việt Nam của Trung Quốc ngày càng nghiêm trọng. Đặc biệt, từ tháng 7-1978, Trung Quốc đã sử dụng hành động này phục vụ cho mục đích công khai và chuẩn bị tạo cớ, gây cuộc tấn công dọc theo toàn tuyến biên giới Việt Nam. Theo thống kê của Việt Nam, công bố trong Bị vong lục của Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày 15-2-1979, số vụ xâm phạm vũ trang của Trung Quốc vào lãnh thổ Việt Nam năm 1978 là 583 vụ, tháng 1 và những tuần lễ đầu tháng 2-1979 tăng lên 230 vụ[41]. Cùng với những hoạt động vũ trang trên vùng biên giới đất liền với quy mô ngày càng rộng lớn, nhịp độ ngày càng tăng, Trung Quốc còn cho máy bay chiến đấu xâm phạm vùng trời, cho tầu thuyền xâm phạm vùng biển của Việt Nam. Trong năm 1978, đã cho trên 100 lượt máy bay xâm phạm vùng trời và 481 lượt tầu thuyền hoạt động khiêu khích trên vùng biển Việt Nam[42].

Trên biển Đông, vấn đề tranh chấp quan trọng nhất của Trung Quốc đối với Việt Namliên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 10-9-1975, phía Trung Quốc gửi công hàm cho Việt Nam Dân chủ cộng hòa khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa (Hoàng Sa và Trường Sa-TG). Trong chuyến viếng thăm Trung Quốc của Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam do Lê Duẩn dẫn đầu vào tháng 9-1975, phía Việt Nam nêu vấn đề chủ quyền của mình đối với hai quần đảo này. Trong cuộc gặp ngày 24-9-1975, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình tuyên bố rằng, phía Trung Quốc có đầy đủ chứng cứ để khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ xưa đến nay là lãnh thổ Trung Quốc, nhưng cần theo nguyên tắc hiệp thương hữu nghị để giải quyết bất đồng. Đặng Tiểu Bình cũng bày tỏ rằng, sau này hai bên có thể thương lượng, bàn bạc. Ngày 12-5-1977, Chính phủ Việt Nam ra tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế 200 dặm và thềm lục địa Việt Nam, bao gồm cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc đã phản ứng mạnh mẽ. Ngày 30-7-1977, Ngoại trưởng Trung Quốc Hoàng Hoa tuyên bố: “Khi thời cơ đến chúng ta sẽ thu hồi toàn bộ quần đảo Nam Sa (quần đảo Trường Sa – TG) mà không cần phải thương lượng gì hết”[43].

Sau mỗi lần Trung Quốc xâm phạm lãnh thổ và vũ trang khiêu khích biên giới Việt Nam, Chính phủ Việt Nam, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã nhiều lần ra tuyên bố và gửi công hàm phản đối tới Bộ Ngoại giao Trung Quốc.

3- Chuẩn bị ngoại giao và tiến hành cuộc tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam tháng 2- 1979

Song song với việc liên tục xâm phạm chủ quyền và lãnh thổ của Việt Nam, Trung Quốc cũng ráo riết chuẩn bị mọi mặt cho cuộc tấn công quy mô lớn trên toàn tuyến biên giới Việt Nam, tập trung những quân đoàn chủ lực lớn dọc theo biên giới Việt – Trung.Theo nguồn tin từ Cục tình báo Trung ương Hoa Kỳ CIA (sau này được các báo chí Mỹ tiết lộ), thì từ giữa năm 1978, Trung Quốc đã hoàn chỉnh các phương án tác chiến, các đơn vị bộ đội Trung Quốc đã sẵn sàng mở cuộc tiến công quân sự quy mô lớn chống Việt Nam, “vấn đề còn lại là chỉ chờ đợi thời cơ là bật đèn xanh”[44].Trong những buổi họp của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc từ giữa năm 1978 – cuối năm 1978, nhiều biện pháp “trừng phạt” Việt Nam bằng quân sự được đưa ra[45]. Ngay cả thời cơ cũng được Trung Quốc tạo ra và chuẩn bị kỹ càng sau một loạt những sự kiện “nạn kiều”, “Việt Nam xâm chiếm, vũ trang khiêu khích biên giới Trung Quốc”.Cũng cần nói thêm rằng, một bước chuẩn bị quan trọng của Trung Quốc trước khi tiến hành tấn công Việt Nam là việc Trung Quốc đã kịp ký với Nhật Bản Hiệp ước hoà bình, hữu nghị(vào ngày 12-8-1978, có giá trị trong mười năm và sẽ tái ký sau đó), nhằm thu xếp, tạo thế cân bằng chiến lược ở khu vực Đông Bắc Á có lợi cho Trung Quốc, Trung Quốc có thể rảnh tay đối phó với Việt Nam.

Ngày 5-11-1978, Đặng Tiểu Bình đi thăm các nước ASEAN để tập hợp lực lượng cho bước đi sắp tới về Việt Nam. Việc Việt Nam – Liên Xô ký kết Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác toàn diện (3-11-1978)[46]là món quà bất ngờ cho Đặng Tiểu Bình trong chuyến đi này. Tuyên truyền rằng, việc ký Hiệp ước Việt – Xô là mối de dọa đối với các nước ASEAN, Đặng Tiểu Bình kêu gọi thành lập Mặt trận chống Liên Xô và Việt Nam, bao gồm Trung Quốc, khối nước ASEAN để cân bằng lại quyền lợi của các nước Đông Nam Á và nói rõ quyết tâm của Trung Quốc không để khu vực Đông Nam Á rơi vào tay Việt Nam. Tại Bangkok, theo yêu cầu của Đặng Tiểu Bình, Thái Lan đồng ý cho phép máy bay Trung Quốc quá cảnh qua vùng trời Thái Lan để đi Campuchia và trở về. “Liên minh giữa Bắc Kinh và Bangkok đã mở ra con đường mòn Đặng Tiểu Bình xuyên qua Thái Lan và biến Thái Lan thành một cái khoen chặn chiến lược an toàn của Trung Hoa tại Campuchia”[47].

Trong chuyến đi này, Đặng Tiểu Bình không giấu giếm ý định dùng biện pháp quân sự để đối phó với Việt Nam. Thái độ của từng nước ASEAN có điểm khác nhau, nhưng đều cho rằng cuộc xung đột Việt Nam- Campuchia và Việt Nam – Trung Quốc là “nhân tố không ổn định đối với hoà bình khu vực”. Tuy nhiên, khi Việt Nam nghiêng về phía Liên Xô, các nước ASEAN cũng nhận thấy cần phải nhích hơn chút nữa về phía Trung Quốc.

Chuyến đi Mỹ của Đặng Tiểu Bình tháng 1-1979, sau đó là tới thăm Nhật cũng là nằm trong mục đích chuẩn bị cho cuộc tấn công Việt Nam vào tháng 2-1979. Trong chuyến đi này, Đặng Tiểu Bình đã thông báo về ý định chuẩn bị tấn công Việt Nam, mong muốn là có được sự hỗ trợ về tinh thần từ phía Mỹ. Khi tiếp xúc bí mật với Brzezinski. Đặng Tiểu Bình tuyên bố: “Đối với Việt Nam, Trung Quốc phải chịu trách nhiệm đối phó” và nhấn mạnh: “Các ngài nhớ kỹ một điều là những lời phát biểu của tôi trong chuyến thăm nước Mỹ sẽ hoàn toàn được chứng thực bằng những hành động”[48]. Đặng Tiểu Bình cũng bảo đảm rằng, cuộc tấn công Việt Nam sẽ giới hạn và nhanh chóng. Chuyến đi của Đặng Tiểu Bình sang Mỹ là một chuyến đi thành công, “Đặng Tiểu Bình đã chuẩn bị tinh thần cho các đồng minh một cách chắc chắn rằng sẽ thực hiện sự trừng phạt như đã loan báo”[49]Hai tuần sau chuyến thăm, ngay trước khi Trung Quốc tấn công Việt Nam, Đại sứ Mỹ Malcolm kín đáo khuyến cáo Ngoại trưởng Gromutko là Liên Xô nên tự kiềm chế trong trường hợp Trung Quốc tấn công Việt Nam, để khỏi ảnh hưởng đến việc Quốc hội Mỹ sẽ thông qua Hiệp ước SALT mà Liên Xô rất mong muốn.

Trước dư luận trong nước và quốc tế, Trung Quốc công khai tuyên bố: “Việt Nam là tiểu bá theo đại bá Liên Xô”; “Trung Quốc quyết không để cho ai làm nhục”; cuộc tiến công của Trung Quốc vào Việt Nam sắp tới là nhằm “dạy cho Việt Nam một bài học”. Trước thái độ đó, báo chí và chính giới Mỹ không có phản ứng công khai, còn A.Kosyginthì nhận định: Tuyên bố của Đặng Tiểu Bình là một bản “tuyên bố chiến tranh với Việt Nam”.

Nhìn chung lại, thông qua các bước chuẩn bị ngoại giao, Trung Quốc thấy rằng, nếu đánh Việt Nam, Mỹ sẽ đồng tình, các nước ASEAN ít nhất cũng không lên tiếng phản đối, Liên Xô sẽ có phản ứng, nhưng không có khả năng mang hải quân can thiệp. Còn Việt Nam đang đứng trước những khó khăn nghiêm trọng, những thách thức về kinh tế, chính trị, nhất là sau cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam (với số lượng thương vong bằng 74% trong kháng chiến chống Pháp), đánh Việt Nam lúc này là thuận lợi.

Từ giữa tháng 12-1978, Trung Quốc đã chọn lực lượng quân đội từ năm quân khu và đưa áp sát biên giới Trung – Việt. Từ ngày 1 đến ngày 13 tháng 1-1979, phía Trung Quốc liên tiếp có nhiều phát biểu và bình luận mà nội dung là tố cáo Việt Nam xâm lược, lên án Việt Nam “chiếm” Phnôm Pênh. Trung Quốc kêu gọi Campuchia Dân chủ đánh lâu dài và hứa sẽ ủng hộ toàn diện. Trung Quốc đưa ra Hội đồng Bảo an Dự thảo nghị quyết đòi Việt Nam rút quân, kêu gọi các nước chấm dứt viện trợ cho Việt Nam.

Từ ngày 9 đến ngày 12-2-1979, Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc họp hội nghị để nghe báo cáo của Đặng Tiểu Bình và đánh giá tình hình. Hội nghị quyết định tấn công Việt Nam và thành lập Bộ Chỉ huy chung[50]. Ngày 16-2-1979, Trung Quốc tổ chức cuộc họp phổ biến ý nghĩa của cuộc chiến tranh sắp tới chống Việt Nam cho cán bộ cao cấp các ngành. Trong cuộc họp này, Đặng Tiểu Bình nêu mục tiêu, cái lợi, hại của cuộc chiến tranh chống Việt Nam, nhấn mạnh đây là cuộc phản kích tự vệ, hạn chế về thời gian và không gian[51]. Ngày 17-2-1979, sau sự chuẩn bị kỹ lưỡng trên cả hai phương diện trong nước và quốc tế, Trung Quốc đưa 60 vạn quân cùng với gần 800 xe bọc thép, xe tăng, trọng pháo và máy bay các loại đồng loạt tấn công 6 tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam từ Pa Nậm Cúm (Lai Châu) đến Pò Hèn (Quảng Ninh) và đánh sâu vào lãnh thổ Việt Nam.  Các nhà bình luận phương Tây gọi cuộc tấn công của Trung Quốc dọc tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam (1979) là “cuộc chiến giữa những người anh em Đỏ“, hay “cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứba“. H. Kissinger đánh giá về cuộc chiến tranh này như sau: “Yếu tố ý thức hệ đã biến mất khỏi xung đột. Các trung tâm quyền lực của cộng sản cuối cùng đã tiến hành chiến tranh giành thế cân bằng quyền lực không phải căn cứ vào ý thức hệ mà hoàn toàn xuất phát từ lợi ích dân tộc”[52].

Về phía Trung Quốc, biện minh cho hành động của mình, Trung Quốc tuyên bố đây chỉ là “một cuộc phản kích để tự vệ” (?!). Thực chất, “đây là một cuộc chiến tranh xâm lược toàn diện bằng lực lượng chính quy của hầu hết các quân khu Trung Quốc”[53]. Trung Quốc “có sự chuẩn bị kỹ càng về các mặt”[54].Mục đích của Trung Quốc trong cuộc chiến là xâm chiếm lãnh thổ Việt Nam, làm giảm tiềm lực quốc phòng, kinh tế, làm suy yếu Việt Nam, hạ uy thế chính trị, quân sự của Việt Nam, thể hiện vai trò nước lớn trong khu vực và củng cố đoàn kết nội bộ. Một chiến thắng quân sự sẽ đập tan huyền thoại chiến đấu của quân đội Việt Nam, thoả mãn tinh thần “Đại hán”, nâng cao uy tín nước lớn Trung Hoa. Mặt khác, lợi dụng vào dân số và quân số đông đảo, số lượng vũ khí dồi dào, Trung Quốc dự định bằng cuộc hành quân chớp nhoáng, chiếm đóng một số thị xã dọc biên giới, phân tán mỏng lực lượng quân sự của Việt Nam, buộc Việt Nam phải rút bớt quân từ chiến trường Campuchia về nước, cứu nguy cho Khơme Đỏ. Ngoài ra, Trung Quốc tấn công Việt Nam còn nhằm mục đích kiểm tra tính chặt chẽ của Hiệp ước phòng thủ Liên Xô – Việt Nam, thăm dò phản ứng của Liên Xô, thách đố “liên minh quân sự” Việt – Xô. Hành động quân sự để đối phó với Việt Nam sau khi Việt Nam vừa ký Hiệp ước hợp tác hữu nghị với Liên Xô là một thách đố liều lĩnh, nhưng có tính toán. Chấp nhận những hậu quả có thể xảy ra khi Liên Xô trả đũa, Trung Quốc muốn cho Liên Xô biết quyết tâm của Trung Quốc không thể để bị bao vây, không thể chấp nhận ảnh hưởng gia tăng của Liên Xô tại Đông Nam Á; đồng thời, chứng minh cho các quốc gia Đông Nam Á thấy có thể tin cậy vào Trung Quốc để ngăn chặn ảnh hưởng của Việt Nam và tham vọng của Liên Xô thông qua Việt Nam. Nhà nghiên cứu Gilbert Padoul nhận định: Trung Quốc đánh trận 17-2, còn mang tính chất thông điệp với Việt Nam và thế giới: “Trung Quốc không thể chấp nhận một Đông Dương dưới sự giám hộ của Liên Xô và Việt Nam”[55]. Nhận xét trên của Gilbert Padoul không phải là ngẫu nhiên, bởi Đặng Tiểu Bình đã không chỉ một lần tuyên bố: “Chúng tôi có thể dung thứ việc Liên Xô có 70% ảnh hưởng ở Việt Nam, miễn là 30% còn lại dành cho Trung Quốc”[56].

4- Việt Nam hành động

Cuộc tấn công dọc tuyến biên giới phía Bắc (1979) là nấc thang cao nhất thể hiện thái độ thù địch của Trung Quốc đối với Việt Nam. Ngay sau khi Trung Quốc tấn công Việt Nam, trong ngày 17-2-1979, Chính phủ Việt Nam ra tuyên bố:“Nhân dân Việt Nam là một dân tộc kiên cường, anh dũng, bất khuất đã từng đánh thắng mọi kẻ xâm lược, tin tưởng sắt đá rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩaViệt Nam, lại được bạn bè khắp năm châu đồng tình và ủng hộ mạnh mẽ, nhất định sẽ đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của những người cầm quyền Trung Quốc, bảo vệ độc lập, chủ quyền của mình”[57].Ngày 18-2-1979, Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra Lời kêu gọi toàn dân đoàn kết “kiên quyết bảo vệ Tổ quốc, chặn đứng và đập tan cuộc chiến tranh xâm lược đầy tội ác của bọn phản động Trung Quốc”[58].Ngày 4-3-1979, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra Lời kêu gọi,trong đó có đoạn viết:Quân thù đang giày xéo non sông đất nước ta (…).Dân tộc Việt Nam ta phải ra sức chiến đấu để tự vệ. Cuộc kháng chiến chống quân Trung Quốc xâm lược đang diễn ra(…) Đánh thắng quân xâm lược Trung Quốc lần này là nghĩa vụ dân tộc vẻ vang”[59].

Ngày 1-3-1979, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 67, Về việc phát động và tổ chức toàn dân chuẩn bị chiến đấu và bảo vệ Tổ quốc, nêu bật nhiệm vụ “xây dựng thế phòng thủ vững chắc của đất nước, tăng cường sức mạnh chiến đấu, đánh bại quân xâm lược Trung Quốc”[60]. Tiếp đó, ngày 3-3-1979, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 16, Về cuộc kháng chiến chống bọn phản động Trung Quốc xâm lược, dự đoán chiến tranh có thể diễn biến theo hai tình huống:“Một là, địch bị chặn lại ở các vùng biên giới, bị tiêu diệt lớn, buộc phải rút quân về nước. Hai là, địch tạm thời chiếm được một số thị xã và huyện biên giới, mở rộng chiến tranh đến Hà Nội, vùng đồng bằng Bắc Bộ và lan ra cả nước”[61]. Trong bất kỳ tình huống nào, cũng phải giữ vững tư tưởng chủ đạo: “Nỗ lực vượt bậc, tranh thủ giành thắng lợi trong thời gian tương đối ngắn, đồng thời phải chuẩn bị mọi điều kiện để đánh lâu dài, lâu bao nhiêu cũng đánh, quyết đánh thắng hoàn toàn quân địch. Phải nắm vững phương châm “làm chủ đất nước, làm chủ chiến trường để tiêu diệt địch; tiêu diệt địch để làm chủ đất nước, làm chủ chiến trường”[62]. Về quân sự, Nghị quyết xác định: 1- Quyết tâm tiêu diệt quân xâm lược ở biên giới; 2- Cả nước ráo riết chống chiến tranh xâm lược, sẵn sàng, mạnh mẽ, vững chắc chiến đấu ở các tuyến trung du và đồng bằng; 3- Triển khai kế hoạch bảo vệ Thủ đô Hà Nội và thành phố Cảng Hải Phòng; 4-Tiến hành bố phòng, chuẩn bị chiến đấu ở khu vực hậu phương trực tiếp (từ Hà Nội đến Thanh Hoá-Nghệ Tĩnh) và trong cả nước[63].

Trên tinh thần “tất cả cho Tổ quốc quyết sinh”, quân dân Việt Nam đã anh dũng chiến đấu bảo vệ từng mảnh đất biên cương của Tổ quốc. Trên các mặt trận dọc tuyến biên giới phía Bắc, chiến thuật “biển người” của Trung Quốc đã không thể phát huy tác dụng trước ý chí bảo vệ non sông, đất nước và lòng quả cảm của những con đất Việt. Máu đã đổ trên dải đất biên cương, quân xâm lược đã bị giáng trả thích đáng: Ở hướng Cao Bằng, các cánh quân Trung Quốc đều bị bộ đội địa phương, dân quân Cao Bằng đánh chặn, bị phản kích xé tan đội hình, bỏ chạy về bên kia biên giới;trên tuyếnHoàng Liên Sơn, sau 7 ngày bị dân quân, tự vệ cùng các lực lượng vũ trang đánh trả quyết liệt, hai quân đoàn Trung Quốc vẫn không qua nổi trận địa đánh chặn, phục kích; trên các hướng Lai Châu, Hà Tuyên, Quảng Ninh, qua hơn 20 ngày, quân Trung Quốc vẫn bị chặn ở Phong Thổ, hơn 1.000 lính Trung Quốc thiệt mạng ở Hà Tuyên,hai trung đoàn Trung Quốc đã bị đánh lui tại Quảng Ninh, tháo chạy sát về biên giới.

Ngay khi Trung Quốc tấn công Việt Nam, nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới đã đứng về phía nhân dân Việt Nam, đấu tranh đòi Trung Quốc rút quân. Ngày 18-2-1979, Chính phủ Liên Xô ra tuyên bố lên án Trung Quốc xâm lược Việt Nam. Tuyên bố có đoạn viết: “Việc Trung Quốc tiến công xâm lược Việt Nam chứng tỏ một lần nữa rằng, Bắc Kinh có thái độ vô trách nhiệm biết nhường nào đối với vận mệnh của hoà bình và Ban lãnh đạo Trung Quốc sử dụng vũ khí một cách tuỳ tiện, đầy tội ác biết nhường nào!.. Những hành động xâm lược đó trái với những nguyên tắc của Liên Hợp Quốc, chà đạp thô bạo luật pháp quốc tế, càng vạch trần trước toàn thế giới thế giới thực chất chính sách bá quyền của Bắc Kinh ở Đông Nam Á”[64]. Nhiều nước trên thế giới ratuyên bố lên án Trung Quốc, đòi Trung Quốc phải lập tức rút quân về nước. Nhiều cuộc vận động ủng hộ Việt Nam về tinh thần và vật chất đã được phát động. Một số nước khác (kể cả Anh, Mỹ) yêu cầu Hội đồng Bảo an thảo luận về tình hình Đông Nam Á và tác động đối với hoà bình thế giới.

Ngày 14-3-1979, trước sự chống trả của quân, dân Việt Nam ở biên giới, trước sức ép của dư luận và có lẽ tự cho là đã “dạy” cho Việt Nam một bài học, Trung Quốc tuyên bố rút quân khỏi Việt Nam. Trong điều kiện đó, ngày 6-3-1979, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra Chỉ thị số 69, nhận định về tình hình và đưa ra chủ trương trong điều kiện Trung Quốc rút quân. Chỉ thị của Ban Bí thư ghi rõ: Tối 5-3-1979, Tân Hoa Xã (Trung Quốc) ra Tuyên bố về việc “Quân đội Trung Quốc đã bắt đầu rút quân từ 5-3-1979″, khẳng định: “Trong khi chấp nhận cho địch rút quân, chúng ta luôn luôn phải nâng cao cảnh giác, tăng cường quốc phòng, sẵn sàng giáng trả địch đích đáng, nếu chúng lật lọng, trở lại xâm lược nước ta lần nữa”[65]. Chỉ thị nhấn mạnh thêm: “Không được một chút mơ hồ nào đối với âm mưu cơ bản của bọn phản động Trung Quốc là thôn tính nước ta, khuất phục nhân dân ta (…) luôn luôn sẵn sàng chuẩn bị chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, đập tan bọn xâm lược”[66].  Về mặt quốc tế, “cần giương cao chính nghĩa của ta, bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc và bảo vệ hòa bình, xúc tiến việc hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ, bảo vệ Việt Nam”[67]. Bên cạnh việc “chấp nhận cho Trung Quốc rút quân”, để trả lời, phía Việt Nam cũng phản kích đánh vào Malipô, Ninh Minh, hai thành phố biên giới của Trung Quốc[68].

5- Từ quá khứ đến hiện tại

Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc là một trong những mối quan hệ địa – chính trị tồn tại khá lâu đời so với nhiều mối quan hệ địa – chính trị khác trên thế giới. Trong suốt chiều dài quan hệ, Trung Quốc luôn ứng xử với Việt Nam theo tinh thần nước lớn – tư tưởng có nguồn gốc sâu xa trong xã hội Trung Quốc. Từ sau năm 1975, Trung Quốc đẩy mạnh chiến lược chống Liên Xô, đặc biệt là chống ảnh hưởng của Liên Xô tại Đông Nam Á và phá hoà hoãn Xô – Mỹ. Cũng từ năm 1975 trở đi, đối với những nhà lãnh đạo Trung Quốc, một Việt Nam thống nhất, thực hiện chính sách độc lập, tự chủ bị coi là trở ngại cho chiến lược chống Liên Xô và chiến lược mở rộng ảnh hưởng ở Đông Nam Á – địa bàn “mở nước” cổ truyền của Trung Quốc. Hơn nữa, từ giữa năm 1976, Việt Nam đã dần dần rồi đi tới dứt khoát từ bỏ hình động đầy thận trọng giữa Liên Xô và Trung Quốc, một hành động được duy trì một cách tương đối trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, ngả hẳn sang phía Liên Xô, từ chối những đòi hỏi mới của Trung Quốc. Chính vì thế, chính sách của Trung Quốc đối với Việt Nam mang tính nước lớn và hai mặt rõ rệt: Vừa lôi kéo, vừa kiềm chế, chèn ép. Khi thấy Việt Nam vượt ra ngoài quỹ đạo của mình và quan hệ không như ý muốn, Trung Quốc lập tức tiến hành các biện pháp mang tính trừng phạt: Rút chuyên gia, cắt viện trợ, gây nên làn sóng tuyên truyền về vấn đề “nạn kiều”, lôi kéo người Hoa bỏ về nước; hậu thuẫn, ủng hộ Polpot – Iengxari tiến công Việt Nam từ hướng biên giới Tây Nam, dùng Campuchia như con đê ngăn chặn Việt Nam, gây ra các sự kiện khiêu khích vũ trang với mức độ xung đột ngày càng tăng ở biên giới Việt – Trung… Hành động bộc lộ sự đối đầu cao độ trong một chuỗi những sự kiện này là cuộc tấn công ồ ạt với 60 vạn quân trên toàn tuyến biên giới phía Bắc của Việt Nam (17-2-1979), nhằm “dạy cho Việt Nam một bài học” – một hành động như các nhà phân tích nước ngoài nhận xét: Trước nhân dân thế giới, trước các dân tộc châu Á, “Trung Quốc hiện ra như một nước siêu cường, quân phiệt và bá quyền, hoàn toàn có khả năng áp bức các nước láng giềng yếu hơn”[69].

Với những điều vừa trình bày ở trên, có thể thấy quan hệ giữa Việt Nam, Trung Quốc luôn có hai mặt: Thực chất và hình thức – hai mặt này không phải bao giờ cũng tương đồng. Về mặt hình thức, quan hệ hai nước được thừa nhận trong một khuôn khổ có tính chuẩn tắc mà cả hai nước cùng công nhận, song về thực chất, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc phản ánh tương quan lực lượng và lợi ích giữa hai quốc gia, nhưng là hai quốc gia láng giềng lớn và nhỏ, với các chỉ số so sánh cách biệt.

Về phía Trung Quốc, tăng cường, mở rộng ảnh hưởng, trở thành cường quốc khu vực và thế giới là cái lõi của mọi quá trình hoạch định và thực thi chính sách. Đối với khu vực, Việt Nam vẫn là một nhân tố chính yếu mà Trung Quốc cần quan tâm và kiềm chế, nhằm thực hiện mục đích của mình một cách ít trở ngại nhất. Chính sách kiềm chế Việt Nam của Trung Quốc là nhất quán và lâu dài, tồn tại song song với mục tiêu chiến lược nêu trên; vì vậy, nó vẫn tiếp tục là nguyên nhân của những khó khăn, thách thức trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc hiện nay.

Ở thời điểm hiện tại, vấn đề nổi cộm, có ý nghĩa trọng yếu đối với an ninh quốc gia và vị thế đất nước liên quan đến quan hệ Việt – Trung là tranh chấp trên biển Đông, liên quan đến hai quần đảoHoàng Sa và Trường Sa.

Với tầm quan trọng của biển Đông, Trung Quốc coi đây là “không gian sinh tồn” với ý định rõ ràng là phải sở hữu bằng được các quyền lợi sống còn của biển Đông, mở rộng cương vực sinh tồn, tạo thêm sức mạnh trong cán cân quyền lực ở châu Á – Thái Bình Dương. Trong các tranh chấp trên biển Đông, Trung Quốc luôn có các hành động khó lường và yêu sách lấn dần không định rõ. Nói cách khác, chiến lược của Trung Quốc dường như đồng thời: Củng cố khả năng hải quân, mở rộng khả năng hiện diện hiện thực, từ đó hợp thức hóaviệc chiếm đóng.Có vẻ như Trung Quốc đã phát triển một chính sách ba không để giải quyết các vấn đề trên biển Đông: Không định rõ yêu sách, không đàm phán nhiều bên,không quốc tế hóavấn đề, bao gồm cả không có sự tham gia của các cường quốc ngoài khu vực[70]. Đó là cách, nhưValencia.M.J bình luận: “Trung Quốc đang tìm cách viết nên luật lệ của chính mình cho trật tự thế giới, thay bằng việc chấp nhận các nguyên tắc đang tồn tại”[71]

Đối với các tranh chấp biển Đông, Việt Namkhông thể và không bao giờ từ bỏ chủ quyền đối với lãnh hải và thềm lục địa của mình. Tuy nhiên, tồn tại bên cạnhvà giải quyết tranh chấp với một người láng giềng khổng lồ luôn có khát khao thống trị thực sự là một áp lực đối với Việt Nam – Trung Quốc là một thực tế, là một câu chuyện “không bao giờ kết thúc”. Trung Quốc, Việt Nam núi biển liền nhau như môi với răng, có mối quan hệ không chia cắt về địa dư, khi muốn gây sức ép, Trung Quốc không thiếu cách thức và lý do.

Lịch sử là một dòng chảy liên tục nối quá khứ với hiện tại và định hình con đường đi tới tương lai, là cuộc đối thoại nghiêm khắc giữa hiện tại với quá khứ, kết nối ngày hôm qua với hôm nay. Cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 đã lùi xa vào lịch sử 35 năm, thế giới đổi thay nhanh chóng, lịch sử đầy ắp các sự kiện, các thăng trầm khó đoán định trước. Tuy nhiên, lịch sử khách quan và công bằng, không thể đơn giản và dễ dàng xé bỏ trang này, hay trang kia theo ý muốn chủ quan. Cuộc chiến tranh biên giới 1979 đã là một dấu mốc khó phai mờ trong lịch sử Việt Nam hiện đại, trong ký ức và lương tri của loài người – của những ai đang phấn đấu cho công bằng và công lý. Nhiều câu hỏi của ngày hôm nay có thể có câu trả lời từ những bài học lịch sử xương máu đã qua.


[1]Marwyun S.Samules: Tranh chấp biển Đông, Bản dịch, Lưu tại Thư viện Quân đội, 1982, tr.127.

[2]Trong khi đó, cuộc đi thăm hữu nghị Liên Xô do Lê Duẩn dẫn đầu vào tháng 10-1975 lại được đánh giá là thành công. Việt Nam đã ký hiệp định phối hợp kinh tế quốc gia với Liên Xô trong 5 năm (1976-1980) và nhận được 500 triệu USD viện trợ với trên 400 hạng mục công trình.

[3]Marwyun S.Samules: Tranh chấp biển Đông, Tlđd, tr.7.

[4]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.37, tr. 333.

[5]Pao Min Chang: Cuộc tranh chấp Trung – Việt và vấn đề thiểu số người Hoa, Bản dịch, Lưu tại Thư viện Quân đội, Hà Nội, 1982, tr.16.

[6]Lưu Văn Lợi: 50 năm ngoại giao Việt Nam (1945-1995), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1998, t.2, tr.122.

[7]Hàng vạn người đã được huy động đứng dọc quãng đường từ sân bay về Thủ đô Bắc Kinh, vẫy cờ, hoa chào đón Polpot, còn cuộc đón tiếpLê Duẩn không khí lặng lẽ một cách bất thường. Tờ Nhân dân nhật báo đã đăng những bức ảnh đen trắng về chuyến thăm của Lê Duẩn, chứ không phải là các bức ảnh mầu như thông lệ khi có các vị thượng khách đến thăm.

[8]Bộ mặt thật, phản động, phản bội của tập đoàn cầm quyền Bắc Kinh và sự đầu độc của chúng đối với quân đội Trung Quốc, Báo cáo của Cục tuyên truyền đặc biệt, Tổng cục chính trị, Tập tài liệu văn kiện Trung ương, Lưu tại Tổng cục chính trị, Bộ Quốc phòng, tr.2.

[9]Bộ Ngoại giao: Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua, Sách trắng, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1979, tr.19.

[10]Người Hoa di cư đến Việt Nam từ lâu đời, kéo dài trong nhiều thời kỳ khác nhau với nhiều thành phần xã hội khác nhau. Họ đến cư trú ở hầu hết các nơi, tập trung đông nhất ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Nam Bộ và các thị xã, thành phố lớn. Trải qua quá trình lịch sử, dần dần họ đã hoà nhập với cư dân bản địa và trở thành công dân của Việt Nam. Họ đã góp phần cùng các dân tộc khác trên lãnh thổ Việt Nam làm phong phú và phát triển nền văn hoá, giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của Việt Nam.

[11]Người Hoa được hưởng các quyền lợi dân sự giống như người Việt, được đối xử bình đẳng như người Việt. Từ đầu thế kỷ XIX, trẻ em do hôn nhân dị chủng giữa người Hoa và người Việt được coi là người Việt và được hưởng đầy đủ các quyền lợi chính trị như người Việt khác.

[12]Ramses Amer:  Người Hoa ở Việt Nam và quan hệ Trung – Việt, Kuals Lumpur, Bản dịch, Lưu tại Thư viện Ban Biên giới Chính phủ, 1991, tr.8.

[13]Chính quyền Sài Gòn cũng có những quy định đưa Hoa kiều trở thành công dân Việt Nam. Ngày 7-12-1955, Chính quyền Sài Gòn đưa ra đạo luật số 10 quy định tất cả trẻ em sinh ra do hôn phối giữa người Hoa và người Việt đều được xem là công dân Việt Nam. Sau đó, ngày 21-8-1956, đưa tiếp Đạo luật số 48, theo đó tất cả người Hoa sinh ra tại Việt Nam đương nhiên trở thành công dân Việt Nam. Đạo luật này được áp dụng cho tất cả người Hoa sinh ra tại Việt Nam ở mọi thời điểm, kể cả trước đó (Nguồn: Ramses Amer, người Hoa ở Việt Nam và quan hệ Trung- Việt, Kuals Lumpur 1991, tr. 10).

[14]Từ cuối năm 1976 sang đầu năm 1977, ở Trung Quốc có sự thay đổi chínhsách đối với vấn đề gọi là “người Hoa ở hải ngoại”. Nếu trong thời kỳ “cách mạng văn hoá” người Hoa ở nước ngoài bị phân biệt đối xử và nghi ngờ, thì từ đầu năm 1977, Trung Quốc lại mong nhận được sự giúp đỡ của người Hoa ở nước ngoài để phát triển kinh tế đất nước. Chính sách đối với Hoa kiều ở hải ngoại lần đầu tiên được công bố qua một bài viết của Liêu Thừa Chí, Chủ tịch Uỷ ban Hoa kiều Hải ngoại vụ (đăng trên Nhân dân Nhật báo ngày 4-1-1978), trong đó tuyên bố: Trung Quốc sẽ giành quyền bảo vệ tất cả Hoa kiều hải ngoại còn mang quốc tịch Trung Quốc.

[15]Trung Quốc lan truyền tin rằng, “Chính phủ Trung Quốc kêu gọi người Hoa về nước xây dựng Tổ quốc”; “ai không về là phản bội Tổ quốc”.

[16]Tuy nhiên, bên cạnh dòng người Hoa đổ về Trung Quốc, với nhiều người Việt gốc Hoa thực dụng hơn đã coi đây là cơ may để đến được thế giới Tây phương – điều mà những người Hoa ở Đông Nam Á hẻo lánh không mơ tới được (BBCVetnamese.com, 10-2-2009).

[17]Tập tài liệu tổng kết công tác của Đảng (1975-1985),Cục lưu trữ, Văn phòng Trung ương Đảng.

[18]Chỉ trong vòng vài tháng, 17 vạn người Hoa đã rời Việt Nam đi Trung Quốc (Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1979,tr. 86). Sau khi Trung Quốc đóng cửa biên giới (12-7-1978), nhiều người Hoa vẫn cố vượt biên. Theo tính toán của Ramses Amer “thì con số người Hoa ra đi cụ thể từ tháng 4-1978 đến cuối tháng 12-1979 là khoảng trên dưới 25 vạn người” (Nguồn: Người Hoa ở Việt Nam và quan hệ Trung – Việt, Kuals Lumpur, 1991, tr. 46).

[19]Hội đồng tương trợ kinh tế COMECON đã nhận đảm đương giúp Việt Nam 21 công trình lớn mà Trung Quốc bỏ dở.

[20]Ramses Amer: “Sino-Vietnameses Normalization in the Light of Crisis of the late 1970s”, In: the “Pacific Affairs“, Vol.67, N3, Fall 1994, University of British Columbia Canada, 1994,  tr. 360-361.

[21]Lưu Văn Lợi: 50 năm ngoại giao Việt Nam (1945-1995), Sđd, t. 2, tr. 113.

[22]Từ năm 1976, Trung Quốc giảm dần và đến năm 1978 thì cắt hẳn viện trợ: Khoảng 500 triệu đô la thiết bị và 300 triệu đô la/năm hàng hoá, vật tư, trong đó có 34 vạn tấn lương thực, 43 vạn tấn xăng dầu, 30 triệu mét vải và 1 vạn 5 tấn bông, 14 vạn tấn phân bón, 15 vạn tấn ximăng, 20 vạn tấn than mỡ v.v…(Nguồn: Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế –xã hội trong 5 năm 1981-1985, Trình hội nghị lần thứ 11 của BCHTƯ Đảng CSVN, khoá IV, Văn phòng lưu trữ Trung ương Đảng).

[23]Ramses Amer: “Sino-Vietnameses Normalization in the Light of Crisis of the late 1970s”, In: the “Pacific Affairs“, Vol.67, N3, Ibid, tr.32.

[24]“Nghiên cứu vấn đề quốc tế”, Tạp chí Nghiên cứu vấn đề quốc tế, Sở nghiên cứu các vấn đề quốc tế của Trung Quốc, số 2, Bản dịch, Lưu tại Phòng Thông tin- tư liệu, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Bộ Quốc phòng, 1988),  tr.12.

[25]“Nghiên cứu vấn đề quốc tế”, Tạp chí Nghiên cứu vấn đề quốc tế, Tlđd, tr.12.

[26]“Nghiên cứu vấn đề quốc tế”, Tạp chí Nghiên cứu vấn đề quốc tế, Tlđd, tr.12.

[27]Về kế hoạch viện trợ này, Vương Thượng Vĩnh đã tuyên bố: “Trung Quốc sẽ đưa sang Campuchia 13.300 tấn vũ khí, trong đó có 4.000 tấn súng đạn, 1.301 xe các loại. Trung Quốc sẽ đào tạo cho Campuchia một trung đoàn pháo binh, một trung đoàn rađa, xây dựng và trang bị một sân bay quân sự, cung cấp cho Campuchia bốn tầu hộ tống và bốn thuyền cao tốc phóng ngư lôi, trang bị một trung đoàn xe tăng, một trung đoàn thông tin liên lạc, ba trung đoàn pháp binh, đào tạo 471 phi công, 157 sĩ quan hàng hải và xây dựng căn cứ hải quân, mở rộng xưởng sửa chữa vũ khí và cảng kép”. Riêng năm 1977, Trung Quốc cấp cho Campuchia 450 khẩu pháo lớn, 244 xe tăng, 1200 xe các loại, 52 máy bay và hai vạn cố vấn trực tiếp nắm và chỉ đạo tất cả mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, xây dựng cho Campuchia một lực lượng vũ trang từ 7 sư đoàn lên 23 sư đoàn

[28]Bộ mặt thật, phản động, phản bội của tập đoàn cầm quyền Bắc Kinh và sự đầu độc của chúng đối với quân đội Trung Quốc, Tl d, tr.2.

[29]Cuộc xung đột Trung Quốc –Việt Nam, Bản dịch, lưu tại thư viện quân đội. tr. 9.

[30]Dẫn theo Ngô Vĩnh Long; Vài câu hỏi về quan hệ giữa ngoại giao và công việc cải tạo xã hội chủ nghĩa trong thập kỷ sau khi miền Nam được giải phóng, Tạp chí Thời đại mới, số 6/tháng 12-2005.

[31]Phóng viên tờ “Tuần châu Á”.

[32]Cuộc xung đột Trung Quốc –Việt Nam, Tlđd, tr.23.

[33]Cuộc xung đột Trung Quốc –Việt Nam,Tlđd, tr.46.

[34]Cuộc xung đột Trung Quốc –Việt Nam, Tlđd, tr.47.

[35]Tuy Uông Đông Hưng chuyển chính thức ý kiến của lãnh đạo Trung Quốc là không đồng ý đưa quân Trung Quốc sang Campuchia trực tiếp chiến đấu, nhưng khuyên Campuchia kháng chiến lâu dài bằng chiến tranh du kích và hứa sẽ hết sức ủng hộ Campuchia Dân chủ, gửi qua Campuchia gần 3 vạn cố vấn quân sự. Pôn Pốt lên đài phát thanh ca ngợi “sự  ủng hộ vô điều kiện” của Trung Quốc với Phnôm Pênh trong cuộc chiến đấu chống Việt Nam.

[36]Gilbert Padoul: Chính sách ngoại giao của Trung Quốc sau Mao Trạch Đông, Bản dịch, Lưu tại Thư viện Quân đội, tr.4.

[37]Michael Lelfer: Xét nghiệm lại cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ ba, Bản dịch, Lưu lại Thư viện Quân đội, 1979, tr.1.

[38]Nghị quyết tuy được đại đa số tán thành, nhưng bị Liên Xô phủ quyết. Còn Sihanouk sau khi dự Đại hội đồng đã bí mật gặp Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hợp Quốc Andrew yêu cầu được tị nạn chính trị, nhưng Hoa Kỳ không đồng ý bởi họ vừa mới thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc được hai tuần và Đặng Tiểu Bình sắp sang thăm hữu nghị Hoa Kỳ.

[39]Đường biên giới với Trung Quốc được phân định trong các Công ước ngày 26- 6-1887 và ngày 20-6-1895 giữa Chính quyền Pháp (đại diện cho Việt Nam lúc bấy giờ) và nhà Thanh (đại diện cho Trung Quốc). Công ước hoạch định biên giới Pháp – Thanh  ngày 26-6-1887 đã hoạch định lại một số đoạn biên giới tiếp giáp giữa Bắc Kỳ với Vân Nam và nói rõ đường kinh tuyến 105°43′ là đường phân chia chủ quyền các đảo. Công ước bổ sung hoạch định biên giới Pháp – Thanh  ngày 20-6-1895 thống nhất hoạch định các đoạn biên giới mà hai bên còn gác lại trong các văn bản hoạch định trước và hoạch định mới đoạn biên giới giữa Bắc Kỳ và Vân Nam từ sông Đà đến sông Mê Công. Trên cơ sở của các bản Công ước này, từ năm 1889 đến năm 1897, trên toàn bộ tuyến biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc, Pháp và nhà Thanh đã hai bên đã tổ chức phân giới, xác định 314 vị trí mốc và đã cắm được 341 mốc giới trên thực địa. Nhìn chung, trong quá trình đàm phán thương lượng về biên giới, chính quyền Pháp và nhà Thanh đã vận dụng một số nguyên tắc phổ biến của pháp luật quốc tế cũng như thực tiễn quốc tế trong quá trình xác lập đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung quốc, thực hiện đầy đủ các bước từ xác định nguyên tắc, hoạch định, phân giới và tiến hành cắm mốc trên thực địa cũng như các thủ tục pháp lý khác. Về mặt pháp lý, Công ước năm 1887 và Công ước bổ sung năm 1895 cùng các biên bản, bản đồ phân giới cắm mốc thực hiện hai Công ước là một thể thống nhất các văn bản pháp lý bổ sung cho nhau, cung cấp khá đầy đủ các yếu tố về đường biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc.  Như vậy, về cơ bản, hai công ước Pháp – Thanh năm 1887 và 1895 thừa nhận đường biên giới lịch sử truyền thống giữa Việt Nam và Trung Quốc. Tuy nhiên, trong quá trình phân giới cắm mốc, phía Pháp đã nhân nhượng một số vùng lãnh thổ của Việt Nam cho Trung Quốc như Giang Bình, Bát Trang (Quảng Ninh), Đèo Luông (Cao Bằng), Tụ Long (Hà Giang). Trong giai đoạn chế độ Quốc dân đảng ở Trung Quốc, quan hệ biên giới giữa Pháp và Trung Quốc cơ bản ổn định, hệ thống mốc giới được bảo vệ, nhưng lợi dụng tình hình Pháp bị sa lầy và thất bại liên tiếp trong chiến tranh thế giới thứ hai, chính quyền Tưởng Giới Thạch đã có hành động di chuyển, phá hoại một số mốc giới, lấn chiếm quản lý nhiều khu vực đất đai sang phía Việt Nam.

[40]R.V.Pretcot : Những biên giới của Đông Nam Á, Nxb Membuốc, 1977, Bản dịch, Lưu tại Thư viện Ban Biên giới Chính phủ, tr. 60

[41]Bị vong lục Bộ Ngoại giao Việt Nam, Báo Nhân dân ngày 16-2-1979,tr.4.

[42]Bị vong lục Bộ Ngoại giao Việt Nam, Tlđd.

[43]D. Xtêphanov:Trung Quốc bành trướng trên hướng biển, Nxb Quan hệ quốc tế, Hà Nội,1980, tr. 144.

[44]Lê Kim: Một bước thất bại của bọn bành trướng Bắc Kinh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1984, tr.12.

[45]Trong đó có đề nghị của Uỷ viên Bộ Chính trị Uông Đông Hưng đem quân tham gia trực tiếp tham chiến ở Campuchia; đề nghị của Tư lệnh quân khu Quảng Châu Hứa Thế Hữu[45] ào ạt tấn công Việt Nam; đề nghị của Chính uỷ Hải quân Sử Chấn Hoa đem hạm đội Đông Hải xuống vịnh Thái Lan yểm trợ vùng duyên hải Campuchia. Cuối cùng, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc chấp thuận kế hoạch “phản công tự vệ giới hạn” của Đặng Tiểu Bình (Nguồn: Hoàng Dung: Cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ ba, Việt Nam thư quán Online).

[46]Ngày 3-11-1978, Việt Nam và Liên Xô đã ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác toàn diện. Bên cạnh những điều khoản về quan hệ chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học, điều 6 của Hiệp ước còn nhấn mạnh: “Trong trường hợp một trong hai bên bị tấn công hoặc bị đe doạ tấn công, hai bên sẽ trao đổi với nhau nhằm loại trừ mối đe doạ đó và áp dụng những biện pháp thích đáng có hiệu lực để đảm bảo hoà bình, an ninh của hai nước”. Cùng với Hiệp ước này, lực lượng hải quân Liên Xô tăng cường sự có mặt tại Vịnh Cam Ranh và biển Đông. Việt Nam trở thành một trọng điểm trong chiến lược châu Á- Thái Bình Dương của Liên Xô. Ở Cam Ranh, Liên Xô có khoảng 20-30 tầu chiến; 1 sân bay và một số tàu ngầm với lực lượng tổng cộng là 7.000 binh sĩ. Cam ranh trở thành căn cứ quân sự lớn nhất của Liên Xô ở nước ngoài trong so sánh với các căn cứ quân sự của Mỹ ở nước ngoài.Tuy biết rằng, Hiệp ước này được ký kết sẽ gây chấn động và bất lợi về chính trị, kinh tế, ngoại giao, nhưng tình thế lúc này khôngcho phép Việt Nam chần chừhơn được nữa.

[47]Nayan Chanda: Brother Enemy: The War After the War, 1988, p. 394.

[48]Lê Kim: Một bước thất bại của bọn bành trướng Bắc Kinh, Sđd, tr.12.

[49]Gilbert Padoul: Chính sách ngoại giao của Trung Quốc sau Mao Trạch Đông, Tlđd, tr.4.

[50]Tạp chí Sở nghiên cứu quốc tế Trung Quốc, số tháng 2-1981, Bản dịch, lưu tại thư viện quân đội.

[51]Có ít nhất hai lý do để Trung Quốc thực hiện kế hoạch “tấn công giới hạn”: Thứ nhất, Việt Nam cũng là một địch thủ đáng ngại. Trung Quốc không thể nào chịu nổi một cuộc chiến lâu dài, quy mô, bởi nó sẽ gây trở ngại cho chính sách “bốn hiện đại hoá”; thứ hai, một cuộc tấn công giới hạn, nhanh chóng sẽ không gây ra một phả ứng mạnh mẽ trong dư luận thế giới, hay một cuộc tấn công trả đũa từ Liên Xô

[52]Dẫn theo “Kissinger bàn về Trung Quốc”, Pháp luật, Trang thông tin điện tử báo Pháp luật T.P Hồ Chí Minh, ngày 12-2-2012.

[53]Bộ Ngoại giao: Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua, Sđd, tr.91.

[54]Bộ Ngoại giao: Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua, Sđd, tr.91.

[55]Gilbert Padoul: Chính sách ngoại giao của Trung Quốc sau Mao Trạch Đông, Tlđd, tr.8.

[56]Cuộc xung đột Trung Quốc –Việt Nam, Tlđd, tr.61.

[57]Báo Nhân dân, ngày 18-2-1979, tr. 1.

[58]Báo Nhân dân,  ngày 19-2-1979, tr.1.

[59]Báo Nhân dân,  ngày 5-3-1979, tr.1.

[60]Đảng Cộng sản Việt Nam: Chỉ thị số 67, ngày 1-3-1979,  Về việc phát động và tổ chức toàn dân chuẩn bị chiến đấu và bảo vệ Tổ quốc,Văn phòng lư trữ Trung ương Đảng.

[61]Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết số 16, ngày 3-3-1979 “Về cuộc kháng chiến chống bọn phản động Trung Quốc xâm lược”, Văn phòng lư trữ Trung ương Đảng.

[62]Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết số 16, ngày 3-3-1979, Tlđd.

[63]Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết số 16, ngày 3-3-1979, Tlđd.

[64]Báo Nhân dân, ngày 19-2-1979, tr.1.

[65]Ban Bí thư: Chỉ thị số 69, ngày 6-3-1979  “Về chủ trươngcủa ta trước tình hình bọn phản động Trung Quốc rút quân”, Lưu tại Cục lưu trữ, Văn phòng Trung ương Đảng.

[66]Ban Bí thư: Chỉ thị số 69, ngày 6-3-1979, Tlđd.

[67]Ban Bí thư: Chỉ thị số 69, ngày 6-3-1979, Tlđd.

[68]Lưu Văn Lợi: Ngoại giao Việt Nam (1945-1995), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1998, tr. 448.

[69]Những tác động chiến lược của cuộc chiến tranh Đông Dương, Bản dịch, Lưu tại Thư viện Quân đội, tr. 12.

[70]Valencia.M.J, Vandyke.J.M, Ludwig.N.A, “Chia sẻ tài nguyên ở biển Nam Trung Hoa”, Bản dịch, Lưu tại Thư viện Ban Biên giới Chính phủ, tr.59.

[71]Valencia.M.J, Vandyke.J.M, Ludwig.N.A, “Chia sẻ tài nguyêChin ở biển Nam Trung Hoa”, Tlđ d, tr.59. 

—–

Nguồn: VHNA – Thứ bảy, 15 Tháng 2 2014 15:19

http://vanhoanghean.com.vn/goc-nhin-van-hoa3/nh%E1%BB%AFng-g%C3%B3c-nh%C3%ACn-v%C4%83n-h%C3%B3a/chien-tranh-bien-gioi-viet-trung-thang-2-1979

Posted in Archives, Articles, International relations, Teaching | Tagged , | Để lại bình luận

CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI VIỆT – TRUNG THÁNG 2 – 1979

HỒ KHANG

1- Ba khúc mắc lớn

Chiến tranh biên giới Việt – Trung tháng 2-1979 bùng nổ sau một loạt các khúc mắc, bất đồng và mâu thuẫn – những khúc mắc hoặc mới nảy sinh, hoặc đã được tích tụ qua năm tháng theo chiều dài quan hệ giữa hai quốc gia tuy cùng ý thức hệ, song không ít những “đồng sàng dị mộng”.

Vấn đề “nạn kiều”

Người Hoa là một trong số 54 dân tộc cùng hợp thành một cộng đồng dân tộc Việt Nam. Họ di cư đến Việt Nam từ lâu đời, kéo dài trong nhiều thời kỳ với nhiều thành phần xã hội khác nhau. Họ đến cư trú ở hầu hết các nơi, tập trung đông nhất ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Nam Bộ và các thị xã, thành phố lớn của Việt Nam. Trải qua quá trình lịch sử, dần dần, người Hoa đã hoà nhập với cư dân bản địa và trở thành công dân của Việt Nam. Họ đã góp phần cùng các dân tộc khác trên lãnh thổ Việt Nam làm phong phú và phát triển nền văn hoá, giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của Việt Nam. Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược, người Hoa đã sát cánh cùng nhân dân cả nước chiến đấu gian khổ, hy sinh cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Năm 1955, theo thỏa thuận của Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc, “người Hoa cư trú ở miền Bắc Việt Nam phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”[1], sau dần dần chuyển thành công dân Việt Nam. Cho đến trước năm 1975, giữa Việt Nam – Trung Quốc không có bất cứ một bất đồng nào trong vấn đề người Hoa ở Việt Nam. Ở miền Nam Việt Nam, Chính quyền Sài Gòn cũng có những quy định đưa Hoa kiều trở thành công dân Việt Nam thông qua hai Đạo luật số 10 (7-12-1955) và số 48 (21-8-1956)[2]. Chính phủ Việt Nam sau giải phóng đã coi người Hoa ở cả hai miền là một bộ phận trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Nhưng sau đó, vì những chủ ý của mình, Trung Quốc đã không thực hiện thỏa thuận năm 1955 và phủ nhận thực tế lịch sử về người Việt gốc Hoa ở miền Nam Việt Nam, coi tất cả người Hoa ở hai miền là công dân Trung Quốc để trực tiếp lãnh đạo họ[3]. Sau khi miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng, những nhà lãnh đạo Trung Quốc đã tổ chức hàng loạt các tổ chức quần chúng Hoa kiều (như Hội cứu vong Hoa kiều, Hội học sinh Hoa kiều yêu nước…) với mục đích kích động “tâm lý huyết thống” trong người Hoa, khơi lên phong trào đòi lấy quốc tịch Trung Quốc. Khi quan hệ hai nước trở nên phức tạp, Việt Nam đã có chính sách di dời những người gốc Hoa sống sát biên giới Việt – Trung ra xa “vùng nhạy cảm”.

Tháng 4-1978, Việt Nam tiến hành cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Nam, Chính phủ Trung Quốc kêu gọi người Hoa về nước “xây dựng Tổ quốc” và “ai không về là phản bội Tổ quốc”. Trong năm 1978, các dòng người Hoa ở Việt Nam ồ ạt kéo về Trung Quốc. Để thu hút sự chú ý của dư luận thế giới về tình trạng”nạn kiều”, Trung Quốc lập ra các trạm đón tiếp dọc theo biên giới hai nước, tuyên bố sẽ gửi hai tầu chuyên chở sang Việt Nam để đón “nạn kiều” về nước. Sau khi Trung Quốc đóng cửa biên giới (12-7-1978), nhiều người Hoa vẫn cố vượt biên. Theo Ramses Amer, con số người Hoa ra đi cụ thể trong các tháng từ tháng 4-1978 đến cuối tháng 12-1979 là khoảng trên dưới 25 vạn người[4]. Trung Quốc không ngừng lên án “Việt Nam ngày càng chống Trung Quốc, bài Hoa một cách nghiêm trọng”[5]. Vấn đề người Việt gốc Hoa bỗng chốc trở thành một khúc mắc lớn trong quan hệ Việt – Trung.

Vấn đề Campuchia

Do điều kiện địa lý và hoàn cảnh lịch sử, ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia đã luôn có mối quan hệ chặt chẽ Dưới chế độ thực dân, ba nước trên bán đảo Đông Dương cùng chung cảnh ngộ bị ách thống trị của chủ nghĩa thực dân đè nặng, mọi quyền dân tộc đều bị tước đoạt. Điều đó đã khiến ba nước Đông Dương xích lại gần nhau, cùng nhau đoàn kết chống kẻ thù chung. Đặc biệt, Việt Nam và Campuchia đã sát cánh bên nhau trong chiếnhào chống Mỹ. Từ năm 1976, dưới sự bảo trợ của một số nước, tập đoàn Pôn Pốt-Iêngxari đã dựng lên một chế độ diệt chủng cực kỳ tàn bạo, có một không hai trong lịch sử ở Campuchia, dưới danh nghĩa xây dựng “Chủ nghĩa cộng sản độc đáo kiểu Campuchia”. Vừa vào Phnôm Pênh, tập đoàn Pôn Pốt đã đưa ra một Chỉ thị tám điểm, trong đó có điểm trục xuất Việt kiều và tăng cường quân đội ở biên giới. Chỉ trong vòng ba tháng, gần 200.000 Việt kiều ở Campuchia bị cưỡng bách hồi hương, tràn về các tỉnh biên giới của Việt Nam. Tập đoàn Pôn Pốt-Iêngxari đã có sự liên hệ chặt chẽ với những nhà lãnh đạo Bắc Kinh.

Tập đoàn Pôn Pốt – Iêngxari tiến hành một chiến dịch thanh trừng nội bộ với những cuộc tàn sát vô cùng man rợ đối với nhân dân Campuchia. Về đối ngoại, Pôn Pốt – Iêngxari thi hành một chính sách phản động, hiếu chiến, tuyên truyền Việt Nam “xâm lược Campuchia”, “ép Campuchia vào Liên bang Đông Dương”, kích động đầu óc cực đoan và hận thù giữa hai dân tộc.Chính quyềnPolpot đã tiến hành các cuộc xâm lấn, đánh chiếm biên giới Việt Nam liên tục trong thời gian dài với cường độ gia tăng[6].Lý giải về điều đó, giáo sư D.R.SarDesai,Đại học Califonria cho rằng: “Sở dĩ Campuchia dám đánh Việt Nam như thế là vì có sự ủng hộ và xúi giục của Trung Quốc”[7].Khi xảy ra xung đột biên giới do tập đoàn Polpot gây ra, Việt Nam đã tích cực đề nghị đàm phán, giải quyết bằng con đường thương lượng hòa bình, mong muốn “hai bên gặp nhau càng sớm càng tốt, ở bất cứ cấp nào để cùng nhau trên tinh thần hữu nghị anh em giải quyết vấn đề biên giới giữa hai nước”[8], song phía Campuchia liên tục khước từ và không ngừng tấn công đánh phá các điểm dân cư dọc biên giới hai nước.

Sau một số bước chuẩn bị và mở rộng chiến tranh, đến ngày 21-12-1978, Polpot sử dụng 10 sư đoàn, mở chiến dịch tiến công trên toàn tuyến biên giới phía Nam, mục tiêu chủ yếu là chiếm thị xã Tây Ninh của Việt Nam. Ngày 23-12-1978, vì sứ mệnh bảo vệ Tổ quốc, Quân đội nhân dân Việt Nam đã mở cuộc phản công chiến lược. Trước yêu cầu khẩn thiết của nhân dân Campuchia, của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, ngày 26-12-1978, Quân đội nhân dân Việt Nam đưa quân vào Campuchia, xóa bỏ chế độ diệt chủng, giải phóng toàn bộ đất nước Campuchia.Với sự giúp đỡ của Việt Nam, nước Campuchia mới được xây dựng trở lại. Tuy nhiên,Trung Quốc coi việc Việt Nam giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng là một trong những trở ngại chính trong quan hệ Việt – Trung, bởi Trung Quốc coi Campuchia là một mắt xích quan trọng phục vụ việc tạo vùng ảnh hưởng tại khu vực Đông Nam Á, đóng vai trò trung tâm “trong chiến lược của Trung Quốc, nhằm bao vây ảnh hưởng của Việt Nam”[9] tại khu vực này, “sau khi không thể nắm được Việt Nam trong quỹ đạo của mình”[10]; do vậy, hành động của Việt Nam đã làm đảo lộn các kế hoạch được cân nhắc của Trung Quốc. Đặc biệt, việc không lâu sau chuyến thăm của  Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc Uông Đông Hưng(4-11-1978) tới Phnôm Pênh, Việt Nam “cả gan” đưa quân vào Campuchia, đánh bại tập đoàn Pôn Pốt-Iêngxari, khiến 3 vạn cố vấn Trung Quốc phải lội rừng sang Thái Lan và khoản tiền viện trợ cho Campuchia trị giá 226 triệu nhân dân tệ (tương đương 1,5 tỷ USD) bị tốn một cách vô ích được Trung Quốc coi là “hành động không thể chấp nhận”, “vuốt mặt không nể mũi”. Vấn đề Campuchia trở thành một trong những ngáng trở nặng nề trong quan hệ Việt – Trung.Cũng cần nói thêm rằng, Trung Quốc đã tích cực ủng hộ về tài chính, tiếp tế cho ba phái Campuchia – FUNCINFEC (tức Đảng và Mặt trận đoàn kết Quốc gia vì một  Campuchia độc lập, trung lập, hoà bình và hợp tác), Mặt trận Giải phóng Nhân dân Khơme (KPNLF) và phái Campuchia Dân chủ (PDK) –  tiến hành cuộc chiến tranh chống CHND Campuchia. Trên mặt trận ngoại giao, Trung Quốc hợp tác với Mỹ trong các hoạt động nhằm mục tiêu cô lập Việt Nam trên trường quốc tế và từ chối công nhận CHND Campuchia. Chính sách cô  lập và không thừa nhận  này được áp dụng trong cấp độ khu vực, trong việc hợp tác với ASSEAN và ở mức độ toàn cầu, thông qua Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, nơi mà phái Campuchia dân chủ được phép tiếp tục đại diện cho nước Campuchia.

Xung đột biên giới, lãnh thổ, lãnh hải

Trong quan hệ giữa nhiều quốc gia, vấn đề biên giới là một trong những vấn đề vô cùng nhạy cảm. Đối với mọi quốc gia, việc xác định đường biên giới là một việc cần thiết và quan trọng, bởi biên giới là một sáng tạo pháp lý để xác định chủ quyền. Biên giới, chủ quyền lãnh thổ là vô cùng thiêng liêng và bất khả xâm phạm (inviolabilite). Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ.

Nằm trên bán đảo Đông Dương, Việt Nam có đường biên giới trên đất liền dài khoảng 4.510 km, tiếp giáp với ba nước: Lào (2.067 km); Campuchia (1.137 km); còn với Trung Quốc, Việt Nam có đường biên giới dài khoảng 1.350 km. Đây là đường biên giới nằm giữa sáu tỉnh vùng núi phía Bắc (Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh) của Việt Nam và hai tỉnh (Vân Nam và Quảng Tây) của Trung Quốc. Đường biên giới với Trung Quốc được phân định trong các Công ước ngày 26- 6-1887 và ngày 20-6-1895 giữa Chính quyền Pháp (đại diện cho Việt Nam lúc bấy giờ) và nhà Thanh (đại diện cho Trung Quốc). Trên cơ sở củacác bản Công ước này, từ năm 1889 đến năm 1897, hai bên đã tổ chức phân giới và đã cắm được 341 mốc giới trên thực địa. Như vậy, đường biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc là đường biên giới thực tế lịch sử, đến cuối thế kỷ XIX đã trở thành đường biên giới pháp lý. Tuy nhiên, trải qua một thời gian dài, những biến đổi về chính trị, những thay đổi về mặt thiên nhiên đã làm cho biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc trên thực địa có một số thay đổi, đặc biệt là giữa hai bên đã có những nhận thức khác nhau đối với một số khu vực trênđường biên giới, dẫn đến nảy sinh những bất đồng, tranh chấp. Đây là một trong những nguyên nhân trực tiếp của tình trạng căng thẳng, bất bình thường trong quan hệ Việt – Trung. Ngoài ra, trước đây, do phương tiện và điều kiện còn hạn chế, nên lời văn vàbản đồ nhiều đoạn biên giới theo hoạch định giữa Chính quyền Pháp và nhà Thanh không được đầy đủ, rõ ràng và chính xác. Một số văn bản, bản đồ gốc bị thất lạc, đường biên giới được thể hiện trên bản đồ tỷ lệ lớn với nền địa hình được thể hiện tổng hợp, nhiều nơi rất khác so với địa hình tự nhiên trên thực địa[11]. Việc phân giới, cắm mốc cung có hạn chế nhất định: Toàn bộ mốc giới đều không được xác định bằng lưới toạ độ, vị trí của nhiều mốc giới cũng không được mô tả chính xác, một số mốc bị xê dịch so với vị trí vẽ trên bản đồ, nằm không đúng vị trí hoặc thất lạc, bị hư hỏng, địa hình, địa vật cũng có nhiều thay đổi. Do vậy, đã từng xảy ra những tranh chấp nhỏ (do việc xâm canh, xâm cư, xây dựng cầu cống qua sông, suối của dân cư hai bên…), nhưng những xung đột này mang tính chất cục bộ và nhất thời. Những tranh chấp đó được hai Đảng, hai Nhànước Việt Nam, Trung Quốc giải quyết trên tinh thầnhợp tác, hữu nghị. Có thể thấy điều này qua các sự kiện từ giữa những năm 1950. Đó là cuộc hội đàm tại Nam Ninh (Trung Quốc) giữa đại diện các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Hải Ninh[12] (Việt Nam) với đại diện các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây (Trung Quốc) (từ ngày 6 đến 9-11-1956) về vấn đề biên giới. Trên cơ sở thoả thuận giữa các tỉnh biên giới, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã trao đổi thư từ thống nhất giải pháp xử lý những tranh chấp ở biên giới giữa hai nước vào năm 1957 và 1958. Ngày 2-11-1957, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam gửi thư choTrung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc bày tỏ quan điểm: “Vấn đề quốc giới là vấn đề quan trọng cần phải giải quyết theo những nguyên tắc pháp lý đương có hoặc được xác định lại do Chính phủ hai nước quyết định”[13]. Trung ương Đảng Lao động Việt Nam còn nêu rõ: Trước khi giải quyết hoàn toàn những vấn đề phát sinh, hai nước phải giữ “đúng nguyên trạng đường biên giới đã hình thành do lịch sử để lại”; nhất thiết cấm các nhà chức trách và các đoàn thể địa phương không được thương lượng với nhau để cắm mốc giới hoặc cắt nhượng đất cho nhau; bất kỳ một bất đồng, tranh chấp nào có thể xảy ra đều phải được giải quyết bằng thương lượng. Hàm ý của bức thư trên là hai bên cần căn cứ vào các Công ước về hoạch định biên giới mà Pháp và Trung Quốc đã ký cuối thế kỷ trước để giải quyết vấn đề biên giới giữa hai nước. Tháng 4-1958, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc trả lời đồng ý với những đề nghị của Việt Nam[14]. Như vậy, trước năm 1975, những vấn đề về biên giới, lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc về cơ bản vừa thể hiện tính nguyên tắc, tôn trọng luật pháp quốc tế, vừa thể hiện tình hữu nghị giữa hai dân tộc.

Nhưng sau năm 1975, tình hình biên giới Việt Nam – Trung Quốc trở nên căng thẳng do những hoạt động vũ trang từ phía Trung Quốc.  Trước thực tế đó, Việt Nam luôn giữ thái độ đúng mực, kiên trì quan điểm giải quyết vấn đề biên giới bằng thương lượng hoà bình. Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc ngày càng xấu đi với những xung đột ở biên giới và  từ tháng 7-1978, Trung Quốc đã sử dụng hành động này phục vụ cho mục đích chuẩn bị tạo cớ, gây cuộc tấn công dọc theo toàn tuyến biên giới phía Bắc của Việt Nam Khi tấn công Việt Nam, Trung Quốc luôn tuyên bố lý do chiến tranh chính là do Việt Nam “lấn chiếm đất đai”, “quấy rối biên cương” của Trung Quốc[15].

Trên biển Đông, giữa Việt Nam và Trung Quốc xảy ra những tranh chấp và xung đột chủ yếu xoay quanh vấn đề chủ quyền, lợi ích của mỗi nước ở Vịnh Bắc Bộ, hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và một số khu vực khác. Trong một khoảng thời gian dài (từ khi hai nước đặt quan hệ đến trước năm 1973), Việt Nam và Trung Quốc hầu như không có vấn đề phức tạp nào về Vịnh Bắc Bộ. Đến năm 1973, Việt Nam thông báo cho Trung Quốc ý định ký hợp đồng với các công ty nước ngoài để thăm dò, tìm kiếm dầu ở Vịnh Bắc Bộ và đề nghị thương lượng để phân chia lãnh hải ở khu vực này. Trung Quốc đồng ý mở cuộc thương lượng, nhưng đòi không cho phép các công ty của nước thứ ba tham gia vào việc khai thác nguồn tài nguyên ở Vịnh Bắc Bộ, không chấp nhận việc thăm dò ở khu vực hình chữ nhật vĩ tuyến 180- 200 và kinh tuyến 1070 –1080.

Sau năm 1977, Trung Quốc ký hợp đồng với Liên hiệp các công ty dầu khí của Mỹ để tiến hành khảo sát địa chấn ở ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ. Lập tức vấn đề trở nên căng thẳng. Việt Nam cũng đưa ra những hợp đồng tương tự với các công ty châu Âu.

Ở Vịnh Bắc Bộ, Chính quyền Trung Quốc bắt đầu ấn định những hợp đồng với các công ty nước ngoài trong những lô giáp giới các khu vực tranh chấp, có khi mở rộng đường biên giới vượt khỏi Công ước 1887 và tiến hành những cuộc diễn tập quân sự tại đây. Điều này làm tiếp tục bùng nổ một số cuộc đụng độ giữa hai bên.

Trên biển Đông, vấn đề tranh chấp phức tạp nhất liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa do chính sách độc chiếm biển Đông của Trung Quốc, song Trung Quốc luôn cho rằng, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sở dĩ trở thành chủ đề tranh chấp chính trong quan hệ Việt – Trung là do những hành động của Hà Nội[16].

2- Trung Quốc chuẩn bị cho cuộc chiến

Đối với trong nước

Trước dư luận trong nước, Trung Quốc công khai tuyên bố: “Việt Nam là tiểu bá theo đại bá Liên Xô”; “Trung Quốc quyết không để cho ai làm nhục”; cuộc tiến công của Trung Quốc vào Việt Nam sắp tới là nhằm “dạy cho Việt Nam một bài học”.Theo truyền thống, Trung Quốc đề cao việc chuẩn bị tinh thần cho nhân dân và binh sĩ, tổ chức quán triệt về “tính chính nghĩa”, “nghĩa vụ vẻ vang” và “trách nhiệm” của mỗi binh sĩ, mỗi công dân trong cuộc “chiến tranh trừng phạt”.

Bắc Kinh tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân, nhất là nhân dân vùng ven biên về cuộc chiến “phản công” chống lại các khiêu khích của Việt Nam. Khi chiến tranh xảy ra, Tân Hoa xã tuyên bố: “Các lực lượng biên phòng Trung Quốc đã hành động khi tình hình trở nên không thể chấp nhận được và không còn lựa chọn nào khác. Chúng tôi không muốn một tấc đất nào của Việt Nam”.

Trung Quốc ráo riết chuẩn bị mọi mặt cho cuộc tấn công quy mô lớn trên toàn tuyến biên giới Việt Nam, tập trung những quân đoàn chủ lực lớn dọc theo biên giới Việt – Trung. Trong những buổi họp của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc từ giữa năm 1978 – cuối năm 1978, nhiều biện pháp “trừng phạt” Việt Nam bằng quân sự được đưa ra, trong đó có đề nghị của Uỷ viên Bộ Chính trị Uông Đông Hưng đem quân tham gia trực tiếp tham chiến ở Campuchia; đề nghị của Tư lệnh quân khu Quảng Châu Hứa Thế Hữu[17] tấn công Việt Nam bằng chiến lược; đề nghị của Chính uỷ Hải quân Sử Chấn Hoa đem hạm đội Đông Hải xuống vịnh Thái Lan yểm trợ vùng duyên hải Campuchia. Cuối cùng, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc chấp thuận kế hoạch “phản công tự vệ giới hạn” của Đặng Tiểu Bình. Sau khi Đặng Tiểu Bình trở về từ chuyến thăm Mỹ (đầu tháng 1-1979), Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc họp kỳ họp dài ngày ở Bắc Kinh (Hội nghị mở rộng Bộ Chính trị từ ngày 11- 11 đến ngày 15- 12-1978), sau đó những người thuộc phe Đặng Tiểu Bình như Đặng Dĩnh Siêu được cử vào Bộ Chính trị, Triệu Tử Dương được bầu làm Tổng Bí thư. Những người thuộc phe Hoa Quốc Phong như Uông Đông Hưng, Trần Hồng Quý, Vũ Đệ… bị loại[18]. Đặng Tiểu Bình bắt đầu thâu tóm một cách vững chắc quyền hành ở Trung Quốc. Nayan Chanda nhận xét: “Sự củng cố quyền lực của Đặng bên trong Đảng giờ đây có thể làm cho ông ta xúc tiến chính sách ngoại giao không ai có thể tranh cãi như trước kia”[19]. Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc chấp thuận hầu hết những đề nghị của Đặng Tiểu Bình về việc áp dụng một chính sách kinh tế cởi mở và lập trường mềm dẻo trong vấn đề Đài Loan để dễ dàng bình thường hoá quan hệ với Mỹ, chấp thuận đường lối “bốn hiện đại hoá” và sau cùng là mở một cuộc tấn công xâm lấn giới hạn vào lãnh thổ Việt Nam.

Hội nghị mở rộng Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc chủ trương ủng hộ Khơme Đỏ và tán thành đề nghị của Hứa Thế Hữu dùng lục quân đánh vào Việt Nam và chờ tình hình diễn biến và tiếp tục xem xét bước sau[20]. Giữa tháng 12-1978, Trung Quốc họp Hội nghị công tác Trung ương bàn kỹ thêm về tình hình. Hội nghị cho rằng, ít có khả năng Liên Xô can thiệp quân sự ồ ạt đánh vào Bắc Kinh. Nếu Liên Xô chỉ can thiệp ở quy mô vừa hay nhỏ, Trung Quốc có thể đối phó được, nếu Trung Quốc chỉ tiến hành chiến tranh phản kích tự vệ đối với Việt Nam thì có khả năng không có phản ứng quốc tế bất lợi. Hội nghị nhận định: Phía Việt Nam cho rằng, do đường lối bốn hiện đại hoá nên có ít khả năng Trung Quốc sẽ có hành động quyết định đối với Việt Nam, nhưng Trung Quốc cần có hành động mạnh mẽ để tỏ quyết tâm, mà không làm hại đến chương trình “bốn hiện đại hoá”, tiến quân vào đánh rồi rút lui chiến lược, chứng tỏ Trung Quốc kiểm soát được tình hình, có khả năng phá thế bao vây của Liên Xô và Việt Nam, làm thất bại lớn chiến lược của Liên Xô ở châu Á[21].

Đối với khu vực lãnh thổ tiếp giáp Liên Xô, Trung Quốc không thể không quan tâm tới sự hiện diện của hơn 40 sư đoàn của Liên Xô đóng dọc theo biên giới Xô – Trung. Với Hiệp ước đã ký với Việt Nam ngày 3-11-1978, Liên Xô có đủ lý do và biện pháp để trả đũa. Cho nên cùng lúc với việc thành lập Bộ Tư lệnh mặt trận phía Nam, Trung Quốc cũng thành lập một Bộ Tư lệnh mặt trận phía Bắc, thống nhất chỉ huy các quân khu Tân Cương, Lan Châu, Bắc Kinh, Chấn Giang và Hắc Long Giang.

Đối với thế giới

Về  mặt quốc tế, để tạo những thuận lợi cho cuộc chiến được trù định, Trung Quốc đã có sự chuẩn bị tương đối kỹ càng. Trước hết, Trung Quốc đã kịp ký với Nhật Bản Hiệp ước hoà bình, hữu nghị (12-8-1978), có giá trị trong mười năm và sẽ tái ký tiếp, nhằm tạo thế cân bằng chiến lược ở khu vực Đông Bắc Á để Trung Quốc có thể an tâm đối phó với Việt Nam.

Ngày 5-11-1978, Đặng Tiểu Bình đi thăm các nước ASEAN để tập hợp lực lượng cho bước đi sắp tới về Việt Nam. Đặng Tiểu Bình kêu gọi thành lập Mặt trận chống Liên Xô và Việt Nam, tuyên truyền về sự bành trướng của Liên Xô ở Đông Nam Á qua Việt Nam, kêu gọi không để khu vực Đông Nam Á rơi vào tay Liên Xô và Việt Nam. Tại Thái Lan, Đặng Tiểu Bình nhanh chóng tìm được sự hậu thuẫn, “mở ra con đường mòn Đặng Tiểu Bình xuyên qua Thái Lan và biến Thái Lan thành một cái khoen”[22] trong chiến lược Đông Nam Á của Trung Quốc.

Đối với Mỹ, từ tháng 5-1978, Brezinski- Cố vấn của Tổng thống Jimmy Carter đã đến Bắc Kinh để bàn về việc xây dựng mối quan hệ chiến lược lâu dài giữa hai nước. Brezinski nêu một số quan điểm có lợi cho phía Trung Quốc và đáp ứng một số yêu cầu của Trung Quốc. Đặc biệt, hai bên bàn việc phối hợp chống Liên Xô và Mỹ tuyên bố sẵn sàng bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc. Cuối tháng 12-1978, Trung Quốc xúc tiến đàm phán với Mỹ về bình thường hoá quan hệ. Ngày 13-12-1978, Đặng Tiểu Bình tiếp Woockock[23] – đặc phái viên của Tổng thống Catter và tuyên bố chấp nhận dự thảo thoả thuận do Mỹ đưa ra và lời mời của Tổng thống Mỹ đi thăm Mỹ trong tháng giêng 1979. Thông cáo chung Mỹ – Trung ngày 15-12-1979 công bố việc bình thường hoá quan hệ hai nước. Thông cáo này được đánh giá là cử chỉ “thúc đẩy liên minh Hoa-Mỹ tiến nhanh hơn trong khi bóng đen chiến tranh hiện ra ở chân trời”[24]. Trong chuyến thăm Mỹ (1-1979), “Đặng trực tiếp đưa ra nhiều đòi hỏi trong chuyến đi Hoa Kỳ của ông. Ông ta muốn đuợc ủng hộ và thông cảm về kế hoạch tấn công Việt Nam cộng sản”[25]. Ngày 28-1- ngày đầu tiên tới Hoa Kỳ, Đặng Tiểu Bình đã đề nghị Brzezinski thu xếp cuộc họp riêng với Tổng thống Carter để thảo luận vấn đề Việt Nam[26]. Đặng Tiểu Bình tuyên bố: Trung Hoa phải phá vỡ chiến lược của Liên Xô, “xem việc ấy là cần thiết để ngăn chặn tham vọng điên cuồng của họ đối với Việt Nam và cho họ một bài học hạn chế thích đáng”[27]. Đặng bảo đảm rằng cuộc tấn công hạn chế cả về mặt thời gian và không gian, yêu cầu là Hoa Kỳ “ủng hộ tinh thần” đối với quốc tế[28].

Với Liên Xô, dù tin rằng, “Việt Nam sẽ không lôi kéo Liên Xô mở cuộc tấn công lớn vào Trung Hoa”[29], song Trung Quốc cũng có những bước đi phòng bị. Trong khi chuẩn bị và cả khi tiến hành tấn công Việt Nam, Trung Quốc vẫn tiếp tục những cuộc hội đàm thường lệ với Liên Xô về vấn đề biên giới, nhằm tỏ cho Liên Xô biết cuộc tấn công Việt Nam là một vấn đề riêng biệt, không ảnh hưởng đến việc cải thiện quan hệ giữa hai nước.

3- Trung Quốcthực hiện cuộc tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam tháng 2- 1979

Bình minh ngày 17-2-1979, khi màn sương dày còn bao phủ những ngọn đồi trên biên giới Việt – Trung, Trung Quốc đã thực hiện kế hoạch được nung nấu và chuẩn bị kỹ càng nhiều tháng trước đó. Trung Quốc đưa 60 vạn quân cùng với gần 800 xe bọc thép, xe tăng, trọng pháo và máy bay các loại tấn công dọc theo biên giới phía Bắc, đánh sâu vào lãnh thổ Việt Nam – “đây là một cuộc chiến tranh xâm lược toàn diện bằng lực lượng chính quy của hầu hết các quân khu Trung Quốc”[30].Trung Quốc gây ra Chiến tranh biên giới 1979 với Việt Nam mà không cần những lý do thuyết phục, không cần bị tấn công (trong khi năm 1964, Mỹ phải viện sự kiện vịnh Bắc Bộ mới có cớ đưa quân vào Việt Nam), tuyên bố dạy cho Việt Nam một bài học, qua đó khẳng định vị thế nước lớn và “quyền” hành xử bất chấp luật lệ.

Nguyên nhân chủ đạo, chính yếu nhất của cuộc tấn công Việt Nam do Trung Quốc khởi xướng là để răn đe Việt Nam, làm giảm tiềm lực quốc phòng, kinh tế, làm suy yếu Việt Nam, hạ uy thế chính trị, quân sự của Việt Nam, chiếm một số khu vực lãnh thổ có tính chiến lược, buộc Việt Nam phân tán một phần lực lượng lên phía Bắc, giải vây cho Campuchia; đồng thời, nâng cao uy tín nước lớn, chứng minh cho các quốc gia láng giềng, nhất là khu vực Đông Nam Á thấy có thể tin cậy vào Trung Quốc để ngăn chặn ảnh hưởng của Việt Nam và tham vọng của Liên Xô.

Bắt đầu vào ngày 17-2, kết thúc vào ngày16-3-1979, cuộc chiến tranh ở biên giới phía Bắc Việt Nam do Trung Quốc gây ra có thể chia làm 2 giai đoạn: 1- Tấn công (17-02 đến 5-3-1979); 2- Rút lui ( 6-3 đến 16-3-1979).

Đương đầu với số lượng quân hùng hậu của Trung Quốc, lực lượng trên toàn tuyến biên giới của Việt Nam tương đối mỏng, chủ yếu là lực lượng địa phương, chỉ có một bộ phận chủ lực, song với tinh thần không để mất dù chỉ một tấc đất biên cương, quân và dân Việt Nam đã chặn đánh quyết liệt, tiêu hao lực lượng, hạn chế tốc độ tiến quân, kìm chân đối phương. Sau 17 ngày đọ sức với lực lượng tại chỗ của Việt Nam, bằng sức mạnh áp đảo, sử dụng chiến thuật “biển người”, Trung Quốc mới chiếm được một số mục tiêu: Lạng Sơn, Cao Bằng, Cam Đường (Lào Cai), Phong Thổ (Lai Châu). Trung Quốc đã phá hủy hầu như hoàn toàn 4 tỉnh biên giới của Việt Nam và 320 xã, thiệt hại về người và của là vô cùng to lớn. Ngày 5-3-1979, Trung Quốc tuyên bố đã đạt mục đích, bắt đầu rút quân khỏi Việt Nam. Việt Nam ra lệnh tổng động viên toàn quốc. Một số sư đoàn chính qui Việt Nam được điều từ Campuchia và Lào đã về tới sát mặt trận. Liên Xô bắt đầu tăng quân tới biên giới Trung – Xô. Kể từ lúc quân đội Trung Quốc rút lui, bộ đội Việt Nam không tấn công truy kích.

Cuộc chiến tranh biên giới Việt – Trung tuy ngắn ngày, nhưng Trung Quốc đã có những thiệt hại khá lớn: Ngân sách quốc gia Trung Quốc năm 1979 bị thâmhụt 17,6 tỷ NDT, trong số đó có 2,04 tỷ NDT bị dốc vào phụ chi cho cuộc chiến tranh biên giới và phía Trung Quốc “thừa nhận 20.000 thương vong”[31].

Về trình độ, khả năng tác chiến của quân đội Trung Quốc, dựa vào một số tư liệu tổng kết cuộc chiến tranh 1979 của Quân khu Quảng Châu và cuốn “70 năm Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc”, hai nhà nghiên cứuEdward C. O’DowdJohn F. Corbett, Jrđã đánh giá như sau: Chiến thuật cơ bản của bộ binh khi tấn công Việt Nam vô cùng đơn điệu. Lực lượng pháo binh chưa phát huy được tác dụng hữu hiệu. Kỹ năng của các công trình dã chiến tương đối lạc hậu. Công tác trắc địa có vấn đề. Hệ thống bảo đảm hậu cần kém hiệu quả (…). Qua đó còn thấy công tác huấn luyện là một trong những khâu yếu kém của quân đội, phải cải cách biên chế…[32].

4- Những bài học lớn

Thứ nhất, Trung Quốc là nước lớn, tồn tại kề cận Việt Nam và là nước luôn có vấn đề biên giới, lãnh thổ, lãnh hải với các nước láng giềng. Trung Quốc luôn có những tính toán và bước đi khó đoán định; do vậy, muốn tồn tại bên cạnh một người láng giềng phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ, là nước nhỏ, Việt Nam phải luôn đề cao cảnh giác; đồng thời, có đối sách uyển chuyển, mềm dẻo, nhưng cương quyết, không lùi bước trước sức ép một cách bị động. Bắt đầu, diến tiến và kết thúc của cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc 1979 cho thấy, Việt Nam sẽ không bị chi phối và kiềm tỏa, nếu tranh thủ được hậu thuẫn quốc tế, nhất là trong điều kiện hiện nay, tiếng nói của cộng đồng thế giới có ảnh hưởng đáng kể đến chính sách của mỗi quốc gia. Việt Nam đang là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế, có vị thế trong khu vực, trên thế giới, được sự ủng hộ của nhiều tổ chức toàn cầu (IMF, WB, UNDP, APEC..) – đây là một đảm bảo an ninh tốt cho Việt Nam chèo chống trước sóng gió.

Thứ hai,thực tiễn cho thấy nhận thức, sự hiểu biết của Việt Nam về Trung Quốc, về chiến lược của Trung Quốc, các toan tính của Trung Quốc trước và sau cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc 1979 vẫn chưa đầy đủ, còn nhiều thiếu hụt. Nhiều lúc, nhiều nơi, Việt Nam chưa hiểu thấu Trung Quốc, chưa nắm bắt trúng, đúng các ý đồ của Trung Quốc.Thời gian sau năm 1975, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc có thể khắc họa bằng hình ảnh “bằng mặt nhưng không bằng lòng”, tuy bề mặt vẫn còn hữu nghị, song bên trong đã hé lộ những vết nứt khó lòng hàn gắn và mặc dù một số cán bộ cấp cao của Việt Nam đã nhận thấy những vấn đề bất thường trong quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc, nhận thấy chiều hướng ngày càng xấu đi trong quan hệ giữa hai nước, song Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam vẫn thiếu cảnh giác, thiếu nhạy bén và có phần bị động trong xử lý quan hệ Việt – Trung. Rút kinh nghiệm từ quá khứ, trong khi Trung Quốc luôn luôn tồn tại cận kề, đôi lúc không thể đoán trước, thì lợi ích, chiến lược và chính sách của Trung Quốc cần phải được tính đến, nghiên cứu, đánh giá để đề ra chủ trương phù hợp. Cần nhận thức rằng, đường lối đối ngoại của Trung Quốc mang tính cổ truyền đặc trưng là mở rộng ảnh hưởng, mở rộng địa bàn hoạt động, mở rộng cương vực sinh tồn, với cái bất biến là vị trí và quyền lực; từ đó, có hệ thống giải pháp, chính sách và chiến lược phù hợp.

Thứ ba, luôn luôn kiên định lợi ích dân tộc, bảo tồn lãnh thổ, lãnh hải. Hiện nay, giữa Trung Quốc và Việt Nam, vấn đề lãnh hải, đặc biệt là xung quanh tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa đang là vấn đề nổi cộm. Nhìn từ góc độ bảo vệ đất nước trong cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc 1979, trước hành động xâm phạm chủ quyền và lãnh thổ Việt Nam bất chấp dư luận, vi phạm luật pháp quốc tế của Trung Quốc, Đảng, Nhà nước Việt Nam kêu gọi toàn thể nhân dân Việt Nam đánh thắng các thế lực thù địch, giữ gìn từng tấc đất biên cương của Tổ quốc[33], “kiên quyết bảo vệ Tổ quốc, chặn đứng và đập tan cuộc chiến tranh xâm lược”[34]. Đáplời kêu gọi, trước phút nguy nan của Tổ quốc, quân và dân Việt Nam đã kiên quyết giáng trả, bảo vệ vẹn toàn đất nước. Phát huy tinh thần ấy, hiện nay, trong những tranh chấp ở biển Đông, khi Trung Quốc đã chiếm giữ một số đảo, mà “với thời gian nếu như không có sự phản đối từ phía quốc gia kia và nếu có sự thừa nhận của các quốc gia thứ ba, thì sẽ tạo nên chủ quyền cho quốc gia chiếm hữu”[35], Việt Nam cần phải hành động cương quyết, thực hiện những biện pháp cần thiết để bảo tồn lợi ích quốc gia, tuyệt đối không để bất kỳ một thế lực nào đụng chạm đến chủ quyền, đến độc lập tự do của dân tộc.

………………………………….

[1]Ramses Amer:  Người Hoa ở Việt Nam và quan hệ Trung – Việt, Kuals Lumpur, Bản dịch, Lưu tại Thư viện Ban Biên giới Chính phủ, 1991, tr.8.

[2]Ramses Amer: Người Hoa ở Việt Nam và quan hệ Trung- Việt,Tlđd, tr. 1

[3]Từ cuối năm 1976 sang đầu năm 1977, ở Trung Quốc có sự thay đổi chính sách đối với vấn đề gọi là “người Hoa ở hải ngoại”. Nếu trong thời kỳ “cách mạng văn hoá” người Hoa ở nước ngoài bị phân biệt đối xử và nghi ngời, thì từ đầu năm 1977, Trung Quốc lại mong nhận được sự giúp đỡ của người Hoa ở nước ngoài để phát triển kinh tế đất nước.

[4]Ramses Amer: Người Hoa ở Việt Nam và quan hệ Trung- Việt,Tlđd, tr. 46.

[5]“Nghiên cứu vấn đề quốc tế”, Tạp chí Nghiên cứu vấn đề quốc tế, Sở nghiên cứu các vấn đề quốc tế của Trung Quốc, số 2, Bản dịch, Lưu tại Phòng Thông tin- tư liệu, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Bộ Quốc phòng, 1988),  tr.12.

([6]) Theo số liệu của Ban Tổng kết quân sự – Bộ Quốc phòng thì từ tháng 5-1975 đến cuối năm 1975, chúng gây ra 110 vụ xung đột, lấn chiếm 20 điểm biên giới. Năm 1976, chúng gây ra 280 vụ, tăng 2,7 lần so với năm 1975, năm 1977 gây ra 1.850 vụ, tăng 6 lần so với năm 1976.

[7]Dẫn theo Ngô Vĩnh Long; Vài câu hỏi về quan hệ giữa ngoại giao và công việc cải tạo xã hội chủ nghĩa trong thập kỷ sau khi miền Nam được giải phóng, Tạp chí Thời đại mới, số 6/tháng 12-2005.

[8]Lưu Văn Lợi, Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam (1975 – 1995), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1998, Tập 2 tr. 110.

[9]Cuộc xung đột Trung Quốc – Việt Nam(1980), Chuyên san, Bản dịch, Lưu tại Thư viện Quân đội, tr.9.

[10]Gilbert Padoul: Chính sách ngoại giao của Trung Quốc sau Mao Trạch Đông, Bản dịch, Lưu tại Thư viện Quân đội, tr.2.

[11]Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, Nxb Sự thật,  Hà Nội, 1979, tr.9.

[12]Tức Quảng Ninh ngày nay.

[13]Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, Sđd, tr.7.

[14]Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, Sđd, tr.7.

[15]Sa lực Mân Hạ: 9 lần xuất quân lớn của Trung Quốc, Bản dịch của Cục nghiên cứu, Bộ Quốc phòng, Hà Nội, 1992, tr.39.

[16]Eric Hyer: The South China Sea Disputes: Implications of Chiná s  Earlier Territorial Settlements, In: the “Pacific Affairs”, Vol.98, N1, Spring 1995, University of British Columbia Canada, 1995, p. 36-37.

[17]Bí thư và Tư lệnh quân khu Quảng Châu (gồm hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây), bảo vệ Đặng Tiểu Bình trong cuộc thanh trừng lần hai. Được cử làm Tổng chỉ huy trong cuộc tấn công dọc biên giới phía Bắc Việt Nam.

[18]Nayan Chanda: Brother Enemy: The War After the War, 1988, p. 337. 

[19]Nayan Chanda: Brother Enemy: The War After the War, p. 337. 

[20]Nayan Chanda: Brother Enemy: The War After the War, p. 337. 

[21]Chiến tranh của Trung Quốc đánh Việt Nam, 1979, các vấn đề, quyết định và tác động, Bản dịch, Thư viện quân đội.

[22]Nayan Chanda: Brother Enemy: The War After the War, 1988, p. 394.

[23]Cựu chủ tịch Nghiệp đoàn công nhân xe hơi, Trưởng phái đoàn thiện chí Mỹ sang thăm Việt Nam

năm 1976.

[24]Nayan Chanda: Brother Enemy: The War After the War, p. 339.

[25]Nayan Chanda: Brother Enemy: The War After the War, p. 361.

[26]Nayan Chanda: Brother Enemy: The War After the War, p. 361.

[27]Nayan Chanda: Brother Enemy: The War After the War, p. 361.

[28]Nayan Chanda: Brother Enemy: The War After the War, p. 361.

[29]Nayan Chanda: Brother Enemy: The War After the War, p. 338.

[30]Bộ Ngoại giao: Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua, Nxb Sự thật, 1980, tr.91.

[31]32 năm chiến tranh biên giới Trung – Việt, BBC Vietnamese.com, ngày 16-2-2011.

[32] Mỹ quốc nhân nhãn trung đích Trung Việt chiến tranh…, http://www.milchina.com, ngày 29/4/2010.

[33]Lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo Nhân dân, ngày 5-3 -1979, tr. 1.

[34]Mặt trận Tổ quốc Việt Nam kêu gọi đồng bào cả nước đoàn kết, kiên quyết đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của bọn phản động Trung Quốc, Báo Nhân dân, ngày 19-2 -1979, tr. 6.

[35]Viện Sử học,Kỷ yếu hội thảo phát triển khu vực châu Á-Thái bình Dương và tranh chấp biển Đông, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 386.

——

Nguồn: VHNA, Chủ nhật, 16 Tháng 2 2014 15:18

http://vanhoanghean.com.vn/goc-nhin-van-hoa3/nh%E1%BB%AFng-g%C3%B3c-nh%C3%ACn-v%C4%83n-h%C3%B3a/chien-tranh-bien-gioi-viet-trung-thang-2-1979

Posted in Archives, Articles, International relations, Teaching | Tagged , | Để lại bình luận

Thoát Trung Luận

Giáp Văn Dương

Thời gian gần đây, khi thảo luận về những nguy cơ đối với nước ta trước sự trỗi dậy của Trung Quốc, về lựa chọn mô hình phát triển cho Việt Nam, về tình hình tranh chấp Biển Đông …, một số người thuộc giới trí thức trong và ngoài nước, dù chưa chính thức, cũng đã ít nhiều đi đến một nhận định chung: Cần thoát khỏi sự ảnh hưởng của Trung Quốc!

Tuy nhiên, nhận định này chưa bao giờ được viết ra một cách mạch lạc, có hệ thống, và dường như chỉ mới dừng ở mức trực giác. Vì thế, một bài luận nhằm phân tích rõ ràng về nhận định quan trọng này là cần thiết.

*

*          *

Tư tưởng thoát khỏi Trung Quốc thực ra không hề mới. Lịch sử nước ta có thể được diễn giải tương đối đầy đủ dưới góc nhìn thoát Trung. Phần lớn các cuộc khởi nghĩa, các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc ta đều mang trong mình một thông điệp nóng hổi: Thoát khỏi vòng kiềm tỏa của Trung Quốc!

Sự kiện dân tộc Việt Nam không bị đồng hóa và giành lại được độc lập sau gần một nghìn năm Bắc thuộc là một sự kiện hy hữu trên thế giới. Đó là kết quả của một quá trình thoát Trung bền bỉ kiên trì. Sau khi giành được độc lập, quá trình này được tiếp nối không chỉ ở các cuộc kháng chiến vệ quốc, mà còn ở các nỗ lực giữ gìn ngôn ngữ, văn hóa ở các triều đại sau này.

Khi còn nhỏ, tôi đã từng ngạc nhiên khi đọc bài hịch của vua Quang Trung khích lệ tướng sĩ trước khi ra trận: “Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để răng đen…”. Tôi đã tự hỏi, vì sao nhà Vua không chọn những biểu tượng lớn lao hơn mà lại chọn những điều nhỏ nhặt như vậy để động viên quân sĩ? Nhưng càng ngày tôi càng thấm thía: Đó là lòng kiên định của tổ tiên nhằm thoát khỏi vòng kiềm tỏa của nền văn hóa Trung Hoa, ngay từ những việc nhỏ nhất.

Ý thức vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa này là thường trực. Tuy nhiều lúc bị chao đảo bởi sự tấn công mạnh mẽ đến từ phương Bắc, nhưng mỗi khi cần đến thì ý thức vùng thoát này lại bùng lên dữ dội. Nỗ lực xây dựng chữ viết riêng cho dân tộc như chữ Nôm của cha ông, và gần đây nhất là việc toàn dân đồng loạt chuyển sang sử dụng chữ quốc ngữ, là minh chứng rõ ràng cho sự vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa này.

Riêng với việc chuyển sang sử dụng chữ quốc ngữ, có thể nói, đây là một cuộc thoát Trung ngoạn mục. Thành quả của nó thật đáng nể: Số người biết đọc biết viết tăng lên gấp bội, số lượng văn bản sử dụng chữ quốc ngữ chỉ trong một thời gian ngắn đã tăng lên gấp nhiều lần so với số văn bản chữ Nho của toàn bộ lịch sử nước ta trước đó. Cũng chính nhờ chữ quốc ngữ mà về mặt hình thức, ngôn ngữ của chúng ta đã thoát khỏi vòng kiềm tỏa của tiếng Hán. Tỷ như đến giờ phút này, nước Việt ta vẫn dùng chữ Nho để viết và giao tiếp với thế giới, thì đối với họ, ta có khác nào một quận huyện của Trung Quốc? Ta sẽ gặp khó trong việc thuyết phục họ rằng, ta là một quốc gia độc lập, có ngôn ngữ và văn hóa riêng.

Tên gọi của nước ta cũng không phải là một sự ngẫu nhiên. Đằng sau mỗi cái tên đều là một lời nhắn nhủ hoặc một mong đợi sâu thẳm. Ông cha ta đã chọn hai chữ Việt Nam để đặt làm tên nước. Việt Nam có nghĩa là tiến về phương Nam. Điều này có nghĩa là gì? Chỉ có thể cắt nghĩa: Tiến về phương Nam để thoát khỏi vòng kiềm tỏa của người phương Bắc. Đó là di lệnh của tổ tiên cho các thế hệ con cháu người Việt Nam mình.

Như thế, tổ tiên chúng ta bằng kinh nghiệm và trực giác, thông qua cách chọn tên nước, đã di lệnh cho con cháu:Muốn tồn tại thì phải tiến về phương Nam, thoát khỏi vòng kiềm tỏa của người phương Bắc. Lịch sử mở nước của chúng ta trong thời cận đại có thể  được hiểu là gì khác hơn việc thực hiện di lệnh của tổ tiên mình?

Nhưng điều không may cho chúng ta là nền văn hóa Trung Hoa có sức ảnh hưởng quá lớn. Nó như một đại nam châm hút các dân tộc xung quanh về phía mình. Nên dù luôn có ý thức vùng thoát khỏi ảnh hưởng của người Trung Quốc, dù đã được cha ông di lệnh kỹ càng, thì lịch sử của Việt Nam luôn là sự giằng xé giữa hai luồng vận động: Vùng thoát khỏi Trung Quốc và chầu về Trung Quốc.

Sở dĩ có sự giằng xé này là vì, trong suốt thời phong kiến, do sự hạn chế của phương tiện giao thông, thế giới bên ngoài đối với nước ta dường như chỉ có một mình Trung Quốc. Khi người của ta chưa đủ đông, kinh tế của ta chưa đủ mạnh, văn hóa của ta chưa đủ trưởng thành, thì việc chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa cũng là điều dễ hiểu.

Nhưng ngày nay, thời thế đã đổi thay. Một em bé sinh ra ở một vùng quê hẻo lánh cũng có đủ thông tin để biết rằng, thế giới không chỉ có một mình Trung Quốc. Thế giới còn có nhiều nền văn hóa khác, mang nhiều giá trị tiến bộ hơn, đáng học hỏi hơn nền văn hóa Trung Hoa, đến mức bản thân người Trung Quốc cũng phải mau mau thay đổi để học hỏi những điều tiến bộ này. Trên thực tế, những vùng nào của Trung Quốc gỡ bỏ được một phần văn hóa Trung Hoa truyền thống để du nhập các giá trị văn hóa phương Tây như các Hồng Kông, Đài Loan… thì đều phát triển vượt bậc so với những phần còn lại của Trung Quốc lục địa.

Nhiều nước châu Á khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore cũng đã tìm cách thoát khỏi ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa thành công và trở thành những con rồng con hổ châu Á mới. Họ không chỉ giữ được độc lập, mà còn tiến nhanh thành một nước phát triển, được thế giới kính nể trọng vọng.

Hãy lấy trường hợp Nhật Bản làm ví dụ: Bằng cách thực hiện cuộc thoát Á nhập Âu từ nửa sau của thế kỷ 19, Nhật Bản đã tránh được ách nô lệ thực dân và phát triển thành cường quốc chỉ sau một thời gian ngắn. Thoát Á với Nhật Bản thời gian đó là gì, nếu không phải là thoát khỏi ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa? Vì vậy có thể nói, chìa khóa để Nhật Bản phát triển thành công là thoát khỏi vòng ảnh hưởng của Trung Quốc.

Vậy thì tại sao chúng ta lại không làm như họ? Tại sao ta lại không vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa của Trung Quốc để phát triển, khi gương thành công đã bày ra trước mắt cả trăm năm, khi di lệnh của tổ tiên vẫn còn bên tai văng vẳng?

Câu trả lời chỉ có thể là: Tư tưởng chầu về Trung Quốc đã trở thành một quán tính tâm lý, một vô thức xã hội hay một phản xạ có điều kiện. Tư tưởng này đã ăn sâu vào đời sống ở nhiều dạng nhiều mặt nên khó lòng dứt bỏ được. Với người dân thì đó là sự tiếp nhận văn hóa Trung Hoa một cách vô tư hào hứng qua phim ảnh, sách báo… đến mức trẻ em thuộc sử Tàu hơn sử Ta, quen với đồ chơi Tàu hơn đồ chơi Ta. Thương nhân ta thì chỉ chăm chắm nhập hàng Trung Quốc giá rẻ về bán cho dân, dù biết là hàng kém và có nhiều độc hại. Ở mức quốc gia thì đó là sự ràng buộc đến mức vô lý về ý thức hệ vào người Trung Quốc, dẫn đến thua thiệt và bất bình đẳng trong bang giao quốc tế.

Những việc này đều diễn ra một cách trơn tru tự động, đến mức không mấy ai tự hỏi: Vì sao mọi chuyện lại quá dễ dàng như vậy? Câu trả lời hẳn nhiên là tư tưởng chầu về Trung Quốc đã bén rễ sâu trong tiềm thức của xã hội ta như một chất gây nghiện, tuy độc hại nhưng rất khó từ bỏ. Vì nếu từ bỏ thì sẽ gây ra đau đớn và chống chếnh phần nào. Nhưng từ xưa đến nay, có chất gây nghiện nào có lợi?

Trong hoàn cảnh đó, chỉ còn một cách duy nhất là quán chiếu để nhìn sâu hiểu kỹ tác hại của việc chầu về Trung Quốc, để thấy được mối nguy lâu dài của nó đối với đất nước thì may ra mới có thể dứt bỏ được.

Trước hết là về văn hóa: Có so sánh ra bên ngoài mới thấy, bản sắc văn hóa của ta quá đỗi mong manh. Lý do chính là văn hóa của ta đã bị áp đảo bởi văn hóa Trung Hoa trong suốt nhiều thế kỷ, nay càng bị áp đảo mạnh hơn bởi tiến bộ của phương tiện truyền thông. Nhiều người khi còn sống thì một chữ tượng hình bẻ đôi không biết, nhưng khi chết thì lại được cúng tế bằng các bài văn khấn chữ Nho. Chuông, khánh trong chùa dù mới đúc, cũng hết thảy được khắc bằng thứ chữ của người Hán dù chẳng ai đọc được. Truyền thanh truyền hình, tuy sống bằng tiền thuế của dân Việt Nam ta, lại ngày đêm truyền bá văn hóa Trung Hoa đến tận hang cùng ngõ hẻm. Thời sự hơn nữa thì phim về tổ tông được quay bên Trung Quốc, Vạn Lý Trường Thành được mang về Đà Lạt… Ôi thôi, biết bao nhiêu mà kể!

Xin hỏi: Một dân tộc được định hình chính bởi cái gì? Có phải là bởi đất đai, tài nguyên của dân tộc đó hay không? Chắc hẳn là không. Người ta phân biệt dân tộc này với dân tộc khác bởi chính văn hóa của nó. Nay văn hóa của ta đang bị áp đảo mà dân ta lại vui vẻ cổ vũ chấp thuận, thì khác nào tay ta đã yếu, mắt ta đã chậm mà ta lại tự mua dây về bịt mắt trói tay mình?

Chính do sự áp đảo của văn hóa Trung Hoa nên những thói hư tật xấu của họ đã tìm được đất sống và tác oai tác quái ở ta. Nạn chuộng bằng cấp hư danh, tệ mua quan bán chức, thói tầm chương trích cú, ếch ngồi đáy giếng, ngông nghênh coi thường chân lý, bệnh phụ mẫu quan phương, chính trị thống soái …– những đặc trưng của văn hóa hủ nho Trung Quốc không hề giảm đi trên đất Việt Nam ta mà ngược lại, như rồng gặp nước, múa may phát triển tràn lan, biến hóa gây hại không biết bao nhiêu mà kể. Vì sao vậy? Vì không sáng tạo ra chỉ học đòi bắt chước, nên nhiều người mang lòng kính sợ, nhất nhất tuân theo không dám đổi thay, nên chỉ nhăm nhắm chầu về, nghiêm cẩn như học trò đối với ông thầy. 

Nay những thói hư tật xấu này đang tác oai tác quái làm suy đồi văn hóa và đạo đức của ta quá thể. Bệnh hình thức hư danh, tật khoe khoang thành tích, thói hành dân, nịnh trên lừa dưới, tệ chạy chức chạy quyền… đã thành phổ biến , nên không còn cách nào khác là phải dứt bỏ để học những giá trị tiến bộ của phương Tây như dân chủ, tự do, bình đẳng, bác ái, thực học thực nghiệp… thì mới có thể tiến kịp người.

Ta phải tự gỡ bỏ tấm khăn đang bịt mắt ta ra, phải vứt bỏ sợi dây đang trói buộc mình thì bàn tay khối óc mới được giải phóng, hoa thơm trái ngọt của sự sáng tạo mới được thành tựu. Còn như chỉ mê muội sùng kính những thứ người ta đã phải bỏ đi, thì mãi lếch thếch lôi thôi cũng là điều tất yếu!

Thứ hai là về kinh tế: Việt Nam ta đang bị áp đảo trong thương mại đối với người Trung Quốc. Nhập siêu từ họ lên đến 90% so với tổng nhập siêu của cả nước ta. Trong khi đó, xuất khẩu từ ta sang họ chỉ chiếm một phần rất nhỏ, lại chủ yếu là nguyên liệu thô và hàng nông sản, là những thứ mà giá trị chẳng được bao nhiêu. Vậy có thể nói, về kinh tế, chúng ta đang phụ thuộc vào họ một cách nặng nề. Nền kinh tế của ta đang ở mức chông chênh, có thể sụp đổ khi họ chủ tâm đóng cửa.

Nhưng điều đáng lo hơn cả là những người có thẩm quyền lại không thấy sự bất thường này. Những dự án lớn hầu hết đều rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc. Tỷ như, 90% các dự án tổng thầu gần đây đã rơi vào tay họ. Chất lượng của những công trình này rất kém, vì một lẽ giản đơn: Trình độ về công nghệ của họ còn thấp, việc tôn trọng môi trường và văn hóa bản địa họ chẳng quan tâm. Hàng hóa xuất phát từ Trung Quốc luôn bị thế giới cảnh báo là độc hại và kém chất lượng. Chính họ đã gây ra nhiều vấn nạn về văn hóa và môi trường trong nước họ. Vậy thử hỏi, vẫn những con người đó sang nước ta thì làm sao có thể làm tốt cho được?

Đáng tiếc thay, tư duy chộp giật, “sống chết mặc bay tiền thày bỏ túi” của nhiều người có trách nhiệm đã dung túng tình trạng này, gây hại lâu dài cho nền kinh tế. Việc này ta phải trách ta trước hết, vì nếu ta không tiếp tay thì làm sao họ có thể tác oai tác quái. Tiếp tay cho họ hại mình, thời buổi cạnh tranh, hỏi có khác nào mua dây để tự trói chân mình. Mà đã mua dây để tự trói chân mình thì làm sao có thể đi nhanh đi xa cho được?

Chính vì thế, bên cạnh việc vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa về văn hóa, chúng ta cần tìm cách thoát khỏi vòng kiềm tỏa về kinh tế. Nhà nước cần có chính sách giảm thiểu nhập siêu từ Trung Quốc, khuyến khích người trong nước sản xuất kinh doanh. Người Việt phải xây dựng được một nền kinh tế độc lập so với người Trung Quốc, phải mở được những lối đi riêng, tạo dựng được những mô hình phát triển khác hẳn so với họ. Phải phấn đấu trở thành hội điểm đầu tư và thương mại toàn cầu. Việc này nói thì dễ mà làm thì rất khó. Nhưng không vì thế mà không gắng sức, vì tương lai dân tộc phụ thuộc phần nhiều vào chính chỗ này.

Thứ ba là về chính trị: Nước ta đang có một sự ràng buộc kỳ quặc về ý thức hệ đối với người phương Bắc. Họ làm gì thì sớm muộn ta cũng làm theo như bị thôi miên. Rất nhiều khổ đau trong lịch sử của ta đã có nguồn gốc từ việc làm theo như họ.

Dân ta khác, phong hóa của ta khác, đất đai vị thế của ta khác, vậy hà cớ gì ta phải dập khuôn theo? Đành rằng, trước đây ta chỉ biết đến Trung Hoa nên triều chính phải rập khuôn bắt chước, tuy đáng trách những có thể cảm thông. Nhưng nay thế thời đã đổi, thế giới đã mở rộng muôn phương, mà sao ta vẫn nhăm nhắm hướng về phương Bắc? Bao phen cửa nát nhà tan, bị đè đầu cưỡi cổ, mà sao vẫn chưa hết tỉnh hết mê? Lẽ nào, luồng tư tưởng chầu về Trung Quốc, tưởng chừng sẽ nhạt đi khi thế giới được mở rộng ra, lại một lần nữa giở trò mánh khóe kéo chìm ta xuống đáy?

Vì sao vậy? Vì đâu vậy? Vì sự u mê đã đến mức thâm căn cố đế, hay vì đặc quyền đặc lợi của một nhóm người? Di lệnh của tổ tiên và những bài học lịch sử vì sao không còn tác dụng? Dù câu trả lời là thế nào đi chăng nữa thì trên thực tế, sự ràng buộc kỳ quặc về ý thức hệ này đã gây ra nhiều thua thiệt cho ta trong quốc tế bang giao, làm mất đi nhiều cơ hội làm ăn của ta với thế giới bên ngoài. Người ngã xuống vì biên cương hải đảo ta cũng chẳng dám vinh danh… Hỡi ôi!

Thời thế đã đổi thay. Thế giới ngày nay không chỉ có một mình Trung Quốc. Đoàn thuyền ra khơi phần đông đều đi theo một hướng, vậy lẽ gì ta phải tách nhóm đi riêng với kẻ vẫn bắt nạt mình? Sợi dây trói tay trói chân gỡ ra còn chưa được, vậy cớ gì ta lại mua dây để tròng đầu tròng cổ ta thêm?

Và cuối cùng là chủ quyền bị đe dọa: Khi chân tay ta bị trói, đầu cổ ta cũng chẳng được tự do, mắt ta cũng bị buộc nhìn về một hướng, thì thân thể ta làm sao mà vẹn toàn tự chủ? Sự trỗi dậy của người Trung Quốc tất yếu dẫn đến việc họ mở rộng biên giới quốc gia. Tranh chấp với xung quanh là điều khó tránh khỏi. Điều này họ đã công khai thừa nhận. Biển Đông đã nổi sóng. Giờ việc ta cần làm là hãy nhanh nhanh tự cởi trói cho mình, làm cho ta hùng mạnh thêm lên thì mới có thể giữ được vẹn toàn cương thổ.

Khi lực ta còn yếu thì mắt ta phải nhìn xa trông rộng, phải tìm cách kết thân với những kẻ có thế có quyền, có cùng lợi ích cùng mối lo âu để đồng tâm đối phó. Muốn vậy ta phải thiện chí thành tâm, đặt lợi ích quốc gia lên trên những tính toan nhỏ nhặt. Tình thế đã trở nên nguy ngập. Nước Việt ta đang đứng trước một lựa chọn lịch sử: Thoát Trung để phát triển hay cam tâm làm nô lệ một lần nữa?

Là người Việt, không ai muốn trở thành nô lệ ở bất cứ dạng nào. Điều này có nghĩa, lựa chọn duy nhất là vùng thoát khỏi vòng kiềm tỏa của người Trung Quốc để phát triển.

Vậy thì, hãy làm một cuộc thoát Trung toàn diện để hội nhập cùng thế giới và kiến tạo một kỷ nguyên phát triển mới!

Hãy tỉnh cơn mê, dứt cơn mộng mị! Hãy từ bỏ chất gây nghiện chầu về Trung Quốc! Hãy cởi bỏ tấm khăn bịt mắt! Hãy vứt sợi dây đang trói tay, trói chân, tròng cổ, tròng đầu!

Hãy trở về với di lệnh của tổ tiên: Thoát Trung hay là chết!

——-

Nguồn: http://www.viet-studies.info/GiapVanDuong_ThoatTrungLuan.htm

Posted in Archives, Articles, International relations, Teaching | Tagged , | Để lại bình luận

Trung Quốc trong mắt Nhật Bản, cách nhìn tạo ra số phận

NGUYỄN LƯƠNG HẢI KHÔI

tuanvietnam.net – 07/02/2010 07:30 GMT+7

Thử nhìn lại lịch sử, tham chiếu Nhật Bản, một nước cũng là láng giềng Trung Quốc như Việt Nam, nền văn minh cũng sinh sau đẻ muộn như Việt Nam, và quy mô quốc gia cũng nhỏ bé như Việt Nam, đã định vị Trung Quốc như thế nào trong một bối cảnh lịch sử tương tự như Việt Nam.

LTS: Thế giới, đặc biệt là các nước ở châu Á, xem sự trỗi dậy của Trung Quốc có tính cách thời đại, đang bàn thảo sôi nổi về tác động này. Định vị Trung Quốc đang trở thành một chủ đề nóng ở nhiều nước trong khu vực.

Bài viết dưới đây đưa ra một góc phân tích về cách nhìn Trung Quốc của Việt Nam và Nhật Bản thời phong kiến. Đây là góc nhìn riêng của tác giả cần được tranh luận, làm sáng tỏ thêm. Mời bạn đọc phản biện bài viết này.

Nếu như lịch sử hiện đại của các nước Đông Á (Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản) là lịch sử quan hệ với Phương Tây, thì trong các thời kỳ tiền hiện đại, lịch sử của Việt Nam, Triều Tiên và Nhật Bản là lịch sử của mối quan hệ với Trung Quốc.

Trong thời đại ngày nay, khi Trung Quốc đang ôm tham vọng giành lại vị trí lịch sử đặc biệt trước đây. Để định vị chính mình, Việt Nam không thể không định vị Trung Quốc. Chúng ta hãy thử nhìn lại lịch sử, tham chiếu Nhật Bản, một nước cũng là láng giềng Trung Quốc như Việt Nam, nền văn minh cũng sinh sau đẻ muộn như Việt Nam, và quy mô quốc gia cũng nhỏ bé như Việt Nam, đã định vị Trung Quốc như thế nào trong một bối cảnh lịch sử tương tự như Việt Nam.

Trung Quốc không phải là “thiên triều”

Nước ta suốt nghìn năm, mỗi khi Trung Quốc xâm lăng thì ngoan cường tuyên bố “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”, nhưng thắng họ rồi thì lại đều đặn triều cống, các Vua mỗi khi lên ngôi thì luôn xin “thiên triều” phong tước, tự coi mình là nước nằm trong vòng ảnh hưởng của Trung Quốc.

Trong con mắt Nhật Bản, Trung Quốc không may mắn có cái vị trí ấy. Trong suốt lịch sử trung đại, không có bất kỳ một ông Nhật hoàng nào cử sứ giả sang Trung Quốc xin tước phong. Ngay trong bức thư đầu tiên gửi Tùy Dạng Đế để thiết lập quan hệ ngoại giao, thái tử Shotoku đã mở đầu: “Thư này là thư của thiên tử xứ mặt trời mọc gửi thiên tử xứ mặt trời lặn”.

Trung Quốc dĩ nhiên là tức giận, nhưng phải chấp nhận. Rồi dần dần thành quen, và… chấp nhận vĩnh viễn.

Với chúng ta, chỉ khi nào bán nước như Lê Chiêu Thống thì mới bị nguyền rủa, còn “nộp cống xưng thần” là chuyện nhỏ, ngay cả với Lê Thái Tổ hay Quang Trung. Ở Nhật Bản, Ashikaga Yoshimitsu (cuối thế kỷ 14), là vị Shogun (tức “tướng quân”, dưới quyền Nhật hoàng) duy nhất trong lịch sử Nhật nhận tước phong của Trung Quốc. Và chỉ có thế, cái tên của ông này đã bị lịch sử Nhật Bản muôn đời nguyền rủa như một vết nhơ khó rửa của dân tộc.

Như vậy, ngay cả khi không hề có chiến tranh, họ vẫn thiết định một tư thế bình đẳng trong ngoại giao.

Đừng nghĩ rằng vì Việt Nam quá gần Trung Quốc mà đành nhân nhượng. Chỉ cần xem quá trình Vương An Thạch phải mất nhiều năm chuẩn bị cho cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt năm 1076 là rõ. Thời đó, chuẩn bị một cuộc chiến tấn công Việt Nam không hề dễ dàng.

Việt Nam lựa chọn như vậy về mặt chính trị, vì một nguyên nhân văn hóa: chúng ta chấp nhận văn hóa Trung Quốc là một “khuôn mẫu đỉnh cao”, do đó, dù kháng chiến ngoan cường để giữ độc lập trong thực tế, nhưng về mặt chính trị, lại chấp nhận mình thuộc vùng ảnh hưởng của nó.

Vậy, tiếp theo, ta thử xem Nhật Bản trước đây nhìn văn hóa Trung Quốc như thế nào.

Trung Quốc không phải là khuôn mẫu

Nhật Bản dĩ nhiên thừa nhận Trung Quốc là một nền văn minh rực rỡ và học tập nó hết mình, nhưng khác Việt Nam, Nhật Bản không cho phép Trung Quốc trở thành khuôn mẫu. Có thể thấy sự lựa chọn này ở tất cả những lĩnh vực chủ yếu của nền văn hóa.

Cắm rễ trên nền tảng văn minh nông nghiệp lúa nước Đông Nam Á, Việt Nam dĩ nhiên có một bản sắc khác biệt với Trung Quốc, ngay từ cội rễ. Nhưng ta thử nhìn vào phần văn hóa bác học, phần được tầng lớp tinh hoa dân tộc du nhập về và “đặt chình ình” vào giữa cơ thể dân tộc.

Là một nước đi sau, Việt Nam muốn bắt kịp Trung Quốc. Nhưng ít nhất là từ thế kỷ XV trở đi, chúng ta có một cách nhìn lạ lùng: không thua Trung Quốc nghĩa là… không khác Trung Quốc.

Bị dẫn dắt bởi cách nhìn này, những sáng tạo của chúng ta thật đáng tự hào, nhưng chỉ có điều, ở khá nhiều lĩnh vực chủ yếu, chưa bao giờ vượt ra ngoài “chiếc hộp Trung Quốc”. Tổ chức khoa cử như Trung Quốc. Sắp xếp bộ máy nhà nước như Trung Quốc. Dùng hoạn quan như Trung Quốc. Viết chữ Hán như người Trung Quốc viết… Xây dựng Văn Miếu, biểu tượng của nền văn hiến nước nhà, chúng ta không dám làm bất kỳ chi tiết nào khác với Khổng miếu ở Trung Quốc.

Văn miếu (Việt Nam) xây dựng từ thế kỷ 11. Khang Hy ở thế kỷ 17 đến thăm Khổng miếu (Trung Quốc), viết 8 chữ “Vạn thế sư biểu. Khang Hy ngự thư”. Chúng ta cũng lật đật làm một tấm bảng y như vậy để treo ở nhà mình, đến nỗi Hồ Cẩm Đào ở thế kỷ 21 này đến thăm Văn miếu (Việt Nam), nhìn 8 chữ ấy, từng bối rối vì ngỡ đang… ở nhà.

Ngay cả trong những sáng tạo nhằm mục đích phân biệt mình với Trung Quốc, chúng ta cũng sáng tạo trong khuôn khổ của Trung Quốc: sáng tạo chữ Nôm, nhưng theo đúng những nguyên tắc của chữ Hán, bắt buộc những ai muốn học chữ Nôm thì phải học chữ Hán trước.

Nhật Bản thì không cho phép Trung Quốc có vinh dự là một lò gạch để đúc nên những cục gạch giống nhau. Họ không tổ chức khoa cử như Trung Quốc. Không xây dựng hệ thống nhà nước như Trung Quốc. Không dùng hoạn quan như Trung Quốc. Dùng chữ Hán, nhưng ngay trong cuốn sử đầu tiên, “Cổ sự ký”, họ phá vỡ mối quan hệ giữa âm và nghĩa của chữ Hán để viết một thứ chữ Hán mà người Trung Quốc… không đọc được.

Suốt hơn một nghìn năm độc lập phong kiến và tự chủ khi học hỏi Trung Quốc, Việt Nam có nhiều sáng tạo độc đáo, rất riêng, nhưng không có những đóng góp khiến Trung Quốc ngày nay nhìn lại mà hổ thẹn.

Chúng ta không thể làm điều đó, vì ngay từ xuất phát điểm là cách nhìn và cái nhìn, “chữ thánh hiền” là chữ Trung Quốc, “người thánh hiền” là
người Trung Quốc, nhìn chung, mọi hình mẫu đều nằm ở Trung Quốc.

Vậy chúng ta thử nhìn xem ông bạn Nhật kia học Trung Quốc bằng thái độ văn hóa nào.

Trả ơn thầy bằng cách giỏi hơn thầy

Các bậc đại Nho của chúng ta coi mọi điều hay lẽ phải đã được “thánh hiền Trung Quốc” nói hết cả, mình không cần phải lập thuyết làm gì, chỉ cần sống sao cho đúng.

Ở Nhật Bản xưa, các nhà Nho được tôn vinh là bậc đại Nho là những người dám làm một việc mà đối với các nhà Nho Việt Nam là không thể chấp nhận được: phủ định triệt để thánh hiền Trung Quốc, để xây dựng một cách nhìn và cái nhìn một mới về nhân sinh.

Trong văn hóa Việt Nam, có bậc đại Nho nào của chúng ta khi biện luận mà dám đặt vấn đề một cách “vô lễ” như thế này với thánh hiền Trung Quốc? Sách “Sentetsu Sodan” (“Tiên triết tùng đàm”) của Nhật kể về Yamazaki Ansai, bậc đại Nho của Nhật Bản thế kỷ 17, như sau: Một hôm Yamazaki Ansai hỏi các môn đệ: “Nếu bây giờ Trung Quốc cử Khổng tử làm chánh tướng, Mạnh tử là phó tướng, dẫn vài vạn binh thuyền tấn công nước ta. Là học trò của Khổng Mạnh, các trò sẽ làm gì?”. Nghe câu hỏi là biết câu trả lời rồi. Các học trò của Khổng Mạnh sẽ phải… chém đầu Khổng Mạnh để báo ơn vua, như chính Khổng Mạnh đã dạy.

Việt Nam thì chỉ có thể chém đầu Ô Mã Nhi, Liễu Thăng, chứ chém đầu cụ Khổng cụ Mạnh thì không dám. Chúng ta không cảm thấy cần phải “đặt vấn đề” về mặt văn hóa với Trung Quốc.

Thế kỷ 17, Nhật Bản có một bậc đại Nho là Ito Jinsai phê phán triệt để Tống Nho: để hiểu Đạo của người, không thể bằng cách nhìn đạo của Trời thông qua Lý, như Tống Nho quan niệm, mà cần nhìn thẳng vào chính cuộc sống đời thường và trần tục này. Họ có những kẻ điên.

Tominaga Nakamoto, đầu thế kỷ 18, còn đi xa hơn nữa, lớn tiếng tuyên bố rằng, đạo Nho là của Trung Quốc, đạo Phật là của Ấn Độ, Thần đạo thì của Nhật Bản nhưng của thời xưa.

Cần một triết thuyết mới cho cuộc sống thực hôm nay. Nakamoto tuyên bố vậy, nhưng chẳng làm được gì cả. Chí nguyện là một chuyện, còn có sáng tạo được cái “triết thuyết mới” ấy hay không là chuyện khác.

Tuy nhiên, điên như Nakamoto là dở cho riêng ông nhưng tốt cho đất nước ông. Khoảng nửa thế kỷ sau, thái độ thách thức cái vị trí đỉnh cao văn hóa của Trung Quốc đã đi đến đích: ngay từ trước duy tân Minh Trị gần một thế kỷ, cậu học trò Nhật Bản có những cống hiến thực sự trong thực tế để dạy lại ông thầy của mình.

Các học phái “Kokugaku”, “Rangaku”, “Mito”… đã phủ nhận tận gốc vị trí lãnh đạo của văn hóa Trung Quốc, bằng cách chỉ ra những lý luận phi tự nhiên của Nho giáo Trung Quốc, sự cực đoan của học thuyết “thiên mệnh”, những sai lầm trong những kiến thức y học Trung Quốc về giải phẫu người…

Học tập Trung Quốc là chịu ơn Trung Quốc. Chịu ơn thầy thì phải trả ơn thầy. Cách trả ơn duy nhất đúng là cống hiến cho ông ấy những hiểu biết mới của riêng mình.

Lời cuối cho một khởi đầu

Sang đến thế kỷ XIX, ở Việt Nam, đáp lại tiếng khóc canh tân thảm thiết của Nguyễn Trường Tộ là cái im lặng đáng sợ của một hoang mạc tinh thần, vì ngay cả khi Việt Nam đã bị Pháp nghiền nát, những ông quan hay chữ trong triều đình Huế vẫn chưa thôi sùng bái Trung Quốc như là “khuôn mẫu đỉnh cao”.

Ở Nhật Bản, vì dám thách thức thầy mình về mặt trí tuệ, nên sang đầu thế kỷ XIX, trí thức Nhật không bất ngờ khi thấy Trung Quốc đại bại trước Anh quốc trong chiến tranh nha phiến. Và nhờ thế, họ được chuẩn bị sẵn về mặt tinh thần để đáp lại tiếng gọi canh tân của Fukuzawa Yukichi bằng một nhịp bước quân hành khiến cả bầu trời rung chuyển.

Cách nhìn tạo ra cái nhìn. Cái nhìn tạo ra sự lựa chọn. Sự lựa chọn tạo ra số phận. Số phận thay đổi khi cách nhìn thay đổi.

Người Nhật ngày trước nhìn văn hóa Trung Quốc như thế nào thì sau đó họ cũng nhìn văn minh Phương Tây theo cách ấy. “Học tập Phương Tây, Đuổi kịp Phương Tây. Vượt qua Phương Tây” – đó là tinh thần Nhật Bản suốt từ thời kỳ Duy tân đến nay. Tinh thần này trùm lên mọi lĩnh vực, kể cả văn chương nghệ thuật.

Dĩ nhiên, khi nghe khẩu hiệu này của Nhật Bản, ta sẽ cảm thấy họ lộng ngôn. Bởi “Phương Tây” là cả một thế giới khổng lồ và đa dạng. Nhật Bản không thể so sánh được về mặt quy mô. Nhưng, lộng ngôn thì cũng như… Nakamoto ở thế kỷ 18 là cùng.

Mỗi dân tộc khi tham gia vào dòng chảy toàn cầu hóa đều không thể không định vị quốc gia mình trên bản đồ thế giới. Mỗi người Việt định vị bản thân mình trước cuộc đời như thế nào thì Dân tộc Việt định vị chính nó trước thế giới như thế ấy.

Sức mạnh của một dân tộc thể hiện rõ nhất không phải khi nó đứng ở vị thế của kẻ mạnh, mà khi nó sinh ra, mới ngước mắt nhìn mặt trời đã nhận thấy mình là kẻ yếu.

Một dân tộc yếu khi còn chưa thôi thách thức những đỉnh cao, nó vẫn còn đang sống, đang hành trình. Một dân tộc đã chấp nhận một đỉnh cao nào đó là khuôn mẫu vĩnh viễn, nó là một chiến binh “gục bên súng mũ bỏ quên đời”.

Nguồn: http://www.tuanvietnam.net/2010-02-01-trung-quoc-trong-mat-nhat-ban

Posted in Archives, Articles, International relations, Teaching | Tagged , | Để lại bình luận

Vì sao TQ tấn công Việt Nam năm 1979

TS Hoàng Chí Hiếu

BBC – 08:40 GMT – thứ bảy, 15 tháng 2, 2014

Một trong những nguyên nhân khiến Trung Quốc đánh Việt Nam năm 1979 có thể xuất phát từ tưởng tượng của Bắc Kinh về nguy cơ bị bao vây bởi “vòng cung chữ C” trong lúc đường biển ra thế giới chưa được Mỹ dỡ bỏ.

Từ nửa sau thập niên 70 của thế kỉ 20, bước ra khỏi Cách mạng Văn hóa, Trung Quốc tập trung vào thực hiện Bốn hiện đại hóa, đẩy mạnh chống Liên Xô và thúc đẩy quan hệ chiến lược với Mỹ, Nhật và Tây Âu nhằm tranh thủ vốn và kĩ thuật.

Tuy quan hệ với Mỹ đang đi đến chặng cuối của tiến trình bình thường hóa song cửa ra thế giới bằng đường biển của Trung Quốc còn bị bịt chặt. Từ Alaska xuống Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Philippines và Singapore là chuỗi dài căn cứ quân sự của Mỹ và đồng minh Mỹ.

Đó là chưa kể sự hiện diện bước đầu của hải quân Liên Xô tại cảng Cam Ranh là mối đe dọa thường trực đối với hạm đội Nam Hải của Trung Quốc.

Vòng cung bao vây

Trên đất liền, với chiều dài 22.143,34 km, tiếp giáp với 11 quốc gia, ngoại trừ Pakistan có quan hệ tốt, phần lớn đường biên giới của Trung Quốc tiếp giáp Liên Xô và đồng minh Liên Xô như Mông Cổ, Ấn Độ và Việt Nam, khiến Trung Quốc không khỏi suy tưởng về một hình thế bị bao vây bởi một vòng cung lớn hình chữ C.

Điểm khởi đầu của vòng cung này là biên giới Liên Xô – Bắc Triều Tiên, chạy xuyên suốt lãnh thổ Liên Xô ở châu Á, băng qua Mông Cổ, vòng theo đường biên giới phía Tây của Trung Quốc xuống Nam Á, qua Đông Nam Á đến điểm cuối là Việt Nam.

Mối nguy cơ bị Liên Xô bao vây của Trung Quốc ngày càng tăng, nhất là trước những diễn biến ở Afghanistanvà Campuchia trong những năm 1978-1979.

Ở Afghanistan, dưới sự hậu thuẫn của Liên Xô, ngày 27-4-1978, Đảng PDPA Mác-xít lật đổ chính quyền độc tài Daoud, lập nhà nước Cộng hòa Dân chủ Afghanistan.

Tháng 5-1978, chính phủ Kabul ký kết thỏa thuận với Moskva về việc gửi 400 cố vấn quân sự Liên Xô tới Afghanistan. Tháng 12-1978, Moskva và Kabul ký một hiệp ước hữu nghị và hợp tác song phương cho phép quân đội Liên Xô triển khai trong trường hợp có sự yêu cầu từ phía Cộng hòa Dân chủ Afghanistan.

Viện trợ quân sự Liên Xô gia tăng và chế độ PDPA dần lệ thuộc vào các thiết bị quân sự và cố vấn Liên Xô.

Ở Campuchia, sau khi lên cầm quyền (tháng 4-1975), lực lượng Khmer Đỏ một mặt thực thi chính sách “tự diệt chủng” ở trong nước, mặt khác tiến hành cuộc chiến tranh chống các nước láng giềng, trong đó tập trung vào Việt Nam.

Với thiện chí hòa bình, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã nhiều lần bày tỏ mong muốn chấm dứt xung đột bằng con đường thương lượng hòa bình song phía Campuchia Dân chủ tìm mọi cách khước từ.

Điều đáng nói là hành động chống Việt Nam trên đây của phe Khmer Đỏ là nhờ có được sự hậu thuẫn tích cực của Trung Quốc.

Thời kì “đu dây” giữa Liên Xô và Trung Quốc của Việt Nam không còn nữa.

Việt Nam buộc phải có sự lựa chọn. Trước những sức ép từ phía Trung Quốc, Việt Nam gia nhập Hội đồng Tương trợ kinh tế (6-1978) và kí kết hiệp ước hữu nghị toàn diện với Liên Xô (11-1978).

Ngày23-12-1978, cuộc chiến tranh trên biên giới Tây Nam nổ ra. Ngày 7-1-1979, quân đội Việt Nam tiến vào giải phóng Phnom Penh.

Trước những diễn biến ở Afghanistan và Campuchia, Trung Quốc không thể không lo ngại. Trong nỗ lực xích lại gần Mỹ, Trung Quốc ngày càng mâu thuẫn sâu sắc với Liên Xô.

Với việc Liên Xô gia tăng ảnh hưởng ở Afghanistan, Ấn Độ từ sau Chiến tranh 1962 với Trung Quốc và cuộc chiến 1971 với Pakistan đã ngả hẳn về Liên Xô để đối đầu với Trung Quốc và đang có ảnh hưởng mạnh mẽ ở Bangladesh.

Cùng lúc, Việt Nam đưa quân sang Campuchia và có những va chạm trên biên giới với Thái Lan khi truy kích quân Khmer Đỏ, dường như đối với Trung Quốc, các gạch nối của “vòng cung chữ C” đã dần được khép kín.

Để phá bỏ “vòng vây” đó, Trung Quốc tiến hành hàng loạt bước đi.

Mục tiêu chiến lược

Khi sức mạnh quân sự không đủ để đối đầu với Liên Xô thì việc chọn Việt Nam là đối tượng thích hợp và nếu thắng được Việt Nam, Trung Quốc sẽ đạt được nhiều mục tiêu chiến lược.

Ngày 7-12-1978, Quân ủy Trung Quốc thông qua quyết định tấn công Việt Nam.

Ngày 17-2-1979, hơn 60 vạn quân Trung Quốc mở cuộc tấn công trên toàn tuyến biên giới Việt Nam. Đến ngày 5-3-1979, Trung Quốc tuyên bố rút quân và đến ngày 18-2 thì rút hết.

Trước tình hình đó, với tư cách là siêu cường đứng đầu phe xã hội chủ nghĩa, không như cam kết tại Điều 6 của Hiệp định Hữu nghị và Hợp tác Liên Xô – Việt Nam, ngoài việc ra tuyên bố lên án hành động xâm lược Việt Nam của Trung Quốc, phía Liên Xô thực hiện cuộc tập trận trên biên giới với Trung Quốc, cử đoàn chuyên gia quân sự đến Hà Nội, viện trợ khẩn cấp một số vũ khí, lập cầu hàng không vận chuyển Quân đoàn II từ Campuchia về, điều động các tàu chiến đến Biển Đông.

Tương tự như đối với cuộc chiến tranh Triều Tiên năm 1950, sự can thiệp của Liên Xô chỉ dừng lại ở những hành động mang tính hỗ trợ mà không phải là sự tham chiến như phía Việt Nam mong muốn hay như Trung Quốc chờ đợi.

Giới hạn của lợi ích dân tộc đã giữ Liên Xô dừng lại ở đó.

Như vậy, trên thực tế, mức độ can thiệp của Liên Xô vào cuộc chiến mà Trung Quốc phát động là không lớn như giới cầm quyền nước này đã lầm tưởng.

Cái giá phải trả cho nhận thức sai lầm của Trung Quốc là quá lớn bởi những thiệt hại nặng nề trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Tuy nhiên, nó mang lại hệ quả tích cực cho quốc gia này là xóa bỏ được mối lo ngại về nguy cơ bị bao vây từ phía Liên Xô, để từ đó tập trung nỗ lực vào thực hiện công cuộc cải cách, mở cửa và nhanh chóng đạt được những thành tựu lớn lao.

Bài viết thể hiện quan điềm riêng của tiến sỹ Hoàng Chí Hiếu, Khoa Lịch sử, Đại học Sư phạm Huế.

—–

Nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2014/02/140214_why_sino_vn_war.shtml?ocid=socialflow_facebook

Posted in Archives, Articles, International relations, Teaching | Tagged , | Để lại bình luận

“Sự chuyên sâu không ngoại trừ khả năng nhìn rộng!”

TS Hoàng Anh Tuấn

SGTT.VN – Hoàng Anh Tuấn, sinh năm 1976, là cái tên mới trong giới nghiên cứu lịch sử Việt Nam, ban đầu, xuất hiện với tư cách dịch giả những tác phẩm ghi chép quan trọng về Đàng Ngoài của Samuel Baron, William Dampier. Nhận học vị tiến sĩ nghiên cứu lịch sử chuyên ngành bang giao và quan hệ Á – Âu giai đoạn cận đại sơ kỳ tại đại học Leiden (Hà Lan) vào năm 30 tuổi, nhưng đến sáu năm sau, (những ngày cuối 2010) công trình nghiên cứu biên soạn rất quan trọng – Tư liệu về các công ty Đông Ấn Hà Lan và Anh về Kẻ Chợ – Đàng Ngoài thế kỷ XVII dày 731 trang của vị tiến sĩ sử học trẻ này mới được cho ra mắt độc giả trong nước (Tủ sách Thăng Long 1.000 năm, NXB Hà Nội).

Sài Gòn Tiếp Thị trân trọng giới thiệu cuộc trao đổi thú vị giữa nhà nghiên cứu trẻ Cao Việt Dũng (văn học) với TS Hoàng Anh Tuấn để hiểu thềm về công trình mới và quan điểm nghiên cứu của ông.

Tại sao lại là các công ty Đông Ấn?

Công việc nghiên cứu của tôi khởi đầu bằng đề tài nghiên cứu ở bậc đại học và cao học về hoạt động thương mại biển của vương quốc Chămpa thế kỷ thứ bảy đến thế kỷ 10 trong bối cảnh quan hệ thương mại và giao lưu văn hoá khu vực. Tiếp sau đó là một cơ duyên: năm 1998, Chính phủ Hà Lan dự định tổ chức đại lễ kỷ niệm 400 năm thành lập công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) vào năm 2002. Họ muốn hoạt động này thực sự có chiều sâu, gắn liền với khoa học và đào tạo, nên đã lập chương trình TANAP và giao cho đại học Leiden tổ chức đào tạo tiến sĩ cho khoảng 20 nhà nghiên cứu trẻ của các nước phương Đông (nơi VOC từng có quan hệ buôn bán). Tôi may mắn là một trong số những người đó, sang Leiden từ năm 2002 và đến năm 2006 tôi hoàn thành chương trình nghiên cứu sinh. Vì vậy, có thể nói rằng tôi đã mở rộng hướng nghiên cứu hải thương của mình từ người Chăm sang người Việt nói chung, trong mối quan hệ với nước ngoài.

Các công ty Đông Ấn (ngoài công ty Đông Ấn Hà Lan thành lập năm 1602, tồn tại cho tới năm 1799 còn có công ty Đông Ấn Anh – EIC – xuất hiện cùng khoảng thời gian) có thể coi là những huyền thoại trong lịch sử châu Âu, nhưng rõ ràng đây là đề tài rất mới đối với giới sử học Việt Nam.

Thành tựu nghiên cứu gắn liền với các công ty Đông Ấn ở các nước phương Tây rất nổi bật, nhưng đây quả là một hướng đi tương đối mới mẻ tại Việt Nam. Nói tương đối mới mẻ là vì việc đặt nền móng cho hướng nghiên cứu này đã được tiến hành từ những năm 90 của thế kỷ trước. Ngay sau hội thảo quốc tế về Hội An, vào những năm 1990, GS Phan Huy Lê và GS Nguyễn Quang Ngọc đã được đại học Leiden mời sang nghiên cứu để khảo sát kho tư liệu Hà Lan về Việt Nam. Trong dịp này, hai giáo sư đã thu thập và mang về nước được một số phim chụp về tư liệu VOC, bản đồ cổ… Đặc biệt, GS Nguyễn Quang Ngọc đã sang tận thư viện Quốc gia Anh để trao đổi với cố TS Anthony Farrington về khối tư liệu EIC về Việt Nam. Trên cơ sở những quan hệ hữu hảo đó, vào năm 2002, hai giáo sư đã giới thiệu để tôi sang đại học Leiden học tập và nghiên cứu. Đến thời điểm đó, bên cạnh một số bài viết, đã có ít nhất hai công trình nghiên cứu quan trọng liên quan đến VOC – Đại Việt: luận án tiến sĩ công ty Đông Ấn Hà Lan và Đàng Trong: mối quan hệ giữa Hà Lan và Annam trong thế kỷ 17 của Wilhelm Buch (1929) và chuyên khảo công ty Đông Ấn Hà Lan ở Đông Dương cũng do Buch công bố trên tạp chí của trường Viễn đông bác cổ (BEFEO, 1936/7).

Thế nhưng, nếu đọc cuốn sách Tư liệu các công ty Đông Ấn Hà Lan và Anh về Kẻ Chợ – Đàng Ngoài thế kỷ XVII do anh biên soạn vừa được ấn hành (NXB Hà Nội), thì công ty Đông Ấn Hà Lan có quan hệ chủ yếu với Đàng Ngoài chứ không phải Đàng Trong…

Đúng vậy, cũng không rõ tại sao Buch lại chọn hướng nghiên cứu đó, vì xét về mặt thống kê, tài liệu của VOC liên quan đến Đàng Trong ít hơn nhiều, lại không được liên tục về mặt thời gian. Chúng ta cũng chỉ có thể phỏng đoán về lý do lựa chọn của Buch. Tuy nhiên, như đã nói, trong chuyên luận trên BEFEO, Buch có đề cập đến cả Đàng Ngoài, dù chủ yếu là điểm lại dưới dạng biên niên hoạt động của VOC ở Kẻ Chợ chứ chưa khảo tả và phân tích chi tiết về mặt định lượng. Cuốn sách của Buch cũng từng được các nhà nghiên cứu Việt Nam tham khảo, như trong công trình Về ngoại thương Việt Nam hồi thế kỷ 17, 18 và đầu thế kỷ 19 (1961) của Thành Thế Vỹ.

Công ty Đông Ấn Hà Lan và công ty Đông Ấn Anh đều hoạt động ở Việt Nam trong thế kỷ 17 nhưng người Hà Lan thành công hơn nhiều so với người Anh, tại sao? (Chúng ta biết rằng người Anh lập công ty Đông Ấn trước người Hà Lan).

Theo tôi, nguyên nhân cần được nhìn rộng hơn mức độ các sự kiện đơn thuần diễn ra trong phạm vi Đại Việt. Khởi đầu của người Hà Lan tại Việt Nam không hề thuận lợi: ở Đàng Trong người Hà Lan thiệt hại cả trăm người và hàng vạn ghinđơ trong khi ở Đàng Ngoài khó khăn và tổn thất cũng luôn luôn thử thách họ. Thế nhưng họ lại nhanh chóng thiết lập được thương điếm, duy trì quan hệ với Đàng Ngoài suốt 64 năm và có được những thành công không nhỏ, mặc dù Đàng Ngoài là một trong những xứ khó buôn bán bậc nhất ở phương Đông, do đặc điểm của hệ thống quan liêu, cũng như tổ chức xã hội có nhiều đặc thù phức tạp. Tất nhiên, nhu cầu của Phủ Chúa về tiền bạc và vũ khí trong thời gian nội chiến đóng một vai trò quan trọng nhưng trong nghiên cứu lịch sử thương mại, rất nhiều yếu tố cần phải tính đến. Người Hà Lan biết tổ chức một mạng lưới buôn bán liên hoàn. Người Hà Lan lại rất chặt chẽ, kỷ luật, kiên nhẫn và khôn ngoan, trong khi người Anh tổ chức công việc buôn bán ở phương Đông tương đối lỏng lẻo. Hơn nữa, chiến lược thương mại của mỗi bên cũng khác nhau; ở quãng thời gian đó, tiềm lực của Anh tại khu vực Đông Nam Á nhỏ hơn so với Hà Lan.

Người Hà Lan thậm chí còn thành công đến mức Carel Hartsinck (giám đốc thương điếm Đàng Ngoài từ 1637 đến 1641) còn được chúa Trịnh Tráng nhận làm con nuôi, một câu chuyện hiếm thấy.

Đây tất nhiên là một câu chuyện thú vị, cho thấy sự cởi mở nhất định của họ Trịnh (các chúa Nguyễn ở Đàng Trong còn cởi mở hơn thế). Tuy nhiên, đây cũng có thể chỉ nên được coi là một cử chỉ ngoại giao, bằng chứng là mối quan hệ giữa ông con nuôi và ông bố nuôi chẳng mấy suôn sẻ. Điều đáng để suy nghĩ ở đây là: các nghiên cứu theo hướng này khiến chúng ta cần nhìn lại định kiến về sự “co cụm”, “đóng cửa”, “yếm thế”… của Việt Nam trong lịch sử thương mại và bang giao khu vực. Thêm nữa, vị trí và vai trò của Việt Nam trong hệ thống thương mại khu vực và quốc tế hồi đó không đơn thuần là một sự may mắn, mà có sự chủ động nhất định từ phía chính quyền. Cấu trúc thương mại về cung – cầu ở khu vực cũng luôn luôn cần được tính tới: chẳng hạn như Nhật Bản có nhu cầu lớn về lụa trong khi sản lượng tơ lụa Trung Quốc lại sụt giảm do thay đổi triều chính Minh – Thanh nên Việt Nam có điều kiện trở thành nhà cung cấp tơ lụa lớn. Việt Nam cần được đặt vào bức tranh chung: muốn nghiên cứu thương mại của nước ta gắn liền với VOC thì nhất thiết phải đồng thời nghiên cứu hoạt động của VOC tại đại bản doanh Batavia, Nhật Bản, Đài Loan, xa hơn là biến động chính trị tại Trung Quốc, thay đổi thương phẩm tại Bengal (Ấn Độ), thay đổi sở thích của người Anh ở London và người Hà Lan ở Amsterdam… và rộng hơn là đặt Đại Việt trong cấu trúc thương mại toàn cầu ở thời kỳ này.

Rõ ràng các nguồn tư liệu mới đã đánh động nhận thức của chúng ta về lịch sử thuộc địa: khi thành tố thương mại được thêm vào bên cạnh những thành tố đã được nghiên cứu rất nhiều như chính trị, quân sự, tôn giáo, ngôn ngữ, mối quan hệ thực dân – thuộc địa đã không còn thuần tuý là những cuộc xâm chiếm, mà phức tạp và tế nhị hơn thế. Rồi thương mại lại dẫn tới chính trị và quân sự, như chúng ta đã thấy Phủ Chúa rất muốn xây dựng một liên minh quân sự với VOC…

Ở đây có lẽ nên nhắc tới những quan điểm tương đối đa chiều trong giới nghiên cứu cả trong và ngoài nước. Không ít người cho rằng khi tới phương Đông, người phương Tây đã sẵn có trong đầu mưu đồ thực dân. Tuy nhiên, nếu nhìn vào lịch sử thương mại gắn liền với các công ty Đông Ấn, thì có thể chắc chắn rằng ít nhất cho tới nửa đầu thế kỷ 18 khó có thể nói đến mưu đồ thực dân như cách hiểu hiện đại sau này. Mối quan hệ thương mại có thể đi trước mọi thứ khác. Giới nghiên cứu gần đây cũng tranh luận nhiều về cách hiểu từ “soldat” (lính) trong cách dùng của cố Alexandre de Rhodes: các nhà truyền giáo tới Việt Nam tự coi mình là những “người lính” theo nghĩa đen hay thực chất cần phải hiểu từ này theo nghĩa ẩn dụ? Tôi thiên về cách hiểu thứ hai hơn. Điều nên tránh là để cho mối quan hệ thương mại – thực dân bị chi phối bởi “tình cảm dân tộc”.

Nghiên cứu lịch sử theo hướng thương mại có bị “chán” không, khi mà ở mảng này hình như vai trò của các cá nhân khá là mờ nhạt, ta hiếm khi thấy những nhân vật nổi bật như ở lĩnh vực chính trị hoặc quân sự?

Cũng có những nhân vật hấp dẫn đấy. Một ví dụ tiêu biểu là trường hợp nhân vật Hoàng Nhân Dũng (người Hà Lan gọi là Ongiatule: ông già Tư Lễ), một hoạn quan hồi thế kỷ 17, đã tìm cách “lobby” Phủ Chúa hòng thâu tóm, lũng đoạn toàn bộ hoạt động xuất nhập khẩu của người Hà Lan ở Kẻ Chợ. Thậm chí ông ta còn dựa vào thế lực của thế tử và phối hợp với thương nhân Nhật Bản Resimon để thực hiện mưu đồ của mình.

Dù sao thì ngành nghiên cứu của anh cũng rất mới mẻ và hứa hẹn.

Hoàng Anh Tuấn, sinh 1976, quê quán Thanh Hoá, Sinh viên khoa sử đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội, sau đó được giữ lại trường làm giảng viên lịch sử các chuyên đề: Mậu dịch của các Công ty Đông Ấn châu Âu và chuyển biến kinh tế – xã hội Đại Việt giai đoạn cận đại sơ kỳ, Bang giao, quan hệ thương mại và tiếp xúc văn hoá Á – Âu giai đoạn cận đại sơ kỳ, Lịch sử thương mại Đông Á cổ – trung đại, Lịch sử thế giới cổ trung đại và lịch sử văn minh thế giới.

2002 – 2006: học cao học tại đại học Leiden (Hà Lan), thực tập sinh đại học London (Anh, 2004) và thỉnh giảng tại đại học Montana (Mỹ, 2009)

Từng viết, tham gia thực hiện và công bố hơn 70 bài báo khoa học, công trình nghiên cứu quan trọng trên các tạp chí chuyên ngành và hội thảo cấp quốc gia, quốc tế.

Hiện là thành viên Ban Tổ chức Chương trình Hội thảo và Xuất bản về Đông Nam Á học định kỳ (hai năm một lần) do GS Nicholas Tarling chủ trì (2009 – 2015).

Tôi đã thực hiện thống kê và nhận thấy rằng trong 50 năm (1954 – 2004), tạp chí Nghiên cứu lịch sử rất mỏng ở lĩnh vực thương mại, bang giao ở giai đoạn người châu Âu bắt đầu xuất hiện. Tôi gọi đây là một khoảng lặng, tạo nên một sự mất cân đối khá nghiêm trọng nếu so với mảng nghiên cứu về ruộng đất, thể chế, quân sự… Nguyên do chính là thiếu tài liệu nước ngoài, bởi các bộ thông sử ghi chép rất ít về thương mại, nhất là ngoại thương, trong khi việc tiếp cận tư liệu phương Tây lại hết sức khó khăn trong thời điểm đó. Nguồn tài liệu từ nước ngoài, đặc biệt là tư liệu phương Tây, vì vậy trở nên đặc biệt quan trọng và cần được khai thác triệt để hơn nữa.

Nhưng làm thế nào để hợp tác có hiệu quả với nước ngoài trong nghiên cứu lịch sử?

Các đơn vị nghiên cứu nước ngoài đã hỗ trợ rất lớn cho công việc đào tạo và tiếp cận tư liệu trong khoảng mười năm qua. Hiện nay, khoa chúng tôi vẫn còn ba cán bộ đang học tiến sĩ và thạc sĩ tại đại học Leiden (Hà Lan) và hứa hẹn sẽ bổ trợ cho hướng nghiên cứu này. Tuy nhiên, phải nói một cách khách quan rằng không thể chỉ dựa vào hỗ trợ của nước ngoài. Phía bạn có thể hỗ trợ đào tạo và nghiên cứu ngắn hạn. Các nghiên cứu mang tính trường quy và quy mô lớn dựa trên việc khai thác tư liệu phương Tây vẫn rất cần có sự đầu tư kinh phí tương xứng từ trong nước. Có như vậy chúng ta mới có thể khai thác được triệt để nguồn tư liệu quý đó để soi sáng nhiều khía cạnh của lịch sử dân tộc thời kỳ này.

Nhìn vào con đường nghiên cứu khoa học của anh, có thể thấy rất rõ là anh đi chuyên sâu hoàn toàn vào một chủ đề. Ngay cả khi dịch sách, anh cũng chọn các tác phẩm của William Dampier (Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688, NXB Thế Giới, 2007) và Samuel Baron (Mô tả vương quốc Đàng Ngoài, 1683, NXB Hà Nội, 2010) là những nhân vật có liên quan nhiều đến các công ty Đông Ấn Anh và Hà Lan.

Có lẽ cá nhân tôi phần nào chịu ảnh hưởng của “trường phái Leiden” vốn đề cao việc khai thác các nguồn sử liệu gốc để tập trung tìm hiểu sâu một lĩnh vực cụ thể, sau đó mới bắt đầu nhìn rộng ra một chút để tìm hiểu các mối liên hệ đa chiều ở phạm vi khu vực hoặc rộng hơn nữa là hệ thống toàn cầu.

Đã đi một chặng đường dài với các công ty Đông Ấn, anh có nghĩ đến việc quay trở lại với Chămpa thế kỷ thứ bảy đến thế kỷ 10, đề tài nghiên cứu ban đầu của anh không?

Chắc là không thể, cho dù tôi vẫn luôn luôn quan tâm đến Chămpa nhưng ở giai đoạn muộn hơn (thế kỷ 16 – 18) vì tài liệu của Anh và Hà Lan cũng có đề cập không ít tới Chămpa trong bối cảnh của các mối quan hệ chính trị và thương mại đa chiều khu vực Đông Nam Á lục địa. Con đường đi của tôi sẽ nhất quán như vậy: hết tơ lụa thì chuyển sang gốm sứ, hết gốm sứ thì chuyển sang xạ hương hoặc quế… Tôi quan niệm rằng sự chuyên sâu không loại trừ khả năng nhìn rộng bởi những nghiên cứu cụ thể luôn cần được đặt trong quan điểm so sánh khu vực và thế giới, chừng nào chúng ta còn có thể sử dụng các nguồn sử liệu gốc phong phú và cập nhật được các thành tựu nghiên cứu của sử học khu vực và quốc tế.

CAO VIỆT DŨNG THỰC HIỆN

Nguồn: http://sgtt.vn/Bao-xuan/136115/%E2%80%9CSu-chuyen-sau-khong-ngoai-tru-kha-nang-nhin-rong%E2%80%9D.html

Posted in Archives, Articles, International relations, Teaching | Tagged , , , , | Để lại bình luận

Quan hệ giữa Đàng Trong thời các chúa Nguyễn với Vương quốc Xiêm

Lê Bá Vang

Tạp chí XƯA&NAY

Số 443, tháng 1 năm 2014

ĐỊA BÀN CƯ TRÚ ĐẦU TIÊN CỦA NGƯỜI THÁI LÀ Ở CÁC TỈNH NAM TRUNG HOA THƯỢNG NGUỒN SÔNG MEKONG VÀ SÔNG HỒNG GỒM 6 BỘ LẠC CHÍNH TRONG THƯ TỊCH CỔ TRUNG QUỐC LÀ: MÔNG-TUẤN, VIỆT-TÍCH, LÃNG-KHUNG, ĐẰNG-ĐẠM, LÃNG-PHI VÀ MÔNG-XÁ. NỬA ĐẦU THẾ KỶ VIII, THỦ LĨNH MÔNG-XÁ ĐÃ CHINH PHỤC CÁC NUỚC LÂN CẬN THÀNH LẬP NÊN NUỚC ĐẠI LÝ HAY NƯỚC NAM CHlẾU, THẦN PHỤC ĐẾ CHẾ ĐƯỜNG. NHƯNG TRUNG QUỐC LẠI DIỄN RA CÁC CUỘC NỘI CHIẾN NÊN ĐẠI LÝ NHÂN CƠ HỘI NÀY BÀNH TRƯỚNG RA VÙNG TÂY NAM TRUNG HOA.

Thế kỷ XIII, Đại Lý xảy ra các vụ biến lớn. Trước hết là quá trình xâm lược của đế chế Mông cổ lật đổ Đại Lý, nhân dân Đại Lý không chấp nhận sống dưới ách thống trị của người Mông cổ nên đã bỏ Nam Trung Hoa chạy về Đông Nam Á lục địa. Có ba con đường Nam tiến của nguời Thái: dọc sông Hồng — hình thành nên người Thái ở Bắc bộ Việt Nam ngày nay; dọc theo sông Mêkông – hình thành nên các bộ tộc Lào, dọc theo sông Chao Phraya hình thành nên vương quốc Xiêm. Có sử gia cho rằng “sự gia tăng dân số của nước Nam Chiếu, những xung đột thường xuyên với người Trung Hoa đã dẫn tới sự di cư”(1). Tuy nhiên, sự tấn công của ngươi Mông cổ mới là động lực chính của các cuộc Nam tiến của người Thái. Các cuộc Nam tiến chứng minh ý chí tự chủ, không khuất phục các đế chế Trung Hoa để tiến tới hình thành chủ nghĩa đại Thái, trên cơ sở chinh phục các quốc gia lân cận gây các cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau.

1

Người Thái thể hiện sự hùng mạnh bằng biện pháp quân sự, chinh phục đế chế Khmer năm 1450. Nhưng dưới sự lãnh đạo của vua Preah Srei Reacheathireach Ramathip Dey, người Khmer đã đẩy lùi các cuộc tấn công của người Thái, nhưng ông không thể đoàn kết các thế lực trong nội bộ, cụ thể là không thể đàn áp cuộc nổi loạn của Norei Reachea II. Người Thái đã lợi dụng những bất hòa đó để lôi kéo Norei Reachea II và tiến đánh Chenla. Đến năm 1529, vua Preah Chaoponhea Chant Reachea dờ kinh đô người Khmer về Lovek. Đế chế Khmer sụp đổ. Lý giải sự thất bại của người Khmer trước người Thái một sử gia cho rằng “người Khmer không biết rút những bài học từ những sai lầm trong chiến tranh”(2). Vai trò của người Thái đối với sự phát triển lịch sử khu vực là “sự phát triển của Campuchia bị gián đoạn bởi một cuộc xâm lược từ Ayutthaya năm 1593-1594 dưới triều đại mới có nguồn gốc là người Thái người sau khi giúp người Miến Điện chiến thắng người Khmer (1569). Đặc biệt là điều này không giống như nhận định của nhiều người Trung Quốc”(3).

Như vậy, vương quốc của người Thái đã hình hành như một con hổ mới lớn – sung mãn đối trọng với sự phát triển của vương quốc Đàng Trong, một con hổ già giàu kinh nghiệm, ngoan cuờng và đang thực hiện mộng bá chủ; cùng có một miếng mồi chung là Chenla.

Sự đối đầu căng thng giữa Đàng Trong và Xiêm

Hai nước Xiêm và Đàng Trong đối đầu với nhau từ cuộc nội chiến Chenla năm 1658, Ang Em nhờ đến quân chúa Nguyễn đánh với Ang Tong. “Tháng 9, vua nước Chân Lạp (vốn tên là Cao Miên) là Nặc Ông Chân xâm lấn biên thùy. Dinh Trấn Biên báo lên. Chúa sai Phó tướng Trấn Biên là Tôn Thất Yến, Cai đội là Xuân Thắng, Tham mưu là Minh Lộc (2 người đều không rõ họ) đem 3.000 quân đến thành Hưng Phúc (bấy giơ gọi là Mỗi Xuy, nay thuộc huyện Phúc Chính, tỉnh Biên Hòa) đánh phá được, bắt Nặc Ông Chân đưa về. Chúa tha tội cho và sai hộ tống về nước, khiến làm phiên thần, hằng năm nộp cống”(4). Tuy nhiên, cuộc viện binh không phải xuất phát từ hảo tâm. Chúa Nguyễn tìm cách lôi kéo gây ảnh hưởng lên đất Chenla, muốn biến thành thuộc quốc của vương quốc Đàng Trong. Nhưng vương quốc Đàng Trong đã chiếm ưu thế, quân đội của họ giành thắng lợi, phong vương cho vua Chenla.

Đầu thế kỷ XVIII, vương quốc Chenla lại xảy ra tình cảnh nồi da xáo thịt, nội bộ trong triều đình Chenla lại xảy ra các cuộc xung đột giữa hai tập đoàn phong kiến Thommo Réachéa – Nặc Ông Êm. Tai hại hơn, các lực lượng phong kiến lại kéo theo các cường quốc lân cận vào cuộc. Thommo Réachéa cầu viện từ Xiêm. Nặc Ông Êm lại cầu viện vương quốc Đàng Trong. Như vậy, vì lợi ích cá nhân các thủ lĩnh không ngần ngại bán rẻ quyền lợi dân tộc. Trong cuộc xung đột này, người Xiêm coi trọng hơn vương quốc Đàng Trong, vì vương quốc Đàng Trong đã hoàn thành quá trình biến Chenla thành thuộc quốc; trong khi đó, Xiêm vẫn chưa có nhiều quyền lợi trên đất Chenla; tham vọng của họ cũng không dừng lại ở một khu vực nào. Tuy nhiên, cuộc nội chiến Chenla cũng kết thúc, lực lượng được chúa Nguyễn giúp đỡ vẫn chiến thắng. Thommo Réachéa sống lưu vong ở Xiêm. Chờ đợi thời cơ.

Năm 1714, Xiêm lấy danh nghĩa là giúp Thommo Réachéa và Nặc Nguyên đánh Nặc Ông Tha – con Nặc Ông Yêm. Nhưng người Xiêm thất bại. Mấy tháng sau, con của Thommo Réachéa là Nặc Nguyên lại nhờ quân Xiêm đem quân đánh Nặc Ông Tha và đuổi được Nặc Ông Tha sang đất Hà Tiên. Nhưng tham vọng Nặc Nguyên không dừng lại đó, ông tiếp tục thực hiện kế hoạch tiến chiếm lại các vùng bị vương quốc Đàng Trong chiếm.

Năm 1769, chiến tranh giữa Xiêm và Đàng Trong diễn ra trực tiếp. Đại Nam thực lục lý giải nguyên nhân của cuộc chiến đầy màu sắc huyền thoại “Tân Mão, năm thứ 6 (1771), mùa thu, tháng 8, Mạc Thiên Tứ được tin nước Xiêm La kiểm duyệt binh giáp, định ngày đến lấn, bèn chạy hịch xin viện ở Gia Định. Điều khiển Nguyễn Cửu Khôi cho rằng năm trước Hà Tiên đã báo hão tin biên cấp, chỉ làm mệt cho quan quân, nên không cho binh đến cứu. Bấy giờ trong thành Hà Tiên thấy ở phương Nam có 2 cái cầu vồng đỏ mọc giao nhau thành hình chữ thập, dài hơn 30 trượng; lại ở dưới lầu Bắc đế có một cồn cát từ lâu, chợt bị cơn gió cuốn lên lưng chừng trời, làm trong thành mù tối, phút chốt cát ấy tản xuống, đánh đống thành hình chữ thập. Người thức giả cho đó là điềm đến tháng 10 thành sẽ mất.

Mùa đông, tháng 10, vua Xiêm thấy Chiêu Thùy chạy sang Hà Tiên, sợ có mối lo về sau, bèn phái hai vạn quân thủy và bộ, dùng tên giặc [núi] Bạch Mã là Trần Thái làm hướng đạo, vây trấn Hà Tiên. Quân trấn ít ỏi, bám giữ thành cố đánh, chạy hỏa bài cáo cấp với dinh Long Hồ. Quân Xiêm đông giữ núi Tô Châu, dùng đại bác bắn vào thành, thế rất nguy cấp. Đương đêm, kho thuốc súng ở núi Ngũ Hổ phát cháy, trong thành sợ rối. Quân Xiêm từ phía sau thành chặt cửa sấn vào, phóng hỏa đốt doanh”(5).

Nguyên nhân của cuộc chiến này bắt đầu từ mối quan hệ của Xiêm lúc bấy giờ tên là Ayuthaya và Miến Điện dưới vương triều Tongou. Tháng 2-1767, Miến Điện tấn công, bắt được vua Xiêm Ekathat và đặt ách thống trị lên Ayuthaya. Nhưng Miến Điện không thể duy trì nền thống trị lâu, vì bản chất ngoan cường, Xiêm nhanh chóng đẩy người Miến Điện về nước và giành lại độc lập chỉ sau một năm. Người lãnh đạo là Trịnh Quốc Anh, một đại thần trong vương triều Ekathat. Chiến tranh kết thúc thì họ Trịnh lại nuôi âm mưu tiếm luôn vương quyền của người Thái ở vùng đất này. Trịnh Quốc Anh biết hai con của vua Ekathat là Chiêu Xi Xoang và Chiêu Thúy đang còn trốn ở Hà Tiên – thuộc vương quốc Đàng Trong nên gây áp lực buộc Mạc Thiên Tứ giao Chiêu Xi Xoang và Chiêu Thúy nhưng không thành công. Chiến tranh bùng nổ.

Cuộc chiến diễn ra ác liệt “Thiên Tứ thân hành đốc suất binh sở thuộc chống đánh ở các ngõ. Một lát quân dân tan vỡ, thành bị hãm. Cai đội Đức Nghiệp (không rõ họ) kèm Thiên Tứ lên thuyền chạy. Mạc Tử Hoàng, Mạc Tử Thảng, Mạc Tử Duyên ở đạo Châu Đốc cũng đều đem thủy quân phá vòng vây, do đường biển chạy xuống Kiên Giang, rồi qua Trấn Giang dừng lại. Chiêu Khoa (một chức quan) nước Xiêm là Trần Liên đuổi theo đến, vừa gặp Lưu thủ dinh Long Hồ là Tống Phước Hợp đem binh thuyền bản dinh đến cứu, kéo thẳng tới sông Châu Đốc để chống cự. Quân Xiêm rút lui, vào nhầm ngách sông cụt, đại binh [ta] đuổi ập tới, chém được hơn 300 đầu. Trần Liên phải bỏ thuyền, dẫn quân chạy về Hà Tiên, lại bị Cai đội đạo Đông Khẩu là Nguyễn Hữu Nhân đón đánh, quân Xiêm chết quá nửa. Vua Xiêm bền lưu Trấn Liên ở lại giữ Hà Tiên, rồi tự đem quân thẳng sang Chân Lạp… Thế là quân Xiêm đóng giữ phủ Nam Vang, có ý nhòm ngó Phiên Trấn”.

Cuộc chiến gây được sự quan tâm chúa Nguyễn nên cử người vào thăm hỏi “Tháng 11, Nguyễn Cửu Khôi và Nguyễn Thừa Mân gửi giấy mời Thiên Tứ đến dinh để hỏi thăm yên ủi. Thiên Tứ trình bày duyên do thất thủ và dâng thư xin chờ tội. Chúa ban thư rộng miễn, lại cấp thêm lương. Hạ lệnh cho điều khiển quân đưa về đạo Trấn Giang, khiến chiêu dụ dân lưu vong mà tính lại việc đánh giặc.

Tháng 2, chúa cho rằng Điều khiển Gia Định giữ quân không đến cứu viện nên thành Hà Tiên bị hãm, bèn giáng Nguyễn Cửu Khôi làm Cai đội và triệu Nguyễn Thừa Mân về.

Sai Chưởng cơ Nguyễn Cửu Đàm (con Nguyễn Cửu Vân) làm Khâm sai chánh thống suất đốc chiến, Cai bạ dinh Quảng Nam là Trần Phúc Thành làm Khâm sai tham tán, lĩnh 10.000 quân thủy và bộ thuộc hai dinh Bình Khang và Bình Thuận và 20 chiếc thuyền chiến để hành việc điều khiển.

Mùa hạ, tháng 6, Nguyễn Cửu Đàm tiến quân theo đường Tiền Giang, cùng với Cai bạ dinh Long Hồ là Nguyễn Khoa Thuyên lĩnh quan quân đạo Đông Khẩu tiến theo đường Kiên Giang; Lưu thủ Tông Phước Hiệp theo đương Hậu Giang tiến đóng giữ Châu Đốc để tiếp ứng cho hai cánh quân trên. Bấy giờ Cai đội đạo Đông Khẩu là Nguyễn Hữu Nhân ốm, một mình Khoa Thuyên đem 3.000 quân và 50 thuyền, đánh nhau với quân Xiêm không được, lui về đầm Kiên Giang, rồi dùng người Chân Lạp là Nhẫm Lạch (chức quan) Tối (tên người) làm tiên phong, tiến đến Nam Vang đánh phá được quân Xiêm. Vua Xiêm chạy sang Hà Tiên. Nặc Nộn chạy đến Cầu Vọt [Quân ta] bèn thu phục các phủ Nam Vang, La Bích. Nặc Tôn trở về nước. Chân Lạp được dẹp yên. Đàm thu quân về dinh, đắp lũy Tân Hoa kéo dài 15 dặm bao quanh đồn dinh, chắn ngang đường bộ đề phòng bất trắc.

Vua Xiêm đến Hà Tiên, gởi thư cầu hòa với Mạc Thiên Tứ. Thiên Tứ từ chối. Vua Xiêm bèn ủy Trần Liên giữ Hà Tiên, tự mình đem quân đi bắt con trai con gái Thiên Tứ và Chiêu Thúy đem về, rồi giết Chiêu Thúy”(6).

Nhưng một số quan điểm khác lại cho rằng “thừa dịp Trịnh Quôc Anh đi đánh Ligor Mạc Thiên Tứ đem hạm đội 50.000 binh sĩ đổ bộ lên bờ biển Xiêm”. Tuy chưa có thông tin cụ thể về vấn đề này nhưng theo quan điểm này thì tôi cho rằng Mạc Thiên Tứ có thể trúng kế dụ địch của Trịnh Quốc Anh. Bởi vì thực tế ít ai có thể chịu đựng được với cả 2 mặt trận cùng lúc. Kết quả đến năm 1771, Mạc Thiên Tứ rút tàn binh hơn 10.000 người về nước.

Nhưng có quan điểm khác cho rằng tháng 10-1771, Trịnh Anh Quốc đem thuyền sang vây đánh Hà Tiên. Mạc Thiên Tứ chống không nổi phải bỏ chạy. Năm sau, Mạc Thiên Tứ giết chết Chiêu Thúy sai người sang giảng hòa(7).

Tóm lại, đây là cuộc chiến tranh lớn nhất giữa hai quốc gia Đàng Trong và Xiêm. Phần thắng thuộc về người Xiêm.

Sau chiến tranh, quan hệ giữa Xiêm và vương quốc Đàng Trong diễn ra bình thường trở lại. Xiêm và chính quyền Đàng Trong thường trao đổi quốc thư, trao đổi vật phẩm. Theo các tư liệu lịch sử thì chính quyền Đàng Trong vẫn được sự nể sợ của chính quyền Xiêm, thể hiện vai trò “đàn anh”(8).

Theo lí giải của Trần Trọng Kim thì “Thuở bấy giờ chúa Nguyễn còn khai sáng ở đất Phú Yên, Khánh Hòa, nhưng sau chúa Nguyễn lấn hết đất của Chiêm Thành, lại lấn sang đất của Chenla làm của mình. Nhưng vì thế chúa Nguyễn mạnh hơn cho nên phải để chúa Nguyễn quay sang bảo hộ Chenla”(9).

Quan hệ hòa hiếu được thiết lập trở lại

Năm 1755, chúa Nguyễn ra “long bài” miễn thuế cho tàu thuyền đi từ trung Hoa sang Xiêm và ngược lại. Long bài được chúa Nguyễn ban ra theo yêu cầu của vua Xiêm. Nguyên nhân vua Xiêm đề nghị vì Hà Tiên trở thành cảng trung chuyển cho những chuyến tàu buôn vượt đại dương. “Mùa hạ, tháng 4, nước Xiêm sai bầy tôi là Lãng Phi Văn Khôn và Khu Sai Lũ Reo (hai tên người) đem thư đến nói rằng nước ấy thuờng sai người đi thuyền sang Hạ Môn, Ninh Ba và Quảng Đông mua sắm hóa vật, có khi vì bão phải ghé vào cửa biển nước ta, hữu ty đánh thuế đến nỗi lấy mất cả hàng hóa. Vậy xin chiếu tính số bạc trả lại, và xin cấp cho 10 tấm long bài kiểm điểm nhân khẩu làm bằng, khiến khi thuyền công của hai nước ghé vào cửa biển nào đều được miễn thuế. Chúa bảo các quan rằng: “Việc đánh thuế thuyền buôn buổi quốc sơ đã đình ngạch, quan sở tại chẳng qua chiếu lệ mà thu, có lẽ nào lấy cả hóa vật. Người Xiêm nói thế chỉ là muốn miễn đánh thuế mà thôi, đâu dám đòi ta phải trả lại bạc. Duy việc xin long bài thì cấp cho họ cũng không hại gì, nhưng cho một tấm cũng đủ rồi, chứ lấy nhiều làm gì”. Bèn sai gửi cho một tấm long bài và viết thư trả lòi”(10). Đây là một trong những nhân tố đem đến sự trù phú cho Hà Tiên và cải thiện quan hệ hai vương quốc.

Sau khi Trịnh Anh Quốc bị lật đổ, vua Rama I lên thay. Quan hệ giữa chính quyền Đàng Trong và Xiêm chuyển sang một giai đoạn mới. Đó là lúc chính quyền chúa Nguyễn bị lung lay vì cuộc khởi nghĩa Tây Sơn và cuộc tấn công của quân chúa Trịnh từ Đàng Ngoài. Đây là giai đoạn mà quan hệ hai bên diễn ra trong những mối quan hệ nhập nhằng, liên quan đến sự lưu vong của chúa Nguyễn Ánh và sự phục hồi vương triều của vua Gia Long. Nhưng đó lại là một chủ đề khác.

Ngoại giao vương quốc Đàng Trong với Xiêm diễn ra rất phức tạp, có lúc là bạn, lúc là thù. Nhưng trong ngoại giao giữa hai nước, vương quốc Đàng Trong thường chiếm ưu thế của nước mạnh về kinh tế lẫn quân sự.

CHÚ THÍCH:

1. Lương Ninh, Lịch sử thế giới Trung Đại, Nxb Đại học và phổ thông chuyên nghiệp, 1984, tr.144.

2. Sang Leng K, Cambodian history, researcher in association KFD, 2006, tr.6, “The Khmer have never learned from out past mistake”.

3. Michael Vickery, Cambodia and Its Neighbors in the 15th Century, Nationnal University of Singapore, 2004, tr.52. (Cambodian development was interrupted by another invasion from Ayutthaya in 1593-1594 under the new dynasty of Sukhothai origin which had gained the throne after helping the Burmese in their invasion in 1569. Peculiarly, this does not seem to have been given notice by the Chinese).

4. Đại Nam thực lục (tập 1), Nxb Khoa học Xã hội, 2007, tr.72.

5. Đại Nam thực lục (tập 1), sđd, tr.176.

6. Đại Nam thực lục (tập 1), sđd. tr.176, 177.

7. Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nxb Văn hóa Thông tin, 2001, tr.430.

8. Phan Khoan, Việt sử xứ Đàng Trong, Nxb Văn học, 2001, tr.440.

9. Trần Trọng Kim, sđd, tr.428 và 429.

10. Đại Nam thực lục (tập 1), sđd, tr.165.

Posted in Archives, Articles, Teaching | Tagged , , , | Để lại bình luận